← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

June 1936 – Tháng Sáu năm 1936

Trích nội dung chương

Much that I have written to S.C.P. is also of prime importance to you. I refer not to it here as I have other things about which I wish to speak to you. I urge you from my heart (which enfolds you in its constant love) to look away from yourself and dwell not with such constancy upon your failures to achieve. Recognise failure — if it is there — but then with a face lifted to the light and a smile upon your lips, turn your back upon such failure and go with steadfastness forward. Phần lớn những điều Tôi đã viết cho S.C.P. cũng có tầm quan trọng hàng đầu đối với em. Tôi không đề cập đến những điều ấy ở đây vì Tôi còn những điều khác muốn nói…


June 1936 – Tháng Sáu năm 1936

MY BROTHER AND MY FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ BẰNG HỮU CỦA TÔI

Much that I have written to S.C.P. is also of prime importance to you. I refer not to it here as I have other things about which I wish to speak to you. I urge you from my heart (which enfolds you in its constant love) to look away from yourself and dwell not with such constancy upon your failures to achieve. Recognise failure — if it is there — but then with a face lifted to the light and a smile upon your lips, turn your back upon such failure and go with steadfastness forward.

Phần lớn những điều Tôi đã viết cho S.C.P. cũng có tầm quan trọng hàng đầu đối với em. Tôi không đề cập đến những điều ấy ở đây vì Tôi còn những điều khác muốn nói với em. Từ trái tim luôn ôm ấp em trong tình thương không ngừng, Tôi tha thiết khuyên em hãy hướng mắt ra khỏi bản thân và đừng mãi chăm chú vào những thất bại trong việc đạt thành tựu. Hãy nhận ra thất bại—nếu quả có—nhưng rồi hãy ngẩng mặt về phía ánh sáng, giữ nụ cười trên môi, quay lưng lại với thất bại ấy và kiên định tiến bước.

1. The form of address used by DK indicates an attitude of acceptance and ingathering.

1. Cách xưng hô Chân sư DK sử dụng cho thấy thái độ chấp nhận và đón nhận.

2. DK recommends that RSU consult the letters written to SCP (which are of prime importance to her), just as He suggested to SCP that RSU had problems similar to her own. We remember that SCP and RSU were both in the group of Telepathic Workers.

2. Chân sư DK khuyên RSU tham khảo những bức thư viết cho SCP (vốn có tầm quan trọng hàng đầu đối với bà), cũng như Ngài đã gợi ý với SCP rằng RSU có những vấn đề tương tự bà. Chúng ta nhớ rằng cả SCP và RSU đều thuộc nhóm những Người Hoạt Động Viễn Cảm.

3. DK assures RSU of his constant, enfolding love as He urges her, yet again, to take her eyes off her little self and its constant sense of failure.

3. Chân sư DK bảo đảm với RSU về tình thương bền bỉ, bao bọc của Ngài khi một lần nữa thúc giục bà thôi nhìn vào bản ngã nhỏ bé của mình và cảm giác thất bại thường trực của nó.

4. Then, He offers beautiful advice which all of us may use when we seem to fail — which, surely, we will: “Recognise failure — if it is there — but then with a face lifted to the light and a smile upon your lips, turn your back upon such failure and go with steadfastness forward”.

4. Sau đó, Ngài đưa ra lời khuyên đẹp đẽ mà tất cả chúng ta đều có thể sử dụng khi dường như thất bại — điều chắc chắn sẽ xảy đến với chúng ta: “Hãy nhìn nhận thất bại — nếu quả có — nhưng rồi, với gương mặt ngẩng lên hướng về ánh sáng và nụ cười trên môi, hãy quay lưng với thất bại ấy và kiên định tiến về phía trước”.

5. What is said evokes the inherent joy of the soul which has an innate confidence of success. The smile upon the lips arises because of a deep inner knowing and assurance. Victory lies ahead.

5. Những lời này khơi dậy sự hoan hỉ vốn có của linh hồn, vốn mang niềm tin bẩm sinh vào thành công. Nụ cười trên môi nảy sinh từ sự biết rõ và vững tin sâu xa bên trong. Chiến thắng đang ở phía trước.

6. The right attitude towards failure (apparent or more real) has been enunciated and we may both use it and suggest it to others who may have forgotten how to proceed in such depressing moments.

6. Thái độ đúng đắn đối với thất bại (dù có vẻ là thất bại hay thực sự là thất bại hơn) đã được nêu rõ, và chúng ta vừa có thể áp dụng vừa có thể gợi ý cho những người có lẽ đã quên cách tiến bước trong những lúc nản lòng như thế.

D.A.O., a member of my group of disciples, learns not with ease the lesson of self-discipline, and the glamour of the fear of authority has descended upon her. She has asked permission to leave my group and for some one else to function in her place. I am suggesting to her that she regard herself as suspended from her group endeavour and from my so-called control and take one year for careful thought, prior to taking a final decision. To prove to you that your failure is basically superficial I am asking you to do for me a definite service. I could not so ask you if you had failed. For the space of a year I would ask you to take over the work and place of D.A.O. in my group and so help preserve the integrity of the group relationship. This is not the first time that you have done this and hence my immediate thought of you. But though instinctively my mind decided to ask this service of you, I have a twofold reason. You have a surety of touch and a freedom from glamour which is sorely needed by the immediate associates of D.A.O. in my group. You succumb somewhat yourself to the glamour of failure but are seldom glamoured where the principles of group work are concerned. I can trust you to give what is needed. Secondly, you have a clarity of vision which is true and constructive — in those cases where your personality love is not involved. Where it is involved, you are prone to over-estimate the loved ones and see too much for them. Is this not so, my brother? [367]

D.A.O., một thành viên trong nhóm đệ tử của Tôi, không dễ học được bài học tự kỷ luật, và ảo cảm sợ quyền uy đã phủ xuống bạn ấy. Bạn ấy đã xin phép rời nhóm của Tôi và để một người khác đảm nhận vị trí của mình. Tôi đang đề nghị bạn ấy xem như mình tạm ngừng nỗ lực nhóm và thoát khỏi điều được gọi là sự kiểm soát của Tôi, đồng thời dành một năm suy nghĩ cẩn thận trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Để chứng minh với em rằng thất bại của em về căn bản chỉ ở bề mặt, Tôi yêu cầu em thực hiện cho Tôi một việc phụng sự cụ thể. Tôi không thể yêu cầu em như vậy nếu em đã thất bại. Trong thời gian một năm, Tôi muốn em đảm nhận công việc và vị trí của D.A.O. trong nhóm Tôi, qua đó giúp bảo toàn tính toàn vẹn của mối quan hệ nhóm. Đây không phải lần đầu em làm việc này, nên Tôi lập tức nghĩ đến em. Nhưng dù theo bản năng, thể trí Tôi đã quyết định nhờ em phụng sự việc này, Tôi vẫn có hai lý do. Em có sự vững vàng trong cách ứng xử và không bị ảo cảm chi phối, những điều mà các cộng sự gần gũi của D.A.O. trong nhóm Tôi đang rất cần. Bản thân em phần nào khuất phục trước ảo cảm thất bại, nhưng hiếm khi bị ảo cảm chi phối trong những vấn đề liên quan đến các nguyên tắc của công việc nhóm. Tôi có thể tin rằng em sẽ trao những gì cần thiết. Thứ hai, em có tầm nhìn sáng rõ, chân thực và mang tính xây dựng—trong những trường hợp không có tình thương phàm ngã của em xen vào. Khi tình thương ấy xen vào, em có khuynh hướng đánh giá quá cao những người mình yêu thương và nhìn thấy quá nhiều triển vọng cho họ. Huynh đệ của tôi, chẳng phải như vậy sao? [367]

1. DK turns to practical matters. One of the disciples in the “Trained Observers” (the ‘Glamor Group’) has succumbed to the “glamor of the fear of authority” and has asked to leave the group and for a replacement to be found.

1. Chân sư DK chuyển sang những vấn đề thực tế. Một trong các đệ tử thuộc nhóm “Các Nhà Quan Sát Lão Luyện” (‘Nhóm Ảo Cảm’) đã khuất phục trước “ảo cảm sợ quyền uy” và xin rời nhóm, đồng thời xin tìm một người thay thế.

2. We note that DK does not say that DAO has failed; one day she will learn, but, for the moment, she “learns not with ease the lesson of self-discipline”. This is interesting as DAO is a seventh ray soul from which, one might expect, more self-discipline.

2. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không nói DAO đã thất bại; một ngày nào đó bà sẽ học được, nhưng hiện tại, bà “không dễ học bài học về tự kỷ luật”. Điều này đáng chú ý vì DAO là một linh hồn cung bảy, mà người ta có thể mong đợi có tính tự kỷ luật cao hơn.

3. DK asks RSU to take her place in the “Trained Observers” temporarily. Interestingly (and convincingly — hopefully to RSU) He says He could not invite her to do so had she really failed.

3. Chân sư DK nhờ RSU tạm thời thay thế vị trí của DAO trong nhóm “Các Nhà Quan Sát Lão Luyện”. Điều thú vị (và đầy sức thuyết phục — hy vọng là đối với RSU) là Ngài nói rằng Ngài không thể mời bà làm như vậy nếu bà thực sự đã thất bại.

4. When a disciple drops out or drops back, another must take his or her place “to preserve the integrity of the group relationship”. We learnt that RSU has stepped in before when necessity arose. DK surely finds her a very useful disciple.

4. Khi một đệ tử rời bỏ hoặc tụt lại, một người khác phải thay thế vị trí của người ấy “để gìn giữ tính toàn vẹn của mối quan hệ nhóm”. Chúng ta biết rằng trước đây RSU đã từng đứng ra đảm nhiệm khi có nhu cầu. Chân sư DK hẳn thấy bà là một đệ tử rất hữu ích.

5. DK explains that his mind turned to RSU instinctively when the need arose. Yet He also has reasons for inviting her to this form of service. Firstly, she is relatively glamor free, and the sorely beset ‘Glamor Group’ needs such an influence. Secondly, her clarity of vision is true and constructive. It matters relatively little that RSU succumbs somewhat to the glamor of failure; where the principles of spiritual work are concerned she is free of glamor.

5. Chân sư DK giải thích rằng khi nhu cầu nảy sinh, thể trí Ngài hướng về RSU theo bản năng. Tuy vậy, Ngài cũng có những lý do để mời bà tham gia hình thức phụng sự này. Thứ nhất, bà tương đối tự do khỏi ảo cảm, và ‘Nhóm Ảo Cảm’ đang gặp rất nhiều khó khăn cần một ảnh hưởng như thế. Thứ hai, tầm nhìn sáng rõ của bà chân thực và mang tính xây dựng. Việc RSU phần nào khuất phục trước ảo cảm thất bại tương đối ít quan trọng; trong những vấn đề liên quan đến các nguyên khí của công việc tinh thần, bà tự do khỏi ảo cảm.

6. We notice that at this time transiting Saturn is at the MC of both proposed charts indicating the imposition of additional responsibility.

6. Chúng ta nhận thấy vào lúc này, Sao Thổ quá cảnh đang ở Thiên Đỉnh của cả hai lá số đề xuất, cho thấy việc gánh thêm trách nhiệm.

7. DK uses the occasion to point out in RSU a second ray glamor not infrequently found — the tendency to overestimate loved ones. Why do second ray people do this? Perhaps it because of their innate positivity, and their tendency to see and emphasize the subjective reality rather than the obstacles to the expression of that reality found within the form.

7. Chân sư DK nhân dịp này chỉ ra ở RSU một ảo cảm cung hai không hiếm gặp — khuynh hướng đánh giá quá cao những người mình yêu thương. Vì sao những người cung hai lại làm vậy? Có lẽ vì tính tích cực vốn có và khuynh hướng nhìn thấy, nhấn mạnh thực tại chủ quan hơn là những chướng ngại đối với sự biểu lộ thực tại ấy nằm trong hình tướng.

8. The sign Cancer is also given to this liability of overestimating the near and dear. Their close personal love biases the clarity of their sight.

8. Dấu hiệu Cự Giải cũng dễ mắc nhược điểm đánh giá quá cao những người gần gũi và thân yêu. Tình thương cá nhân gắn bó làm lệch sự sáng rõ trong cái nhìn của họ.

9. We can see how skillfully the Master moves, accomplishing several things at once — not only finding a replacement for DAO, but teaching RSU that she cannot possibly have failed, and, as well, pointing out a few glamorous tendencies which need attention. A Master’s consciousness is synthesized and can move a number of situations forward into greater harmony simultaneously.

9. Chúng ta có thể thấy Chân sư hành động khéo léo như thế nào, hoàn thành nhiều việc cùng lúc — không chỉ tìm người thay thế DAO, mà còn dạy RSU rằng bà không thể nào đã thất bại, đồng thời chỉ ra một vài khuynh hướng ảo cảm cần chú ý. Tâm thức của một Chân sư có tính tổng hợp và có thể đồng thời đưa nhiều tình huống tiến đến sự hài hoà lớn hơn.

