← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

MY BROTHER:

Trích nội dung chương

(And I mean this in its fullest sense.) I start this instruction for you with two statements: First of all, in the discussion of the work which I undertook in 1919 and upon which I reported to the Hierarchy—the twenty years of work and the six years of that work during the war—your name necessarily came up as did that of your fellow disciples. The discussion was between the Master Morya (your Master), the Master K.H., and Master R. in whose hands lies the rehabilitation of Europe, and myself. The comment made by your Master was, "I am genuinely satisfied with him. A life of selflessness has fitted him for world-wide humanitarian work for…


MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

(And I mean this in its fullest sense.) I start this instruction for you with two statements: First of all, in the discussion of the work which I undertook in 1919 and upon which I reported to the Hierarchy—the twenty years of work and the six years of that work during the war—your name necessarily came up as did that of your fellow disciples. The discussion was between the Master Morya (your Master), the Master K.H., and Master R. in whose hands lies the rehabilitation of Europe, and myself. The comment made by your Master was, "I am genuinely satisfied with him. A life of selflessness has fitted him for world-wide humanitarian work for the remainder of this life and the next."

(Và Tôi dùng lời này theo ý nghĩa trọn vẹn nhất.) Tôi mở đầu huấn thị này dành cho em bằng hai lời nhận định: Trước hết, trong cuộc thảo luận về công việc Tôi đã đảm nhận năm 1919 và đã báo cáo với Thánh đoàn—hai mươi năm công việc và sáu năm công việc ấy trong thời chiến—tên em tất nhiên đã được nhắc đến, cũng như tên các đệ tử đồng môn của em. Cuộc thảo luận diễn ra giữa Chân sư Morya (Chân sư của em), Chân sư KH, Chân sư R., Đấng đang nắm công cuộc phục hồi châu Âu, và Tôi. Chân sư của em nhận xét: “Tôi thực sự hài lòng về bạn ấy. Một cuộc đời vị tha đã giúp bạn ấy có đủ khả năng thực hiện công việc nhân đạo trên toàn thế giới trong phần còn lại của kiếp sống này và kiếp sống kế tiếp.” [594]

1. An occult hint is being given. What would it mean to be to DK’s “Brother” and “in [the] fullest sense”? Is a degree of achievement here suggested?

1. Một gợi ý huyền bí đang được đưa ra. Trở thành “huynh đệ” của Chân sư DK “theo ý nghĩa trọn vẹn nhất” có nghĩa là gì? Phải chăng ở đây có sự gợi ý về một mức độ thành tựu?

2. We find DK often reviewing His own work with certain of the “Chiefs”—Masters M., KH, and R. The progress of the various disciples was apparently reviewed by the Masters, as was DK’s work by His own superiors. Twenty-six years had passed. In Hierarchy, all effort is reviewed for evaluation.

2. Chúng ta thấy Chân sư DK thường xem xét lại công việc của chính Ngài cùng một số “Vị Lãnh Đạo” — các Chân sư M., KH và R. Dường như các Chân sư đã xem xét sự tiến bộ của các đệ tử, cũng như các Đấng bề trên của Chân sư DK đã xem xét công việc của Ngài. Hai mươi sáu năm đã trôi qua. Trong Thánh đoàn, mọi nỗ lực đều được xem xét để đánh giá.

3. Again, DK gives a word of commendation to JWK-P. This is really rather rare, and it happens in relation to JWK-P rather frequently. There must be a purpose.

3. Một lần nữa, Chân sư DK dành lời khen ngợi cho JWK-P. Điều này thực sự khá hiếm, nhưng lại xảy ra khá thường xuyên đối với JWK-P. Hẳn phải có một mục đích.

4. From the statements made by Master M. anent JWK-P (and passed on by Master DK), JWK-P learns that His Master approves of his labors. He also learns something of his life to come. It will be along the lines of humanitarian work. His work will be “world-wide”, and this, presumably, means that he will be a “world disciple”. But even then, at the time of the ‘review’, he was said to be fitted for “world wide humanitarian work for the remainder of this life…” [Italics MDR]This goes far toward informing us that JWK-P was already a “world disciple” at the time this instruction was written. A true “world-disciple” is an initiate of the third degree.

4. Từ những phát biểu của Chân sư M. về JWK-P do Chân sư DK truyền lại, JWK-P biết rằng Chân sư của ông tán thành những nỗ lực của ông. Ông cũng biết đôi điều về kiếp sống sắp tới của mình. Kiếp ấy sẽ hướng theo công việc nhân đạo. Công việc của ông sẽ có phạm vi “toàn thế giới”, và có lẽ điều này có nghĩa là ông sẽ là một “đệ tử thế giới”. Nhưng ngay lúc ấy, vào thời điểm ‘xem xét’, ông đã được nhận định là đủ khả năng đảm đương “công việc nhân đạo trên toàn thế giới trong phần còn lại của kiếp này…” [MDR in nghiêng]Điều này cho chúng ta cơ sở vững chắc để hiểu rằng JWK-P đã là một “đệ tử thế giới” vào lúc huấn thị này được viết. Một “đệ tử thế giới” đích thực là một điểm đạo đồ bậc ba.

5. There are, therefore, a number of hints that suggest that JWK-P had taken the third degree or was very near to taking it. It can be presumed that AAB (just studying the nature of her life) had taken that degree. If JWK-P was to serve in his Master’s Ashram in a capacity parallel to the role filled by AAB in KH’s Ashram, then it can be assumed that their points in evolution were at least comparable.

5. Vì vậy, có một số gợi ý cho thấy JWK-P đã đạt cấp điểm đạo thứ ba hoặc đã rất gần cấp ấy. Có thể suy đoán rằng AAB (chỉ cần khảo sát bản chất cuộc đời Bà) đã đạt cấp điểm đạo đó. Nếu JWK-P sẽ phụng sự trong Ashram của Chân sư mình với một chức trách tương đương vai trò mà AAB đảm nhiệm trong Ashram của Chân sư KH, thì có thể cho rằng các điểm tiến hoá của họ ít nhất cũng tương đương nhau.

6. It is probably a good idea for us to study the nature of selflessness as it is expressed by those upon the first ray. Students of an essentially second ray teaching are liable to interpret everything in second ray terms. This can be the cause of serious cases of non-recognition with respect to the achievements of fellow disciples on other rays.

6. Có lẽ chúng ta nên nghiên cứu bản chất của tính vô ngã như nó biểu hiện nơi những người thuộc cung một. Các đạo sinh theo một giáo huấn về cơ bản thuộc cung hai dễ có khuynh hướng diễn giải mọi điều theo cung hai. Điều này có thể gây ra những trường hợp nghiêm trọng về việc không nhận biết thành tựu của các đệ tử đồng môn thuộc những cung khác.

The second statement I wish to make is that—given life [594] and health—you face a period of service unprecedented in your experience. I have watched your development during fifteen years since you passed into my Ashram to get the training which will enable you later to take a position in the Ashram of your own Master—a position similar to that of A.A.B. in the Ashram of K.H. You have learnt rapidly and moved fast, and it is only right and just that you should know it. You have certain difficulties to overcome in the use of first ray energy, and any mistakes you may have made in harsh judgements and in its physical expression in speech are simply incidental to the learning of the right use of soul energy. This is your immediate problem.

Lời nhận định thứ hai Tôi muốn đưa ra là—nếu còn sống và đủ sức khỏe—em sẽ bước vào một thời kỳ phụng sự chưa từng có trong kinh nghiệm của mình. Tôi đã theo dõi sự phát triển của em suốt mười lăm năm kể từ khi em bước vào ashram của Tôi để nhận sự huấn luyện sẽ giúp em về sau đảm nhận một vị trí trong ashram của Chân sư em—một vị trí tương tự như của A.A.B. trong ashram của Chân sư KH. Em đã học hỏi nhanh chóng và tiến bộ mau lẹ; việc em biết điều này là hoàn toàn đúng đắn và công bằng. Em có một số khó khăn cần vượt qua trong việc sử dụng năng lượng cung một; bất kỳ sai lầm nào em có thể đã phạm phải trong những phán xét khắc nghiệt và trong sự biểu đạt năng lượng ấy trên cõi hồng trần qua lời nói chỉ là những điều phụ phát sinh khi học cách sử dụng đúng năng lượng linh hồn. Đây là vấn đề trước mắt của em.

7. DK is assessing the present standing of his ‘temporary’ disciple, JWK-P. The Master promises a period of service unprecedented in JWK-P’s experience. No doubt the death of AAB was foreseen and the tremendous responsibility to be assumed by JWK-P was hinted.

7. Chân sư DK đang đánh giá trình độ hiện tại của người đệ tử ‘tạm thời’ của Ngài, JWK-P. Chân sư hứa hẹn một giai đoạn phụng sự chưa từng có trong kinh nghiệm của JWK-P. Chắc chắn Ngài đã thấy trước sự qua đời của AAB và đã gợi ý về trách nhiệm to lớn mà JWK-P sẽ đảm nhận.

8. The year was 1946. DK tells us that JWK-P has been in His ashram for fifteen years. This would mean that he entered that Ashram in 1931—the time when the first instructions to DK’s chelas were written. JWK-P had been married to AAB (DRS) for quite a number of years before that point. The implication is that even when she was taking dictation on such books as Initiation Human and Solar and A Treatise on Cosmic Fire, JWK-P had still been a member of Master Morya’s Ashram.

8. Đó là năm 1946. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng JWK-P đã ở trong ashram của Ngài được mười lăm năm. Điều này có nghĩa là ông đã gia nhập Ashram ấy vào năm 1931—thời điểm những huấn thị đầu tiên dành cho các đệ tử của Chân sư DK được viết ra. JWK-P đã kết hôn với AAB (DRS) khá nhiều năm trước thời điểm đó. Điều này hàm ý rằng ngay cả khi Bà đang ghi chép theo lời đọc những quyển sách như Điểm Đạo Nhân Loại và Thái Dương và Luận về Lửa Vũ Trụ, JWK-P vẫn là một thành viên trong Ashram của Chân sư Morya.

9. JWK-P was an advanced disciple and knew how to progress swiftly. He was tested, selfless and utterly sincere.

9. JWK-P là một đệ tử tiến bộ và biết cách tiến bước nhanh chóng. Ông đã trải qua thử thách, vô ngã và hoàn toàn chân thành.

10. It is interesting how often DK presents JWK-P with the facts. This chela has “learnt rapidly and moved fast” and the fact of his speed is presented to him—as a fact. “I assert the fact” is the Word of Power for first ray chelas in relation to the building of the antahkarana. DK knows that is useful to be direct with first ray disciples.

10. Thật thú vị khi thấy Chân sư DK thường xuyên trình bày với JWK-P những sự thật. Người đệ tử này đã “học hỏi nhanh chóng và tiến bước mau lẹ”, và sự thật về tốc độ tiến bộ của ông được trình bày với ông—như một sự thật. “Tôi khẳng định sự thật” là Quyền năng từ dành cho các đệ tử cung một trong việc xây dựng antahkarana. Chân sư DK biết rằng thẳng thắn với các đệ tử cung một là điều hữu ích.

11. DK is skillful in presenting the JWK-P’s immediate problem—the sometimes harsh misuse of first ray energy while “learning the right use of soul energy”. One can see that there were a number of reasons why JWK-P was assigned to Master DK’s Ashram.

11. Chân sư DK khéo léo trình bày vấn đề trước mắt của JWK-P—đôi khi sử dụng sai năng lượng cung một một cách khắc nghiệt trong khi “học cách sử dụng đúng năng lượng linh hồn”. Có thể thấy có nhiều lý do khiến JWK-P được phân vào Ashram của Chân sư DK.

