Trích nội dung chương
8. Then DK offers one of those impressive statements which have become a seed-thought for many practical workers: “just as money has been in the past the instrument of men's selfishness, now it must be the instrument of their goodwill”. DK knew that He was creating a kind of slogan or “talking point” which could be used to gather money. 8. Sau đó, Chân sư DK đưa ra một trong những phát biểu đầy ấn tượng đã trở thành tư tưởng hạt giống cho nhiều người hoạt động thực tiễn: “cũng như trong quá khứ, tiền bạc từng là công cụ cho tính ích kỷ của con người, giờ đây nó phải trở thành công cụ cho thiện chí của họ”. Chân sư DK biết rằng Ngài đang tạo…
8. Then DK offers one of those impressive statements which have become a seed-thought for many practical workers: “just as money has been in the past the instrument of men's selfishness, now it must be the instrument of their goodwill”. DK knew that He was creating a kind of slogan or “talking point” which could be used to gather money.
8. Sau đó, Chân sư DK đưa ra một trong những phát biểu đầy ấn tượng đã trở thành tư tưởng hạt giống cho nhiều người hoạt động thực tiễn: “cũng như trong quá khứ, tiền bạc từng là công cụ cho tính ích kỷ của con người, giờ đây nó phải trở thành công cụ cho thiện chí của họ”. Chân sư DK biết rằng Ngài đang tạo ra một dạng khẩu hiệu hay “ý chính khi nói chuyện” có thể dùng để quyên góp tiền bạc.
9. A concise thought of this kind—embodying a clear contrast between the past and a better possibility for the future—can be memorable and extremely potent.
9. Một tư tưởng súc tích như thế—thể hiện sự tương phản rõ ràng giữa quá khứ và một khả năng tốt đẹp hơn cho tương lai—có thể dễ ghi nhớ và có sức tác động cực kỳ mạnh mẽ.
The above is simply a summation of the task immediately ahead of all of you who are seeking to aid in our work and to this task I urge you and all associated with me. The walls of difficulty must go down and success must follow effort—the united pressure of determined souls pushing through to victory in spite of real odds. This united and definite effort must be carried forward without discouragement or questioning—with due attention to the time factor and with a sense of urgency. This will [167] negate all lost motion and will permit no opportunity to slide. There are, my brother, many who will give their cooperation but who, at this time, sidetrack their cooperation, owing to fear or to the over-emphasis of non-essentials. I refer here to those men of goodwill who are today aware of the urgency of the Master's work but still hold back assistance in full measure. There are those also who do not realise the urgency and are unaware of the immediacy of the Plan or even that there is a Plan. They, however, when faced with the issue will give.
Những điều trên chỉ là bản tóm lược nhiệm vụ ngay trước mắt tất cả các em, những người đang tìm cách trợ giúp công việc của chúng tôi, và Tôi thúc giục em cùng tất cả những ai cộng tác với Tôi thực hiện nhiệm vụ này. Những bức tường khó khăn phải sụp đổ, và thành công phải nối tiếp nỗ lực—sức thúc đẩy hợp nhất của những linh hồn kiên định vượt qua để đi đến thắng lợi bất chấp những trở ngại thực sự. Nỗ lực hợp nhất và dứt khoát này phải được duy trì mà không nản lòng hay nghi ngại, đồng thời chú ý đúng mức đến yếu tố thời gian và giữ ý thức về tính cấp bách. Điều này sẽ [167] loại bỏ mọi hành động phí công và không để cơ hội nào trôi qua. Huynh đệ của tôi, có nhiều người sẵn lòng hợp tác nhưng hiện nay lại gạt sự hợp tác ấy sang một bên do sợ hãi hoặc quá nhấn mạnh những điều không thiết yếu. Ở đây, Tôi nói đến những người thiện chí ngày nay đã nhận thức được tính cấp bách trong công việc của Chân sư, nhưng vẫn chưa trợ giúp hết mức. Cũng có những người chưa nhận ra tính cấp bách và không biết rằng Thiên Cơ cần được thực hiện ngay, thậm chí không biết có một Thiên Cơ. Tuy nhiên, khi đứng trước vấn đề này, họ sẽ đóng góp.
10. The task of the Master is to clarify the work to be done by his disciples and strengthen them in the performance of that work. We see DK mobilizing His workers with vivid imagery (something every leader should remember).
10. Nhiệm vụ của Chân sư là làm sáng tỏ công việc các đệ tử của Ngài cần thực hiện và tăng cường sức mạnh cho họ khi thực hiện công việc ấy. Chúng ta thấy Chân sư DK huy động những người hoạt động của Ngài bằng hình ảnh sống động (điều mà mọi người lãnh đạo nên ghi nhớ).
11. He knows the odds and the obstacles. The world was already becoming a dangerous place and the Black Lodge was intensifying its attack on human values. The Master is mobilizing the “massed intent” of his disciples, so that they can mobilize the same for the men and women of goodwill.
11. Ngài biết những bất lợi và chướng ngại. Thế giới đã bắt đầu trở thành một nơi nguy hiểm và Hắc đoàn đang tăng cường tấn công các giá trị nhân văn. Chân sư đang huy động “ý định tập trung” của các đệ tử Ngài, để họ có thể huy động điều tương tự nơi những người nam và nữ thiện chí.
12. It is clear that the pressure was on. The goodwill initiative of 1936 had come and gone. We now know that it did not achieve what Master DK (and other Masters) had hoped, and that the world was sliding closer to war. DK calls for the “united pressure of determined souls”—another way of expressing “massed intent”. He realizes that discouragement is an obstacle and seeks to negate the possibility of its expression—at least among His own disciples.
12. Rõ ràng áp lực đang đè nặng. Sáng kiến thiện chí năm 1936 đã đến rồi qua đi. Giờ đây, chúng ta biết sáng kiến ấy đã không đạt được điều Chân sư DK (và các Chân sư khác) mong đợi, và thế giới đang trượt gần hơn đến chiến tranh. Chân sư DK kêu gọi “sức thúc đẩy hợp nhất của những linh hồn kiên định”—một cách khác để diễn đạt “ý định tập trung”. Ngài nhận ra rằng sự nản lòng là một chướng ngại và tìm cách loại trừ khả năng nó biểu hiện—ít nhất là trong các đệ tử của chính Ngài.
13. “Urgency” is the keynote of this paragraph. Note that since these instructions are not read by JWK-P alone, but by all the disciples in the group-of-nine training as Telepathic Communicators, the Master uses the opportunity to speak to all of them about His expectations.
13. “Tính cấp bách” là chủ âm của đoạn này. Hãy lưu ý rằng vì không chỉ JWK-P đọc những huấn thị này mà tất cả các đệ tử trong nhóm chín người đang được huấn luyện thành Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm đều đọc, nên Chân sư tận dụng cơ hội để nói với tất cả họ về những điều Ngài kỳ vọng.
14. So, DK is calling upon His trusted workers to help overcome fear and discouragement in those who know the issues but who are sidetracked. The easier task is to encourage those who do not really know the Plan and its immediacy, to give to the cause, which DK say they will do when faced with the issues.
14. Vì vậy, Chân sư DK đang kêu gọi những người hoạt động đáng tin cậy của Ngài giúp khắc phục nỗi sợ hãi và sự nản lòng nơi những người biết rõ các vấn đề nhưng lại chệch hướng. Nhiệm vụ dễ dàng hơn là khuyến khích những người chưa thực sự biết Thiên Cơ và tính khẩn thiết của nó đóng góp cho sự nghiệp; Chân sư DK nói rằng họ sẽ làm vậy khi đối diện với các vấn đề.
15. One can sense how the forces of goodwill were fighting (and had to fight) at that time of history. It was largely an inner and subjective fight against overwhelming odds. Historically we realize that there was not enough goodwill in humanity (nor the fire of the will-to-good) to offset the malign potency of the gathering storm.
15. Có thể cảm nhận các mãnh lực thiện chí đã chiến đấu (và buộc phải chiến đấu) như thế nào vào thời điểm lịch sử ấy. Phần lớn đó là một cuộc chiến bên trong và mang tính chủ quan trước những bất lợi áp đảo. Nhìn lại lịch sử, chúng ta nhận ra rằng nhân loại đã không có đủ thiện chí (cũng như ngọn lửa của Ý Chí-hướng Thiện) để hóa giải sức mạnh độc hại của cơn bão đang hình thành.
It is not for me to deal with this problem, as we shoulder not the responsibilities of the World Servers. I present it to you, my brother, and to my group, and I throw behind you the weight of my strength and the stimulation of my love. One-pointed, directed effort can achieve results in spite of world conditions, misrepresentation by those who do not understand and the failure of responsive interest on the part of one's co-disciples—throughout the world or close at hand.
Việc xử lý vấn đề này không thuộc về Tôi, vì chúng tôi không gánh thay trách nhiệm của những Người Phụng Sự Thế Gian. Huynh đệ của tôi, Tôi đặt vấn đề này trước em và nhóm của Tôi, đồng thời đem toàn bộ sức mạnh cùng sự khích lệ từ tình thương của Tôi để hỗ trợ các em. Nỗ lực nhất tâm, có định hướng có thể đem lại kết quả bất chấp tình hình thế giới, sự xuyên tạc của những người không thấu hiểu và sự thiếu quan tâm đáp ứng từ các đệ tử đồng môn—trên khắp thế giới hay ở ngay bên cạnh.
16. Even in moments of real pressure (and danger) the Master does not assume the responsibilities which His disciples should assume. To do so would be counterproductive.
16. Ngay cả trong những lúc thực sự chịu áp lực (và nguy hiểm), Chân sư cũng không đảm nhận những trách nhiệm mà các đệ tử của Ngài phải đảm nhận. Làm như vậy sẽ phản tác dụng.
17. Instead, He stimulates and strengthens them—subjectively.
17. Thay vào đó, Ngài khích lệ và tăng cường sức mạnh cho họ—từ bên trong.
18. The array of obstacles are noted—misrepresentation by those who do not understand and unresponsiveness by those who should. But good results can still be achieved by focussed, one-pointed effort, and to these He is urging them forward.
18. Hàng loạt chướng ngại được nêu rõ—sự xuyên tạc của những người không thấu hiểu và sự thiếu đáp ứng của những người lẽ ra phải đáp ứng. Nhưng nỗ lực tập trung, nhất tâm vẫn có thể đem lại kết quả tốt, và Ngài đang thúc giục họ tiến tới những kết quả ấy.
Brace yourself, therefore, and with the other members of my group push through. Stand steady and do not be so seriously troubled as to the progress of the work which seems not yet to move as rapidly as desired. When the movement does come, it will be rapid....
Vì vậy, hãy củng cố tinh thần và cùng các thành viên khác trong nhóm của Tôi vượt qua. Hãy đứng vững và đừng quá lo lắng về tiến độ công việc dường như vẫn chưa nhanh như mong muốn. Khi chuyển động thực sự bắt đầu, nó sẽ diễn ra nhanh chóng....
19. We see the power of the Master’s words, by means of which He is fortifying His group. These are, in a way, “words of power”, conveying the strength needed. “Brace” and “push through”.
19. Chúng ta thấy quyền năng trong lời nói của Chân sư, qua đó Ngài đang củng cố nhóm của mình. Theo một cách nào đó, đây là những “Quyền năng từ”, truyền đạt sức mạnh cần thiết. “Vững tâm” và “vượt qua trở ngại”.
20. We note that a “troubled attitude” is not useful, even in emergency. This thought is difficult for disciples to comprehend and master. Even in the most serious times, the burdened attitude of the personality is less effective than one which carries the note of the joy of the soul.
20. Chúng ta lưu ý rằng “thái độ lo âu” không hữu ích, ngay cả trong tình thế khẩn cấp. Đây là một tư tưởng mà các đệ tử khó lĩnh hội và làm chủ. Ngay cả trong những thời điểm nghiêm trọng nhất, thái độ nặng trĩu của phàm ngã cũng kém hiệu quả hơn thái độ mang âm điệu hoan hỉ của linh hồn.
21. We can see that one of the tasks of the Master or of any leader is the encouragement of His workers, especially in times of stress and opposition.