In this case however, your vision will be clear and true. So take the place of D.A.O. and give of your best in the situation. But vacate not your own place in my group.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, tầm nhìn của em sẽ sáng rõ và chân thực. Vì vậy, hãy đảm nhận vị trí của D.A.O. và cống hiến hết sức trong hoàn cảnh này. Nhưng đừng rời bỏ vị trí riêng của em trong nhóm Tôi.

D.A.O.’s concept of freedom — as is the case with all such concepts — can act as a prison. Her idea of liberty can be a chain, holding her down. This is the lesson she must learn. Her service in my group comes second to her love of her own progress and this I shall have to point out to her. Disciples, working in an Ashram, are none of them entirely free agents. Each is held by a soul link to his co-disciples. Responsibility undertaken and karmic relationships recognised cannot be lightly set aside and must ultimately be worked out. The discipline of the group life is a higher living discipline than any self-imposed ideas of life and truth. When a disciple sees and relates his individual dharma and his group responsibility — then he can take right action.

Quan niệm về tự do của D.A.O.—cũng như mọi quan niệm tương tự—có thể trở thành một nhà tù. Ý tưởng về tự do của bạn ấy có thể là một sợi xích níu giữ bạn ấy. Đây là bài học bạn ấy phải học. Việc phụng sự trong nhóm Tôi đứng sau tình yêu dành cho sự tiến bộ của chính bạn ấy, và Tôi sẽ phải chỉ ra điều này cho bạn ấy. Không một đệ tử nào làm việc trong một ashram là người hoàn toàn tự do hành động. Mỗi người đều gắn bó với các đệ tử đồng môn bằng một mối liên kết linh hồn. Không thể dễ dàng gạt sang một bên trách nhiệm đã nhận lãnh và những mối quan hệ nghiệp quả đã nhận biết; cuối cùng phải thực hiện trọn vẹn những điều ấy. Kỷ luật của sự sống nhóm là một kỷ luật sống cao hơn bất kỳ ý tưởng nào về đời sống và chân lý do cá nhân tự đặt ra. Khi một đệ tử nhìn thấy và liên hệ bổn phận cá nhân với trách nhiệm nhóm của mình—khi ấy người đệ tử có thể hành động đúng đắn.

1. DK seems to become more directive. After assuring RSU of her capacity to fulfill the request, He directs her to do so, encouraging her to give of her best in the situation.

1. Chân sư DK dường như trở nên quyết đoán hơn trong việc chỉ dẫn. Sau khi bảo đảm với RSU về khả năng đáp ứng yêu cầu của bà, Ngài chỉ thị bà làm như vậy, khuyến khích bà cống hiến hết sức mình trong hoàn cảnh này.

2. We can see DK placing greater responsibility upon his chela, but she is one who is equal to the assumption of such responsibility. As she proves herself in difficult situations, she will realize the illusory nature of her failure.

2. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đặt trách nhiệm lớn hơn lên đệ tử của Ngài, nhưng bà là người đủ sức đảm nhận trách nhiệm ấy. Khi chứng tỏ năng lực trong những hoàn cảnh khó khăn, bà sẽ nhận ra bản chất ảo tưởng của sự thất bại của mình.

3. DK returns to a consideration of DAO’s particular glamor related to the “concept of freedom”. He points out the paradoxes in her situation — a demand for freedom which is really imprisoning her; a demand for her own personal progress which really retards the progress of her group.

3. Chân sư DK trở lại xem xét ảo cảm riêng của DAO liên quan đến “quan niệm về tự do”. Ngài chỉ ra những nghịch lý trong hoàn cảnh của bà — đòi hỏi tự do lại thực sự giam hãm bà; đòi hỏi sự tiến bộ cá nhân lại thực sự làm chậm bước tiến của nhóm bà.

4. It is clear that DK has not yet written the necessary explanatory letter to DAO. He will have to deal truthfully with the matter for her sake.

4. Rõ ràng Chân sư DK vẫn chưa viết bức thư giải thích cần thiết cho DAO. Vì lợi ích của bà, Ngài sẽ phải xử lý vấn đề này một cách thẳng thắn.

5. Then comes some general teaching of importance. Disciples in an Ashram are not really totally free agents. They are linked together through soul relationships and karmic relationships. One cannot easily set such relationships aside or else the karma will not be worked through.

5. Tiếp đó là một số giáo huấn chung quan trọng. Các đệ tử trong một ashram thực sự không phải là những người hoàn toàn tự do hành động. Họ gắn bó với nhau qua các mối quan hệ linh hồn và quan hệ nghiệp quả. Không thể dễ dàng gạt bỏ những mối quan hệ như thế, nếu không nghiệp quả sẽ không được giải quyết trọn vẹn.

6. By studying the case of DAO the group is learning about the relative value of group values and individual values. The group values must take prominence.

6. Qua việc nghiên cứu trường hợp của DAO, nhóm đang học về giá trị tương đối của các giá trị nhóm và các giá trị cá nhân. Các giá trị nhóm phải được đặt lên hàng đầu.

7. When individual dharma and group responsibility can be correctly related by the disciple, then right action can be taken.

7. Khi đệ tử có thể liên hệ đúng đắn bổn phận cá nhân với trách nhiệm nhóm, bấy giờ y có thể hành động đúng đắn.

8. Probably a number of us have had to balance soul urges arising from the pressure to express the causal body, against the demands of the Divine Plan. This pressure will become even more intense as we approach the necessity of relinquishing the causal body. There is something inherently selfish about choosing the promptings of the causal body over the promptings mediated through the spiritual triad. It was such a choice which faced the “rich young man” who, making the wrong choice, “went sadly away”.

8. Có lẽ một số người trong chúng ta đã phải cân bằng những thôi thúc của linh hồn nảy sinh từ áp lực biểu lộ thể nguyên nhân với những đòi hỏi của Thiên Cơ. Áp lực này sẽ càng mãnh liệt hơn khi chúng ta tiến gần đến lúc cần từ bỏ thể nguyên nhân. Có điều gì đó vốn mang tính ích kỷ trong việc chọn những thúc giục của thể nguyên nhân thay vì những thúc giục truyền qua Tam Nguyên Tinh Thần. Chính lựa chọn như thế đã đặt ra trước “người thanh niên giàu có”, người đã lựa chọn sai và “buồn bã bỏ đi”.

Will you assist me in this problem? I know you will, my brother. And will you take this as an evidence of my faith and trust in you and also as evidence of the needless astral anxiety under which you so constantly labour?

Em có giúp Tôi giải quyết vấn đề này không? Huynh đệ của tôi, Tôi biết em sẽ giúp. Và em có xem đây là bằng chứng về niềm tin và sự tín nhiệm của Tôi nơi em, đồng thời cũng là bằng chứng cho thấy nỗi lo âu cảm dục mà em thường xuyên phải chịu đựng là không cần thiết không?

1. The Tibetan, though seeming to direct RSU forward to the correct choice, still leaves the decision in her hands.

1. Dù dường như đang dẫn dắt RSU tiến đến lựa chọn đúng đắn, Chân sư Tây Tạng vẫn để quyền quyết định trong tay bà.

2. He asks her to help, but then seems to answer for her because, in fact, He knows she will help.

2. Ngài nhờ bà giúp, nhưng rồi dường như trả lời thay bà, vì thực ra Ngài biết bà sẽ giúp.

3. DK continue with His therapeutic mission to convince RSU that He has the kind of faith and trust in her which negates any necessity for her needless astral anxiety (under which she so constantly labors).

3. Chân sư DK tiếp tục sứ mệnh chữa lành của Ngài nhằm thuyết phục RSU rằng niềm tin và sự tín nhiệm của Ngài nơi bà khiến bà hoàn toàn không cần có nỗi lo âu cảm dục không cần thiết ấy (mà bà luôn khổ sở gánh chịu).

4. At this point we might wish to remember that RSU has a first ray astral body; does this ray energy contribute to the presence of such anxiety? The first ray in the astral body certainly does not contribute to ease of emotional expression and probably contributes to an elevated standard (hard to “live up to”) where personal responses are concerned.

4. Đến đây, có lẽ chúng ta nên nhớ rằng RSU có thể cảm dục cung một; liệu năng lượng cung này có góp phần tạo nên nỗi lo âu ấy không? Cung một trong thể cảm dục chắc chắn không giúp việc biểu lộ cảm xúc trở nên dễ dàng và có lẽ góp phần tạo nên một tiêu chuẩn cao (khó “đạt tới”) đối với những đáp ứng cá nhân.

5. Regarding this new presented responsibility (and, thus, presented opportunity) we cannot help but notice the position of transiting Saturn in Pisces culminating at the MC and conjuncting the progressing Sun in Pisces. The Master is Saturn; opportunity is Saturn; responsibility is Saturn. Saturn would conjunct the progressing Sun no matter what was RSU’s time of birth, but the fact that it does so at the MC (the career point) tends to lend reasonable validity to both proposed charts.

5. Về trách nhiệm mới được đặt ra này (và do đó là cơ hội được đặt ra), chúng ta không thể không chú ý đến vị trí của Sao Thổ quá cảnh trong Song Ngư đang lên đến Thiên Đỉnh và đồng vị với Mặt Trời tiến trình trong Song Ngư. Chân sư là Sao Thổ; cơ hội là Sao Thổ; trách nhiệm là Sao Thổ. Sao Thổ sẽ đồng vị với Mặt Trời tiến trình bất kể giờ sinh của RSU, nhưng việc điều này xảy ra tại Thiên Đỉnh (điểm sự nghiệp) có xu hướng củng cố tính hợp lý của cả hai lá số đề xuất.

6. As well, in the secondary proposed chart, the progressed Sun is reaching the MC and within one degree of conjunction. Additional power, influence and authority (symbolized by the Sun) are coming to RSU. Also solar arc directed Chiron (SA-Chiron) is very near to the both proposed Ascendants. Chiron (the Master) is pointing out new direction.

6. Đồng thời, trong lá số đề xuất phụ, Mặt Trời tiến trình đang đến Thiên Đỉnh và cách vị trí đồng vị chưa đến một độ. Quyền năng, ảnh hưởng và uy quyền gia tăng (do Mặt Trời tượng trưng) đang đến với RSU. Chiron nhật cung tiến trình (SA-Chiron) cũng ở rất gần cả hai Điểm mọc đề xuất. Chiron (Chân sư) đang chỉ ra hướng đi mới.

One small personal task I ask of you also. Please go back over all the instructions you have received from me and list the specific information I have given you anent your actions upon the physical plane. Then note what you have succeeded in doing and what still remains to be done. This will help you to renew your efforts to master the physical body which is the vehicle which gives you the most trouble and which can be brought to heel far more easily than the astral or mental bodies. Yet it is this body in this incarnation which gives you the most difficulty. If you mastered it, your work would forge ahead.

Tôi cũng yêu cầu em thực hiện một nhiệm vụ cá nhân nhỏ. Xin em xem lại tất cả những huấn thị đã nhận từ Tôi và liệt kê những thông tin cụ thể Tôi đã trao cho em về các hành động của em trên cõi hồng trần. Sau đó, hãy ghi nhận những gì em đã làm được và những gì vẫn còn phải làm. Điều này sẽ giúp em đổi mới nỗ lực làm chủ thể xác, vốn là hiện thể gây cho em nhiều phiền phức nhất, nhưng lại có thể đưa vào khuôn phép dễ dàng hơn nhiều so với thể cảm dục hoặc thể trí. Tuy nhiên, chính thể xác này trong kiếp lâm phàm này lại gây cho em nhiều khó khăn nhất. Nếu làm chủ được nó, công việc của em sẽ tiến mạnh về phía trước.

1. We can tell from the position of Saturn that the “pressure is still on”. DK asks RSU to gather for review all He has said about her actions on the physical plane, for the physical body is still her problem.

1. Từ vị trí của Sao Thổ, chúng ta có thể thấy “áp lực vẫn còn”. Chân sư DK yêu cầu RSU tập hợp để xem lại tất cả những gì Ngài đã nói về các hành động của bà trên cõi hồng trần, vì thể xác vẫn là vấn đề của bà.

2. He asks for a careful evaluation as much remains to be done.

2. Ngài yêu cầu đánh giá cẩn thận vì vẫn còn nhiều điều phải làm.

3. Mastery of the physical body is still the objective and under the rather strong influence of Saturn prevailing during the next number of months should be easier to accomplish.

3. Làm chủ thể xác vẫn là mục tiêu, và dưới ảnh hưởng khá mạnh của Sao Thổ chiếm ưu thế trong những tháng tới, điều này hẳn sẽ dễ thực hiện hơn.

4. So often relatively advanced disciples such as RSU have difficulty with the astral or mental body. Paradoxically, in her case, it continues to be the physical body which causes her so much of a problem.