12. The implication is that JWK-P is, indeed, learning—to be more loving, more understanding, less harsh. The second ray energy of the personality does not suffice to make this an easy lesson, nor is the energy of the monad sufficiently easy of access to help very much. Yet, he is learning.

12. Điều này hàm ý rằng JWK-P quả thực đang học hỏi—để yêu thương hơn, thấu hiểu hơn, bớt khắc nghiệt hơn. Năng lượng cung hai của phàm ngã không đủ để khiến đây trở thành một bài học dễ dàng, còn năng lượng chân thần cũng chưa đủ dễ tiếp cận để hỗ trợ nhiều. Tuy vậy, ông đang học hỏi.

13. With Gemini on the Ascendant, thought and speech would be two important foci in JWK-P’s life. He was, in fact, a writer of a number of very good esoteric books, among which were Running God’s Plan and Changing Esoteric Values. The quite close Pluto square to Mercury gave depth to his thought but also harshness.

13. Với Song Tử ở Điểm mọc, tư tưởng và lời nói hẳn là hai trọng tâm quan trọng trong cuộc đời JWK-P. Thực tế, ông là tác giả của một số sách huyền bí rất hay, trong đó có Thực Thi Thiên Cơ của Thượng đế và Những Giá Trị Nội Môn Đang Thay Đổi. Góc vuông khá sát giữa Sao Diêm Vương và Sao Thủy đem lại chiều sâu cho tư tưởng của ông, nhưng cũng cả sự khắc nghiệt.

Every time that first ray energy pours through you it leads to a trifling or a true crisis in your relationships with others. You need to acquire a more general and genuine liking (as a means to understanding) of your fellowmen, particularly of those who are your co-workers in my work. When the time arrives this development will pay you good dividends if your fellow students welcome your leadership. They are prepared to do this but will miss the love and nonsense (frequently teaching nonsense) by means of which A.A.B. is apt to handle situations. Be not ruthless or dissatisfied with their efforts to make good. Many of them are in the preliminary stages of being trained so as to fit themselves to be on the periphery of some Ashram and there trained for discipleship.

Mỗi khi năng lượng cung một tuôn qua em, nó dẫn đến một khủng hoảng nhỏ hoặc thực sự trong các mối quan hệ của em với người khác. Em cần phát triển một thiện cảm rộng rãi và chân thành hơn đối với đồng loại (như một phương tiện để thấu hiểu), đặc biệt với những người cộng sự của em trong công việc của Tôi. Khi thời điểm đến, sự phát triển này sẽ đem lại cho em những thành quả tốt đẹp nếu các đạo sinh đồng môn hoan nghênh sự lãnh đạo của em. Họ sẵn sàng làm như vậy, nhưng sẽ thiếu tình thương và những lời đùa vui (thường là những lời đùa vui mang tính giáo huấn) mà A.A.B. thường dùng để xử lý các tình huống. Đừng tỏ ra khắc nghiệt hay bất mãn với những nỗ lực của họ để làm tốt. Nhiều người trong số họ đang ở những giai đoạn huấn luyện sơ khởi để chuẩn bị đủ khả năng đứng ở ngoại vi một ashram nào đó và tại đó được huấn luyện cho địa vị đệ tử.

14. Here a very understanding second ray Master is offering wise counsel to one through whom the first ray pours strongly.

14. Ở đây, một Chân sư cung hai rất thấu hiểu đang đưa ra lời khuyên minh triết cho một người mà năng lượng cung một tuôn qua mạnh mẽ.

15. The first ray can cause splits and cleavages; it can be a repelling, rebuffing energy.

15. Cung một có thể gây ra chia rẽ và phân ly; nó có thể là một năng lượng đẩy lùi, cự tuyệt.

16. DK urges JWK-P to develop a more “general and genuine liking…of your fellowmen”. Of course, He gives JWK-P a reason for why this liking is useful; it is a means for understanding.

16. Chân sư DK thúc giục JWK-P phát triển “thiện cảm rộng rãi và chân thành hơn…đối với đồng loại”. Dĩ nhiên, Ngài cho JWK-P một lý do vì sao thiện cảm này lại hữu ích; đó là một phương tiện để thấu hiểu.

17. The time for AAB’s departure is not far away, and DK is trying to prepare JWK-P for his succession into a position of great authority—the directorship of the Lucis Trust.

17. Thời điểm AAB ra đi không còn xa, và Chân sư DK đang cố gắng chuẩn bị cho JWK-P kế nhiệm vào một vị trí có quyền hạn lớn—chức giám đốc của Quỹ Lucis.

18. DK is hinting that some of the disciples do not, at present, welcome the thought of JWK-P’s impending leadership. I found this to have been the case; at least it was so presented to me when conversing with one of the second ray disciples in the group who reminisced on the situation. Incidentally, but predictably, it was the second ray disciples who appear to have had a problem with JWK-P’s methods.

18. Chân sư DK đang gợi ý rằng hiện tại một số đệ tử không đón nhận ý nghĩ về việc JWK-P sắp lãnh đạo. Tôi nhận thấy điều này đúng là đã xảy ra; ít nhất, câu chuyện đã được kể lại với tôi như vậy khi tôi trò chuyện với một trong những đệ tử cung hai trong nhóm, người đã hồi tưởng về tình hình ấy. Nhân đây, nhưng cũng đúng như có thể dự đoán, dường như chính các đệ tử cung hai là những người gặp vấn đề với các phương pháp của JWK-P.

19. The second and first ray methods are contrasted. Apparently AAB was very good at diffusing difficult or problematic situations (probably interpersonal) with “nonsense”—a light, playful and harmonizing touch, which often revealed some truth, as it was “teaching nonsense” [Italics MDR]. DK is not expecting that JWK-P can or will be that way, but is at least letting him know of the value of alternative approaches—second ray approaches.

19. Các phương pháp cung hai và cung một được đặt cạnh nhau để đối chiếu. Dường như AAB rất giỏi làm dịu những tình huống khó khăn hoặc rắc rối (có lẽ giữa người với người) bằng những “lời bông đùa”—một cách ứng xử nhẹ nhàng, vui tươi và hài hòa, thường làm sáng tỏ một chân lý nào đó, vì đó là những lời bông đùa “mang tính dạy dỗ” [MDR in nghiêng]. Chân sư DK không kỳ vọng JWK-P có thể hoặc sẽ hành xử như thế, nhưng ít nhất Ngài cũng cho ông biết giá trị của những cách tiếp cận khác—các cách tiếp cận cung hai.

20. The first ray can be ruthless, and DK warns JWK-P against this attitude. He also enjoins upon him a sense of proportion. It is easy to judge people as inadequate if one’s standards are too high, or, at least, too high measured again the present stage upon the Path of those who are judged. DK reminds JWK-P of the spiritual “standing” of some of the disciples surrounding him—disciples whom he might rather harshly criticize for lack of sufficient performance.

20. Cung một có thể tàn nhẫn, và Chân sư DK cảnh báo JWK-P tránh thái độ này. Ngài cũng yêu cầu ông có Ý thức về tỉ lệ. Người ta dễ đánh giá người khác là không đủ khả năng nếu tiêu chuẩn của mình quá cao, hoặc ít nhất quá cao so với giai đoạn hiện tại trên Đường Đạo của những người bị đánh giá. Chân sư DK nhắc JWK-P về “trình độ” tinh thần của một số đệ tử quanh ông—những đệ tử mà ông có thể phê bình khá khắc nghiệt vì chưa làm việc đủ tốt.

You need, my brother, to be more appreciative of effort and less critical of accomplishment. With true failures you are ever kind and understanding and have demonstrated this often, but you are apt to despise (behind a kind manner) those who appear satisfied with what they have done. You need also to learn with wisdom to choose your workers when it is your task to do so. It is not easy for you or for any first ray disciple to get close enough, or want to get close enough, to a person to really know him. You may remember the episode when the Master M. was at one time asked to handle the pupils of the Master K.H. so as to release Him for some brief job, and found himself unable to understand them or to do anything with them. It lies in the natural isolation of the first ray type. Have this in mind. [595]

Huynh đệ của tôi, em cần trân trọng nỗ lực hơn và bớt phê phán thành quả. Với những thất bại thực sự, em luôn nhân hậu và thấu hiểu, và đã nhiều lần thể hiện điều này; nhưng em có khuynh hướng xem thường (ẩn sau một thái độ tử tế) những người có vẻ hài lòng với điều họ đã làm. Em cũng cần học cách sáng suốt lựa chọn những người hoạt động cùng mình khi đó là nhiệm vụ của em. Đối với em hay bất kỳ đệ tử cung một nào, việc đến đủ gần, hoặc muốn đến đủ gần, một người để thực sự biết người ấy là điều không dễ. Em có thể nhớ câu chuyện khi Chân sư M. từng được nhờ trông nom các môn sinh của Chân sư KH để Ngài rảnh tay làm một công việc ngắn hạn, và nhận thấy mình không thể hiểu họ hay làm được điều gì với họ. Điều này bắt nguồn từ sự biệt lập tự nhiên của mẫu người cung một. Hãy ghi nhớ điều đó.

21. We see how perceptive DK can be.

21. Chúng ta thấy Chân sư DK có thể tinh tế đến mức nào trong việc nhận biết.

22. The first ray type certainly has love. One with a second ray monad, second ray personality and second ray astral body would surely have much love upon which he could draw. First ray soul types see things in a large way. When fundamental issues were at stake; when real failure has appeared, then, JWK-P has demonstrated first ray love.

22. Người cung một chắc chắn có tình thương. Một người có chân thần cung hai, phàm ngã cung hai và thể cảm dục cung hai chắc chắn có nhiều tình thương để vận dụng. Những người có linh hồn cung một nhìn sự việc trên bình diện rộng lớn. Khi những vấn đề căn bản bị đe dọa; khi thất bại thực sự xuất hiện, thì JWK-P đã thể hiện tình thương cung một.

23. We have much to learn about how Master DK offers correction. He mentions a positive quality and then brings forward the matter which needs correction. It works much better than straight criticism. If one studies the Master’s methods, one will see this technique often used.

23. Chúng ta có nhiều điều để học hỏi về cách Chân sư DK đưa ra sự sửa chữa. Ngài đề cập một phẩm tính tích cực rồi mới nêu ra vấn đề cần sửa chữa. Cách này hiệu quả hơn nhiều so với phê bình trực tiếp. Nếu nghiên cứu các phương pháp của Chân sư, người ta sẽ thấy Ngài thường sử dụng kỹ thuật này.

24. AAB used to speak of the need to be “personally impersonal” and “impersonally personal”. The first ray type dislikes personalism, but may, because of this aversion, not really get to know the nature of his co-workers.

24. AAB từng nói về sự cần thiết phải “vô tư trong quan hệ cá nhân” và “quan tâm đến cá nhân một cách vô tư”. Người cung một không thích quá chú trọng khía cạnh cá nhân, nhưng chính vì sự ác cảm này mà họ có thể không thực sự hiểu được bản chất của các cộng sự.

25. DK elevates the whole problem into a larger context, recounting an anecdote concerning Masters M and KH. Master M. was left in charge of KH’s chelas for a short time, but found Himself “unable to understand them or do anything with them”. Somehow, there is a releasing humor in this. There are important qualities in the nature of these two rays which simply stand opposed to each other (unless approached with broad understanding).

