Trích nội dung chương
17. Uranus at the fourth did help her leave her homeland, Hungary, apparently (as revealed in an interview with Francis Adams Moore, then Director of Meditation Mount) in the year 1898, but the full liberating potentials of this position has not been employed at the time this letter was written, or DK would have to attend to the problem so closely. 17. Sao Thiên Vương ở nhà thứ tư quả đã giúp bà rời quê hương Hungary, dường như vào năm 1898 (theo tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn với Francis Adams Moore, khi ấy là Giám đốc Meditation Mount), nhưng vào thời điểm bức thư này được viết, toàn bộ tiềm năng giải phóng của vị trí này vẫn chưa được…
17. Uranus at the fourth did help her leave her homeland, Hungary, apparently (as revealed in an interview with Francis Adams Moore, then Director of Meditation Mount) in the year 1898, but the full liberating potentials of this position has not been employed at the time this letter was written, or DK would have to attend to the problem so closely.
17. Sao Thiên Vương ở nhà thứ tư quả đã giúp bà rời quê hương Hungary, dường như vào năm 1898 (theo tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn với Francis Adams Moore, khi ấy là Giám đốc Meditation Mount), nhưng vào thời điểm bức thư này được viết, toàn bộ tiềm năng giải phóng của vị trí này vẫn chưa được vận dụng, hoặc Chân sư DK hẳn đã phải chú tâm rất sát sao đến vấn đề ấy.
18. Interestingly, RSU’s Sun is placed in the sign which rules the Jewish personality (i.e., Capricorn) and her Uranus is in the sign Virgo, which rules the “Soul of Judea”. This problem can be seen as clinging more to the personality of Judea than responding to its soul (which, in a sense, invoked the Christ).
18. Điều đáng chú ý là Mặt Trời của RSU nằm trong dấu hiệu cai quản phàm ngã Do Thái (tức Ma Kết), còn Sao Thiên Vương của bà nằm trong dấu hiệu Xử Nữ, cai quản “Linh hồn xứ Judea”. Có thể xem vấn đề này là sự bám víu vào phàm ngã xứ Judea nhiều hơn là đáp ứng linh hồn của dân tộc ấy (theo một nghĩa nào đó, linh hồn ấy đã khẩn cầu Đức Christ).
19. The sign Cancer, of course, clings to the past, and with the Moon in Taurus, may contribute to RSU’s reluctance to ‘abandon’ her inherited ‘family’.
19. Dĩ nhiên, dấu hiệu Cự Giải bám víu vào quá khứ và, cùng với Mặt Trăng ở Kim Ngưu, có thể góp phần khiến RSU không muốn “rời bỏ” “gia đình” mà bà kế thừa.
20. In the paragraph above, DK has given RSU a reasonable means to escape from the racial consciousness which holds her, for it is more an ‘assumed’ consciousness than really her own. Her sensitivity has contributed to her absorption in a gigantic thoughtform in which she is only newly participating (from the reincarnational perspective).
20. Trong đoạn trên, Chân sư DK đã trao cho RSU một phương cách hợp lý để thoát khỏi tâm thức chủng tộc đang kìm giữ bà, vì đó là một tâm thức được “khoác lấy” hơn là thực sự thuộc về bà. Sự nhạy cảm đã góp phần khiến bà chìm đắm trong một hình tư tưởng khổng lồ mà bà chỉ mới tham gia vào gần đây (xét từ góc độ luân hồi).
21. Will RSU utilize the Tibetan’s perspective to gain freedom? That is the question.
21. Liệu RSU có vận dụng góc nhìn của Chân sư Tây Tạng để đạt tự do không? Đó là câu hỏi.
Is this too hard a lesson and a task, my brother? If so, determine within yourself if it is so or if it is not. Another life, the issue may be clear to you. It could be clear in this life if you accepted my suggestion.
Huynh đệ của tôi, đây có phải là một bài học và một nhiệm vụ quá khó không? Nếu vậy, hãy tự xác định trong lòng xem có thực sự như thế hay không. Trong một kiếp khác, vấn đề có thể sẽ rõ ràng với em. Nó có thể rõ ràng ngay trong kiếp này nếu em chấp nhận đề nghị của Tôi.
1. The stakes are high. Obviously the Tibetan does not think that the recognition of RSU’s relatively superficial Jewish origins is too great a task. If she but recognized the truth of the matter, adjustments in her approach would soon follow.
1. Hệ quả ở đây rất lớn. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng không cho rằng việc nhận ra nguồn gốc Do Thái tương đối nông của RSU là một nhiệm vụ quá lớn. Nếu bà chỉ cần nhận ra sự thật của vấn đề, những điều chỉnh trong cách tiếp cận của bà sẽ sớm diễn ra.
2. DK asks her to decide whether or not she will accept His suggestion. He cannot make the decision for her and her will must be left free.
2. Chân sư DK yêu cầu bà quyết định có chấp nhận đề nghị của Ngài hay không. Ngài không thể quyết định thay bà, và ý chí của bà phải được tự do.
3. He hints that it may take yet another life to make the issue clear to her, though clarity could be achieved now. Thus, the stakes are high.
3. Ngài gợi ý rằng có thể phải thêm một kiếp nữa vấn đề mới trở nên rõ ràng đối với bà, dù bà có thể đạt sự sáng tỏ ngay bây giờ. Vì thế, hệ quả ở đây rất lớn.
Upon the second glamour I need not enlarge. We might call it the “glamour of continuous frustration.” In your case and in the constant failure to achieve the fullest expression of your spiritual aims and goals, because of small and unimportant [601] personality qualities (most of them tied up with your racial inheritance and your environing circumstances), you are constantly aware of lack of achievement and of failure to do what your soul has made quite adequately clear to you is possible. Here I cannot help you. The issue lies in your own hands. Do you realise, my brother, that a week’s perfected discipline would carry you further than a year’s aspiration, accompanied as it is (in your case) by a constant sense of failure? Go forward therefore, my beloved brother, and rest not content until liberation is yours.
Tôi không cần nói thêm nhiều về ảo cảm thứ hai. Chúng ta có thể gọi nó là “ảo cảm về sự thất vọng triền miên”. Trong trường hợp của em, do những phẩm tính phàm ngã nhỏ nhặt và không quan trọng [601]—phần lớn gắn với di sản chủng tộc và hoàn cảnh chung quanh—em liên tục không đạt được sự biểu lộ trọn vẹn nhất của các mục đích và mục tiêu tinh thần, nên em luôn nhận biết sự thiếu thành tựu và việc mình chưa làm được những gì linh hồn đã chỉ rõ một cách đầy đủ là có thể thực hiện. Ở đây, Tôi không thể giúp em. Vấn đề nằm trong tay em. Huynh đệ của tôi, em có nhận ra rằng một tuần thực hành kỷ luật hoàn hảo sẽ đưa em tiến xa hơn một năm khát vọng, mà trong trường hợp của em lại đi kèm một cảm giác thất bại thường trực không? Vì vậy, huynh đệ yêu quý của tôi, hãy tiến lên và đừng bằng lòng dừng lại cho đến khi em đạt được sự giải thoát.
1. The second glamor may seem more usual: “The glamor of continuous frustration”. To RSU’s frustration in making her inner life manifest DK has earlier alluded.
1. Ảo cảm thứ hai có vẻ quen thuộc hơn: “Ảo cảm của sự thất vọng triền miên”. Trước đây, Chân sư DK đã nhắc đến nỗi thất vọng của RSU khi đưa đời sống nội tâm của bà ra biểu hiện.
2. The inhibitions to fuller achievement are “small and unimportant personality qualities”. Most of these are tied up with her racial inheritance and environing circumstances.
2. Những gì cản trở sự thành tựu trọn vẹn hơn là “những phẩm tính phàm ngã nhỏ nhặt và không quan trọng”. Phần lớn chúng gắn liền với di sản chủng tộc và hoàn cảnh xung quanh bà.
3. Again, DK cannot really help. The decision concerning whether there shall be freedom is up to RSU.
3. Một lần nữa, Chân sư DK không thể thực sự giúp đỡ. Quyết định liệu có đạt được tự do hay không tùy thuộc vào RSU.
4. DK counsels “a week’s perfected discipline” instead of a year of aspiration (followed by the constant sense of failure because aspiration alone will not lead to accomplishment).
4. Chân sư DK khuyên thực hành “một tuần kỷ luật hoàn hảo” thay vì một năm khát vọng (rồi tiếp đó là cảm giác thất bại triền miên, vì chỉ khát vọng thôi sẽ không dẫn đến thành tựu).
5. One would think that with all her hard-line rays and with astrological signs which bring in so much third and seventh ray, RSU could succeed in disciplining her physical nature. Capricorn should be very good at this and Mars in Capricorn should add to the capacity. But the available astrological and ray energies are not used as they could be and so frustration is the result.
5. Người ta hẳn sẽ nghĩ rằng với tất cả các cung tuyến cứng cùng những dấu hiệu chiêm tinh đưa vào rất nhiều năng lượng cung ba và cung bảy, RSU có thể thành công trong việc rèn luyện bản chất hồng trần của mình. Ma Kết hẳn rất giỏi việc này, và Sao Hỏa ở Ma Kết hẳn còn tăng thêm khả năng ấy. Nhưng các năng lượng chiêm tinh và năng lượng cung sẵn có chưa được sử dụng hết khả năng, nên kết quả là sự thất vọng.
6. Natal Saturn squares natal Mercury which is the ruler of both the fourth and twelfth houses. The square symbolizes frustration, the fourth house correlates with individual and racial inheritance, and the twelfth house represents karmic issues.
6. Sao Thổ bản mệnh tạo góc vuông với Sao Thủy bản mệnh, chủ tinh của cả nhà thứ tư lẫn nhà thứ mười hai. Góc vuông tượng trưng cho sự thất vọng, nhà thứ tư tương ứng với di sản cá nhân và chủng tộc, còn nhà thứ mười hai đại diện cho những vấn đề nghiệp quả.
7. DK assures RSU of His love and spurs her on to achievement. It is as if He is driving her to take those steps which will result in her liberation.
7. Chân sư DK khẳng định tình thương của Ngài dành cho RSU và thôi thúc bà tiến tới thành tựu. Dường như Ngài đang thúc đẩy bà thực hiện những bước sẽ đưa bà đến sự giải thoát.
8. If we think about it, we will see what a disciplining effect Master DK has had upon RSU’s life. She should be able to discipline herself and in a number of areas of her life she can and does. In the most stubborn and critical area, however, she does not. It is this one area that the Master repeatedly emphasizes.
8. Nếu suy nghĩ về điều này, chúng ta sẽ thấy Chân sư DK đã có tác động rèn luyện kỷ luật như thế nào đối với cuộc đời RSU. Bà hẳn có khả năng tự rèn luyện kỷ luật, và trong một số lĩnh vực của đời mình, bà có thể và thực sự làm được điều đó. Tuy nhiên, trong lĩnh vực khó chuyển biến nhất và có tính quyết định nhất, bà lại không làm được. Chính lĩnh vực này là điều Chân sư nhiều lần nhấn mạnh.
August 1940 – Tháng Tám năm 1940
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
Since my last instruction to you, you have attained to a certain measure of release and that means much and for that achievement I would indicate my pleasure and commend you. You are freeing yourself for service. All that I earlier said as to your problems still holds good and I would ask you to reread prayerfully and aspirationally what I said then. To the injunctions there given I would add some further suggestions. I seek further to clarify the issue in your mind. Once a disciple sees clearly, he can then take intelligent action.
Kể từ lần huấn thị trước của Tôi, em đã đạt được một mức độ giải thoát nhất định; điều này có ý nghĩa rất lớn, và Tôi muốn bày tỏ niềm vui cùng lời khen ngợi về thành tựu ấy. Em đang tự giải thoát để phụng sự. Tất cả những điều Tôi đã nói trước đây về các vấn đề của em vẫn còn đúng, và Tôi muốn em đọc lại những lời ấy với tinh thần cầu nguyện và khát vọng. Tôi muốn bổ sung một số đề nghị vào những lời căn dặn đã trao khi ấy. Tôi muốn làm sáng tỏ thêm vấn đề trong thể trí em. Một khi thấy rõ, đệ tử có thể hành động một cách sáng suốt.
1. We are witnessing an ongoing struggle. Periods of release arrive and are followed (at least this has been the case) by periods of stasis. The present moment is one of release and achievement, for which DK commends His chela.
1. Chúng ta đang chứng kiến một cuộc đấu tranh tiếp diễn. Những giai đoạn giải thoát xuất hiện, rồi tiếp theo là những giai đoạn đình trệ—ít nhất cho đến nay vẫn là như vậy. Thời điểm hiện tại là một giai đoạn giải thoát và thành tựu, và vì thế Chân sư DK khen ngợi đệ tử của Ngài.
2. RSU has been freeing herself for service. Transiting Uranus, the planet of ‘Freedom’ has been conjuncting her progressing MC which, itself, has reached natal Saturn (planet of ‘Opportunity’).