4. Những đệ tử tương đối tiến bộ như RSU rất thường gặp khó khăn với thể cảm dục hoặc thể trí. Nghịch lý là trong trường hợp của bà, chính thể xác vẫn tiếp tục gây nhiều trở ngại đến thế.

5. DK expresses the matter in no uncertain terms; if she mastered the physical body her “work would forge ahead”. Is it not amazing that the physical body can be such an obstacle to spiritual progress for even an advanced disciple?

5. Chân sư DK nói hết sức rõ ràng về vấn đề này; nếu bà làm chủ thể xác, “công việc của bà sẽ tiến mạnh về phía trước”. Chẳng phải đáng kinh ngạc sao khi thể xác có thể là một chướng ngại lớn đến thế đối với sự tiến bộ tinh thần, ngay cả với một đệ tử tiến bộ?

January 1937 – Tháng Một năm 1937

BROTHER:

HUYNH ĐỆ:

I seek to start with a word of commendation to you. You have progressed this past year and have passed out of a relatively static condition into one of increased sensitivity and growth. Having in the past pointed out to you your failures and having frequently had the need to analyse you to yourself in terms of [368] reproof, it fills me with joy to register in you growth and an increasing ability to move forward. Let me tell you now that three years ago, I viewed your condition with questioning as to whether or not you had reached your highest point of attainment for this life and would (for the remainder of your years on earth) simply hold that which has been gained. No light achievement, my brother, given the equipment with which you started upon the Path three lives ago, but not indicating your highest possibility which is to be based upon the work done in your last life on earth. Go forward now to greater heights of achievement in self-forgetfulness and in love, and become increasingly a tower of strength and a source of illumining wisdom to your co-disciples.

Tôi muốn bắt đầu bằng một lời khen ngợi em. Trong năm qua, em đã tiến bộ và thoát khỏi một tình trạng tương đối trì trệ để bước vào trạng thái nhạy cảm và tăng trưởng hơn. Trước đây, Tôi đã chỉ ra cho em những thất bại của em và thường phải phân tích cho em thấy chính mình qua những lời [368] khiển trách; vì thế, Tôi rất hoan hỉ khi ghi nhận nơi em sự tăng trưởng và khả năng tiến bước ngày càng lớn. Giờ đây, Tôi xin nói với em rằng ba năm trước, khi xem xét tình trạng của em, Tôi đã tự hỏi liệu em đã đạt đến đỉnh cao thành tựu của mình trong kiếp này hay chưa, và liệu trong những năm còn lại trên Trái Đất, em sẽ chỉ giữ vững những gì đã đạt được hay không. Huynh đệ của tôi, xét những gì em có khi bắt đầu bước trên Đường Đạo cách đây ba kiếp, đó không phải là một thành tựu nhỏ; nhưng nó chưa thể hiện tiềm năng cao nhất của em, vốn phải dựa trên công việc em đã thực hiện trong kiếp sống trước trên Trái Đất. Giờ đây, hãy tiến tới những đỉnh cao thành tựu lớn hơn trong sự quên mình và tình thương, đồng thời ngày càng trở thành một trụ cột sức mạnh và một nguồn minh triết soi sáng cho các đệ tử đồng môn.

1. The increasing pressure applied by the Master and by the astrological conditions has brought good results. DK commends RSU on her progress. She has passed out of a relatively static condition into greater sensitivity and growth. She has, it would seem, seized the opportunity presented by Saturn and has been impulsed by power to begin anew associated with the progressing Moon passing through Aries (a sign which, with facility, moves all forward). We also note that solar arc directed Chiron is conjuncting the primary proposed Ascendant (and is still within orb in the secondary proposed chart), indicating the power to direct herself forward.

1. Áp lực ngày càng tăng từ Chân sư và các điều kiện chiêm tinh đã mang lại kết quả tốt. Chân sư DK khen ngợi sự tiến bộ của RSU. Bà đã bước ra khỏi một tình trạng tương đối tĩnh tại để đi vào sự nhạy cảm và tăng trưởng lớn hơn. Dường như bà đã nắm bắt cơ hội do Sao Thổ đem đến và được thúc đẩy bởi quyền năng khởi đầu lại gắn với Mặt Trăng tiến trình đi qua Bạch Dương (một dấu hiệu dễ dàng thúc đẩy mọi sự tiến lên). Chúng ta cũng lưu ý rằng Chiron nhật cung tiến trình đang đồng vị với Điểm mọc đề xuất chính (và vẫn còn trong độ lệch cho phép ở lá số đề xuất phụ), cho thấy quyền năng tự hướng mình tiến về phía trước.

2. The Master feels joy at being able to offer commendation instead of reproof. We also note that a measure of relief must accompany the continuing transit of Jupiter into Capricorn where, in a few months, it will conjunct the natal Sun.

2. Chân sư cảm thấy hoan hỉ khi có thể đưa ra lời khen ngợi thay vì khiển trách. Chúng ta cũng lưu ý rằng hẳn phải có phần nào nhẹ nhõm khi Sao Mộc tiếp tục quá cảnh vào Ma Kết, nơi trong vài tháng nữa hành tinh này sẽ đồng vị với Mặt Trời bản mệnh.

3. The Master now shares the somewhat pessimistic assessment of RSU He had entertained a few years before. All disciples have their “high water mark”. It is not possible for even a Master to know whether that mark has been attained, as disciples may often surprise themselves, their Master and their soul/Solar Angel.

3. Giờ đây, Chân sư chia sẻ nhận định có phần bi quan về RSU mà Ngài đã có vài năm trước. Mọi đệ tử đều có “mức thành tựu cao nhất” của mình. Ngay cả một Chân sư cũng không thể biết liệu mức ấy đã đạt tới hay chưa, vì các đệ tử thường có thể khiến chính mình, Chân sư của mình và linh hồn/Thái dương Thiên Thần của mình ngạc nhiên.

4. DK commends RSU’s achievement and points enigmatically to the equipment with which she started on the Path “three lives ago”. Which Path was this? Was this the Path of Initiation with the commencement indicated by the first initiation? Was it the Path of Accepted Discipleship? It is unlikely that it was the Path of Probation, for experience on that Path is usually of much longer duration than three lives.

4. Chân sư DK khen ngợi thành tựu của RSU và nói một cách bí ẩn đến những gì bà có khi bắt đầu bước trên Đường Đạo “ba kiếp trước”. Đây là Con Đường nào? Có phải là Con Đường Điểm Đạo, với sự khởi đầu đánh dấu bằng lần điểm đạo thứ nhất? Có phải là Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận? Khó có thể là Con Đường Dự Bị, vì trải nghiệm trên Con Đường ấy thường kéo dài hơn ba kiếp rất nhiều.

5. We are presented with the need for close analysis. It has been reasonably calculated that a usual minimum of seven lives occurs between the first and second initiation. Usually, starting upon the “Path” (if by the word “Path” is meant the “Probationary Path”) is done before the first initiation. If this were the case, however, RSU would have lived too few lives as an initiate of the first degree to stand where now she appears to stand as an accepted disciple poised to take either the second or third initiation. In this particular context, then, to start on the “Path” seems best interpreted as meaning either, to start as an initiate of the first degree or to start the “Path of Accepted Discipleship”. A number of DK’s chelas had been accepted disciples for several lives. There is no reason why in the case of RSU (advanced disciple that she is) that we should not entertain this possibility.

5. Chúng ta đứng trước nhu cầu phân tích kỹ lưỡng. Người ta đã tính toán khá hợp lý rằng thông thường cần ít nhất bảy kiếp giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Thông thường, việc bắt đầu bước trên “Đường Đạo” (nếu từ “Đường Đạo” hàm ý “Con Đường Dự Bị”) diễn ra trước lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, nếu đúng như vậy, RSU hẳn đã trải qua quá ít kiếp với tư cách một điểm đạo đồ cấp một để có thể đứng ở vị trí mà hiện nay bà dường như đang đứng: một đệ tử được chấp nhận, sẵn sàng tiếp nhận lần điểm đạo thứ hai hoặc thứ ba. Vậy trong ngữ cảnh cụ thể này, cách hiểu thích hợp nhất về việc bắt đầu bước trên “Đường Đạo” dường như là bắt đầu với tư cách một điểm đạo đồ cấp một hoặc bắt đầu “Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận”. Một số đệ tử của Chân sư DK đã là đệ tử được chấp nhận trong nhiều kiếp. Không có lý do gì để chúng ta không xét đến khả năng này trong trường hợp RSU (một đệ tử tiến bộ như bà).

6. DK seems to note that RSU’s previous incarnation held much promise which has not yet been fulfilled in the present incarnation.

6. Chân sư DK dường như lưu ý rằng kiếp lâm phàm trước của RSU hàm chứa nhiều hứa hẹn vẫn chưa thành hiện thực trong kiếp lâm phàm hiện tại.

7. RSU is to become a source of strength (the second term in her ‘Developmental Formula’) and a source of illumining wisdom to her fellowmen — drawing, it would seem, upon two signs of illumination (Taurus and Capricorn).

7. RSU phải trở thành một nguồn sức mạnh (từ thứ hai trong ‘Công Thức Phát Triển’ của bà) và một nguồn minh triết soi sáng cho đồng loại — dường như bằng cách rút nguồn từ hai dấu hiệu của sự soi sáng (Kim Ngưu và Ma Kết).

8. DK ends which an inspiring exhortation. We must notice that the proposed MC has progressed to a conjunction of both natal and progressing Neptune — the planet of release and of inspiration. This is only the case, however, in the primary proposed chart.

8. Chân sư DK kết thúc bằng một lời khích lệ đầy cảm hứng. Chúng ta phải lưu ý rằng Thiên Đỉnh đề xuất đã tiến trình đến vị trí đồng vị với cả Sao Hải Vương bản mệnh lẫn Sao Hải Vương tiến trình — hành tinh của sự giải thoát và cảm hứng. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng trong lá số đề xuất chính.

I have for you two words. One of them is based upon the instructions which I have given you in the past and which I will summarise by saying: Submit your physical plane life to discipline, self-imposed; adhere to that discipline at all costs. You can outline that discipline adequately for yourself. There is no need for me to do so.

Tôi có hai lời dành cho em. Một lời dựa trên những huấn thị Tôi đã trao cho em trước đây, mà Tôi sẽ tóm lược như sau: Hãy đặt đời sống trên cõi hồng trần của em dưới một kỷ luật do chính em đề ra; bằng mọi giá, hãy tuân thủ kỷ luật ấy. Em có thể tự phác định đầy đủ kỷ luật đó. Tôi không cần làm điều ấy cho em.

1. Regardless of His commendation, the Master does not relent in His critique. He continues to insist that RSU submit her physical vehicle and physical plane life to a self-imposed discipline.

1. Dù dành lời khen ngợi, Chân sư vẫn không giảm nhẹ lời phê bình. Ngài tiếp tục nhấn mạnh rằng RSU phải đưa vận cụ hồng trần và đời sống trên cõi hồng trần của bà vào kỷ luật do chính bà đặt ra.

2. We note that transiting Saturn is still very strong in the chart and represents the continuation of opportunity presented by discipline.

2. Chúng ta lưu ý rằng Sao Thổ quá cảnh vẫn rất mạnh trong lá số, biểu thị cơ hội mà kỷ luật mang lại vẫn đang tiếp diễn.

3. DK intensifies the request by adding the phrase “at all costs”. There is an urgency in His words and so, we presume, the opportunity for RSU to advance must be very great. As Chiron is at the Ascendant in both charts, the Master is directing her forward.

3. Chân sư DK tăng cường lời yêu cầu bằng cách thêm cụm từ “bằng mọi giá”. Lời Ngài mang tính cấp thiết, vì vậy, chúng ta cho rằng cơ hội tiến bộ dành cho RSU hẳn phải rất lớn. Vì Chiron nằm tại Điểm mọc trong cả hai lá số, Chân sư đang hướng bà tiến về phía trước.

4. As she is a mature disciple, she may conceive of the discipline herself.

4. Vì là một đệ tử trưởng thành, bà có thể tự xác định kỷ luật ấy.

The second message I have is based upon a comment you yourself made to me that you have permitted your life to be ruled by expediency and habit but not by plan. I would ask you to ponder deeply upon that sentence, asking you to apply it and carry the concept to the higher life of service and not just to a disciplined life, ordered and ruled by your own imposed plan but to that service to which this group of disciples is pledged. This lifts the whole theme out of the realm of the personality life and will fill your thought life with the vastness of our plan.

