Trích nội dung chương
42. Then personality is aligned with soul, which effectively means bringing the mind into direct relation with the soul. This means to think under soul impression. 42. Sau đó, phàm ngã được chỉnh hợp với linh hồn, điều thực chất có nghĩa là đưa thể trí vào mối liên hệ trực tiếp với linh hồn. Điều này hàm ý suy nghĩ dưới ấn tượng của linh hồn.
42. Then personality is aligned with soul, which effectively means bringing the mind into direct relation with the soul. This means to think under soul impression.
42. Sau đó, phàm ngã được chỉnh hợp với linh hồn, điều thực chất có nghĩa là đưa thể trí vào mối liên hệ trực tiếp với linh hồn. Điều này hàm ý suy nghĩ dưới ấn tượng của linh hồn.
43. Then comes an alignment of the first and seventh rays. The soul and brain are aligned. Note that the personality and all its forces are released from consciousness, and soul and brain are related by an act of the will.
43. Tiếp theo là sự chỉnh hợp giữa cung một và cung bảy. Linh hồn và bộ não được chỉnh hợp. Hãy lưu ý rằng phàm ngã cùng mọi mãnh lực của nó được buông khỏi tâm thức, còn linh hồn và bộ não được liên kết bằng một hành động của ý chí.
44. The sequence is interesting and creates a kind of wheel (of ascent and descent).
44. Trình tự này thật thú vị và tạo nên một dạng bánh xe (của sự đi lên và đi xuống).
45. With all vehicles in proper alignment, we see that the main work is done “in the mind nature” from which the act of visualization proceeds.
45. Khi mọi hiện thể đều được chỉnh hợp đúng đắn, chúng ta thấy công việc chính được thực hiện “trong bản chất trí tuệ”, từ đó hành động hình dung diễn ra.
46. Whereas imagination is related to the astral plane, visualization is as act involving the mental plane. A utilization of the “creative imagination” involves the utilization of both the astral and mental natures.
46. Trong khi sự tưởng tượng liên quan đến cõi cảm dục, sự hình dung là một hành động liên quan đến cõi trí. Việc sử dụng “sự tưởng tượng sáng tạo” bao hàm việc sử dụng cả bản chất cảm dục lẫn bản chất trí tuệ.
Go forward with courage, hope and joy, plus understanding, my brother. Train those who work with you with painstaking care, for much depends upon them. Remember always that you do not work alone.
Huynh đệ của tôi, hãy tiến bước với lòng can đảm, niềm hy vọng và sự hoan hỉ, cùng với sự thấu hiểu. Hãy hết sức tận tâm huấn luyện những người làm việc cùng em, vì nhiều điều tùy thuộc vào họ. Hãy luôn nhớ rằng em không làm việc một mình.
NOTE: This disciple is still actively engaged in the Tibetan's work.
GHI CHÚ: Người đệ tử này vẫn đang tích cực tham gia công việc của Chân sư Tây Tạng.
47. The disciple is cheered upon his way by the Master. The direction is always forward. The blessings of courage, hope and joy are given, and understanding is invoked.
47. Chân sư khích lệ người đệ tử trên đường đi của ông. Hướng đi luôn là tiến về phía trước. Những ân phúc của lòng can đảm, niềm hy vọng và sự hoan hỉ được ban cho, và sự thấu hiểu được khẩn cầu.
48. Careful, painstaking work is enjoined upon JWK-P for the purpose of training the disciples who work with him. The Master is asking him to make them strong and reliable.
48. JWK-P được căn dặn làm việc cẩn thận, tận tâm nhằm đào tạo những đệ tử làm việc cùng ông. Chân sư đang yêu cầu ông giúp họ trở nên vững mạnh và đáng tin cậy.
49. The last sentence is as if from the Rules of the Road. “He knows he travels not alone”. (DINA I 584)
49. Câu cuối cùng như thể trích từ Các Quy Luật của Đường Đạo. “Y biết mình không lữ hành đơn độc”. (DINA I 584)
50. Walking alone, working alone, traveling alone—all these are tendencies of the first ray soul. While the Master is grateful for the first ray potency of JWK-P which makes him such an asset in this essentially second ray work, He closes by warning Him against the isolative attitude and continues to suggest the absorption of the second ray which facilitates enhanced group relations. The position of Venus in Aquarius, found in JWK-P’s astrological chart, is a help in this process promoting group affiliation.
50. Bước đi một mình, làm việc một mình, lữ hành một mình—tất cả đều là những khuynh hướng của linh hồn cung một. Tuy Chân sư trân trọng sức mạnh cung một của JWK-P, nhờ đó ông trở thành một nguồn hỗ trợ quý giá trong công việc về cơ bản thuộc cung hai này, Ngài kết thúc bằng lời cảnh báo ông về thái độ cô lập và tiếp tục gợi ý việc hấp thu cung hai, vốn tạo điều kiện tăng cường các mối quan hệ nhóm. Vị trí Sao Kim trong Bảo Bình trên lá số chiêm tinh của JWK-P hỗ trợ tiến trình thúc đẩy sự gắn kết nhóm này.
51. JWK-P was invaluable both to the Alice Bailey and the Tibetan. AAB told of the many times that the work would have been jeopardized without his knowledge and executive abilities. He continued to oversee the work as the husband of Mary Bailey, remaining a significant power behind the scenes. From all appearances, it seems that DK considered the discipleship work of JWK-P a spiritual success
51. JWK-P vô cùng quý giá đối với cả Alice Bailey lẫn Chân sư Tây Tạng. Bà AAB kể rằng đã nhiều lần công việc có thể lâm nguy nếu thiếu kiến thức và năng lực điều hành của ông. Ông tiếp tục giám sát công việc với tư cách chồng của Mary Bailey, vẫn là một nguồn sức mạnh đáng kể ở hậu trường. Xét mọi biểu hiện, dường như Chân sư DK xem công việc trên cương vị đệ tử của JWK-P là một thành công về tinh thần
Commentary on J. W. K-P. PII
Bình giảng về J. W. K-P. Phần II
August 1940 – Tháng Tám năm 1940
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
I have not much to say to you at this time and the reason thereof you know. Let not the pressure of work at this time and world strain overcome you in any way.
Lúc này, Tôi không có nhiều điều để nói với em, và em biết lý do vì sao. Đừng để áp lực công việc lúc này và tình trạng căng thẳng của thế giới lấn át em dưới bất kỳ hình thức nào.
1. Although the letters DK wrote his students were distributed to all members within any particular “group-of-nine”, Master DK did not say all things to all people. The phrase, “You know whereof I speak”, is often used and may indicate that which it were wiser to leave unformulated, but which the person to whom the letter is directed well understands. Occult work is powerful subjectively, and there are thoughtforms which group members should not dwell upon, and thus reinforce, (with the possible effect of subjectively interfering with a brother’s process or increasing the difficulty of their brother’s life), and other thoughtforms that they should.
1. Mặc dù các bức thư Chân sư DK viết cho các môn sinh của Ngài được phân phát đến mọi thành viên trong từng “nhóm chín người”, Chân sư DK không nói mọi điều với mọi người. Cụm từ “Em biết Tôi đang nói về điều gì” thường được sử dụng và có thể chỉ điều mà tốt hơn nên để không diễn đạt thành lời, nhưng người nhận thư lại thấu hiểu rõ. Công việc huyền bí có sức mạnh trên phương diện chủ quan, và có những hình tư tưởng mà các thành viên nhóm không nên chăm chú vào rồi qua đó củng cố chúng (với tác động có thể là can thiệp trên phương diện chủ quan vào tiến trình của một huynh đệ hoặc làm tăng khó khăn trong đời sống của người huynh đệ ấy), còn những hình tư tưởng khác thì họ nên chăm chú vào.
2. Strain there will always be. The disciple must bear up under it, refusing, shall we say, to be overcome by it.
2. Sự căng thẳng sẽ luôn hiện hữu. Người đệ tử phải kiên cường chịu đựng nó, có thể nói là nhất quyết không để nó chế ngự mình.
The task of world reconstruction still lies ahead but the disciples in the world and the dedicated groups can begin to take the needed steps of preparation. The reconstruction must begin in the place where the disciple at this time finds himself, and this will involve on a small and relatively unimportant scale the same processes, the same eliminations and changes, the same discriminative idealism and the same conformity to the new emerging pattern as will be required in world reconstruction. I would ask you to ponder on this, for [589] all disciples throughout the world can begin to prepare themselves for increased future activity.
Nhiệm vụ tái thiết thế giới vẫn còn ở phía trước, nhưng các đệ tử trên thế giới và những nhóm tận hiến có thể bắt đầu thực hiện những bước chuẩn bị cần thiết. Công cuộc tái thiết phải bắt đầu ngay tại nơi người đệ tử hiện đang ở; và trên một quy mô nhỏ, tương đối không đáng kể, điều này sẽ bao hàm cùng những tiến trình, những sự loại bỏ và thay đổi, cùng một chủ nghĩa lý tưởng có sự phân biện và cùng sự thích ứng với mô hình mới đang xuất hiện như công cuộc tái thiết thế giới sẽ đòi hỏi. Tôi muốn em suy ngẫm về điều này, vì [589] mọi đệ tử trên khắp thế giới đều có thể bắt đầu chuẩn bị để gia tăng hoạt động trong tương lai.
3. The darkest days of the War still lay ahead, but already Master DK was thinking forward toward the possibility of world reconstruction.
3. Những ngày đen tối nhất của cuộc chiến vẫn còn ở phía trước, nhưng Chân sư DK đã hướng suy nghĩ đến khả năng tái thiết thế giới.
4. World reconstruction operates on the same principles as individual reconstruction. As always, disciples are to take themselves as they find themselves, and work from that point.
4. Công cuộc tái thiết thế giới vận hành theo cùng những nguyên tắc như việc tái thiết cá nhân. Như mọi khi, các đệ tử phải chấp nhận hiện trạng của mình và làm việc từ điểm đó.
5. Another principle emerges: if one is willing to do small and seemingly unimportant work well, it is an indication that one can handle large and seemingly important work. Quality is what counts and not the perceived scope of the work.
5. Một nguyên tắc khác xuất hiện: nếu một người sẵn lòng làm tốt công việc nhỏ bé và có vẻ không quan trọng, thì đó là dấu hiệu cho thấy người ấy có thể đảm đương công việc lớn lao và có vẻ quan trọng. Phẩm tính mới là điều đáng kể, chứ không phải quy mô mà người ta nhận thấy ở công việc.
6. Eliminations occur under Pluto and Saturn. Discriminative idealism occurs under Saturn in relation to Mars and Neptune. Note how the mind is combined with the astral body when the thought of “discriminative idealism” is analyzed.