25. Chân sư DK đưa toàn bộ vấn đề vào một bối cảnh rộng lớn hơn, kể lại một giai thoại về Chân sư M. và Chân sư KH. Chân sư M. được giao phụ trách các đệ tử của Chân sư KH trong một thời gian ngắn, nhưng Ngài nhận thấy mình “không thể thấu hiểu họ hay làm được điều gì với họ”. Theo một cách nào đó, câu chuyện có nét hài hước giúp người ta nhẹ nhõm. Trong bản chất của hai cung này có những phẩm tính quan trọng hoàn toàn đối lập nhau (trừ khi được tiếp cận bằng sự thấu hiểu rộng mở).

26. DK is insistent that this problem must be solved. As He said a few paragraphs earlier: “This is your immediate problem”.

26. Chân sư DK kiên quyết rằng vấn đề này phải được giải quyết. Như Ngài đã nói vài đoạn trước: “Đây là vấn đề trước mắt của em”.

27. The emergent principle is that there are vices are our virtues, and these are the most difficult to solve.

27. Nguyên tắc nổi lên ở đây là có những tật xấu nằm ngay trong các đức tính của chúng ta, và đây là những điều khó giải quyết nhất.

28. Anyway, the quality of “appreciation” (a Venusian quality) is urged upon JWK-P. It is a quality which, so DK tells us, helps to overcome cleavages. In this case, the cleavages are caused by the sometimes unwise use of first ray force.

28. Dù sao, JWK-P cũng được thúc giục phát triển phẩm tính “trân trọng” (một phẩm tính của Sao Kim). Theo lời Chân sư DK, đó là một phẩm tính giúp khắc phục những phân ly. Trong trường hợp này, những phân ly phát sinh từ việc đôi khi sử dụng mãnh lực cung một thiếu minh triết.

Be sure to choose the workers (when the decision lies with you) who are on the second ray, or first ray people in whom the love element is highly developed, but not over-developed. You are apt to be suspicious of people's motives. Give them due credit for sincerity and for having something as yet to learn, and help them learn their lessons—by loving them and trusting them; confine your chief attempt to establishing a measure of intimacy with your workers—friendship and a working partnership; this will guarantee the success of your work.

Khi quyền quyết định thuộc về em, hãy chắc chắn chọn những người hoạt động thuộc cung hai, hoặc những người cung một có yếu tố bác ái phát triển cao nhưng không quá mức. Em có khuynh hướng nghi ngờ động cơ của người khác. Hãy nhìn nhận đúng mức lòng chân thành của họ và việc họ vẫn còn điều phải học, rồi giúp họ học những bài học của mình—bằng cách yêu thương và tin tưởng họ; hãy tập trung nỗ lực chính vào việc thiết lập một mức độ thân tình với những người hoạt động cùng em—tình bạn và quan hệ hợp tác trong công việc; điều này sẽ bảo đảm thành công cho công việc của em.

29. DK keeps the balance. It is not always JWK-P’s task to choose the workers—presumably in the Lucis Trust—but when it is, DK advises him to choose those upon the second ray, or first ray people with a highly developed love aspect—though not over-developed. This last comment is interesting. Perhaps it indicates that some first ray workers, realizing their lack of love—place too much stress upon it and thereby sacrifice a healthy balance.

29. Chân sư DK giữ sự quân bình. Việc lựa chọn những người hoạt động không phải lúc nào cũng là nhiệm vụ của JWK-P—có lẽ trong Quỹ Lucis—nhưng khi đó là nhiệm vụ của ông, Chân sư DK khuyên ông chọn những người thuộc cung hai, hoặc những người cung một có phương diện tình thương phát triển cao—nhưng không phát triển quá mức. Nhận xét cuối này thật thú vị. Có lẽ nó cho thấy một số người hoạt động cung một, khi nhận ra mình thiếu tình thương, đã quá chú trọng tình thương và do đó hy sinh sự quân bình lành mạnh.

30. DK is really training JWK-P to replace AAB. He is intensifying His counsel so that evident dangers may be avoided. (It seems, in fact, they were not avoided.)

30. Chân sư DK thực sự đang huấn luyện JWK-P để thay thế AAB. Ngài nhấn mạnh hơn những lời khuyên của mình để có thể tránh những nguy cơ rõ ràng. (Thực tế, dường như họ đã không tránh được những nguy cơ ấy.)

31. Suspicion (a first ray predisposition related to paranoia) is a cause of glamor, and DK warns JWK-P away from it. Trust, love, and friendship, true partnership—these are suggested. DK is asking JWK-P to be kinder to persons—especially to the personal aspect of his co-workers.

31. Sự nghi ngờ (một khuynh hướng cung một có liên quan đến chứng hoang tưởng) là nguyên nhân gây ảo cảm, và Chân sư DK cảnh báo JWK-P tránh xa nó. Sự tin tưởng, tình thương và tình bạn, quan hệ cộng tác đích thực—đó là những điều Ngài đề nghị. Chân sư DK đang yêu cầu JWK-P tử tế hơn với từng người—đặc biệt với phương diện cá nhân của các cộng sự.

32. Interestingly, He asks JWK-P to become more intimate with his co-workers. To second ray types He would probably have to say just the opposite.

32. Điều thú vị là Ngài yêu cầu JWK-P trở nên thân tình hơn với các cộng sự. Với những người cung hai, có lẽ Ngài phải nói điều hoàn toàn ngược lại.

33. None of this advice is given so that JWK-P may become a ‘nicer person’, but rather so that the future work may be successful.

33. Tất cả những lời khuyên này được đưa ra không phải để JWK-P trở thành một ‘người dễ mến hơn’, mà để công việc tương lai có thể thành công.

34. The first ray can be shockingly exacting. It is said that Master M. once ordered that a huge tapestry (on which years of labor had been expended) be completely unraveled and rewoven because one thread was out of place!

34. Cung một có thể đòi hỏi khắt khe đến mức gây sửng sốt. Người ta kể rằng có lần Chân sư M. đã ra lệnh tháo tung hoàn toàn và dệt lại một tấm thảm treo khổng lồ (đã tốn nhiều năm lao động) chỉ vì một sợi chỉ nằm sai chỗ!

35. Success upon the Path of Occultism (and especially in group work) depends upon a balanced approach. Overemphasis on any one ray may cause inharmony and disruption. Always the other ray-approaches (and those who are expressions of them) have to be appreciated. This calls for self-extension and a willingness to change habitual responses. It is not easy.

35. Thành công trên Con Đường Huyền Bí Học (và đặc biệt trong công việc nhóm) tùy thuộc vào một cách tiếp cận quân bình. Quá nhấn mạnh bất kỳ một cung nào cũng có thể gây bất hòa và đổ vỡ. Luôn phải trân trọng những cách tiếp cận thuộc các cung khác (và những người biểu hiện các cách tiếp cận ấy). Điều này đòi hỏi phải mở rộng bản thân và sẵn lòng thay đổi những đáp ứng theo thói quen. Đó không phải điều dễ dàng.

36. We must remember that JWK-P had a Taurus Moon, so some aspects of the habit nature did not change rapidly. Though, with Gemini Ascending, he was adaptable should purpose require it.

36. Chúng ta phải nhớ rằng JWK-P có Mặt Trăng ở Kim Ngưu, nên một số phương diện trong bản chất thói quen không thay đổi nhanh chóng. Tuy nhiên, với Song Tử mọc, ông có khả năng thích nghi nếu mục đích đòi hỏi.

Your mind and brain are full of the work to be done. You work as do all first ray workers and as the Master Morya. First ray workers provide the substance with which the second ray workers build and the other ray workers qualify and modify. You inspire substance with the energy and purpose and with the life necessary to render it responsive to the plan—the Plan of goodwill which the Masters are at present implementing and for which They seek workers. Write more, my brother; you have the vision and your meditation is sound. It has always been along first ray lines as taught in the Ashram of the Master Morya. This few people understand. Any other form of meditation would be false to you. Though you oft chide yourself for not acceding with exactitude to my demands, I judge your meditation nevertheless to be perhaps the most satisfactory of any in the group.

Thể trí và bộ não của em đầy ắp công việc phải làm. Em làm việc như mọi người hoạt động cung một và như Chân sư Morya. Những người hoạt động cung một cung cấp chất liệu để những người hoạt động cung hai xây dựng, còn những người hoạt động thuộc các cung khác thì phú phẩm tính và điều chỉnh. Em truyền cho chất liệu năng lượng, mục đích và sự sống cần thiết để khiến nó đáp ứng với kế hoạch—Thiên Cơ thiện chí mà các Chân sư hiện đang thực hiện và Các Ngài đang tìm những người hoạt động để thực hiện Thiên Cơ ấy. Huynh đệ của tôi, hãy viết nhiều hơn; em có tầm nhìn và việc tham thiền của em vững vàng. Việc ấy luôn theo đường hướng cung một như được giảng dạy trong ashram của Chân sư Morya. Ít người hiểu điều này. Bất kỳ hình thức tham thiền nào khác cũng sẽ không đúng với em. Dù em thường tự trách mình không đáp ứng chính xác những yêu cầu của Tôi, Tôi vẫn đánh giá việc tham thiền của em có lẽ là thỏa đáng nhất trong nhóm.

37. This is one of the most affirmative statements that can be given. Again we notice the Master’s technique. If correction must be given, it is preceded by affirmation and followed by the same.

37. Đây là một trong những lời khẳng định tích cực nhất có thể đưa ra. Một lần nữa, chúng ta nhận thấy kỹ thuật của Chân sư. Nếu cần sửa chữa, Ngài khẳng định điều tích cực trước đó và tiếp tục khẳng định điều tích cực sau đó.

38. An important relationship between the rays is given. First ray workers “provide the substance within which the second ray workers build…” This was certainly true of JWK-P’s financial responsibility for the Lucis Trust.

38. Một mối quan hệ quan trọng giữa các cung được trình bày. Những người hoạt động cung một “cung cấp chất liệu mà trong đó những người hoạt động cung hai xây dựng…” Điều này chắc chắn đúng với trách nhiệm tài chính của JWK-P đối với Quỹ Lucis.

39. The thought of inspiring substance with energy, purpose and life is worth pondering. This is really very occult method of working—a first ray method.

39. Ý tưởng truyền năng lượng, mục đích và sự sống vào chất liệu đáng để suy ngẫm. Đây thực sự là một phương pháp làm việc rất huyền bí—một phương pháp cung một.

40. Here JWK-P is given the injunction to write. This he did after AAB passed on. His books appeared in the early 1950’s. It is interesting that one of the things that qualifies JWK-P to write is that his “meditation is sound”. Apparently, this means he has something of value to write about.

40. Ở đây, JWK-P được chỉ thị viết sách. Ông đã làm điều này sau khi AAB qua đời. Các sách của ông xuất hiện vào đầu những năm 1950. Điều thú vị là một trong những yếu tố giúp JWK-P đủ khả năng viết là việc “tham thiền của em vững vàng”. Dường như điều này có nghĩa là ông có điều giá trị để viết.

41. We learn here about the first ray method of meditation. Meditation of a certain kind is taught in the Ashram of Master M. Such meditation is briefer than second ray meditation, but there are apparently other qualities which are not elaborated here. The idea of the “rapier like alignment” may be related to this method.

41. Ở đây, chúng ta tìm hiểu về phương pháp tham thiền cung một. Một loại tham thiền nhất định được giảng dạy trong Ashram của Chân sư M. Loại tham thiền ấy ngắn gọn hơn tham thiền cung hai, nhưng dường như còn có những phẩm tính khác không được trình bày chi tiết ở đây. Ý tưởng về sự “chỉnh hợp như một thanh kiếm mảnh” có thể liên quan đến phương pháp này.