Thông điệp thứ hai của Tôi dựa trên một nhận xét chính em đã nói với Tôi: em đã để cho cuộc sống của mình chịu sự chi phối của tính tiện lợi và thói quen, thay vì một kế hoạch. Tôi muốn em suy ngẫm sâu sắc về câu ấy, áp dụng nó và đưa quan niệm này vào đời sống phụng sự cao hơn, chứ không chỉ vào một cuộc sống có kỷ luật, được sắp đặt và điều hành theo kế hoạch do chính em đề ra, mà vào công việc phụng sự nhóm đệ tử này đã cam kết thực hiện. Điều này nâng toàn bộ chủ đề ra khỏi phạm vi đời sống phàm ngã và sẽ làm cho đời sống tư tưởng của em tràn đầy sự bao la của Thiên Cơ chúng ta phụng sự.

1. The Tibetan recalls to RSU her own words. She has allowed her life “to be ruled by expediency and habit but not by plan”.

1. Chân sư Tây Tạng nhắc RSU nhớ lại chính lời bà. Bà đã để đời sống của mình “chịu sự chi phối của tính tiện lợi trước mắt và thói quen, thay vì một kế hoạch”.

2. All these terms concern the third ray — its misuse (expediency and habit) or its correct use (plan).

2. Tất cả những thuật ngữ này đều liên quan đến cung ba — việc sử dụng sai cung này (tính tiện lợi trước mắt và thói quen) hoặc sử dụng đúng cung này (kế hoạch).

3. DK sees an opportunity for illuminating teaching in RSU’s works. He asks her to apply His words to the Divine Plan and not just to the realm of personality life.

3. Trong những lời của RSU, Chân sư DK nhận thấy một cơ hội để đưa ra lời dạy mang tính soi sáng. Ngài yêu cầu bà vận dụng lời Ngài vào Thiên Cơ, chứ không chỉ vào phạm vi đời sống phàm ngã.

4. Clearly, He seeks to see her life ruled by the Divine Plan. He wishes her to fill her “thought life with the vastness of our plan”. If she did so, she would become like Foster Bailey whose mind and heart were filled with the Plan. These kinds of parallels contribute to the thought that RSU (like FB) was preparing for the third degree rather than the second.

4. Rõ ràng, Ngài mong muốn Thiên Cơ dẫn dắt đời sống của bà. Ngài muốn bà làm cho “đời sống tư tưởng của em tràn đầy tầm vóc bao la của Thiên Cơ chúng ta”. Nếu làm được như vậy, bà sẽ trở nên giống Foster Bailey, người có thể trí và trái tim tràn đầy Thiên Cơ. Những điểm tương đồng như thế góp phần củng cố nhận định rằng RSU (cũng như FB) đang chuẩn bị cho cấp điểm đạo thứ ba thay vì thứ hai.

5. DK seeks to elevate the quality of RSU’s life. She has the thought power to grasp the breadth and beauty of the Plan; the Master seeks to see her do so more dynamically. All this is occurring while Saturn, the planet most associated with the Divine Plan is in a very elevated position in the chart.

5. Chân sư DK tìm cách nâng cao phẩm tính đời sống của RSU. Bà có năng lực tư tưởng để nắm bắt tầm rộng lớn và vẻ đẹp của Thiên Cơ; Chân sư mong muốn bà làm điều đó một cách năng động hơn. Tất cả những điều này diễn ra khi Sao Thổ, hành tinh có liên hệ mật thiết nhất với Thiên Cơ, đang ở một vị trí rất cao trong lá số.

All of you know so much. Your theory is so good and sound. But your practice should begin to be commensurate with your theory if this group is to go forward as desired into real world work. Let rapid adjustment take place and a fresh dedication and re-alignment among all of you so that, hand in hand, shoulder to shoulder and with eyes fixed upon the same vision, you can face life and its vicissitudes together and thus lighten each others’ way. This is not always the case.

Tất cả các bạn đều biết rất nhiều. Lý thuyết của các bạn thật tốt đẹp và vững chắc. Nhưng việc thực hành của các bạn cần bắt đầu tương xứng với lý thuyết nếu nhóm này muốn tiến vào công việc thực sự trên thế giới như mong muốn. Hãy nhanh chóng điều chỉnh, đổi mới sự tận hiến và tái chỉnh hợp giữa tất cả các bạn, để tay trong tay, vai kề vai, mắt cùng hướng về một tầm nhìn, các bạn có thể cùng nhau đối diện với cuộc sống và những thăng trầm của nó, nhờ đó làm nhẹ bước đường của nhau. Điều này không phải lúc nào cũng diễn ra.

1. Now the group as a whole is addressed. The point is to substitute practice for theory.

1. Giờ đây, lời nói hướng tới toàn thể nhóm. Điều cốt yếu là đưa thực hành vào thay cho lý thuyết.

2. Group progress demands application of that which is known.

2. Sự tiến bộ của nhóm đòi hỏi phải vận dụng những gì đã biết.

3. DK offers an exhortation. His disciples are to adjust rapidly to the demands of the Plan, to work with fresh dedication and alignment and to stand hand in hand, and shoulder to shoulder with eyes fixed upon the same vision. In this way the ups and downs of the Path of Discipleship can be better endured and all can lighten each other’s way (and load).

3. Chân sư DK đưa ra lời khích lệ. Các đệ tử của Ngài phải nhanh chóng điều chỉnh theo những yêu cầu của Thiên Cơ, làm việc với sự tận hiến và chỉnh hợp được đổi mới, đứng tay trong tay, vai kề vai, cùng hướng mắt về một tầm nhìn. Bằng cách này, họ có thể chịu đựng tốt hơn những thăng trầm trên Con Đường Đệ Tử, và tất cả đều có thể làm nhẹ bước đường (cũng như gánh nặng) của nhau.

4. Master DK seems to take it as His task to send streams of inspiration into His groups from time to time. They need it.

4. Dường như Chân sư DK xem việc thỉnh thoảng truyền những dòng cảm hứng vào các nhóm của Ngài là nhiệm vụ của mình. Họ cần điều đó.

Therefore, my brother, let the plan itself mould your life and its activities and let discipline produce the instrument [369] which is needed for the work to be done. Groups of disciples today are being trained in telepathic work and are rendering telepathic service to the world — a tiny replica of the work which the Hierarchy is ever doing with the minds of men. Thus, when you start to do this, you can work to change conditions and to affect certain lives. This work will not be truly possible where criticism, self-pity or wrong speech exist, for one person could block the outflow of the group thought. Therefore, I am asking my group of disciples this year to prepare for expanding service and to brood deeply upon the work of thought transmission in world service.

Vì vậy, huynh đệ của tôi, hãy để chính Thiên Cơ định hình đời sống cùng các hoạt động của em, và hãy để kỷ luật tạo nên công cụ [369] cần thiết cho công việc phải thực hiện. Ngày nay, các nhóm đệ tử đang được huấn luyện về công việc viễn cảm và đang phụng sự thế giới bằng viễn cảm—một bản sao thu nhỏ của công việc Thánh đoàn luôn thực hiện với thể trí của con người. Như vậy, khi bắt đầu làm điều này, em có thể góp phần thay đổi hoàn cảnh và tác động đến một số cuộc đời. Công việc này thực sự không thể tiến hành ở nơi còn có sự chỉ trích, tự thương hại hay lời nói sai trái, vì chỉ một người cũng có thể ngăn chặn dòng tư tưởng của nhóm tuôn ra. Vì vậy, năm nay, Tôi yêu cầu nhóm đệ tử của Tôi chuẩn bị mở rộng việc phụng sự và suy ngẫm sâu sắc về công việc truyền tư tưởng trong sự phụng sự thế gian.

1. The Master is raising the level of consideration. The Divine Plan is to become the major directing factor of the life, moulding the life and its activities. Discipline is to produce the instrument needed by the Plan.

1. Chân sư đang nâng vấn đề được xem xét lên một tầm cao hơn. Thiên Cơ phải trở thành yếu tố chỉ đạo chủ yếu của đời sống, định hình đời sống cùng những hoạt động của nó. Kỷ luật phải tạo nên công cụ mà Thiên Cơ cần đến.

2. We find master DK summoning RSU to a still more impersonal life.

2. Chúng ta thấy Chân sư DK kêu gọi RSU hướng tới một đời sống còn vô ngã hơn nữa.

3. The Divine Plan can be considered especially related to the sign Capricorn — RSU’s Sun-sign.

3. Có thể xem Thiên Cơ có mối liên hệ đặc biệt với dấu hiệu Ma Kết — dấu hiệu Mặt Trời của RSU.

4. Again addressing the “Telepathic Communicators” He points out that their work is a tiny replica of the hierarchical work. He offers fresh incentive for them to develop the capacity to work in this way. Thus they will “change conditions and… affect certain lives”.

4. Một lần nữa hướng lời đến “Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm”, Ngài chỉ ra rằng công việc của họ là một hình ảnh thu nhỏ của công việc của Thánh đoàn. Ngài đem lại động lực mới để họ phát triển khả năng làm việc theo cách này. Nhờ đó, họ sẽ “thay đổi hoàn cảnh và… tác động đến một số cuộc đời”.

5. If the group of Telepathic Communicators is to be able to begin their service they must eliminate criticism, self-pity and wrong speech. Even one person subject to these liabilities “could block the outflow of the group thought”. Any one of such faults would short-circuit the group energy producing cleavage and disruption.

5. Để nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm có thể bắt đầu phụng sự, họ phải loại bỏ sự chỉ trích, lòng tự thương hại và lời nói sai trái. Ngay cả một người còn mắc những khuyết điểm này cũng “có thể ngăn dòng tư tưởng của nhóm tuôn ra”. Bất kỳ một khuyết điểm nào như thế cũng sẽ làm đoản mạch năng lượng nhóm, gây chia rẽ và gián đoạn.

6. The group of disciples is being asked to “brood deeply upon the work of thought transmission in world service”. Well may we brood upon this form of service — today, especially. Service through thought transmission has not yet been fully accomplished among the world disciples. In fact, it has barely begun to fulfill its real potential.

6. Nhóm đệ tử được yêu cầu “suy ngẫm sâu sắc về công việc truyền tư tưởng trong việc phụng sự thế gian”. Chúng ta rất nên suy ngẫm sâu sắc về hình thức phụng sự này — đặc biệt là ngày nay. Các đệ tử trên thế giới vẫn chưa thực hiện trọn vẹn việc phụng sự bằng truyền tư tưởng. Thực ra, công việc này mới chỉ bắt đầu phát huy tiềm năng thực sự của nó.

The occult phrases which I have for your consideration are as follows:

Những câu huyền bí Tôi dành cho em suy xét như sau:

“The blueprint lay before the Master Workman and the plan, in all its detail, lay disclosed upon the Trestle Board. Within the Middle Chamber waited those who had to build the Temple according to the plan laid down.

“Bản thiết kế nằm trước mặt Chân sư Kiến Tạo, và kế hoạch, với đầy đủ mọi chi tiết, hiển lộ trên Bảng Thiết Kế. Trong Gian Giữa, những người phải xây dựng Ngôi Đền theo kế hoạch đã định đang chờ đợi.

1. DK continues to offer RSU selections from the Old Commentary which she can approach with her considerable powers of interpretation (a third ray gift).

1. Chân sư DK tiếp tục trao cho RSU những đoạn trích từ Cổ Luận mà bà có thể tiếp cận bằng năng lực diễn giải đáng kể của mình (một thiên phú của cung ba).

2. We should remember that by this time AAB had started the Masonic Lodge which she directed, and that RSU was a dedicated member of this Lodge.

2. Chúng ta nên nhớ rằng vào thời điểm này, Bà AAB đã thành lập Chi hội Tam Điểm do Bà điều hành, và RSU là một thành viên tận tâm của Chi hội này.

3. The terminology used here is strictly Masonic.

3. Thuật ngữ dùng ở đây hoàn toàn thuộc Hội Tam Điểm.

4. We remember that in this instruction Master DK has been talking about the power of the Divine Plan to guide the life.

4. Chúng ta nhớ rằng trong huấn thị này, Chân sư DK đã nói về quyền năng hướng dẫn đời sống của Thiên Cơ.

5. The “Trestle Board” is that place where the plans to be immediately accomplished are laid out. The “Middle Chamber” represents the domain of the soul (and will have a specialized meaning for RSU to be explained later when the relationships between DK’s and KH’s Ashrams are discussed). The “Temple” is not only the causal body but the “Temple of Humanity” which all disciples are in process of building.

5. “Bảng Thiết Kế” là nơi trình bày những kế hoạch cần được thực hiện ngay. “Gian Giữa” biểu thị lĩnh vực của linh hồn (và sẽ có một ý nghĩa chuyên biệt đối với RSU, sẽ được giải thích sau khi những mối quan hệ giữa các ashram của Chân sư DK và Chân sư KH được bàn đến). “Đền Thờ” không chỉ là thể nguyên nhân mà còn là “Đền Thờ Nhân Loại” mà mọi đệ tử đều đang xây dựng.

6. Those who waited are very likely disciples who are to cooperate in the building of the Temple.

6. Những người đang chờ đợi rất có thể là các đệ tử sẽ hợp tác xây dựng Đền Thờ.

“But the plan was not complete. Some knowledge of the ground plan upon which the Temple must be reared was lacking and he who sought it and he who had it were not there. The Master Workman waited.