2. RSU đang tự giải phóng mình để phụng sự. Sao Thiên Vương quá cảnh, hành tinh của “Tự do”, đang đồng vị với Thiên Đỉnh tiến trình của bà; bản thân Thiên Đỉnh tiến trình cũng đã đến vị trí Sao Thổ bản mệnh, hành tinh của “Cơ hội”.
3. While there is some release, the disciplining continues, and what Master DK has said about RSU’s problems still holds good.
3. Dù đã có phần giải thoát, việc rèn luyện kỷ luật vẫn tiếp tục, và những gì Chân sư DK đã nói về các vấn đề của RSU vẫn còn đúng.
4. Interestingly, He asks her to reread “prayerfully and aspirationally” all that He has written to her over the years. This may strengthen her motivation towards accomplishment. At the time of this writing we notice that transiting Neptune (a planet of prayer and aspiration) is opposing the progressing Sun in Pisces.
4. Điều thú vị là Ngài yêu cầu bà đọc lại tất cả những gì Ngài đã viết cho bà qua nhiều năm “với tinh thần cầu nguyện và khát vọng”. Điều này có thể củng cố động lực hướng tới thành tựu của bà. Vào thời điểm Ngài viết những lời này, chúng ta nhận thấy Sao Hải Vương quá cảnh—một hành tinh của cầu nguyện và khát vọng—đang đối vị với Mặt Trời tiến trình trong Song Ngư.
5. Further suggestions will be offered in the hope of clarifying her mind so she can take intelligent action. For all disciples, clarity of sight is much to be desired and will lead to right action.
5. Ngài sẽ đưa ra thêm những gợi ý với hy vọng làm sáng tỏ thể trí bà để bà có thể hành động sáng suốt. Đối với mọi đệ tử, khả năng thấy rõ là điều rất đáng mong muốn và sẽ dẫn đến hành động đúng đắn.
You have not really liked my reference to racial limitations and yet, my brother and I can say my friend, why resent them? All national heritages lay their impress upon their peoples. A.A.B. is typically British in her personality attitudes and with her pride of race, heritage, ancient lineage and caste, with her stubborn persistence and dogged determination, with her sense of truth and her attitude of inner solitude. These qualities she has had to learn gradually to transmute into the dignity of soul consciousness, intelligent direction, clear expression of her sense of truth and a wide and general inclusiveness. This has not been easy though you, not possessing her particular problems and tendencies, may fail to realise that they are (or rather have been) as grave as yours. Some day I will give the group members a diagnosis of their racial colouring and consequent tendencies. Today I deal only with your peculiar difficulties because your battle [602] ground lies right there and it is mainly your racial faults which hinder you.
Em không thực sự thích việc Tôi đề cập đến những giới hạn chủng tộc; tuy nhiên, huynh đệ của tôi, và Tôi có thể gọi em là người bạn của Tôi, tại sao lại bất bình về chúng? Mọi di sản dân tộc đều in dấu lên người dân của dân tộc ấy. A.A.B. mang đậm nét Anh trong những thái độ phàm ngã của Bà, với niềm kiêu hãnh về chủng tộc, di sản, dòng dõi lâu đời và đẳng cấp; với sự bền bỉ ngoan cường và quyết tâm kiên định; với ý thức về chân lý và thái độ cô độc nội tâm. Bà đã phải dần học cách chuyển hoá những phẩm tính này thành phẩm cách của tâm thức linh hồn, sự định hướng sáng suốt, sự biểu đạt rõ ràng ý thức về chân lý và tính bao gồm rộng rãi, bao quát. Điều này không dễ dàng, mặc dù em, vì không có những vấn đề và khuynh hướng riêng của Bà, có thể không nhận ra rằng chúng cũng nghiêm trọng như của em—hay đúng hơn, đã từng nghiêm trọng như vậy. Một ngày nào đó, Tôi sẽ trao cho các thành viên trong nhóm một sự chẩn đoán về sắc thái chủng tộc cùng những khuynh hướng phát sinh từ đó của họ. Hôm nay, Tôi chỉ đề cập đến những khó khăn riêng của em, vì chiến [602] trường của em nằm ngay ở đó, và chủ yếu chính những khuyết điểm chủng tộc đang cản trở em.
1. DK puts RSU’s problem in a broader context. This is necessary as, apparently, she has resented what DK has said about “racial limitations”.
1. Chân sư DK đặt vấn đề của RSU vào một bối cảnh rộng hơn. Điều này là cần thiết vì dường như bà đã bất bình về những gì Chân sư DK nói về “những giới hạn chủng tộc”.
2. AAB’s British traits (some of them undesirable) are cited. DK states that AAB’s problems with these traits has been as grave as RSU’ with her racial traits.
2. Ngài dẫn ra những đặc điểm Anh của AAB, trong đó có một số đặc điểm không đáng mong muốn. Chân sư DK khẳng định rằng những vấn đề của AAB liên quan đến các đặc điểm này cũng nghiêm trọng như những vấn đề của RSU liên quan đến các đặc điểm chủng tộc của bà.
3. AAB has transmuted negative racial qualities into positive soul-oriented attributes.
3. AAB đã chuyển hoá những phẩm tính chủng tộc tiêu cực thành những thuộc tính tích cực hướng về linh hồn.
a) Her pride of racial heritage, and of ancient lineage and caste have been transmuted into dignity of soul consciousness.
a) Niềm tự hào về di sản chủng tộc, dòng dõi lâu đời và đẳng cấp của bà đã chuyển hoá thành phẩm giá của tâm thức linh hồn.
b) Her stubborn persistence and dogged determination have become intelligent direction.
b) Sự kiên trì bướng bỉnh và quyết tâm bền bỉ của bà đã trở thành sự định hướng sáng suốt.
c) Her sense of truth has been transmuted into a clear expression of her sense of truth.
c) Cảm thức về chân lý của bà đã chuyển hoá thành sự biểu đạt rõ ràng cảm thức ấy.
d) Her attitude of inner solitude has been transmuted into a wide and general inclusiveness.
d) Thái độ cô độc nội tâm của bà đã chuyển hoá thành tính bao gồm rộng lớn, bao quát.
4. RSU is being subtly invited to consider the negatives of her racial traits and consciousness to see what transmutation might bring when applied to them:
4. Một cách tế nhị, Ngài mời RSU xem xét những mặt tiêu cực trong các đặc điểm và tâm thức chủng tộc của bà, để thấy sự chuyển hoá có thể mang lại điều gì khi áp dụng vào chúng:
a) Separativeness could become inclusiveness.
a) Tính chia rẽ có thể trở thành tính bao gồm.
b) Hyper sensitivity to persecution could become a determination to uplift those who suffer.
b) Sự quá nhạy cảm với việc bị bức hại có thể trở thành quyết tâm nâng đỡ những người đau khổ.
c) The sense of inferiority could become a readiness to see the essential dignity and value of every human being.
c) Cảm giác tự ti có thể trở thành sự sẵn lòng nhìn nhận phẩm giá và giá trị cốt yếu của mỗi con người.
d) Selfish intelligence could become astute intelligence utilized to further the Divine Plan.
d) Trí thông minh ích kỷ có thể trở thành trí thông minh sắc sảo được vận dụng để thúc đẩy Thiên Cơ.
e) Perhaps RSU caught the hint and made her own list of ‘traits to transmute’.
e) Có lẽ RSU đã nắm được lời gợi ý và tự lập danh sách “những đặc điểm cần chuyển hoá”.
5. DK promises to give all group members an analysis of their racially induced traits. He did this with certain people from time to time, but it is not clear whether He approached the matter systematically and at once.
5. Chân sư DK hứa sẽ đưa ra cho tất cả thành viên trong nhóm một bản phân tích về những đặc điểm do chủng tộc tạo nên nơi họ. Thỉnh thoảng Ngài đã làm điều này với một số người, nhưng không rõ liệu Ngài có tiếp cận vấn đề một cách có hệ thống và đồng loạt hay không.
I would add also to the above — which I rarely do — that you are likewise freer from the imposition of physical control than at any previous time in your life story, except once when you were much younger. Your second major limitation has been, as you know, a physical one and is incidentally also a part of the racial trouble, and of racial polarisation. Every disciple has to achieve complete freedom from racial limitations and to break down certain separative barriers; otherwise they remain and hinder, as I hinted elsewhere to S.C.P. This is however an attainable attitude for you. You have, secondly, also to release your personality from the control of that which is the most potent personality vehicle, owing to the focus of the thought and life being largely there. The visualisation of yourself as one who is unlimited in soul expression physically would aid you. It is usually only in the brain (not in the mind) that racial reactions and racial vibrations make their presence felt. The brain cells, the atomic lives of the brain organism, respond to the racial brain and thus condition physical plane activity. A conflict is then apt to take place between the mind and the brain as in your case, but brain-responsive habits are apt to remain powerful for a long time and hence the problem. I am explaining, my brother, as you can shift the emphasis if you so desire and become entirely unconscious of racial control and racial karma. At present you seldom forget it and it conditions you unduly. Will you please not misunderstand me here if I say that once you relinquish that emphasis, the integration of the personality will be complete and you will be ready for a major step onwards.
Tôi cũng muốn bổ sung vào những điều trên—một việc Tôi hiếm khi làm—rằng em hiện cũng tự do hơn trước sự khống chế của thể xác so với bất kỳ thời điểm nào trước đây trong đời, ngoại trừ một lần khi em còn trẻ hơn nhiều. Như em biết, giới hạn lớn thứ hai của em thuộc về thể xác và cũng là một phần của vấn đề chủng tộc cùng sự phân cực chủng tộc. Mọi đệ tử đều phải đạt được sự tự do hoàn toàn khỏi những giới hạn chủng tộc và phá vỡ một số rào cản chia rẽ; nếu không, chúng sẽ vẫn còn và gây cản trở, như Tôi đã gợi ý với S.C.P. ở một chỗ khác. Tuy nhiên, em có thể đạt được thái độ này. Thứ hai, em cũng phải giải phóng phàm ngã khỏi sự chi phối của hiện thể phàm ngã mạnh nhất, sở dĩ mạnh nhất là vì phần lớn tư tưởng và đời sống đều tập trung ở đó. Việc hình dung mình là một người không bị giới hạn trong sự biểu lộ linh hồn qua thể xác sẽ giúp ích cho em. Thông thường, những phản ứng và rung động chủng tộc chỉ bộc lộ sự hiện diện của chúng trong bộ não, chứ không phải trong thể trí. Các tế bào não, những sự sống nguyên tử của cơ quan não bộ, đáp ứng với bộ não chủng tộc và do đó định hình hoạt động trên cõi hồng trần. Khi ấy, một cuộc xung đột dễ xảy ra giữa thể trí và bộ não, như trong trường hợp của em; nhưng những thói quen đáp ứng theo bộ não thường vẫn mạnh mẽ trong một thời gian dài, và đó là nguồn gốc của vấn đề. Huynh đệ của tôi, Tôi giải thích như vậy vì em có thể chuyển trọng tâm nếu muốn, và trở nên hoàn toàn không còn nhận biết sự chi phối của chủng tộc cùng nghiệp quả chủng tộc. Hiện nay, em hiếm khi quên điều ấy, và nó tác động quá mức đến em. Xin em đừng hiểu lầm Tôi khi Tôi nói rằng một khi em từ bỏ sự nhấn mạnh ấy, sự tích hợp phàm ngã sẽ hoàn tất và em sẽ sẵn sàng cho một bước tiến lớn.
1. DK notes that RSU is freer from physical control than at any other time of her life except at one time in her youth. He is entering into a discussion of personality matters; this He rarely does, so it must be for a good purpose.
1. Chân sư DK nhận xét rằng RSU đã thoát khỏi quyền kiểm soát của thể xác nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong đời, ngoại trừ một thời điểm thời trẻ. Ngài đang đi vào việc bàn luận những vấn đề phàm ngã; Ngài hiếm khi làm điều này, nên hẳn phải có một mục đích tốt đẹp.
2. The presence of the progressing Moon in Gemini (a sign of mobility and ‘youthfulness’) may also have been of value in helping RSU achieve a greater degree of release.
2. Sự hiện diện của Mặt Trăng tiến trình trong Song Tử, một dấu hiệu của tính động và “sự trẻ trung”, cũng có thể đã giúp RSU đạt được mức độ giải thoát lớn hơn.
3. The position of transiting Neptune (a planet of ‘release’) at the bottom of the chart (IC) may also be weakening the hold of the racial inheritance, though, depending on the response, it could deepen the glamor.
3. Vị trí của Sao Hải Vương quá cảnh, một hành tinh của “sự giải thoát”, ở đáy lá số (IC) cũng có thể đang làm suy yếu sự chi phối của di sản chủng tộc; tuy nhiên, tùy theo cách đáp ứng, nó cũng có thể làm ảo cảm sâu đậm thêm.
