Trích nội dung chương
1. The meanings of the letters in RSU’s ‘Developmental Formula’ are: Restraint, Strength, and Understanding. The emphasis is placed upon the word “Restraint”, although, interestingly, RSU had no evident sixth ray in her ray formula. 1. Ý nghĩa của các chữ cái trong ‘Công thức Phát triển’ của RSU là: Kiềm chế, Sức mạnh và Thấu hiểu. Trọng tâm đặt vào từ “Kiềm chế”, mặc dù điều đáng chú ý là trong công thức cung của RSU không thấy rõ cung sáu.
Commentary on R.S.U. – Bình giảng về R.S.U.
1. The meanings of the letters in RSU’s ‘Developmental Formula’ are: Restraint, Strength, and Understanding. The emphasis is placed upon the word “Restraint”, although, interestingly, RSU had no evident sixth ray in her ray formula.
1. Ý nghĩa của các chữ cái trong ‘Công thức Phát triển’ của RSU là: Kiềm chế, Sức mạnh và Thấu hiểu. Trọng tâm đặt vào từ “Kiềm chế”, mặc dù điều đáng chú ý là trong công thức cung của RSU không thấy rõ cung sáu.
2. The ray formula of RSU is as follows: 23-117
2. Công thức cung của RSU như sau: 23-117
a) Soul: second ray of Love-Wisdom
a) Linh hồn: cung hai của Bác Ái – Minh Triết
b) Personality: third ray of Creative Intelligence
b) Phàm ngã: cung ba của Trí Tuệ Sáng Tạo
c) Mind: first ray of Will and Power
c) Thể trí: cung một của Ý Chí và Quyền Năng
d) Astral: first ray of Will and Power
d) Thể cảm dục: cung một của Ý Chí và Quyền Năng
e) Etheric-Physical Body: seventh ray of Order and Ceremonial Magic
e) Thể dĩ thái-thể xác: cung bảy của Trật Tự và Huyền Thuật Nghi Lễ
3. Despite no evidence of the sixth ray in RSU’s ray profile, much sixth ray seems to exist; perhaps, in fact, a great deal as a legacy energy. This could be one reason for the choice of a first ray astral influence. It would contribute to the necessary “Restraint” which DK indicates as the primary term of the ‘Developmental Formula’. The first ray can have a very restraining effect upon the sixth ray. Capricorn also is a sign of restraint.
3. Mặc dù không có dấu hiệu của cung sáu trong cấu hình cung của RSU, dường như vẫn có nhiều năng lượng cung sáu; thực ra, có lẽ rất nhiều năng lượng ấy còn lưu lại từ trước. Đây có thể là một lý do để lựa chọn ảnh hưởng của cung một lên thể cảm dục. Ảnh hưởng này sẽ góp phần tạo nên sự “Kiềm chế” cần thiết mà Chân sư DK chỉ ra là thuật ngữ chủ yếu trong ‘Công thức Phát triển’. Cung một có thể tạo tác động kiềm chế rất mạnh lên cung sáu. Ma Kết cũng là một dấu hiệu của sự kiềm chế.
4. The birth data of RSU is as follows: January 16, 1883, Budapest, Hungary.
4. Dữ liệu ngày sinh của RSU như sau: ngày 16 tháng 1 năm 1883, Budapest, Hungary.
5. The chart has been rectified by Elena Dramchini for 15:32 CET, or 3:32 pm. This was her first rectification. She later changed the rectification time to 15:30 CET. The following analyses were done using the 15:32 time, but the reader should keep in mind that 15:30 is also a possibility and should evaluate which of the two charts seems more correct. The 15:30 chart will be used for progressions, directions and transits. It is located between the first of ED’s proposed charts, and another earlier chart for 15:26 which I think should be considered in some respects. Local time was in effect in Hungary at that time, but standard time has been used. As long as the Ascendant is correct, either CET or local time can be used. This 15:30 chart will be considered the primary proposed chart. The 15:32 chart is very close, having the same Ascending degree and a slightly earlier MC.
5. Elena Dramchini đã hiệu chỉnh lá số cho giờ 15:32 CET, tức 3:32 chiều. Đây là lần hiệu chỉnh đầu tiên của bà. Sau đó, bà đổi giờ hiệu chỉnh thành 15:30 CET. Những phân tích dưới đây sử dụng giờ 15:32, nhưng độc giả cần lưu ý rằng 15:30 cũng là một khả năng và nên đánh giá xem lá số nào trong hai lá số có vẻ chính xác hơn. Lá số 15:30 sẽ được dùng cho các tiến trình, chỉ hướng và quá cảnh. Lá số này nằm giữa lá số đầu tiên do ED đề xuất và một lá số khác sớm hơn, cho giờ 15:26, mà tôi nghĩ cần được xem xét ở một vài phương diện. Vào thời điểm ấy, Hungary sử dụng giờ địa phương, nhưng ở đây đã dùng giờ chuẩn. Miễn là Điểm mọc chính xác, có thể dùng giờ CET hoặc giờ địa phương. Lá số 15:30 này sẽ được xem là lá số đề xuất chính. Lá số 15:32 rất gần với lá số này, có cùng độ số Điểm mọc và Thiên Đỉnh sớm hơn đôi chút.
6. Another birth-time quite close to the one proposed is proposed as a secondary possibility: 15:26, CET. Evidence between them must be weighed. Presently the evidence is greatest for the primary chart, but a few features of the secondary chart may be worthy of consideration. Between these two charts, we probably have the birth time within five or six minutes.
6. Một giờ sinh khác khá gần với giờ đã đề xuất cũng được đưa ra như một khả năng phụ: 15:26 CET. Cần cân nhắc bằng chứng cho từng lá số. Hiện nay, bằng chứng nghiêng nhiều nhất về lá số chính, nhưng một vài đặc điểm của lá số phụ có thể đáng xem xét. Với hai lá số này, có lẽ chúng ta đã xác định được giờ sinh trong khoảng năm hoặc sáu phút.
7. The main astrological features of RSU’s chart are the proposed Cancer Ascendant, the Sun in Capricorn and the Moon in Taurus. These are signs in which the Moon rules (Cancer), is in detriment (Capricorn) or is exalted (Taurus).
7. Những đặc điểm chiêm tinh chính trong lá số của RSU là Điểm mọc Cự Giải được đề xuất, Mặt Trời ở Ma Kết và Mặt Trăng ở Kim Ngưu. Đây là những dấu hiệu mà trong đó Mặt Trăng cai quản (Cự Giải), ở thế tù (Ma Kết) hoặc ở thế vượng (Kim Ngưu).
8. We should also note a tremendous preponderance of the element, earth, with seven of the usual planets in earth placements, and Chiron as well. The resistance to change typical of the earth element (in this case, physical change) was one of RSU’s greatest problems.
8. Chúng ta cũng cần lưu ý sự vượt trội áp đảo của nguyên tố đất, với bảy hành tinh thường dùng nằm ở các vị trí thuộc hành thổ, cùng với Chiron. Sự kháng cự thay đổi đặc trưng của nguyên tố đất (trong trường hợp này là thay đổi về thể chất) là một trong những vấn đề lớn nhất của RSU.
9. The meanings of the various astrological positions are referenced at various points in this document.
9. Ý nghĩa của các vị trí chiêm tinh khác nhau được đề cập tại nhiều chỗ trong tài liệu này.
10. The justification for the primary proposed rectification will appear in ED’s analysis of RSU’s first series of instructions from the Tibetan from DINA I.
10. Cơ sở cho việc hiệu chỉnh chính được đề xuất sẽ xuất hiện trong phần ED phân tích loạt huấn thị đầu tiên mà Chân sư Tây Tạng gửi cho RSU trong DINA I.
11. RSU (Regina Keller to whom the book Discipleship in the New Age, Vol. I was dedicated) was one of Alice Bailey’s closest coworkers, and was responsible for bringing many of the AAB books into preparation for publication:
11. RSU (Regina Keller, người được đề tặng cuốn Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I) là một trong những cộng sự thân cận nhất của Alice Bailey và chịu trách nhiệm đưa nhiều sách của AAB vào giai đoạn chuẩn bị xuất bản:
12. This is the Dedication written by AAB on the frontispiece of DINA I:
12. Đây là lời đề tặng do AAB viết ở trang đầu của DINA I:
“DEDICATED TO REGINA KELLER
“KÍNH TẶNG REGINA KELLER
a fellow-disciple who for more than twenty years has walked with me upon the Way
một đệ tử đồng môn đã cùng tôi bước trên Đường Đạo hơn hai mươi năm
13. As always, however, we will continue to refer to this disciple (and all disciples) in terms of their three or four-letter ‘Developmental Formula’. Doing so is the proper impersonal approach and places the attention on soul qualities rather than on a personality with its very temporary given name.
13. Tuy nhiên, như thường lệ, chúng ta sẽ tiếp tục gọi người đệ tử này (và mọi đệ tử) bằng ‘Công Thức Phát Triển’ gồm ba hoặc bốn chữ cái của họ. Làm như vậy là cách tiếp cận vô ngã thích hợp, hướng sự chú ý vào các phẩm tính linh hồn thay vì vào một phàm ngã với tên gọi hết sức tạm thời của mình.
14. Below are the two her proposed astrological chart, rectified by Elena Dramchini. The 15:32 chart was consulted for the most part and it works unusually well in most cases (even better, in many cases, than the alternative chart proposed for 15:26). It does not however indicate her final and decisive crisis (in which she proved triumphant) with quite as much definition. We will also include the 15:30 chart in which ED came to have more confidence. We will call this chart (when need for distinction arises) the primary proposed chart. If reference is made simply to the “proposed chart” it means this first chart.
14. Dưới đây là hai lá số chiêm tinh được đề xuất cho bà, do Elena Dramchini hiệu chỉnh. Lá số 15:32 được tham khảo trong phần lớn các trường hợp và tỏ ra phù hợp một cách khác thường trong hầu hết các trường hợp (thậm chí, trong nhiều trường hợp, còn tốt hơn lá số thay thế được đề xuất cho giờ 15:26). Tuy nhiên, lá số này không thể hiện rõ nét bằng cuộc khủng hoảng cuối cùng và mang tính quyết định của bà (trong đó bà đã chiến thắng). Chúng ta cũng sẽ đưa vào lá số 15:30, lá số mà về sau ED tin tưởng hơn. Khi cần phân biệt, chúng ta sẽ gọi lá số này là lá số đề xuất chính. Nếu chỉ nhắc đến “lá số được đề xuất”, thì đó là lá số thứ nhất này.
15. Another astrological chart, for a slightly earlier time, is also entertained as a possibility due to certain aspects of Mars at the time of RSU’s most severe crisis in 1946-1947. We will call this chart the secondary proposed chart when need for distinction arises.
15. Một lá số chiêm tinh khác, cho giờ sinh sớm hơn đôi chút, cũng được xem xét như một khả năng do một số góc hợp của Sao Hỏa vào thời điểm RSU trải qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong những năm 1946–1947. Khi cần phân biệt, chúng ta sẽ gọi lá số này là lá số đề xuất phụ.
16. Those of you who own the Solar Fire Astrology Program are encouraged to enter one or both of the proposed charts in the Dynamic Quad-Wheel and follow the forthcoming discussion while looking at the progressions, directions and transits. If you do this, what is said below will have the maximum illuminative impact.
16. Những bạn có Chương trình Chiêm tinh Solar Fire nên nhập một hoặc cả hai lá số được đề xuất vào Bánh xe Bốn lớp Động và theo dõi phần thảo luận sắp tới trong khi quan sát các tiến trình, chỉ hướng và quá cảnh. Nếu làm như vậy, những điều trình bày dưới đây sẽ mang lại hiệu quả soi sáng tối đa.
Book I – Quyển I
November 1931 – Tháng Mười Một năm 1931
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
I have a word for you as you enter on a period of wide usefulness and increased service. You know well your weakness and your strength. There is little along these lines that I can tell you. Your failure is in application of knowledge to the situation. So oft with aspirants, the main weakness lies in one particular body and for you it is the disciplining of the physical body and an inability to apply your ideals to it at need. You treat it oft too well, and yet at times you alternate good treatment with periods when you treat your physical elemental with undue harshness. If you can bring about an evenness of treatment and a balanced method in your handling of your physical problem, much light and knowledge will pour through your brain consciousness. It lies in your hands and there is little that I can do. You are primarily along the occult line. You work with energy and, actually and mentally, you are fairly well controlled and coordinated. You need to work with the physical body and use it in the work you have to do and right there is where hindrance creeps in. You have rich opportunity ahead [356] of you and have earned it. Be not sidetracked but cultivate that one-pointedness which is one of your most vital assets.
Tôi có đôi lời dành cho em khi em bước vào một thời kỳ hữu ích rộng rãi và phụng sự nhiều hơn. Em biết rõ điểm yếu và sức mạnh của mình. Về những điều này, Tôi không có gì nhiều để nói với em. Em thất bại ở việc áp dụng tri thức vào hoàn cảnh. Với những người chí nguyện, điểm yếu chính thường nằm ở một thể cụ thể; còn đối với em, đó là việc rèn luyện kỷ luật cho thể xác và sự bất lực trong việc áp dụng những lý tưởng của em vào thể xác khi cần. Em thường đối xử với thể xác quá tốt, nhưng đôi lúc lại xen kẽ sự chăm sóc tốt ấy với những thời kỳ đối xử quá khắc nghiệt với tinh linh thể xác của mình. Nếu em có thể duy trì cách đối xử nhất quán và một phương pháp quân bình để xử lý vấn đề thể xác của mình, nhiều ánh sáng và tri thức sẽ tuôn qua tâm thức bộ não của em. Điều đó nằm trong tay em và Tôi chẳng thể làm được gì nhiều. Em chủ yếu đi theo đường lối huyền bí học. Em làm việc với năng lượng và, trong hành động cũng như về mặt trí tuệ, em có sự kiểm soát và phối hợp khá tốt. Em cần làm việc với thể xác và sử dụng nó trong công việc em phải làm; chính tại đó, trở ngại len vào. Em có cơ hội phong phú [356] ở phía trước và em đã xứng đáng có được cơ hội ấy. Đừng để mình chệch hướng, mà hãy vun bồi tính nhất tâm vốn là một trong những vốn quý thiết yếu nhất của em.