6. Những sự loại bỏ diễn ra dưới ảnh hưởng của Sao Diêm Vương và Sao Thổ. Chủ nghĩa lý tưởng có tính phân biện xuất hiện dưới ảnh hưởng của Sao Thổ trong mối liên hệ với Sao Hỏa và Sao Hải Vương. Hãy lưu ý cách thể trí kết hợp với thể cảm dục khi phân tích ý tưởng về “chủ nghĩa lý tưởng có tính phân biện”.
7. The Master lays His plans far in advance. Perhaps, though it is unlikely, the possibility of really perilous developments in the War (which could lead to the defeat of the Forces of Light) had not yet been anticipated by the Hierarchy. Or perhaps They are the very best at “acting as if”—knowing the power of this occult method.
7. Chân sư hoạch định các kế hoạch của Ngài từ rất lâu trước đó. Có lẽ, dù điều này khó xảy ra, Thánh đoàn khi ấy chưa dự liệu khả năng xuất hiện những diễn biến thực sự nguy hiểm trong cuộc chiến (có thể dẫn đến sự thất bại của các Mãnh Lực Ánh Sáng). Hoặc có lẽ Các Ngài là những bậc giỏi nhất trong việc “hành động như thể”—vì biết quyền năng của phương pháp huyền bí này.
There are three outstanding aspects of the new age pattern which must be borne in mind:
Có ba phương diện nổi bật của mô hình kỷ nguyên mới cần ghi nhớ:
8. Foster Bailey was one of those much concerned with “knowledge of the Plan”. DK wants to make sure he understands the emerging pattern.
8. Foster Bailey là một trong những người rất quan tâm đến “kiến thức về Thiên Cơ”. Chân sư DK muốn bảo đảm rằng ông thấu hiểu mô hình đang xuất hiện.
9. It strikes me how very much of that which is of general value has been included in this apparently “personal” instructions
9. Tôi ấn tượng trước việc rất nhiều điều có giá trị chung đã được đưa vào những huấn thị có vẻ “cá nhân” này
1. The aspect of healing. I would express it thus, for humanity will take much patient care before the shock and the pain of the present has been transmuted into gained experience and understanding. Compassionate lovers of humanity can do this healing work.
1. Phương diện chữa lành. Tôi muốn diễn đạt như vậy, vì nhân loại sẽ cần rất nhiều sự chăm sóc kiên nhẫn trước khi những chấn động và đau đớn hiện tại chuyển hoá thành kinh nghiệm và sự thấu hiểu đã đạt được. Những người yêu thương nhân loại với lòng từ bi có thể thực hiện công việc chữa lành này.
10. Master DK is a master healer. He knew the impact of the War upon the personality vehicles of humanity.
10. Chân sư DK là một nhà chữa lành bậc thầy. Ngài biết tác động của cuộc chiến lên các hiện thể phàm ngã của nhân loại.
11. He also know that time would be needed and much “patient care” (a second ray virtue) before those most impacted by the War could abstract sufficiently from the immediate trauma to harvest the experience as understanding.
11. Ngài cũng biết rằng cần có thời gian và rất nhiều “sự chăm sóc kiên nhẫn” (một đức tính cung hai) trước khi những người chịu tác động nặng nề nhất của cuộc chiến có thể tách mình đủ xa khỏi chấn thương trước mắt để gặt hái kinh nghiệm thành sự thấu hiểu.
12. “Compassionate lovers of humanity”—a phrase easily written: a phrase worthy of deep pondering. When one loves humanity what does one love? Surely it has nothing to do with likes and dislikes, with attraction or repulsion. Somehow there is an inherent beauty in everyone that may be not at all obvious. But as the “esoteric sense” develops, this inner promise, this beauty is registered, and it is this to which the lover of humanity responds.
12. “Những người yêu thương nhân loại với lòng từ bi”—một cụm từ dễ viết ra: một cụm từ đáng để suy ngẫm sâu sắc. Khi yêu thương nhân loại, người ta yêu thương điều gì? Chắc chắn điều đó không liên quan đến thích và không thích, đến thu hút hay đẩy lùi. Bằng cách nào đó, trong mỗi người đều có một vẻ đẹp vốn có, có thể hoàn toàn không hiển lộ rõ ràng. Nhưng khi “giác quan huyền bí” phát triển, tiềm năng nội tại này, vẻ đẹp này được ghi nhận, và chính điều đó là điều mà người yêu thương nhân loại đáp ứng.
13. Also, humanity has suffered much. The compassionate one realizes this, and knows, without being told, the present sources of suffering. Compassionate realization of past, present and, even, future suffering stimulates love, and love stimulates compassion.
13. Hơn nữa, nhân loại đã chịu nhiều đau khổ. Người có lòng từ bi nhận ra điều này và biết những nguồn gây đau khổ hiện tại mà không cần ai nói cho biết. Sự nhận biết đầy từ bi về đau khổ trong quá khứ, hiện tại và thậm chí tương lai khơi dậy tình thương, và tình thương khơi dậy lòng từ bi.
2. The aspect of clarification. The bewilderment of humanity as a whole requires recognition by the forces of reconstruction. Time and effort must be given to clear explanation and to the pointing out of the law of cause and effect. Trained interpreters are required.
2. Phương diện làm sáng tỏ. Các mãnh lực tái thiết cần nhận biết tình trạng hoang mang của toàn thể nhân loại. Cần dành thời gian và nỗ lực để giải thích rõ ràng và chỉ ra định luật nhân quả. Cần có những người diễn giải đã qua huấn luyện.
14. A great many human beings living during that momentous and decisive event in humanity’s long history, may not have been really clear about the meaning and significance of the tremendous world events which involved them so inescapably. They were simply swept into the general maelstrom. The same is true today; an understanding of great issues and their causes is hardly universal in humanity.
14. Rất nhiều người sống trong biến cố trọng đại và mang tính quyết định ấy trong lịch sử lâu dài của nhân loại có thể chưa thực sự hiểu rõ ý nghĩa và thâm nghĩa của những biến cố thế giới to lớn đã cuốn họ vào một cách không thể tránh khỏi. Họ chỉ đơn giản bị cuốn vào cơn lốc chung. Ngày nay cũng vậy; sự thấu hiểu những vấn đề lớn và nguyên nhân của chúng hầu như chưa phổ biến khắp nhân loại.
15. For such events as the First and Second World Wars, there are always deep karmic causes—national, racial and individual. Many human beings are, however, so self-centered and so identified with the immediate pain of the astral body engendered by such appalling conflicts, that they do not care for reasoned explanations. If they have been hurt, they simply wish to punish those who, in their estimation, have ‘unjustly’ hurt them. Indeed, this was a prevalent attitude among certain groups after the War.
15. Đối với những biến cố như Chiến tranh Thế giới thứ Nhất và thứ Hai, luôn có những nguyên nhân nghiệp quả sâu xa—ở cấp quốc gia, nhân loại và cá nhân. Tuy nhiên, nhiều người quá tập trung vào bản thân và quá đồng hoá với nỗi đau trước mắt của thể cảm dục do những cuộc xung đột kinh hoàng ấy gây ra, đến mức họ không quan tâm đến những lời giải thích có lý lẽ. Nếu đã bị tổn thương, họ chỉ muốn trừng phạt những người mà theo đánh giá của họ đã làm họ tổn thương một cách ‘bất công’. Thật vậy, đây là một thái độ phổ biến trong một số nhóm sau cuộc chiến.
16. We can see that this aspect of the “new age pattern” relates to the efforts of the second “Seed Group”—the “Trained Observers”. Trained Observers are in a position to explain the real causes of things, and separate those causes from glamorous or illusory explanations.
16. Chúng ta có thể thấy phương diện này của “mô hình kỷ nguyên mới” liên quan đến những nỗ lực của “Nhóm hạt giống” thứ hai—“Các Nhà Quan Sát Lão Luyện”. Các Nhà Quan Sát Lão Luyện có khả năng giải thích những nguyên nhân thực sự của sự việc và phân biệt những nguyên nhân ấy với các lời giải thích nhuốm ảo cảm hoặc ảo tưởng.
17. Such a tremendous experience as the War would have to be assimilated by consciousness. Now it is some sixty years since the close of that terrible episode. Looking back upon humanity’s experience following the Second World War, we can see how many years were given to “making sense of what happened”. The arts and cinema were one of the main arenas of human endeavor where attention was given to this assimilation.
17. Một trải nghiệm to lớn như cuộc chiến sẽ phải được tâm thức đồng hóa. Đến nay, khoảng sáu mươi năm đã trôi qua kể từ khi giai đoạn khủng khiếp ấy kết thúc. Nhìn lại trải nghiệm của nhân loại sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, chúng ta có thể thấy người ta đã dành biết bao năm để “hiểu ý nghĩa của những gì đã xảy ra”. Nghệ thuật và điện ảnh là một trong những lĩnh vực hoạt động chính của con người dành sự chú ý cho việc đồng hóa này.
18. When the word “interpreter” or “interpretation” is used, it is a signal that the energy of the planet Mercury is involved, or that of the third ray (the ‘ray of the interpreter’).
18. Khi từ “người diễn giải” hoặc “sự diễn giải” được sử dụng, đó là dấu hiệu cho thấy có sự tham gia của năng lượng Sao Thủy hoặc năng lượng cung ba (‘cung của người diễn giải’).
“It was the recognition of that which induced me to give you the word ‘interpretation’ as your most important keyword, for it would evoke in you qualities along the line of the third Ray of Active Intelligence, which is closely allied to your fifth ray personality.” (DINA I 448)
“Chính việc nhận ra điều đó đã khiến Tôi trao cho em từ ‘diễn giải’ làm từ khóa quan trọng nhất của em, vì nó sẽ gợi lên trong em những phẩm tính theo đường hướng của Cung ba Trí Tuệ Hoạt Động, vốn liên hệ chặt chẽ với phàm ngã cung năm của em.” (DINA I 448)
19. A trained interpreter has the patience to take the many factors of a particular context into consideration and to detect the lines of causation.
19. Một người diễn giải được đào tạo có đủ kiên nhẫn để xem xét nhiều yếu tố của một bối cảnh cụ thể và phát hiện những tuyến nhân quả.
20. The principle is clear: experience is one thing, but an understanding of the meaning and significance of an experience takes time as well as clarity of perception and thought.
20. Nguyên lý ở đây rất rõ: trải nghiệm là một chuyện, nhưng việc thấu hiểu ý nghĩa và thâm nghĩa của một trải nghiệm đòi hỏi thời gian cũng như sự sáng rõ trong nhận thức và tư duy.