4. Along with the problem of excessive responsiveness to the racial consciousness, DK again emphasizes the physical problem but links it to the “racial trouble and racial polarization”. The racial polarization, in this case, is quite mental-physical, exacerbating RSU’s physical problem.
4. Cùng với vấn đề đáp ứng quá mức với tâm thức chủng tộc, Chân sư DK một lần nữa nhấn mạnh vấn đề thể xác, nhưng liên kết nó với “vấn đề chủng tộc và sự phân cực chủng tộc”. Trong trường hợp này, sự phân cực chủng tộc mang tính trí tuệ–hồng trần khá rõ, làm trầm trọng thêm vấn đề thể xác của RSU.
5. RSU is again compared to SCP (who also has significant first ray in her energy system — though on different levels, i.e. conditioning the soul and physical body). Both of these disciples have to release themselves from the sense of separatism strengthened by their racial consciousness.
5. RSU một lần nữa được so sánh với SCP, người cũng có cung một đáng kể trong hệ thống năng lượng của bà, dù ở các cấp độ khác, tức là tác động lên linh hồn và thể xác. Cả hai đệ tử này đều phải tự giải phóng khỏi cảm thức chia rẽ mà tâm thức chủng tộc của họ củng cố.
6. DK suggests that for RSU the physical vehicle as been “the most potent personality vehicle”, largely because the focus of the thought life has been there.
6. Chân sư DK gợi ý rằng đối với RSU, hiện thể hồng trần đã là “hiện thể mạnh nhất trong phàm ngã”, chủ yếu vì trọng tâm đời sống tư tưởng đã đặt ở đó.
7. She is to visualize herself as one who is “unlimited in soul expression physically”. The increasing strength of Neptune will help, as Neptune is a planet which assists in the transcendence of physical limitations.
7. Bà cần hình dung mình là người “không bị giới hạn trong sự biểu đạt linh hồn qua thể xác”. Sức mạnh ngày càng tăng của Sao Hải Vương sẽ giúp ích, vì Sao Hải Vương là hành tinh hỗ trợ việc vượt qua những giới hạn thể xác.
8. DK explains why racial traits and limitations may have such a powerful effect. They affect largely the brain and not the mind. The “racial brain” affects the brain of the individual born into in a particular race. A conflict is then set up between the mind and brain. In her mind RSU understands the nature of these racial limitations, but her brain (subject to the racial brain) inclines her to submit to them.
8. Chân sư DK giải thích tại sao những đặc điểm và giới hạn chủng tộc có thể gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến vậy. Chúng chủ yếu tác động đến bộ não chứ không phải thể trí. “Bộ não chủng tộc” tác động đến bộ não của cá nhân sinh ra trong một chủng tộc cụ thể. Khi ấy, một cuộc xung đột hình thành giữa thể trí và bộ não. Trong thể trí, RSU thấu hiểu bản chất của những giới hạn chủng tộc này, nhưng bộ não của bà, chịu sự chi phối của bộ não chủng tộc, lại khiến bà có khuynh hướng phục tùng chúng.
9. DK seeks to see her free from all racial influence which, at the same time, would free her from the influence of the physical body (so tied to the racial inheritance and racial brain).
9. Chân sư DK mong thấy bà thoát khỏi mọi ảnh hưởng chủng tộc; đồng thời, điều này cũng sẽ giải phóng bà khỏi ảnh hưởng của thể xác, vốn gắn chặt với di sản chủng tộc và bộ não chủng tộc.
10. He offers a very great incentive if she can free herself: “once you relinquish that emphasis, the integration of the personality will be complete and you will be ready for a major step onwards”. This statement deserves close analysis. RSU is not yet a completely integrated personality. In her case, integration seems to be proceeding from ‘above’ downwards. Her mind is certainly integrated with her soul as is her astral nature to a significant extent (for her aspiration is keen and strong and her dedication most earnest and intent). Only the physical nature escapes the necessary integration with the other aspects of her energy system.
10. Ngài đưa ra một động lực rất lớn nếu bà có thể tự giải phóng: “một khi em từ bỏ sự chú trọng ấy, sự tích hợp phàm ngã sẽ hoàn tất và em sẽ sẵn sàng cho một bước tiến lớn”. Lời khẳng định này đáng được phân tích kỹ. RSU chưa phải là một phàm ngã tích hợp hoàn toàn. Trong trường hợp của bà, sự tích hợp dường như đang tiến hành từ “trên” xuống. Thể trí bà chắc chắn đã tích hợp với linh hồn, và bản chất cảm dục của bà cũng vậy ở mức độ đáng kể, vì khát vọng của bà mãnh liệt và mạnh mẽ, còn lòng tận tụy thì hết sức chân thành và chuyên chú. Chỉ có bản chất hồng trần là chưa đạt được sự tích hợp cần thiết với các phương diện khác trong hệ thống năng lượng của bà.
11. It is well known that complete personality integration (spiritually considered) occurs at the third initiation. RSU is an advanced disciple and an accepted disciple; she is no beginner. If her personality integration becomes complete she will be ready for a “major step onwards”. The term “major” is important, for it can be related to the third initiation which is the first “major” initiation.
11. Ai cũng biết rằng sự tích hợp phàm ngã hoàn toàn, xét về mặt tinh thần, diễn ra ở lần điểm đạo thứ ba. RSU là một đệ tử tiến bộ và là một đệ tử được chấp nhận; bà không phải người mới bắt đầu. Nếu sự tích hợp phàm ngã của bà trở nên hoàn chỉnh, bà sẽ sẵn sàng cho một “bước tiến lớn”. Từ “lớn” rất quan trọng, vì nó có thể liên hệ đến lần điểm đạo thứ ba, vốn là lần điểm đạo “lớn” đầu tiên.
12. DK asks that RSU please not misunderstand Him in relation to the strong hint He imparts. What might she think if she misunderstood? This we cannot know. But we can see how it is reasonable to think that DK is hinting at third initiation possibilities. At least this possibility should be entertained and pondered.
12. Chân sư DK yêu cầu RSU đừng hiểu lầm Ngài về lời gợi ý mạnh mẽ mà Ngài đưa ra. Bà có thể nghĩ gì nếu hiểu lầm? Chúng ta không thể biết điều đó. Nhưng chúng ta có thể thấy rằng việc cho rằng Chân sư DK đang gợi ý về những khả năng liên quan đến lần điểm đạo thứ ba là hợp lý. Ít nhất, khả năng này cần được cân nhắc và suy ngẫm.
A Master watches His disciples long before they are aware of the inspection, for they themselves take the needed steps into His presence long before the brain registers the contact or the response of the Master. All in this group have been watched by me for many years and in three cases for several lives (so slow were they to register inner spiritual impression) before I communicated to them my intention to train them. This inner direction definitely precipitates situations [603] and difficulties and engenders problems and none of you are unaware of this. The lot of disciples in these days is particularly hard owing to the fact that sensitivity and a conscious reaction to the impress of all the vehicles in the personality simultaneously is so rapid and direct. This is the result of a measure of alignment and of conscious aspiration. But the compensation is adequate if disciples would be more occupied with the inner realities and less engrossed with the outer difficulties. But this, as you know, is most difficult of achievement.
Một Chân sư quan sát các đệ tử của Ngài từ lâu trước khi họ biết mình đang được quan sát, vì chính họ đã thực hiện những bước cần thiết để đến trước sự hiện diện của Ngài từ lâu trước khi bộ não ghi nhận sự tiếp xúc hoặc sự đáp ứng của Chân sư. Tôi đã quan sát tất cả mọi người trong nhóm này suốt nhiều năm, và trong ba trường hợp là suốt vài kiếp, trước khi thông báo cho họ ý định huấn luyện họ—họ chậm ghi nhận ấn tượng tinh thần bên trong đến thế. Sự chỉ đạo bên trong này quả thực làm ngưng tụ các tình huống [603] và khó khăn, đồng thời phát sinh những vấn đề, và không ai trong các bạn không nhận biết điều ấy. Trong những ngày này, số phận của các đệ tử đặc biệt gian khó vì sự nhạy cảm và phản ứng có ý thức trước tác động đồng thời của tất cả các hiện thể phàm ngã diễn ra quá nhanh chóng và trực tiếp. Đây là kết quả của một mức độ chỉnh hợp và khát vọng có ý thức. Nhưng sự bù đắp là xứng đáng nếu các đệ tử quan tâm nhiều hơn đến những thực tại bên trong và bớt mải mê với những khó khăn bên ngoài. Tuy nhiên, như em biết, điều này rất khó thực hiện.
1. DK describes His method of watching and inspecting His disciples long before they become aware of it. A disciple will usually enter a Master’s presence long before the brain registers the contact or the attention of the Master.
1. Chân sư DK mô tả phương pháp Ngài quan sát và xem xét các đệ tử từ rất lâu trước khi họ biết điều đó. Một đệ tử thường đến trước sự hiện diện của Chân sư từ lâu trước khi bộ não ghi nhận sự tiếp xúc hoặc sự chú ý của Ngài.
2. The process of choosing His disciples is not spontaneous; long planning and supervision have entered the process. Each disciple in the present group has been under supervision for many years and in a few cases for a number of lives, due to their slowness of response.
2. Tiến trình lựa chọn các đệ tử của Ngài không diễn ra ngẫu hứng; việc hoạch định và giám sát lâu dài đã góp phần vào tiến trình ấy. Mỗi đệ tử trong nhóm hiện tại đều đã được giám sát trong nhiều năm, và trong một vài trường hợp là qua nhiều kiếp sống, do sự đáp ứng chậm chạp của họ.
3. DK talks about the influential power of the Master’s “inner direction” of His chelas. Many difficulties and problems may arise as a result. The Master is symbolically Saturn (from one perspective), and Saturn is the bringer of necessary difficulty and resultant opportunity.
3. Chân sư DK nói về sức ảnh hưởng của “sự chỉ dẫn nội tâm” mà Chân sư dành cho các đệ tử của Ngài. Nhiều khó khăn và vấn đề có thể nảy sinh từ đó. Theo một góc nhìn, Chân sư tượng trưng cho Sao Thổ, và Sao Thổ mang đến những khó khăn cần thiết cùng cơ hội phát sinh từ đó.
4. Disciples today have a hard time due to their sensitivity and the ability of all personality vehicles to respond simultaneously to impression.
4. Các đệ tử ngày nay gặp nhiều gian nan do sự nhạy cảm của họ và khả năng tất cả các hiện thể phàm ngã cùng đáp ứng với ấn tượng.
5. The Master is a ‘master of understatement’ when He says that “the compensation [for bearing the difficulties of being occultly trained by a Master] is adequate”. Disciples (and RSU is one) have to change their focus and occupy themselves far more with “inner realities” than with outer difficulties.
5. Chân sư quả là một “bậc thầy về lối nói giảm nhẹ” khi Ngài nói rằng “sự bù đắp [cho việc chịu đựng những khó khăn khi được một Chân sư huấn luyện về huyền bí học] sẽ tương xứng”. Các đệ tử, trong đó có RSU, phải thay đổi trọng tâm và chú tâm đến “những thực tại bên trong” nhiều hơn hẳn những khó khăn bên ngoài.
6. Master Morya tells us that “obstacles are possibilities” and that we are to “rejoice at obstacles”. The right kind of inner orientation will allow us to face our difficulties with positivity.
6. Chân sư Morya nói với chúng ta rằng “chướng ngại là những khả năng” và chúng ta cần “hoan hỉ trước chướng ngại”. Sự định hướng nội tâm đúng đắn sẽ giúp chúng ta đối diện với những khó khăn bằng thái độ tích cực.
You ask me: What would I have you do in regard to your own attitudes to the group and to the work with which you are all engaged? It is not hard to answer your enquiry because for you the task is uncomplicated though not simple of achievement. Be, my brother, on the outer plane, what you are interiorly. You have much knowledge and wisdom. Use it as much as possible because you have a sphere of usefulness in this connection right in front of you, ... Your destiny is that of teacher. Begin, therefore, to fulfil it. You have been much occupied with organisational work — a choice of vocation made by your soul which was intended to offset the limitations with which I have sought to make you familiar. Such a task was intended to provide scope for expression upon the outer plane and this it has done. Now pour your energies into the work of the groups with which you are affiliated. Give to A.A.B. the aid which you are well fitted to give, making yourself increasingly responsible for certain aspects of the work which will make their appeal to you, and which call for your conditioning. I am choosing my words with care. Above all else give love with impersonality and true understanding. It must not be the impersonality of a planned and forced achievement but the impersonality of complete self-forgetfulness. The task is so vital that you and all your group brothers must lose sight of the little self in the need and the opportunity of the moment. Oft have I told you this. May I now see the result of this oft recommended truth?