1. The first instruction begins by noting the beginning of a period of wide usefulness and increased service. Transiting Saturn giving opportunity is crossing the seventh house cusp (the point of serious relationships), TR-Jupiter is crossing the Progressed Ascendant, and the Progressed Moon is in the group sign, Aquarius. As well, life-transforming Pluto is just crossing the Cancer Ascendant by solar arc direction in the primary proposed chart and has crossed not long before in the secondary proposed chart. TR-Uranus (seen as the Master) is found to be squaring the proposed Ascendant/Descendant axis in both proposed charts.
1. Huấn thị đầu tiên mở đầu bằng việc ghi nhận sự khởi đầu của một giai đoạn hữu ích rộng rãi và gia tăng phụng sự. Sao Thổ quá cảnh, đem lại cơ hội, đang đi qua đỉnh nhà bảy (điểm của những mối quan hệ nghiêm túc); Sao Mộc quá cảnh đang đi qua Điểm mọc tiến trình, và Mặt Trăng tiến trình đang ở dấu hiệu của nhóm, Bảo Bình. Đồng thời, Sao Diêm Vương, hành tinh chuyển đổi đời sống, vừa đi qua Điểm mọc Cự Giải theo nhật cung tiến trình trong lá số đề xuất chính, và đã đi qua đó không lâu trước trong lá số đề xuất phụ. Sao Thiên Vương quá cảnh (được xem là Chân sư) đang tạo góc vuông với trục Điểm mọc/Điểm lặn được đề xuất trong cả hai lá số.
2. It is the Tibetan’s task to stimulate His chela to the greatest degree of service possible.
2. Nhiệm vụ của Chân sư Tây Tạng là kích thích đệ tử của Ngài đạt đến mức độ phụng sự cao nhất có thể.
3. We know from AAB’s dedication of DINA I to RSU that she has been a friend of and fellow disciple of AAB since at least 1924 and probably before that point. RSU is an experienced disciple. This becomes more evident as DK instructions to her unfold.
3. Qua lời AAB đề tặng DINA I cho RSU, chúng ta biết rằng bà đã là bạn và đệ tử đồng môn của AAB ít nhất từ năm 1924, và có lẽ còn trước thời điểm đó. RSU là một đệ tử giàu kinh nghiệm. Điều này càng trở nên rõ ràng khi các huấn thị của Chân sư DK dành cho bà lần lượt được trình bày.
4. RSU is cognizant of her own strengths and weaknesses. However, she fails, so it would seem, to apply her knowledge to her personal situation.
4. RSU nhận biết những điểm mạnh và điểm yếu của chính mình. Tuy nhiên, dường như bà không áp dụng được tri thức của mình vào hoàn cảnh cá nhân.
5. DK seems to call her an “aspirant” even though she is a relatively advanced disciple. We remember, however, that Master DK’s task is to train “aspirants for initiation”, and surely RSU is one of those being prepared for a specific initiation.
5. Chân sư DK dường như gọi bà là một “người chí nguyện”, dù bà là một đệ tử tương đối tiến bộ. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng nhiệm vụ của Chân sư DK là huấn luyện “những người chí nguyện hướng đến điểm đạo”, và chắc chắn RSU là một trong những người đang được chuẩn bị cho một cuộc điểm đạo cụ thể.
6. DK immediately points out this disciple’s main weakness — the discipline of the physical body and the failure to apply her ideals to this body. We note that the Moon is in Taurus which so often, in the chart of a disciple, means that there will be a battle with the factor of inertia. We also note that the Moon is rather “by itself”, not making significant aspects with any of the other planets. It is as if the physical body is ‘isolated’ from the remainder of the energy system.
6. Chân sư DK lập tức chỉ ra điểm yếu chính của người đệ tử này — việc rèn luyện kỷ luật cho thể xác và sự thất bại trong việc áp dụng các lý tưởng của bà vào thể xác ấy. Chúng ta lưu ý rằng Mặt Trăng ở Kim Ngưu; trong lá số của một đệ tử, điều này rất thường hàm ý sẽ có một cuộc chiến với yếu tố trì trệ. Chúng ta cũng lưu ý rằng Mặt Trăng khá “đơn độc”, không tạo những góc hợp đáng kể với bất kỳ hành tinh nào khác. Dường như thể xác bị ‘cô lập’ khỏi phần còn lại của hệ thống năng lượng.
7. It may be that RSU is suffering from a syndrome which in present days we would call “bulimia” — “binge and purge”. Discussions in the middle 1980’s with the disciple RSW (who knew RSU very well on a personal basis), revealed that RSU used to enjoy “huge meals” (in the words of RSW). The factor of purging was not discussed, but the presence of a strong Capricorn and Virgo energy would incline to a perhaps harsh reaction to one’s own indulgence, just as the energies of Cancer and Taurus (supportive of the Moon) would promote indulgence.
7. Có thể RSU đang mắc một hội chứng mà ngày nay chúng ta gọi là “chứng cuồng ăn” — “ăn uống vô độ rồi tống xuất”. Những cuộc trao đổi vào giữa thập niên 1980 với đệ tử RSW (người rất thân quen với RSU trong đời sống cá nhân) cho biết RSU từng thích những “bữa ăn khổng lồ” (theo lời RSW). Yếu tố tống xuất không được bàn đến, nhưng sự hiện diện của năng lượng Ma Kết và Xử Nữ mạnh sẽ tạo khuynh hướng phản ứng có lẽ khá khắc nghiệt với sự nuông chiều bản thân, cũng như các năng lượng Cự Giải và Kim Ngưu (hỗ trợ Mặt Trăng) sẽ thúc đẩy sự nuông chiều ấy.
8. This is a most interesting example of an experienced disciple, well beyond the first initiation and perhaps near or beyond the second, having problems with the physical elemental — a matter which we would think should have been dealt with around the period of the first degree. But in the lives of individual disciples, the “rule” or generally expected conditions are not always to be seen.
8. Đây là một ví dụ hết sức thú vị về một đệ tử giàu kinh nghiệm, đã vượt xa lần điểm đạo thứ nhất và có lẽ đang gần hoặc đã vượt qua lần điểm đạo thứ hai, mà vẫn gặp vấn đề với tinh linh thể xác — một vấn đề mà chúng ta nghĩ lẽ ra phải được xử lý vào khoảng thời gian của cấp điểm đạo thứ nhất. Nhưng trong cuộc đời của từng đệ tử, không phải lúc nào cũng thấy “quy luật” hay những tình trạng thường được kỳ vọng.
9. We have noted over and again the tendency of DK to try to bring balance into the lives of His chelas. Here he is asking for a more “even” treatment of the physical elemental, assuring that “much light and knowledge will pour through your brain consciousness” if this is done. We can imagine that the soul-mind-brain alignment could be disrupted by a persistently uneven physical condition.
9. Chúng ta đã nhiều lần ghi nhận khuynh hướng của Chân sư DK là cố gắng đem sự quân bình vào cuộc sống của các đệ tử Ngài. Ở đây, Ngài yêu cầu đối xử với tinh linh thể xác một cách “đều đặn” hơn, bảo đảm rằng “nhiều ánh sáng và tri thức sẽ tuôn qua tâm thức bộ não của em” nếu làm được điều đó. Chúng ta có thể hình dung rằng sự chỉnh hợp linh hồn–thể trí–bộ não có thể bị gián đoạn do tình trạng thể chất liên tục thất thường.
10. The Master places the responsibility for remedying the situation in the hands of His chela. She must handle the situation. There is little He can do. We do note that, from the first, He has indicated the problem in no uncertain terms and will do so again and again.
10. Chân sư đặt trách nhiệm khắc phục tình trạng này vào tay đệ tử của Ngài. Bà phải xử lý tình trạng ấy. Ngài có thể làm được rất ít. Chúng ta quả có lưu ý rằng ngay từ đầu, Ngài đã chỉ rõ vấn đề một cách dứt khoát và sẽ còn làm như vậy nhiều lần nữa.
11. We see at least one of the meanings of the word, “Restraint” found in RSU’s ‘Developmental Formula’. This concept must be applied to her treatment of her physical elemental, in relation to which she goes to extremes. Given this extremism, it is interesting that she has no sixth ray in her ray chart. She does however have, with an almost exact trine between the two sixth ray planets, Mars (in Capricorn) and Neptune (in Taurus), plenty of sixth ray astrologically distributed. Sixth ray Mars is also an angular planet in the proposed charts, emphasizing its strength, as does its very low declination parallel to the Equatorial Descendant.
11. Chúng ta thấy ít nhất một trong những ý nghĩa của từ “Kiềm chế” trong ‘Công Thức Phát Triển’ của RSU. Khái niệm này phải được áp dụng vào cách bà đối xử với tinh linh thể xác, vì trong mối quan hệ với nó, bà đi đến những cực đoan. Với tính cực đoan này, thật thú vị khi bà không có cung sáu trong biểu đồ cung của mình. Tuy nhiên, với góc tam hợp gần như chính xác giữa hai hành tinh cung sáu, Sao Hỏa (ở Ma Kết) và Sao Hải Vương (ở Kim Ngưu), bà có rất nhiều năng lượng cung sáu phân bố về mặt chiêm tinh. Sao Hỏa cung sáu cũng là một hành tinh ở góc trong các lá số được đề xuất, làm nổi bật sức mạnh của nó; xích vĩ rất thấp của nó, song song với Điểm lặn Xích đạo, cũng có tác dụng như vậy.
12. DK tells RSU that she is primarily “along the occult line”. This is supported by the fact that all her rays, except the ray of the soul, are on the “hard-line” associated with occultism. Further, the planet of occultism (Uranus, in the sign Virgo) is prominent by conjuncting the proposed IC in both charts, and is trine to both the Sun and Saturn, as well as widely trine to Neptune (the planet of mysticism). In RSU’s nature, the mystic and the occultist could work in harmony (and, apparently, often did). We should not overlook the fact that Mercury (in universalizing Aquarius), the planet of the mind and intelligence, is in the eighth house so often associated with occultism.
12. Chân sư DK nói với RSU rằng bà chủ yếu “đi theo đường lối huyền bí học”. Điều này được củng cố bởi thực tế là mọi cung của bà, ngoại trừ cung linh hồn, đều thuộc “tuyến cứng” gắn với huyền bí học. Hơn nữa, hành tinh của huyền bí học (Sao Thiên Vương, ở dấu hiệu Xử Nữ) nổi bật nhờ đồng vị với Thiên Đế được đề xuất trong cả hai lá số, và tạo góc tam hợp với cả Mặt Trời lẫn Sao Thổ, cũng như góc tam hợp rộng với Sao Hải Vương (hành tinh của thần bí học). Trong bản chất của RSU, nhà thần bí và nhà huyền bí học có thể làm việc hài hòa (và dường như thường đã làm như vậy). Chúng ta không nên bỏ qua việc Sao Thủy (ở Bảo Bình có khuynh hướng phổ quát hóa), hành tinh của thể trí và trí thông minh, nằm ở nhà tám, vốn rất thường gắn với huyền bí học.
13. RSU, a worker with energy, has mental control and coordination. We note the quite close parallel of declination between two planets of the mind, Mercury and Venus (both in the Jupiterian signs Sagittarius and Aquarius {esoterically}), and the close sextile as well between these two. In addition, first ray minds frequently display the quality of mental control. The mind, therefore, is not the problem. We can expect a high degree of intelligence from RSU through her third ray personality and her favorable Mercury/Venus placements and aspects.
13. RSU, một người hoạt động với năng lượng, có sự kiểm soát và phối hợp về mặt trí tuệ. Chúng ta lưu ý sự song song xích vĩ khá sát giữa hai hành tinh của thể trí là Sao Thủy và Sao Kim (cả hai đều ở những dấu hiệu của Sao Mộc là Nhân Mã và Bảo Bình {theo nghĩa huyền bí}), đồng thời có góc lục hợp sát giữa hai hành tinh này. Ngoài ra, các thể trí cung một thường thể hiện phẩm tính kiểm soát trí tuệ. Vì vậy, vấn đề không nằm ở thể trí. Chúng ta có thể kỳ vọng RSU có mức độ thông minh cao nhờ phàm ngã cung ba cùng những vị trí và góc hợp thuận lợi của Sao Thủy/Sao Kim.
14. So, the accomplishments of the mind are accentuated and also the liabilities of the physical body (which must become the focus of corrective attention) so that it can be properly used in her work.
14. Vì vậy, những thành tựu của thể trí được nhấn mạnh, đồng thời cả những nhược điểm của thể xác (vốn phải trở thành trọng tâm của sự chú ý khắc phục), để thể xác có thể được sử dụng đúng cách trong công việc của bà.
15. The Tibetan again accents the rich opportunities now presented to RSU. He tells her she has “earned” these opportunities. Saturn (Lord of Karma) will, in this incarnation, always be an important planet for RSU (as she has the Sun in Capricorn ruled by Saturn), and Saturn by transit is prominent in the astrological chart during the period in which this letter is written. The position of transiting Saturn signals the fruition of the good karma of much labor. Certainly RSU is not afraid of work!