3. The aspect of reorganisation. Rebuilding is needed and this will require a dedicated, spiritual insight. The New Age will not be ushered in and find true expression of its latent energies through the medium of old and patched up forms, or through the preservation of ancient techniques and attitudes. It will come into being through entirely new forms and by means of the intelligent discarding of old modes of religion, government and economic and social idealisms. The need for sensitive intermediaries who can sense the new emerging realities and can take the needed constructive steps is great. They must create the forms which these subjective ideas must utilise. I make these few suggestions to aid you and other workers in the task of reorganisation by indicating the type of worker needed today in the world, and much needed in the task you are seeking to do for humanity and incidentally for Us.
3. Phương diện tái tổ chức. Cần phải xây dựng lại, và điều này đòi hỏi một sự thấu suốt tinh thần đầy tận hiến. Kỷ Nguyên Mới sẽ không mở ra và biểu đạt chân thực những năng lượng tiềm ẩn của nó qua những hình tướng cũ được chắp vá, hoặc qua việc bảo tồn những kỹ thuật và thái độ xưa cũ. Nó sẽ xuất hiện qua những hình tướng hoàn toàn mới và bằng cách sáng suốt loại bỏ những phương thức cũ trong tôn giáo, chính quyền cùng các chủ nghĩa lý tưởng về kinh tế và xã hội. Rất cần những người trung gian nhạy bén, có thể cảm nhận những thực tại mới đang xuất hiện và thực hiện những bước kiến tạo cần thiết. Họ phải tạo ra những hình tướng mà các ý tưởng chủ quan này phải sử dụng. Tôi đưa ra vài gợi ý này để trợ giúp em và những người hoạt động khác trong nhiệm vụ tái tổ chức, bằng cách chỉ ra mẫu người hoạt động mà thế giới ngày nay cần đến, và rất cần trong nhiệm vụ em đang tìm cách thực hiện cho nhân loại, và qua đó cũng cho Chúng Tôi.
21. If healing and clarification are related to the Seed Groups III and II, is “organization” related to Seed Group I (Telepathic Communicators)? If so, it is perhaps in this way: that the new and possible patterns related to the Divine Plan are telepathically received by those sensitive enough. The application of such patterns to existing situations will, inevitably, involve reorganization.
21. Nếu việc chữa lành và làm sáng tỏ liên quan đến các Nhóm hạt giống III và II, thì liệu “tổ chức” có liên quan đến Nhóm hạt giống I (Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm) không? Nếu có, có lẽ theo cách này: những người đủ nhạy cảm tiếp nhận bằng viễn cảm các mô hình mới có thể thực hiện, liên quan đến Thiên Cơ. Việc áp dụng những mô hình ấy vào các tình huống hiện có tất yếu sẽ bao hàm việc tái tổ chức.
22. What is a “dedicated spiritual insight”? Perhaps a determination to “see into” the real spiritual values in any issue. Dedication is a steadying of focus; when dedication is combined with “spiritual insight” it becomes a non-wavering attitude determined to wrest from any set of circumstances a perception of the spiritual issues behind and within it.
22. “Sự thấu thị tinh thần đầy tận tâm” là gì? Có lẽ đó là quyết tâm “nhìn thấu” các giá trị tinh thần đích thực trong bất kỳ vấn đề nào. Sự tận tâm giúp duy trì sự tập trung vững vàng; khi kết hợp với “sự thấu thị tinh thần”, nó trở thành một thái độ kiên định, quyết tâm nhận thức được những vấn đề tinh thần ẩn sau và bên trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
23. The Hierarchy had to war against the human habit longing for the “good old days”. Once the War was over, many reactionaries (fearing the new possibilities, and longing for a restoration of their privileges) wanted simply to reconstruct the old world according to the old patterns. The note of nostalgia they sounded had a dangerous appeal.
23. Thánh đoàn đã phải đấu tranh chống lại thói quen của con người là hoài mong “những ngày xưa tốt đẹp”. Khi Chiến Tranh kết thúc, nhiều người phản động (sợ những khả năng mới và mong khôi phục các đặc quyền của mình) chỉ muốn tái thiết thế giới cũ theo những mô hình cũ. Âm điệu hoài cổ mà họ xướng lên có sức hấp dẫn nguy hiểm.
24. But war is very Plutonic, and calls for the discarding of patterns which have outlived their usefulness.
24. Nhưng chiến tranh mang đậm tính chất Sao Diêm Vương và đòi hỏi phải loại bỏ những mô hình đã không còn hữu ích.
25. DK states that there is a need for “sensitive intermediaries”—presumably intermediaries to assist with the transition between the new and emerging patterns resonant to more Aquarian ideals, and the outdated patterns of the pre-War era.
25. Chân sư DK nói rằng cần có “những người trung gian nhạy cảm”—có lẽ là những người trung gian giúp thực hiện sự chuyển tiếp giữa các mô hình mới đang xuất hiện, cộng hưởng với những lý tưởng mang tính Bảo Bình hơn, và các mô hình lỗi thời của thời kỳ trước Chiến Tranh.
26. Forms which are capable of embodying new ideas always have to be built if the new ideas are to manifest. The work here presented is, in part, seventh ray work. It involves registering new patterns and embodying new patterns in appropriate physical forms.
26. Muốn những ý tưởng mới biểu hiện, luôn cần xây dựng các hình tướng có khả năng thể hiện chúng. Công việc trình bày ở đây phần nào là công việc cung bảy. Nó bao hàm việc ghi nhận những mô hình mới và thể hiện chúng trong các hình tướng hồng trần thích hợp.
27. DK is informing JWK-P of the kind of co-workers he will need if his work is to go forward successfully. He is also letting JWK-P know what kind of worker he, himself, should become.
27. Chân sư DK đang cho JWK-P biết ông sẽ cần những người cộng sự như thế nào để công việc tiến triển thành công. Ngài cũng cho JWK-P biết chính ông nên trở thành người hoạt động như thế nào.
28. Note that JWK-P’s work (and the work of all true disciples) is done for humanity and only, incidentally, for the Hierarchy. That order must be preserved. Those who attempt to serve the Hierarchy without serving humanity are only deluding themselves by thinking they serve. Hierarchy serves humanity, and those who wish to serve Hierarchy must serve those whom Hierarchy serves. Without this attitude in place, so-called service to Hierarchy is wrongly motivated and based more on self-glorification than on true service.
28. Hãy lưu ý rằng công việc của JWK-P (và công việc của mọi đệ tử chân chính) được thực hiện vì nhân loại và chỉ qua đó mới là vì Thánh đoàn. Phải giữ đúng thứ tự ấy. Những ai cố phụng sự Thánh đoàn mà không phụng sự nhân loại chỉ đang tự lừa dối khi cho rằng mình phụng sự. Thánh đoàn phụng sự nhân loại, và những ai muốn phụng sự Thánh đoàn phải phụng sự những người mà Thánh đoàn phụng sự. Nếu thiếu thái độ này, cái gọi là phụng sự Thánh đoàn sẽ xuất phát từ động cơ sai lầm và dựa trên việc tự tôn vinh nhiều hơn là phụng sự chân chính.
Sound business methods must distinguish the physical plane aspects of the revitalised organisations for which you are responsible; a potent note of love and understanding must express the desire and sensitive subjective aspects of the active working group. Intelligent adaptability should be the mental note. These things I think you already know and I reiterate them not merely to emphasise them in your consciousness but also to weld the efforts of your group brothers [590] in the same united determination which will render them active cooperators in the plans laid down by Us for the helping of the world.
Những phương pháp kinh doanh vững chắc phải là nét đặc trưng của các phương diện trên cõi hồng trần nơi những tổ chức được tiếp sinh lực trở lại mà em chịu trách nhiệm; một âm điệu mạnh mẽ của tình thương và sự thấu hiểu phải biểu đạt các phương diện dục vọng và chủ quan nhạy cảm của nhóm đang tích cực hoạt động. Khả năng thích ứng thông minh phải là âm điệu trí tuệ. Tôi nghĩ em đã biết những điều này; Tôi nhắc lại không chỉ để nhấn mạnh chúng trong tâm thức em, mà còn để gắn kết những nỗ lực của các huynh đệ trong nhóm em [590] trong cùng một quyết tâm hợp nhất, nhờ đó họ trở thành những người cộng tác tích cực trong các kế hoạch Chúng Tôi đã đề ra nhằm trợ giúp thế giới.
29. JWK-P, as a first ray disciple (with Moon in Taurus), had many material responsibilities. Unless the modern disciple utilizes sound business methods in a civilization increasingly characterized by the seventh ray, there will be no success.
29. Là một đệ tử cung một (có Mặt Trăng ở Kim Ngưu), JWK-P gánh vác nhiều trách nhiệm vật chất. Nếu người đệ tử hiện đại không sử dụng những phương pháp kinh doanh vững chắc trong một nền văn minh ngày càng mang đặc trưng của cung bảy, thì sẽ không thể thành công.
30. DK is calling for a union of subjective and objective aspects. Always in the case of JWK-P the Tibetan strove to evoke the “potent note of love and understanding”—something which this disciple might not otherwise focus upon to any great extent.
30. Chân sư DK đang kêu gọi sự hợp nhất giữa các phương diện chủ quan và khách quan. Với JWK-P, Chân sư Tây Tạng luôn cố gắng khơi dậy “âm điệu mạnh mẽ của tình thương và sự thấu hiểu”—điều mà nếu không có sự khơi dậy ấy, người đệ tử này có lẽ sẽ không tập trung nhiều vào.
31. We can see how DK is using this particular instruction. Not only to reemphasize to JWK-P something he already knows, but to alert his group brothers to the same requirements.
31. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đang sử dụng huấn thị cụ thể này như thế nào. Không chỉ để nhấn mạnh lại với JWK-P một điều ông đã biết, mà còn để lưu ý các huynh đệ trong nhóm ông về những yêu cầu tương tự.
32. The welding process occurs under Vulcan. It is a strengthening of group bonds, group commitment and group will. The Tibetan often uses the occasion of His letters to speak to all disciples while apparently speaking to one.
32. Tiến trình gắn kết diễn ra dưới ảnh hưởng của Vulcan. Đó là sự củng cố các mối liên kết nhóm, sự cam kết với nhóm và ý chí nhóm. Chân sư Tây Tạng thường nhân dịp viết thư để nói với tất cả các đệ tử, dù bề ngoài dường như chỉ đang nói với một người.
33. “United determination” is, ideally, a characteristic of the members of the NGWS. Again it is Taurean and Vulcanian. DK is seeking to strengthen the united will of these serving groups.
33. “Quyết tâm thống nhất”, xét theo lý tưởng, là một đặc điểm của các thành viên Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Một lần nữa, điều này mang tính chất Kim Ngưu và Vulcan. Chân sư DK đang tìm cách củng cố ý chí thống nhất của những nhóm phụng sự này.