Em hỏi Tôi: Tôi muốn em làm gì về những thái độ của chính em đối với nhóm và công việc mà tất cả các em đang tham gia? Không khó để trả lời câu hỏi của em, vì đối với em, nhiệm vụ này không phức tạp, dù việc hoàn thành nó không đơn giản. Huynh đệ của tôi, trên cõi bên ngoài, hãy là con người em vốn là ở bên trong. Em có nhiều tri thức và minh triết. Hãy sử dụng chúng nhiều nhất có thể, vì ngay trước mắt em có một lĩnh vực mà em có thể đóng góp hữu ích bằng những điều ấy,... Thiên mệnh của em là làm huấn sư. Vì vậy, hãy bắt đầu hoàn thành thiên mệnh ấy. Em đã dành nhiều tâm sức cho công việc tổ chức—một lựa chọn nghề nghiệp do linh hồn em thực hiện nhằm hóa giải những giới hạn mà Tôi đã cố giúp em nhận biết. Một nhiệm vụ như vậy nhằm tạo phạm vi cho sự biểu lộ trên cõi bên ngoài, và nó đã làm được điều ấy. Giờ đây, hãy dồn năng lượng vào công việc của các nhóm mà em có liên hệ. Hãy trao cho A.A.B. sự trợ giúp mà em có đủ khả năng trao, ngày càng nhận trách nhiệm về một số phương diện công việc thu hút em và cần đến ảnh hưởng định hình của em. Tôi đang lựa chọn từ ngữ cẩn thận. Trên hết, hãy trao tình thương với tinh thần vô ngã và sự thấu hiểu chân chính. Đó phải là tính vô ngã của sự quên mình hoàn toàn, chứ không phải tính vô ngã của một thành tựu được hoạch định và cưỡng ép. Nhiệm vụ này thiết yếu đến mức em và tất cả các huynh đệ trong nhóm phải quên đi cái ngã nhỏ bé trước nhu cầu và cơ hội của hiện tại. Tôi đã thường nói với em điều này. Giờ đây, Tôi có thể thấy kết quả của chân lý đã được nhắc nhở nhiều lần này không?
1. DK is ready to relate RSU to the process He has been describing. She wishes to know what the Tibetan would have her do in relation to the group and to the work with which all group members are engaged. Again the answer is simple, though not easy to accomplish. The theme of this answer has been repeated in various ways throughout RSU’s series of instructions: she is to be on the outer plane what she is on the inner. She is to ‘come through’.
1. Chân sư DK sẵn sàng gắn RSU với tiến trình mà Ngài đang mô tả. Bà muốn biết Chân sư Tây Tạng muốn bà làm gì trong mối liên hệ với nhóm và với công việc mà tất cả thành viên trong nhóm đang tham gia. Một lần nữa, câu trả lời đơn giản, dù không dễ thực hiện. Chủ đề của câu trả lời này đã được nhắc lại bằng nhiều cách xuyên suốt loạt huấn thị dành cho RSU: trên cõi bên ngoài, bà phải là chính con người bà ở cõi bên trong. Bà phải “biểu hiện ra được”.
2. With both Saturn and Uranus (planets of manifestation) transiting over her Taurus stellium in the house of group work and the Ashram (the eleventh), this may be increasingly possible.
2. Với cả Sao Thổ lẫn Sao Thiên Vương, những hành tinh của sự biểu hiện, đang quá cảnh qua cụm hành tinh Kim Ngưu của bà trong nhà của công việc nhóm và ashram, tức nhà mười một, điều này có thể ngày càng khả thi.
3. RSU has knowledge and wisdom — very much the result of the influence of her second and third rays (and her extensive experience). The sphere of usefulness before her is almost certainly the work of the Arcane School (reference to which has been deleted so that RSU could not be identified personally).
3. RSU có tri thức và minh triết—phần lớn là kết quả từ ảnh hưởng của cung hai và cung ba nơi bà, cùng kinh nghiệm sâu rộng của bà. Lĩnh vực hữu ích trước mắt bà gần như chắc chắn là công việc của Trường Arcane; phần nhắc đến trường đã bị lược bỏ để người ta không thể xác định danh tính RSU.
4. RSU is to move into her soul destiny — that of a Teacher. The energies of her hard-line personality and its vehicles have inclined her to organizational work. This vocation was a soul choice intended to offset the various kinds of limitations which DK has been bringing to her attention, and it has done so. Now her true soul vocation must take over.
4. RSU cần bước vào vận mệnh linh hồn của mình—vận mệnh của một Huấn sư. Những năng lượng thuộc các cung theo đường cứng trong phàm ngã và các hiện thể của bà đã khiến bà thiên về công việc tổ chức. Nghề nghiệp này là một lựa chọn của linh hồn nhằm hóa giải các loại giới hạn mà Chân sư DK đã lưu ý bà, và nó đã thực hiện được điều đó. Giờ đây, thiên chức thực sự của linh hồn bà phải giữ vai trò chủ đạo.
5. When it comes to dharma and that which will bring a disciple more fully into the Spiritual Hierarchy, Saturn is an important indicator, and, in the proposed chart, Saturn has arrived within orb of conjunction to the proposed Ascendant by solar arc direction, and the progressing MC has been conjuncting natal Saturn. We note that Saturn is placed in the sign of knowledge and wisdom (Taurus) and in the eleventh house of group work and the Ashram. The indications are clear.
5. Khi xét đến bổn phận và những gì sẽ đưa đệ tử gia nhập Thánh đoàn trọn vẹn hơn, Sao Thổ là một chỉ báo quan trọng. Trong lá số được đề xuất, Sao Thổ đã đến trong phạm vi độ lệch đồng vị với Điểm mọc được đề xuất theo nhật cung tiến trình, và Thiên Đỉnh tiến trình đang đồng vị với Sao Thổ bản mệnh. Chúng ta lưu ý rằng Sao Thổ nằm trong dấu hiệu của tri thức và minh triết, Kim Ngưu, và trong nhà mười một của công việc nhóm và ashram. Những chỉ báo đã rõ ràng.
6. New responsibilities are opening up for RSU — an intensification of participation in the esoteric work surrounding AAB. Certain aspects of the work will appeal to her and also call for her “conditioning” (for the application of her particular qualities of energy). A knowledgeable occultist is always of use in the training of aspirants and younger disciples.
6. Những trách nhiệm mới đang mở ra cho RSU—sự tham gia mạnh mẽ hơn vào công việc huyền bí xung quanh AAB. Một số phương diện của công việc sẽ thu hút bà và cũng cần đến “ảnh hưởng định hình” của bà, tức sự vận dụng những phẩm tính năng lượng đặc thù nơi bà. Một nhà huyền bí học am tường luôn hữu ích trong việc huấn luyện những người chí nguyện và các đệ tử ít thâm niên hơn.
7. The Tibetan is having RSU express the attitudes of her soul (or of herself as a soul) — the ability to love with impersonality and understanding. This is a wide and inclusive love that loves despite the personality limitations of the one loved.
7. Chân sư Tây Tạng đang yêu cầu RSU biểu đạt những thái độ của linh hồn bà, hay của chính bà với tư cách một linh hồn—khả năng yêu thương với tính vô ngã và sự thấu hiểu. Đây là tình thương rộng lớn và bao gồm, vẫn yêu thương bất kể những giới hạn phàm ngã của người được yêu.
8. The impersonality which the Tibetan recommends cannot be forced into expression; it arises because of “complete self-forgetfulness”. The Divine Plan is understood as far more important than the little self — the ‘person’ with its ‘personal’ attitudes.
8. Không thể cưỡng ép biểu đạt tính vô ngã mà Chân sư Tây Tạng khuyến nghị; tính vô ngã ấy nảy sinh từ “sự quên mình hoàn toàn”. Thiên Cơ được thấu hiểu là quan trọng hơn rất nhiều so với cái ngã nhỏ bé—“con người cá nhân” cùng những thái độ “cá nhân” của nó.
9. The injunction to love in this manner is really addressed to all the group members, for the times are critical and the attack of the ‘forces of hate’ upon humanity is severe.
9. Lời căn dặn yêu thương theo cách này thực ra hướng đến tất cả thành viên trong nhóm, vì thời cuộc đang nguy cấp và cuộc tấn công của “các mãnh lực thù hận” vào nhân loại rất dữ dội.
As regards your personal meditation, I seek to give you one which will intensify the activity of the ajna centre and which will produce new vision and, above all, integration. [604] The ajna centre becomes active increasingly as alignment, leading to integration, is achieved. I would have you use this meditation twice a day, laying the emphasis upon the exercise angle or aspect of the work and paying no attention at all to the possible spiritual value. I would remind you here (and when I say this I am speaking to all the group members and not only to you) that work in connection with the centres is incidental to true spiritual development and is or should be purely mechanical and automatic. The centres are physical, being aspects of the etheric body and constructed of etheric matter, and their function is simply to express the energy which flows in from the astral body, or from the mind or from the soul (in three aspects). After the third initiation, they will register energy flowing in from the Monad — again through three types of force. If this can be grasped, disciples in training will not over-emphasise the system of centres through which the expressive energy must come.
Về bài thiền riêng của em, Tôi muốn trao cho em một bài sẽ tăng cường hoạt động của trung tâm ajna, đem lại tầm nhìn mới và, trên hết, sự tích hợp. [604] Trung tâm ajna ngày càng hoạt động mạnh hơn khi sự chỉnh hợp dẫn đến sự tích hợp được thành tựu. Tôi muốn em thực hành bài thiền này mỗi ngày hai lần, chú trọng vào khía cạnh luyện tập của công việc và hoàn toàn không để tâm đến giá trị tinh thần mà nó có thể mang lại. Ở đây, Tôi muốn nhắc em (và khi nói điều này, Tôi đang nói với tất cả các thành viên trong nhóm chứ không chỉ riêng em) rằng công việc liên quan đến các trung tâm là điều phụ thuộc vào sự phát triển tinh thần đích thực và mang tính, hoặc phải mang tính, thuần túy máy móc và tự động. Các trung tâm thuộc về hồng trần, là những phương diện của thể dĩ thái và được cấu tạo bằng vật chất dĩ thái; chức năng của chúng chỉ là biểu lộ năng lượng tuôn vào từ thể cảm dục, từ thể trí hoặc từ linh hồn (trong ba phương diện). Sau lần điểm đạo thứ ba, chúng sẽ ghi nhận năng lượng tuôn vào từ chân thần—cũng qua ba loại mãnh lực. Nếu nắm bắt được điều này, các đệ tử đang được huấn luyện sẽ không quá đề cao hệ thống các trung tâm mà năng lượng biểu lộ phải đi qua.
1. The new meditation being offered will strengthen the development of the ajna center, helping to produce new vision (for the sake of motivation) and integration (which we have been discussing as a necessary prerequisite in the training for the third initiation). The three key words associated with that initiation are “Integration. Direction. Science” (cf. R&I 340)
1. Bài thiền mới được trao sẽ tăng cường sự phát triển của trung tâm ajna, giúp tạo ra tầm nhìn mới để khơi dậy động lực và sự tích hợp, điều mà chúng ta đã bàn đến như một điều kiện tiên quyết cần thiết trong việc huấn luyện cho lần điểm đạo thứ ba. Ba từ khóa gắn với lần điểm đạo ấy là “Tích hợp. Định hướng. Khoa học” (xem R&I 340)
2. We cannot know for certain whether RSU is being prepared for the third degree (as was DHB and, presumably, JWK-P — AAB and FCD were mostly probably already there), but there are hints which make it impossible for us to dismiss the possibility.
2. Chúng ta không thể biết chắc liệu RSU có đang được chuẩn bị cho cấp độ thứ ba hay không, như DHB và có lẽ cả JWK-P—rất có thể AAB và FCD đã đạt đến cấp độ ấy—nhưng có những gợi ý khiến chúng ta không thể gạt bỏ khả năng này.
3. DK discusses the unfoldment of the chakras, pointing to the fact that their development is “incidental to true spiritual development and is or should be purely mechanical and automatic”. Undue attention should, therefore, not be given to them; they will respond automatically to inner developments. At different stages of evolution they express different kinds of subjective energies and after the third initiation, they will “register energy flowing in from the Monad”. Again, He mentions the third degree.
3. Chân sư DK bàn về sự khai mở của các luân xa, chỉ ra rằng sự phát triển của chúng là “hệ quả đi kèm của sự phát triển tinh thần đích thực và mang tính, hoặc nên mang tính, thuần túy máy móc và tự động”. Vì vậy, không nên dành sự chú ý quá mức cho chúng; chúng sẽ tự động đáp ứng với những phát triển bên trong. Ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau, chúng biểu đạt những loại năng lượng nội tâm khác nhau, và sau lần điểm đạo thứ ba, chúng sẽ “ghi nhận năng lượng tuôn vào từ chân thần”. Một lần nữa, Ngài nhắc đến cấp độ thứ ba.
4. DK has said that He is not training disciples for the third degree (and this is generally true). However, exceptions have been noted (as in the case of DHB) and there is also a reference which states that DK has been charged with training disciples for the first three degrees of initiation. The two contrasting paragraphs are listed below.