15. Một lần nữa, Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh những cơ hội phong phú hiện đang mở ra cho RSU. Ngài nói với bà rằng bà đã “xứng đáng có được” những cơ hội ấy. Trong kiếp này, Sao Thổ (Chúa Tể Nghiệp Quả) sẽ luôn là một hành tinh quan trọng đối với RSU (vì bà có Mặt Trời ở Ma Kết do Sao Thổ cai quản), và Sao Thổ quá cảnh nổi bật trong lá số chiêm tinh vào thời kỳ bức thư này được viết. Vị trí của Sao Thổ quá cảnh báo hiệu sự kết trái của nghiệp quả tốt từ nhiều công sức lao động. Chắc chắn RSU không ngại làm việc!
16. DK asks her to avoid side-tracking (He does not say in which way). Her third ray personality could contribute to side-tracking as could Jupiter (the soul-ray planet) in the sign of diversity, Gemini. But the first ray is strong in RSU’s make-up (perhaps recently having been a personality ray), and the one-pointedness of the first ray is considered to be one of her most vital assets. DK asks her to cultivate this. It does no good to have an asset unless it is utilized.
16. Chân sư DK yêu cầu bà tránh đi chệch hướng (Ngài không nói cụ thể theo cách nào). Phàm ngã cung ba của bà có thể góp phần khiến bà đi chệch hướng, cũng như Sao Mộc (hành tinh thuộc cung linh hồn) ở Song Tử, dấu hiệu của sự đa dạng. Nhưng cung một rất mạnh trong cấu tạo của RSU (có lẽ gần đây từng là cung phàm ngã), và tính nhất tâm của cung một được xem là một trong những vốn quý thiết yếu nhất của bà. Chân sư DK yêu cầu bà vun bồi điều này. Có một vốn quý cũng chẳng ích gì nếu không sử dụng nó.
One thing I would like to point out: In your breathing exercises which I noted as you worked this week, the lung and the inflation aspect is unduly emphasised and there is too much effort in what you do. The power and subtlety of the pranayama process lies in the potency of the thought behind the act of breathing and not at all really in the inflation and deflation of the torso. The whole thing is summed up in the aphorism, “Energy follows thought.” The main effect should be upon the etheric nadis which underlie the nerves, and not upon the bellows-like activity of the lungs. You are not getting the results which you should.... Your work lies largely with individuals and with the task of bringing solutions into life problems; you have the gift of strength to offer to others and the experience gained through many lives. This work can be increased if you deal with firmness, humour and perseverance with the vehicle which hinders you.
Có một điều Tôi muốn chỉ ra: Trong các bài tập thở mà Tôi quan sát khi em thực hành tuần này, em quá chú trọng đến phổi và việc căng phồng phổi, đồng thời dùng quá nhiều sức. Quyền năng và sự tinh tế của tiến trình điều tức nằm ở sức mạnh của tư tưởng đằng sau hành động thở, chứ thực ra hoàn toàn không nằm ở việc lồng ngực phồng lên và xẹp xuống. Toàn bộ điều này được đúc kết trong câu cách ngôn: “Năng lượng đi theo tư tưởng.” Tác động chính phải hướng vào các kinh mạch dĩ thái làm nền tảng cho các dây thần kinh, chứ không phải hoạt động như ống bễ của phổi. Em chưa đạt được những kết quả lẽ ra phải có.... Công việc của em phần lớn liên quan đến từng cá nhân và nhiệm vụ mang lại giải pháp cho các vấn đề trong đời sống; em có sức mạnh để trao tặng người khác và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều kiếp sống. Công việc này có thể mở rộng nếu em xử lý hiện thể đang cản trở mình bằng sự kiên quyết, óc hài hước và lòng kiên trì.
1. DK emphasizes a technical point; RSU’s approach to breathing exercises is too labored. He is calling for a more subtle approach. Perhaps this would be more easily achieved if her physical body were refined to the degree DK seems to think possible.
1. Chân sư DK nhấn mạnh một điểm kỹ thuật; cách RSU tiếp cận các bài tập thở quá gắng sức. Ngài kêu gọi một cách tiếp cận tinh tế hơn. Có lẽ điều này sẽ dễ đạt được hơn nếu thể xác của bà được tinh luyện đến mức mà Chân sư DK dường như cho là có thể.
2. The point concerning breathing exercises is addressed to all of us and is often repeated in DK’s teaching. Breathing exercises are not effective because of anything done exoterically, but because of subtle internal processes which are related to thought processes rather than to external actions.
2. Điểm liên quan đến các bài tập thở hướng đến tất cả chúng ta và thường được lặp lại trong giáo huấn của Chân sư DK. Các bài tập thở có hiệu quả nhờ những tiến trình tinh tế bên trong, liên quan đến các tiến trình tư tưởng hơn là các hành động bên ngoài, chứ không phải nhờ bất cứ điều gì được thực hiện theo cách ngoại môn.
3. This advice to RSU may, in general, signal the need for more delicacy and refinement of approach. A true occultist will have to learn to achieve vitalization through esoteric means.
3. Nhìn chung, lời khuyên này dành cho RSU có thể báo hiệu nhu cầu về một cách tiếp cận tế nhị và tinh luyện hơn. Một nhà huyền bí học chân chính sẽ phải học cách đạt được sự tiếp sinh lực bằng những phương tiện nội môn.
4. DK begins to speak of the results which RSU is to reap from her breathing exercises, but there has been an editorial deletion in the text so we cannot pursue the point further.
4. Chân sư DK bắt đầu nói về những kết quả mà RSU sẽ gặt hái từ các bài tập thở, nhưng văn bản đã có một phần bị biên tập lược bỏ, nên chúng ta không thể tiếp tục tìm hiểu điểm này.
5. RSU’s true work is mentioned. It is (at the time of this writing) with individuals. It is the work of problem-solving (well suited to the Capricorn temperament and the intelligent third ray personality).
5. Công việc đích thực của RSU được nhắc đến. Vào thời điểm viết những dòng này, đó là công việc với các cá nhân. Đó là công việc giải quyết vấn đề (rất phù hợp với khí chất Ma Kết và phàm ngã cung ba thông minh).
6. We note that DK speaks of the “gift of strength” which RSU may offer others. We note that “Strength” is the second term in her ‘Developmental Formula’.
6. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói đến “món quà sức mạnh” mà RSU có thể trao cho người khác. Chúng ta lưu ý rằng “Sức mạnh” là thuật ngữ thứ hai trong ‘Công Thức Phát Triển’ của bà.
7. Here is another hint concerning RSU’s rather extensive life experience. She can offer others “the experience gained through many lives”. Of course, all disciples have had many lives; we can, however, gather that RSU’s experience has been more extensive than that of most. We can see her, with her proposed Cancer Ascendant, in the role of counselor and advisor to others — offering practical advice through Capricorn and through the third and first rays and understanding advice through feeling-sensitive Cancer and the expression of her love-wisdom soul.
7. Đây là một gợi ý khác về kinh nghiệm sống khá sâu rộng của RSU. Bà có thể trao cho người khác “kinh nghiệm tích lũy qua nhiều kiếp sống”. Dĩ nhiên, mọi đệ tử đều đã trải qua nhiều kiếp sống; tuy nhiên, chúng ta có thể suy ra rằng kinh nghiệm của RSU sâu rộng hơn phần lớn các đệ tử khác. Với Điểm mọc Cự Giải được đề xuất, chúng ta có thể thấy bà trong vai trò người tư vấn và cố vấn cho người khác — đưa ra lời khuyên thực tiễn qua Ma Kết, cung ba và cung một, cùng những lời khuyên đầy thấu hiểu qua Cự Giải nhạy cảm về cảm xúc và sự biểu lộ của linh hồn bác ái–minh triết của bà.
8. A well-informed co-worker of mine suggested that RSU’s profession may have been that of a lawyer (which would fit given the strong seventh house emphasis). Elsewhere, DK refers to her as an “executive” — fitting with the Capricorn Sun and the third ray personality. (There were not so many third ray personalities in DK’s groups — in fact, only two, RSU and LFU, who was in the executive aspect of the work of the Lucis Trust.)
8. Một cộng sự am hiểu của tôi gợi ý rằng nghề nghiệp của RSU có thể là luật sư (điều này phù hợp với sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào nhà bảy). Ở một chỗ khác, Chân sư DK gọi bà là một “nhà điều hành” — phù hợp với Mặt Trời Ma Kết và phàm ngã cung ba. (Trong các nhóm của Chân sư DK không có nhiều phàm ngã cung ba — thực tế chỉ có hai người, RSU và LFU, người tham gia vào phương diện điều hành công việc của Lucis Trust.)
9. DK asks RSU to deal with the physical elemental through firmness, humor and perseverance. She is obviously to restrain her usual treatment of that elemental and to persist in a disciplined approach. She is also to avoid becoming too engrossed in her physical condition. Humor promotes detachment.
9. Chân sư DK yêu cầu RSU xử lý tinh linh thể xác bằng sự kiên định, óc hài hước và lòng kiên trì. Rõ ràng bà cần kiềm chế cách đối xử thông thường của mình với tinh linh ấy và kiên trì theo một cách tiếp cận có kỷ luật. Bà cũng cần tránh quá mải mê với tình trạng thể chất của mình. Óc hài hước thúc đẩy sự tách rời.
June 1933 – Tháng Sáu năm 1933
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
You have trodden the upward Way with greater speed of late. Your horizon is, therefore, wider and your outlook much more impersonal. Keep steadily on the move and let not inertia drag you down and set weights upon your feet. The work to be done is steadily increasing, brother of old, and you are needed in that work and needed more dynamically than heretofore. Grasp that idea and stand steadily with me in the work I seek to do. Be ready to give of your wisdom and power to unfold and teach when the need arises....
Gần đây, em đã bước nhanh hơn trên Con Đường đi lên. Vì vậy, chân trời của em rộng hơn và cách nhìn của em cũng vô ngã hơn nhiều. Hãy tiếp tục tiến bước đều đặn, đừng để tính trì trệ kéo em xuống và đè nặng đôi chân em. Huynh Đệ của Ngày Xưa, công việc cần làm đang không ngừng gia tăng, và công việc ấy cần đến em, cần em tham gia năng động hơn trước. Hãy nắm bắt ý tưởng đó và đứng vững bên Tôi trong công việc Tôi tìm cách thực hiện. Hãy sẵn sàng trao tặng minh triết và quyền năng của em để khai mở và giảng dạy khi nhu cầu xuất hiện....
1. When the Moon is found natally in Taurus, the question of overcoming inertia to achieve speed is ever a consideration.
1. Khi Mặt Trăng bản mệnh ở Kim Ngưu, vấn đề vượt qua tính trì trệ để đạt được tốc độ luôn cần được cân nhắc.
2. We note that in the primary proposed charts, the Vertex, or “Point of Fate” has progressed to a conjunction of Mars, the planet of speed.
2. Chúng ta lưu ý rằng trong các lá số đề xuất chính, Vertex, hay “Điểm Định Mệnh”, đã tiến trình đến vị trí đồng vị với Sao Hỏa, hành tinh của tốc độ.
3. The Tibetan has often told his disciples to “organize for speed”.
3. Chân sư Tây Tạng thường bảo các đệ tử của Ngài hãy “tổ chức để đạt tốc độ”.
4. Speed seems here to be related to breadth of vision and impersonality. We will see that RSU has considerable access to the abstract mind (through her extensive experience and her strong third ray). We do not yet know the ray of the monad, the but there is reason to propose the third ray (related as it is to the abstract mind with its broad, impersonal outlook).
4. Ở đây, tốc độ dường như liên quan đến tầm nhìn rộng và tính vô ngã. Chúng ta sẽ thấy RSU có khả năng tiếp cận đáng kể với trí trừu tượng (nhờ kinh nghiệm sâu rộng và cung ba mạnh của bà). Chúng ta chưa biết cung chân thần, nhưng có lý do để đề xuất cung ba (vì cung này liên hệ với trí trừu tượng cùng cách nhìn rộng và vô ngã của nó).
5. DK will find Himself always having to deal with the influence of four planets in Taurus, plus Chiron and the South Node. The weight of Taurus and its tendency to promote inertia are ever-present considerations for RSU.
5. Chân sư DK sẽ thấy Ngài luôn phải xử lý ảnh hưởng của bốn hành tinh ở Kim Ngưu, cộng thêm Chiron và Nút Nam. Sức nặng của Kim Ngưu và khuynh hướng thúc đẩy tính trì trệ của dấu hiệu này luôn là những điều cần cân nhắc đối với RSU.
6. It is curious that DK references the feet in this paragraph. The progressed Moon in just moving or has just moved into Pisces (the sign ruling the feet) — a sign prone to its own form of inertia and lassitude.
6. Thật thú vị khi Chân sư DK nhắc đến đôi chân trong đoạn này. Mặt Trăng tiến trình đang vừa chuyển hoặc đã vừa chuyển vào Song Ngư (dấu hiệu cai quản đôi chân) — một dấu hiệu dễ có dạng trì trệ và uể oải riêng của nó.
7. DK speaks of the work’s need for RSU. She is to learn to work more dynamically. Presumably, this will demand the more intense activation of her will, with which, given her ray formula, she should be well-endowed.
7. Chân sư DK nói rằng công việc cần RSU. Bà phải học cách làm việc năng động hơn. Có lẽ điều này sẽ đòi hỏi kích hoạt ý chí của bà mãnh liệt hơn; xét theo công thức cung của bà, hẳn bà có ý chí dồi dào.
8. She has wisdom, the power to unfold and the ability to teach. An editorial deletion cuts the remainder of the sentence and any sentences which may follow. We do know that RSU was not yet, in those days, an office worker in the Arcane School/Lucis Trust, but it is more than possible that she was involved in the “secretarial work”, and with the management of younger students. Later she certainly was involved in preparing and administering the higher degrees in the Arcane School, such as the “Fourth Degree”, “Weavers in the Light”. In the context of the developing work of an occult school, there would be plenty of opportunity to share her wisdom and teaching capacities.