It is always difficult for the disciple who is working in the world of human affairs to strike the happy medium between sound physical plane techniques in expression and the measure of the vision which he sees; it is never easy to adapt and to relate the old to the new, thus producing that which the present requires. The task of the disciple, as you can see from the three words—old, new and present—is therefore primarily concerned with Time. This right comprehension of the time element requires the eye of vision, plus right interpretation of that which it sees.
Đối với người đệ tử đang hoạt động trong thế giới công việc nhân loại, việc tìm được thế quân bình thích hợp giữa những kỹ thuật vững chắc thể hiện trên cõi hồng trần và tầm mức của tầm nhìn mà y thấy luôn là điều khó khăn; việc thích ứng và liên hệ cái cũ với cái mới, qua đó tạo ra điều hiện tại đòi hỏi, không bao giờ dễ dàng. Vì vậy, như em có thể thấy từ ba từ—cũ, mới và hiện tại—nhiệm vụ của người đệ tử chủ yếu liên quan đến Thời Gian. Việc thấu hiểu đúng yếu tố thời gian này đòi hỏi con mắt có tầm nhìn, cùng với sự diễn giải đúng những gì nó thấy.
34. DK is speaking now in terms of the task of the New Group of World Servers. There is much fourth ray in that serving group. They work under Taurus (related to the ajna center and vision) and the fourth ray.
34. Giờ đây, Chân sư DK đang nói về nhiệm vụ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhóm phụng sự ấy mang nhiều tính chất cung bốn. Họ làm việc dưới ảnh hưởng của Kim Ngưu (liên quan đến trung tâm ajna và linh thị) cùng cung bốn.
“This ray is not in incarnation at the time and therefore few fourth ray egos are available in world service. There are, however, many fourth ray personalities and they can learn much by the study of the work of the New Group of World Servers. The major task of the fourth ray aspirant is to harmonise the new ideas with the old, so that there can be no dangerous gap or break. They are those who bring [143] about a ‘righteous compromise’, and adapt the new and the old so that the true pattern is preserved. They are engaged with the bridging process, for they are the true intuitives and have a capacity for the art of synthesis so that their work most definitely can help in bringing forward a true presentation of the divine picture.” (EP II 142-143)
“Vào lúc này, cung này không lâm phàm, nên có ít chân ngã cung bốn tham gia phụng sự thế gian. Tuy nhiên, có nhiều phàm ngã cung bốn, và họ có thể học được nhiều điều khi nghiên cứu công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhiệm vụ chính của người chí nguyện cung bốn là hài hòa những ý tưởng mới với những ý tưởng cũ, để không xảy ra khoảng cách hay sự đứt đoạn nguy hiểm. Họ là những người tạo ra [143] một ‘sự thỏa hiệp chính đáng’, và điều chỉnh cái mới cùng cái cũ sao cho mô hình chân thực được giữ gìn. Họ tham gia vào tiến trình bắc cầu, vì họ là những người có trực giác chân chính và có năng lực về nghệ thuật tổng hợp, nên công việc của họ chắc chắn có thể giúp đưa ra một sự trình bày chân thực về bức tranh thiêng liêng.” (EP II 142-143)
35. JWK-P had a fourth ray mind which could assist him in carrying out DK’s suggestions in this regard.
35. JWK-P có thể trí cung bốn, có thể hỗ trợ ông thực hiện những gợi ý của Chân sư DK về phương diện này.
36. A hint is offered with regard to “Time”. What shall be done, when and in what order? What can the “eye of vision” offer in this regard? What will be the benefit of the “right interpretation of that which it sees”?
36. Một gợi ý về “Thời Gian” được đưa ra. Cần làm gì, khi nào và theo thứ tự nào? “Con mắt linh thị” có thể giúp gì về phương diện này? “Việc diễn giải đúng những gì nó thấy” sẽ mang lại lợi ích gì?
37. The vision sees many things. Not all of them can be materialized immediately. If too much is attempted, there will be failure and a destruction of the implementing and implemented forms. If too little is attempted, opportunity will be lost.
37. Linh thị thấy được nhiều điều. Không phải tất cả đều có thể hiện hình ngay lập tức. Nếu cố làm quá nhiều, sẽ dẫn đến thất bại và phá hủy những hình tướng dùng để thực hiện cũng như những hình tướng đã được tạo ra. Nếu cố làm quá ít, cơ hội sẽ mất đi.
38. Perhaps the eye of vision can assess the capacities and abilities of the workers in terms of Time, and judge what is appropriate to attempt with them.
38. Có lẽ con mắt linh thị có thể đánh giá năng lực và khả năng của những người hoạt động xét theo Thời Gian, và phán đoán xem nên cùng họ thử thực hiện điều gì cho thích hợp.
39. One must see into the future, ensure that what one sees is accurate, and properly assess the means of going from “here to there”. All of this requires much wisdom in action. JWK-P was a disciple for whom this type of practical wisdom was a necessity, so responsible was his work.
39. Người ta phải nhìn vào tương lai, bảo đảm những gì mình thấy là chính xác, và đánh giá đúng các phương tiện để đi từ “đây đến đó”. Tất cả những điều này đòi hỏi nhiều minh triết trong hành động. JWK-P là một đệ tử cần đến loại minh triết thực tiễn này, vì công việc của ông mang trách nhiệm rất lớn.
For this purpose I would give you a meditation based on sight and its suitability for your particular need will, I think, be immediately apparent. I make it very brief, for long meditations (reduced to form) are not adapted to your nature.
Vì mục đích này, Tôi muốn trao cho em một bài thiền dựa trên thị giác; Tôi nghĩ em sẽ lập tức thấy rõ bài thiền này phù hợp với nhu cầu riêng của em như thế nào. Tôi làm cho bài thiền thật ngắn gọn, vì những bài thiền dài, khi được quy thành một hình thức cố định, không phù hợp với bản chất của em.
40. Every teacher has to know the nature of his student. One cannot grind all in the “iron mill of routine”. We can see how insight and adaptability are so important for a teacher of the Ageless Wisdom.
40. Mọi huấn sư đều phải biết bản chất của môn sinh mình. Không thể nghiền tất cả trong “cối xay sắt của lề thói”. Chúng ta có thể thấy sự thấu thị và khả năng thích ứng quan trọng đến thế nào đối với một huấn sư Minh Triết Ngàn Đời.
41. As a general principle, we could say that those upon the first ray do not appreciate overly-sustained meditations. They get to the point rapidly and are not in need of the longer process which they are liable to think a waste of time.
41. Như một nguyên lý chung, chúng ta có thể nói rằng những người thuộc cung một không thích những bài thiền kéo dài quá lâu. Họ nhanh chóng đi vào trọng tâm và không cần đến tiến trình dài hơn mà họ dễ cho là lãng phí thời gian.
42. We also note that when a Teacher wishes to see a certain quality built into the life of one of His chelas, He gives him/her a meditation aimed at the cultivation of that quality.
42. Chúng ta cũng lưu ý rằng khi một Huấn sư muốn thấy một phẩm tính nào đó được xây dựng trong đời sống của một đệ tử của Ngài, Ngài trao cho người ấy một bài thiền nhằm vun bồi phẩm tính đó.
43. The following meditation was one of those deemed to be of general usefulness and was this retained in the DINA books.
43. Bài thiền sau đây là một trong những bài được xem là hữu ích nói chung, nên đã được giữ lại trong các sách DINA.
1. Sound the OM three times, withdrawing your consciousness as you do so to the ajna centre between the eyebrows. Hold it steadily there.
1. Xướng linh từ OM ba lần, đồng thời thu tâm thức của em về trung tâm ajna giữa hai lông mày. Giữ tâm thức ổn định tại đó.
44. The ajna center is the center of vision.
44. Trung tâm ajna là trung tâm của linh thị.
45. If one withdraws consciousness to a particular center, one merely focusses upon that center and thinks of nothing else.
45. Khi rút tâm thức về một trung tâm cụ thể, người ta chỉ tập trung vào trung tâm ấy và không nghĩ đến điều gì khác.
46. Another way of proceeding is to attempt to see through that center.
46. Một cách khác là cố nhìn xuyên qua trung tâm ấy.
2. Then look forth imaginatively in three directions:
2. Sau đó, dùng sự tưởng tượng nhìn theo ba hướng:
a. Upward to the world of the soul, to the kingdom of God and to the Hierarchy. Seek as you do this to link up definitely with your own Master, of Whom I am, with His permission, at this time the chosen representative.
a. Hướng lên thế giới linh hồn, Thiên Giới và Thánh đoàn. Khi làm như vậy, hãy tìm cách thiết lập một mối liên kết rõ ràng với Chân sư của chính em; với sự cho phép của Ngài, lúc này Tôi là người đại diện được chọn của Ngài.
47. JWK-P was a chela of the Master Morya. Master Morya may have chosen Master DK to represent Him in the tuition of JWK-P. Also JWK-P may have made a choice to study with Master DK for a term.
47. JWK-P là đệ tử của Chân sư Morya. Chân sư Morya có thể đã chọn Chân sư DK đại diện cho Ngài trong việc dạy dỗ JWK-P. JWK-P cũng có thể đã chọn học với Chân sư DK trong một thời gian.
48. The word “upward” simply means towards a higher vibratory domain. Thinking visually in an “upward” direction may facilitate contact for some.
48. Từ “hướng lên” đơn giản có nghĩa là hướng đến một miền rung động cao hơn. Đối với một số người, suy nghĩ bằng hình ảnh theo hướng “lên trên” có thể tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc.
49. It seems that DK is asking JWK-P to link with Master M.
49. Dường như Chân sư DK đang yêu cầu JWK-P liên kết với Chân sư M.
50. In Hierarchy nothing is done in a cavalier manner. The will of each member of Hierarchy is respected. Nothing is done presumptuously. There are many times when Master DK asks permission—of another Master, of His own Master (Master KH) of the Christ or of Sanat Kumara before He performs some act or releases some piece of information. When doing a search of the AAB CD-ROM on “permission|permitted|permit”, there are 459 hits!
50. Trong Thánh đoàn, không điều gì được làm một cách tùy tiện. Ý chí của mỗi thành viên Thánh đoàn đều được tôn trọng. Không ai hành động tự tiện. Nhiều lần, Chân sư DK xin phép—một Chân sư khác, Chân sư của chính Ngài (Chân sư KH), Đức Christ hoặc Sanat Kumara—trước khi Ngài thực hiện một hành động hay tiết lộ một thông tin nào đó. Khi tìm kiếm trên đĩa CD-ROM của AAB theo các từ “sự cho phép|được cho phép|cho phép”, có 459 kết quả!
b. Inward to the world of men, seeking to contact the subjective world of human thought and aspiration—the world of ideals and of human aspirational vision.
b. Hướng vào trong thế giới con người, tìm cách tiếp xúc với thế giới chủ quan của tư tưởng và khát vọng nhân loại—thế giới của những lý tưởng và tầm nhìn khát vọng của nhân loại.