42. We see JWK-P’s conscientiousness. He would like to fulfill what the Tibetan requests in terms of meditation, but it not in his nature to do so. The Master (ever adaptable when it serves a purpose) does not chide JWK-P (as he chides himself) but offers understanding. DK knows the value of JWK-P’s meditation. Strict conformity to the suggested outer form matters not. DK, we can see, respects that JWK-P essentially belongs to another Ashram, and honors that Ashram’s methods (which JWK-P instinctively follows).

42. Chúng ta thấy sự tận tâm của JWK-P. Ông muốn đáp ứng những điều Chân sư Tây Tạng yêu cầu về tham thiền, nhưng làm như vậy không phù hợp với bản chất của ông. Chân sư (luôn linh hoạt thích nghi khi điều đó phục vụ một mục đích) không trách JWK-P (như ông tự trách mình), mà thể hiện sự thấu hiểu. Chân sư DK biết giá trị việc tham thiền của JWK-P. Việc tuân thủ nghiêm ngặt hình thức bên ngoài được đề nghị không quan trọng. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK tôn trọng việc JWK-P về cơ bản thuộc về một Ashram khác, và tôn trọng các phương pháp của Ashram ấy (mà JWK-P theo một cách bản năng).

I am, therefore, giving you a passage from the Old Commentary which has a direct reference to the work you are attempting to do.

Vì vậy, Tôi trao cho em một đoạn trong Cổ Luận liên quan trực tiếp đến công việc em đang cố gắng thực hiện.

"He stands in strength who sees the Will of God behind the Plan. The will-to-good substands all true goodwill. That will is he.

“Người thấy Ý Chí của Thượng Đế đằng sau Thiên Cơ thì đứng vững trong sức mạnh. Ý Chí-hướng Thiện làm nền tảng cho mọi thiện chí chân chính. Y chính là ý chí ấy.

The Plan for this cycle of the sixth objective crisis is goodwill for all men, and through all men, goodwill. That Plan starts now.

Thiên Cơ cho chu kỳ của cuộc khủng hoảng khách quan thứ sáu này là thiện chí dành cho mọi người, và qua mọi người, thiện chí được biểu lộ. Thiên Cơ ấy bắt đầu ngay lúc này.

The Plan, within our planet as a whole, is the changing of the energy discharging unit (the etheric subplanes—A.A.B.). The fourfold form must assume triangular relation. Ponder on this.

Thiên Cơ, trong toàn thể hành tinh chúng ta, là sự thay đổi đơn vị phóng xuất năng lượng (các cõi phụ dĩ thái—A.A.B.). Hình tướng tứ phân phải đảm nhận mối quan hệ tam giác. Hãy suy ngẫm về điều này.

The objective of the Plan is to reproduce upon the plane of earth the inner kingdom of the soul. This has the Master of the Masters long foretold. Prepare the way." [596]

Mục tiêu của Thiên Cơ là tái hiện trên cõi trần giới bên trong của linh hồn. Chân sư của các Chân sư đã tiên báo điều này từ lâu. Hãy chuẩn bị con đường.”

43. In the discussion of the two types of will—the will-to-good and goodwill, we again see a relation between the first and second rays. The will-to-good is attuned more to the first ray (though not exclusively) and goodwill to the second (though not exclusively since goodwill is “love in action”).

43. Trong phần bàn luận về hai loại ý chí—Ý Chí-hướng Thiện và thiện chí, chúng ta lại thấy mối quan hệ giữa cung một và cung hai. Ý Chí-hướng Thiện hòa điệu nhiều hơn với cung một (dù không chỉ riêng cung ấy), còn thiện chí hòa điệu với cung hai (dù không chỉ riêng cung ấy, vì thiện chí là “tình thương trong hành động”).

44. This section from the Old Commentary is quite occult. Purpose (represented by the Will of God) is related to Plan. Causes and effects are proposed.

44. Phần trích Cổ Luận này khá huyền bí. Mục đích (do Ý Chí của Thượng Đế biểu trưng) có liên hệ với Thiên Cơ. Các nguyên nhân và kết quả được nêu ra.

45. By pondering this section, one learns to identify as the will. This seems to be one of the objectives in giving JWK-P this selection from the Old Commentary for contemplation.

45. Khi suy ngẫm phần này, người ta học cách đồng hoá với ý chí như chính mình. Đây dường như là một trong những mục tiêu của việc trao cho JWK-P đoạn trích Cổ Luận này để chiêm ngưỡng.

46. The present time is called the “cycle of the sixth objective crisis”. What may that mean? When the number six is mentioned, we must think of the astral plane (and its desire nature) or the monadic plane. We must also think of Mars and Neptune. We begin to ponder planetary history and wonder what sequence of crises is being referenced. At one point DK tells us that the coming age represents the seventh time in the Aryan Rootrace that the seventh ray has combined with the precessional sign Aquarius. Perhaps, we must ponder lengthy planetary spans to discover the nature of the sixth objective crisis.

46. Thời điểm hiện tại được gọi là “chu kỳ khủng hoảng khách quan thứ sáu”. Điều đó có thể có nghĩa gì? Khi số sáu được đề cập, chúng ta phải nghĩ đến cõi cảm dục (và bản chất dục vọng của nó) hoặc cõi chân thần. Chúng ta cũng phải nghĩ đến Sao Hỏa và Sao Hải Vương. Chúng ta bắt đầu suy ngẫm về lịch sử hành tinh và tự hỏi chuỗi khủng hoảng nào đang được nói tới. Ở một chỗ, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng kỷ nguyên sắp tới là lần thứ bảy trong Giống dân gốc Arya mà cung bảy kết hợp với dấu hiệu Bảo Bình trong chu kỳ tuế sai. Có lẽ chúng ta phải suy ngẫm những khoảng thời gian hành tinh dài lâu để khám phá bản chất của cuộc khủng hoảng khách quan thứ sáu.

47. We might also link this crisis to the coming of the sixth subrace of the fifth rootrace or to the sixth rootrace itself.

47. Chúng ta cũng có thể liên hệ cuộc khủng hoảng này với sự xuất hiện của giống dân phụ thứ sáu thuộc giống dân gốc thứ năm, hoặc với chính giống dân gốc thứ sáu.

48. We are told that “That Plan starts now”. There is something here about laying plans for the emerging of a new civilization and culture. The implication is that JWK-P is participating in the immediacy of this Plan.

48. Chúng ta được cho biết rằng “Thiên Cơ ấy bắt đầu ngay lúc này”. Ở đây có điều gì đó liên quan đến việc lập kế hoạch cho sự xuất hiện của một nền văn minh và văn hóa mới. Điều này hàm ý rằng JWK-P đang tham gia vào việc thực hiện Thiên Cơ này ngay trong hiện tại.

49. We are grateful to AAB for providing the meaning of the “energy discharging unit”. If it does represent the etheric subplanes (and it very probably does), it is an interesting way to conceive of this dimension.

49. Chúng ta biết ơn AAB vì Bà đã cung cấp ý nghĩa của “đơn vị phóng thích năng lượng”. Nếu nó quả thực biểu thị các cõi phụ dĩ thái (và rất có thể là như vậy), thì đây là một cách thú vị để quan niệm về chiều kích này.

50. The etheric pattern of the Earth’s etheric plane must be transformed from a system of squares into a system of triangles. This is one of the purposes of the work of the Triangles project; it is a project near to the Tibetan’s heart and for which JWK-P had at least indirect responsibility.

50. Mô hình dĩ thái của cõi dĩ thái Trái Đất phải được chuyển đổi từ một hệ thống các hình vuông thành một hệ thống các hình tam giác. Đây là một trong những mục đích của công việc thuộc dự án Tam Giác; đó là một dự án mà Chân sư Tây Tạng hết sức tâm huyết và JWK-P ít nhất cũng đã gián tiếp chịu trách nhiệm.

51. We are learning, by contemplating this selection, many things about the Divine Plan—its relation to the Will of God and its etheric outworking.

51. Qua việc chiêm ngưỡng đoạn tuyển trích này, chúng ta đang học được nhiều điều về Thiên Cơ—mối liên hệ của Thiên Cơ với Ý Chí của Thượng Đế và sự triển khai của Thiên Cơ trên cõi dĩ thái.

52. The final stanza deals with the objectification on Earth of the “inner kingdom of the soul”. The Externalization of the Hierarchy is part of this process. The Christ is referenced as the “Master of the Masters”. JWK-P’s task is to “prepare the way”. He, therefore, is part of the “Forerunner” process, which is preparing the way for the reappearing Christ.

52. Bài kệ cuối đề cập đến việc biểu hiện “giới bên trong của linh hồn” thành hiện thực khách quan trên Trái Đất. Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn là một phần của tiến trình này. Đức Christ được nhắc đến như “Chân sư của các Chân sư”. Nhiệm vụ của JWK-P là “dọn đường”. Do đó, ông là một phần của tiến trình “Tiền Phong”, vốn đang dọn đường cho Đức Christ tái lâm.

53. We remember that “Knowledge of the Plan” is part of JWK-P’s keynote formula. We can wee why the Tibetan presents him with such selections; they reveal the Plan anent which he is to gather knowledge.

53. Chúng ta nhớ rằng “Tri thức về Thiên Cơ” là một phần trong công thức chủ âm của JWK-P. Chúng ta có thể thấy vì sao Chân sư Tây Tạng đưa cho ông những đoạn tuyển trích như thế; chúng mặc khải Thiên Cơ mà ông phải thu thập tri thức về đó.

54. Contemplation of this selection from the Old Commentary could certainly strengthen any sincere worker with the Plan—especially one upon the first ray.

54. Việc chiêm ngưỡng đoạn tuyển trích này từ Cổ Luận chắc chắn có thể tiếp thêm sức mạnh cho bất kỳ người hoạt động chân thành nào cùng Thiên Cơ—đặc biệt là người thuộc cung một.

My blessing rests upon you for all the work which you have done. I—your friend, brother and teacher—ask and need your still continued help.

Phúc lành của Tôi luôn ở cùng em vì tất cả công việc em đã làm. Tôi—người bạn, huynh đệ và huấn sư của em—đề nghị và cần em tiếp tục trợ giúp.

55. DK is demonstrating the very intimacy which He enjoins upon JWK-P.

55. Chân sư DK đang thể hiện chính sự thân mật mà Ngài khuyên bảo JWK-P thực hành.

56. In this case, why just tell someone to do something? Rather, demonstrate the thing to be done and teach by example.

56. Trong trường hợp này, tại sao chỉ bảo ai đó làm một điều gì? Thay vào đó, hãy thể hiện điều cần làm và dạy bằng gương mẫu.

November 1948 – Tháng Mười Một năm 1948

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Today in the ordinary course of events and as part of my final planning in relation to the work preparatory to the coming of the Christ, I have certain items of information to impart. The keynote of the next few years of your work is—as well you know—the making known and the steady and intelligent preparation of the human consciousness for His reappearance. With the subject of that reappearance I deal not here, but there is somewhat which I seek to say anent that which may be done by all of you upon whom I have kept a supervisory eye during the past few years.

Hôm nay, trong diễn tiến thông thường của các sự việc và như một phần trong việc hoạch định cuối cùng của Tôi liên quan đến công việc chuẩn bị cho sự giáng lâm của Đức Christ, Tôi có một số điều cần truyền đạt. Như em biết rõ, chủ âm trong công việc của em vài năm tới là làm cho sự tái lâm của Ngài được biết đến và chuẩn bị tâm thức nhân loại một cách bền bỉ, sáng suốt cho sự tái lâm ấy. Ở đây, Tôi không bàn đến chủ đề sự tái lâm đó, nhưng Tôi muốn nói đôi điều về những gì mà tất cả các em, những người Tôi đã theo dõi và giám sát trong vài năm qua, có thể thực hiện.