8. Bà có minh triết, quyền năng khai mở và khả năng giảng dạy. Một phần lược bỏ khi biên tập đã cắt đi phần còn lại của câu cùng bất kỳ câu nào có thể theo sau. Chúng ta biết chắc rằng vào những ngày ấy, RSU chưa phải là nhân viên văn phòng tại Trường Arcane/Lucis Trust, nhưng rất có thể bà đã tham gia “công việc thư ký” và quản lý các đạo sinh trẻ hơn. Về sau, chắc chắn bà đã tham gia chuẩn bị và quản lý các cấp học cao hơn trong Trường Arcane, chẳng hạn như “Cấp Bốn”, “Những Người Dệt Trong Ánh Sáng”. Trong bối cảnh công việc của một trường huyền bí học đang phát triển, sẽ có rất nhiều cơ hội để bà chia sẻ minh triết và khả năng giảng dạy của mình.
In your early work in meditation you were told to sound the Sacred Word seven times consecutively. I wish you to take up now a sevenfold work upon the centres because some synthetic work will be helpful to you. I will not here outline it in detail as it is planned for individual need and is better not committed to writing for all to read. You will receive the needed instructions directly. Follow them with care and watch for the vitalisation of the physical body as a consequence, and be ready for increased service as time elapses. [357]
Trong giai đoạn đầu thực hành tham thiền, em đã được chỉ dẫn xướng Linh từ Thiêng liêng bảy lần liên tiếp. Giờ đây, Tôi muốn em bắt đầu một công việc thất phân trên các trung tâm, vì một công việc tổng hợp sẽ hữu ích cho em. Tôi sẽ không trình bày chi tiết ở đây, vì công việc này được hoạch định cho nhu cầu cá nhân và tốt hơn là không ghi thành văn để mọi người cùng đọc. Em sẽ trực tiếp nhận những chỉ dẫn cần thiết. Hãy cẩn thận làm theo, quan sát sự tiếp sinh lực cho thể xác như một kết quả của việc ấy, và sẵn sàng phụng sự nhiều hơn theo thời gian. [357]
1. DK references RSU’s early meditation work. The synthetic nature of the number seven is emphasized. We know the importance of the seven in the life of RSU because of her seventh ray etheric-physical nature and brain, and because two of her most prominent astrological signs, Cancer and Capricorn, both transmit the seventh ray (Capricorn being the most powerful transmitter of that ray).
1. Chân sư DK nhắc đến công việc tham thiền ban đầu của RSU. Bản chất tổng hợp của số bảy được nhấn mạnh. Chúng ta biết tầm quan trọng của số bảy trong cuộc đời RSU vì bản chất dĩ thái–hồng trần và bộ não của bà thuộc cung bảy, và vì hai dấu hiệu chiêm tinh nổi bật nhất của bà, Cự Giải và Ma Kết, đều truyền cung bảy (Ma Kết là dấu hiệu truyền cung này mạnh nhất).
2. The meditation given is one of those which did not find its way into the DINA books. If, at the time, the Tibetan was reticent to share it with even the other disciples, it certainly could not be brought before the general public. People when presented with new meditations (even if such meditations have nothing to do with their own development) will have a tendency to try them. This is called “playing with fire”, and Master DK is taking no chances.
2. Bài thiền được giao là một trong những bài không được đưa vào các sách DINA. Nếu lúc ấy Chân sư Tây Tạng còn dè dặt trong việc chia sẻ bài thiền này ngay cả với những đệ tử khác, thì chắc chắn không thể đưa nó ra trước công chúng. Khi được giới thiệu những bài thiền mới (dù những bài thiền ấy không liên quan gì đến sự phát triển của chính mình), người ta thường có khuynh hướng thử thực hành. Điều này được gọi là “đùa với lửa”, và Chân sư DK không chấp nhận rủi ro nào.
3. It is clear that DK is interested in the coordination and vitalization of RSU’s etheric body leading to “the vitalisation of the physical body”. Inertia and lassitude are a problem, and DK is suggesting a meditative approach to correcting the difficulty. RSU is to be attentive to any results. If desirable results follow, there will be the possibility for increased service.
3. Rõ ràng Chân sư DK quan tâm đến sự phối hợp và tiếp sinh lực cho thể dĩ thái của RSU, dẫn đến “sự tiếp sinh lực cho thể xác”. Tính trì trệ và sự uể oải là một vấn đề, và Chân sư DK đang gợi ý một cách tiếp cận bằng tham thiền để khắc phục khó khăn này. RSU cần chú ý đến mọi kết quả. Nếu có những kết quả mong muốn, sẽ có khả năng gia tăng phụng sự.
The gift of wise teaching is your gift to my group — a wisdom, divorced from criticism, coupled also to the reticence of the trained occultist. This gift you and F.C.D. have in great degree. Give of your wisdom, brother of old, wisely and strongly and without fear. I indicate to many of my disciples their specific gift to the group with which I have affiliated them in order that, with deliberation and knowledge, they may constantly give along the indicated lines and thus contribute to the group life. There is the gift of being these embodied qualities. There is also the gift of realising that because one does embody some divine attribute in some measure — large or small — one can act as a channel for its transmission from the greater centre. This is the basis of the doctrine of Avatars or Divine Messengers. The gift of Being and the gift of deliberate Transmission of qualified powers must be better understood.
Năng khiếu giảng dạy minh triết là món quà em dành cho nhóm của Tôi—một minh triết tách khỏi sự chỉ trích, đồng thời kết hợp với sự kín lời của nhà huyền bí học đã qua rèn luyện. Em và F.C.D. có năng khiếu này ở mức độ cao. Huynh Đệ của Ngày Xưa, hãy trao tặng minh triết của em một cách sáng suốt, mạnh mẽ và không sợ hãi. Tôi chỉ cho nhiều đệ tử của Tôi thấy món quà riêng mà họ có thể dành cho nhóm Tôi đã gắn kết họ vào, để họ có thể chủ tâm và hiểu biết mà không ngừng trao tặng theo những hướng đã chỉ ra, qua đó đóng góp cho sự sống nhóm. Có món quà là chính việc hiện thân những phẩm tính này. Cũng có món quà là nhận ra rằng, vì một người hiện thân một thuộc tính thiêng liêng ở một mức độ nào đó—lớn hay nhỏ—nên người ấy có thể làm kênh truyền thuộc tính đó từ trung tâm lớn hơn. Đây là nền tảng của giáo lý về các Đấng Hoá Thân hay các Sứ Giả Thiêng Liêng. Cần thấu hiểu rõ hơn món quà của sự Hiện Hữu và món quà của việc chủ tâm Truyền Dẫn những quyền năng mang phẩm tính xác định.
1. Master DK points to an important gift which RSU may share with the group. Since it is already a developed quality it is not listed in the ‘Developmental Formula’. That gift is wisdom. It is offered without criticism and with “the reticence of the trained occultist”.
1. Chân sư DK chỉ ra một món quà quan trọng mà RSU có thể chia sẻ với nhóm. Vì đây đã là một phẩm tính phát triển nên nó không được liệt kê trong ‘Công Thức Phát Triển’. Món quà ấy là minh triết. Bà trao tặng nó mà không phê phán và với “sự kín lời của nhà huyền bí học đã được huấn luyện”.
2. It is interesting that RSU has this form of “reticence” but, in other respects, is in need of “restraint”.
2. Thật thú vị khi RSU có dạng “kín lời” này, nhưng ở những phương diện khác lại cần “kiềm chế”.
3. In RSU’s case, criticism is reserved mostly for herself and her physical condition.
3. Trong trường hợp RSU, sự phê phán chủ yếu hướng vào chính bà và tình trạng thể chất của bà.
4. Her strong first rays and occult tendencies contribute to her “reticence” and we also see that her Saturn (planet of caution and discipline) squares her Mercury (planet of thought and word) in the natal chart. As well, Saturn is trine to natal Mars (the impulsiveness of which is curtailed by this aspect and by its placement in Capricorn).
4. Các cung một mạnh và những khuynh hướng huyền bí học của bà góp phần tạo nên sự “kín lời” ấy; chúng ta cũng thấy trong lá số bản mệnh, Sao Thổ của bà (hành tinh của sự thận trọng và kỷ luật) tạo góc vuông với Sao Thủy (hành tinh của tư tưởng và lời nói). Đồng thời, Sao Thổ tạo góc tam hợp với Sao Hỏa bản mệnh (tính bốc đồng của Sao Hỏa được kiềm chế bởi góc hợp này và bởi vị trí của nó ở Ma Kết).
5. RSU and FCD were closely related and both were born of Jewish parentage. I have a photograph of the two together which I will try to reproduce for inclusion in this document.
5. RSU và FCD có quan hệ gần gũi, và cả hai đều có cha mẹ là người Do Thái. Tôi có một bức ảnh chụp hai người cùng nhau và sẽ cố gắng sao lại để đưa vào tài liệu này.
6. Both were experienced disciples — FCD very experienced. Both had first ray minds, and both had Cancer Ascending (FCD certainly, and RSU, proposed).
6. Cả hai đều là những đệ tử giàu kinh nghiệm — FCD rất giàu kinh nghiệm. Cả hai đều có thể trí cung một, và cả hai đều có Điểm mọc Cự Giải (FCD thì chắc chắn, còn RSU là đề xuất).
7. Working with RSU, DK ever seeks for a greater pouring forth. Certain things about RSU’s character need restraint, but not the sharing of wisdom.
7. Khi làm việc với RSU, Chân sư DK luôn tìm cách để bà tuôn đổ nhiều hơn. Một số điều trong tính cách của RSU cần được kiềm chế, nhưng việc chia sẻ minh triết thì không.
8. To DK, RSU is a “brother of old”. Their acquaintance has been long, just as it has been between DK and AAB.
8. Đối với Chân sư DK, RSU là một “huynh đệ của ngày xưa”. Các Ngài đã quen biết nhau từ lâu, cũng như giữa Chân sư DK và AAB.
9. The wisdom aspect of the second ray is emphasized in RSU’s soul nature, and the accentuation of the first ray in her ray chart confers strength. Wisely and with strength her wisdom is to be given. Much of this wisdom is ‘inherited’ from her numerous incarnations presumably spent pursuing wisdom. With the presence of transiting Jupiter (her soul-ray ruling planet) at the fourth house cusp (representing one’s inheritance from the past), the injunction to give of one’s wisdom is well timed.
9. Phương diện minh triết của cung hai được nhấn mạnh trong bản chất linh hồn của RSU, và sự nổi trội của cung một trong biểu đồ cung đem lại sức mạnh cho bà. Bà cần trao minh triết của mình một cách minh triết và mạnh mẽ. Phần lớn minh triết này được ‘thừa hưởng’ từ nhiều kiếp lâm phàm mà có lẽ bà đã dành để theo đuổi minh triết. Với Sao Mộc quá cảnh (hành tinh cai quản thuộc cung linh hồn của bà) hiện diện ở đỉnh nhà bốn (tượng trưng cho những gì một người thừa hưởng từ quá khứ), lời khuyên trao tặng minh triết của mình được đưa ra rất đúng lúc.
10. Yet, there is fear is RSU’s nature, related, perhaps, to a deep-seated inferiority complex. DK wants her to overcome this. The Saturn, Chiron, Pluto conjunction and the close conjunction of sensitive, vulnerable Neptune to the South Node (the past), may serve as indicators for the potential of fear. As well, second ray souls are given to this liability, and AAB was one of them.
10. Tuy nhiên, trong bản chất RSU có sự sợ hãi, có lẽ liên quan đến một phức cảm tự ti ăn sâu. Chân sư DK muốn bà vượt qua điều này. Sự đồng vị của Sao Thổ, Chiron và Sao Diêm Vương, cùng sự đồng vị sát của Sao Hải Vương nhạy cảm, dễ tổn thương với Nút Nam (quá khứ), có thể là những dấu hiệu cho thấy tiềm năng sợ hãi. Đồng thời, các linh hồn cung hai dễ có nhược điểm này, và AAB là một trong số đó.
11. DK speaks in general of the information He is sharing with all members of the group: He informs them of the gift they may give, so that with deliberation and knowledge they may constantly give that gift.
11. Chân sư DK nói chung về thông tin Ngài đang chia sẻ với mọi thành viên trong nhóm: Ngài cho họ biết món quà họ có thể trao tặng, để với chủ đích và sự hiểu biết, họ có thể không ngừng trao tặng món quà ấy.
12. The general teaching continues. Two kinds of gifts are discussed: the gift of being certain embodied qualities, and the “gift of realising that because one does embody some divine attribute in some measure — large or small — one can act as a channel for its transmission from the greater centre”. In summary, we have the gift of being and the gift of deliberate transmission.
12. Giáo huấn chung tiếp tục. Hai loại món quà được bàn đến: món quà là chính những phẩm tính nhất định được hiện thân, và “món quà nhận ra rằng, vì một người quả thực hiện thân một thuộc tính thiêng liêng nào đó ở một mức độ nhất định — lớn hay nhỏ — người ấy có thể đóng vai trò một kênh truyền dẫn thuộc tính ấy từ trung tâm lớn hơn”. Tóm lại, chúng ta có món quà hiện hữu và món quà truyền dẫn có chủ đích.
13. RSU has many gifts, accumulated over long ages, but sometimes hesitantly shared. DK wants to see these gifts poured forth. The caution of the third ray may militate against this, and Cancer and Capricorn are also known to be cautious.
13. RSU có nhiều món quà tích lũy qua những thời đại dài lâu, nhưng đôi khi còn ngần ngại chia sẻ. Chân sư DK muốn thấy những món quà này tuôn đổ. Sự thận trọng của cung ba có thể cản trở điều đó, và Cự Giải cùng Ma Kết cũng nổi tiếng là thận trọng.