51. To move “inward” rather than “upward”, some sensitization may be required, but not necessarily a heightening of vibration.
51. Để chuyển “vào trong” thay vì “lên trên”, có thể cần tăng độ nhạy cảm, nhưng không nhất thiết phải nâng cao rung động.
52. It may be sufficient to tune out the physical plane.
52. Có thể chỉ cần ngừng chú ý đến cõi hồng trần là đủ.
c. Outward over the world of events, over the exoteric objective world of tangible happenings.
c. Hướng ra ngoài bao quát thế giới các sự kiện, thế giới khách quan ngoại môn của những diễn biến hữu hình.
3. Still holding the consciousness in the ajna centre express to yourself in definitely formulated thought, the duty of the day in the light of this triple interrelation.
3. Vẫn giữ tâm thức tại trung tâm ajna, hãy diễn đạt cho chính mình bằng tư tưởng được định hình rõ ràng về bổn phận trong ngày, dưới ánh sáng của mối tương quan tam phân này.
53. In the types of meditation proposed by Master DK “definitely formulated thought” plays a big part.
53. Trong những loại hình tham thiền do Chân sư DK đề xuất, “tư tưởng được định hình rõ ràng” đóng vai trò lớn.
54. Much meditation pursued today is vague and ‘drifty’. But DK respects the power of mental formulation, and knows that this concretizing power must be used in the service of the Plan.
54. Nhiều hình thức tham thiền được thực hành ngày nay mang tính mơ hồ và ‘trôi dạt’. Nhưng Chân sư DK coi trọng quyền năng định hình của trí tuệ, và biết rằng quyền năng cụ thể hóa này phải được dùng để phụng sự Thiên Cơ.
55. “The duty of the day” is not the desire of the day, or the hope of the day. It has to do with that which is required by the Plan.
55. “Bổn phận trong ngày” không phải là dục vọng trong ngày, hay hy vọng trong ngày. Nó liên quan đến điều mà Thiên Cơ đòi hỏi.
56. The purpose of this meditation is to see with the Eye of the Soul how spiritual objectives many be carried out through the substance of humanity and manifested in the external world.
56. Mục đích của bài thiền này là thấy bằng Con Mắt của Linh Hồn cách thực hiện các mục tiêu tinh thần thông qua chất liệu nhân loại và biểu hiện chúng trong thế giới bên ngoài.
4. Then focussing the light that is in you, send out the dedicated energy of your personality into the sphere of your chosen work through the medium of your left [591] eye and the potent energy of your soul through the right eye. This will prove potent in effect.
4. Sau đó, tập trung ánh sáng trong em, gửi năng lượng tận hiến của phàm ngã em vào phạm vi công việc em đã chọn qua mắt trái của em và năng lượng mạnh mẽ của linh hồn em qua mắt phải. [591] Điều này sẽ tạo ra hiệu quả mạnh mẽ.
57. This is very occult directive. We are told to “keep our eye upon” our work. But which eye?
57. Đây là một chỉ dẫn rất huyền bí. Chúng ta được dạy phải “để mắt đến” công việc của mình. Nhưng là mắt nào?
58. It appears to be the enhancement of the sphere of “chosen work” which is the goal in the use of each eye. Probably if we experiment using our eyes as directive instruments, we will sense a different ‘feel’ in the beam originating from each eye.
58. Dường như việc tăng cường phạm vi “công việc đã chọn” là mục tiêu khi sử dụng mỗi mắt. Có lẽ nếu thử dùng mắt làm công cụ định hướng, chúng ta sẽ cảm nhận một ‘cảm giác’ khác nhau trong luồng phát ra từ mỗi mắt.
59. Of we think of the stream coming from the personality as “dedicated”, we can think of the stream coming from the soul as “inspiring”.
59. Nếu nghĩ về dòng năng lượng đến từ phàm ngã là “tận hiến”, chúng ta có thể nghĩ về dòng đến từ linh hồn là “truyền cảm hứng”.
60. In this case the soul energy is “potent” because the soul is focussed upon the first ray.
60. Trong trường hợp này, năng lượng linh hồn “mạnh mẽ” vì linh hồn tập trung trên cung một.
5. Then—as a soul—draw from the realm of soul life a fresh supply of soul energy and concentrate it in the head and heart, holding it steadily there for use during the day's work.
5. Sau đó—với tư cách một linh hồn—hãy rút từ lĩnh vực sự sống linh hồn một nguồn năng lượng linh hồn mới và tập trung nó trong đầu và tim, giữ nó ổn định tại đó để sử dụng trong công việc của ngày.
61. DK has talked previously to JWK-P about the source of supply that can be tapped through meditation.
61. Trước đây, Chân sư DK đã nói với JWK-P về nguồn cung ứng có thể khai thác qua tham thiền.
62. First ray types, when healing, do similarly. They draw upon the great reservoir of prana and throw it into their patients, expelling the diseased condition thereby.
62. Khi chữa lành, những người cung một cũng làm tương tự. Họ rút từ kho prana lớn lao và phóng vào bệnh nhân, qua đó đẩy lùi tình trạng bệnh tật.
63. “It is said that in attempting the cure of disease the best method for the first ray man would be to draw health and strength from the great fount of universal life by his will power, and then pour it through the patient” (EP I 202).
63. “Người ta nói rằng khi cố gắng chữa bệnh, phương pháp tốt nhất đối với người cung một là dùng quyền năng ý chí rút sức khỏe và sức mạnh từ nguồn mạch vĩ đại của sự sống vũ trụ, rồi tuôn đổ qua bệnh nhân” (EP I 202).
64. This aspect of the meditation is obviously a ‘recharging’.
64. Phương diện này của bài thiền rõ ràng là một sự ‘nạp lại năng lượng’.
6. Sound the OM three times inaudibly.
6. Xướng linh từ OM ba lần trong im lặng.
65. The inaudible sounding can be as potent and, usually, more potent than its audible counterpart.
65. Việc xướng không thành tiếng có thể mạnh mẽ ngang bằng và thường mạnh mẽ hơn việc xướng thành tiếng tương ứng.
66. There is a trinity given in this meditation: the world of the soul, the subjective world and the external world. There is an OM for each.
66. Bài thiền này đưa ra một bộ ba: thế giới linh hồn, thế giới chủ quan và thế giới bên ngoài. Mỗi thế giới có một linh từ OM.
This should only take a few minutes but it must be done dynamically and with full control over thought and activity.
Việc này chỉ nên mất vài phút, nhưng phải thực hiện một cách đầy năng lực và hoàn toàn làm chủ tư tưởng cùng hoạt động.
My blessing rests upon you.
Phúc lành của Tôi luôn ở cùng em.
67. DK recognizes the need of JWK-P for “dynamic” approaches.
67. Chân sư DK nhận ra JWK-P cần những cách tiếp cận “năng động”.
68. This is a willful meditation. There is no passivity in it; the point is alignment and coordination of the levels more than openness to impression.
68. Đây là một bài thiền vận dụng ý chí. Không có sự thụ động trong đó; trọng tâm là sự chỉnh hợp và phối hợp các cấp độ hơn là sự cởi mở đón nhận ấn tượng.
August 1942 – Tháng Tám năm 1942
1. The Master was concentrating His forces at this time. He gave potent, brief injunctions to all His chelas. They were at this time operating through the new, reorganized Seed Group of 24. The groups-of-nine had been disbanded.
1. Lúc này, Chân sư đang tập trung các mãnh lực của Ngài. Ngài ban những huấn lệnh ngắn gọn, mạnh mẽ cho tất cả các đệ tử của Ngài. Khi ấy, họ đang hoạt động thông qua Nhóm hạt giống mới gồm 24 người, đã được tái tổ chức. Các nhóm chín người đã giải tán.
2. Within four short months or less, the Forces of Light would be in their most compromised position in the entire progress of the War. The Masters were preparing to withdraw thinking that humanity would go down to defeat.
2. Chỉ trong vòng bốn tháng ngắn ngủi hoặc ít hơn, các Mãnh Lực Ánh Sáng sẽ rơi vào tình thế bất lợi nhất trong toàn bộ diễn tiến của Chiến Tranh. Các Chân sư đang chuẩn bị rút lui, vì cho rằng nhân loại sẽ đi đến thất bại.
3. Still, Master DK took the time to write, strengthen and empower. The instructions given in August 1942 were the only instructions given in the form of brief statements. DK must have had His reasons. The times were perilous.
3. Dẫu vậy, Chân sư DK vẫn dành thời gian viết thư, củng cố và tiếp thêm sức mạnh. Những huấn thị tháng Tám năm 1942 là những huấn thị duy nhất được đưa ra dưới dạng các phát biểu ngắn gọn. Hẳn Chân sư DK có những lý do của Ngài. Đó là thời kỳ hiểm nghèo.
4. It is impossible to interpret these statements as the one for whom they were intended would interpret them. They were specially crafted for the chela in question. All we can do is gather certain hints from them.
4. Không thể diễn giải những phát biểu này như chính người nhận chúng sẽ diễn giải. Chúng được soạn riêng cho người đệ tử ấy. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là thu nhặt một vài gợi ý từ đó.
1. Hold in your hand the thread of all my outer work and hold it there for me.
1. Hãy nắm trong tay sợi dây xuyên suốt toàn bộ công việc bên ngoài của Tôi và giữ nó tại đó cho Tôi.
5. This is a tremendous responsibility The Master, in His own right, does this for an extensive range of outer work. Now His chela is being asked to do the same.
5. Đây là một trách nhiệm to lớn. Với cương vị của mình, Chân sư thực hiện điều này đối với một phạm vi công việc bên ngoài rộng lớn. Giờ đây, Ngài yêu cầu đệ tử của mình làm điều tương tự.
6. It seems that DK is invoking the loyalty and sense of duty of this most responsible chela. When one is doing something for the Master, one does it with the utmost conscientiousness—the more so if the Master has made a specific request.
6. Dường như Chân sư DK đang khơi dậy lòng trung thành và ý thức bổn phận của người đệ tử hết sức có trách nhiệm này. Khi làm điều gì cho Chân sư, người ta làm với sự tận tâm cao nhất—càng như vậy nếu Chân sư đã đưa ra một yêu cầu cụ thể.