21. Chúng ta có thể thấy một trong những nhiệm vụ của Chân sư hay bất kỳ người lãnh đạo nào là khích lệ những người hoạt động của mình, đặc biệt trong những lúc căng thẳng và chống đối.
The following three sentences may aid you in handling your problem and help your progress as a worker:
Ba câu sau đây có thể giúp em xử lý vấn đề của mình và tiến bộ trong vai trò một người hoạt động:
1. The sense of responsibility shines forth in flickering flames from every soul which has sought and found alignment. Fan those flames into a steady fire in every soul you meet. Ponder on this.
1. Ý thức trách nhiệm tỏa sáng thành những ngọn lửa chập chờn từ mỗi linh hồn đã tìm kiếm và đạt được sự chỉnh hợp. Hãy khơi những ngọn lửa ấy thành một ngọn lửa bền vững trong mỗi linh hồn em gặp. Hãy suy ngẫm về điều này.
22. Alignment is ignition. The requisite fire is present. It is the task of the disciple to strengthen and steady the flame.
22. Chỉnh hợp là châm lửa. Ngọn lửa cần thiết đã hiện diện. Nhiệm vụ của đệ tử là tăng cường và giữ vững ngọn lửa ấy.
23. But first the flame must be recognized and the moment for fanning the flame seized.
23. Nhưng trước hết phải nhận ra ngọn lửa và nắm lấy thời điểm để khơi bùng nó.
2. The sense of sacrifice is faintly seen in every soul that loves the Plan. Teach them that sacrifice must touch the depths of giving and not call forth that which upon the surface lies or that which can be known. The unseen sacrifice must go with that which can be seen. Teach this.
2. Ý thức hi sinh hiện ra mờ nhạt trong mỗi linh hồn yêu mến Thiên Cơ. Hãy dạy họ rằng hi sinh phải chạm đến chiều sâu của sự cho đi, chứ không chỉ khơi dậy những gì nằm trên bề mặt hoặc những gì có thể nhận biết. Sự hi sinh vô hình phải đi cùng sự hi sinh hữu hình. Hãy dạy điều này.
24. The wonder and beauty of the Plan calls forth the will to see it accomplished. This will is intimately related to sacrifice.
24. Sự kỳ diệu và vẻ đẹp của Thiên Cơ khơi dậy ý chí muốn thấy Thiên Cơ hoàn thành. Ý chí này liên hệ mật thiết với sự hi sinh.
25. The sacrifice which does not hurt is not the effective sacrifice. The sacrifice which is seen carries a reward to the lower ego. The unseen sacrifice is truer and its motive purer. The Hierarchy works constantly through unseen sacrifice. The Pharisee demands that his/her sacrifice be seen (and appreciated).
25. Sự hi sinh không gây đau đớn không phải là sự hi sinh có hiệu quả. Sự hi sinh mà người khác thấy mang lại phần thưởng cho phàm ngã. Sự hi sinh không ai thấy chân thực hơn và có động cơ thuần khiết hơn. Thánh đoàn không ngừng hoạt động qua sự hi sinh không ai thấy. Người Pharisee đòi hỏi sự hi sinh của mình phải được nhìn thấy (và trân trọng).
26. Yet the unseen sacrifice is, after all, noted—by the Hierarchy, and more importantly, by oneself as a soul.
26. Tuy nhiên, rốt cuộc, sự hi sinh không ai thấy vẫn được ghi nhận—Thánh đoàn ghi nhận, và quan trọng hơn, chính mình trong tư cách linh hồn cũng ghi nhận.
27. The right motive is that it matters not even if the Hierarchy fails to note the sacrifice. All search for recognition must be ended. (c.f. Introduction to Rule XI, R&I, 2110212)
27. Động cơ đúng đắn là ngay cả khi Thánh đoàn không ghi nhận sự hi sinh thì điều ấy cũng không quan trọng. Mọi sự tìm kiếm công nhận đều phải chấm dứt. (đối chiếu Phần dẫn nhập Quy luật XI, R&I, 2110212)
3. The sense of comradeship is surely known by each and all of you but needs the deepening of service shared. Shew this and draw it forth. The comradeship of burdens shared, the sense of deep response to need, the comradeship of service rendered, the urge to sacrifice—teach these to those who seek to work within the Master's plan and show all three yourself. [168]
3. Ý thức về tình đồng đội chắc chắn là điều mỗi người và tất cả các em đều biết, nhưng cần được đào sâu qua việc cùng nhau phụng sự. Hãy thể hiện và khơi dậy điều này. Tình đồng đội trong việc cùng gánh vác trách nhiệm, ý thức đáp ứng sâu sắc trước nhu cầu, tình đồng đội trong việc phụng sự, sự thôi thúc hi sinh—hãy dạy những điều này cho những ai muốn làm việc trong kế hoạch của Chân sư, và chính em hãy thể hiện cả ba.
28. The appreciation of comradeship is a step along the way to group consciousness. Comradeship fortifies labor.
28. Trân trọng tình đồng đội là một bước trên con đường tiến tới tâm thức nhóm. Tình đồng đội tăng cường sức mạnh cho lao động.
29. Service shared, burdens shared—these deepen comradeship.
29. Cùng phụng sự, cùng gánh vác—những điều này làm sâu sắc tình đồng đội.
30. DK tells what to teach those who seek to work with the Master’s plan: “the comradeship of burdens shared, the sense of deep response to need, the comradeship of service rendered, the urge to sacrifice”. Those who work with these qualities can be evoked as a group. Their service as a group will be strengthened by the bonds of comradeship, which, in turn, are strengthened by their efforts to serve, together.
30. Chân sư DK cho biết cần dạy những gì cho những ai tìm cách làm việc theo kế hoạch của Chân sư: “tình đồng đội qua việc cùng gánh vác, ý thức đáp ứng sâu sắc trước nhu cầu, tình đồng đội qua việc phụng sự, sự thôi thúc hi sinh”. Có thể khơi dậy sự đáp ứng nơi những người làm việc với các phẩm tính này trong tư cách một nhóm. Việc phụng sự của họ trong tư cách một nhóm sẽ được tăng cường nhờ những mối dây đồng đội; đến lượt mình, những mối dây này lại được củng cố nhờ nỗ lực phụng sự cùng nhau.
31. The three words given are, therefore, Responsibility, Sacrifice, and Comradeship.
31. Vì vậy, ba từ được trao là Trách nhiệm, Hi sinh và Tình đồng đội.
July 1937 – Tháng Bảy năm 1937
Your mental body, my brother, is upon the fourth Ray of Harmony through Conflict. Hence your power to harmonise, to unify and to comprehend. At the same time (thus indicating soul purpose), it took a fourth ray mental nature (with its love of harmony through conflict) to handle the particular task which your soul assigned, and the undertaking upon which you are engaged in the aiding of the Plan.
Huynh đệ của tôi, thể trí của em thuộc cung bốn, cung Hài Hòa qua Xung Đột. Do đó, em có khả năng đem lại sự hài hòa, hợp nhất và thấu hiểu. Đồng thời, để đảm đương nhiệm vụ đặc biệt mà linh hồn em đã giao, cùng công việc em đang thực hiện nhằm trợ giúp Thiên Cơ, cần có một bản chất trí tuệ cung bốn với lòng yêu thích sự hài hòa qua xung đột; điều này cho thấy mục đích của linh hồn.
1. Approximately six years after the Master began instructing the disciples in these outer groups, He gave them their rays.
1. Khoảng sáu năm sau khi Chân sư bắt đầu huấn thị các đệ tử trong những nhóm bên ngoài này, Ngài cho họ biết các cung của họ.
2. Much work on group-integration had to be done before it was advisable to turn their attention too much towards themselves.
2. Cần thực hiện nhiều công việc tích hợp nhóm trước khi thích hợp để hướng sự chú ý của họ quá nhiều về bản thân.
3. Yet, that a consideration of the rays was part of even their earliest experience with the group is evidenced by the fact that, in their written applications to these groups-of-nine, the prospective members were asked to list their probable rays. Not surprisingly, they were often mistaken.
3. Tuy nhiên, việc xem xét các cung đã là một phần trong trải nghiệm ban đầu của họ với nhóm, như cho thấy qua việc các thành viên tương lai được yêu cầu liệt kê những cung có thể là của mình trong đơn xin gia nhập các nhóm chín người này. Không có gì ngạc nhiên khi họ thường nhầm lẫn.
4. For JWK-P, all rays are given in the same instruction. Some other disciples received their soul and personality rays first and the rays of the personality vehicles in a later instruction.
4. Với JWK-P, tất cả các cung đều được cho biết trong cùng một huấn thị. Một số đệ tử khác trước tiên nhận được thông tin về cung linh hồn và cung phàm ngã, rồi đến các cung của những hiện thể phàm ngã trong một huấn thị sau.
5. Virtues of the fourth ray mental body are stated: the power to harmonise, unify and comprehend. We can see in this list the relation of the fourth ray to the second—the ray of unit and wisdom.
5. Các đức tính của thể trí cung bốn được nêu rõ: khả năng hài hòa, hợp nhất và lĩnh hội. Trong danh sách này, chúng ta có thể thấy mối liên hệ giữa cung bốn với cung hai—cung hợp nhất và minh triết.
6. Was JWK-P born with a fourth ray mental nature so that He would be equipped for a destined task, or did DK assign Him this task because He was equipped, or was it merely fortunate (given the nature of the task) that he was equipped with the fourth ray?
6. Có phải JWK-P sinh ra với bản chất trí tuệ cung bốn để có đủ khả năng thực hiện một nhiệm vụ đã định, hay Chân sư DK giao nhiệm vụ này cho JWK-P vì người đệ tử ấy có đủ khả năng, hay chỉ là may mắn (xét bản chất của nhiệm vụ) khi JWK-P có cung bốn?
7. Note that the fourth ray mental nature has a “love” of harmony through conflict. What that means is that every vehicle qualified by a given ray has a ‘preferred’ method of expression which correlates with the nature of the ray. When the vehicle is forced to function otherwise, discomfort, stress or inhibition are experience (unless the vehicle is highly trained).
7. Hãy lưu ý rằng bản chất trí tuệ cung bốn “yêu thích” sự hài hòa qua xung đột. Điều đó có nghĩa là mỗi hiện thể mang phẩm tính của một cung nhất định đều có một phương thức biểu hiện “ưa thích” tương ứng với bản chất của cung ấy. Khi hiện thể buộc phải hoạt động theo cách khác, sự khó chịu, căng thẳng hoặc ức chế sẽ xuất hiện (trừ khi hiện thể đã được rèn luyện cao độ).
Your second ray astral body greatly facilitates your work, giving you understanding and harmlessness; your emotions thus do not interfere with your judgment and your decisions. But the combination of a fourth ray mental body and a second ray emotional vehicle requires careful watching so as to preserve the first ray balance as you grow older and tendencies crystallise into habits. The only way to do this is to deepen and establish the soul contact which (although of the first ray) is, as you will remember, the first subray of the second ray.
Cung hai của thể cảm dục tạo thuận lợi rất nhiều cho công việc của em, đem lại cho em sự thấu hiểu và tính vô tổn hại; nhờ đó, cảm xúc không can thiệp vào sự phán đoán và các quyết định của em. Nhưng sự kết hợp giữa một thể trí cung bốn và một hiện thể cảm xúc cung hai đòi hỏi phải theo dõi cẩn thận để giữ được thế quân bình của cung một khi em lớn tuổi hơn và các khuynh hướng kết tinh thành thói quen. Cách duy nhất để làm điều này là đào sâu và củng cố sự tiếp xúc với linh hồn; như em hẳn còn nhớ, linh hồn ấy tuy thuộc cung một nhưng là cung phụ thứ nhất của cung hai.
8. The helpfulness of the second ray astral body is noted. It is hard to think of “understanding” (a quality of the consciousness) coming from the astral body. Probably, a second ray astral body is absorbent and non-rejecting of the emotional states of others. It allows the conditions of others to enter so that those conditions can be understood.
8. Sự trợ giúp của thể cảm dục cung hai được ghi nhận. Khó hình dung “sự thấu hiểu” (một phẩm tính của tâm thức) lại đến từ thể cảm dục. Có lẽ thể cảm dục cung hai có khả năng tiếp nhận và không khước từ các trạng thái cảm xúc của người khác. Nó cho phép những trạng thái của người khác đi vào để những trạng thái ấy có thể được thấu hiểu.