14. DK philosophically links the idea of sharing one’s gifts to the Doctrine of Avatars and of Divine Messengers. These are Beings who both are the gifts they embody, and who deliberately decide to ‘descend’ and share that which they are, for the benefit of those who reside in the lower vibratory domain to which They descend.
14. Về mặt triết học, Chân sư DK liên kết ý tưởng chia sẻ những món quà của mình với Giáo Lý về các Đấng Hoá Thân và các Sứ Giả Thiêng Liêng. Đây là những Đấng vừa là chính những món quà mà Các Ngài hiện thân, vừa chủ tâm quyết định ‘giáng xuống’ và chia sẻ những gì Các Ngài là, vì lợi ích của những người sống trong miền rung động thấp hơn mà Các Ngài giáng xuống.
15. One who realizes himself/herself as possessed of certain gifts may also place himself/herself en rapport with the sources from which such gifts have originally poured forth. In this way the quality of the gifts will be enhance and empowered and the resultant pouring forth will be of even greater service.
15. Một người nhận ra mình có những món quà nhất định cũng có thể thiết lập sự giao cảm với những nguồn mà từ đó các món quà ấy ban đầu đã tuôn đổ. Bằng cách này, phẩm tính của các món quà sẽ được nâng cao và tăng cường sức mạnh, và sự tuôn đổ phát sinh sẽ đem lại sự phụng sự lớn lao hơn nữa.
I have only a brief mantric sentence for you; it has the significance of a dedication:
Tôi chỉ có một câu mantram ngắn dành cho em; câu ấy mang thâm nghĩa của một sự hiến dâng:
“I plunge myself into the pool of wisdom. From thence I come, bearing a knowledge of its mysteries for my fellowmen.”
“Tôi đắm mình trong hồ minh triết. Từ đó Tôi bước ra, mang theo tri thức về những huyền nhiệm của hồ ấy cho đồng loại.”
Seek during the next few months to understand not only the way a disciple must proceed, but seek to enter more deeply into the technique of understanding your brother’s heart by a study of the duality of ray energies (personality and soul rays) which make him what he is in this incarnation.
Trong vài tháng tới, hãy tìm cách thấu hiểu không chỉ cách một đệ tử phải tiến bước, mà còn đi sâu hơn vào kỹ thuật thấu hiểu trái tim người huynh đệ của em, bằng cách nghiên cứu tính nhị nguyên của các năng lượng cung—cung phàm ngã và cung linh hồn—vốn làm nên con người của người ấy trong kiếp sống này.
1. The power of this mantram is evident. DK seeks the concentration of RSU’s forces and a dedicated use of those forces.
1. Quyền năng của mantram này thật rõ ràng. Chân sư DK tìm cách tập trung các mãnh lực của RSU và hướng đến việc sử dụng những mãnh lực ấy với tinh thần hiến dâng.
2. This is a mantram useful for a true teacher of the Ageless Wisdom.
2. Đây là một mantram hữu ích cho một huấn sư chân chính của Minh Triết Ngàn Đời.
3. The word “plunge” allows no equivocation; it is an irrevocable act. For this, it would seem, He hopes.
3. Từ “đắm mình” không cho phép sự lưỡng lự; đó là một hành động không thể thu hồi. Dường như đây là điều Ngài hy vọng.
4. Wisdom is fundamentally mysterious — far more so than knowledge. It would seem that RSU is to be one of those involved in restoring the Mysteries (of the Ageless Wisdom) to humanity.
4. Về căn bản, minh triết mang tính huyền nhiệm — hơn tri thức rất nhiều. Dường như RSU sẽ là một trong những người tham gia khôi phục các Huyền Nhiệm (của Minh Triết Ngàn Đời) cho nhân loại.
5. The disciplines of the Path are necessary and to them every disciple must attend. DK wishes RSU to go beyond this and to become a deeper psychologist by entering into an understanding her brother’s heart.
5. Những kỷ luật của Đường Đạo là cần thiết, và mọi đệ tử đều phải chú tâm đến chúng. Chân sư DK mong RSU vượt xa hơn điều này và trở thành một nhà tâm lý học sâu sắc hơn bằng cách đi vào sự thấu hiểu trái tim huynh đệ của bà.
6. The Master specifically requests that she study the two major ray energies of her brothers — presumably those who are in the Group of Telepathic Communicators and other of her co-workers. Through this occult knowledge, bridges can be built from the bearer of the Wisdom to those who must receive it. The presence of the progressing Moon in receptive Pisces should render RSU increasingly sensitive to her brothers.
6. Chân sư đặc biệt yêu cầu bà nghiên cứu hai năng lượng cung chính của các huynh đệ mình — có lẽ là những người trong Nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm và những cộng sự khác của bà. Qua tri thức huyền bí này, có thể xây dựng những cây cầu từ người mang Minh Triết đến những người phải tiếp nhận nó. Sự hiện diện của Mặt Trăng tiến trình ở Song Ngư dễ tiếp nhận hẳn sẽ khiến RSU ngày càng nhạy cảm với các huynh đệ của bà.
June 1934 – Tháng Sáu năm 1934
BROTHER OF OLD:
HUYNH ĐỆ CỦA NGÀY XƯA:
The past six months have seen you making much effort and the work of refining the vehicles is proceeding apace. You have still several more months of strenuous work before the personality can measure up to the demands ahead but your devotion and humility, your clear vision and your wisdom are such that you can be depended upon to make the grade.
Trong sáu tháng qua, em đã nỗ lực nhiều và công việc tinh luyện các hiện thể đang tiến triển nhanh chóng. Em vẫn còn phải làm việc cật lực thêm vài tháng nữa trước khi phàm ngã có thể đáp ứng những đòi hỏi phía trước; nhưng lòng sùng tín và sự khiêm nhường, tầm nhìn sáng rõ và minh triết của em cho phép Tôi tin rằng em sẽ đạt yêu cầu.
1. This has been a period in which transiting Saturn (planet of duties and obligations faced) has been moving through the eighth house of relinquishment. The progressing Vertex (point of fated encounter) has (in the first of the proposed charts) continued in relation to Mars (planet of action-taken) and the Vertex (directed by solar arc — on the measure that one day equals approximately one year of time) has been well within one degree of conjunction of the natal Sun. The Sun and Mars in Capricorn have, therefore, been met by the advancing Vertex according to two measures, making the potencies of Sun and Mars (both in executive Capricorn) available for action which was fated to be taken.
1. Đây là giai đoạn Sao Thổ quá cảnh (hành tinh của những bổn phận và nghĩa vụ phải đối diện) di chuyển qua nhà 8 của sự buông bỏ. Vertex tiến trình (điểm của cuộc gặp gỡ định mệnh), trong lá số đầu tiên được đề xuất, vẫn tiếp tục liên hệ với Sao Hỏa (hành tinh của hành động đã thực hiện), còn Vertex (theo nhật cung tiến trình — với thước đo một ngày tương đương khoảng một năm) đã nằm rõ trong phạm vi độ lệch một độ của góc đồng vị với Mặt Trời bản mệnh. Vì vậy, theo hai thước đo, Vertex đang tiến tới đã gặp Mặt Trời và Sao Hỏa trong Ma Kết, khiến những tiềm lực của Mặt Trời và Sao Hỏa (cả hai đều ở Ma Kết có năng lực điều hành) trở nên sẵn có cho hành động mà định mệnh đòi hỏi phải thực hiện.
2. We also find transiting Saturn conjuncting progressed Mars during this period, placing the emphasis upon discipline. As well the progressing Vertex moves across the seventh house cusp representing the opportunity for refinement (Libra, the generic ruler of the seventh house represents that) and the need to measure up to a standard presented by others (in this case the Master).
2. Chúng ta cũng thấy Sao Thổ quá cảnh đồng vị với Sao Hỏa tiến trình trong giai đoạn này, nhấn mạnh vào kỷ luật. Đồng thời, Vertex tiến trình đi qua đỉnh nhà 7, biểu thị cơ hội tinh luyện (Thiên Bình, chủ tinh tổng quát của nhà 7, biểu thị điều đó) và nhu cầu đáp ứng một tiêu chuẩn do người khác đưa ra (trong trường hợp này là Chân sư).
3. To the “strenuous work” of which the Tibetan speaks, Capricorn is no stranger. The continuing conjunction of transiting Saturn with progressing Mars (both in Aquarius, the group sign) signal the continuing emphasis upon hard work and discipline within the group context..
3. Ma Kết không xa lạ gì với “công việc cật lực” mà Chân sư Tây Tạng nói đến. Góc đồng vị tiếp diễn giữa Sao Thổ quá cảnh và Sao Hỏa tiến trình (cả hai đều ở Bảo Bình, dấu hiệu của nhóm) báo hiệu sự nhấn mạnh liên tục vào công việc khó nhọc và kỷ luật trong bối cảnh nhóm.
4. Discipleship means work, and it is this which DK expects from His disciple who has entered forcefully into the process of overcoming her present major weakness.
4. Địa vị đệ tử có nghĩa là làm việc, và đây chính là điều Chân sư DK mong đợi ở người đệ tử của Ngài, người đã mạnh mẽ bước vào tiến trình khắc phục nhược điểm chính hiện nay của bà.
5. The Master strengthens His disciple by reaffirming certain of her virtues which will help her in the task. She has devotion (through sixth ray Mars exactly trine sixth ray Neptune — even if the sixth ray is missing from the ray chart); she has humility which Cancer confers naturally, and which is one of the virtues of Capricorn (the ‘sign of kneeling’); and her wisdom has often been mentioned by the Master. Humility is further accentuated by the progressed lunation in Pisces (a sign of humility) during August of 1934. This would be the case no matter what Ascendant were proposed for her.
5. Chân sư tiếp sức cho người đệ tử của Ngài bằng cách tái khẳng định một số đức tính sẽ giúp bà trong nhiệm vụ ấy. Bà có lòng sùng tín (thông qua Sao Hỏa cung sáu tạo góc tam hợp chính xác với Sao Hải Vương cung sáu — ngay cả khi cung sáu vắng mặt trong biểu đồ cung); bà có sự khiêm nhường mà Cự Giải tự nhiên ban cho, cũng là một trong những đức tính của Ma Kết (“dấu hiệu quỳ gối”); và Chân sư đã thường nhắc đến minh triết của bà. Tuần trăng tiến trình ở Song Ngư (một dấu hiệu của sự khiêm nhường) trong tháng Tám năm 1934 càng nhấn mạnh sự khiêm nhường ấy. Điều này vẫn đúng bất kể đề xuất Điểm mọc nào cho bà.
6. We see that DK is attempting to help His chela measure up — “make the grade” (a phrase often used in esotericism to indicate fulfilling the requirements for an initiation). The initiatory potentials of an astrological chart like that of RSU are clear. Her Capricorn is prominent, and Uranus (the Initiator and planet of occultism) is trine to the Sun, Saturn and Neptune. Her ‘light content’ is pronounced through an abundance of Taurus planets, and sincere aspiration towards the soul is present through the presence of Venus (planet of the soul) in aspirational Sagittarius, the sign of one-pointed discipleship.
6. Chúng ta thấy Chân sư DK đang cố gắng giúp đệ tử của Ngài đáp ứng tiêu chuẩn — “đạt yêu cầu” (một cách diễn đạt thường dùng trong huyền bí học để chỉ việc đáp ứng các yêu cầu cho một cuộc điểm đạo). Những tiềm năng điểm đạo của một lá số chiêm tinh như lá số của RSU rất rõ ràng. Ma Kết nổi bật trong lá số của bà, và Sao Thiên Vương (Đấng Điểm đạo và hành tinh của huyền bí học) tạo góc tam hợp với Mặt Trời, Sao Thổ và Sao Hải Vương. “Hàm lượng ánh sáng” của bà nổi bật qua nhiều hành tinh ở Kim Ngưu, còn khát vọng chân thành hướng tới linh hồn hiện diện qua Sao Kim (hành tinh của linh hồn) trong Nhân Mã đầy khát vọng, dấu hiệu của địa vị đệ tử nhất tâm.
7. The task of the Master is to offer enough incentive to His chela to exert herself sufficiently to reach the standard set for her by her own soul (and by the Master)
7. Nhiệm vụ của Chân sư là đem lại đủ động lực để đệ tử của Ngài nỗ lực đủ mức nhằm đạt tiêu chuẩn do chính linh hồn bà (và Chân sư) đặt ra.
There are two points of incipient glamour — faintly misty traces — which must be watched with care lest they form a thickening cloud between you and the sun. I specify them not lest [358] in so doing I precipitate the cloud. Glamour is not dispelled by paying close attention to it. It disappears by the power of clear and steadfast meditation and the freeing of oneself from self attention. Can you grasp the significance of that paradoxical phrase? I but indicate a vague mirage which need never cause you trouble, provided you seek not self recognition, and that you love with pure purpose all those you meet.
Có hai điểm ảo cảm mới chớm—những dấu vết mờ sương rất nhạt—cần được theo dõi cẩn thận để chúng không tạo thành một đám mây ngày càng dày giữa em và mặt trời. Tôi không chỉ rõ chúng, vì e rằng [358] làm như vậy sẽ khiến đám mây ngưng tụ. Ảo cảm không bị xua tan bằng cách chú ý kỹ đến nó. Nó biến mất nhờ quyền năng của sự tham thiền sáng rõ, kiên định và việc giải thoát bản thân khỏi sự chú ý vào chính mình. Em có nắm được thâm nghĩa của cách nói nghịch lý ấy không? Tôi chỉ nêu ra một ảo ảnh mơ hồ vốn không bao giờ nhất thiết phải gây phiền toái cho em, miễn là em không tìm kiếm sự công nhận cho bản thân và yêu thương tất cả những người em gặp với mục đích thanh khiết.
1. The first words of this instruction are words of encouragement. Words of caution follow. Ever and again, the balanced approach. We must notice the subtlety of the Master’s vision, so capable of seeing that of which the chela would normally remain unaware. Something of the pictorial mode of the Master’s vision is also suggested by His remarks.