“Nhưng kế hoạch vẫn chưa hoàn chỉnh. Còn thiếu một phần tri thức về sơ đồ nền móng mà trên đó Ngôi Đền phải được dựng lên, và người tìm kiếm tri thức ấy cùng người nắm giữ nó đều không có mặt. Chân sư Kiến Tạo chờ đợi.

1. Something in the process of building, however, is not as it should be. The Plan is not complete and the building process cannot proceed.

1. Tuy nhiên, có điều gì đó trong tiến trình xây dựng không diễn ra như cần phải thế. Thiên Cơ chưa hoàn chỉnh và tiến trình xây dựng không thể tiếp tục.

2. A part of the Plan is missing. The one who has that part is not (yet) in the Middle Chamber ready for work.

2. Một phần Thiên Cơ còn thiếu. Người nắm giữ phần ấy (vẫn chưa) có mặt trong Gian Giữa để sẵn sàng làm việc.

3. The Master Workman is the Master, Himself.

3. Vị Thợ Cả chính là Chân sư.

“The one who sought the needed knowledge, who guided those who laid the ground for later building, he slept and ate and played upon the outer plane. And yet at every hour, his thought was focussed in the Middle Chamber of the waiting artisans and recollection came. His soul at moments hovered o’er the blueprints in the Inner Room and looked the Master Workman in the face. And still the Master waited. Then recollection came and active work.”

“Người tìm kiếm tri thức cần thiết, người hướng dẫn những người đặt nền móng cho công trình về sau, vẫn ngủ, ăn và vui chơi trên cõi bên ngoài. Tuy nhiên, vào mỗi giờ, tư tưởng của người ấy lại tập trung trong Gian Giữa, nơi các thợ thủ công đang chờ đợi, và sự hồi tưởng xuất hiện. Có những lúc, linh hồn người ấy lơ lửng trên những bản thiết kế trong Gian Phòng Bên Trong và nhìn thẳng vào mặt Chân sư Kiến Tạo. Và Chân sư vẫn chờ đợi. Rồi sự hồi tưởng xuất hiện, cùng công việc tích cực.”

1. The disciple (RSU) who sought the needed knowledge for the building and whose responsibility it was to guide those who were to lay the ground for the later building, was behaving in an unseemly manner. He was indulging his personality, eating, sleeping and playing upon the outer plane.

1. Người đệ tử (RSU) tìm kiếm tri thức cần thiết cho việc xây dựng và có trách nhiệm hướng dẫn những người sẽ đặt nền móng cho công trình xây dựng về sau lại đang hành xử không thích đáng. Ông nuông chiều phàm ngã, ăn, ngủ và vui chơi trên cõi bên ngoài.

2. But he (again, RSU) is divided in his attention, for his thought turns often to the Middle Chamber of the soul where the Master is waiting.

2. Nhưng sự chú tâm của ông (một lần nữa, là RSU) bị chia đôi, vì tư tưởng ông thường hướng về Gian Giữa của linh hồn, nơi Chân sư đang chờ đợi.

3. As his consciousness turns towards the Middle Chamber, he remembers his duty. There are those in the Middle Chamber whom he must put to work. The “waiting artisans” are creative workers who are to creatively implement the Divine Plan.

3. Khi tâm thức hướng về Gian Giữa, ông nhớ lại bổn phận của mình. Trong Gian Giữa có những người mà ông phải giao việc. Những “nghệ nhân đang chờ đợi” là những người hoạt động sáng tạo, có nhiệm vụ thực hiện Thiên Cơ một cách sáng tạo.

4. As a soul he begins to take his task more seriously, pondering the blueprints which are known to him as a soul. He looks at the Master to determine the Master’s purpose. At the same time he is facing his soul, for the soul and the Master are one.

4. Với tư cách một linh hồn, ông bắt đầu coi trọng nhiệm vụ của mình hơn, suy ngẫm về những bản thiết kế mà ông biết trên cương vị linh hồn. Ông nhìn Chân sư để xác định mục đích của Ngài. Đồng thời, ông đang đối diện với linh hồn mình, vì linh hồn và Chân sư là một.

5. Yet, the readiness to do as he should was still not completely present.

5. Tuy vậy, ông vẫn chưa hoàn toàn sẵn sàng làm những gì mình phải làm.

6. The Master waited just as DK is waiting for RSU to seize full responsibility.

6. Chân sư chờ đợi, cũng như Chân sư DK đang chờ RSU nhận lấy trọn vẹn trách nhiệm.

7. Recollection came again and, at last, the beginning of active work in line with the Plan, according to the blueprints, utilizing and cooperating with the waiting artisans and under the guidance of the Master.

7. Sự nhớ lại lại đến, và cuối cùng công việc tích cực bắt đầu, phù hợp với Thiên Cơ, theo đúng các bản thiết kế, sử dụng và hợp tác với những nghệ nhân đang chờ đợi, dưới sự hướng dẫn của Chân sư.

8. RSU, as a Mason, could hardly miss the point being suggested by DK. There was much for her to do in relation to the Divine Plan. She was not yet doing it, yet wished to do it. Only her physical plane life was holding her back. This she realized and finally got control of it so that she could work as actively as her duty demanded.

8. Là một thành viên Hội Tam Điểm, RSU khó có thể không hiểu điều Chân sư DK đang gợi ý. Bà có nhiều việc phải làm liên quan đến Thiên Cơ. Bà chưa làm, dù mong muốn thực hiện. Chỉ có đời sống trên cõi hồng trần đang cản trở bà. Bà nhận ra điều này và cuối cùng đã kiểm soát được nó, để có thể làm việc tích cực đúng như bổn phận đòi hỏi.

July 1937 – Tháng Bảy năm 1937

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You have, as you have oft been told by me, only one major problem and that is connected with your physical body. Let me indicate to you your ray forces and then, I believe, increased light will be thrown upon your problem.

Như Tôi đã thường nói với em, em chỉ có một vấn đề lớn, và vấn đề ấy liên quan đến thể xác của em. Hãy để Tôi chỉ ra cho em các mãnh lực cung của em; rồi Tôi tin rằng vấn đề của em sẽ được soi sáng thêm.

1. Transiting Jupiter has come to a conjunction of the natal Sun and the progressing Moon has moved into the sign Taurus, the sign of RSU’s natal Moon. Will this be lead to progress or retardation?

1. Sao Mộc quá cảnh đã đi đến vị trí đồng vị với Mặt Trời bản mệnh, còn Mặt Trăng tiến trình đã đi vào dấu hiệu Kim Ngưu, dấu hiệu của Mặt Trăng bản mệnh của RSU. Điều này sẽ dẫn đến tiến bộ hay trì trệ?

2. DK reiterates that the major problem is the physical body. At a time when the progressed Moon is found in Taurus, physical issues can again emerge in strength.

2. Chân sư DK nhắc lại rằng vấn đề lớn nằm ở thể xác. Vào thời điểm Mặt Trăng tiến trình nằm trong Kim Ngưu, các vấn đề thể xác có thể lại nổi lên mạnh mẽ.

3. This is the particular letter of instruction in which the ray forces are to be revealed. DK hopes that doing so will assist RSU in the solution of her problem.

3. Đây chính là bức thư huấn thị trong đó các mãnh lực cung sẽ được tiết lộ. Chân sư DK hy vọng rằng làm như vậy sẽ giúp RSU giải quyết vấn đề của bà.

Your mental body is a first ray one and this is what makes [370] you a real occult student. Your soul’s contact is so definite and real that your mental body builds no barriers between the soul and your personality or between you and your co-disciples. Mentally, you always understand and are inclusive. I do not mean theoretically but in fact. But your astral body is also upon the first ray which is an unique occurrence and rarely to be found. It is here that the sense of separateness enters in, for that first ray tendency does to you two things:

Thể trí của em thuộc cung một, và chính điều này khiến [370] em trở thành một đạo sinh huyền bí học thực thụ. Sự tiếp xúc với linh hồn của em rõ rệt và chân thực đến mức thể trí của em không dựng lên bất cứ rào cản nào giữa linh hồn và phàm ngã, hoặc giữa em và các đệ tử đồng môn. Về mặt trí tuệ, em luôn thấu hiểu và có tính bao gồm. Tôi không nói về mặt lý thuyết mà về thực tế. Nhưng thể cảm dục của em cũng thuộc cung một, một trường hợp độc đáo và hiếm gặp. Chính ở đây, cảm thức chia rẽ len vào, vì khuynh hướng cung một ấy gây ra nơi em hai điều:

a. It feeds your sense of separativeness and thus tends to isolate you.

a. Nó nuôi dưỡng cảm thức chia rẽ của em và do đó có khuynh hướng cô lập em.

b. It fosters your fear of attachment.

b. Nó nuôi dưỡng nỗi sợ gắn bó của em.

1. DK speaks of the value of RSU’s first ray mental body. Interestingly, her mental and astral body are both on the first ray, just like another advanced disciple DHB (26-117).

1. Chân sư DK nói về giá trị của thể trí cung một của RSU. Điều thú vị là cả thể trí lẫn thể cảm dục của bà đều thuộc cung một, giống một đệ tử tiến hóa cao khác là DHB (26-117).

2. Her first ray mental body makes her “a real occult student”. The first ray is, above all, the ‘ray of occultism’.

2. Thể trí cung một khiến bà trở thành “một đạo sinh huyền bí học thực thụ”. Trên hết, cung một là ‘cung của huyền bí học’.

3. The mental body is functioning very well under soul impression. It is rarely the case that the mental body builds no barriers between itself and the soul and between itself and co-disciples, but for RSU such barriers are not being built — at least by the mind. Inclusiveness (even mental synthesis) is always a possibility in a highly developed first ray vehicle and so it is for RSU.

3. Thể trí đang hoạt động rất tốt dưới ấn tượng từ linh hồn. Hiếm khi thể trí không dựng nên rào cản nào giữa chính nó với linh hồn và giữa chính nó với các đệ tử đồng môn, nhưng với RSU, những rào cản ấy không được dựng lên — ít nhất là từ phía thể trí. Tính bao gồm (thậm chí cả sự tổng hợp trí tuệ) luôn là một khả năng ở một vận cụ cung một phát triển cao, và trường hợp của RSU cũng vậy.

4. The problem comes with the first ray astral body (in itself a fairly unusual occurrence). The first ray astral body occurred nine times in the total group of chelas under DK’s supervision. The complete ray formula for some chelas was not listed and so, perhaps, the first ray astral body occurred even more frequently.

4. Vấn đề xuất hiện ở thể cảm dục cung một (bản thân điều này đã là một trường hợp khá khác thường). Thể cảm dục cung một xuất hiện chín lần trong toàn bộ nhóm đệ tử dưới sự giám sát của Chân sư DK. Công thức cung đầy đủ của một số đệ tử không được liệt kê, vì vậy, có lẽ thể cảm dục cung một còn xuất hiện thường xuyên hơn nữa.

5. Although the first ray astral vehicle can be, in some cases, an asset, for RSU it introduces the “sense of separateness”, isolation and “fear of attachment”.

5. Mặc dù trong một số trường hợp, vận cụ cảm dục cung một có thể là một ưu thế, nhưng đối với RSU, nó đem lại “cảm thức chia rẽ”, sự cô lập và “nỗi sợ gắn bó”.

6. Can we see any astrological indications that would tend to support the presence of a first ray mental body or a first ray astral body for RSU?

6. Chúng ta có thể thấy dấu hiệu chiêm tinh nào có khuynh hướng củng cố khả năng RSU có thể trí cung một hoặc thể cảm dục cung một không?

7. The orthodox dispositor of Mercury (planet of the mind) in Aquarius is Uranus placed in Vulcan-ruled Virgo and natally trine first ray Pluto and first ray Saturn. In fact the midpoint of the first-ray Saturn-Pluto wide conjunction is very closely trine first ray Uranus. This is some evidence.

7. Chủ tinh chi phối theo chiêm tinh truyền thống của Sao Thủy (hành tinh của thể trí) trong Bảo Bình là Sao Thiên Vương, nằm trong Xử Nữ do Vulcan cai quản và trong lá số bản mệnh tạo góc tam hợp với Sao Diêm Vương cung một và Sao Thổ cung một. Thực ra, trung điểm của góc đồng vị rộng giữa Sao Thổ cung một và Sao Diêm Vương cung một tạo góc tam hợp rất sát với Sao Thiên Vương cung một. Đây là một phần bằng chứng.

8. As for the first ray astral body, there are no such very convincing indications. The exoteric dispositor of the Moon (a ‘planet’ associated with emotion) is Venus in Sagittarius. Venus is in no close aspect with a first ray planet. In fact, Venus is not powerfully aspected.