9. We well realize that disturbing emotions (more typical of astral bodies conditioned by other rays such as the sixth and first) can interfere with judgment and decision. In this case, the mind is relatively free of impact from the emotional body (though, it cannot be denied the every type of astral body has the potential to disturb {or inspire}thought).
9. Chúng ta biết rõ rằng những cảm xúc gây xáo trộn (thường gặp hơn ở các thể cảm dục chịu ảnh hưởng của những cung khác như cung sáu và cung một) có thể cản trở sự phán đoán và quyết định. Trong trường hợp này, thể trí tương đối ít chịu tác động của thể cảm xúc (dù không thể phủ nhận rằng mọi loại thể cảm dục đều có khả năng gây xáo trộn {hoặc truyền cảm hứng cho} tư tưởng).
10. DK notes a potential problem with balance. A fourth ray mind and a second ray astral body are a powerful combination along the “soft-line”. The detachment of the first ray must be preserved lest the qualities of ‘engagement’ typical of the fourth and second rays, gain the upper hand (for they are not rays as fundamental to JWK-P as the first ray).
10. Chân sư DK lưu ý một vấn đề tiềm tàng về sự quân bình. Thể trí cung bốn và thể cảm dục cung hai tạo thành một sự kết hợp mạnh mẽ theo “tuyến mềm”. Phải duy trì sự tách rời của cung một, để các phẩm tính “dấn thân” đặc trưng của cung bốn và cung hai không chiếm ưu thế (vì các cung này không mang tính nền tảng đối với JWK-P bằng cung một).
11. Yet, withal, it is the second ray which is primary (not only on our planet, but, inferentially, in JWK-P’s energy system). Here, a second ray monad is hinted, for the soul ray is always a subray of the monadic ray (though not the only subray).
11. Tuy nhiên, xét cho cùng, cung hai mới giữ vai trò chủ yếu (không chỉ trên hành tinh chúng ta mà, theo suy luận, cả trong hệ thống năng lượng của JWK-P). Ở đây có sự gợi ý về một chân thần cung hai, vì cung linh hồn luôn là một cung phụ của cung chân thần (dù không phải cung phụ duy nhất).
12. If the first ray soul quality is to be strong enough to balance the fourth ray mind and second ray astral nature, meditative access to this first ray is necessary.
12. Nếu phẩm tính linh hồn cung một cần đủ mạnh để quân bình thể trí cung bốn và bản chất cảm dục cung hai, thì cần tiếp cận cung một này qua tham thiền.
13. For all of us the principle is clear. The strengthening of subjective qualities occurs through meditation.
13. Đối với tất cả chúng ta, nguyên tắc thật rõ ràng. Các phẩm tính bên trong được tăng cường qua tham thiền.
As you have already guessed, your physical body is on the seventh ray. Hence your Masonic opportunity and your ability to organise and to rule. I would remind you all that when the statement is made that the physical body is upon the seventh ray, it means that the atoms of the brain, in particular, are coloured and motivated by seventh ray energy. So it is with all the rays upon which a physical vehicle may be found. This provides a definite opportunity to those so constituted at this time in connection with the seventh ray, as it is coming into influence so rapidly. At the same time it provides a problem—that unending problem of the balancing of forces which is the major task of the initiate or of those in training for initiation. Viewing you, therefore, as a complete unit, your rays are:
Như em đã đoán, thể xác của em thuộc cung bảy. Do đó, em có cơ hội trong Hội Tam Điểm và có khả năng tổ chức, cai quản. Tôi muốn nhắc tất cả các em rằng khi nói thể xác thuộc cung bảy, điều đó hàm ý rằng đặc biệt các nguyên tử của bộ não mang sắc thái và chịu sự thúc đẩy của năng lượng cung bảy. Điều này cũng đúng với mọi cung mà một hiện thể hồng trần có thể thuộc về. Hiện nay, điều này đem lại một cơ hội rõ rệt cho những ai có cấu tạo như thế liên quan đến cung bảy, vì cung này đang nhanh chóng phát huy ảnh hưởng. Đồng thời, nó cũng đặt ra một vấn đề—vấn đề không bao giờ dứt về việc quân bình các mãnh lực, vốn là nhiệm vụ chính của điểm đạo đồ hoặc những người đang được huấn luyện để điểm đạo. Vì vậy, xét em như một đơn vị toàn vẹn, các cung của em là:
14. DK has spoken of the sensitivity to “spiritual healing” of JWK-P’s physical body Such thoughts hinted strongly at a seventh ray physical-etheric vehicle, though prior to this point DK had not confirmed the ray of this vehicle.
14. Chân sư DK đã nói về sự nhạy cảm của thể xác JWK-P đối với “chữa lành tinh thần”. Những ý ấy gợi ý rất rõ về một hiện thể hồng trần–dĩ thái cung bảy, dù trước thời điểm này Chân sư DK chưa xác nhận cung của hiện thể ấy.
15. The seventh ray is, of course, related to Masonry and its ritualistic approach to enlightenment.
15. Dĩ nhiên, cung bảy liên quan đến Hội Tam Điểm và phương thức tiếp cận giác ngộ qua nghi lễ của hội này.
16. Can a seventh ray vehicle alone lead one into Masonry, or give one the power to “organise and to rule”. This is unlikely. But when the quality of energy provided by the physical-etheric body is made available to the directing personality/soul, then that quality can be used in particular ways—in this case for expression in Masonry and, in general, for a powerful, ruling and ordering approach to living.
16. Chỉ riêng một hiện thể cung bảy có thể dẫn một người vào Hội Tam Điểm, hay mang lại cho người ấy khả năng “tổ chức và cai quản” chăng? Điều này khó có thể xảy ra. Nhưng khi phẩm tính năng lượng do thể xác–dĩ thái cung cấp trở nên sẵn có cho phàm ngã/linh hồn chỉ đạo, thì phẩm tính ấy có thể được sử dụng theo những cách cụ thể—trong trường hợp này là biểu hiện trong Hội Tam Điểm và, nói chung, tạo nên một cách sống mạnh mẽ, có khả năng cai quản và thiết lập trật tự.
17. DK probably realizes that these personal instructions will later have wider distribution. He inserts many teaching points along the way. This is an important one foundational to ray theory. The atoms of the brain are “coloured and motivated” by the ray energy of the physical body. This is true not only for the seventh ray (as in this case) but of any ray energy which rules the physical body.
17. Có lẽ Chân sư DK nhận ra rằng sau này những huấn thị cá nhân này sẽ được phổ biến rộng rãi hơn. Trong suốt quá trình, Ngài lồng vào nhiều điểm giảng dạy. Đây là một điểm quan trọng, mang tính nền tảng đối với lý thuyết về các cung. Các nguyên tử của bộ não “mang sắc thái và chịu sự thúc đẩy” của năng lượng cung thể xác. Điều này không chỉ đúng với cung bảy (như trong trường hợp này) mà với bất kỳ năng lượng cung nào cai quản thể xác.
18. This is a technical piece of information but will probably have considerable utility in later days when ray qualities and vibrations can be researched in relation to the physical brain.
18. Đây là một thông tin chuyên môn nhưng có lẽ sẽ rất hữu ích về sau, khi có thể nghiên cứu các phẩm tính và rung động của cung trong mối liên hệ với bộ não hồng trần.
19. The opportunity of the seventh ray physical body and brain is noted. The incoming seventh ray will strengthen the vibration. Every disciple must consider the relation of his ray equipment to the incoming and outgoing rays of the historical period in which he/she may be living. The presence or absence, strength or weakness of rays in the world will definitely affect the ‘individual equation’.
19. Cơ hội của thể xác và bộ não cung bảy được ghi nhận. Cung bảy đang đi vào sẽ tăng cường rung động ấy. Mỗi đệ tử phải xem xét mối liên hệ giữa hệ thống các cung của mình với những cung đang đi vào và rút ra trong giai đoạn lịch sử mà mình đang sống. Sự hiện diện hay vắng mặt, mạnh hay yếu của các cung trên thế giới chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến “tổng thể yếu tố cá nhân”.
20. Why must the initiate or the one who is engaged in initiate training be constantly involved in the balancing of forces? Perhaps it is a question of integration and the right and harmonious utilization of all energy resources. In conditions of imbalance, cleavage and various glamorous and illusory results of over and under emphasis can develop. Progress is delayed.
20. Vì sao điểm đạo đồ hoặc người đang được huấn luyện để trở thành điểm đạo đồ phải không ngừng quân bình các mãnh lực? Có lẽ đây là vấn đề tích hợp và sử dụng đúng đắn, hài hòa mọi nguồn năng lượng. Trong tình trạng mất quân bình, sự chia rẽ và nhiều hệ quả mang tính ảo cảm, ảo tưởng do nhấn mạnh quá mức hoặc thiếu mức có thể phát triển. Sự tiến bộ bị trì hoãn.
21. We can see how the Master’s evaluation of His disciples’ ray energies could assist powerfully with achieving the necessary balance. The disciple is thereby enabled to speak of his/her different energy flows in specific and relatively objective terms and, thus, to control them with greater ease.
21. Chúng ta có thể thấy việc Chân sư đánh giá các năng lượng cung của đệ tử Ngài có thể trợ giúp mạnh mẽ cho việc đạt được sự quân bình cần thiết. Nhờ đó, đệ tử có thể nói về những dòng năng lượng khác nhau của mình bằng các thuật ngữ cụ thể và tương đối khách quan, và vì thế kiểm soát chúng dễ dàng hơn.
1. The soul ray—the first Ray of Power or Will.
1. Cung linh hồn—cung một, cung Quyền Năng hay Ý Chí.
2. The personality ray—the second Ray of Love-Wisdom.
2. Cung phàm ngã—cung hai, cung Bác Ái – Minh Triết.
3. The ray of the mind—the fourth Ray of Harmony through Conflict.
3. Cung của thể trí—cung bốn, cung Hài Hòa qua Xung Đột.
4. The ray of the astral body—the second Ray of Love-Wisdom.
4. Cung của thể cảm dục—cung hai, cung Bác Ái – Minh Triết.
5. The ray of the physical body—the seventh Ray of Ceremonial Order. [169]
5. Cung của thể xác—cung bảy, cung Trật Tự Nghi Lễ.
22. This is a powerful and effective combination of energies. Interestingly, Mary Bailey, the second wife of Foster Bailey, and such an important figure in the work of the Lucis Trust for at least thirty years, said that her ray chart was the “same as Foster’s). Those who knew her at close hand would probably confirm that she was correct.
22. Đây là một sự kết hợp năng lượng mạnh mẽ và hiệu quả. Điều thú vị là Mary Bailey, người vợ thứ hai của Foster Bailey, một nhân vật rất quan trọng trong công việc của Lucis Trust suốt ít nhất ba mươi năm, từng nói rằng sơ đồ cung của bà “giống như của Foster). Những ai biết rõ bà có lẽ sẽ xác nhận rằng bà đã nói đúng.
23. Noteworthy is the straight line of energy from soul to etheric-physical body, enfolding three rays along the soft-line in the positions of personality, mind and astral nature.
23. Đáng chú ý là tuyến năng lượng thẳng từ linh hồn đến thể dĩ thái–hồng trần, bao bọc ba cung thuộc tuyến mềm ở các vị trí phàm ngã, thể trí và bản chất cảm dục.
24. A potential for a very balanced approach is hereby indicated, but, as DK suggested, meditative access to the soul would be necessary to preserve the balance.
24. Qua đó có thể thấy tiềm năng cho một cách tiếp cận rất quân bình, nhưng như Chân sư DK đã gợi ý, cần tiếp cận linh hồn qua tham thiền để duy trì sự quân bình ấy.