1. Những lời đầu tiên của huấn thị này là lời khích lệ. Tiếp theo là lời cảnh báo. Hết lần này đến lần khác, vẫn là cách tiếp cận quân bình. Chúng ta phải lưu ý sự tinh tế trong linh thị của Chân sư, có khả năng nhìn thấy những điều mà đệ tử thường không nhận biết. Những nhận xét của Ngài cũng phần nào gợi ra cách linh thị của Chân sư biểu hiện qua hình ảnh.
2. We are also given a way of conceiving glamor as an obscuration, and the familiar image of clouds and the sun serves to illustrate its nature and effect.
2. Chúng ta cũng được trao một cách quan niệm ảo cảm như một sự che khuất, và hình ảnh quen thuộc về mây và mặt trời giúp minh họa bản chất cùng tác động của nó.
3. Glamor does not spring unexpectedly and full-blown from the aura of any disciple. It has its seeds, its sources. The Master has to be cautious here. If he names the glamors He may “precipitate the cloud”. We see with what caution an elder soul must approach a younger. Every word written or spoken has the potential to good or ill, for promotion or retardation.
3. Ảo cảm không đột ngột xuất hiện từ hào quang của bất kỳ đệ tử nào trong trạng thái đã phát triển đầy đủ. Nó có những hạt giống, những nguồn gốc của nó. Ở đây, Chân sư phải thận trọng. Nếu Ngài gọi tên các ảo cảm, Ngài có thể khiến “đám mây ngưng tụ”. Chúng ta thấy một linh hồn trưởng thành hơn phải tiếp cận một linh hồn non trẻ hơn thận trọng đến mức nào. Mỗi lời viết ra hay nói ra đều có khả năng đem lại điều tốt hoặc điều xấu, thúc đẩy hoặc trì hoãn.
4. Then comes a hint for all disciples regarding the dissipation of glamor. Close attention to the glamor will not dispel it; in fact it may exacerbate the situation. Glamor disappears “by the power of clear and steadfast meditation and the freeing of oneself from self attention”.
4. Tiếp đó là một gợi ý cho mọi đệ tử về việc làm tiêu tan ảo cảm. Chăm chú vào ảo cảm sẽ không xua tan được nó; thực ra, điều đó có thể khiến tình hình trầm trọng hơn. Ảo cảm biến mất “nhờ sức mạnh của sự tham thiền sáng rõ và kiên định, cùng việc giải thoát bản thân khỏi sự chú tâm vào chính mình”.
5. It becomes clear that DK has detected a tendency, even; if slight, to seek recognition for the little self. Clear and steadfast meditation will increase identification with the soul thus assisting with the process of taking the eyes off the little self.
5. Rõ ràng là Chân sư DK đã phát hiện một khuynh hướng tìm kiếm sự công nhận cho cái ngã nhỏ bé, dù khuynh hướng ấy chỉ nhẹ. Tham thiền sáng rõ và kiên định sẽ gia tăng sự đồng hoá với linh hồn, qua đó hỗ trợ tiến trình rời mắt khỏi cái ngã nhỏ bé.
6. He also points to the need to love with pure purpose all those she meets. We cannot know the possibility of ‘impure’ purpose which He might be detecting. It could, perhaps, relate to the desire to be recognized by others, or loved by others (a second ray glamor).
6. Ngài cũng chỉ ra nhu cầu yêu thương với mục đích thuần khiết tất cả những người bà gặp. Chúng ta không thể biết khả năng có mục đích “không thuần khiết” nào mà Ngài có thể đang phát hiện. Có lẽ điều đó liên quan đến mong muốn được người khác công nhận hoặc yêu thương (một ảo cảm cung hai).
During the next six months, your meditation work and the focus of your attention must be the stepping up of your awareness of the soul. You have an interesting and rather unusual problem; this is based on the fact that your consciousness shifts all the time from the lower to the higher mind, but often fails to touch the intermediate point, that of the soul on its own particular level. It is like this, my brother:
Trong sáu tháng tới, công việc tham thiền và trọng tâm chú ý của em phải hướng vào việc nâng cao sự nhận biết về linh hồn. Em có một vấn đề thú vị và khá khác thường; vấn đề này dựa trên thực tế rằng tâm thức em liên tục chuyển từ hạ trí lên thượng trí, nhưng thường không chạm đến điểm trung gian, tức linh hồn trên cấp độ riêng của nó. Huynh đệ của tôi, điều đó như sau:
1. The soul is always present of course, but the disciple may be aware of it to varying degrees. DK calls for an increasing awareness of soul presence.
1. Dĩ nhiên, linh hồn luôn hiện diện, nhưng đệ tử có thể nhận biết linh hồn ở những mức độ khác nhau. Chân sư DK kêu gọi gia tăng sự nhận biết về sự hiện diện của linh hồn.
2. Then follows a most interesting analysis referring to a kind of bypassing of the soul (the “Son of Mind” — the loving, appreciative, unitive mind). RSU’s consciousness shifts constantly between the higher and lower mind. That state of vibration which pertains to the soul on its own level (presumably the second and third subplanes of the mental plane) is not touched. It is from this level that one learns to “think in the heart” and “feel with the mind”.
2. Tiếp theo là một phân tích hết sức thú vị về một kiểu bỏ qua linh hồn (“Con của Trí Tuệ” — trí tuệ yêu thương, trân trọng và hợp nhất). Tâm thức của RSU liên tục chuyển đổi giữa thượng trí và hạ trí. Bà không chạm đến trạng thái rung động thuộc về linh hồn trên cấp độ riêng của nó (có lẽ là cõi phụ thứ hai và thứ ba của cõi trí). Chính từ cấp độ này, người ta học cách “suy nghĩ trong tim” và “cảm nhận bằng thể trí”.
3. Practically, this may mean that not enough solar fire enters RSU’s thought process, that the thought process may be neither sufficiently loving or appreciative of others and of self.
3. Về mặt thực tiễn, điều này có thể hàm ý rằng chưa có đủ Lửa Thái dương đi vào tiến trình tư duy của RSU, rằng tiến trình tư duy ấy có thể chưa đủ yêu thương hay trân trọng người khác và bản thân.
In the building of the antahkarana (at this stage) there is a gap in the bridge where the soul is and you jump from the lower to the higher Triad. This means a bridging from the highest point of the lower triad to the lowest point of the higher, the Spiritual Triad. Therefore, for you, there must be careful exercise in an elementary stage — the alignment of the soul and brain, via the mind. Work at that for a while with understanding, prior to doing your morning meditation. Make your meditation brief and quick. You have a habit of keeping the three “sacred points” — morning, noon and sunset. I am going to suggest that at those interludes in the day’s activities you change your method considerably. I suggest that you work with colour more than with forms of words, such as seed thoughts, or with ideas. You are a natural occultist and have the key to the realm of ideas and the words of many books are in your mind. I would, therefore, suggest the following process:
Trong việc xây dựng antahkarana ở giai đoạn này, cây cầu có một khoảng trống tại nơi linh hồn hiện diện, và em nhảy từ tam nguyên thấp lên Tam Nguyên cao. Điều này hàm ý bắc cầu từ điểm cao nhất của tam nguyên thấp đến điểm thấp nhất của Tam Nguyên cao, tức Tam Nguyên Tinh Thần. Vì vậy, em cần thực hành cẩn thận một bước căn bản—chỉnh hợp linh hồn với bộ não thông qua thể trí. Hãy thực hành điều đó một thời gian với sự thấu hiểu, trước khi thực hiện bài tham thiền buổi sáng. Hãy giữ bài tham thiền ngắn gọn và nhanh. Em có thói quen giữ ba “thời điểm thiêng liêng”—buổi sáng, buổi trưa và lúc hoàng hôn. Tôi đề nghị em thay đổi đáng kể phương pháp vào những khoảng dừng ấy giữa các hoạt động trong ngày. Tôi đề nghị em làm việc với màu sắc nhiều hơn với các hình thức ngôn từ, chẳng hạn những tư tưởng hạt giống, hoặc với các ý tưởng. Em vốn là một nhà huyền bí học bẩm sinh, có chìa khóa vào cõi ý tưởng, và ngôn từ của nhiều sách đã có trong thể trí em. Vì vậy, Tôi đề nghị tiến trình sau:
1. In a way, the kind of ‘jumping the gap’ which RSU demonstrates is needed by all those who would build the antahkarana, but it must not be forgotten that the stages preparatory to building and using the antahkarana require contact between the lower triad and the soul (for the will energy of the soul is to be drawn toward and to stimulate the mental unit, and it is really the soul-infused personality from which projection occurs into the spiritual triad).
1. Theo một cách nào đó, tất cả những ai muốn xây dựng antahkarana đều cần kiểu “nhảy qua khoảng trống” mà RSU biểu lộ, nhưng không được quên rằng các giai đoạn chuẩn bị cho việc xây dựng và sử dụng antahkarana đòi hỏi sự tiếp xúc giữa tam nguyên thấp và linh hồn (vì năng lượng ý chí của linh hồn phải được thu hút về phía đơn vị hạ trí và kích thích nó, và sự phóng chiếu vào Tam Nguyên Tinh Thần thực sự diễn ra từ phàm ngã được linh hồn thấm nhuần).
2. A stage in the meditation process has, therefore, been skipped, or has not received enough attention to establish its reliability. There is need to go over ground that should have been covered long ago and ensure the alignment between soul, mind and brain.
2. Vì vậy, một giai đoạn trong tiến trình tham thiền đã bị bỏ qua, hoặc chưa được chú ý đủ để xác lập tính ổn định của nó. Cần trở lại phần lẽ ra đã phải hoàn tất từ lâu và bảo đảm sự chỉnh hợp giữa linh hồn, thể trí và bộ não.
3. We see DK seeking for His chela the simplicity of approach which brevity will promote.
3. Chúng ta thấy Chân sư DK đang tìm cách giúp đệ tử của Ngài có được sự đơn giản trong cách tiếp cận mà tính ngắn gọn sẽ thúc đẩy.
4. RSU has a certain seventh ray regularity coming through a seventh ray brain and the sign Capricorn; she keeps the “three sacred points”. DK suggests for her a change in approach utilizing color more than forms of words. We can see that the shift would emphasize the soft-line rays rather than those on the hard-line. Basically, it is a switch from auditory third ray methods to visual methods more in line with the second ray. RSU has so many hard-line rays that it is difficult for her soft-line, second ray soul, to ‘get through’.
4. RSU có một tính đều đặn nhất định của cung bảy, biểu hiện qua bộ não cung bảy và dấu hiệu Ma Kết; bà giữ “ba thời điểm thiêng liêng”. Chân sư DK đề nghị bà thay đổi cách tiếp cận, sử dụng màu sắc nhiều hơn các hình thức ngôn từ. Chúng ta có thể thấy sự thay đổi ấy sẽ nhấn mạnh các cung thuộc tuyến mềm hơn là các cung thuộc tuyến cứng. Về cơ bản, đây là sự chuyển đổi từ các phương pháp thính giác của cung ba sang các phương pháp thị giác phù hợp hơn với cung hai. RSU có quá nhiều cung thuộc tuyến cứng nên linh hồn cung hai thuộc tuyến mềm của bà khó “xuyên qua”.
5. Again DK emphasizes RSU’s natural occultism, but He seems to be attempting to round out her approach.
5. Một lần nữa, Chân sư DK nhấn mạnh năng lực huyền bí học bẩm sinh của RSU, nhưng dường như Ngài đang cố gắng làm cho cách tiếp cận của bà trở nên toàn diện hơn.
1. Sound the O.M.
1. Xướng linh từ O.M.
2. After you have worked for a few minutes at right alignment then: [359]
2. Sau khi em đã thực hành chỉnh hợp đúng đắn trong vài phút, hãy: [359]
a. At your morning meditation visualise a deep rose-coloured lotus. Build it with care and from its opening heart see a stream of rosy light (not red) pouring forth, engulfing you and your co-disciples.
a. Trong bài tham thiền buổi sáng, hình dung một hoa sen màu hồng đậm. Hãy xây dựng hoa sen ấy cẩn thận, và từ tâm hoa đang mở, hãy thấy một dòng ánh sáng hồng—không phải đỏ—tuôn ra, bao trùm em và các đệ tử đồng môn.
b. At your noon meditation repeat the same symbolic work but this time with a yellow lotus.
b. Trong bài tham thiền buổi trưa, lặp lại cùng công việc biểu tượng ấy, nhưng lần này với một hoa sen màu vàng.
c. At sunset again repeat the process only this time your lotus is of a deep electric blue with its heart a golden sun.
c. Lúc hoàng hôn, lại lặp tiến trình ấy, chỉ khác là lần này hoa sen của em có màu xanh lam điện đậm, với tâm hoa là một mặt trời vàng kim.
3. Use then the mantric sentence which I gave you in my last communication, pondering upon its meaning.
3. Sau đó, sử dụng câu mantram Tôi đã trao cho em trong lần liên lạc trước, suy ngẫm về ý nghĩa của nó.
1. Rose is particularly the color of devotion and will surely have an effect upon the solar plexus and heart centers. We note that He does not suggest red, which could activate the lower solar plexus or the base center and would produce effects along the line of will.
1. Màu hồng đặc biệt là màu của lòng sùng tín và chắc chắn sẽ tác động đến các trung tâm tùng thái dương và tim. Chúng ta lưu ý rằng Ngài không đề nghị màu đỏ, vốn có thể kích hoạt phần thấp của tùng thái dương hoặc trung tâm đáy cột sống và sẽ tạo ra những tác động theo tuyến ý chí.
2. The three colors chosen are rose, yellow and deep electric blue with its heart a golden sun. (These last two colors — blue and yellow — it has been proposed, are specifically related to Master DK).