4. Chân sư DK đã nói rằng Ngài không huấn luyện các đệ tử cho cấp độ thứ ba, và nhìn chung điều này là đúng. Tuy nhiên, đã có những ngoại lệ được ghi nhận, như trường hợp DHB, và cũng có một đoạn tham chiếu nói rằng Chân sư DK đã được giao nhiệm vụ huấn luyện các đệ tử cho ba cấp độ điểm đạo đầu tiên. Hai đoạn văn tương phản được liệt kê dưới đây.
a) A would-be-initiate does not, at first, work solely under the care of the Master of a particular Ashram. Or initiation may be taken in the interim period between incarnations, or else immediately upon return to physical plane life. This latter is the most probable for those who are not taking initiations higher than the third; and, at present, for that initiation I am not preparing disciples. (DINA II 70)
a) Ban đầu, một người đang hướng tới điểm đạo không làm việc chỉ dưới sự chăm sóc của Chân sư thuộc một ashram cụ thể. Hoặc việc điểm đạo có thể diễn ra trong khoảng thời gian giữa hai kiếp lâm phàm, hay ngay khi trở lại đời sống trên cõi hồng trần. Khả năng sau cùng này là khả năng lớn nhất đối với những người không nhận các cuộc điểm đạo cao hơn lần thứ ba; và hiện nay, Tôi không chuẩn bị các đệ tử cho lần điểm đạo ấy. (DINA II 70)
b) Certain of the Masters (usually Masters like myself who have only lately passed through the fifth initiation) have been chosen to train and instruct aspirants on all the rays until after the third Initiation of Transfiguration. (DINA II 383)
b) Một số Chân sư—thường là những Chân sư như Tôi, mới vượt qua lần điểm đạo thứ năm không lâu—đã được chọn để huấn luyện và chỉ dạy những người chí nguyện thuộc mọi cung cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, lần điểm đạo Biến hình. (DINA II 383)
5. In only a couple of cases does DK explicitly state the initiation for which the disciple is being prepared. In others He hints in such a way that, if the disciple is alert, he will catch the hint. It is for us also to attempt to catch these hints, although the possibility exists that we could be incorrect in our interpretation.
5. Chỉ trong một vài trường hợp Chân sư DK mới nói rõ đệ tử đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo nào. Trong những trường hợp khác, Ngài gợi ý theo cách mà nếu tỉnh táo, người đệ tử sẽ nắm được. Chúng ta cũng cần cố gắng nắm bắt những gợi ý này, dù vẫn có khả năng chúng ta diễn giải sai.
The object of this particular exercise is to centralise the consciousness (plus the energies of which it is aware within the physical body) in the centre between the eyebrows, the ajna centre. When this is done, you have a secondary form of integration made possible, i.e., the integration of forces coming from the outer world of impression, via the five senses and the synthesising sense, the mind. You have, therefore, energies seeking outlet and expression, via the etheric body as it conditions and renders active the dense physical body, and at the same time energies making known to the man the world of spiritual being. Of these two worlds of sense perception, the two eyes are the symbol, as you know.
Mục đích của bài tập cụ thể này là tập trung tâm thức (cùng với những năng lượng mà tâm thức nhận biết trong thể xác) vào trung tâm giữa hai chân mày, tức trung tâm ajna. Khi điều này được thực hiện, một hình thức tích hợp thứ cấp trở nên khả thi, tức là sự tích hợp các mãnh lực đến từ thế giới ấn tượng bên ngoài, qua năm giác quan và giác quan tổng hợp là thể trí. Vì vậy, em có những năng lượng tìm đường thoát ra và biểu lộ qua thể dĩ thái khi thể dĩ thái tác động lên và làm cho thể xác đậm đặc hoạt động; đồng thời, em cũng có những năng lượng giúp con người nhận biết thế giới hiện tồn tinh thần. Như em biết, hai mắt là biểu tượng của hai thế giới tri giác này.
1. The kind of integration which DK hopes RSU will achieve is described.
1. Ngài mô tả loại tích hợp mà Chân sư DK hy vọng RSU sẽ đạt được.
2. Two forms of integration are the object of achievement: 1) the integration of energies which make known to man the world of spiritual being and 2) the integration of energies which seek outlet and expression via the etheric body as it renders active the dense physical body.
2. Có hai hình thức tích hợp cần đạt được: 1) sự tích hợp các năng lượng giúp con người nhận biết thế giới hiện tồn tinh thần và 2) sự tích hợp các năng lượng tìm đường thoát ra và biểu đạt qua thể dĩ thái khi thể này kích hoạt thể xác đậm đặc.
3. There arises an integration of higher and lower worlds and both are worlds of “sense perception”. Higher and lower senses are involved. The inner worlds and the outer worlds are united in the consciousness of the perceiver.
3. Sự tích hợp giữa các thế giới cao và thấp xuất hiện, và cả hai đều là những thế giới của “tri giác giác quan”. Các giác quan cao và thấp đều tham gia. Những thế giới bên trong và những thế giới bên ngoài hợp nhất trong tâm thức của người tri giác.
1. Achieve quiet. Relax with as much rapidity as possible and with little mental activity. Then raise the consciousness to the ajna centre.
1. Đạt đến sự yên tĩnh. Thư giãn càng nhanh càng tốt, với ít hoạt động trí tuệ. Sau đó nâng tâm thức lên trung tâm ajna.
2. Sound the OM, visualising the integration of the personality with the soul. In doing this, link the pituitary centre with the head centre, above the pineal gland.
2. Xướng linh từ OM, hình dung sự tích hợp của phàm ngã với linh hồn. Khi làm điều này, hãy nối trung tâm tuyến yên với trung tâm đầu, phía trên tuyến tùng.
3. Then pause and after a mental grasp of what is to be done proceed as follows: [605]
3. Sau đó dừng lại và, sau khi đã nắm rõ bằng trí tuệ những gì cần làm, hãy tiến hành như sau: [605]
a) Take a long breath and draw the energy from the throat centre in so doing.
a) Hít một hơi dài và trong khi hít vào, rút năng lượng từ trung tâm cổ họng lên.
b) Repeat the breathing and draw the energy from the heart centre, holding these two withdrawn energies imaginatively in the ajna centre.
b) Lặp lại hơi thở và rút năng lượng từ trung tâm tim lên, dùng sự tưởng tượng giữ hai năng lượng vừa rút lên này trong trung tâm ajna.
c) Repeat the process in connection with the solar plexus.
c) Lặp lại tiến trình này với tùng thái dương.
d) Repeat also in connection with the sacral centre.
d) Cũng lặp lại với trung tâm xương cùng.
e) Recognising then that four types of energy have been centred in the ajna centre, take another long breath and draw the energy of the muladhara centre to the ajna focus.
e) Sau đó, nhận biết rằng bốn loại năng lượng đã tập trung trong trung tâm ajna, hít thêm một hơi dài và rút năng lượng của trung tâm đáy cột sống lên tiêu điểm ajna.
f) Then consciously endeavour to hold all the energies there.
f) Rồi cố gắng giữ tất cả các năng lượng ở đó một cách có ý thức.
1. This is actually a very occult meditation and will certainly enhance personality integration and the integration of that personality with the soul.
1. Đây thực sự là một bài tham thiền rất huyền bí và chắc chắn sẽ tăng cường sự tích hợp phàm ngã cũng như sự tích hợp phàm ngã ấy với linh hồn.
2. We can see its potentially centralizing effect and how it would empower the ajna centers to direct and guide the energies of all centers below it.
2. Chúng ta có thể thấy tác dụng tập trung tiềm tàng của bài thiền này và cách nó sẽ tăng cường khả năng của các trung tâm ajna trong việc định hướng và dẫn dắt năng lượng của tất cả các trung tâm bên dưới.
3. The soul and personality are visualized as integrated. Two glands and one center are related as a triangle: the pituitary, the pineal and the head center above the pineal.
3. Linh hồn và phàm ngã được hình dung là đã tích hợp. Hai tuyến và một trung tâm liên hệ với nhau thành một tam giác: tuyến yên, tuyến tùng và trung tâm đầu phía trên tuyến tùng.
4. At this point, dedicate the energies of the personality (which express themselves through these five centres and the ajna centre, making six centres in all) and breathe them back again — by an act of the will — into the centres to which they belong. Do not do this sequentially and piecemeal but as one dynamic outbreathing; see these energies travelling down the spine to their respective resting places, carrying new life, pure stimulation and dynamic will to each and every centre.
4. Đến đây, hãy hiến dâng các năng lượng của phàm ngã (vốn biểu lộ qua năm trung tâm này và trung tâm ajna, tổng cộng là sáu trung tâm), rồi bằng một hành động của ý chí, thở chúng trở lại các trung tâm tương ứng. Đừng làm điều này tuần tự và từng phần, mà hãy thực hiện trong một hơi thở ra đầy năng lực; thấy những năng lượng này đi xuống dọc cột sống đến những nơi an trú tương ứng, mang sự sống mới, sự kích thích thuần khiết và ý chí đầy năng lực đến từng trung tâm.
5. Then, as the soul informing the body, sound the OM and proceed with the group meditation.
5. Sau đó, trong tư cách linh hồn thấm nhuần thân thể, hãy xướng linh từ OM và tiếp tục với bài thiền nhóm.
This meditation should definitely aid in increasing the activity of the physical body along the lines you have for so long desired, and make the discipline for which you have striven, no longer a discipline but a life of unconscious, automatic spiritual expression.
Bài thiền này chắc chắn sẽ giúp gia tăng hoạt động của thể xác theo hướng em đã mong muốn từ lâu, đồng thời khiến kỷ luật mà em đã nỗ lực thực hiện không còn là kỷ luật nữa, mà trở thành một đời sống biểu lộ tinh thần tự động, không cần chú tâm.
1. This is a simple and clear meditation but undoubtedly of great power.
1. Đây là một bài thiền đơn giản và rõ ràng nhưng chắc chắn có sức mạnh lớn.
2. The energies gathered to the ajna center are dedicated presumably to the soul and to the manifestation of the Divine Plan. Through this dedication the gathered energies are consecrated to the highest possible use.
2. Những năng lượng quy tụ về trung tâm ajna có lẽ được hiến dâng cho linh hồn và sự biểu hiện của Thiên Cơ. Qua sự hiến dâng này, các năng lượng đã quy tụ được thánh hiến cho mục đích sử dụng cao nhất có thể.
3. The will is definitely involved in this exercise; all upgatherings are done through the will as well as all re-direction of the gathered energies.
3. Ý chí chắc chắn tham gia vào bài tập này; mọi sự quy tụ năng lượng lên cao đều diễn ra thông qua ý chí, cũng như mọi sự tái định hướng các năng lượng đã quy tụ.
4. The process of ‘breathing back’ is necessary to restore balance, and as it occurs, it give the meditator the opportunity to redirect the gathered energies to their various sources producing revitalization.
4. Tiến trình “thở trở lại” là cần thiết để khôi phục sự cân bằng. Khi diễn ra, nó cho người hành thiền cơ hội tái định hướng các năng lượng đã quy tụ về những nguồn khác nhau của chúng, tạo ra sự tiếp sinh lực trở lại.
5. The ‘breathing back’ occurs dynamically in one “outbreathing”. This synthetic rather than piecemeal approach also serves to produce balance and induces a sense of wholeness within the energy system.
5. Việc “thở trở lại” diễn ra đầy uy lực trong một “hơi thở ra”. Cách tiếp cận tổng hợp này, thay vì thực hiện từng phần, cũng giúp tạo ra sự cân bằng và khơi dậy cảm thức toàn vẹn trong hệ thống năng lượng.
6. The purpose of this meditation is to carry “pure stimulation and dynamic will to each and every centre”.
6. Mục đích của bài thiền này là mang “sự kích thích thuần khiết và ý chí đầy uy lực đến từng trung tâm”.
7. DK is bringing still more powerful occult methods to the task of discipline which for more than a decade has engaged RSU’s attention. The highest centers are being established as directors of the lower. A transition is being made from a life of discipline to a life of “unconscious, automatic spiritual expression”.
7. Chân sư DK đang đưa những phương pháp huyền bí mạnh mẽ hơn nữa vào nhiệm vụ rèn luyện kỷ luật mà RSU đã chú tâm suốt hơn một thập niên. Các trung tâm cao nhất đang được thiết lập để chỉ đạo những trung tâm thấp hơn. Một sự chuyển tiếp đang diễn ra từ đời sống kỷ luật sang đời sống “biểu đạt tinh thần tự động, không cần dụng ý”.
August 1942 – Tháng Tám năm 1942
1. Your feet have onward marched. The Path stands clear revealed. You know the step ahead.
1. Đôi chân em đã tiến bước. Đường Đạo hiện ra rõ ràng. Em biết bước đi phía trước.
1. Two years have passed since the last series of instructions. One can imagine Master DK deeply involved in the war process having no time to dictate letters to individual chelas.