2. The symbols of the hands and feet hold a secret that you need.
2. Các biểu tượng của đôi tay và đôi chân chứa đựng một bí mật mà em cần.
7. This reminds one of the mantram or formula found in Agni Yoga: “By human hands and feet” (Agni Yoga Paragraph 373)
7. Điều này gợi nhớ đến mantram hay công thức trong Agni Yoga: “Bằng bàn tay và bàn chân con người” (Agni Yoga, Đoạn 373)
8. The New Age is not built by the Masters but by Their disciples (howevermuch under the guidance of the Great Ones).
8. Các đệ tử của các Chân sư xây dựng Kỷ Nguyên Mới, dù dưới sự hướng dẫn của Các Đấng Cao Cả đến đâu, chứ không phải chính Các Ngài.
9. JWK-P was working within the third or material sphere. The hands and feet correlate with the third aspect in the body. They have to do with activity.
9. JWK-P đang làm việc trong lĩnh vực thứ ba, tức lĩnh vực vật chất. Bàn tay và bàn chân tương ứng với phương diện thứ ba trong thân thể. Chúng liên quan đến hoạt động.
3. Your Master says this word to you and through my lips: You know the point achieved. Move on.
3. Chân sư của em nói với em lời này qua môi Tôi: Em biết mình đã đạt đến điểm nào. Hãy tiến bước.
10. This may or may not refer to an initiation taken. It is not really our business and we cannot know. JWK-P would know, and that is the important point.
10. Điều này có thể ám chỉ hoặc không ám chỉ một lần điểm đạo đã trải qua. Đó thực sự không phải là việc của chúng ta, và chúng ta không thể biết. JWK-P hẳn biết, và đó mới là điểm quan trọng.
11. It is the way of a first ray Master to say, directively, “Move on!”
11. Một Chân sư cung một thường nói với giọng chỉ thị: “Hãy tiến lên!”
12. Why is it important for a chela to know the point achieved? Perhaps so that he can work with greater certainty and authority. Perhaps so that he can drop a former focus, and concentrate his energy upon a new focus.
12. Vì sao việc biết mình đã đạt đến đâu lại quan trọng đối với một đệ tử? Có lẽ để người ấy có thể làm việc với sự chắc chắn và thẩm quyền lớn hơn. Có lẽ để người ấy có thể từ bỏ một trọng tâm trước đây và tập trung năng lượng vào một trọng tâm mới.
13. Although disciples often seem to know where they stand, a word from the Master acts as confirmation, clarifying the consciousness and rendering it more decisive.
13. Mặc dù các đệ tử thường có vẻ biết mình đang đứng ở đâu, một lời từ Chân sư có tác dụng xác nhận, làm sáng tỏ tâm thức và khiến tâm thức trở nên quyết đoán hơn.
14. DK gave the word of confirmation to some of the disciples. He let them know what they have achieved. They had been, perhaps, vaguely aware of a possibility; with the help of His words, however, they realized that what they had suspected was, indeed, a fact.
14. Chân sư DK đã ban lời xác nhận cho một số đệ tử. Ngài cho họ biết những gì họ đã đạt được. Có lẽ trước đó họ chỉ nhận biết mơ hồ về một khả năng; tuy nhiên, nhờ những lời của Ngài, họ nhận ra rằng điều họ từng phỏng đoán quả thực là một sự thật.
4. Three groups there are which you must aid and fuse them into one. And this upon the inner side.
4. Có ba nhóm em phải trợ giúp và dung hợp thành một. Và điều này diễn ra ở phía bên trong.
15. We cannot know the three groups to which DK refers.
15. Chúng ta không thể biết ba nhóm mà Chân sư DK đề cập đến.
16. Three groups, however, worked in relation to the Lucis Trust: namely, the Arcane School, World Goodwill and Triangles. One could imagine the Tibetan referring to these three, which were to function in the closest cooperation.
16. Tuy nhiên, có ba nhóm hoạt động trong mối liên hệ với Lucis Trust: đó là Trường Arcane, Thiện Chí Thế Giới và Tam Giác. Có thể hình dung rằng Chân sư Tây Tạng đang nói đến ba nhóm này, vốn phải hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ nhất.
17. If it were these three, no outer organizational methods would be required. Rather, an inner realization of their relationships and a subjective strengthening of those relationships would be required.
17. Nếu đó là ba nhóm này, thì không cần đến những phương pháp tổ chức bên ngoài. Thay vào đó, cần nhận biết từ bên trong về các mối quan hệ giữa họ và củng cố những mối quan hệ ấy về mặt chủ quan.
5. Joy comes through pain and not alone through strength achieved or in the service wrought. It takes all three. These three you have.
5. Sự hoan hỉ đến qua đau khổ, chứ không chỉ qua sức mạnh đã đạt được hay qua công việc phụng sự đã thực hiện. Cần cả ba điều ấy. Em có cả ba.
18. Here we have a profound statement of great psychological value to JWK-P.
18. Ở đây, chúng ta có một phát biểu sâu sắc, mang giá trị tâm lý lớn đối với JWK-P.
19. It is obvious, in the case of this first ray disciple, that there is “strength achieved” and, certainly, “service wrought”.
19. Hiển nhiên, nơi người đệ tử cung một này có “sức mạnh đã đạt được” và chắc chắn có “công việc phụng sự đã hoàn thành”.
20. The sources of pain would be more obscure (to us) though, no doubt, JWK-P knew exactly those aspects in his psyche or body, or those circumstances which were sources of pain.
20. Những nguồn gây đau khổ có lẽ khó thấy hơn đối với chúng ta, dù chắc chắn JWK-P biết chính xác những phương diện nào trong tâm lý hay thân thể của ông, hoặc những hoàn cảnh nào, là nguồn gây đau khổ.
21. DK seems to be asking him to value pain. Usually disciples do not value it, thinking of it as unnecessary, dispensable, perhaps as evidence that something is amiss.
21. Dường như Chân sư DK đang yêu cầu ông trân trọng đau khổ. Các đệ tử thường không trân trọng đau khổ, cho rằng nó không cần thiết, có thể loại bỏ, có lẽ còn xem nó là bằng chứng cho thấy có điều gì đó không ổn.
22. While we can see how joy comes of “strength achieved” and of “service wrought”, how does it come through “pain”? This is a deeper question.
22. Trong khi chúng ta có thể thấy sự hoan hỉ đến từ “sức mạnh đã đạt được” và “công việc phụng sự đã hoàn thành” như thế nào, thì nó đến qua “đau khổ” bằng cách nào? Đây là một câu hỏi sâu xa hơn.
23. Joy is surely not achieved only because of personality happiness. It must sound through the personality no matter what may be the condition of that personality (harmonious or inharmonious, happy or pained).
23. Chắc chắn sự hoan hỉ không chỉ đạt được nhờ hạnh phúc của phàm ngã. Nó phải vang lên xuyên qua phàm ngã, bất kể phàm ngã ấy ở trong tình trạng nào — hài hòa hay bất hòa, hạnh phúc hay đau khổ.
24. Pain is a great sensitizer and, through this sensitizing, may open the door to the reception of joy. The transition from happiness to joy requires much experience.
24. Đau khổ làm tăng mạnh sự nhạy cảm, và qua việc gia tăng sự nhạy cảm này, nó có thể mở cánh cửa để đón nhận sự hoan hỉ. Sự chuyển tiếp từ hạnh phúc sang hoan hỉ đòi hỏi nhiều trải nghiệm.
25. The suggestion of the necessity of pain in order to experience joy requires pondering. It would seem contradictory; therefore, one must stay with it until it becomes a realization.
25. Ý kiến cho rằng đau khổ là điều cần thiết để trải nghiệm sự hoan hỉ đòi hỏi chúng ta suy ngẫm. Điều ấy có vẻ mâu thuẫn; vì vậy, cần tiếp tục suy ngẫm cho đến khi nhận ra được ý nghĩa của nó.
26. Perhaps joy would not be joy unless it persisted in the face of pain.
26. Có lẽ sự hoan hỉ sẽ không còn là hoan hỉ nếu nó không bền vững trước đau khổ.
6. The gift of play must come to you, my brother. Play upon the earth and play in the hidden place and sport yourself within the playground of the Gods.
6. Huynh đệ của tôi, khả năng vui chơi phải đến với em. Hãy vui chơi trên Trái Đất, vui chơi nơi chốn ẩn kín và thỏa sức nô đùa trong sân chơi của các Thượng đế.
27. This injunction comes to a super-serious disciple. DK has been “after him” since the first to, as it were, “lighten up” (a phrase with more than one meaning).
27. Huấn thị này được gửi đến một đệ tử hết sức nghiêm nghị. Ngay từ đầu, Chân sư DK đã luôn “thúc giục ông”, có thể nói như vậy, hãy “nhẹ nhàng hơn” — một cách nói có nhiều hơn một ý nghĩa.
28. An earlier stage upon the “playground” is described in the following way:
28. Một giai đoạn trước đó trên “sân chơi” được mô tả như sau:
“Stage II.
“Giai đoạn II.
The picture changes form. Another voice, coming from close at hand utters another phrase. The life continues on its way. ‘Enter the field where children play and join their game.’ Awakened to the game of life, the soul passes the gate.
Bức tranh thay đổi hình tướng. Một giọng nói khác, vang lên từ gần bên, thốt ra một lời khác. Sự sống tiếp tục con đường của mình. ‘Hãy bước vào cánh đồng nơi trẻ thơ vui chơi và tham gia trò chơi của chúng.’ Thức tỉnh trước trò chơi của sự sống, linh hồn bước qua cổng.
The field is green and on its broad expanse the many forms of the one moving Life disport themselves; they weave the dance of life, the many patterned forms God takes. The soul enters ‘the playground of the Lord’ and plays thereon until he sees the star with five bright points, and says: ‘My Star’.” (DINA I 674-674)
Cánh đồng xanh tươi, và trên khoảng đất rộng lớn ấy, muôn hình tướng của Sự Sống duy nhất đang vận động thỏa sức vui đùa; chúng dệt nên vũ điệu của sự sống, muôn hình tướng đa dạng mà Thượng đế khoác lấy. Linh hồn bước vào ‘sân chơi của Chúa’ và vui chơi nơi đó cho đến khi thấy ngôi sao có năm đỉnh sáng chói, rồi nói: ‘Ngôi Sao của tôi’.” (DINA I 674-674)
29. A later stage offers this advice:
29. Một giai đoạn sau đưa ra lời khuyên này:
“Stage V.
“Giai đoạn V.