2. Ba màu được chọn là hồng, vàng và xanh lam điện đậm với tâm là một mặt trời vàng óng. (Có ý kiến cho rằng hai màu sau — xanh lam và vàng — có liên hệ đặc biệt với Chân sư DK).
3. If we examine the colors carefully we find that a relationship is being established between the solar plexus (rose), the mind as it may be sensitive to the buddhic plane (yellow) and the second ray soul (deep blue or indigo) as it is affected by the ‘electric’ quality of the spiritual triad. Both yellow and electric blue can be related to buddhi and the color rose may also evoke the buddhic energy.
3. Nếu xem xét kỹ các màu sắc, chúng ta thấy một mối liên hệ đang được thiết lập giữa tùng thái dương (hồng), thể trí khi nó có thể nhạy cảm với cõi Bồ đề (vàng) và linh hồn cung hai (xanh lam đậm hoặc chàm) khi linh hồn chịu tác động của phẩm tính “điện” của Tam Nguyên Tinh Thần. Cả màu vàng lẫn xanh lam điện đều có thể liên hệ với Bồ đề, và màu hồng cũng có thể gợi lên năng lượng Bồ đề.
4. We note that yellow is an appropriate color for noon, for the Sun is then at its meridian. The deep electric blue (if imagined as indigo) fits well with the color of Venus (the planet which rules sunset, for Libra, which it rules, is a sign of ‘even-ing’).
4. Chúng ta lưu ý rằng màu vàng thích hợp cho buổi trưa, vì khi ấy Mặt Trời ở trên kinh tuyến của nó. Màu xanh lam điện đậm (nếu hình dung là màu chàm) rất phù hợp với màu của Sao Kim (hành tinh cai quản hoàng hôn, vì Thiên Bình, dấu hiệu do Sao Kim cai quản, là dấu hiệu của sự “quân bình”, gợi liên tưởng đến buổi chiều).
5. The emphasis of this meditation is not along the mental/will line. Its purpose is to ‘soften’ RSU’s approach and make it more naturally and spontaneously loving. She surely does have a loving second ray soul, but that soul is hemmed in, so to speak, by many hard-line rays.
5. Bài thiền này không nhấn mạnh theo tuyến trí tuệ/ý chí. Mục đích của nó là “làm mềm” cách tiếp cận của RSU, khiến cách tiếp cận ấy trở nên yêu thương một cách tự nhiên và tự phát hơn. Chắc chắn bà có một linh hồn cung hai đầy yêu thương, nhưng có thể nói linh hồn ấy bị nhiều cung thuộc tuyến cứng vây chặt.
6. The mantram which He gave her is, we remember: “I plunge myself into the pool of wisdom. From thence I come, bearing a knowledge of its mysteries for my fellowmen.”
6. Chúng ta nhớ rằng mantram Ngài đã trao cho bà là: “Tôi đắm mình vào hồ minh triết. Từ đó, tôi trở về, mang theo tri thức về những huyền nhiệm của hồ ấy cho đồng loại.”
7. It is a mantram of sacrificial commitment and sharing. It involves second ray attitudes and approaches.
7. Đây là một mantram về sự dấn thân hi sinh và chia sẻ. Nó bao hàm những thái độ và cách tiếp cận của cung hai.
4. Proceed with your usual linking up with those you ever remember in your meditation, giving them strength and light and knowing yourself to be an intermediary.
4. Tiếp tục việc kết nối như thường lệ với những người em luôn nhớ đến trong lúc tham thiền, trao cho họ sức mạnh và ánh sáng, đồng thời biết mình là một trung gian.
5. Close with the invocation which you know and love so well:
5. Kết thúc bằng lời khấn nguyện mà em biết rõ và yêu mến:
“May the Holy Ones Whose disciple I am show me the light I seek; give me the strong aid of Their compassion and Their wisdom. There is a peace which passeth understanding; it abides in the hearts of those who live in the Eternal. There is a power which maketh all things new; it lives and moves in those who know the Self as one. May that peace brood over us, that power uplift us till we stand where the One Initiator is invoked, till we see His star shine forth.”
"Cầu xin các Đấng Thánh Thiện mà con là đệ tử chỉ cho con ánh sáng con tìm kiếm; ban cho con sự trợ giúp mạnh mẽ từ lòng từ bi và minh triết của Các Ngài. Có một sự bình an vượt quá sự thấu hiểu; sự bình an ấy ngự trong trái tim những người sống trong Vĩnh Cửu. Có một quyền năng làm mọi sự trở nên mới; quyền năng ấy sống và vận động trong những người biết Bản Ngã là một. Cầu mong sự bình an ấy bao phủ chúng con, quyền năng ấy nâng chúng con lên cho đến khi chúng con đứng tại nơi Đấng Điểm Đạo Duy Nhất được khẩn cầu, cho đến khi chúng con thấy ngôi sao của Ngài tỏa sáng."
6. Sound the O.M.
6. Xướng linh từ O.M.
1. The mantram which RSU knows and loves so well is a mantram of aspiration towards the third degree — the Transfiguration. We remember how much Capricorn she has in her chart and how deeply associated is Capricorn with the third degree. This does not mean that she is an initiate of the third degree or, even, that she would achieve that degree in the present incarnation, but for a disciple at her stage of evolution, it certainly conveys a capacity for deep understanding of the requirements of that degree.
1. Mantram mà RSU biết rõ và rất yêu thích là một mantram biểu lộ khát vọng hướng tới cấp độ thứ ba — Biến hình. Chúng ta nhớ Ma Kết hiện diện nhiều đến mức nào trong lá số của bà và Ma Kết liên hệ sâu sắc ra sao với cấp độ thứ ba. Điều này không có nghĩa bà là một điểm đạo đồ cấp ba, hay thậm chí bà sẽ đạt cấp độ ấy trong kiếp hiện tại, nhưng đối với một đệ tử ở giai đoạn tiến hoá của bà, mantram ấy chắc chắn biểu thị khả năng thấu hiểu sâu sắc các yêu cầu của cấp độ đó.
2. The “peace which passeth understanding” arises under the infusion of the buddhic energy — for the buddhic plane is the plane of harmony and, therefore, of peace.
2. Sự “bình an vượt trên sự thấu hiểu” nảy sinh khi năng lượng Bồ đề thấm nhuần — vì cõi Bồ đề là cõi của sự hài hòa và do đó cũng là cõi của sự bình an.
3. One must be an initiate of the third degree to truly “live in the Eternal”. The illusions of time and space have ceased for such a one. He/she has ascended the “mountain whereon form dies” (EP I 71), leaving normal glamors and illusions behind (at least when in the initiate state of consciousness).
3. Người ta phải là một điểm đạo đồ cấp ba mới thực sự “sống trong Vĩnh Cửu”. Với một người như thế, những ảo tưởng về thời gian và không gian đã chấm dứt. Người ấy đã lên “ngọn núi nơi hình tướng chết đi” (EP I 71), để lại phía sau những ảo cảm và ảo tưởng thông thường (ít nhất là khi ở trong trạng thái tâm thức điểm đạo đồ).
4. To “live in the Eternal” is a great demand, because it requires a deep realization of the Presence and an identification with that Presence. The Presence changes not; it is not subject to the fluctuations of time. It is ever as it is and just what it is. It is clear that for the initiate who “lives in the Eternal”, the entire time-sense is altered. Time as understood in the lower three worlds still exists; its exists even for such a great being as the Planetary Logos (Who has a “space-time schedule”); but the consciousness is not subject to time nor is it disturbed by the usual pressures of time. At least time pressures (which, according to the dual life of the disciple, must be honored) do not shake the consciousness from its participation in the Eternal.
4. “Sống trong Vĩnh Cửu” là một đòi hỏi lớn lao, vì nó đòi hỏi sự chứng nghiệm sâu sắc về Hiện Diện và sự đồng hoá với Hiện Diện ấy. Hiện Diện không thay đổi; Hiện Diện không chịu những biến động của thời gian. Hiện Diện luôn như thế và đúng là như thế. Rõ ràng, đối với điểm đạo đồ “sống trong Vĩnh Cửu”, toàn bộ cảm thức về thời gian đều biến đổi. Thời gian như người ta thấu hiểu trong ba cõi thấp vẫn tồn tại; nó tồn tại ngay cả đối với một Đấng vĩ đại như Hành Tinh Thượng đế (Ngài có một “thời biểu không–thời gian”); nhưng tâm thức không lệ thuộc thời gian, cũng không bị những áp lực thông thường của thời gian làm xáo trộn. Ít nhất, các áp lực thời gian (vốn phải được tôn trọng theo đời sống kép của đệ tử) không làm tâm thức rời khỏi sự dự phần vào Vĩnh Cửu.
5. We note that the “peace” abides in the “hearts” of those who live in the Eternal. This is another hint concerning the buddhic origin of this peace. The heart is necessarily involved in the perception of the Eternal and identification with it.
5. Chúng ta lưu ý rằng sự “bình an” ngự trong “tim” những người sống trong Vĩnh Cửu. Đây là một gợi ý khác về nguồn gốc Bồ đề của sự bình an ấy. Trái tim tất yếu tham dự vào việc tri giác Vĩnh Cửu và đồng hoá với Vĩnh Cửu.
6. The “Power which maketh all things new” is the ever-renewing spirit. It may seem to unenlightened man that, when he views that which is apparently the same, it is, indeed, the same. But the spirit confers the sense of burgeoning possibility at each moment. Spirit gives communion with a ‘living Presence’ which carries the paradoxical quality of ‘same yet ever-new’.
6. “Quyền năng làm cho muôn vật trở nên mới mẻ” là tinh thần luôn đổi mới. Khi nhìn điều có vẻ vẫn như cũ, người chưa giác ngộ có thể cho rằng nó quả thực vẫn như cũ. Nhưng tinh thần ban cho cảm thức về những khả năng đang nảy nở trong từng khoảnh khắc. Tinh thần đem lại sự hiệp thông với một “Hiện Diện sống động”, mang phẩm tính nghịch lý “vẫn vậy mà luôn mới mẻ”.
7. Desire expects and the Presence fulfills. All things are not made new at some point — eventually — but at every point, constantly.
7. Dục vọng mong đợi và Hiện Diện làm viên mãn. Muôn vật không phải đến một thời điểm nào đó — cuối cùng — mới trở nên mới mẻ, mà trở nên mới mẻ ở mọi thời điểm, không ngừng.
8. That “Power”, “lives and moves in those who know the Self as one”. At the third degree spirit has its undeniable impact and the self is experienced as one. Spirit, we recognize, both lives and moves (words which relate to the first and third aspects of divinity). The perception established is of the ‘one ever-renewing Self which is the Presence’.
8. “Quyền năng” ấy “sống và vận động trong những người biết Bản Ngã là một”. Ở cấp độ thứ ba, tinh thần tạo ra tác động không thể phủ nhận và người ta chứng nghiệm bản ngã là một. Chúng ta nhận biết rằng tinh thần vừa sống vừa vận động (những từ liên hệ đến phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính). Tri giác được xác lập là tri giác về “Bản Ngã duy nhất luôn đổi mới, vốn là Hiện Diện”.
9. The familiar is constantly made new by a constant awareness of the ever-fresh exhilaration of the “Eternal Spirit”. The ‘newness of the moment’ (each moment) is seen by the one who is the ‘Eternal-Ever-New’.
9. Việc không ngừng nhận biết niềm hân hoan luôn tươi mới của “Tinh Thần Vĩnh Cửu” liên tục làm mới những gì quen thuộc. “Sự mới mẻ của khoảnh khắc” (của từng khoảnh khắc) hiện ra trước người vốn là “Vĩnh Cửu–Luôn Mới Mẻ”.
10. Living as the One Self is really living. The old and customary are forever defeated by that which is new at every moment and is, simultaneously, one’s Eternal Self.
10. Sống như Bản Ngã Duy Nhất mới thực sự là sống. Cái cũ và cái quen thuộc mãi mãi bị vượt qua bởi điều mới mẻ trong từng khoảnh khắc, đồng thời cũng chính là Bản Ngã Vĩnh Cửu của mình.
11. The mantram closes with a call for “peace” and “power”. The “peace” (like the spiritual triad from which it comes) is to “brood over us” (the disciple); that “power” is to uplift us, so that we no longer identify only as personalities, but have found our real Self — the one Self.
11. Mantram kết thúc bằng lời khẩn cầu “bình an” và “quyền năng”. Sự “bình an” (giống như Tam Nguyên Tinh Thần mà từ đó sự bình an phát sinh) sẽ “bao phủ chúng con” (người đệ tử); “quyền năng” ấy sẽ nâng chúng con lên, để chúng ta không còn chỉ đồng hoá với các phàm ngã, mà đã tìm thấy Bản Ngã chân thực của mình — Bản Ngã duy nhất.
12. There is no question that this mantram is meant for those who aspire to the third degree as it references the “One Initiator” (Who is Sanat Kumara). He is first met at the third degree in the form of a “star”. While the “star of initiation” shines forth, in some measure, at the first two degrees, it is only at the third degree that it represents the Presence of Sanat Kumara.
12. Chắc chắn mantram này dành cho những người có khát vọng hướng tới cấp độ thứ ba, vì nó đề cập đến “Đấng Điểm Đạo Duy Nhất” (chính là Sanat Kumara). Lần đầu tiên người ta gặp Ngài là ở cấp độ thứ ba, dưới hình thức một “ngôi sao”. Tuy “ngôi sao điểm đạo” tỏa sáng ở một mức độ nào đó trong hai cấp độ đầu tiên, nhưng chỉ ở cấp độ thứ ba nó mới biểu thị Hiện Diện của Sanat Kumara.
13. All who aspire to the third degree, whether in this life, or one of a number of lives following the present incarnation, may with great profit ponder this potent mantram, because it deals with the very essence of the Transfiguration.