January 1938 – Tháng Một năm 1938
Three words I gave to you, my friend and brother, in my last communication. They were: Responsibility, Sacrifice and Comradeship. I urged on you the task of awakening the aspirants by whom you are surrounded to an understanding of their significance. You comprehend them yourself, but they must be exemplified, explained and nurtured in all whom you draw into the circle of group influence as collaborators and cooperators with the Plan. Responsibility you can shoulder and have always shouldered. Sacrifice you have always rendered and understood. Your values are sound on this and you want nothing for the separated self. Comradeship, you are learning and it is not an easy lesson at any time for first ray souls to master and express. The littleness of the personalities and the pettiness of individual points of view are irksome to the server of the Plan who stands, serene and detached, upon a first ray pinnacle of vision and resultant comprehension.
Người bạn và huynh đệ của tôi, trong lần trao đổi trước, Tôi đã trao cho em ba từ. Đó là: Trách nhiệm, Hi sinh và Tình đồng đội. Tôi đã thúc giục em đảm nhận nhiệm vụ đánh thức nơi những người chí nguyện quanh em sự thấu hiểu về thâm nghĩa của chúng. Chính em thấu hiểu chúng, nhưng cần nêu gương, giải thích và nuôi dưỡng chúng nơi tất cả những ai em thu hút vào vòng ảnh hưởng của nhóm để cùng cộng tác và hợp tác với Thiên Cơ. Em có thể gánh vác trách nhiệm và luôn luôn làm như vậy. Em luôn hi sinh và thấu hiểu sự hi sinh. Về điều này, cách đánh giá của em là đúng đắn và em không muốn gì cho bản ngã chia rẽ. Em đang học tình đồng đội, và đối với các linh hồn cung một, việc nắm vững và biểu lộ bài học này chưa bao giờ là dễ dàng. Sự nhỏ nhen của các phàm ngã và tính thiển cận của những quan điểm cá nhân gây khó chịu cho người phụng sự Thiên Cơ, vốn đứng tĩnh lặng và tách rời trên đỉnh cao cung một của tầm nhìn cùng sự thấu hiểu phát sinh từ đó.
1. The Master is careful with words. Here he calls JWK-P “my friend and bother”. The term “brother” is always used in all these letters to individual disciples, though can mean various things. Fundamentally, it acknowledges all human beings as ‘brother monads’, for brotherhood is, essentially, of the spirit.
1. Chân sư thận trọng trong cách dùng từ. Ở đây, Ngài gọi JWK-P là “người bạn và huynh đệ của tôi”. Từ “huynh đệ” luôn được dùng trong tất cả những bức thư này gửi cho từng đệ tử, dù có thể mang nhiều ý nghĩa. Về căn bản, từ ấy thừa nhận tất cả con người là những “chân thần huynh đệ”, vì tình huynh đệ, về bản chất, thuộc về tinh thần.
2. The term “friend” is different, and suggests a degree of mutual reinforcement and helpfulness. The relationship is reciprocal.
2. Từ “người bạn” thì khác, và gợi lên một mức độ củng cố, trợ giúp lẫn nhau. Mối quan hệ này có tính tương hỗ.
3. When the Master addresses a disciples using such terms, it can have a powerful effect on how the disciple thinks of himself/herself and his/her work.
3. Khi Chân sư gọi một đệ tử bằng những từ như vậy, điều ấy có thể tác động mạnh mẽ đến cách người đệ tử nghĩ về bản thân và công việc của mình.
4. DK reminds JWK-P of the three words given in a past letter: Responsibility, Sacrifice and Comradeship. Though JWK-P understands them, DK asks that they be “exemplified, explained and nurtured” for the sake of others. These are obviously training words.
4. Chân sư DK nhắc JWK-P về ba từ đã trao trong một bức thư trước: Trách nhiệm, Hi sinh và Tình đồng đội. Dù JWK-P thấu hiểu chúng, Chân sư DK yêu cầu phải “nêu gương, giải thích và vun bồi” chúng vì những người khác. Rõ ràng đây là những từ dùng để huấn luyện.
5. DK evaluates where JWK-P stands with respect to assimilating and exemplifying the qualities indicated by these words.
5. Chân sư DK đánh giá vị thế của JWK-P trong việc tiếp thu và thể hiện những phẩm tính mà các từ này chỉ ra.
6. Responsibility and sacrifice are no problem for him. Comradeship (a quality more easily assimilated by those upon the soft-line rays) is. DK is obviously training JWK-P in the acquisition of second ray qualities.
6. Trách nhiệm và sự hi sinh không phải là vấn đề đối với ông. Tình đồng chí (một phẩm tính mà những người thuộc các cung trên tuyến mềm dễ tiếp thu hơn) lại là vấn đề. Rõ ràng Chân sư DK đang huấn luyện JWK-P để đạt được những phẩm tính cung hai.
7. The Master is asking this disciple to do something which does not come easily to first ray types. DK (having somewhat of the first ray in His triadal nature) shows He understands why it is difficult for first ray types to achieve comradeship. The explanation is very beautiful and full of understanding. It is one of those sections which describe better than many the psychological state of those upon the first ray:
7. Chân sư đang yêu cầu người đệ tử này làm một điều vốn không dễ đối với những người cung một. Chân sư DK (vốn có phần nào cung một trong bản chất Tam Nguyên Tinh Thần của Ngài) cho thấy Ngài thấu hiểu vì sao những người cung một khó đạt được tình đồng chí. Lời giải thích rất đẹp và đầy sự thấu hiểu. Đây là một trong những đoạn mô tả trạng thái tâm lý của những người thuộc cung một rõ hơn nhiều đoạn khác:
“The littleness of the personalities and the pettiness of individual points of view are irksome to the server of the Plan who stands, serene and detached, upon a first ray pinnacle of vision and resultant comprehension”.
“Sự nhỏ bé của các phàm ngã và sự vụn vặt của những quan điểm cá nhân gây khó chịu cho người phụng sự Thiên Cơ, người đứng tĩnh lặng và tách rời trên đỉnh cao cung một của tầm nhìn và sự lĩnh hội phát sinh từ đó”.
8. It is clear that the Master knows why the development for which He asks is difficult for JWK-P, but he, nevertheless, asks it.
8. Rõ ràng Chân sư biết vì sao sự phát triển mà Ngài yêu cầu lại khó đối với JWK-P, nhưng dù vậy, Ngài vẫn yêu cầu điều ấy.
9. An important counseling or mentoring technique is here displayed. The teacher/mentor/guide demonstrates that he understands the point of view of the one he advises. This promotes the cooperation of the guided one, who is more inclined to attempt to do something difficult or uncongenial to him, simply because he is understood by the one who asks for the change in behavior.
9. Ở đây thể hiện một kỹ thuật tư vấn hay cố vấn quan trọng. Người huấn sư/cố vấn/hướng dẫn cho thấy mình thấu hiểu quan điểm của người được khuyên bảo. Điều này thúc đẩy sự hợp tác của người được hướng dẫn, khiến người ấy sẵn lòng cố gắng làm một điều khó khăn hoặc không hợp với mình hơn, đơn giản vì người yêu cầu thay đổi hành vi thấu hiểu mình.
I have three points to take up with you and my message to you is brief. I seek not to impose upon you a definite meditation, beyond suggesting that, as you face and shoulder an increasingly wide financial responsibility, you persist in that brooding meditation in relation to the problem which I gave you a while ago. You are coming—as a first ray disciple who is proving himself—under a closer supervision by your Master. My task is now only to stand by. The three points which I would impress upon you are as follows:
Tôi có ba điểm cần bàn với em và thông điệp của Tôi dành cho em rất ngắn gọn. Tôi không muốn áp đặt cho em một bài thiền cụ thể nào, ngoài việc đề nghị rằng, khi đối diện và gánh vác trách nhiệm tài chính ngày càng rộng lớn, em hãy kiên trì với việc tham thiền suy ngẫm về vấn đề mà Tôi đã giao cho em cách đây một thời gian. Là một đệ tử cung một đang chứng tỏ mình, em đang nhận được sự giám sát sát sao hơn từ Chân sư của em. Giờ đây, nhiệm vụ của Tôi chỉ là ở bên hỗ trợ. Ba điểm Tôi muốn em ghi sâu là:
10. DK appreciates this disciple’s practical problems. He realizes that JWK-P is ‘in process’ and working well. He seems not to complicate the way by offering additional factors for consideration.
10. Chân sư DK thấu hiểu những vấn đề thực tế của người đệ tử này. Ngài nhận ra rằng JWK-P đang “trong tiến trình” và làm việc tốt. Dường như Ngài không làm con đường thêm phức tạp bằng cách đưa ra những yếu tố bổ sung để xem xét.
11. DK recognizes the growing relation between JWK-P and Master M. It appears that Master M is increasingly aware of him as a disciple and is, perhaps, inwardly guiding some aspects of his life process.
11. Chân sư DK nhận biết mối quan hệ ngày càng phát triển giữa JWK-P và Chân sư M. Dường như Chân sư M. ngày càng chú ý đến ông với tư cách một đệ tử và có lẽ đang hướng dẫn từ bên trong một số phương diện trong tiến trình sống của ông.
12. Master DK knows His own place in such an instance—to “stand by”, presumably supporting with strength, love and wise advice, but not interfering in the growing rapport between a disciple and his Master.
12. Chân sư DK biết vị trí của chính Ngài trong một trường hợp như vậy—“ở bên hỗ trợ”, có lẽ bằng sức mạnh, tình thương và lời khuyên minh triết, nhưng không can thiệp vào mối giao cảm ngày càng phát triển giữa một đệ tử và Chân sư của mình.
13. We can see that DK is careful about offering JWK-P too many new things. Often there appear reminders about processes already initiated and underway, and reinforcements of the importance of such processes.
13. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK thận trọng trong việc đưa ra quá nhiều điều mới cho JWK-P. Thường xuất hiện những lời nhắc về các tiến trình đã khởi sự và đang diễn ra, cùng những lời củng cố tầm quan trọng của các tiến trình ấy.
14. JWK-P is a powerful worker and it is the role of Master DK to help him become even better at his work. These instructions to JWK-P are not spent helping him solve problems of character and orientation, as is the case in His relation with some of the other less experienced disciples. Occasional statements regarding character are made, but only rarely.
14. JWK-P là một người hoạt động đầy năng lực, và vai trò của Chân sư DK là giúp ông làm công việc của mình tốt hơn nữa. Những huấn thị dành cho JWK-P này không tập trung giúp ông giải quyết các vấn đề về tính cách và định hướng, như trong mối quan hệ của Ngài với một số đệ tử khác ít kinh nghiệm hơn. Thỉnh thoảng có những nhận xét về tính cách, nhưng chỉ rất hiếm khi.
1. Waste not time in backward looking nor in futile consideration of the wisdom or the non-wisdom of past undertakings. Go forward with confidence and intensity. Months of focussed and intense action lie ahead of you and, rightly carried forward, success awaits you in the gathering of the needed equipment to do the Master's work and aid the Plan.
1. Đừng phí thời gian nhìn lại quá khứ hoặc suy xét vô ích về sự khôn ngoan hay thiếu khôn ngoan của những việc đã làm. Hãy tiến tới với lòng tự tin và sự mạnh mẽ. Trước mắt em là những tháng hành động tập trung và mãnh liệt; nếu thực hiện đúng đắn, thành công đang chờ em trong việc tập hợp những phương tiện cần thiết để thực hiện công việc của Chân sư và trợ giúp Thiên Cơ.
15. It is normal for a sincere and conscientious disciple to indulge in self-recrimination. DK is advising that such backward looking analysis is futile. He is helping to release from a needless and possibly depressing expenditure of energy
15. Việc một đệ tử chân thành và tận tâm sa vào tự trách là điều bình thường. Chân sư DK khuyên rằng lối phân tích nhìn lại phía sau như vậy là vô ích. Ngài đang giúp giải thoát khỏi sự tiêu hao năng lượng không cần thiết và có thể gây chán nản
16. The Master motivates the disciple, promising success if future action is carried forward rightly.
16. Chân sư khích lệ người đệ tử, hứa hẹn thành công nếu hành động tương lai được tiến hành đúng đắn.
17. The times were critical then, as they are now. Any loss of time by a powerfully positioned disciple is a loss to the whole.
17. Thời cuộc khi ấy cũng nguy cấp như hiện nay. Bất kỳ sự mất thời gian nào của một đệ tử ở vị thế đầy ảnh hưởng cũng là tổn thất đối với toàn thể.