8. Về thể cảm dục cung một, không có những dấu hiệu thật sự thuyết phục như vậy. Chủ tinh chi phối ngoại môn của Mặt Trăng (một ‘hành tinh’ gắn với cảm xúc) là Sao Kim trong Nhân Mã. Sao Kim không tạo góc hợp sát nào với một hành tinh cung một. Thực ra, Sao Kim không nhận những góc hợp mạnh.

9. We might look to repressive, sometimes-first-ray Saturn conjunct Neptune, a planet of the emotions and the esoteric ruler of the proposed Cancer-rising charts. Saturn is also conjunct the South Node, a sometime-indicator of the emotions.

9. Chúng ta có thể xét đến Sao Thổ mang tính đè nén, đôi khi biểu hiện cung một, đang đồng vị với Sao Hải Vương, một hành tinh của cảm xúc và là chủ tinh nội môn của các lá số được đề xuất có Cự Giải mọc. Sao Thổ cũng đồng vị với Nút Nam, một điểm đôi khi chỉ báo cảm xúc.

10. Sixth-ray Mars, a planet of the emotions, is in first ray Capricorn, but it is trine to sixth ray Neptune.

10. Sao Hỏa cung sáu, một hành tinh của cảm xúc, nằm trong Ma Kết cung một, nhưng lại tạo góc tam hợp với Sao Hải Vương cung sáu.

11. Vulcan is the esoteric dispositor of the Moon in Taurus (and may be much associated with the material resistance of that Taurean Moon. We cannot know with certainty the placement of Vulcan, though it could be trine to first ray Pluto (which, if true, would contribute first ray to the astral body).

11. Vulcan là chủ tinh chi phối nội môn của Mặt Trăng trong Kim Ngưu (và có thể có liên hệ mật thiết với sức đề kháng vật chất của Mặt Trăng Kim Ngưu ấy. Chúng ta không thể biết chắc vị trí của Vulcan, dù nó có thể tạo góc tam hợp với Sao Diêm Vương cung một (điều này, nếu đúng, sẽ góp thêm cung một vào thể cảm dục).

Thus you are oft emotionally and astrally detached and isolated from those who love you and from your fellowmen. Hence there is a continuing conflict between your loving soul and your isolated, lonely, astral vehicle. The solution will be immediately clear to you.

Vì vậy, về mặt cảm xúc và cảm dục, em thường tách rời và cô lập với những người yêu thương em và với đồng loại. Do đó, luôn có một cuộc xung đột giữa linh hồn đầy tình thương của em và hiện thể cảm dục cô lập, cô đơn của em. Giải pháp sẽ lập tức rõ ràng với em.

1. A very interesting analysis of the liabilities of the first ray astral body is here offered. It causes RSU to be often “emotionally and astrally detached and isolated from those who love you and from your fellowmen”. The second ray soul is in conflict with the first ray astral body.

1. Ở đây có một phân tích rất thú vị về những nhược điểm của thể cảm dục cung một. Nó khiến RSU thường “về mặt cảm xúc và cảm dục, em… tách rời và cô lập khỏi những người yêu thương em cũng như đồng loại”. Linh hồn cung hai xung đột với thể cảm dục cung một.

2. DK tells RSU that the solution to the difficulty is clear. We may suppose that the ray of the soul must more powerfully influence the astral vehicle. The soul wishes to be outgoing — to express love to others, to bridge and to include. The first ray astral body, however, causes a kind of cleavage in the emotional world.

2. Chân sư DK nói với RSU rằng giải pháp cho khó khăn ấy đã rõ. Chúng ta có thể cho rằng cung linh hồn phải ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến vận cụ cảm dục. Linh hồn muốn hướng ra ngoài — biểu lộ tình thương với người khác, bắc cầu và bao gồm. Tuy nhiên, thể cảm dục cung một lại gây ra một dạng chia rẽ trong thế giới cảm xúc.

3. Under such a conditioning, one would be very reticent to share feelings with others or the content of one’s emotional life. There will be a constant drawing back from emotional contact and it will be hard to establish what might be called a ‘community of feeling’.

3. Dưới ảnh hưởng như thế, một người sẽ rất dè dặt khi chia sẻ cảm xúc hoặc nội dung đời sống cảm xúc của mình với người khác. Họ sẽ liên tục rút lui khỏi sự tiếp xúc cảm xúc, và sẽ khó thiết lập điều có thể gọi là một ‘cộng đồng cảm xúc’.

4. It is important to realize that a ray conditioning a certain vehicle may work in one way for one disciple and in another for a different disciple.

4. Cần nhận ra rằng một cung tác động lên một vận cụ nhất định có thể hoạt động theo một cách ở đệ tử này và theo một cách khác ở đệ tử khác.

Your physical body is on the seventh ray.

Thể xác của em thuộc cung bảy.

1. That the physical vehicle is on the seventh ray makes the habit nature strong, especially when the physical nature is reinforced by the energy of the Taurus Moon. We remember that in esoteric astrology the Moon is associated with the physical body.

1. Việc vận cụ hồng trần thuộc cung bảy khiến khuynh hướng thói quen trở nên mạnh mẽ, nhất là khi bản chất hồng trần được năng lượng của Mặt Trăng Kim Ngưu tăng cường. Chúng ta nhớ rằng trong Tâm Lý Học Nội Môn?

2. The seventh ray is usually considered a ‘ray of refinement’ and when it conditions the physical vehicle, that vehicle is usually more refined than when it is conditioned by the third ray. Perhaps in RSU’s case, it is the presence of the seventh ray conditioning, as it does, the physical body that calls for the refinement of that vehicle.

2. Cung bảy thường được xem là một ‘cung của sự tinh luyện’, và khi tác động lên vận cụ hồng trần, nó thường khiến vận cụ ấy tinh luyện hơn so với khi chịu ảnh hưởng của cung ba. Có lẽ trong trường hợp RSU, chính sự hiện diện của cung bảy đang tác động lên thể xác đã đặt ra yêu cầu tinh luyện vận cụ ấy.

3. While it may sometimes be possible to judge by physical appearance which ray conditions the physical vehicle, it will not always be so. The thought that seventh ray physical vehicles are thinner and more lithe and third ray physicals less refined and more robust, may not always be the case.

3. Dù đôi khi có thể căn cứ vào vẻ ngoài thể chất để phán đoán cung nào tác động lên vận cụ hồng trần, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Nhận định rằng vận cụ hồng trần cung bảy mảnh mai, mềm dẻo hơn, còn vận cụ hồng trần cung ba kém tinh luyện và vạm vỡ hơn có thể không phải lúc nào cũng đúng.

4. The ‘nature and quality of physical action’ will be good guide for discriminating the physical ray. Yet we must remember that in the case of BSD, who had no seventh ray in his present ray make-up (36-563), his life was, nevertheless, well-organized. We are not in a position to see an individual’s prior ray conditioning (i.e., the rays prominent in immediately former incarnations which may be influential in the present incarnation).

4. ‘Bản chất và phẩm tính của hành động thể chất’ sẽ là một chỉ dẫn tốt để phân biện cung thể xác. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng trong trường hợp BSD, người không có cung bảy trong cấu trúc cung hiện tại (36-563), đời sống của ông vẫn được tổ chức tốt. Chúng ta không ở vị thế có thể thấy những ảnh hưởng cung từ trước của một cá nhân (nghĩa là những cung nổi bật trong các kiếp ngay trước đây, có thể vẫn ảnh hưởng đến kiếp hiện tại).

Ponder, therefore, the interior relations and the exterior effect of your ray forces as tabulated below:

Vì vậy, hãy suy ngẫm về những mối quan hệ bên trong và tác động bên ngoài của các mãnh lực cung nơi em, như liệt kê dưới đây:

1. The soul ray — the second Ray of Love-Wisdom.

1. Cung linh hồn—cung hai Bác Ái – Minh Triết.

2. The personality ray — the third Ray of Active Intelligence.

2. Cung phàm ngã—cung ba Trí Tuệ Hoạt Động.

3. The ray of the mind — the first Ray of Power.

3. Cung của thể trí—cung một Quyền Năng.

4. The ray of the astral body — the first Ray of Power.

4. Cung của thể cảm dục—cung một Quyền Năng.

5. The ray of the physical body — the seventh Ray of Ceremonial Order.

5. Cung của thể xác—cung bảy Trật Tự Nghi Lễ.

1. This is a very unusual ray formula. There are so many hard-line rays in the personality and its vehicles.

1. Đây là một công thức cung rất khác thường. Có rất nhiều cung thuộc tuyến cứng trong phàm ngã và các vận cụ của nó.

2. Usually there will be at least one soft-line ray amidst a majority of hard-line rays or vice versa.

2. Thông thường, giữa đa số các cung thuộc tuyến cứng sẽ có ít nhất một cung thuộc tuyến mềm, hoặc ngược lại.

3. It does not take much imagination to see that the energy of the second ray soul will not easily express through the hard-line personality and its three hard-line vehicles — four hard-line energies in all.

3. Không cần nhiều sự tưởng tượng để thấy rằng năng lượng của linh hồn cung hai sẽ không dễ dàng biểu lộ qua phàm ngã thuộc tuyến cứng và ba vận cụ cũng thuộc tuyến cứng của nó — tổng cộng là bốn năng lượng thuộc tuyến cứng.

You will note how much your soul has to do with the lines of energy which are all definitely related to the first ray: 1-3-7. You will consequently be encouraged also to note how much your life of love does control your work and service. I am aware of it. Am I commending you or stimulating you, my brother? Perhaps both. Dwell much in thought upon these facts in the months which lie ahead.

Em sẽ nhận thấy linh hồn của em phải làm việc nhiều đến mức nào với các tuyến năng lượng đều có quan hệ rõ rệt với cung một: 1-3-7. Do đó, em cũng sẽ được khích lệ khi nhận thấy đời sống tình thương của em thực sự chi phối công việc và sự phụng sự của em đến mức nào. Tôi nhận biết điều ấy. Huynh đệ của tôi, Tôi đang khen ngợi hay đang thúc đẩy em? Có lẽ là cả hai. Trong những tháng sắp tới, hãy dành nhiều suy tư cho những sự thật này.

1. The phrasing of this first sentence is interesting. It suggests that the soul is engaged with a number of energies related to the first ray. The deeper reason for the soul’s choice of personality rays through which to work is not given, but one can certainly infer that it is purposeful. Such a combination would promote detachment from worldly matters and, if used correctly, much directed, executive activity. We have already seen that RSU possessed these virtues but does not always apply them.

1. Cách diễn đạt của câu đầu tiên này thật thú vị. Nó gợi ý rằng linh hồn đang làm việc với một số năng lượng liên quan đến cung một. Lý do sâu xa khiến linh hồn chọn các cung phàm ngã để hoạt động qua đó không được nêu ra, nhưng chắc chắn có thể suy ra rằng sự lựa chọn này có mục đích. Một tổ hợp như vậy sẽ thúc đẩy sự tách rời khỏi những vấn đề thế tục và, nếu được sử dụng đúng, sẽ tạo điều kiện cho nhiều hoạt động điều hành có định hướng. Chúng ta đã thấy RSU có những đức tính ấy nhưng không phải lúc nào bà cũng vận dụng chúng.

2. Despite this unusual ray configuration, it seems that the love of the second ray soul still very much controls RSU’s work and service. This means that RSU’s soul expression is, in fact, powerful, because it is not much negated or inhibited by the many hard-line energies, as might normally be the case with no soft-line energy in the personality or its vehicles to act as a channel for soul energy. But, then, there is nothing very normal about this ray configuration.

2. Dù có cấu hình cung khác thường này, dường như tình thương của linh hồn cung hai vẫn chi phối rất mạnh công việc và sự phụng sự của RSU. Điều này có nghĩa là sự biểu lộ linh hồn của RSU thực ra rất mạnh mẽ, vì nó không bị nhiều năng lượng thuộc tuyến cứng phủ nhận hoặc kiềm chế đáng kể, như thường có thể xảy ra khi phàm ngã hoặc các vận cụ của nó không có năng lượng thuộc tuyến mềm nào làm kênh dẫn cho năng lượng linh hồn. Nhưng xét cho cùng, cấu hình cung này chẳng có gì là thật sự thông thường.

3. For RSU’s encouragement DK points out the potency of her soul and, almost humorously, He previsions what may be the effect of saying so. He suggests that His remarks may have a “stimulating” effect within her personality vehicles. The Master usually seeks to stimulate the soul rather than the personality vehicles themselves (unless for specific and deliberate purpose, as in the stimulation of RSU’s etheric-physical nature). Stimulation affecting the personality vehicles can make soul expression more difficult.