1. This instruction seems to have a general tone. It is intended for many readers, not just JWK-P.

1. Huấn thị này dường như có giọng điệu chung. Nó dành cho nhiều độc giả, chứ không chỉ riêng JWK-P.

2. The Reappearance of the Christ is the most important item of the hierarchical agenda, and JWK-P was in a position to really do something about it.

2. Sự Tái Lâm của Đức Christ là mục quan trọng nhất trong chương trình nghị sự của Thánh đoàn, và JWK-P ở vào vị thế thực sự có thể làm điều gì đó cho việc này.

3. There have been some rather unintelligent teachings given about the Christ’s reappearance. The whole subject must be rescued from claim-making, gullibility and fanaticism.

3. Đã có một số giáo huấn khá thiếu sáng suốt về sự tái lâm của Đức Christ. Toàn bộ chủ đề này phải được giải cứu khỏi những lời tự nhận, sự cả tin và tính cuồng tín.

4. DK speaks of the “supervisory eye” He has been keeping on some of the disciples. He disbanded His last experiment in 19When this present instruction was written already two years had passed. Perhaps He is letting His disciples know that He is still very much “with” them.

4. Chân sư DK nói đến “con mắt trông nom” mà Ngài vẫn dành cho một số đệ tử. Ngài đã giải thể cuộc thử nghiệm cuối cùng của Ngài vào năm 19Khi huấn thị này được viết, hai năm đã trôi qua. Có lẽ Ngài đang cho các đệ tử biết rằng Ngài vẫn luôn “ở cùng” họ.

There are five Masters and five Ashrams involved in this preparatory work. First of all, there is the Ashram of the Master K.H.; this is the presiding Ashram in this work owing to the fact that it is a second ray Ashram and, therefore, upon the same line of energy as that of the Christ Himself; another reason is that the Master K.H. will assume the role of World Teacher in the distant future when the Christ moves on to higher and more important work. Next comes the Ashram of the Master Morya; the reason for this is that the whole procedure is projected from Shamballa and the Ashram of the Master Morya is ever in close touch with that dynamic centre. The Master R.—as the Lord of Civilisation—is also closely involved; He is also—and this is of major importance—Regent of Europe.

Có năm Chân sư và năm ashram tham gia công việc chuẩn bị này. Trước hết là ashram của Chân sư KH; đây là ashram chủ trì công việc này vì đó là một ashram cung hai và do đó cùng dòng năng lượng với chính Đức Christ; một lý do khác là Chân sư KH sẽ đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo trong tương lai xa, khi Đức Christ chuyển sang công việc cao hơn và quan trọng hơn. Tiếp đến là ashram của Chân sư Morya; lý do là toàn bộ tiến trình này được phóng chiếu từ Shamballa, và ashram của Chân sư Morya luôn liên hệ mật thiết với trung tâm năng động ấy. Chân sư R.—với tư cách Chúa Tể của Nền Văn Minh—cũng tham gia mật thiết; Ngài còn là—và điều này có tầm quan trọng lớn lao—Đấng Nhiếp Chính của Châu Âu.

5. There is much confusion regarding the term of duration of the Christ’s next and greatest service to humanity and the planet. Some have imagined that the Master KH is already assuming the role of the Christ. This is a great distortion. The words, “distant future”, are here used. They signal, in all probability, the beginning of the Age of Capricorn some 2300 years from now. It is probable that the Christ’s work for humanity will involve Him (and the Buddha) for most if not all of the Aquarian Age, though it is not expected that the Buddha will reappear tangibly.

5. Có nhiều sự nhầm lẫn về khoảng thời gian Đức Christ sẽ đảm nhiệm công cuộc phụng sự nhân loại và hành tinh tiếp theo, cũng là công cuộc vĩ đại nhất của Ngài. Một số người đã tưởng rằng Chân sư KH đang đảm nhận vai trò của Đức Christ. Đây là một sự xuyên tạc nghiêm trọng. Ở đây, những từ “tương lai xa” được sử dụng. Rất có thể chúng báo hiệu khởi đầu của Kỷ Nguyên Ma Kết, khoảng 2300 năm nữa. Có lẽ công việc của Đức Christ dành cho nhân loại sẽ cần đến sự tham gia của Ngài (và Đức Phật) trong phần lớn, nếu không phải toàn bộ Kỷ Nguyên Bảo Bình, mặc dù người ta không trông đợi Đức Phật sẽ tái xuất hiện dưới hình tướng hữu hình.

6. Master KH’s Ashram is very important in the work of preparing for the Christ’ Reappearance. Master DK, as a Master who is within KH’s Ashram, must also be very much involved. The major teaching regarding the Christ’s Reappearance has, after all, come through Master DK.

6. Ashram của Chân sư KH rất quan trọng trong công việc chuẩn bị cho sự Tái Lâm của Đức Christ. Là một Chân sư thuộc ashram của Chân sư KH, Chân sư DK hẳn cũng tham gia rất sâu vào công việc này. Xét cho cùng, giáo huấn chủ yếu về sự Tái Lâm của Đức Christ đã đến qua Chân sư DK.

7. The process known as the Reappearance of the Christ is, so we are told, “projected from Shamballa”. It would not be happening were it not the will of the Lord of the World. Because of the Shamballic roots of this process, the Master M. (ever in close touch with Shamballa) is intimately involved.

7. Theo những gì chúng ta được cho biết, tiến trình mang tên sự Tái Lâm của Đức Christ được “phóng chiếu từ Shamballa”. Tiến trình ấy sẽ không diễn ra nếu đó không phải là ý chí của Đức Chúa Tể Thế Giới. Vì tiến trình này bắt nguồn từ Shamballa, Chân sư M. (luôn liên hệ mật thiết với Shamballa) tham gia sâu sát vào đó.

8. In several places in the Teaching, Master DK mentions that Master R is “Regent of Europe”—mentioned even as early as the first book, Initiation: Human and Solar, at which time Master R. was not yet Mahachohan.

8. Ở một số chỗ trong Giáo Huấn, Chân sư DK đề cập rằng Chân sư R. là “Đấng Nhiếp Chính Châu Âu”—điều này đã được nhắc đến ngay từ cuốn sách đầu tiên, Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương, vào thời điểm Chân sư R. chưa là Đức Mahachohan.

9. The process of the Reappearance must involve, in some way, the entire Spiritual Hierarchy of our planet, but it seems that these particular Masters are most involved. DK goes on to name others.

9. Tiến trình Tái Lâm hẳn phải có sự tham gia, theo một cách nào đó, của toàn thể Thánh đoàn của hành tinh chúng ta, nhưng dường như những Chân sư cụ thể này tham gia nhiều nhất. Chân sư DK tiếp tục nêu tên những vị khác.

I have also at times referred to the Master Who is responsible for the reorganisation of Labour; this work He began to do in the latter part of the nineteenth century but left it to [597] carry forward on its own momentum when Russia entered the field and laid its emphasis upon the proletariat or the workers, to the exclusion of all other members of national groups. This produced what we might call the workers' revolution in the latter years of the first quarter of the twentieth century. I myself am the fifth Master concerned in this work and am—as it were—the liaison officer between those disciples who are working in the field of the world and Those Masters Who are directly responsible to the Christ for the needed work of preparation.

Đôi khi Tôi cũng đã đề cập đến Chân sư chịu trách nhiệm tái tổ chức giới Lao Động; Ngài bắt đầu công việc này vào cuối thế kỷ mười chín, nhưng đã để công việc ấy [597] tiếp tục theo đà riêng khi nước Nga bước vào lĩnh vực này và đặt trọng tâm vào giai cấp vô sản hay những người lao động, loại trừ mọi thành viên khác trong các cộng đồng quốc gia. Điều này đã tạo ra cái mà chúng ta có thể gọi là cuộc cách mạng của người lao động vào những năm cuối của một phần tư đầu thế kỷ hai mươi. Chính Tôi là Chân sư thứ năm tham gia công việc này và có thể nói là người liên lạc giữa những đệ tử đang hoạt động trên thế gian với Các Chân sư trực tiếp chịu trách nhiệm trước Đức Christ về công việc chuẩn bị cần thiết.

10. The list is then complete: Master KH; Master M; Master R; the English Master concerned with the Labour Movement; and Master DK.

10. Như vậy, danh sách đã đầy đủ: Chân sư KH; Chân sư M.; Chân sư R.; Chân sư người Anh phụ trách Phong Trào Lao Động; và Chân sư DK.

11. The work of this particular English Master is very interesting. He may be the second ray Master referred to in The Initiate in the Dark Cycle as “Sir Thomas”—a reference to an incarnation as Sir Thomas More in the time of Henry the VIII.

11. Công việc của Chân sư người Anh này rất thú vị. Ngài có thể là Chân sư cung hai được nhắc đến trong Điểm Đạo Đồ trong Chu Kỳ Tăm Tối với tên gọi “Ngài Thomas”—ám chỉ một kiếp nhập thể là Ngài Thomas More vào thời Henry VIII.

12. We see that a Master may take an interest in a certain type of work, but if those stimulated by His interest become unbalanced, fanatical or separative, He may direct His attention elsewhere to avoid the danger of over-stimulating the process and exacerbating the already evident abuses. Russia was responsible, it seems, for taking the Labour Movement in directions which were not intended by the Master Who impulsed the process—no doubt through the power of His thought.

12. Chúng ta thấy rằng một Chân sư có thể quan tâm đến một loại công việc nhất định, nhưng nếu những người được sự quan tâm của Ngài kích thích trở nên mất quân bình, cuồng tín hoặc chia rẽ, Ngài có thể hướng sự chú ý sang nơi khác để tránh nguy cơ kích thích tiến trình quá mức và làm trầm trọng thêm những sự lạm dụng đã lộ rõ. Dường như nước Nga chịu trách nhiệm về việc đưa Phong Trào Lao Động theo những hướng nằm ngoài ý định của Chân sư đã khởi động tiến trình này—chắc chắn là qua quyền năng tư tưởng của Ngài.

13. Master DK’s role as “Gemini” or “Mercury” is clear. He is the “Messenger”—the “liaison officer” between the disciples in the field and the sponsoring Masters. He is, therefore, a kind of “antahkarana” within the Externalization Process. He is adept at “field work”, often associated with the third ray.

13. Vai trò của Chân sư DK như “Song Tử” hay “Sao Thủy” rất rõ ràng. Ngài là “Sứ Giả”—“sĩ quan liên lạc” giữa các đệ tử đang hoạt động ngoài thực địa và các Chân sư bảo trợ. Do đó, Ngài là một dạng “antahkarana” trong Tiến Trình Hiển Lộ. Ngài thành thạo “công việc thực địa”, vốn thường gắn với cung ba.

Certain picked disciples from all these five Ashrams have been or will be trained for the work of contacting the public. Many of them (perhaps the majority) are totally unknown to you. Some of them you know. I refer not here to A.A.B. whose exoteric work is known to you whilst her esoteric work is well known to Us. Her exoteric work is drawing to a close and this also is an idea to which you are well accustomed.

Một số đệ tử được tuyển chọn từ cả năm ashram này đã hoặc sẽ được huấn luyện để làm công việc tiếp xúc với công chúng. Nhiều người trong số họ (có lẽ là đa số) hoàn toàn xa lạ với em. Một số người thì em biết. Ở đây, Tôi không nói đến A.A.B., người mà em biết công việc ngoại môn, còn Chúng Tôi biết rõ công việc nội môn của bà. Công việc ngoại môn của bà đang đi đến hồi kết, và đây cũng là một ý tưởng mà em đã quen thuộc.

14. We see that disciples from all five Ashrams are involved in this Externalization work. The public must be contacted and some disciples are picked or chosen to do so.