1. Hai năm đã trôi qua kể từ loạt huấn thị gần nhất. Có thể hình dung Chân sư DK đang hết sức bận rộn với diễn biến chiến tranh, không có thời gian đọc cho ghi lại những bức thư gửi riêng từng đệ tử.
2. Six powerful mantrams have been given to each of the chelas in the New Seed Group. One suspects that they are so concentrated in their potency that they would provide each chela with major meditation themes for the rest of his/her present incarnation.
2. Mỗi đệ tử trong Nhóm Hạt Giống Mới đã nhận được sáu mantram mạnh mẽ. Có thể phỏng đoán rằng uy lực của chúng cô đọng đến mức sẽ cung cấp cho mỗi đệ tử những chủ đề tham thiền lớn trong suốt phần còn lại của kiếp lâm phàm hiện tại.
3. These mantrams or occult phrases are given out at a time of great peril for humanity. The “lower interlude” is in full swing. It was during this period in 1942 that the Master thought They might have to withdraw, as it appeared that humanity was going down to defeat. It is in this historical context that occult phrases of the most essentialized kind are given to the group members.
3. Những mantram hay cụm từ huyền bí này được trao vào một thời điểm vô cùng nguy hiểm đối với nhân loại. “Khoảng gián đoạn thấp” đang ở cao điểm. Chính trong giai đoạn này của năm 1942, Chân sư đã nghĩ rằng Các Ngài có thể phải rút lui, vì dường như nhân loại đang đi đến thất bại. Trong bối cảnh lịch sử ấy, những cụm từ huyền bí cô đọng đến tận cốt yếu được trao cho các thành viên trong nhóm.
4. This first group of occult sentences indicates that the aspiration has been keen. Marching Mars and the sixth ray have played their role. Now there is light upon the Path ahead. It stands “clear revealed” under the influence of light-bearing Venus.
4. Nhóm câu huyền bí đầu tiên này cho thấy khát vọng đã mãnh liệt. Sao Hỏa tiến bước và cung sáu đã đóng vai trò của mình. Giờ đây, có ánh sáng trên Đường Đạo phía trước. Đường Đạo “hiện ra rõ ràng” dưới ảnh hưởng của Sao Kim mang ánh sáng.
5. There is a step ahead and RSU knows it. This step is presumably an initiation. It is surely either the second or third, and many are the indications that it could be the third. We must remember that the second and third initiations can be taken in the same life and, in fact, usually are (cf. I HS 84-85).
5. Có một bước đi phía trước và RSU biết điều đó. Có lẽ bước đi này là một cuộc điểm đạo. Chắc chắn đó là lần thứ hai hoặc thứ ba, và nhiều dấu hiệu cho thấy có thể là lần thứ ba. Chúng ta phải nhớ rằng lần điểm đạo thứ hai và thứ ba có thể diễn ra trong cùng một kiếp sống, và trên thực tế thường là như vậy (xem I HS 84-85).
2. I would ask you not to backward look, my brother, but [606] tread with confidence the Lighted Way. It leads to Me. Your soul and I are One.
2. Huynh đệ của Tôi, Tôi muốn em đừng ngoảnh lại phía sau, mà hãy [606] tự tin bước trên Con Đường được Soi Sáng. Con đường ấy dẫn đến Tôi. Linh hồn em và Tôi là Một.
1. The Way lies on ahead. We have already seen RSU demonstrate certain backward-looking tendencies stimulated by the third ray, Cancer and Capricorn.
1. Đường Đạo nằm ở phía trước. Chúng ta đã thấy RSU biểu lộ một số khuynh hướng ngoảnh lại phía sau, do cung ba, Cự Giải và Ma Kết kích thích.
2. We notice how emphatic is the Tibetan: He emphasizes the word, “not” through italics. The ‘backward way’ leads not to the light. The “Lighted Way” is the “Lighted Way of Integration” involving the influence of Venus and the activation and directing power of the integrating ajna center.
2. Chúng ta nhận thấy Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh đến mức nào: Ngài nhấn mạnh từ “đừng” bằng chữ in nghiêng. “Con đường ngoảnh lại phía sau” không dẫn đến ánh sáng. “Con Đường được Soi Sáng” là “Con Đường được Soi Sáng của Sự Tích Hợp”, liên quan đến ảnh hưởng của Sao Kim, sự kích hoạt và quyền năng định hướng của trung tâm ajna có chức năng tích hợp.
3. The Way ahead leads to the Master. Master DK offers an integrating thought which is realized by those who stand at the third level of unfoldment: the soul (the first Master) and the Master of the chela’s Ashram are One.
3. Đường Đạo phía trước dẫn đến Chân sư. Chân sư DK đưa ra một tư tưởng tích hợp mà những người ở cấp độ khai mở thứ ba chứng nghiệm: linh hồn, vị Chân sư đầu tiên, và Chân sư của ashram mà đệ tử thuộc về là Một.
4. The utilization of this second group of sentences leads into the Ashram.
4. Việc vận dụng nhóm câu thứ hai này dẫn vào ashram.
3. Yet I am always near thee — nearer than breeze, or breath or air. Your soul, your Master and yourself are truly one. Reflect.
3. Tuy nhiên, Tôi luôn ở gần em—gần hơn làn gió, hơi thở hay không khí. Linh hồn em, Chân sư của em và chính em thực sự là một. Hãy suy ngẫm.
1. These beautiful, poetic sentences suggest the reality of Ashramic-intimacy, and invite RSU to partake of its reality.
1. Những câu văn đẹp đẽ, đầy chất thơ này gợi lên thực tại của sự gần gũi trong ashram và mời RSU dự phần vào thực tại ấy.
2. The phrase “nearer than breeze, or breath of air”, may be a hint concerning the breath as a means to achieve a greater sense of that intimacy. Perhaps, also, the presence of the Master is to be felt like a gentle breeze and is to be invoked through the breath. We remember that “air” is a symbol of the buddhic plane on which many of the Masters’ Ashrams are to be found, including Master DK’s.
2. Cụm từ “gần hơn làn gió hay hơi không khí” có thể là một gợi ý về hơi thở như phương tiện để đạt được cảm thức sâu sắc hơn về sự gần gũi ấy. Có lẽ sự hiện diện của Chân sư cũng cần được cảm nhận như một làn gió nhẹ và được khẩn cầu qua hơi thở. Chúng ta nhớ rằng “không khí” là biểu tượng của cõi Bồ đề, nơi có nhiều ashram của các Chân sư, bao gồm ashram của Chân sư DK.
3. The theme of the previous groups of sentences is repeated. The attempt is to achieve what all advanced disciples must — the realization that those often distinguished centers of energy and consciousness (the Master, the soul and the self) are really one. This realization will require the power of the buddhic sense of fusion.
3. Chủ đề của các nhóm câu trước được nhắc lại. Nỗ lực ở đây là đạt đến điều mà mọi đệ tử tiến bộ đều phải đạt—sự chứng nghiệm rằng những trung tâm năng lượng và tâm thức thường được phân biệt với nhau ấy, gồm Chân sư, linh hồn và bản ngã, thực sự là một. Sự chứng nghiệm này sẽ đòi hỏi quyền năng của cảm thức dung hợp Bồ đề.
4. Stand free. Let naught disturb your calm. Yet seek not peace. Keep poised upon a pinnacle of love.
4. Hãy đứng vững trong tự do. Đừng để điều gì khuấy động sự bình thản của em. Tuy nhiên, đừng tìm kiếm bình an. Hãy giữ thăng bằng trên đỉnh cao của tình thương.
1. A tranquil condition of the astral body is sought. This leads to a detached and free condition.
1. Điều cần đạt là trạng thái yên tĩnh của thể cảm dục. Điều này dẫn đến trạng thái tách rời và tự do.
2. In RSU’s life there has been much concealed distress. It has its roots in self-depreciation and the conflicts into which her identification with the Jewish racial consciousness precipitate her.
2. Trong cuộc đời RSU đã có nhiều nỗi khổ tâm che giấu. Chúng bắt nguồn từ sự tự hạ thấp mình và những xung đột mà việc đồng hoá với tâm thức chủng tộc Do Thái đẩy bà vào.
3. The calmness unperturbed is not astral peace. “Naught in me seeks the way of peace. Naught in me yearns for earth”. These sentences from the Mantram of Fire (LOS 209) set the proper orientation for the advanced disciple.
3. Sự bình thản không xao động không phải là sự bình an cảm dục. “Không điều gì trong tôi tìm kiếm con đường bình an. Không điều gì trong tôi khao khát trần thế”. Những câu này trong Mantram Lửa (LOS 209) xác lập định hướng đúng đắn cho người đệ tử tiến bộ.
4. If there is identification with the fluctuations of the emotional life there can be no calm.
4. Nếu có sự đồng hoá với những dao động của đời sống cảm xúc thì không thể có sự bình thản.
5. The method of achieving the necessary calm is through an attitude of love.
5. Phương pháp đạt được sự bình thản cần thiết là thông qua một thái độ tình thương.
6. A beautiful and evocative phrase is used. RSU is to “keep poised upon a pinnacle of love”.
6. Một cụm từ đẹp và giàu sức gợi được sử dụng. RSU phải “giữ thăng bằng trên một đỉnh cao của tình thương”.
7. A pinnacle suggests a kind of mountain, a promontory, a lofty position. Astrologically, Venus in Capricorn (the hierarchical position of Venus) is a pinnacle of love.
7. Một đỉnh cao gợi lên hình ảnh một ngọn núi, một mỏm nhô cao, một vị trí cao vời. Về mặt chiêm tinh, Sao Kim trong Ma Kết (vị trí chủ tinh huyền giai của Sao Kim) là một đỉnh cao của tình thương.
8. She is to achieve that pinnacle and not descend from it into lesser states. She is to remain poised in the attitude of love, not losing her balance.
8. Bà phải đạt tới đỉnh cao ấy và không hạ mình xuống những trạng thái thấp hơn. Bà phải giữ thăng bằng trong thái độ tình thương, không đánh mất sự quân bình.
9. Those who have achieved the third degree have achieved (rather permanently) “a pinnacle of love”.
9. Những ai đã đạt cấp độ thứ ba đều đã đạt được “một đỉnh cao của tình thương” tương đối bền vững.
10. Another way of describing this pinnacle is as polarization within the soul, i.e., within causal consciousness. It is definitely an ‘altitude’ ‘above’ personality focus and identification.
10. Một cách khác để mô tả đỉnh cao này là sự phân cực trong linh hồn, tức là trong tâm thức nguyên nhân. Đó rõ ràng là một ‘độ cao’ nằm ‘bên trên’ sự tập trung và đồng hoá với phàm ngã.
5. I seek to have you come closer into the work. Seize upon opportunity when it may come.
5. Tôi muốn em tham gia sâu hơn vào công việc. Hãy nắm lấy cơ hội khi cơ hội đến.
1. These two sentences are clear and direct. There is nothing poetic or symbolic about them.
1. Hai câu này rõ ràng và trực tiếp. Chúng không có gì mang tính thi ca hay biểu tượng.
2. To come “close into the work” can mean two things: closer into the outer work of the Arcane School and Lucis Trust, and, also, closer into the work of the Ashram.
2. “Tham gia sâu hơn vào công việc” có thể mang hai nghĩa: tham gia sâu hơn vào công việc bên ngoài của Trường Arcane và Lucis Trust, đồng thời tham gia sâu hơn vào công việc của ashram.
3. The injunction to “seize opportunity when it may come” is probably not just general advice, but based upon the prevision which Master DK uses on occasion in relation to His chelas. He probably sees ahead an opportunity of a certain kind and is hoping that alerting RSU to its possibility, may stimulate her intuition to recognize it and take it.
3. Lời huấn thị “nắm lấy cơ hội khi cơ hội đến” có lẽ không chỉ là lời khuyên chung, mà dựa trên khả năng thấy trước mà đôi khi Chân sư DK sử dụng đối với các đệ tử của Ngài. Ngài có lẽ thấy trước một cơ hội thuộc loại nào đó và hy vọng rằng việc báo cho RSU biết về khả năng ấy có thể kích thích trực giác của bà để nhận ra và nắm lấy cơ hội.
6. Move forward in my Ashram; the middle Place within that Ashram is the outer Place within the centre of K.H. You know your place.
6. Hãy tiến bước trong ashram của Tôi; Vị Trí ở giữa trong ashram ấy là Vị Trí bên ngoài trong trung tâm của Chân sư KH. Em biết vị trí của mình.
1. These final sentences deal directly with Ashramic matters. There is a diagram on page 610 of DINA II which describes the relationship between the Ashram of DK and that of KH. (Unfortunately this diagram cannot be inserted here at this time.)
1. Những câu cuối cùng này trực tiếp bàn đến các vấn đề ashram. Có một sơ đồ ở trang 610 của DINA II mô tả mối quan hệ giữa ashram của Chân sư DK và ashram của Chân sư KH. (Tiếc rằng lúc này không thể chèn sơ đồ ấy vào đây.)