3. Để khích lệ RSU, Chân sư DK chỉ ra sức mạnh của linh hồn bà và, gần như với chút hài hước, Ngài thấy trước tác động có thể có khi nói như vậy. Ngài gợi ý rằng những nhận xét của mình có thể gây tác động “kích thích” trong các vận cụ phàm ngã của bà. Chân sư thường tìm cách kích thích linh hồn hơn là chính các vận cụ phàm ngã (trừ khi có mục đích cụ thể và có chủ ý, như trong việc kích thích bản chất dĩ thái–hồng trần của RSU). Sự kích thích tác động đến các vận cụ phàm ngã có thể khiến sự biểu lộ linh hồn khó khăn hơn.

January 1938 – Tháng Một năm 1938

MY BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ TỪ THUỞ XƯA CỦA TÔI:

What am I to say to you? If I remind you not that the need is for you to submit your lower nature to discipline, you would [371] have for me no respect for I would not be a true friend and teacher. If I remind you of this need I then but increase your responsibility which is not the act of a true friend and teacher.

Tôi phải nói gì với em đây? Nếu Tôi không nhắc em rằng em cần đặt bản chất thấp của mình dưới kỷ luật, em sẽ [371] không còn kính trọng Tôi, vì Tôi sẽ không phải là một người bạn và một huấn sư chân chính. Nếu Tôi nhắc em về nhu cầu này, Tôi lại chỉ làm tăng trách nhiệm của em, mà đó không phải là hành động của một người bạn và một huấn sư chân chính.

1. It appears that there has been some retrogression, and that RSU is once again in a static condition. The progressed Moon is now solidly in Taurus accentuating, perhaps, RSU’s usual difficulties with her physical vehicle.

1. Dường như đã có một sự thoái lui nào đó, và RSU lại một lần nữa ở trong tình trạng trì trệ. Mặt Trăng tiến trình hiện đã nằm hẳn trong Kim Ngưu, có lẽ đang làm nổi bật những khó khăn thường có của RSU với vận cụ hồng trần.

2. DK approaches her in a very interesting manner. He is her “friend and teacher” and discusses what it means to act as such. He cannot continue to insist that she discipline her lower nature, nor can He refrain from doing so, because that lower nature is still in need of considerable discipline.

2. Chân sư DK tiếp cận bà theo một cách rất thú vị. Ngài là “người bạn và huấn sư” của bà và bàn về ý nghĩa của việc hành động trên cương vị ấy. Ngài không thể tiếp tục nhấn mạnh rằng bà phải đưa bản chất thấp vào kỷ luật, nhưng cũng không thể ngừng làm điều đó, vì bản chất thấp ấy vẫn cần được rèn luyện bằng kỷ luật đáng kể.

3. He informs her that if He continues to speak of that necessary discipline, He but increases her responsibility (which a true friend and teacher would not do).

3. Ngài cho bà biết rằng nếu tiếp tục nói về kỷ luật cần thiết ấy, Ngài chỉ làm tăng trách nhiệm của bà (điều mà một người bạn và huấn sư chân chính sẽ không làm).

4. Beneath all this, the Master is trying to find a new way to help RSU take very needed action with respect to her physical body.

4. Đằng sau tất cả những điều này, Chân sư đang cố tìm một cách mới để giúp RSU thực hiện hành động rất cần thiết đối với thể xác của bà.

Disciples come definitely into the aura of the Hierarchy. You are a disciple. Disciples evoke from us who are the teachers upon the inner side of life many and diverse reactions. We look at some of you and feel that much time must elapse before we can fully trust you with our confidence; integration, wisdom and soul contact must first be induced. Others emerge into the hierarchical Light and we know — as we study them — that though there is contact and knowledge there is also ambition, violence and selfishness and that these qualities must be offset and subdued before there can be freedom of action, both on our part and on theirs. Others again are lovely in themselves with a high and sweet vibration but they are weak and full of fear, sorrowful or weighed down with care; they have to be taught the way of strength and of divine carelessness before their service can measure up to demand. Others again come into our sphere of influence who are integrated, wise, trustworthy and with far more than the average capacity to serve and to prove useful. Their power to live, to influence and to serve is very great. Yet in some one part of their nature there is weakness and their expression is limited. That weakness could be so easily offset, given sufficient illumined desire and spiritual will (qualities present but unused). Such a disciple are you, my brother and my comrade of long standing. Your major hindrance is in your physical body which refuses discipline and hitherto has bested all your efforts. This you know and to this you refer with a sense of blinding failure. How can I help you, therefore, when you know the causes of hindrance, the obstacles to wider influence and the nature of the problem which you have to solve?

Các đệ tử thực sự đi vào hào quang của Thánh đoàn. Em là một đệ tử. Các đệ tử khơi dậy nơi chúng tôi, những huấn sư ở phía bên trong của sự sống, nhiều phản ứng khác nhau. Khi nhìn một số người trong các bạn, chúng tôi cảm thấy phải trải qua nhiều thời gian nữa mới có thể hoàn toàn tín nhiệm mà trao gửi tâm sự; trước hết phải khơi dậy sự tích hợp, minh triết và sự tiếp xúc với linh hồn. Những người khác bước vào Ánh Sáng của Thánh đoàn, và khi nghiên cứu họ, chúng tôi biết rằng tuy có sự tiếp xúc và tri thức, họ cũng có tham vọng, tính hung bạo và sự ích kỷ; những phẩm tính này phải được hóa giải và chế ngự trước khi cả chúng tôi lẫn họ có thể tự do hành động. Lại có những người tự họ rất tốt đẹp, với rung động cao và dịu dàng, nhưng họ yếu đuối và đầy sợ hãi, buồn khổ hoặc trĩu nặng lo âu; họ phải được dạy con đường của sức mạnh và sự vô ưu thiêng liêng trước khi việc phụng sự của họ có thể đáp ứng đòi hỏi. Lại có những người bước vào phạm vi ảnh hưởng của chúng tôi với sự tích hợp, minh triết, đáng tin cậy và khả năng phụng sự, đóng góp hữu ích vượt xa mức trung bình. Quyền năng sống, tạo ảnh hưởng và phụng sự của họ rất lớn. Tuy nhiên, trong một phần nào đó của bản chất họ vẫn có sự yếu kém, khiến sự biểu lộ của họ bị giới hạn. Sự yếu kém ấy có thể được hóa giải rất dễ dàng nếu có đủ dục vọng được soi sáng và ý chí tinh thần—những phẩm tính sẵn có nhưng chưa được sử dụng. Huynh đệ của tôi, người bạn đồng hành lâu năm của Tôi, em chính là một đệ tử như vậy. Trở ngại lớn nhất của em nằm ở thể xác, vốn khước từ kỷ luật và cho đến nay vẫn thắng mọi nỗ lực của em. Em biết điều này và nhắc đến nó với một cảm giác thất bại làm mờ cả nhận thức. Vậy Tôi có thể giúp em thế nào, khi em đã biết những nguyên nhân gây cản trở, những chướng ngại ngăn em mở rộng ảnh hưởng và bản chất của vấn đề em phải giải quyết?

1. The Master begins to speak in general about Hierarchy’s perspective upon its disciples. He discusses the various kinds of disciples and Hierarchy’s methods of approaching them — if They can!

1. Chân sư bắt đầu nói khái quát về cách Thánh đoàn nhìn nhận các đệ tử của mình. Ngài bàn về các loại đệ tử khác nhau và những phương pháp Thánh đoàn dùng để tiếp cận họ — nếu Các Ngài có thể!

2. As we enter 1938, we have noted that a number of the disciples seemed to lose ground and revert to previous habit patterns. This regression seems to have been a group phenomenon and may have been tied to the general world situation and the psychic atmosphere then prevalent in humanity.

2. Khi bước sang năm 1938, chúng ta nhận thấy một số đệ tử dường như đã thụt lùi và trở lại những mô hình thói quen trước đây. Sự thoái lui này dường như là một hiện tượng của cả nhóm và có thể gắn với tình hình thế giới nói chung cùng bầu không khí thông linh đang phổ biến trong nhân loại lúc bấy giờ.

3. As DK shares the Hierarchy’s perspective on its disciples, He speaks of four types.

3. Khi chia sẻ cách Thánh đoàn nhìn nhận các đệ tử của mình, Chân sư DK nói đến bốn loại.

a) Some simply have insufficient integration and soul contact. These disciples simply need more experience.

a) Một số đơn giản là chưa có đủ sự tích hợp và sự tiếp xúc với linh hồn. Những đệ tử này chỉ cần thêm kinh nghiệm.

b) Some are too ambitious, violent and selfish. They stand in need of harmlessness.

b) Một số quá tham vọng, bạo liệt và ích kỷ. Họ cần tính vô tổn hại.

c) Some are sweet, weak and ineffectual, weighed down by fear, care and sorrow. Divine carelessness holds for them the solution.

c) Một số dịu dàng, yếu đuối và thiếu hiệu quả, bị nỗi sợ, lo âu và buồn khổ đè nặng. Sự vô ưu thiêng liêng là giải pháp cho họ.

d) And others are integrated, wise and trustworthy yet have one predominating weakness which limits their service.

d) Còn những người khác đã tích hợp, minh triết và đáng tin cậy, nhưng có một nhược điểm nổi trội hạn chế việc phụng sự của họ.

e) If DK were to study any one of us, what would He say? Can you find yourself in one or other of these categories? Knowing how the Masters evaluate us, and the kind of evaluation we might receive, can begin to free us for more effective discipleship.

e) Nếu Chân sư DK nghiên cứu bất kỳ ai trong chúng ta, Ngài sẽ nói gì? Các bạn có nhận thấy mình thuộc một trong những loại này không? Biết cách các Chân sư đánh giá chúng ta và kiểu đánh giá chúng ta có thể nhận được có thể bắt đầu giải phóng chúng ta để sống địa vị đệ tử hiệu quả hơn.

4. DK points out that RSU is in this last category — a very useful disciple with a major flaw. Her capacity for service is considerable, but she seems not to be able to conquer her one outstanding weakness — the discipline of the physical body (with all of the limiting effects described and discussed in DK’s instructions and in this commentary).

4. Chân sư DK chỉ ra rằng RSU thuộc loại cuối cùng — một đệ tử rất hữu ích nhưng có một khiếm khuyết lớn. Khả năng phụng sự của bà đáng kể, nhưng dường như bà không thể khắc phục nhược điểm nổi bật duy nhất của mình — việc đưa thể xác vào kỷ luật (cùng mọi tác động hạn chế đã được mô tả và bàn đến trong các huấn thị của Chân sư DK và trong phần bình giảng này).

5. What is needed to offset the weakness? Illumined desire and spiritual will (present but unused). She surely has the astrological equipment to support these necessary means of release. Her Taurus stellium is a conduit for illumined desire and spiritual will should pour in abundance through the Sun and Mars in Capricorn and through her first ray mind. That will, however, has simply not been sufficiently strong to ensure achievement. The frustrating process has dragged on now for many years. Such are the potential liabilities of the Taurus Moon when the Vulcanian factor of ‘material resistance’ is accentuated.

5. Cần điều gì để hóa giải nhược điểm ấy? Dục vọng được soi sáng và ý chí tinh thần (đã có nhưng chưa được sử dụng). Chắc chắn bà có những yếu tố chiêm tinh hỗ trợ các phương tiện giải phóng cần thiết này. Cụm hành tinh Kim Ngưu của bà là một kênh dẫn cho dục vọng được soi sáng, còn ý chí tinh thần hẳn phải tuôn đổ dồi dào qua Mặt Trời và Sao Hỏa trong Ma Kết, cũng như qua thể trí cung một của bà. Tuy nhiên, ý chí ấy đơn giản là chưa đủ mạnh để bảo đảm thành tựu. Tiến trình gây nản lòng này đến nay đã kéo dài nhiều năm. Đó là những nhược điểm tiềm tàng của Mặt Trăng Kim Ngưu khi yếu tố ‘sức đề kháng vật chất’ của Vulcan được nhấn mạnh.

6. Master DK, Himself, seems somewhat frustrated, for His disciple knows the difficulty thoroughly. It is not that she does not understand what must be done. She understands all too well, yet fails to achieve, and then falls into “blinding failure”. She is beset by a kind of astral misery which is intensified by her first ray (astral) reticence to share the pain of her condition.

6. Chính Chân sư DK dường như cũng phần nào cảm thấy bế tắc, vì đệ tử của Ngài biết rất rõ khó khăn ấy. Không phải bà không thấu hiểu điều phải làm. Bà thấu hiểu quá rõ nhưng vẫn không thành công, rồi rơi vào trạng thái “thất bại đến mức không còn thấy gì khác”. Bà bị một dạng khổ sở cảm dục vây bủa, và sự dè dặt của cung một nơi thể cảm dục khiến bà ngại chia sẻ nỗi đau về tình trạng của mình, càng làm nỗi khổ ấy tăng thêm.