14. Chúng ta thấy các đệ tử từ cả năm ashram đều tham gia công việc Hiển Lộ này. Cần tiếp xúc với công chúng, và một số đệ tử được tuyển chọn hay lựa chọn để làm việc đó.

15. DK is trying to widen the consideration so the members of the Lucis Trust do not think they are the only ones involved in preparing the way for the Reappearance.

15. Chân sư DK đang cố gắng mở rộng cách nhìn để các thành viên của Lucis Trust không nghĩ rằng chỉ có họ tham gia dọn đường cho sự Tái Lâm.

16. DK is preparing the way for AAB’s transition. He does this skillfully, making it seem the most natural thing.

16. Chân sư DK đang dọn đường cho sự chuyển tiếp của AAB. Ngài thực hiện điều này một cách khéo léo, khiến nó có vẻ là điều tự nhiên nhất.

17. At the same time, He teaches much about the distinction between exoteric and esoteric work, hinting at the importance of AAB’s esoteric work. Elsewhere, He speaks of its importance. And yet it was totally unknown to most of her co-workers.

17. Đồng thời, Ngài dạy nhiều điều về sự phân biệt giữa công việc ngoại môn và nội môn, gợi ý tầm quan trọng của công việc nội môn của AAB. Ở nơi khác, Ngài nói đến tầm quan trọng của công việc ấy. Thế nhưng, hầu hết các cộng sự của Bà hoàn toàn không biết gì về nó.

18. Master DK is interested in a smooth transition at AAB’s passing. It occurred a little more than a year after the writing of this particular letter.

18. Chân sư DK quan tâm đến một sự chuyển tiếp êm thấm khi AAB qua đời. Việc ấy xảy ra hơn một năm sau khi bức thư này được viết.

19. In any case, the Master’s words broaden the consciousness and decentralize the participants in the Externalization and Reappearance process.

19. Dù sao đi nữa, những lời của Chân sư mở rộng tâm thức và giúp những người tham gia tiến trình Hiển Lộ và Tái Lâm phi tập trung vào bản thân.

You, my brother, have ahead of you the consolidating of all the work which A.A.B. has started for Us. I refer specifically to the new teaching, embodied in the books which she has published, to the work of the Triangles and the work of Goodwill. I refer also to the counsel and help which you will give to the younger key people, as they endeavour to adapt the Arcane School to the pattern of the new teaching which I have given and which will eventually sweep the world (if the work is properly handled) and thus prepare the people for the new world religion. R.S.U. has also been designated for this work of preparation and—in my instruction to her—I shall indicate certain basic attitudes which she must develop and hold as she stands steadily with you and with the younger key people. I particularly want her to work with them because she is a true esotericist and the Arcane School is fundamentally an esoteric school.

Huynh đệ của tôi, trước mắt em là việc củng cố toàn bộ công việc mà A.A.B. đã khởi sự cho Chúng Tôi. Tôi đặc biệt nói đến giáo huấn mới, thể hiện trong những cuốn sách bà đã xuất bản, đến công việc của các Tam Giác và công việc Thiện Chí. Tôi cũng nói đến sự tư vấn và giúp đỡ mà em sẽ dành cho những người nòng cốt trẻ tuổi hơn, khi họ nỗ lực điều chỉnh Trường Arcane theo mô hình của giáo huấn mới mà Tôi đã truyền dạy, vốn cuối cùng sẽ lan khắp thế giới (nếu công việc được tiến hành đúng đắn), qua đó chuẩn bị mọi người cho tôn giáo thế giới mới. R.S.U. cũng đã được chỉ định cho công việc chuẩn bị này và—trong huấn thị dành cho bạn ấy—Tôi sẽ chỉ ra một số thái độ căn bản mà bạn ấy phải phát triển và duy trì khi kiên định sát cánh cùng em và những người nòng cốt trẻ tuổi hơn. Tôi đặc biệt muốn bạn ấy làm việc với họ vì bạn ấy là một nhà bí truyền học đích thực, và Trường Arcane về căn bản là một trường nội môn.

20. Much responsibility is being placed on JWK-P’s shoulders. DK reiterates its nature. The various aspects of the work of the Lucis Trust are to be left in JWK-P’s care.

20. Nhiều trách nhiệm đang được đặt lên vai JWK-P. Chân sư DK nhắc lại bản chất của trách nhiệm ấy. Các phương diện khác nhau trong công việc của Lucis Trust sẽ được giao cho JWK-P trông nom.

21. JWK-P, although he is not along the second ray line (in his soul), is to offer counsel to those who are up and coming—the “younger key people”. The Arcane School has gone through many phases. Some of the later teaching of the Tibetan is very advanced and, at length, the Arcane School would have to reflect that.

21. Mặc dù JWK-P không thuộc tuyến cung hai (về linh hồn), ông phải cố vấn cho những người đang vươn lên—những “nhân sự nòng cốt trẻ hơn”. Trường Arcane đã trải qua nhiều giai đoạn. Một số giáo huấn về sau của Chân sư Tây Tạng rất cao cấp, và cuối cùng Trường Arcane sẽ phải phản ánh điều đó.

22. The “new teaching” was eventually to “sweep the world”. Did it do so? Probably, it did. Probably this great teaching has reached with profit many who do not acknowledge it. The Blue Books are now everywhere, including “on line”. They are available to all, and many gain inspiration from this incomparable source. Apparently, the work was “properly handled”. JWK-P was in the habit of handling things properly.

22. “Giáo huấn mới” cuối cùng sẽ “lan khắp thế giới”. Điều đó đã xảy ra chưa? Có lẽ đã xảy ra. Có lẽ giáo huấn vĩ đại này đã đến với nhiều người và đem lại lợi ích cho họ, dù họ không thừa nhận điều ấy. Những cuốn Sách Xanh hiện có ở khắp nơi, kể cả “trực tuyến”. Ai cũng có thể tiếp cận chúng, và nhiều người nhận được cảm hứng từ nguồn vô song này. Dường như công việc đã được “xử lý đúng cách”. JWK-P có thói quen xử lý mọi việc đúng đắn.

23. How interesting that the new teaching is to prepare people for the New World Religion! There is much more to this “religion” than one would think. Esoteric thinking must underlie it, and it must be based on the Science of Cycles (involving both ray and astrological cycles).

23. Thật thú vị khi giáo huấn mới sẽ chuẩn bị mọi người cho Tôn Giáo Thế Giới Mới! “Tôn giáo” này chứa đựng nhiều điều hơn người ta có thể nghĩ. Tư duy nội môn phải làm nền tảng cho nó, và nó phải dựa trên Khoa Học về các Chu Kỳ (bao gồm cả chu kỳ cung lẫn chu kỳ chiêm tinh).

24. DK is trying to set up a relation between JWK-P on the first ray and RSU on the second. They were to work together. JWK-P presumably was to head the Lucis trust and supervise World Goodwill and Triangles as well as all financial matters. RSU was to be in charge of the Arcane School.

24. Chân sư DK đang cố gắng thiết lập mối liên hệ giữa JWK-P thuộc cung một và RSU thuộc cung hai. Họ sẽ làm việc cùng nhau. Có lẽ JWK-P sẽ đứng đầu Lucis Trust và giám sát Thiện Chí Thế Giới cùng Tam Giác, cũng như mọi vấn đề tài chính. RSU sẽ phụ trách Trường Arcane.

25. Unfortunately, this did not come to pass as DK had envisioned. There was a split in this work during the early 1950’s and RSU, along with several other disciples form Lucis Trust Headquarters, formed the School for Esoteric Studies (a very worthy effort which still continues its service as an esoteric school).

25. Tiếc thay, điều này đã không diễn ra như Chân sư DK hình dung. Công việc này đã xảy ra sự chia rẽ vào đầu thập niên 1950, và RSU, cùng một số đệ tử khác từ Trụ Sở Lucis Trust, đã thành lập Trường Nghiên Cứu Nội Môn (một nỗ lực rất đáng trân trọng vẫn tiếp tục phụng sự với tư cách một trường nội môn).

26. It is hard to keep those on second and first ray lines working together with understanding. DK, it would seem, foresaw the dangers and tried to avert them.

26. Thật khó duy trì sự cộng tác trong tinh thần thấu hiểu giữa những người thuộc tuyến cung hai và cung một. Dường như Chân sư DK đã thấy trước những nguy cơ và cố gắng ngăn ngừa chúng.

27. RSU was also an advanced disciple. She had many hard-line rays 23-117, and was well suited for continued work along the second ray line. All could have worked out harmoniously, but without AAB to “hold it together”, and without the reliable presence of the Tibetan in writing (for AAB was gone), the marriage between the first and second ray did not hold. We cannot say it could not—only that it did not.

27. RSU cũng là một đệ tử tiến hóa cao. Bà có nhiều cung thuộc tuyến cứng 23-117, và rất thích hợp để tiếp tục công việc theo tuyến cung hai. Mọi việc lẽ ra có thể diễn ra hài hòa, nhưng khi không còn AAB để “giữ mọi người gắn kết”, và không còn sự hiện diện đáng tin cậy của Chân sư Tây Tạng qua văn bản (vì AAB đã qua đời), sự kết hợp giữa cung một và cung hai đã không bền vững. Chúng ta không thể nói rằng sự kết hợp ấy có thể không bao giờ bền vững—chỉ có thể nói rằng nó đã không bền vững.

28. There also seems to be a statement about maintaining the quality of the Arcane School as an esoteric school. When the founder of an organization dies, there may be a general dilution of the original intention. DK sought to keep it on track, making sure that a deeply esoteric second ray touch remained with the school

28. Dường như cũng có một lời khẳng định về việc duy trì phẩm tính của Trường Arcane như một trường nội môn. Khi người sáng lập một tổ chức qua đời, ý định ban đầu có thể bị phai nhạt trên diện rộng. Chân sư DK tìm cách giữ trường đi đúng hướng, bảo đảm rằng một ảnh hưởng cung hai mang tính nội môn sâu sắc vẫn hiện diện trong trường

29. Some have said that those upon the second ray went to the SES, while those on the first ray remained with the Arcane School. Initially, and to some extent, this may have been the case, but it presents things in a manner too “cut and dried”. While Mary Bailey who presided over the Arcane School for thirty years or so was on the first ray, she was well anchored in the second ray and certainly respected the second ray approach (since it was, according to her estimation, her personality ray, and, reasonably, her monadic ray as well).

29. Một số người đã nói rằng những người thuộc cung hai chuyển sang SES, trong khi những người thuộc cung một ở lại Trường Arcane. Ban đầu, và ở một mức độ nào đó, có thể đúng là như vậy, nhưng cách trình bày ấy quá “rạch ròi, cứng nhắc”. Mặc dù Mary Bailey, người chủ trì Trường Arcane trong khoảng ba mươi năm, thuộc cung một, Bà vẫn bám rễ vững chắc trong cung hai và chắc chắn tôn trọng cách tiếp cận cung hai (vì theo nhận định của Bà, đó là cung phàm ngã của Bà và hợp lý mà nói, cũng là cung chân thần của Bà).

Another disciple, D.H.B., is also entrusted with a share in this special field of preparatory work; he is not, however, to be concerned with the Goodwill work, but in another field which I will indicate to him in his own instruction. I am not doing much more than mentioning W.W. because this is his first [598] cycle as an accepted disciple; the service which he has to do is already recognised by him and will provide a serious and important life work. It is my intention to give him a word of encouragement and of advice. I am mentioning all these disciples to you as they should all work in the closest cooperation with you and that lays upon you much responsibility. R.S.U. has for years worked side by side with you; she has come through her test triumphantly, and in the task of serving as a channel for esoteric light and information she is competent and likewise humble in her attitude.