13. Tất cả những ai có khát vọng hướng tới cấp độ thứ ba, dù trong kiếp này hay một trong nhiều kiếp sau kiếp hiện tại, đều có thể nhận được lợi ích lớn lao khi suy ngẫm về mantram đầy quyền năng này, vì nó đề cập đến chính tinh túy của Biến hình.
14. If one truly “lives in the Eternal” and “knows the Self as one” (not just theorizes, but knows), one stands at the level of third degree consciousness whether or not that consciousness has been confirmed by the initiation ceremony.
14. Nếu một người thực sự “sống trong Vĩnh Cửu” và “biết Bản Ngã là một” (không chỉ suy luận trên lý thuyết mà thực sự biết), người ấy đứng ở cấp độ tâm thức của bậc điểm đạo thứ ba, dù tâm thức ấy đã được nghi lễ điểm đạo xác nhận hay chưa.
15. As can be understood by pondering the ideas of this mantram, they are deep beyond words, and will provide ‘ever-new’ insight into that state of awareness which establishes itself in consciousness at the third degree.
15. Khi suy ngẫm về những ý tưởng của mantram này, người ta có thể thấu hiểu rằng chúng sâu sắc vượt ngoài ngôn từ và sẽ đem lại sự thấu suốt “luôn mới mẻ” về trạng thái nhận biết tự xác lập trong tâm thức ở cấp độ thứ ba.
I particularly ask you to make your spiritual diary a more vital, more organised and more easily available document for the teaching of others. You have in it much of interest. It is, however, somewhat chaotic and the ideas in it are not easily understandable. Will you make it more sequential, synthetic and readable so that the arranged and presented ideas can be of service to other students? You have much to convey of occult knowledge and when you learn to write your knowledge, then your real service will begin to emerge.... Present what you have to offer; this can be much when you have learned with wisdom to externalise your knowledge.
Tôi đặc biệt yêu cầu em làm cho nhật ký tinh thần của mình trở thành một tài liệu sống động hơn, có tổ chức hơn và dễ sử dụng hơn để giảng dạy người khác. Trong đó có nhiều điều thú vị. Tuy nhiên, nhật ký ấy khá lộn xộn và những ý tưởng trong đó không dễ thấu hiểu. Em hãy làm cho nó có trình tự, tính tổng hợp và dễ đọc hơn, để những ý tưởng được sắp xếp và trình bày có thể phụng sự các đạo sinh khác. Em có nhiều tri thức huyền bí để truyền đạt, và khi em học được cách viết ra tri thức của mình, sự phụng sự thực sự của em sẽ bắt đầu hiện rõ.... Hãy trình bày những gì em có thể trao tặng; điều đó có thể rất phong phú khi em học được cách dùng minh triết để ngoại hiện tri thức của mình. [360]
1. DK is seeking to evoke RSU’s teaching potential. She has many spiritual possessions. DK wants her to mobilize those possessions for real usefulness. She seems to be well on her way to becoming a “rich young man” in the occult sense of the phrase.
1. Chân sư DK đang tìm cách gợi lên tiềm năng giảng dạy của RSU. Bà có nhiều tài sản tinh thần. Chân sư DK muốn bà huy động những tài sản ấy để chúng thực sự hữu ích. Dường như bà đang tiến khá xa trên con đường trở thành một “thanh niên giàu có” theo nghĩa huyền bí của cách diễn đạt này.
2. We see that the spiritual diary has been prepared by her third ray energies, and that seventh ray energies need to be applied to it so that it may become a useful tool for service.
2. Chúng ta thấy nhật ký tinh thần đã hình thành nhờ những năng lượng cung ba của bà, và cần áp dụng những năng lượng cung bảy vào đó để nó trở thành một công cụ hữu ích cho việc phụng sự.
3. The story here is of ‘unused riches’ — not really horded, but not generally accessible either. There must be an ordering for the sake of ‘giving out’.
3. Câu chuyện ở đây là về “những của cải chưa được sử dụng” — không thực sự bị tích trữ, nhưng cũng chưa dễ tiếp cận đối với mọi người. Cần sắp xếp chúng có trật tự để “trao ra”.
4. RSU is ever the occultist and the knowledge she has gained in this and other lives could be of a broad and general usefulness. But she must care enough to organize that knowledge for presentation.
4. RSU luôn là nhà huyền bí học, và tri thức bà đã thu nhận trong kiếp này cùng những kiếp khác có thể hữu ích rộng rãi. Nhưng bà phải đủ quan tâm để tổ chức tri thức ấy nhằm trình bày ra ngoài.
5. Again, an editorial deletion prevents us from learning more about the specifics of RSU’s “real service”. There may be references here to the Arcane School (which if left in the original text would have served to identify RSU personally). Sometimes deletions are not for the purpose of removing dangerous or embarrassing information, but simply to eliminate the possibility of readily identifying the personality of the chela being addressed. The personnel in the groups-of-nine, we remember, were meant to remain anonymous, not only to the general public, but to the members of others groups.
5. Một lần nữa, một phần lược bỏ khi biên tập khiến chúng ta không biết thêm về những chi tiết cụ thể trong “công việc phụng sự thực sự” của RSU. Ở đây có thể có những chỗ đề cập đến Trường Arcane (nếu giữ lại trong nguyên bản, chúng sẽ giúp xác định danh tính của RSU). Đôi khi, việc lược bỏ không nhằm loại đi thông tin nguy hiểm hay gây khó xử, mà chỉ nhằm loại trừ khả năng dễ dàng nhận diện phàm ngã của người đệ tử đang được ngỏ lời. Chúng ta nhớ rằng các thành viên trong những nhóm chín người phải giữ kín danh tính, không chỉ với công chúng nói chung mà cả với thành viên của các nhóm khác.
6. The main point of the entire paragraph is to motivate RSU to externalize her knowledge. We note that Jupiter (the planet of broad understanding) is placed natally in the sign of Gemini (a sign in which much knowledge is gained), but Jupiter is placed in the twelfth house, which is a house of silence and secretiveness. Yet Jupiter in Gemini may symbolize a vast knowledge of the Ageless Wisdom. The many Taurus planets as well speak to the accumulation of light and knowledge. The Ascendant Cancer, however, may incline one towards reticence in sharing (on many levels). DK is working to help His chela become radiant and expressive.
6. Điểm chính của toàn bộ đoạn văn là thúc đẩy RSU ngoại hiện tri thức của bà. Chúng ta lưu ý rằng Sao Mộc (hành tinh của sự thấu hiểu rộng lớn) ở dấu hiệu Song Tử trong lá số bản mệnh (một dấu hiệu mà trong đó người ta thu nhận nhiều tri thức), nhưng Sao Mộc lại ở nhà 12, ngôi nhà của sự im lặng và kín đáo. Tuy vậy, Sao Mộc trong Song Tử có thể tượng trưng cho một tri thức bao la về Minh Triết Ngàn Đời. Nhiều hành tinh ở Kim Ngưu cũng nói lên sự tích lũy ánh sáng và tri thức. Tuy nhiên, Điểm mọc Cự Giải có thể khiến một người có khuynh hướng dè dặt trong việc chia sẻ (trên nhiều cấp độ). Chân sư DK đang giúp đệ tử của Ngài trở nên tỏa sáng và biểu đạt.
7. We see that organizing Saturn, by transit, will soon be entering the ninth house of higher mind and occult philosophy. This may be one of the causes contributing to the need to organize accumulated knowledge. Also, at the time of the writing, Saturn is trining natal Jupiter (symbolizing the great accumulation of knowledge). Saturn is practical, and signals the need to do something practical with that knowledge.
7. Chúng ta thấy Sao Thổ có năng lực tổ chức, qua chuyển động quá cảnh, sẽ sớm đi vào nhà 9 của thượng trí và triết học huyền bí. Đây có thể là một trong những nguyên nhân góp phần tạo nên nhu cầu tổ chức tri thức đã tích lũy. Đồng thời, vào thời điểm viết thư, Sao Thổ đang tạo góc tam hợp với Sao Mộc bản mệnh (tượng trưng cho sự tích lũy tri thức lớn lao). Sao Thổ mang tính thực tiễn và báo hiệu nhu cầu làm điều gì đó thiết thực với tri thức ấy.
8. As well a new impulse is ready to begin with the progressed lunation in the 19th degree of Pisces.
8. Đồng thời, một xung lực mới sẵn sàng khởi đầu cùng tuần trăng tiến trình ở độ thứ 19 của Song Ngư.
9. DK seeks to see this disciple, and every disciple, become increasingly useful.
9. Chân sư DK mong thấy người đệ tử này, cũng như mọi đệ tử, ngày càng trở nên hữu ích.
January 1935 – Tháng Một năm 1935
[360]
[360]
BROTHER OF MINE:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
There is entering into your life a little discouragement, a faint inner disgust with yourself and a sense of failure which — if persisted in — may damage the beautiful thing you are building. Such thoughts are not constructive in their effect. In what does this discouragement arise?
Một chút nản lòng đang len vào đời sống em, cùng với cảm giác hơi chán ghét bản thân từ bên trong và ý nghĩ mình thất bại; nếu em tiếp tục duy trì chúng, chúng có thể làm tổn hại điều đẹp đẽ em đang xây dựng. Những tư tưởng như vậy không mang lại tác động xây dựng. Sự nản lòng này bắt nguồn từ đâu?
1. RSU has just experienced a progressed lunation in Pisces, but the progressing Moon is still in the last degrees of Pisces — an area of the zodiac in which discouragement and weakness are often felt.
1. RSU vừa trải qua một tuần trăng tiến trình ở Song Ngư, nhưng Mặt Trăng tiến trình vẫn ở những độ cuối của Song Ngư — một vùng hoàng đạo mà người ta thường cảm thấy nản lòng và yếu đuối.
2. It has also been a period in which transiting Saturn (realistic assessment) has been conjuncting progressing Mercury in Aquarius.
2. Đây cũng là giai đoạn Sao Thổ quá cảnh (sự đánh giá thực tế) đồng vị với Sao Thủy tiến trình ở Bảo Bình.
3. Also, one of the effects of transiting Saturn on Mars (in this case progressing Mars) is to lower the vitality and suppress the aspiration.
3. Đồng thời, một trong những tác động của Sao Thổ quá cảnh lên Sao Hỏa (trong trường hợp này là Sao Hỏa tiến trình) là làm giảm sinh lực và kìm hãm khát vọng.
4. Master DK is a Master upon the building second ray. He is helping His chelas build a better and more spiritual life. RSU (a Mason) is building an “inner temple” and DK suggests that that which she is building could be beautiful, if she does not allow her discouragement and negativity to ruin it.
4. Chân sư DK là một Chân sư trên cung hai kiến tạo. Ngài đang giúp các đệ tử của Ngài xây dựng một đời sống tốt đẹp hơn và mang tính tinh thần hơn. RSU (một thành viên Hội Tam Điểm) đang xây dựng một “ngôi đền nội tâm”, và Chân sư DK gợi ý rằng điều bà đang xây dựng có thể đẹp đẽ, nếu bà không để sự nản lòng và tính tiêu cực của mình phá hỏng nó.
It is to be found in your realisation that your inner knowledge far outstrips your outer usefulness. It grows out of your intelligent awareness that the inner worlds hold for you much of interest which you never bring through for use on the physical plane. This is so. You are a deeply versed occult student and your grasp of the inner occult realities far outstrips that of the average student. But it is all introverted; it does not emerge for the helping of the world; it is accumulating and piling up within you and, unless you make some definite use of it, you may bring about a condition which it will be difficult later to change.
Nó bắt nguồn từ việc em nhận ra rằng tri thức bên trong của mình vượt xa mức độ hữu ích em thể hiện ra bên ngoài. Nó nảy sinh từ sự nhận biết sáng suốt rằng các cõi bên trong chứa đựng nhiều điều thú vị đối với em, nhưng em chưa bao giờ đưa chúng ra để sử dụng trên cõi hồng trần. Đúng là như vậy. Em là một đạo sinh huyền bí học uyên thâm, và sự nắm bắt các thực tại huyền bí bên trong của em vượt xa đạo sinh bình thường. Nhưng tất cả đều hướng vào trong; chúng không đi ra ngoài để trợ giúp thế giới; chúng đang tích lũy và chồng chất trong em, và nếu em không sử dụng chúng một cách cụ thể, em có thể tạo ra một tình trạng mà về sau sẽ khó thay đổi.
1. He seeks to identify the cause of her discouragement — a cause, we shall find, that is common to many disciples.
1. Ngài tìm cách xác định nguyên nhân khiến bà nản lòng — một nguyên nhân mà chúng ta sẽ thấy là phổ biến ở nhiều đệ tử.
2. Cleavage is always a cause of unhappiness and RSU has detected a cleavage in her life — a great ‘distance’ between what she inwardly knows and outwardly expresses.
2. Sự chia cắt luôn là nguyên nhân của bất hạnh, và RSU đã phát hiện một sự chia cắt trong đời mình — một “khoảng cách” lớn giữa những gì bà biết bên trong và những gì bà biểu đạt ra ngoài.
3. The problem is one of integration. There is a gap between the higher and lower aspects of her nature which militates against integration.
3. Đây là vấn đề về sự tích hợp. Có một khoảng cách giữa những phương diện cao và thấp trong bản chất của bà, cản trở sự tích hợp.
4. DK speaks of RSU’s accomplishments. She is “a deeply versed occult student” whose grasp of inner occult realities “far outstrips that of the average student”. She has accumulated much of knowledge and of wisdom.
4. Chân sư DK nói đến những thành tựu của RSU. Bà là “một đạo sinh huyền bí học am tường sâu sắc”, có khả năng nắm bắt những thực tại huyền bí bên trong “vượt xa đạo sinh trung bình”. Bà đã tích lũy nhiều tri thức và minh triết.