2. Handle with care the force which flows through you as you shift increasingly into the consciousness of your first ray soul and into a first ray Master's group. See to it that your second ray personality can rightly deal with that force, blending it with love and tempering its power with [170] understanding. The first ray force must deal with circumstance and must not make its impact upon personalities. It is needed to force issues and determine results (note that phrase) but not to shatter and to hurt. True impersonality must be borne in mind and your personality must note its effect upon other personalities and offset its innate and oft most useful destructive work.
2. Hãy thận trọng xử lý mãnh lực tuôn chảy qua em khi em ngày càng chuyển vào tâm thức của linh hồn cung một và vào nhóm của một Chân sư cung một. Hãy bảo đảm rằng phàm ngã cung hai của em có thể xử lý đúng đắn mãnh lực ấy, hòa quyện nó với tình thương và điều hòa quyền năng của nó bằng [170] sự thấu hiểu. Mãnh lực cung một phải xử lý hoàn cảnh và không được tác động lên các phàm ngã. Cần đến nó để thúc đẩy các vấn đề đến chỗ giải quyết và định đoạt kết quả (hãy lưu ý cụm từ ấy), chứ không phải để phá vỡ và gây tổn thương. Phải luôn ghi nhớ tính vô ngã đích thực, và phàm ngã của em phải lưu ý tác động của mình lên các phàm ngã khác, đồng thời hóa giải hoạt động phá hủy vốn có và thường rất hữu ích của nó.
18. Here advice is given on handling two very different rays—the first and the second. JWK-P will need the quality of his second ray personality to balance the intensification of the first ray He is experiencing as He comes closer to His first ray master.
18. Ở đây có lời khuyên về việc xử lý hai cung rất khác nhau—cung một và cung hai. JWK-P sẽ cần phẩm tính của phàm ngã cung hai để cân bằng sự tăng cường cung một mà ông đang trải nghiệm khi đến gần Chân sư cung một của mình hơn.
19. We see that the ray of the personality may be most needed by the individual to modify the expression of his/her soul ray. If power is tempered with understanding, greater allowance will be made for the imperfections of the form—one’s own form and that of others.
19. Chúng ta thấy rằng một cá nhân có thể rất cần cung phàm ngã để điều chỉnh sự biểu lộ của cung linh hồn mình. Nếu quyền năng được điều hòa bằng sự thấu hiểu, người ta sẽ bao dung hơn đối với những bất toàn của hình tướng—hình tướng của chính mình và của người khác.
20. Then, a most important piece of advice. “The first ray force must deal with circumstances and not make its impact upon personalities. It is needed to force issues and determine results (not that phrases) but not to shatter and to hurt”. This is extraordinarily valuable counsel and must be borne in mind by every first ray type. It concerns the impersonaluse of the first ray, to be used upon the context in which various personalities work but not upon the personalities themselves.
20. Tiếp đó là một lời khuyên vô cùng quan trọng. “Mãnh lực cung một phải xử lý hoàn cảnh và không được tác động lên các phàm ngã. Cần đến mãnh lực ấy để thúc đẩy các vấn đề đến chỗ giải quyết và định đoạt kết quả (hãy lưu ý cụm từ ấy), chứ không phải để phá vỡ và gây tổn thương”. Đây là lời khuyên vô cùng quý giá và mọi người cung một đều phải ghi nhớ. Lời khuyên này liên quan đến việc sử dụng cung một một cách phi cá nhân, vận dụng nó vào bối cảnh mà các phàm ngã khác nhau đang làm việc, chứ không tác động lên chính các phàm ngã ấy.
21. Apparently this was a problem for JWK-P. I talked with one second ray disciple who worked with him. This disciple felt she had been “hurt” by his approach—perhaps, a case in point.
21. Dường như đây là một vấn đề đối với JWK-P. Tôi đã nói chuyện với một nữ đệ tử cung hai từng làm việc với ông. Người đệ tử này cảm thấy mình đã bị cách tiếp cận của ông làm “tổn thương”—có lẽ đây là một trường hợp minh họa.
22. DK calls JWK-P to a deeper understanding of impersonality. The personal reactions of other personalities have to be taken into consideration. DK acknowledges that JWK-P’s destructive work is often most useful, but, at the same time, cautions him concerning its impact upon other personalities. Again, we see DK calling for a modification of behavior, but doing so in a balanced manner full of understanding. The one being asked to change knows he is understood by the one asking for change.
22. Chân sư DK kêu gọi JWK-P thấu hiểu sâu hơn về tính phi cá nhân. Cần cân nhắc những phản ứng cá nhân của các phàm ngã khác. Chân sư DK thừa nhận rằng công việc hủy diệt của JWK-P thường rất hữu ích, nhưng đồng thời cảnh báo ông về tác động của nó lên các phàm ngã khác. Một lần nữa, chúng ta thấy Chân sư DK kêu gọi điều chỉnh hành vi, nhưng làm điều đó một cách cân bằng và đầy thấu hiểu. Người được yêu cầu thay đổi biết rằng người yêu cầu thay đổi thấu hiểu mình.
3. Ponder on joy, happiness, gaiety and bliss; these release the channels of the inner life and reach—in a wide circle—many kinds of men. They heal and cleanse the physical body and help you do your work with little effort, a proper sense of values and a detachment which is based on love and not isolation.
3. Hãy suy ngẫm về sự hoan hỉ, hạnh phúc, vui tươi và chí phúc; những điều này khai thông các kênh của đời sống bên trong và vươn tới nhiều hạng người trong một vòng ảnh hưởng rộng lớn. Chúng chữa lành và thanh lọc thể xác, giúp em làm việc mà ít tốn sức, với ý thức đúng đắn về các giá trị và sự tách rời đặt nền tảng trên tình thương thay vì sự cô lập.
23. Again the disciple is being counseled to develop relationship skills. “Joy” is the first keynote given to him. DK adds a few related words. New among the words is “gaiety”—probably rather far from the ordinary consciousness of this disciple.
23. Một lần nữa, người đệ tử được khuyên phát triển những kỹ năng quan hệ. “Sự hoan hỉ” là chủ âm đầu tiên dành cho ông. Chân sư DK thêm một vài từ liên quan. Từ mới trong số đó là “vui tươi”—có lẽ khá xa với tâm thức thông thường của người đệ tử này.
24. The value of these approaches is indicated: they “release the channels of the inner life” and, basically, reach many people.
24. Giá trị của những cách tiếp cận này được chỉ ra: chúng “khai thông các kênh của đời sống bên trong” và về cơ bản vươn tới nhiều người.
25. So much teaching is here compressed into a few words. These lighter energies heal, cleanse, help one do more with less energy and, in general, help the work be carried forward properly.
25. Rất nhiều giáo huấn được cô đọng ở đây trong vài từ. Những năng lượng nhẹ nhàng hơn này chữa lành, thanh lọc, giúp người ta làm được nhiều hơn với ít năng lượng hơn và nhìn chung giúp công việc tiến triển đúng đắn.
26. A major lesson for the first ray type is presented: find that detachment which is based on love and not isolation. Detachment based on isolation is easy for the first ray individual; detachment based on love is not.
26. Một bài học lớn dành cho người cung một được nêu ra: hãy tìm sự tách rời dựa trên tình thương chứ không phải sự cô lập. Tách rời dựa trên sự cô lập là điều dễ đối với cá nhân cung một; tách rời dựa trên tình thương thì không.
27. From the very first (seven year before this instruction was written) the Tibetan saw JWK-P’s major need—a releasing joy. This would bring success to his work and render him effective in wider circles. It takes a long time for new approaches to be cultivated. Periodically, DK reminds him of His original advice.
27. Ngay từ đầu (bảy năm trước khi huấn thị này được viết), Chân sư Tây Tạng đã thấy nhu cầu chính của JWK-P—một sự hoan hỉ mang lại giải thoát. Điều này sẽ đem lại thành công cho công việc của ông và giúp ông hoạt động hiệu quả trong những phạm vi rộng lớn hơn. Cần một thời gian dài để vun bồi những cách tiếp cận mới. Theo định kỳ, Chân sư DK nhắc ông về lời khuyên ban đầu của Ngài.
In closing I would say: I am not dissatisfied with the work which has been done by you and the workers in the field but I call you all to deeper understanding and increased activity.
Để kết thúc, Tôi muốn nói: Tôi không bất mãn với công việc em và những người hoạt động ngoài thực địa đã thực hiện, nhưng Tôi kêu gọi tất cả các em thấu hiểu sâu sắc hơn và tăng cường hoạt động.
For you, my brother, I have this word. Let not the glamour of fatigue and of disappointment over world conditions lead to abortive work. Fight not the glamour which seeks to impose itself upon you with your first ray indifference—a potent attitude easily assumed by you as by all first ray types. Fight it by non-recognition and by complete absorption in the immediate task; I refer to a wise absorption which neglects no due physical care nor due time for relaxation. The work goes forward in the world along the correct, indicated inner lines. The disciple who has achieved a measure of sensitivity to the Whole must learn to discriminate between aspects of that whole. You are too sensitive to the desire and feeling aspects of the world personality and the glamour of your own reaction to this. Learn to register with equal sensitivity the mass of the world idealisms and aspiring thought; then the glamour of fatigue and of innate disgust will give place to a keen interest and understanding of the glamour-free disciple.
Riêng với em, huynh đệ của tôi, Tôi có lời này. Đừng để ảo cảm mệt mỏi và thất vọng trước tình hình thế giới khiến công việc dở dang. Đừng chống lại ảo cảm đang tìm cách áp đặt lên em bằng sự điềm nhiên cung một—một thái độ đầy sức mạnh mà em cũng như mọi người thuộc cung một đều dễ dàng có được. Hãy chống lại nó bằng cách không thừa nhận nó và hoàn toàn chuyên tâm vào nhiệm vụ trước mắt; Tôi nói đến sự chuyên tâm sáng suốt, không sao nhãng việc chăm sóc thể chất đúng mức hay thời gian thư giãn thích đáng. Công việc trên thế giới đang tiến triển theo những đường hướng nội tại đúng đắn đã được chỉ ra. Người đệ tử đã đạt được một mức độ nhạy cảm với Toàn Thể phải học cách phân biện giữa các phương diện của toàn thể ấy. Em quá nhạy cảm với các phương diện dục vọng và cảm xúc của phàm ngã thế giới, cũng như với ảo cảm từ chính phản ứng của em trước điều đó. Hãy học cách ghi nhận với độ nhạy cảm tương đương toàn bộ những lý tưởng và tư tưởng khát vọng của thế giới; khi ấy, ảo cảm mệt mỏi và cảm giác chán ghét vốn có sẽ nhường chỗ cho mối quan tâm sâu sắc cùng sự thấu hiểu của người đệ tử thoát khỏi ảo cảm.
28. It appears that it is JWK-P that is dissatisfied, and thinking that the Master must be dissatisfied as well. DK will never say, openly and directly to a disciple, that He is dissatisfied. Such a direct statement, in almost all instances, would lead to discouragement and the sense of failure, under which no good work can be done. In this case, however, DK has no dissatisfaction and feels the necessity to remind this self-critical disciple of the fact.
28. Dường như chính JWK-P đang bất mãn và cho rằng Chân sư hẳn cũng bất mãn. Chân sư DK sẽ không bao giờ nói công khai và trực tiếp với một đệ tử rằng Ngài bất mãn. Trong hầu hết các trường hợp, một lời nói thẳng như vậy sẽ dẫn đến sự nản lòng và cảm giác thất bại, khiến người ta không thể làm việc tốt. Tuy nhiên, trong trường hợp này, Chân sư DK không hề bất mãn và cảm thấy cần nhắc người đệ tử hay tự phê bình này về sự thật ấy.
29. DK senses the discouragement his disciple. He names a glamour of fatigue and a glamor of disappointment over world conditions. He recognizes the danger; these glamors can abort good results.
29. Chân sư DK cảm nhận sự nản lòng của đệ tử mình. Ngài nêu tên ảo cảm mệt mỏi và ảo cảm thất vọng trước tình hình thế giới. Ngài nhận ra mối nguy hiểm; những ảo cảm này có thể làm hỏng những kết quả tốt đẹp.