There is nothing that I can do beyond telling you that once you have brought your physical nature into line with the demand of your soul, that you have far more to give than the average disciple. You have wisdom and much experience, individual and racial. You have a deep love, of which you are afraid and, therefore, fail to express as you might and which your executive work has cramped and hindered. You have [372] seasoned occult understanding which can do much for others. You have a magnetic radiance. But there is ever a point beyond which you seem unable to go — a point at which the physical body intervenes and refuses to become a clear channel for the expression of the inner beauty and radiance.

Tôi không thể làm gì hơn ngoài việc nói với em rằng một khi em đưa bản chất thể xác của mình vào sự hòa hợp với đòi hỏi của linh hồn, em sẽ có nhiều điều để trao tặng hơn hẳn một đệ tử trung bình. Em có minh triết cùng nhiều kinh nghiệm, cả cá nhân lẫn chủng tộc. Em có một tình thương sâu sắc mà em lại e sợ, nên không biểu lộ được như em có thể; công việc điều hành của em đã bó hẹp và cản trở tình thương ấy. Em có [372] sự thấu hiểu huyền bí dày dạn, có thể giúp ích rất nhiều cho người khác. Em có sự tỏa rạng từ tính. Nhưng dường như luôn có một điểm mà em không thể vượt qua—một điểm nơi thể xác can thiệp và khước từ trở thành một vận hà thông suốt cho vẻ đẹp và sự tỏa rạng bên trong biểu lộ.

1. There can be no question that RSU is, in most respects, an advanced disciple. Given her antahkaranic development, she may be already an initiate of the second degree or very close to that achievement. Only one thing lacks.

1. Không thể nghi ngờ rằng, trên hầu hết các phương diện, RSU là một đệ tử tiến hóa cao. Với sự phát triển antahkarana của mình, bà có thể đã là một điểm đạo đồ cấp hai hoặc rất gần thành tựu ấy. Chỉ còn thiếu một điều.

2. DK offers incentive by pointing the way to a more positive future of effective service. It will supervene when once RSU has brought her physical nature into line with the demand of her soul.

2. Chân sư DK đem lại động lực bằng cách chỉ ra con đường dẫn đến một tương lai tích cực hơn với việc phụng sự hiệu quả. Điều ấy sẽ đến một khi RSU đưa bản chất hồng trần của bà vào sự hòa hợp với yêu cầu của linh hồn.

3. RSU is a wise and experienced disciple. Her experience is not only individual (the result of many incarnations) but also “racial”, with the possible implication that she has either spent much time in the Jewish Race (with all its excellences, sensitivities and liabilities), or has absorbed much of value from that racial consciousness as a result of her present incarnation. Considering these two possibilities, there would normally be reason to suspect that the first would be more likely, but later Master DK tells RSU that she is not really affiliated with the Jewish People. The present incarnation seems to be an exception.

3. RSU là một đệ tử minh triết và giàu kinh nghiệm. Kinh nghiệm của bà không chỉ mang tính cá nhân (kết quả của nhiều kiếp sống) mà còn thuộc về “nhân loại”, có thể hàm ý rằng bà đã trải qua nhiều kiếp trong dân tộc Do Thái (với mọi ưu điểm, sự nhạy cảm và những nhược điểm của dân tộc ấy), hoặc đã tiếp thu nhiều giá trị từ tâm thức dân tộc ấy nhờ kiếp sống hiện tại. Khi cân nhắc hai khả năng này, thông thường sẽ có lý do để cho rằng khả năng thứ nhất có phần chắc hơn, nhưng về sau Chân sư DK nói với RSU rằng bà không thực sự có mối liên hệ với dân tộc Do Thái. Kiếp sống hiện tại dường như là một ngoại lệ.

4. The major liability of the first ray astral body is again described, for though her love nature is deep, she is afraid to express it. Further, her executive work (facilitated by her many hard-line rays) cramps and hinders the expression of that love.

4. Nhược điểm chủ yếu của thể cảm dục cung một lại được mô tả: dù bản chất tình thương của bà sâu sắc, bà lại sợ biểu lộ nó. Hơn nữa, công việc điều hành của bà (được nhiều cung thuộc tuyến cứng hỗ trợ) bó hẹp và cản trở sự biểu lộ tình thương ấy.

5. The list of accomplishments goes one. She has “seasoned occult understanding” which could do much for others. One does not acquire such understanding in just a few years; RSU has been involved in occultism or its equivalent for some time. Such understanding points to attainment beyond the second degree, with its “illumined mind and spiritual intelligence” (DINA II 267)

5. Danh sách các thành tựu vẫn tiếp tục. Bà có “sự thấu hiểu huyền bí học từng trải”, có thể giúp ích rất nhiều cho người khác. Không ai có được sự thấu hiểu như thế chỉ trong vài năm; RSU đã tham gia huyền bí học hoặc một lĩnh vực tương đương từ khá lâu. Sự thấu hiểu ấy cho thấy một mức thành tựu vượt trên bậc điểm đạo thứ hai, với “thể trí được soi sáng và trí thông tuệ tinh thần” (DINA II 267)

6. She also has “magnetic radiance” — the result of her second ray soul.

6. Bà còn có “ánh huy hoàng từ tính” — kết quả của linh hồn cung hai của bà.

7. But at a certain point, the inertia and density of the physical body intervene and prevent the full expression of her inner beauty and radiance.

7. Nhưng đến một mức nào đó, tính trì trệ và sự đậm đặc của thể xác xen vào, ngăn cản vẻ đẹp và ánh huy hoàng bên trong bà biểu lộ trọn vẹn.

8. This is a frustrating situation. The blockage (Saturn/Neptune) does not give way and the healing (Pluto/Chiron) does not come.

8. Đây là một tình trạng gây nản lòng. Sự tắc nghẽn (Sao Thổ/Sao Hải Vương) không chịu nhường bước, và sự chữa lành (Sao Diêm Vương/Chiron) không đến.

Having pointed this out, having begged you to bring this aspect of yourself into line with spiritual demand and having indicated the wider field of service which could open up before you, I have to leave you to succeed in the task or to refuse to undertake it as seems to you best. Perhaps later, I shall see a pronounced change — full alignment and heightened radiance.

Sau khi đã chỉ ra điều này, đã tha thiết yêu cầu em đưa phương diện ấy của mình vào sự hòa hợp với đòi hỏi tinh thần, và đã chỉ rõ lĩnh vực phụng sự rộng lớn hơn có thể mở ra trước mắt em, Tôi phải để em tự quyết định đạt thành công trong nhiệm vụ này hay từ chối đảm nhận nó, tùy điều em cho là tốt nhất. Có lẽ về sau, Tôi sẽ thấy một sự thay đổi rõ rệt—sự chỉnh hợp hoàn toàn và sự tỏa rạng gia tăng.

1. The present instruction seems to be DK’s last attempt along these lines. He certainly does not give up easily.

1. Dường như huấn thị hiện tại là nỗ lực cuối cùng của Chân sư DK theo hướng này. Chắc chắn Ngài không dễ dàng bỏ cuộc.

2. Again, as in other instructions to other chelas, He uses the word, “beg” or “begged”. Indeed, the Master implores His disciples to do what is best for them. We can begin to understand something of the “exquisite agony” a Master suffers when His chelas will not rise to their full potential despite all the Master has done to help them do so.

2. Một lần nữa, như trong các huấn thị dành cho những đệ tử khác, Ngài dùng từ “khẩn cầu” hoặc “đã khẩn cầu”. Quả thật, Chân sư khẩn khoản xin các đệ tử làm điều tốt nhất cho họ. Chúng ta có thể bắt đầu thấu hiểu phần nào “nỗi thống khổ tột cùng” mà một Chân sư phải chịu khi các đệ tử của Ngài không chịu vươn tới trọn vẹn tiềm năng của mình, bất chấp mọi điều Chân sư đã làm để giúp họ thực hiện điều đó.

3. DK is now ready, it seems, to leave RSU to respond or not. If she does not respond to the “spiritual demand” (coming not only from the Master but from her own soul) it will be a refusal. It will mean that an aspect of her will is determined not to respond. Under the Law of Economy, the Master can spend no more energy begging His chela to respond (and thus increasing her responsibility).

3. Giờ đây, dường như Chân sư DK đã sẵn sàng để RSU tự quyết định có đáp ứng hay không. Nếu bà không đáp ứng “đòi hỏi tinh thần” (đến không chỉ từ Chân sư mà còn từ chính linh hồn bà), thì đó sẽ là một sự từ chối. Điều ấy có nghĩa là một phương diện trong ý chí của bà nhất quyết không đáp ứng. Theo Định luật Tiết Kiệm, Chân sư không thể tiêu hao thêm năng lượng để khẩn cầu đệ tử của Ngài đáp ứng (và qua đó làm tăng trách nhiệm của bà).

4. What He hopes to see is “pronounced changes — full alignment and heightened radiance”.

4. Điều Ngài hy vọng thấy là “những thay đổi rõ rệt — sự chỉnh hợp hoàn toàn và ánh huy hoàng gia tăng”.

5. When one sees the planet Uranus so close to the IC (representing bodily inheritance) and in the sign Virgo (representing matter and its purification) one can see that the requirement to refine, transmute and transform the lunar vehicles is a soul-planned objective in the life of RSU. She is to cut herself from what might be called her ‘lunar inheritance’ (which includes her racial inheritance) and free herself (Uranus) from its influence. It is, however, proving to be a most difficult task.

5. Khi thấy Sao Thiên Vương ở rất gần IC (tượng trưng cho di sản thân thể) và trong dấu hiệu Xử Nữ (tượng trưng cho vật chất và sự thanh luyện vật chất), người ta có thể thấy rằng yêu cầu tinh luyện, chuyển hoá và chuyển đổi các hiện thể thái âm là một mục tiêu do linh hồn hoạch định trong cuộc đời RSU. Bà phải tự cắt đứt với điều có thể gọi là “di sản thái âm” của mình (bao gồm cả di sản chủng tộc), và tự giải phóng (Sao Thiên Vương) khỏi ảnh hưởng của nó. Tuy nhiên, đây đang tỏ ra là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn.

6. The “last change” feeling of the present instruction is strengthened by the presence of transiting Saturn in the last degrees of Pisces and transiting Pluto in the last degrees of Cancer.

6. Cảm giác về một “sự thay đổi cuối cùng” trong huấn thị hiện tại càng được củng cố khi Sao Thổ quá cảnh ở những độ cuối của Song Ngư và Sao Diêm Vương quá cảnh ở những độ cuối của Cự Giải.

I would ask you to take much time each Sunday (for an hour at least) in the attempt to contact my aura and, through that, the aura of the Hierarchy. The results of this effort should be vital to you and of importance in handling your problem. I leave you with the last words of the occult phrases I gave you a year ago:

Tôi muốn em dành nhiều thời gian mỗi Chủ nhật, ít nhất một giờ, để cố gắng tiếp xúc với hào quang của Tôi và qua đó với hào quang của Thánh đoàn. Kết quả của nỗ lực này hẳn sẽ có ý nghĩa thiết yếu đối với em và quan trọng trong việc xử lý vấn đề của em. Tôi để lại cho em những lời cuối trong các câu huyền bí Tôi đã trao cho em một năm trước:

1. DK offers yet another method of strengthening. RSU is to attempt (for at least an hour each week) to contact the aura of the Master and through that aura, the aura of Hierarchy.

1. Chân sư DK đưa ra thêm một phương pháp củng cố sức mạnh. RSU phải cố gắng (ít nhất một giờ mỗi tuần) tiếp xúc với hào quang của Chân sư và qua hào quang ấy, với hào quang của Thánh đoàn.

2. If this contact succeeds, the spiritual will, will inevitably be strengthened and the task which has seemed to resist all effort more easily accomplished.

2. Nếu sự tiếp xúc này thành công, ý chí tinh thần tất yếu sẽ được củng cố, và nhiệm vụ dường như vẫn chống lại mọi nỗ lực sẽ dễ hoàn thành hơn.

3. We note a possible occult hint interspersed in one of the sentences. Hierarchy is found, for the most part, within the etheric body (the vital body) of the Planetary Logos and the Ashrams are focussed largely, buddhically. If, therefore, RSU succeeds in contacting her Master’s aura and, through it, the aura of Hierarchy, her own etheric body (her vital body) will receive a vital stimulation.

3. Chúng ta lưu ý một điều có thể là gợi ý huyền bí được lồng vào một trong các câu. Thánh đoàn phần lớn hiện diện trong thể dĩ thái (thể sinh lực) của Hành Tinh Thượng đế, và các ashram chủ yếu tập trung trên cõi Bồ đề. Vì vậy, nếu RSU thành công trong việc tiếp xúc với hào quang của Chân sư mình, và qua đó, với hào quang của Thánh đoàn, thì chính thể dĩ thái (thể sinh lực) của bà sẽ nhận được một sự kích thích sinh lực.

4. The energy of the Ashram and of the Hierarchy will strengthen her in gaining release.

4. Năng lượng của ashram và của Thánh đoàn sẽ tiếp sức cho bà đạt được sự giải thoát.