Out into radiant life and light! The cave is left behind; the cross is overturned; the way stands clear. The word sounds clear within the head and not within the heart. ‘Enter again the playground of the Lord and this time lead the games’.” (DINA I 676)
Hãy bước ra với sự sống và ánh sáng rực rỡ! Hang động đã ở lại phía sau; thập giá đã lật đổ; con đường hiện rõ. Linh từ vang rõ trong đầu chứ không phải trong tim. ‘Hãy trở lại sân chơi của Chúa và lần này hãy dẫn dắt các trò chơi’.” (DINA I 676)
30. What is the value of “play”? Perhaps to offer the opportunity for fresh energy access? Also, play may induce “joy” which is one of the chief keynotes for JWK-P.
30. Giá trị của “vui chơi” là gì? Có lẽ là tạo cơ hội tiếp nhận năng lượng mới mẻ? Ngoài ra, vui chơi có thể khơi dậy “sự hoan hỉ”, một trong những chủ âm chính của JWK-P.
31. What is the “hidden place”? What is the “playground of the Gods”? Play, as enjoined here, is as much an attitude as an act. The “gods” have a certain orientation towards the entire universe. They understand the “Divine Lila” (the “play of the gods”). Maybe DK is asking JWK-P to find that ‘place’ within himself where some glimmer of that understanding can arise.
31. “Nơi chốn ẩn mật” là gì? “Sân chơi của các Thượng đế” là gì? Theo lời khuyên ở đây, vui chơi vừa là một thái độ vừa là một hành động. Các “Thượng đế” có một định hướng nhất định đối với toàn thể vũ trụ. Các Ngài thấu hiểu “Cuộc Vui Chơi Thiêng Liêng” — “trò chơi của các Thượng đế”. Có lẽ Chân sư DK đang yêu cầu JWK-P tìm ra ‘nơi chốn’ bên trong chính ông, nơi một tia sáng của sự thấu hiểu ấy có thể nảy sinh.
September 1943 – Tháng Chín năm 1943
MY BROTHER, FRIEND AND CO-WORKER:
HUYNH ĐỆ, NGƯỜI BẠN VÀ NGƯỜI CỘNG SỰ CỦA TÔI:
Have you lately read the statement which I gave you in my previous instruction? It carries for you your instructions for the future and gives you—as you now read it—far more of teaching value than it did a year ago. These instructions still hold good. You have had a most difficult year, my brother, and those of us who are working with all of you on the inner side are not unmindful of it.... [592]
Gần đây em có đọc lại lời Tôi đã trao cho em trong huấn thị trước không? Lời ấy chứa đựng những chỉ dẫn cho tương lai của em và—khi em đọc lại lúc này—mang đến cho em giá trị giáo huấn lớn hơn nhiều so với một năm trước. Những chỉ dẫn này vẫn còn nguyên giá trị. Huynh đệ của tôi, em đã trải qua một năm hết sức khó khăn, và những người trong chúng tôi đang làm việc cùng tất cả các em ở phía bên trong đều biết rõ điều đó....
1. We note that the instructions given by the Teacher are not meant only for a short time; they may be of value for years to come.
1. Chúng ta lưu ý rằng những chỉ dẫn của huấn sư không chỉ dành cho một thời gian ngắn; chúng có thể còn giá trị trong nhiều năm về sau.
2. At the time when DK closed His last experiment with this group of chelas, He gave a number of them instructions which were meant to last for the remainder of their present incarnation.
2. Khi Chân sư DK kết thúc cuộc thử nghiệm gần nhất của Ngài với nhóm đệ tử này, Ngài đã ban cho một số người những chỉ dẫn nhằm có hiệu lực trong suốt phần còn lại của kiếp lâm phàm hiện tại.
3. The Master has prevision and writes with the entirety of a chela’s incarnation in mind. Perhaps He writes even for future incarnations or in preparation for future incarnations.
3. Chân sư có khả năng thấy trước và khi viết, Ngài lưu tâm đến toàn bộ kiếp lâm phàm của một đệ tử. Có lẽ Ngài còn viết cho cả những kiếp lâm phàm tương lai hoặc để chuẩn bị cho những kiếp ấy.
4. Occasionally for encouragement, the Master will let a chela know that their difficulties are not unnoticed. It is a form of strengthening.
4. Đôi khi, để khích lệ, Chân sư sẽ cho một đệ tử biết rằng những khó khăn của người ấy vẫn được quan tâm. Đó là một cách tiếp thêm sức mạnh.
The work, planned and outlined by me during past years, has been largely at a standstill. But what did you expect, my brother? There is one point which you have perhaps failed to grasp, but which is to me a source of continual joy and satisfaction. The work of the Goodwill movement has been so eminently and essentially successful that today it demonstrates in the form of a myriad plans for post-war helpfulness, in the form of thousands of groups and of millions of well-intentioned people, forward-looking and kind, of all races and nationalities, who are preparing to do their share in salvaging humanity and in re-establishing (on sounder and better lines) the needed security and happiness. I refer not here to the work done by all of you since I published my first pamphlet, The New Group of World Servers, in 1932. That was only a part of the larger effort. I refer to the outpouring of the Christ consciousness and the spirit of love upon the world. This was initiated in 1825, and brought about the major welfare movements, led to the organisation of the groups which wrought for human betterment, aided in the founding of the labour movements which were founded on right motive, inspired educational processes, philanthropic enterprises and the great medical expansions, and which today is seeping into world government and beginning to condition all the plans for world peace and international relations. Success is assured, though movements may progress slowly....
Công việc do Tôi hoạch định và phác thảo trong những năm qua phần lớn đã đình trệ. Nhưng huynh đệ của tôi, em đã mong đợi điều gì? Có một điểm mà có lẽ em chưa nắm bắt được, nhưng đối với Tôi lại là nguồn hoan hỉ và mãn nguyện liên tục. Công việc của phong trào Thiện Chí đã thành công nổi bật và sâu xa đến mức ngày nay nó biểu hiện qua vô số kế hoạch trợ giúp sau chiến tranh, qua hàng nghìn nhóm và hàng triệu người có thiện ý, biết hướng về tương lai và nhân hậu, thuộc mọi chủng tộc và quốc tịch, đang chuẩn bị góp phần cứu vãn nhân loại và tái lập sự an toàn cùng hạnh phúc cần thiết trên những nền tảng vững chắc và tốt đẹp hơn. Ở đây Tôi không nói đến công việc mà tất cả các em đã thực hiện kể từ khi Tôi xuất bản tập sách nhỏ đầu tiên của mình, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, vào năm 1932. Đó chỉ là một phần của nỗ lực lớn hơn. Tôi nói đến sự tuôn đổ tâm thức Christ và tinh thần bác ái xuống thế giới. Điều này khởi đầu vào năm 1825, đem lại những phong trào phúc lợi lớn, dẫn đến việc tổ chức các nhóm hoạt động nhằm cải thiện đời sống nhân loại, hỗ trợ việc thành lập các phong trào lao động dựa trên động cơ đúng đắn, truyền cảm hứng cho những tiến trình giáo dục, các hoạt động từ thiện và sự mở rộng lớn lao của ngành y; ngày nay, sự tuôn đổ ấy đang thấm vào việc quản trị thế giới và bắt đầu định hình mọi kế hoạch về hòa bình thế giới cùng quan hệ quốc tế. Thành công là điều chắc chắn, dù các phong trào có thể tiến triển chậm....
5. The pressures of the War were manifesting. There were reports that AAB and FB thought, at certain times, that they would have to close down the entire operation for lack of funds and materials.
5. Những áp lực của Chiến tranh đang biểu lộ. Có những lời kể rằng vào một số thời điểm, Bà AAB và FB cho rằng họ sẽ phải ngừng toàn bộ hoạt động vì thiếu kinh phí và vật tư.
6. DK is sharing words of encouragement to a discouraged brother.
6. Chân sư DK đang gửi những lời khích lệ đến một huynh đệ nản lòng.
7. It is noteworthy that a Master also can feel “joy and satisfaction”. We may lose touch with the essential humanity of the Masters.
7. Điều đáng lưu ý là một Chân sư cũng có thể cảm thấy “hoan hỉ và mãn nguyện”. Chúng ta có thể mất đi sự cảm nhận về nhân tính cốt yếu của các Chân sư.
8. DK elevates His chela’s vision to a contemplation of the larger picture, to the pouring out of Christ Consciousness upon the world and all that that outpouring has meant in terms of the stimulation of the energy of goodwill in the hearts and minds of men.
8. Chân sư DK nâng tầm nhìn của đệ tử Ngài lên để chiêm ngưỡng bức tranh lớn hơn, hướng đến sự tuôn đổ Tâm Thức Christ xuống thế giới và tất cả ý nghĩa của sự tuôn đổ ấy đối với việc kích thích năng lượng thiện chí trong trái tim và thể trí con người.
9. The year 1825 was an amazing year. The first Shamballa Impact in modern times occurred in that year, but something additional relating to the second ray as well as the first. The five hundred year second ray cycle began in 1575, which meant that 1825 was the half-way point of the outgoing cycle of the second ray. (c.f., the works of Stephen D. Pugh)
9. Năm 1825 là một năm phi thường. Tác Động Shamballa đầu tiên trong thời hiện đại xảy ra vào năm đó, nhưng còn có một điều khác liên quan đến cung hai cũng như cung một. Chu kỳ cung hai kéo dài năm trăm năm bắt đầu vào năm 1575, nghĩa là năm 1825 là điểm giữa của chu kỳ phát lộ của cung hai. (đối chiếu các tác phẩm của Stephen D. Pugh)
10. 1825, therefore, was a point of great expressive strength in relation to the second ray. The Christ utilized this opportunity to stimulate the origination of many movements animated by the “spirit of love”.
10. Vì vậy, năm 1825 là một thời điểm có sức mạnh biểu lộ lớn đối với cung hai. Đức Christ đã tận dụng cơ hội này để kích thích sự ra đời của nhiều phong trào được “tinh thần yêu thương” thấm nhuần.
11. One can imagine the tremendous potency of that year, given both the Shamballa Impact and the peak of the outgoing second ray cycle. We are told that the Masters did much in the nineteenth century to offset certain developing dangers in the condition of humanity. Many artists were ‘sent in’ before their time to attempt to uplift human consciousness. As a whole, however, these efforts failed, and materialism took hold of humanity in dangerous ways, leading progressively to the first and second World Wars.
11. Có thể hình dung sức mạnh vô cùng lớn của năm ấy, khi cả Tác Động Shamballa lẫn đỉnh điểm của chu kỳ phát lộ cung hai cùng xuất hiện. Chúng ta được cho biết rằng trong thế kỷ mười chín, các Chân sư đã làm rất nhiều để hóa giải một số mối nguy đang phát triển trong tình trạng của nhân loại. Nhiều nghệ sĩ đã được ‘gửi đến’ sớm hơn thời điểm của họ để cố gắng nâng cao tâm thức nhân loại. Tuy nhiên, nhìn chung những nỗ lực ấy đã thất bại, và chủ nghĩa duy vật chi phối nhân loại theo những cách nguy hiểm, dần dẫn đến Chiến tranh Thế giới thứ nhất và thứ hai.