30. Why can an attitude of fatigue and disappointment be considered, in this case, glamours? It would appear that the fatigue is not caused essentially by physical-etheric conditions, but that an astral condition is responsible. The origin of the fatigue is thus upon the astral plane and can be overcome through the right handling of the astral body.
30. Vì sao trong trường hợp này, thái độ mệt mỏi và thất vọng lại có thể được xem là những ảo cảm? Dường như sự mệt mỏi về căn bản không do các tình trạng hồng trần–dĩ thái gây ra, mà do một tình trạng cảm dục. Vì vậy, nguồn gốc của sự mệt mỏi nằm trên cõi cảm dục và có thể khắc phục bằng cách xử lý thể cảm dục đúng đắn.
31. It is so interesting to see the balanced approach adopted by Master DK in dealing with JWK-P. Whenever He advises this disciple to proceed in a certain direction, He has to ensure that the advice will not be carried too far.
31. Thật thú vị khi thấy cách tiếp cận cân bằng mà Chân sư DK áp dụng khi làm việc với JWK-P. Bất cứ khi nào Ngài khuyên người đệ tử này tiến theo một hướng nhất định, Ngài đều phải bảo đảm rằng lời khuyên ấy sẽ không bị thực hiện quá mức.
32. The Master requests that JWK-P not fight the impending glamor with first ray indifference—recognizing but shutting it out and working on in spite of it. The preferred method is to be through “non-recognition and complete absorption in the immediate task”. JWK-P is asked to ignore the glamour in favor of the task to be done (in which, presumably, fresh and absorbing interest is to be shown).
32. Chân sư yêu cầu JWK-P không chống lại ảo cảm đang đến bằng sự điềm nhiên cung một—nhận biết nhưng gạt nó ra ngoài và tiếp tục làm việc bất chấp nó. Phương pháp được ưu tiên là “không thừa nhận nó và hoàn toàn chuyên chú vào nhiệm vụ trước mắt”. JWK-P được yêu cầu bỏ qua ảo cảm để tập trung vào nhiệm vụ cần làm (có lẽ với một sự quan tâm mới mẻ và say mê).
33. Interestingly, no sooner does DK say “complete absorption” than He says “wise absorption”. Balanced advice is always best; it ensures that the energy system is not jeopardized by excessive zeal or an excessive will to follow direction.
33. Điều thú vị là Chân sư DK vừa nói “hoàn toàn chuyên chú” thì ngay sau đó Ngài nói “chuyên chú minh triết”. Lời khuyên cân bằng luôn là tốt nhất; nó bảo đảm rằng hệ thống năng lượng không bị đe dọa bởi lòng nhiệt thành quá mức hay ý chí tuân theo chỉ dẫn quá mức.
34. DK points to JWK-P’s excessive sensitivity—to the “desire and feeling aspects of the world personality”. This drains his vitality and leads to disappointment and fatigue.
34. Chân sư DK chỉ ra sự nhạy cảm quá mức của JWK-P—đối với “các phương diện dục vọng và cảm xúc của phàm ngã thế giới”. Điều này làm cạn sinh lực của ông và dẫn đến thất vọng cùng mệt mỏi.
35. DK is constantly offering balancing corrections. Earlier he sought for JWK-P a greater attachment to the souls of others in addition to first ray detachment from their personalities. He sought to instill the ability to apply will to circumstances rather than to people. Also He sought to promote joy rather than the attitude of the responsibility-burdened disciple. Now, He requests that JWK-P keep his sensitivity, but direct it to world idealism and aspiring thought rather than only to world desire and feeling. This would obviously have an uplifting effect.
35. Chân sư DK liên tục đưa ra những điều chỉnh nhằm tạo sự cân bằng. Trước đó, Ngài mong JWK-P gắn bó sâu sắc hơn với linh hồn của người khác, bên cạnh sự tách rời cung một đối với phàm ngã của họ. Ngài đã tìm cách vun bồi khả năng vận dụng ý chí vào hoàn cảnh thay vì vào con người. Ngài cũng tìm cách thúc đẩy sự hoan hỉ thay cho thái độ của người đệ tử trĩu nặng trách nhiệm. Giờ đây, Ngài yêu cầu JWK-P giữ sự nhạy cảm của mình, nhưng hướng nó vào lý tưởng và tư tưởng đầy khát vọng của thế giới, thay vì chỉ hướng vào dục vọng và cảm xúc của thế giới. Hiển nhiên điều này sẽ có tác dụng nâng cao.
36. DK names a “glamor of innate disgust”. It causes rebuff and leads to isolation from those people and situations which could be redeemed and uplifted if reached in the correct way. To this glamor, over-sensitivity to desire and feeling is a strongly contributing cause. DK wants JWK-P to register more of that which is positive, good and uplifting. For years He has prompted him towards joy, happiness and bliss. The Master is trying to lift some of the unnecessary energic burden carried by this disciple by suggesting the development of uplifting energy states.
36. Chân sư DK nêu tên một “ảo cảm chán ghét vốn có”. Nó gây ra sự khước từ và dẫn đến việc cô lập bản thân khỏi những người và hoàn cảnh vốn có thể được cứu chuộc và nâng cao nếu tiếp cận đúng cách. Sự nhạy cảm quá mức với dục vọng và cảm xúc là một nguyên nhân góp phần mạnh mẽ vào ảo cảm này. Chân sư DK muốn JWK-P ghi nhận nhiều hơn những gì tích cực, tốt đẹp và có tác dụng nâng cao. Suốt nhiều năm, Ngài đã thúc đẩy ông hướng tới sự hoan hỉ, hạnh phúc và chí phúc. Chân sư đang cố gắng giảm bớt phần nào gánh nặng năng lượng không cần thiết mà người đệ tử này mang, bằng cách gợi ý phát triển những trạng thái năng lượng có tác dụng nâng cao.
37. We learn that when a disciple is “glamor-free”, keen interest and understanding will replace the glamour of fatigue and innate disgust. So many glamorous emotional conditions dull our potential interest, rob us of energy and create barriers instead of bridges.
37. Chúng ta học được rằng khi một đệ tử “không còn ảo cảm”, sự quan tâm sâu sắc và sự thấu hiểu sẽ thay thế ảo cảm mệt mỏi và chán ghét vốn có. Biết bao trạng thái cảm xúc đầy ảo cảm làm chai lì khả năng quan tâm của chúng ta, tước đi năng lượng và tạo ra những rào cản thay vì những nhịp cầu.
38. The solution in some ways is very simple: to see and appreciate the good will transform negative energy and liberate new supplies of energy for the work.
38. Theo một vài phương diện, giải pháp rất đơn giản: nhìn thấy và trân trọng điều tốt đẹp sẽ chuyển đổi năng lượng tiêu cực và giải phóng những nguồn năng lượng mới cho công việc.
39. From the beginning the Master has realized the burden to be carried by JWK-P. His first counsels regarding joy were an attempt to liberate the energy necessary to successfully carry these burdens.
39. Ngay từ đầu, Chân sư đã nhận ra gánh nặng mà JWK-P phải mang. Những lời khuyên đầu tiên của Ngài về sự hoan hỉ là một nỗ lực nhằm giải phóng năng lượng cần thiết để gánh vác thành công những trọng trách này.
40. We can see that the Master has done everything He considers wise and possible to make of JWK-P a better, more effective and more joyful server.
40. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư đã làm mọi điều Ngài xét là minh triết và có thể thực hiện để giúp JWK-P trở thành một người phụng sự tốt hơn, hiệu quả hơn và hoan hỉ hơn.
January 1940 – Tháng Một năm 1940
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
The pressure of the work is heavy upon you and it still remains. I have no particular instruction to give you at this time because what has been initiated will achieve its own momentum and travel towards its inevitable conclusion. I will [171] only add that the effort you are making to meet the demands of the work which I have outlined, draws forth my approval and—if persisted in—should prove of prolonged service to humanity. I would ask you to note the word "prolonged" because you are building for the future and, in the future, the true significance of accomplishment will be yours. Proceed, therefore, with patience, with skill in action and with an unmoved persistence.
Áp lực công việc đang đè nặng lên em và vẫn còn đó. Lúc này, Tôi không có huấn thị đặc biệt nào dành cho em, vì những gì đã khởi sự sẽ tự tạo đà và tiến đến kết quả tất yếu. Tôi sẽ [171] chỉ nói thêm rằng nỗ lực em đang thực hiện để đáp ứng những đòi hỏi của công việc Tôi đã phác thảo khiến Tôi tán thành, và nếu kiên trì, nỗ lực ấy hẳn sẽ chứng tỏ giá trị phụng sự lâu dài đối với nhân loại. Tôi muốn em lưu ý từ “lâu dài”, vì em đang xây dựng cho tương lai, và trong tương lai, em sẽ thấu hiểu thâm nghĩa đích thực của thành tựu. Vì vậy, hãy tiến bước với lòng kiên nhẫn, sự khéo léo trong hành động và sự bền bỉ không lay chuyển.
1. Again DK acknowledges that, generally, things are moving in the proper direction. He does not add further indication when none is necessary. This disciple is strongly committed to “The Work”, and it is this Work which DK is constantly emphasizing. What personal advice He does give is for the purpose of rendering the Work more effective.
1. Một lần nữa, Chân sư DK thừa nhận rằng nhìn chung mọi việc đang tiến triển đúng hướng. Ngài không đưa thêm chỉ dẫn khi không cần thiết. Người đệ tử này hết lòng tận tụy với “Công Việc”, và chính Công Việc này là điều Chân sư DK liên tục nhấn mạnh. Những lời khuyên cá nhân mà Ngài đưa ra đều nhằm giúp Công Việc hiệu quả hơn.
2. The word of “approval” is given. This is rare. The Master generally does not waste time in commendation, unless the word of commendation really serves to further the accomplishment of the intended task. When a word of approval or commendation comes (and it comes rarely) it is deliberate, purposeful and earned.
2. Lời “tán thành” được đưa ra. Điều này hiếm có. Nhìn chung, Chân sư không phí thời gian vào việc khen ngợi, trừ khi lời khen thực sự giúp thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm vụ đã định. Khi một lời tán thành hay khen ngợi xuất hiện (và điều ấy hiếm khi xảy ra), đó là lời có chủ ý, có mục đích và xứng đáng với những gì đã đạt được.
3. DK shares a vision of the relatively distant future, encouraging JWK-P by stating that his present service will be of “prolonged” usefulness or service to humanity. DK wants him simply to proceed, but gives three qualities which should characterize his continued work:
3. Chân sư DK chia sẻ một tầm nhìn về tương lai tương đối xa, khích lệ JWK-P bằng cách khẳng định rằng sự phụng sự hiện tại của ông sẽ có ích hay phụng sự nhân loại một cách “lâu dài”. Chân sư DK chỉ muốn ông tiếp tục tiến tới, nhưng nêu ra ba phẩm tính cần thể hiện trong công việc tiếp diễn của ông:
4. Patience
4. Kiên nhẫn
5. Skill in action
5. Khéo léo trong hành động
6. Unmoved persistence
6. Kiên trì không lay chuyển
7. These three qualities can be related to the second, third and first ray respectively.
7. Ba phẩm tính này có thể lần lượt liên hệ với cung hai, cung ba và cung một.
8. JWK-P’s direction has been correct; his motives have been correct; his methods have, for the most part, been correct. DK simply helps him refine his technique and seeks to add power and effectiveness to his already worthy work.
8. Hướng đi của JWK-P đã đúng; động cơ của ông đã đúng; phương pháp của ông phần lớn đã đúng. Chân sư DK chỉ giúp ông tinh luyện kỹ thuật và tìm cách tăng thêm quyền năng cùng hiệu quả cho công việc vốn đã đáng quý của ông.
9. Does it strike us, as mentors, that if we can understand how the Master seeks to work with His disciples, we shall learn how better to work with our students and ourselves?
9. Với tư cách những người cố vấn, chúng ta có nhận ra rằng nếu có thể thấu hiểu cách Chân sư tìm cách làm việc với các đệ tử của Ngài, chúng ta sẽ học được cách làm việc tốt hơn với các môn sinh và với chính mình không?