Một đệ tử khác, D.H.B., cũng được giao đảm nhận một phần trong lĩnh vực chuẩn bị đặc biệt này; tuy nhiên, bạn ấy sẽ không tham gia công việc Thiện Chí, mà tham gia một lĩnh vực khác mà Tôi sẽ chỉ rõ cho bạn ấy trong huấn thị riêng. Tôi chỉ nhắc sơ qua về W.W. vì đây là chu kỳ đầu tiên của bạn ấy [598] với tư cách một đệ tử được chấp nhận; bạn ấy đã nhận ra công việc phụng sự mình phải làm, và đó sẽ là một công việc nghiêm túc, quan trọng trong đời. Tôi có ý định gửi đến bạn ấy đôi lời khích lệ và khuyên nhủ. Tôi nhắc đến tất cả những đệ tử này với em vì tất cả họ cần hợp tác hết sức chặt chẽ với em, và điều đó đặt lên em nhiều trách nhiệm. R.S.U. đã làm việc bên cạnh em trong nhiều năm; bạn ấy đã vượt qua thử thách một cách vẻ vang, và trong nhiệm vụ làm một kênh dẫn ánh sáng cùng thông tin nội môn, bạn ấy vừa có năng lực vừa có thái độ khiêm nhường.

30. The disciple DHB was another second ray disciple. He was in preparation for the third initiation. We see a number of these more responsible disciples either being prepared for the third degree or having taken it.

30. Đệ tử DHB là một đệ tử cung hai khác. Ông đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba. Chúng ta thấy một số đệ tử có trách nhiệm lớn hơn này hoặc đang chuẩn bị cho cấp độ thứ ba, hoặc đã đạt cấp độ ấy.

31. The best laid plans, however, sometimes do not develop as intended. It would seem that DHB, though, according to the Tibetan, a “friend of the Christ” (along the wisdom line), developed certain attitudes which rendered him less useful than earlier had been anticipated.

31. Tuy nhiên, đôi khi ngay cả những kế hoạch được chuẩn bị chu đáo nhất cũng không phát triển như dự định. Dường như DHB, dù theo Chân sư Tây Tạng là một “người bạn của Đức Christ” (theo tuyến minh triết), đã phát triển một số thái độ khiến ông kém hữu dụng hơn so với dự kiến trước đó.

32. As for W.W.—we do not know who this may be. There is, however, a man who has done an excellent service for the Tibetan’s Teaching. He became a prolific author, adapting the teaching in the Blue Books to the understanding of those who were less learned esoterically. It is not (at this point) possible to tell whether this individual was W.W. (perhaps those close to him know), but this person certainly did undertake a “serious and important life work”, and did so with great persistence and success.

32. Còn về W.W.—chúng ta không biết đây có thể là ai. Tuy nhiên, có một người đàn ông đã phụng sự rất xuất sắc cho Giáo Huấn của Chân sư Tây Tạng. Ông trở thành một tác giả viết rất nhiều, điều chỉnh giáo huấn trong những cuốn Sách Xanh cho phù hợp với sự thấu hiểu của những người ít am tường huyền bí học hơn. Vào lúc này, chưa thể xác định người ấy có phải là W.W. hay không (có lẽ những người gần gũi với ông biết), nhưng người này chắc chắn đã đảm nhận một “sự nghiệp cả đời nghiêm túc và quan trọng”, và thực hiện với lòng kiên trì lớn lao cùng thành công đáng kể.

33. JWK-P is now being asked to come forward with the second ray virtues which DK has being trying to draw forth from him since the first. He is to be sufficiently magnetic to hold these various disciples in cooperative enterprise.

33. Giờ đây, JWK-P được yêu cầu thể hiện những đức tính cung hai mà Chân sư DK đã cố gắng khơi dậy nơi ông ngay từ đầu. Ông phải có đủ sức hút từ tính để giữ các đệ tử khác nhau này cùng tham gia công việc hợp tác.

34. DK affirms the value of RSU, reminding JWK-P of how she has worked side by side with him, and suggesting that this cooperative work should continue.

34. Chân sư DK khẳng định giá trị của RSU, nhắc JWK-P nhớ Bà đã làm việc sát cánh cùng ông như thế nào, và gợi ý rằng công việc hợp tác này nên tiếp tục.

35. Apparently RSU was strenuously tested. We will discuss the possible nature of such tests later when analyzing her instructions.

35. Dường như RSU đã trải qua những thử thách khắc nghiệt. Chúng ta sẽ bàn về bản chất có thể có của những thử thách ấy sau này, khi phân tích các huấn thị dành cho Bà.

36. In the way DK describes RSU, we can see some of her rays at work. She is a “channel for esoteric light and information”. This correlates with her third ray personality as it serves the second ray soul. She was a Capricorn individual (Capricorn Sun-sign) and apparently had achieved the humility for which that sign is renowned (among its more highly developed subjects).

36. Qua cách Chân sư DK mô tả RSU, chúng ta có thể thấy một số cung của Bà đang hoạt động. Bà là một “kênh truyền ánh sáng và thông tin nội môn”. Điều này tương ứng với phàm ngã cung ba của Bà khi phụng sự linh hồn cung hai. Bà là một người Ma Kết (có Mặt Trời ở dấu hiệu Ma Kết), và dường như đã đạt được đức khiêm nhường vốn làm nên danh tiếng của dấu hiệu ấy (ở những người phát triển cao hơn thuộc dấu hiệu này).

There is little else that I can say to you, brother of mine, save to tell you that you are trusted and that you will increasingly demonstrate the strength which comes to you from Shamballa, via your own Master. On that strength you may now draw. A.A.B. is quite correct when she says that your major hour of opportunity is now upon you as slowly she withdraws into that service which will (within the Ashram) enable K.H. to do more deeply spiritual work in collaboration with the Christ. It was to train her and thus enable her to do this that she undertook—alone and without my help—to found and organise the Arcane School; it gave her much needed training and experience and enabled her to demonstrate the quality of the teaching and that esoteric psychology which is the major task in each Ashram and particularly in the second ray Ashram.

Huynh đệ của tôi, Tôi không còn nhiều điều để nói với em, ngoài việc cho em biết rằng em được tin cậy và em sẽ ngày càng biểu lộ sức mạnh đến với em từ Shamballa, qua Chân sư của chính em. Giờ đây, em có thể vận dụng sức mạnh ấy. A.A.B. hoàn toàn đúng khi bà nói rằng giờ phút cơ hội lớn lao của em đã đến, trong lúc bà dần lui về công việc phụng sự mà (trong ashram) sẽ giúp Chân sư KH thực hiện công việc tinh thần sâu xa hơn, trong sự cộng tác với Đức Christ. Chính để rèn luyện bản thân và nhờ đó có khả năng làm điều này mà bà đã đảm nhận— một mình và không có sự giúp đỡ của Tôi —việc sáng lập và tổ chức Trường Arcane; công việc ấy đã đem lại cho bà sự rèn luyện và kinh nghiệm rất cần thiết, đồng thời giúp bà biểu lộ phẩm tính của giáo huấn và của Tâm Lý Học Nội Môn, vốn là nhiệm vụ chính trong mỗi ashram, đặc biệt là trong ashram cung hai.

37. This paragraph holds some amazing statements. The statement, “you are trusted” is a powerful affirmation of JWK-P’s value as a disciple.

37. Đoạn này chứa đựng một số lời phát biểu đáng kinh ngạc. Lời khẳng định “em được tin cậy” là một sự xác nhận mạnh mẽ về giá trị của JWK-P với tư cách đệ tử.

38. JWK-P’s line to Shamballa is open, via His Master, Morya. Clearly there is karma which connects these two, and it may go back to Old Testament times.

38. Tuyến liên hệ của JWK-P với Shamballa đang thông suốt, qua Chân sư của ông là Chân sư Morya. Rõ ràng có nghiệp quả kết nối hai vị, và mối liên hệ ấy có thể bắt nguồn từ thời Cựu Ước.

39. We are shown AAB moving on to still greater service, which will allow KH to do still more important work for the Christ. We see the chain of Hierarchy at work. Each Master is relieved for greater work by the ascent of some initiate below. This will apply to all disciples as well, who must learn to train their replacements.

39. Chúng ta thấy AAB tiến tới công việc phụng sự còn lớn lao hơn nữa, qua đó cho phép Chân sư KH thực hiện công việc còn quan trọng hơn cho Đức Christ. Chúng ta thấy chuỗi liên kết của Thánh đoàn đang vận hành. Mỗi Chân sư đều được giải phóng để đảm nhận công việc lớn lao hơn nhờ sự tiến lên của một điểm đạo đồ ở cấp dưới. Điều này cũng sẽ áp dụng cho tất cả các đệ tử, những người phải học cách huấn luyện người thay thế mình.

40. One of the inner reasons for the founding of the Arcane School is here given—to train AAB to do the work for KH which she was to do (after her passing, and perhaps in incarnations immediately ahead).

40. Ở đây, một trong những lý do bên trong của việc thành lập Trường Arcane được nêu ra—để huấn luyện AAB thực hiện công việc cho Chân sư KH mà Bà sẽ đảm nhận (sau khi Bà qua đời, và có lẽ trong những kiếp lâm phàm ngay sau đó).

41. It is important for us to note that AAB founded the Arcane School “alone and without my help”. Some have thought it was easier for AAB to establish the Arcane School because she was so close to Master DK. This statement sets the record straight.

41. Chúng ta cần lưu ý rằng AAB đã thành lập Trường Arcane “một mình và không có sự trợ giúp của Tôi”. Một số người từng nghĩ rằng việc thành lập Trường Arcane dễ dàng hơn đối với AAB vì Bà rất gần gũi với Chân sư DK. Lời khẳng định này làm sáng tỏ sự thật.

42. DK’s statement anent esoteric psychology is also of great importance; “that esoteric psychology which is the major task in each Ashram and particularly in the second ray Ashram”. One might have thought that esoteric psychology would be important only in the second ray Ashram or in the fourth, not in all.

42. Phát biểu của Chân sư DK về Tâm Lý Học Nội Môn cũng hết sức quan trọng: “Tâm Lý Học Nội Môn ấy vốn là nhiệm vụ chính trong mỗi ashram và đặc biệt trong ashram cung hai”. Người ta có thể từng nghĩ rằng Tâm Lý Học Nội Môn chỉ quan trọng trong ashram cung hai hoặc cung bốn, chứ không phải trong tất cả các ashram.

You ask if there is aught that you can do. There is above everything else, the handling of the energy which is now streaming forth—the energy of Love in its dynamic or electric form. It is the Will aspect of Love which the Christ will of necessity use this time when He comes; when He earlier came He employed the teaching aspect of the second ray and not the Will aspect. First ray disciples are peculiarly susceptible to the Will aspect of Love, and for these reactions you must watch and endeavour always to lay your emphasis not upon the Will—of this latter quality you have (for this incarnation) an adequate and full supply. Let your fellow workers catch from you the radiance of Love. That, my brother, will release the financial supply so sorely needed; it will be the harmlessness which you and your fellow servers [599] can demonstrate which will prove the needed agent. Proceed as usual, my tried and trusted brother.