2. This sixth group of sentences is related to the fifth group. There the Tibetan told RSU that He sought to have her “come closer into the work”. Now He asks her to “move forward in my Ashram”.
2. Nhóm câu thứ sáu này liên quan đến nhóm câu thứ năm. Trong nhóm câu ấy, Chân sư Tây Tạng nói với RSU rằng Ngài muốn bà “tham gia sâu hơn vào công việc”. Giờ đây, Ngài yêu cầu bà “tiến tới trong ashram của Tôi”.
3. The “middle Place” here mentioned is pictured in the diagram. Since Master KH’s Ashram is that of a Chohan, a “middle Place” in Master DK’s Ashram is relatively an “outer Place” within KH’s.
3. “Vị Trí ở giữa” được nhắc tới ở đây có trong sơ đồ. Vì ashram của Chân sư KH là ashram của một Đấng Chohan, nên xét một cách tương đối, “Vị Trí ở giữa” trong ashram của Chân sư DK là một “Vị Trí bên ngoài” trong ashram của Chân sư KH.
4. The suggestion is that disciples upon the periphery of Master DK’s Ashram cannot move into the Ashram of a Chohan like KH. Only once they have advanced considerably into the lesser Ashram can they gain entry along the periphery of the greater Ashram.
4. Điều này gợi ý rằng các đệ tử ở ngoại vi ashram của Chân sư DK không thể bước vào ashram của một Đấng Chohan như Chân sư KH. Chỉ khi đã tiến khá sâu vào ashram nhỏ hơn, họ mới có thể bước vào vùng ngoại vi của ashram lớn hơn.
5. We suspect that RSU is really a disciple of the Master KH, or intended to be. The implication in this sixth group of sentences is that RSU has not yet achieved the “middle Place” from which she could enter Master KH’s Ashram. It seems that Master DK wishes to position her so that this will be possible.
5. Chúng ta phỏng đoán rằng RSU thực sự là một đệ tử của Chân sư KH, hoặc được dự định sẽ trở thành đệ tử của Ngài. Nhóm câu thứ sáu này hàm ý rằng RSU chưa đạt tới “Vị Trí ở giữa”, từ đó bà có thể bước vào ashram của Chân sư KH. Dường như Chân sư DK muốn đưa bà tới vị trí cho phép điều này trở nên khả thi.
September 1943 – Tháng Chín năm 1943
MY FRIEND AND HELPER:
NGƯỜI BẠN VÀ NGƯỜI TRỢ GIÚP CỦA TÔI:
It has been under discussion between K.H. and myself as to whether you should at this time move into His Ashram or whether you should still stay within my Ashram which — in the last analysis — is a part of His. I hinted at this fact to you in one of the six statements which I gave you in my last instruction. It has been decided between us (subject to the approval of your own soul) that the work in my Ashram calls for your cooperation and help, particularly as A.A.B. is now working at her own post within the Ashram of K.H. This decision was reached for certain definite reasons which it is only fair should be communicated to you:
Chân sư KH và Tôi đã thảo luận xem vào lúc này em nên chuyển vào ashram của Ngài hay vẫn nên ở lại trong ashram của Tôi, vốn—xét cho cùng—là một phần trong ashram của Ngài. Tôi đã gợi ý cho em về sự kiện này trong một trong sáu lời mà Tôi trao cho em trong huấn thị trước. Chúng Tôi đã quyết định (với điều kiện chính linh hồn em chấp thuận) rằng công việc trong ashram của Tôi cần đến sự hợp tác và giúp đỡ của em, nhất là vì hiện nay A.A.B. đang làm việc tại vị trí riêng của bạn ấy trong ashram của Chân sư KH. Chúng Tôi đi đến quyết định này vì một số lý do xác định mà công bằng ra em cần được biết:
1. The manner of address is significant. When one becomes a “friend of the Master” it marks a certain stage of advancement. The phrase “friends of the Christ” is used in the instructions to DHB where it is stated that both DHB and FCD are numbered in that group. We can infer that there are also “friends” of lesser Masters than the Christ.
1. Cách xưng gọi này mang ý nghĩa đáng chú ý. Khi một người trở thành “bạn của Chân sư”, điều đó đánh dấu một giai đoạn tiến bộ nhất định. Cụm từ “những người bạn của Đức Christ” được dùng trong các huấn thị dành cho DHB, trong đó có nói rằng cả DHB lẫn FCD đều thuộc nhóm ấy. Chúng ta có thể suy ra rằng cũng có những “người bạn” của các Chân sư ở cấp thấp hơn Đức Christ.
2. Usually, the manner of address includes the word, “Brother”. The letters following this particular letter use that term again, so there must be some special purpose in DK’s use of this form of address in this particular letter.
2. Thông thường, cách xưng gọi có từ “huynh đệ”. Những bức thư tiếp theo bức thư này lại dùng từ ấy, nên hẳn phải có một mục đích đặc biệt nào đó trong việc Chân sư DK sử dụng cách xưng gọi này trong riêng bức thư này.
3. The term, “Helper” is unusual and seems to signify one who is rendering the Master helpful service of a definite kind.
3. Từ “Người trợ giúp” ít khi được dùng và dường như chỉ một người đang phụng sự Chân sư một cách hữu ích trong một loại công việc xác định.
4. We notice that the Masters do discuss amongst Themselves the condition and position of certain disciples. Master DK discussed JWK-P with Master M. and FCD with Master KH. Probably a few other discussions of this kind can be found in the text of the two DINA books. It seems clear that for such discussion to occur, the disciple in question must be relatively advanced, and possessed of the imminent possibility of moving into the Ashram of a more powerful Master (to Whom that disciple probably already ‘belongs’) — for JWK-P ‘belonged’ to M and FCD to KH even though they were serving in DK’s Ashram.
4. Chúng ta nhận thấy rằng các Chân sư quả có thảo luận với nhau về tình trạng và vị trí của một số đệ tử. Chân sư DK đã thảo luận về JWK-P với Chân sư M. và về FCD với Chân sư KH. Có lẽ chúng ta có thể tìm thấy thêm một vài cuộc thảo luận như thế trong hai quyển DINA. Có vẻ rõ ràng rằng để những cuộc thảo luận ấy diễn ra, người đệ tử được nói đến phải tương đối tiến bộ và có khả năng sắp chuyển vào ashram của một Chân sư có quyền năng lớn hơn (mà có lẽ người đệ tử ấy vốn đã ‘thuộc về’) — vì JWK-P ‘thuộc về’ Chân sư M. và FCD thuộc về Chân sư KH, dù họ đang phụng sự trong ashram của Chân sư DK.
5. It is important to note, when distinguishing the Ashrams of KH and DK, that one is really, and “in the last analysis”, a part of the other. A Master’s Ashram is included within the Ashram of the Chohan of the Master’s ray.
5. Khi phân biệt các ashram của Chân sư KH và Chân sư DK, cần lưu ý rằng một ashram thực sự, và “xét cho cùng”, là một phần của ashram kia. Ashram của một Chân sư nằm trong ashram của Đấng Chohan thuộc cung của Chân sư ấy.
6. We noted in the previous instruction that there was mention of the “middle Place” in DK’s Ashram and the “outer Place” in KH’s. This is the hint of which Master DK now speaks.
6. Chúng ta đã lưu ý rằng trong huấn thị trước có nhắc tới “Vị Trí ở giữa” trong ashram của Chân sư DK và “Vị Trí bên ngoài” trong ashram của Chân sư KH. Đây là điều gợi ý mà giờ đây Chân sư DK nói tới.
7. The discussion between DK and KH concerns whether RSU should be transferred to KH’s Ashram or whether she should remain in the Ashram of DK.
7. Cuộc thảo luận giữa Chân sư DK và Chân sư KH liên quan đến việc RSU nên chuyển sang ashram của Chân sư KH hay ở lại trong ashram của Chân sư DK.
8. The decision was made to retain RSU in the Ashram of DK, largely because of Ashramic need. Master DK’s Ashram needs her help as AAB is now working “at her own post” within the Ashram of KH.
8. Quyết định giữ RSU ở lại trong ashram của Chân sư DK chủ yếu dựa trên nhu cầu của ashram. Ashram của Chân sư DK cần sự trợ giúp của bà vì AAB hiện đang làm việc “ở vị trí riêng của bà” trong ashram của Chân sư KH.
9. We note something of very great interest. The decision which has been made is “subject to the approval” of RSU’s soul. We must remember that the Solar Angel is an “initiate of all degrees” (R&I 259) Who for long has had a particular human soul under supervision and training. We learn here that in any such decisions the wisdom of the Solar Angel must be consulted. This is a rare piece of occult information with far-reaching implications.
9. Chúng ta nhận thấy một điều hết sức đáng chú ý. Quyết định đã đưa ra phải “được linh hồn của RSU chấp thuận”. Chúng ta phải nhớ rằng Thái dương Thiên Thần là một “điểm đạo đồ của mọi cấp độ” (R&I 259), Đấng từ lâu đã giám sát và huấn luyện một linh hồn nhân loại cụ thể. Ở đây, chúng ta được biết rằng trong mọi quyết định như thế, cần tham vấn minh triết của Thái dương Thiên Thần. Đây là một thông tin huyền bí hiếm có với những hàm ý sâu rộng.
10. We note that the Ashramic-positioning of a disciple is a balance of group and individual considerations. No such change of position is taken lightly.
10. Chúng ta nhận thấy rằng việc xác định vị trí của một đệ tử trong ashram là sự cân bằng giữa những cân nhắc về nhóm và về cá nhân. Không có sự thay đổi vị trí nào như thế được xem nhẹ.
11. DK tells RSU that there were certain “definite reasons” for reaching this decision and, further, that it is only fair that these reasons should be communicated to her. The Masters do nothing without purpose, thus, it can be assumed that communicating the reasons will be spiritually helpful to RSU.
11. Chân sư DK nói với RSU rằng có những “lý do xác định” để đi đến quyết định này và hơn nữa, lẽ công bằng đòi hỏi phải cho bà biết những lý do ấy. Các Chân sư không làm gì mà không có mục đích; vì vậy, có thể cho rằng việc truyền đạt những lý do này sẽ giúp ích cho RSU về mặt tinh thần.
First: It was felt that your present type of physical vehicle could not adequately take the heightened vibration which distinguishes the Ashram of a Chohan from that of a Master. It would require too much adjustment and consequent delay in the work to be done, especially in this time of world crisis wherein every disciple has to contribute all that is in him. You yourself know that consistently you have been told by me that your major hindrance was the physical body — a body equipped to render the service and complete certain karmic adjustments during this life. People seldom appreciate adequately the fact that the physical body is a definite channel of contact (and sometimes the only one as it expresses [607] physical plane relationships of a karmic nature) between themselves and the people with whom they have to work out certain relationships. This has been pronouncedly so in your case; this is a fact which you will grasp with greater facility when no longer limited by that physical body, as are all who are in incarnation, particularly disciples at your stage of expression. Have you not realised that one of the lessons which every disciple has to learn is the lesson of limitations? Usually this lesson climaxes in some one incarnation wherein — again as in your case — there is full and free inner expression and at the same time definite physical limitations. If you were now transferred into the Ashram of K.H., it would necessitate too much expenditure of protective force on the part of K.H. in order to prevent the disruption of some of the atoms of your body, to offset a too rapid purification of the cells of the physical body, to stem a too direct stimulation of the centres in the etheric body, and a consequent arresting of the work you are doing — and doing so well. Your personal karma still demands that you stay where you are — and I still need your aid, my brother.
Thứ nhất: Chúng Tôi nhận thấy loại hiện thể hồng trần hiện tại của em không thể tiếp nhận đầy đủ rung động cao vốn phân biệt ashram của một Chohan với ashram của một Chân sư. Điều đó sẽ đòi hỏi quá nhiều sự điều chỉnh và do vậy làm chậm trễ công việc cần làm, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng thế giới này, khi mỗi đệ tử phải đóng góp tất cả những gì mình có. Chính em biết rằng Tôi đã luôn nói với em: trở ngại chính của em là thể xác—một thể xác được trang bị để thực hiện việc phụng sự và hoàn tất một số điều chỉnh nghiệp quả trong kiếp sống này. Người ta hiếm khi nhận thức đầy đủ rằng thể xác là một kênh tiếp xúc xác định (và đôi khi là kênh duy nhất, vì nó biểu lộ [607] những mối quan hệ trên cõi hồng trần mang bản chất nghiệp quả) giữa họ với những người mà họ phải giải quyết một số mối quan hệ. Trong trường hợp của em, điều này đặc biệt rõ rệt; đây là một sự thật mà em sẽ dễ nắm bắt hơn khi không còn bị thể xác ấy giới hạn, như tất cả những ai đang lâm phàm đều bị giới hạn, đặc biệt là các đệ tử ở giai đoạn biểu lộ của em. Em chưa nhận ra rằng một trong những bài học mà mọi đệ tử phải học là bài học về những giới hạn sao? Thường thì bài học này lên đến đỉnh điểm trong một kiếp sống nào đó mà—cũng như trường hợp của em—có sự biểu lộ nội tâm đầy đủ và tự do, đồng thời lại có những giới hạn thể chất rõ rệt. Nếu bây giờ em chuyển vào ashram của Chân sư KH, Ngài sẽ phải tiêu hao quá nhiều mãnh lực bảo vệ để ngăn một số nguyên tử trong thể xác em tan rã, hóa giải sự thanh lọc quá nhanh của các tế bào trong thể xác, ngăn sự kích thích quá trực tiếp các trung tâm trong thể dĩ thái, và ngăn tình trạng đình trệ do đó gây ra đối với công việc em đang làm—và đang làm rất tốt. Huynh đệ của Tôi, nghiệp quả cá nhân của em vẫn đòi hỏi em ở lại nơi hiện tại—và Tôi vẫn cần sự trợ giúp của em.