10. So much of DK’s work with various of the disciples seems almost remedial. They have many personality problems and are not yet effective servers in the world. JWK-P is an effective and experienced server. DK seeks to make him more effective.
10. Phần lớn công việc của Chân sư DK với các đệ tử khác nhau dường như gần với việc khắc phục những thiếu sót. Họ có nhiều vấn đề phàm ngã và chưa phải là những người phụng sự hiệu quả trên thế giới. JWK-P thực sự là một người phụng sự hiệu quả và giàu kinh nghiệm. Chân sư DK tìm cách giúp ông hiệu quả hơn nữa.
In reference to the work of fusion at which you must arrive in connection with your bodily forces and your soul energy, I would call your attention to the fact that your soul energy is focussed in your physical equipment, thus bringing together the energy of your soul and the force of your seventh ray brain. There is, consequently, a direct alignment between soul and brain and this must be deepened, understood and utilised. Your personality energy (which is of the second ray) is focussed in your fourth ray mind. This leaves your astral body as a unity—by itself, from our standpoint of consideration—and this is, in your case, as it should be. You have a powerful astral body of sufficiently poised control to proceed with the task and the solution of personal relationships, without the undue pressure of personality reactions. Some day a study will be made of the fact that practically all reactions are of an astral or emotional nature, except the reactions of the physical mechanism to the outer tangible environment. This is not yet sufficiently noted by orthodox psychology. The reactions of the personality to the soul and of the astral body to the subjective life are of vital interest to the esotericist.
Về công việc dung hợp mà em phải đạt tới giữa các mãnh lực của thân thể và năng lượng linh hồn, Tôi muốn em chú ý đến sự kiện rằng năng lượng linh hồn của em tập trung trong bộ máy hồng trần, nhờ đó kết hợp năng lượng linh hồn với mãnh lực của bộ não cung bảy. Do đó, có một sự chỉnh hợp trực tiếp giữa linh hồn và bộ não, và cần đào sâu, thấu hiểu, vận dụng sự chỉnh hợp này. Năng lượng phàm ngã của em, vốn thuộc cung hai, tập trung trong thể trí cung bốn. Điều này để thể cảm dục của em thành một đơn vị riêng biệt—tự nó, theo quan điểm xem xét của chúng tôi—và trong trường hợp của em, đó là điều đúng đắn. Em có một thể cảm dục mạnh mẽ, được kiểm soát đủ quân bình để tiếp tục nhiệm vụ và giải quyết các mối quan hệ cá nhân mà không chịu áp lực quá mức từ những phản ứng của phàm ngã. Một ngày kia, người ta sẽ nghiên cứu sự kiện rằng hầu như mọi phản ứng đều có bản chất cảm dục hay cảm xúc, ngoại trừ những phản ứng của bộ máy hồng trần đối với môi trường hữu hình bên ngoài. Tâm lý học chính thống vẫn chưa lưu ý đầy đủ đến điều này. Những phản ứng của phàm ngã đối với linh hồn và của thể cảm dục đối với đời sống chủ quan có tầm quan trọng thiết yếu đối với nhà bí truyền học.
11. DK now gives an important piece of information. He shares similar information with most of His disciples.
11. Giờ đây, Chân sư DK đưa ra một thông tin quan trọng. Ngài chia sẻ thông tin tương tự với phần lớn các đệ tử của Ngài.
12. The information has to do with the focus of the soul and personality rays through differing vehicles of the personality. This information is important in the task of energy expression and management.
12. Thông tin này liên quan đến sự tập trung của cung linh hồn và cung phàm ngã qua các hiện thể khác nhau của phàm ngã. Thông tin này quan trọng đối với nhiệm vụ biểu lộ và quản lý năng lượng.
13. JWK-P has his first ray soul focussed through His seventh ray brain. We can see what an important alignment this would be for someone treading the Path of Initiation, as is the case with JWK-P. Further, it would make him potentially extremely effective upon the physical plane—a truly effective worker with the Divine Plan.
13. Linh hồn cung một của JWK-P tập trung qua bộ não cung bảy của ông. Chúng ta có thể thấy đây là một sự chỉnh hợp quan trọng biết bao đối với người đang bước trên Con Đường Điểm Đạo, như trường hợp JWK-P. Hơn nữa, điều này có thể khiến ông vô cùng hiệu quả trên cõi hồng trần—một người hoạt động thực sự hiệu quả với Thiên Cơ.
14. The second ray personality is focussed through the fourth ray mind. This contributes to his, perhaps, unsuspected sensitivity to the desire and feeling nature of the human psyche. If perchance, the power of the first ray has been excessive or has “hurt” others, one can see that JWK-P would have the equipment to recognize this fact and harmonize the “wrongs” for which he had been responsible. We can also see that if He followed the Tibetan’s advice and attempted to find and work with many members of the NGWS with whom he was not familiar and who lived, perhaps, in a variety of countries, these two rays would help him make and sustain that contact in harmony.
14. Phàm ngã cung hai tập trung qua thể trí cung bốn. Điều này góp phần tạo nên sự nhạy cảm của ông đối với bản chất dục vọng và cảm xúc trong tâm lý con người, một sự nhạy cảm có lẽ chưa được ngờ tới. Nếu quyền năng cung một tình cờ đã quá mức hoặc đã làm người khác “tổn thương”, có thể thấy JWK-P có bộ máy cần thiết để nhận ra sự thật này và điều hòa những “sai trái” mà ông đã gây ra. Chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu ông làm theo lời khuyên của Chân sư Tây Tạng và cố gắng tìm kiếm, làm việc với nhiều thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà ông chưa quen biết, những người có lẽ sống tại nhiều quốc gia khác nhau, thì hai cung này sẽ giúp ông thiết lập và duy trì sự tiếp xúc ấy trong hòa hợp.
15. The astral body on the second ray stands by itself as a unity. In the case of JWK-P this is as it should be, but if this were the case for others, it might be less desirable.
15. Thể cảm dục thuộc cung hai đứng riêng như một đơn vị thống nhất. Trong trường hợp JWK-P, như vậy là đúng, nhưng nếu điều này xảy ra với những người khác, có thể nó sẽ kém thích hợp hơn.
16. Then something very interesting is said: ‘You have a powerful astral body of sufficiently poised control to proceed with the task and the solution of personal relationships, without the undue pressure of personality reactions.” We note
16. Tiếp đó, một điều rất thú vị được nói ra: “Em có một thể cảm dục mạnh mẽ, được kiểm soát đủ vững vàng và quân bình để tiến hành nhiệm vụ và giải quyết các mối quan hệ cá nhân mà không chịu áp lực quá mức từ những phản ứng phàm ngã.” Chúng ta lưu ý
17. The astral body is powerful (even though it is on the second ray)
17. Thể cảm dục mạnh mẽ (dù thuộc cung hai)
18. The astral body has “poised control”
18. Thể cảm dục có “sự kiểm soát quân bình”
19. Because of its poise and control it is useful in the task of solving personality relationships. Because the personality does not express itself through the astral body (even though it is on the same ray), no astral reactions induced by the personality will interfere with the solution of personal relationships.
19. Nhờ sự quân bình và khả năng kiểm soát, thể cảm dục hữu ích trong nhiệm vụ giải quyết các mối quan hệ phàm ngã. Vì phàm ngã không biểu lộ qua thể cảm dục (dù cùng thuộc một cung), nên không có phản ứng cảm dục nào do phàm ngã gây ra sẽ cản trở việc giải quyết các mối quan hệ cá nhân.
20. If we think clearly, we shall see we have a rather impersonal set up in the energy system of JWK-P. This disciple is well on his way to achievingdispassion. An astral body free of personality pressure aids dispassion and promotes impersonality.
20. Nếu suy nghĩ rõ ràng, chúng ta sẽ thấy hệ thống năng lượng của JWK-P có một cơ cấu khá phi cá nhân. Người đệ tử này đang tiến khá xa trên con đường đạt đếnsự ly dục. Một thể cảm dục thoát khỏi áp lực của phàm ngã hỗ trợ sự ly dục và thúc đẩy tính phi cá nhân.
21. It would appear that JWK-P had done quite a bit of work with his astral body in previous incarnations. It is not center of crisis, though, it would appear that it was involved in some disappointment or discouragement at various times.
21. Dường như JWK-P đã thực hiện khá nhiều công việc với thể cảm dục của ông trong các kiếp trước. Thể cảm dục không phải là trung tâm khủng hoảng, dù dường như vào những thời điểm khác nhau, nó đã liên quan đến một vài nỗi thất vọng hoặc chán nản.
The fusion must, therefore, be made between the mind and the brain, each of which expresses one of the two major energies. That fusion already partially exists. When it is consummated, the mental goal of harmony through conflict will be superseded by the inflow of love, working with power through the brain and (incidentally) your general physical health will speedily improve. How shall this be brought about, my brother? The first stage is one of real difficulty, particularly to first ray people. It comes through the power of visualisation. That is why ritual is of value to such as you and Masonry—being on the first ray and emanating, consequently, from Shamballa—aids the process of visualisation. It gives colour and performance [172] of a tangible kind to inner, subjective activity. Visualisation is a powerful agent in the evocation of the creative imagination. Let me here give you a hint. If you use this idea in the planning of the work which you seek to do for the Hierarchy and for which we are seeking to hold you responsible, and if you carry into all that work the ideal of ritual, of rhythm and of energy distribution, you will evoke a synthetic pattern, a unified procedure and a harmonious working out of the Plan.
Vì vậy, phải thực hiện sự dung hợp giữa thể trí và bộ não, mỗi bên biểu lộ một trong hai năng lượng chính. Sự dung hợp ấy đã hiện hữu phần nào. Khi sự dung hợp hoàn tất, mục tiêu hài hòa qua xung đột của thể trí sẽ nhường chỗ cho dòng tình thương tuôn vào, hoạt động đầy quyền năng qua bộ não, và đồng thời sức khỏe thể chất nói chung của em sẽ nhanh chóng cải thiện. Huynh đệ của tôi, làm thế nào để thực hiện điều này? Giai đoạn đầu thực sự khó khăn, đặc biệt đối với những người cung một. Nó diễn ra nhờ quyền năng của sự hình dung. Đó là lý do nghi lễ có giá trị đối với những người như em, và Hội Tam Điểm—vốn thuộc cung một, do đó xuất lộ từ Shamballa—trợ giúp tiến trình hình dung. Hội đem lại màu sắc và sự thể hiện [172] hữu hình cho hoạt động chủ quan bên trong. Sự hình dung là một tác nhân mạnh mẽ khơi dậy sự tưởng tượng sáng tạo. Ở đây, hãy để Tôi gợi ý cho em một điều. Nếu em dùng ý tưởng này khi lập kế hoạch cho công việc em muốn thực hiện vì Thánh đoàn, công việc mà chúng tôi đang tìm cách giao trách nhiệm cho em, và nếu em đưa vào toàn bộ công việc ấy lý tưởng về nghi lễ, nhịp điệu và sự phân phối năng lượng, em sẽ khơi dậy một mô hình tổng hợp, một phương thức thống nhất và sự thực thi hài hòa của Thiên Cơ.
22. DK calls for a fusion between mind and brain.
22. Chân sư DK kêu gọi sự dung hợp giữa thể trí và bộ não.
23. Mind and brain are each said to express one of the two major energies—the fourth ray mind expressing the second ray personality (the second ray being a major energy) and the seventh ray brain expressing the first ray soul (the first ray, also, being a major energy).
23. Thể trí và bộ não được nói là mỗi bên biểu lộ một trong hai năng lượng chủ yếu—thể trí cung bốn biểu lộ phàm ngã cung hai (cung hai là một năng lượng chủ yếu), còn bộ não cung bảy biểu lộ linh hồn cung một (cung một cũng là một năng lượng chủ yếu).
24. A fusion is already in process. DK gives the results to be achieved. Harmony through conflict (the quality of the mental body) will give way to the “inflow of love” which will work through the brain. Love will express harmoniously upon the physical plane.
24. Sự dung hợp đã đang diễn ra. Chân sư DK nêu những kết quả cần đạt được. Hài hòa qua xung đột (phẩm tính của thể trí) sẽ nhường chỗ cho “dòng bác ái tuôn vào”, hoạt động qua bộ não. Bác ái sẽ biểu lộ hài hòa trên cõi hồng trần.