Em hỏi liệu có điều gì em có thể làm hay không. Trên hết là việc vận dụng năng lượng hiện đang tuôn ra— năng lượng Bác ái dưới hình thức năng động hay điện. Đó là phương diện Ý Chí của Bác ái mà Đức Christ tất yếu sẽ sử dụng khi Ngài đến lần này; lần trước khi đến, Ngài đã sử dụng phương diện giáo huấn của cung hai chứ không phải phương diện Ý Chí. Các đệ tử cung một đặc biệt nhạy cảm với phương diện Ý Chí của Bác ái, và em phải theo dõi những phản ứng này, đồng thời luôn cố gắng không đặt trọng tâm vào Ý Chí—về phẩm tính sau cùng này, em đã có một nguồn cung đầy đủ và dồi dào (cho kiếp sống này). Hãy để những người cùng làm việc với em đón nhận ánh huy hoàng của Bác ái từ em. Huynh đệ của tôi, điều đó sẽ khai thông nguồn tài chính đang hết sức cần thiết; chính tính vô tổn hại mà em và những người cùng phụng sự [599] có thể biểu lộ sẽ là tác nhân cần thiết. Hãy tiếp tục như thường lệ, huynh đệ đã qua thử thách và được tin cậy của tôi.

43. Master DK gives JWK-P a hint about uniting his soul energy with the energy of his proposed second ray monad.

43. Chân sư DK gợi ý cho JWK-P về việc hợp nhất năng lượng linh hồn của ông với năng lượng của chân thần mà người bình giảng cho là thuộc cung hai.

44. 1DK is again relating the first and second rays for JWK-P’s instruction, but the purposes of instruction now go far beyond their individual usefulness.

44. 1Chân sư DK lại liên hệ cung một với cung hai để huấn thị JWK-P, nhưng lúc này mục đích của việc huấn thị vượt xa lợi ích riêng của chúng đối với cá nhân ông.

45. 1As a point of great interest to all, we are told that, when the Christ reappears, He will employ the “Will aspect of Love”, not the teaching aspect of the second ray as in His earlier appearance.

45. 1Một điểm rất đáng quan tâm đối với tất cả mọi người là chúng ta được cho biết rằng, khi Đức Christ tái lâm, Ngài sẽ sử dụng “phương diện Ý Chí của Bác ái”, chứ không phải phương diện giáo huấn của cung hai như trong lần xuất hiện trước.

46. 1DK enjoins upon JWK-P the recognition and utilization of the “Will aspect of Love”. He is warned away from emphasizing the Will, pure and simple. Were he to succeed, an important link would be made between his first ray soul and proposed second ray monad.

46. 1Chân sư DK yêu cầu JWK-P nhận biết và sử dụng “phương diện Ý Chí của Bác ái”. Ngài cảnh báo ông tránh nhấn mạnh Ý Chí thuần túy. Nếu ông thành công, một mối liên kết quan trọng sẽ hình thành giữa linh hồn cung một và chân thần được cho là thuộc cung hai của ông.

47. 1It is not that JWK-P had enough Will forever. But for the present incarnation it was enough, and did not need augmentation.

47. 1Điều này không có nghĩa là JWK-P đã có đủ Ý Chí cho mãi mãi. Nhưng đối với kiếp lâm phàm hiện tại, như thế là đủ và không cần tăng cường thêm.

48. 1DK wants the “radiance of Love” to pour forth from this trusted disciple.

48. 1Chân sư DK muốn “ánh huy hoàng của Bác ái” tuôn trào từ người đệ tử đáng tin cậy này.

49. 1As an incentive JWK-P is advised that the outgoing radiance of Love will “release the financial supply so sorely needed”.

49. 1Để khích lệ JWK-P, Ngài cho ông biết rằng ánh huy hoàng của Bác ái tỏa ra sẽ “khai thông nguồn tài chính đang hết sức cần thiết”.

50. 1The Master links harmless to financial supply. It would seek that JWK-P must always have a good reason for putting his trust in the energy of Love, and Master DK usually supplies a more than adequate reason.

50. 1Chân sư liên kết tính vô tổn hại với nguồn tài chính. Dường như JWK-P luôn cần có một lý do chính đáng để đặt niềm tin vào năng lượng Bác ái, và Chân sư DK thường đưa ra một lý do còn hơn cả thỏa đáng.

51. 1DK’s valuation of JWK-P is high. This disciple is regarded as “tried and trusted”. The Tibetan seems to make more affirmative statements in the instructions to JWK-P than in any other series.

51. 1Chân sư DK đánh giá cao JWK-P. Người đệ tử này được xem là “đã qua thử thách và đáng tin cậy”. Dường như Chân sư Tây Tạng đưa ra nhiều lời khẳng định tích cực trong những huấn thị dành cho JWK-P hơn trong bất kỳ loạt huấn thị nào khác.

This instruction may perhaps disappoint you. I asked A.A.B. what she believed conditioned my response to your question. She replied: "You trust in his understanding, self-discipline and consecration." She was right. I have no distrust in you at all. So, my brother, I can advise naught, for you need not my advice; I—your friend and companion—can only suggest that you proceed as usual upon your way, remembering always to keep a recognised and conscious link with your Master.

Huấn thị này có lẽ sẽ khiến em thất vọng. Tôi đã hỏi A.A.B. rằng theo bà, điều gì đã định hình lời đáp của Tôi trước câu hỏi của em. Bà trả lời: “Ngài tin vào sự thấu hiểu, tính tự kỷ luật và lòng thánh hiến của ông ấy.” Bà đã nói đúng. Tôi hoàn toàn không nghi ngại em. Vì vậy, huynh đệ của tôi, Tôi không có lời khuyên nào, vì em không cần lời khuyên của Tôi; Tôi—người bạn và người đồng hành của em—chỉ có thể gợi ý rằng em hãy tiếp tục bước đi như thường lệ trên con đường của mình, luôn nhớ duy trì một mối liên kết được nhận biết rõ và có ý thức với Chân sư của em.

52. 1From the beginning of this instruction, the impersonal tone was adopted. It was more an instruction to all than to one, and dealt with matters concerning the Externalization, the Reappearance and the Plan.

52. 1Ngay từ đầu huấn thị này, giọng điệu phi cá nhân đã được sử dụng. Đây là một huấn thị dành cho tất cả mọi người hơn là cho một người, và bàn đến những vấn đề liên quan đến sự Hiển Lộ, sự Tái Lâm và Thiên Cơ.

53. 1Why might this instruction “disappoint” JWK-P? Because it was not “personal” enough? DK is paying him a compliment by saying that he is not in need of the advice of his elder brother.

53. 1Tại sao huấn thị này có thể khiến JWK-P “thất vọng”? Vì nó chưa đủ “riêng tư” chăng? Chân sư DK đang khen ngợi ông khi nói rằng ông không cần lời khuyên của người huynh trưởng mình.

54. 1We do not know the nature of the question proposed by JWK-P to DK, through AAB. Apparently DK’s response indicated complete trust in JWK-P. AAB affirmed this trust when saying of DK’s attitude towards JWK-P: “You trust in his understanding, self-discipline and consecration”.

54. 1Chúng ta không biết bản chất câu hỏi mà JWK-P đã gửi đến Chân sư DK thông qua AAB. Dường như câu trả lời của Chân sư DK cho thấy sự tin tưởng hoàn toàn vào JWK-P. AAB khẳng định niềm tin này khi nói về thái độ của Chân sư DK đối với JWK-P: “Ngài tin tưởng vào sự thấu hiểu, tính tự kỷ luật và sự thánh hiến của ông ấy”.

55. 1Apparently the question concerned advice that might be forthcoming from the Master. But no special advice was forthcoming. More than enough had been given in the past. What did come forth was a hearty “vote of confidence”.

55. 1Dường như câu hỏi liên quan đến lời khuyên mà Chân sư có thể đưa ra. Nhưng Ngài không đưa ra lời khuyên đặc biệt nào. Trong quá khứ, Ngài đã đưa ra quá đủ rồi. Điều Ngài thực sự đưa ra là một “lời bày tỏ tín nhiệm” đầy nhiệt thành.

56. 1These appear to be the last words for JWK-P from DK through AAB. In a book written in the 1950’s JWK-P mentioned that the Master had assured him there would be no third world war (at least at that time), so perhaps some kind of contact remained after AAB’s passing.

56. 1Đây dường như là những lời cuối cùng Chân sư DK gửi đến JWK-P thông qua AAB. Trong một cuốn sách viết vào những năm 1950, JWK-P đề cập rằng Chân sư đã bảo đảm với ông sẽ không có cuộc thế chiến thứ ba (ít nhất là vào thời điểm đó), nên có lẽ một hình thức liên lạc nào đó vẫn được duy trì sau khi AAB qua đời.

57. 1DK is putting things in proportion when He speaks of JWK-P as “my friend and companion”. It would seem that JWK-P stands within the Hierarchy to some degree—probably at the third degree.

57. 1Chân sư DK đang đặt mọi việc vào đúng tỉ lệ khi Ngài gọi JWK-P là “người bạn và người đồng hành của tôi”. Dường như JWK-P đã có vị trí trong Thánh đoàn ở một cấp độ nào đó—có lẽ là cấp độ thứ ba.

58. 1If Hierarchy is “friendship in its purest sense”, JWK-P is now acknowledged as a friend of the Master. DHB was called a “friend of the Christ”. The term “friend” is not used in a sentimental way and has occult meaning.

58. 1Nếu Thánh đoàn là “tình bằng hữu theo nghĩa thuần khiết nhất”, thì giờ đây JWK-P được thừa nhận là một người bạn của Chân sư. DHB từng được gọi là “người bạn của Đức Christ”. Từ “người bạn” không được dùng theo nghĩa tình cảm và có ý nghĩa huyền bí.

59. 1DK’s last words recommend JWK-P to his own Master, the Master M. This final sentence seems to be returning or restoring JWK-P to his Master after some seventeen years of work in Master DK’s Ashram.

59. 1Những lời cuối của Chân sư DK hướng JWK-P về với Chân sư của chính ông, Chân sư M. Câu cuối này dường như đưa JWK-P trở về hoặc khôi phục ông về với Chân sư của mình sau khoảng mười bảy năm làm việc trong ashram của Chân sư DK.

60. 1The principle is important for all disciples: keep a close link with your Master. The link should be both “recognized and conscious”. At JWK-P’s level of development this was possible.

60. 1Nguyên tắc này quan trọng đối với tất cả các đệ tử: hãy duy trì mối liên kết mật thiết với Chân sư của mình. Mối liên kết ấy cần vừa “được nhận biết rõ vừa có ý thức”. Ở trình độ phát triển của JWK-P, điều này là khả thi.

61. 1In these instructions we see how a Master on the second ray worked intimately with a disciple/initiate on the first ray. We see with what care and respect the Master proceeded, and how much benefit accrued to the disciple through his association with this second ray Master. All these ‘ashramic loans’ and temporary affiliations are planned and foreseen. In this particular case, the arrangement worked out unusually well, both to the benefit of AAB and the Lucis Trust, but, presumably, for Master M’s Ashram as well—an Ashram in which JWK-P is destined to play a significant role

61. 1Trong những huấn thị này, chúng ta thấy một Chân sư cung hai đã làm việc mật thiết với một đệ tử/điểm đạo đồ cung một như thế nào. Chúng ta thấy Chân sư đã tiến hành công việc với biết bao sự quan tâm và tôn trọng, và người đệ tử đã nhận được nhiều lợi ích đến mức nào qua mối liên hệ với vị Chân sư cung hai này. Tất cả những việc ‘cho mượn đệ tử giữa các ashram’ và những mối liên kết tạm thời này đều được hoạch định và dự kiến trước. Trong trường hợp cụ thể này, sự sắp xếp ấy đã mang lại kết quả tốt đẹp khác thường, đem lại lợi ích cho cả AAB lẫn Lucis Trust, và có lẽ cả cho ashram của Chân sư M.—một ashram mà JWK-P được định sẵn sẽ đảm nhận một vai trò quan trọng