1. One of the reasons for retaining RSU in DK’s Ashram is related to the present condition of her physical vehicle. We now see, perhaps, one of the reasons why Master DK has for so long emphasized the condition of that vehicle and the need to heighten its vibration. He, no doubt, foresaw the possibility of transference to KH’s Ashram and sought to prepare His chela.
1. Một trong những lý do giữ RSU ở lại trong ashram của Chân sư DK liên quan đến tình trạng hiện nay của hiện thể hồng trần của bà. Giờ đây, có lẽ chúng ta thấy được một trong những lý do vì sao từ lâu Chân sư DK đã nhấn mạnh tình trạng của hiện thể ấy và nhu cầu nâng cao rung động của nó. Chắc hẳn Ngài đã thấy trước khả năng chuyển sang ashram của Chân sư KH và tìm cách chuẩn bị cho đệ tử của Ngài.
2. It appears that RSU has not, over the many years, raised the condition of her physical vehicle sufficiently to warrant the transfer.
2. Dường như qua nhiều năm, RSU vẫn chưa cải thiện tình trạng hiện thể hồng trần của bà đủ để có thể chuyển sang ashram kia.
3. We are learning something about the relative strength of two kinds of Ashrams — that of a Chohan and that of a Master. The difference is strength is, apparently, considerable, and is an important factor to be considered when the possible transference of a disciple from one to the other is under discussion.
3. Chúng ta đang học được đôi điều về sức mạnh tương đối của hai loại ashram — ashram của một Đấng Chohan và ashram của một Chân sư. Dường như sự khác biệt về sức mạnh là đáng kể và là một yếu tố quan trọng cần cân nhắc khi thảo luận khả năng chuyển một đệ tử từ ashram này sang ashram kia.
4. If the transference were to occur, too much time would have to be spent with necessary adjustments. Given the seriousness of those times, it would not have been a correct move in terms of the Law of Economy.
4. Nếu việc chuyển sang ấy diễn ra, sẽ phải dành quá nhiều thời gian cho những điều chỉnh cần thiết. Xét tính nghiêm trọng của thời kỳ ấy, đó hẳn sẽ không phải là một bước đi đúng đắn theo Định luật Tiết Kiệm.
5. DK reiterates a common theme, reminding RSU that the physical body is and has been her major hindrance. He points to the purpose of such a physical body: to “complete certain karmic adjustments” and also to “render the service”. He does not specify what the service is, but presumably, the body is suited to the kinds of service in which she has been engaged.
5. Chân sư DK nhắc lại một chủ đề thường gặp, nhắc RSU rằng thể xác hiện là và từ trước đến nay vẫn là trở ngại chính của bà. Ngài chỉ ra mục đích của một thể xác như thế: “hoàn tất một số điều chỉnh nghiệp quả” và cũng để “thực hiện việc phụng sự”. Ngài không nói rõ việc phụng sự ấy là gì, nhưng có lẽ thể xác này phù hợp với những loại phụng sự mà bà đã tham gia.
6. Another important piece of occult information is imparted — the importance of the physical body in providing relationships of a karmic kind. Sometimes, such necessary relationships can be provided in no other way.
6. Một thông tin huyền bí quan trọng khác được truyền đạt — tầm quan trọng của thể xác trong việc tạo lập những mối quan hệ mang tính nghiệp quả. Đôi khi không có cách nào khác để tạo lập những mối quan hệ cần thiết ấy.
7. If there were no such physical relationships, nothing in the astral or mental nature would incline such people to meet and interact and thus “work out” the relationships which karmic obligation and Karmic Law demand.
7. Nếu không có những mối quan hệ hồng trần như thế, thì không có điều gì trong bản chất cảm dục hay trí tuệ khiến những người ấy muốn gặp gỡ và tương tác, qua đó “giải quyết” những mối quan hệ mà nghĩa vụ nghiệp quả và Định luật Nghiệp Quả đòi hỏi.
8. Perhaps we are learning in this paragraph of some deeper implications concerning the decision made by DK and KH with respect to RSU. It is the responsibility of the Master to recommend His Chela to the Initiator when the time is right. The decision under discussion may be part of such a process. Or it may be a lesser kind of recommendation which could lead to a greater. That lesser type of recommendation, then, would concern only change of Ashrams but not of initiatory degree.
8. Có lẽ trong đoạn này, chúng ta đang học được một số hàm ý sâu xa hơn liên quan đến quyết định của Chân sư DK và Chân sư KH đối với RSU. Chân sư có trách nhiệm tiến cử đệ tử của Ngài với Đấng Điểm đạo khi đúng thời điểm. Quyết định đang được bàn đến có thể là một phần của tiến trình ấy. Hoặc đó có thể là một hình thức tiến cử ở mức thấp hơn, có thể dẫn tới một sự tiến cử lớn hơn. Khi ấy, hình thức tiến cử ở mức thấp hơn chỉ liên quan đến việc thay đổi ashram, chứ không phải cấp độ điểm đạo.
9. Master DK does not expect RSU to understand this fully. When released from the limitations of physical incarnation, she will understand more. It is suggested that disciples at her stage of development (relatively advanced) are especially able to understand the reasons for such karmic connections (with all their attendant limitations) after they are free from the physical body.
9. Chân sư DK không mong RSU thấu hiểu trọn vẹn điều này. Khi thoát khỏi những giới hạn của sự lâm phàm hồng trần, bà sẽ thấu hiểu nhiều hơn. Đoạn văn gợi ý rằng các đệ tử ở giai đoạn phát triển của bà (tương đối tiến bộ) đặc biệt có khả năng thấu hiểu lý do của những mối liên kết nghiệp quả ấy (cùng mọi giới hạn đi kèm) sau khi họ thoát khỏi thể xác.
10. More general teaching follows. One of the hard lessons of discipleship is the “lesson of limitation”. Such a lesson would help a disciple distinguish between the inner and outer man, for if the outer plane and the outer vehicle are resistant to inner expression, the disciple is thrown back upon his/her inner nature (which, as a result, is more completely understood and valued).
10. Tiếp theo là phần giáo huấn tổng quát hơn. Một trong những bài học khó khăn của địa vị đệ tử là “bài học về giới hạn”. Bài học ấy sẽ giúp đệ tử phân biệt con người bên trong và con người bên ngoài, vì nếu cõi bên ngoài và hiện thể bên ngoài cản trở sự biểu hiện bên trong, đệ tử buộc phải quay về nương tựa vào bản chất bên trong của mình (nhờ đó, bản chất ấy được thấu hiểu và trân trọng đầy đủ hơn).
11. All this discussion of karma and limitation is occurring at a time when RSU’s progressing Sun is in the final, karmic and very limiting degrees of Pisces. The time is, therefore, apt for such discussion.
11. Toàn bộ cuộc thảo luận này về nghiệp quả và giới hạn diễn ra vào lúc Mặt Trời tiến trình của RSU nằm ở những độ cuối cùng của Song Ngư, những độ mang tính nghiệp quả và rất nhiều giới hạn. Vì vậy, thời điểm ấy thích hợp cho cuộc thảo luận như thế.
12. This type of limiting incarnation is now upon RSU; inwardly, she has achieved a significant degree of freedom, but her inner contacts are difficult to express given the nature of her physical vehicle and personality profession and, to a certain extent, her environment. If one is in such an incarnation, it is important to recognize the fact as this recognition will help one abide the limitation intelligently and constructively.
12. RSU hiện đang trải qua loại kiếp sống đầy giới hạn này; bên trong, bà đã đạt được một mức độ tự do đáng kể, nhưng những tiếp xúc bên trong của bà khó biểu hiện do bản chất của hiện thể hồng trần, nghề nghiệp của phàm ngã và, ở một mức độ nhất định, môi trường của bà. Nếu đang sống trong một kiếp như thế, cần nhận ra sự thật ấy, vì sự nhận biết này sẽ giúp người ta chịu đựng giới hạn một cách sáng suốt và mang tính xây dựng.
13. Transfer to Master KH’s Ashram would involve certain definite consequences of a physical etheric nature. These are now discussed:
13. Việc chuyển sang ashram của Chân sư KH sẽ kéo theo một số hệ quả xác định thuộc về thể xác và thể dĩ thái. Giờ đây, những hệ quả ấy được bàn đến:
a) Some of the atoms of RSU’s body would be disrupted.
a) Một số nguyên tử trong thân thể của RSU sẽ bị phá vỡ.
b) A too rapid purification of the cells of the body would ensue.
b) Các tế bào trong thân thể sẽ trải qua sự thanh lọc quá nhanh.
c) A too direct stimulation of her chakras would occur.
c) Các luân xa của bà sẽ chịu sự kích thích quá trực tiếp.
7. If these results were to be at all neutralized, Master KH would have to intervene, and such intervention would require too much “expenditure of protective force”.
7. Nếu muốn hóa giải những hệ quả này dù chỉ phần nào, Chân sư KH sẽ phải can thiệp, và sự can thiệp ấy sẽ đòi hỏi quá nhiều “sự tiêu tốn mãnh lực bảo vệ”.
8. We can see how carefully the personal condition of any disciple is considered by those Masters Who have some responsibility for the disciple’s training (and welfare).
8. Chúng ta có thể thấy các Chân sư có phần trách nhiệm đối với việc huấn luyện (và phúc lợi) của đệ tử cân nhắc kỹ lưỡng đến mức nào tình trạng cá nhân của mỗi đệ tử.
9. The end result of the over-stimulation which would result from transference to the Ashram of a Chohan would stop the work that RSU is presently doing, and (adds Master DK), “doing so well”. This would clearly be undesirable.
9. Kết quả cuối cùng của sự kích thích quá mức do việc chuyển sang ashram của một Đấng Chohan sẽ là sự chấm dứt công việc mà RSU hiện đang làm và, như Chân sư DK nói thêm, “đang làm rất tốt”. Rõ ràng đây là điều không mong muốn.
10. We can all learn much from the extreme caution exercised by the Masters when making important decisions.
10. Tất cả chúng ta đều có thể học được nhiều điều từ sự thận trọng cao độ của các Chân sư khi đưa ra những quyết định quan trọng.
11. The final statement sums up the situation: her personal karma (presumably the karma of relationship and the karma/condition of her physical body) demands that she stay where she is. Also, Master DK needs her. This last reason would be (for any true disciple) sufficient incentive to accept with acquiescence, understanding and good cheer the decision which has been made.
11. Phát biểu cuối cùng tóm lược tình hình: nghiệp quả cá nhân của bà (có lẽ là nghiệp quả về các mối quan hệ và nghiệp quả/tình trạng thể xác của bà) đòi hỏi bà ở lại nơi hiện tại. Hơn nữa, Chân sư DK cần bà. Lý do cuối cùng này hẳn sẽ là động lực đủ mạnh (đối với bất kỳ đệ tử chân chính nào) để chấp nhận quyết định đã đưa ra với sự thuận lòng, thấu hiểu và vui vẻ.
12. We must remember that karma means both action and condition. Karma is, in a way, ‘the state of things’. When He mentions her “personal karma” He might as well be saying ‘your personal condition’. Action results in the creation of condition, and condition is always a ‘karmic condition’. Karma is the vibratory state or condition which action has generated. It is not just ‘that which will befall’. It is the condition that is at any moment.
12. Chúng ta phải nhớ rằng nghiệp quả vừa có nghĩa là hành động vừa có nghĩa là tình trạng. Theo một cách nào đó, nghiệp quả là ‘trạng thái của sự vật’. Khi Ngài đề cập đến “nghiệp quả cá nhân” của bà, Ngài cũng có thể nói là ‘tình trạng cá nhân của em’. Hành động tạo ra tình trạng, và tình trạng luôn là một ‘tình trạng nghiệp quả’. Nghiệp quả là trạng thái hay tình trạng rung động do hành động tạo ra. Nó không chỉ là ‘điều sẽ xảy đến’. Nó là tình trạng hiện hữu vào bất kỳ thời điểm nào.