12. We can see how the second ray works and the fields in which it focusses: welfare, labour, education, medical progress, philanthropy, etc.
12. Chúng ta có thể thấy cách cung hai hoạt động và những lĩnh vực mà nó tập trung vào: phúc lợi, lao động, giáo dục, tiến bộ y học, hoạt động từ thiện, v.v.
13. When a disciple’s consciousness becomes darkened by doubt, depression or despair, reference to the larger picture is therapeutic.
13. Khi tâm thức một đệ tử bị sự nghi ngờ, chán nản hay tuyệt vọng làm u ám, việc hướng đến bức tranh lớn hơn có tác dụng chữa lành.
It is the massed endeavour which will release humanity in the coming cycle. You have worked better than you know or care; you are and can increasingly be a channel, for the simplicity of the first ray type of person is a terrific potency. Use it, my brother, free from isolation. It is ever easier for a first ray worker to proceed alone upon the way of his decision, but I would suggest that you work in closer cooperation with your fellow disciples. It is essential now that the projected work receive an intensification of vitality, that it should expand through the potency of its innate life, and that there should be a strengthening of the integral parts already built. It is of immediate importance that each cooperating server should be fired with a new and fresh enthusiasm, [593] and should get the picture of the world-wide scope of the desired plan.
Chính nỗ lực hợp lại của đông đảo con người sẽ giải phóng nhân loại trong chu kỳ sắp tới. Em đã làm việc tốt hơn em biết hay để tâm đến; em đang là và ngày càng có thể trở thành một kênh dẫn, vì sự giản dị của mẫu người cung một có một sức mạnh phi thường. Huynh đệ của tôi, hãy sử dụng sức mạnh ấy mà không tự cô lập. Đối với một người hoạt động cung một, việc một mình tiến bước trên con đường mình đã quyết định bao giờ cũng dễ dàng hơn, nhưng Tôi muốn đề nghị em hợp tác chặt chẽ hơn với các đệ tử đồng môn. Giờ đây, điều thiết yếu là công việc dự kiến phải được tăng cường sinh lực, phải mở rộng nhờ sức mạnh của sự sống vốn có trong nó, và các bộ phận cấu thành đã xây dựng phải được củng cố. Điều có tầm quan trọng trước mắt là mỗi người phụng sự đang cộng tác đều phải bừng lên một nhiệt tình mới mẻ, [593] và nắm được bức tranh về phạm vi toàn thế giới của kế hoạch mong muốn.
14. DK rarely offers compliments—except on purpose. He knows, in this case, that it will not go to this chela’s head.
14. Chân sư DK hiếm khi khen ngợi — trừ khi có chủ đích. Trong trường hợp này, Ngài biết lời khen sẽ không khiến người đệ tử này tự cao.
15. DK tells JWK-P that he can be a “channel”—obviously not the kind of channel which today generates so many useless and often spurious books, but rather a channel (one could think) for will and purpose.
15. Chân sư DK nói với JWK-P rằng ông có thể là một “kênh truyền dẫn” — hiển nhiên không phải loại kênh truyền dẫn ngày nay tạo ra quá nhiều sách vô ích và thường giả mạo, mà có thể hiểu là một kênh truyền dẫn ý chí và mục đích.
16. We are given to know that simplicity “is a terrific potency”. When force is not divided by complexity and conflict, it has a greater impact.
16. Chúng ta được cho biết rằng sự giản dị “là một sức mạnh phi thường”. Khi mãnh lực không bị sự phức tạp và xung đột phân tán, nó có tác động lớn hơn.
17. DK is a second ray Master and ever His task is to help this first ray disciple moderate certain first ray attitudes and tendencies. He wishes JWK-P to affiliate more with his co-workers rather than maintain the isolation which first ray types find so natural and agreeable. It is never easy to blend those who are upon the first and second rays, as sad events not long after AAB’s passing confirmed.
17. Chân sư DK là một Chân sư cung hai, và nhiệm vụ của Ngài luôn là giúp người đệ tử cung một này điều hòa một số thái độ và khuynh hướng cung một. Ngài muốn JWK-P gắn bó hơn với các cộng sự thay vì duy trì sự cô lập mà những người thuộc cung một thấy thật tự nhiên và dễ chịu. Việc hòa hợp những người thuộc cung một và cung hai chưa bao giờ dễ dàng, như những sự kiện đáng buồn không lâu sau khi Bà AAB qua đời đã xác nhận.
18. DK is trying to inspire JWK-P so that he, in turn, may be a source of inspiration to the workers who are responsible to him. The Master seeks to strengthen His chela so that he can strengthen others.
18. Chân sư DK đang cố gắng khơi nguồn cảm hứng cho JWK-P để đến lượt mình, ông có thể trở thành nguồn cảm hứng cho những người hoạt động dưới sự phụ trách của ông. Chân sư tìm cách tiếp thêm sức mạnh cho đệ tử Ngài để ông có thể tiếp thêm sức mạnh cho người khác.
I suggest that the emphasis during the coming year be laid upon the objective aspect. The subjective quality has been presented, and this has been right because the subjective aspect of any form of expression must be living and expanding if the objective form is to take its place in world phenomena with power and usefulness. The potentialities of organised services for the spiritual strengthening of the world of men, the technique of their growth and the processes of their development—individual, group, and eventually a veritable network of interrelated groups—should now be elaborated. The more subjective work, emphasising the spiritual growth of humanity along the lines of the new approach to divinity has, as you can see, a definite relation to the new world religion and can eventually be focussed around the various full moons.
Tôi đề nghị trong năm tới hãy chú trọng phương diện khách quan. Phẩm tính chủ quan đã được trình bày, và điều này là đúng đắn, vì phương diện chủ quan của bất kỳ hình thức biểu đạt nào cũng phải sống động và mở rộng thì hình tướng khách quan mới có thể hiện diện trong thế giới hiện tượng với sức mạnh và tính hữu ích. Giờ đây, cần triển khai chi tiết những tiềm năng của các hoạt động phụng sự có tổ chức nhằm củng cố tinh thần cho thế giới con người, kỹ thuật tăng trưởng và các tiến trình phát triển của chúng—ở cấp độ cá nhân, nhóm, rồi cuối cùng là một mạng lưới thực sự gồm những nhóm liên hệ với nhau. Như em có thể thấy, công việc mang tính chủ quan hơn, nhấn mạnh sự tăng trưởng tinh thần của nhân loại theo đường hướng của cách tiếp cận mới với thiên tính, có một mối liên hệ rõ rệt với tôn giáo thế giới mới và cuối cùng có thể tập trung quanh các kỳ trăng tròn khác nhau.
19. DK presents a direction for emphasis during the coming period. The “objective aspect” is to be emphasized.
19. Chân sư DK đưa ra một định hướng cần chú trọng trong thời kỳ sắp tới. Cần nhấn mạnh “phương diện khách quan”.
20. The teaching is given that the objective aspect can only succeed if the subjective work has preceded it.
20. Giáo huấn chỉ rõ rằng phương diện khách quan chỉ có thể thành công nếu công việc chủ quan đã được thực hiện trước đó.
21. DK is asking for work related to outward organization. The subjective work is to be focussed in relation to the new world religion and the various full moon festivals.
21. Chân sư DK đang yêu cầu thực hiện công việc liên quan đến tổ chức bên ngoài. Công việc chủ quan cần tập trung vào mối liên hệ với tôn giáo thế giới mới và các lễ hội trăng tròn khác nhau.
22. We can see DK enjoining upon JWK-P that which now might be called “networking”. There was a need to make the inner network more outwardly visible.
22. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đang yêu cầu JWK-P thực hiện điều mà ngày nay có thể gọi là “xây dựng mạng lưới”. Cần làm cho mạng lưới bên trong hiện rõ hơn ở bên ngoài.
23. We have to remember that JWK-P had a first ray soul and second ray personality. As well, there is strong probability of the second ray monad, so it was, indeed, essential that he learn how to constructively blend these two energies.
23. Chúng ta phải nhớ rằng JWK-P có linh hồn cung một và phàm ngã cung hai. Ngoài ra, rất có thể chân thần của ông thuộc cung hai, nên quả thực điều thiết yếu là ông phải học cách kết hợp hai năng lượng này một cách xây dựng.
In the coming year let "joy be your strength." This is only possible when power, will and strength are blended with love, wisdom and skill in action and speech. My strength is yours, and the overshadowing care of your own Master rests ever on you.
Trong năm tới, hãy để “sự hoan hỉ là sức mạnh của em.” Điều này chỉ có thể xảy ra khi quyền năng, ý chí và sức mạnh hòa quyện với tình thương, minh triết và sự khéo léo trong hành động cùng lời nói. Sức mạnh của Tôi là của em, và sự chăm nom phủ bóng của Chân sư em luôn ở cùng em.
24. The very theme which the Tibetan first presented to JWK-P is here reiterated. This first ray disciple has strength, no doubt, but true joy would only increase that strength.
24. Chính chủ đề mà Chân sư Tây Tạng trình bày với JWK-P ngay từ đầu nay được nhắc lại. Người đệ tử cung một này chắc chắn có sức mạnh, nhưng sự hoan hỉ chân thực sẽ chỉ làm tăng thêm sức mạnh ấy.
25. How brilliantly the Master blends the first and second rays as He offers JWK-P a vision of the union of the two aspects!
25. Chân sư hòa quyện cung một và cung hai tài tình biết bao khi Ngài trao cho JWK-P một tầm nhìn về sự hợp nhất của hai phương diện!
26. How remarkable is His final sentence, for from His own nature He offers JWK-P strength—a first ray virtue, and when He mentions JWK-P’s own Master, He describes that Master as offering “overshadowing care” (much more a second ray virtue). This reversing, mixing and blending of first ray and second ray qualities simply must be deliberate, and is intended, so it would seem, to prevent JWK-P for centering himself only in the first ray.
26. Câu cuối của Ngài thật đáng chú ý biết bao, vì từ chính bản chất mình, Ngài trao cho JWK-P sức mạnh — một đức tính cung một, và khi nhắc đến chính Chân sư của JWK-P, Ngài mô tả Chân sư ấy đang ban “sự chăm nom phủ bóng” — một đức tính mang tính cung hai nhiều hơn. Việc đảo chiều, pha trộn và hòa quyện các phẩm tính cung một và cung hai này hẳn phải có chủ đích, và dường như nhằm ngăn JWK-P chỉ tập trung vào cung một.
August 1946 – Tháng Tám năm 1946