25. Love, the healing energy, will improve the physical health as well—“speedily”.
25. Bác ái, năng lượng chữa lành, cũng sẽ cải thiện sức khỏe thể chất—“nhanh chóng”.
26. DK encourages the development of the power of visualization—apparently difficult for the first ray type—first ray “people” He calls them. Note that first ray souls are called first ray “people”. This is also true for those whose monads are upon a particular ray. They, too, are called “people”. This is worth noting.
26. Chân sư DK khuyến khích phát triển quyền năng hình dung—dường như là điều khó khăn đối với người cung một—Ngài gọi họ là những “người” cung một. Hãy lưu ý rằng các linh hồn cung một được gọi là những “người” cung một. Điều này cũng đúng với những ai có chân thần thuộc một cung nhất định. Họ cũng được gọi là những “người”. Điều này đáng lưu ý.
27. An important hint is given about Masonry and the power of visualization. The performance of rituals in Masonry promotes the development of visualization, especially needed by first ray types. Masonry is on the first ray. Those on all rays are encouraged to approach an understanding of Shamballa through visualization.
27. Một gợi ý quan trọng được đưa ra về Hội Tam Điểm và quyền năng hình dung. Việc thực hành các nghi lễ trong Hội Tam Điểm thúc đẩy sự phát triển khả năng hình dung, điều đặc biệt cần thiết đối với những người cung một. Hội Tam Điểm thuộc cung một. Những người thuộc mọi cung đều được khuyến khích tiến đến sự thấu hiểu Shamballa qua sự hình dung.
28. An important statement is offered: “Visualisation is a powerful agent in the evocation of the creative imagination.” We see that they are not the same. Visualization is the attempt (often using memory) to formulate visual images. The creative imagination involves a liberated flow of images which come spontaneously without the deliberate attempt to formulate them. The creative imagination can, as it were, ‘shape itself’ according to the held intent. But for the imagination to be really creative, purpose and mind must guide the shaping of images; these images are provided by the attempt to visualize. A flow of images may be produced (some of which seem to appear in useful patterns and sequences and others of which have to be patterned by the will and mind of the disciple). It is as if visualization is the key for entry into the process of creative imagination.
28. Một phát biểu quan trọng được đưa ra: “Sự hình dung là một tác nhân mạnh mẽ trong việc gợi lên sự tưởng tượng sáng tạo.” Chúng ta thấy hai điều này không giống nhau. Sự hình dung là nỗ lực (thường sử dụng trí nhớ) để tạo thành những hình ảnh thị giác. Sự tưởng tượng sáng tạo bao hàm một dòng hình ảnh tuôn chảy tự do, xuất hiện một cách tự phát mà không có nỗ lực có chủ ý nhằm tạo thành chúng. Có thể nói, sự tưởng tượng sáng tạo có thể ‘tự định hình’ theo ý định được duy trì. Nhưng để sự tưởng tượng thực sự có tính sáng tạo, mục đích và thể trí phải hướng dẫn việc định hình các hình ảnh; những hình ảnh này do nỗ lực hình dung cung cấp. Một dòng hình ảnh có thể được tạo ra (một số dường như xuất hiện theo những mô hình và trình tự hữu ích, còn những hình ảnh khác phải do ý chí và thể trí của người đệ tử sắp xếp thành mô hình). Dường như sự hình dung là chìa khóa để bước vào tiến trình tưởng tượng sáng tạo.
29. DK points to work which JWK-P is seeking to do for Hierarchy and for which Hierarchy is “seeking” to hold him responsible. He is not yet held responsible. He is shouldering the responsibility but it is not yet fully on his shoulders.
29. Chân sư DK chỉ ra công việc mà JWK-P đang tìm cách thực hiện cho Thánh đoàn và về việc đó Thánh đoàn đang “tìm cách” giao trách nhiệm cho ông. Ông chưa phải chịu trách nhiệm. Ông đang gánh vác trách nhiệm, nhưng trách nhiệm ấy vẫn chưa hoàn toàn đặt trên vai ông.
30. DK asks JWK-P, in essence, to proceed Masonically—ritualistically, rhythmically, distributively—in all the work he is planning for Hierarchy. If he does so successfully, synthesis, unity and harmony will be the result. These qualities must also, necessarily, emanate from a Masonic Lodge which performs its work properly.
30. Về thực chất, Chân sư DK yêu cầu JWK-P tiến hành theo phương thức Tam Điểm—có nghi lễ, có nhịp điệu, có sự phân phối—trong toàn bộ công việc ông đang hoạch định cho Thánh đoàn. Nếu ông thực hiện thành công, kết quả sẽ là sự tổng hợp, thống nhất và hài hòa. Những phẩm tính này tất yếu cũng phải phát xuất từ một Chi hội Tam Điểm thực hiện công việc của mình đúng cách.
Therefore, I would ask you to give ten minutes each day to the pictorial visualisation of your entire work and programme. See each phase of it as a lotus of living beauty, connected with all the other phases by lines of fiery energy, thus bringing all parts of it into one whole. All the different phases will form a great unity of light and love, expressing itself through the will-to-good. Be not side-tracked when doing this. Use the building energy of your second ray personality and the seventh ray energy of your brain, because through your brain, your first ray soul energy is expressing itself. You do not here consciously work as a soul. You work with as much soul energy as can express itself at any given time through your brain. If you worked with pure soul energy and from soul levels, you would bring in too much of the Shamballa force for the delicate structure with which you are dealing.
Vì vậy, Tôi muốn em dành mười phút mỗi ngày để hình dung bằng hình ảnh toàn bộ công việc và chương trình của mình. Hãy thấy mỗi giai đoạn của công việc như một hoa sen có vẻ đẹp sống động, nối kết với tất cả các giai đoạn khác bằng những đường năng lượng rực lửa, nhờ đó đưa mọi phần vào một toàn thể. Tất cả các giai đoạn khác nhau sẽ tạo thành một khối hợp nhất vĩ đại của ánh sáng và tình thương, biểu lộ qua Ý Chí-hướng Thiện. Đừng để mình chệch hướng khi thực hiện điều này. Hãy sử dụng năng lượng kiến tạo của phàm ngã cung hai và năng lượng cung bảy của bộ não, vì qua bộ não, năng lượng linh hồn cung một của em đang biểu lộ. Ở đây, em không có ý thức làm việc như một linh hồn. Em làm việc với lượng năng lượng linh hồn có thể biểu lộ qua bộ não vào bất kỳ thời điểm nào. Nếu em làm việc với năng lượng linh hồn thuần khiết và từ các cấp độ linh hồn, em sẽ đưa vào quá nhiều mãnh lực Shamballa đối với cấu trúc tinh tế mà em đang làm việc cùng.
31. A definite visualization is given to JWK-P. His work and programme are to be visualized pictorially, each aspect seen as a lotus of living beauty connected fierily with every other.
31. Chân sư DK trao cho JWK-P một phép hình dung cụ thể. Công việc và chương trình của ông cần được hình dung bằng hình ảnh, mỗi phương diện được thấy như một hoa sen mang vẻ đẹp sống động, kết nối bằng lửa với mọi phương diện khác.
32. In this living image both the second and first rays would express. The unity, light and love (of the second ray) would permeate the image. The entire image would be generally expressive of the will-to-good (of first ray), and this type of will would also assist in bringing the energy-patterns of the image into expression.
32. Trong hình ảnh sống động này, cả cung hai lẫn cung một đều sẽ biểu lộ. Sự thống nhất, ánh sáng và bác ái (của cung hai) sẽ thấm nhuần hình ảnh. Nhìn chung, toàn bộ hình ảnh sẽ biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện (của cung một), và loại ý chí này cũng sẽ hỗ trợ đưa các mô hình năng lượng của hình ảnh vào biểu lộ.
33. Techniques of energy work are given so that the delicate form being created will not be overwhelmed by first ray power from Shamballa and, presumably, shattered.
33. Các kỹ thuật làm việc với năng lượng được đưa ra để hình tướng tinh tế đang được tạo dựng không bị quyền năng cung một từ Shamballa áp đảo và, có lẽ, phá vỡ.
34. The instructions are interesting as it is apparent that DK expects His disciple to know how to work “as a soul” or, differently, using soul energy to work imaginatively through the brain.
34. Những huấn thị này thật thú vị, vì rõ ràng Chân sư DK kỳ vọng đệ tử của Ngài biết cách làm việc “với tư cách một linh hồn” hoặc, theo một cách khác, sử dụng năng lượng linh hồn để làm việc bằng sự tưởng tượng qua bộ não.
35. Do we know when we are working as souls? Working as personalities? Working using the different aspects of our energy equipment selectively?
35. Chúng ta có biết khi nào mình đang làm việc với tư cách các linh hồn không? Khi nào làm việc với tư cách các phàm ngã? Khi nào làm việc bằng cách sử dụng có chọn lọc những phương diện khác nhau trong hệ thống năng lượng của mình?
36. This technique, while recommended for JWK-P, is useful for all of us. All of us have various aspects to our work which can be unified, harmonized, synthesized and empowered. Such a visualization (suited to our life plan and programme) would surely help the integration of all aspects of our work.
36. Tuy được khuyến nghị cho JWK-P, kỹ thuật này hữu ích đối với tất cả chúng ta. Công việc của tất cả chúng ta đều có những phương diện khác nhau có thể được thống nhất, hài hòa, tổng hợp và tăng cường quyền năng. Một phép hình dung như thế (phù hợp với kế hoạch và chương trình đời sống của chúng ta) chắc chắn sẽ hỗ trợ sự tích hợp mọi phương diện trong công việc của chúng ta.
Precede all that you do with a definite effort to bring about the following alignments and in the following order:
Trước mọi việc em làm, hãy nỗ lực rõ rệt để thực hiện những sự chỉnh hợp sau đây, theo đúng thứ tự:
37. The alignment of all personality forces with the energy of the personality, focussed in the mind nature. This means an aligned personality with the focus of the attention in the intellect.
1. Chỉnh hợp tất cả các mãnh lực phàm ngã với năng lượng phàm ngã đang tập trung trong bản chất trí tuệ. Điều này có nghĩa là một phàm ngã được chỉnh hợp, với sự chú ý tập trung vào trí năng.
38. The alignment of the personality with the soul. This means bringing the mind—which is focussing all the lower energies—into direct relation with the soul.
2. Chỉnh hợp phàm ngã với linh hồn. Điều này có nghĩa là đưa thể trí—vốn đang tập trung mọi năng lượng thấp—vào mối quan hệ trực tiếp với linh hồn.
39. The alignment of soul and brain. This is brought about by dropping the personality and all its forces out of your consciousness altogether and relating soul and brain by an act of the will.
3. Chỉnh hợp linh hồn và bộ não. Để thực hiện điều này, hãy hoàn toàn đưa phàm ngã cùng mọi mãnh lực của nó ra khỏi tâm thức em, rồi dùng một hành động của ý chí để liên kết linh hồn với bộ não.
When you have done this, then swing back into the mind nature and, focussed there, proceed with the work of visualisation, as I have above suggested. Build your picture stage by stage. [173]
Khi em đã làm điều này, hãy quay trở lại với bản chất trí tuệ và, tập trung tại đó, tiếp tục công việc hình dung như Tôi đã gợi ý ở trên. Hãy xây dựng bức tranh của em từng bước một.
40. DK gives an alignment preparatory to the visualization work. Many important hints are given here which can be useful when pursing other meditations.
40. Chân sư DK đưa ra một phép chỉnh hợp để chuẩn bị cho công việc hình dung. Nhiều gợi ý quan trọng được đưa ra ở đây, có thể hữu ích khi thực hành những bài thiền khác.
41. First, all personality forces (i.e. vehicles) are seen as aligned with the energy of the personality. The focus is in the mind nature which means, in this case, the intellect.
41. Trước hết, mọi mãnh lực phàm ngã (tức các hiện thể) được thấy là đã chỉnh hợp với năng lượng của phàm ngã. Trọng tâm nằm trong bản chất trí tuệ, mà trong trường hợp này có nghĩa là trí năng.