← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

chapter 008 02

Trích nội dung chương

5. Steadiness and joy are in the prayer of the Master when He thinks of this disciple. Note the use of the word “prayer”. DK did not say, “meditation”. DK, it seems, does pray — for the Work and for His students — and says so. When He says so, it has an especially evocative effect on the student, stimulating, so it would seem, his earnestness and his aspiration. 5. Sự vững vàng và hoan hỉ có trong lời cầu nguyện của Chân sư khi Ngài nghĩ đến người đệ tử này. Hãy lưu ý việc dùng từ “cầu nguyện”. Chân sư DK không nói “tham thiền”. Dường như Chân sư DK quả có cầu nguyện — cho Công Việc và cho các đạo sinh của Ngài — và Ngài nói rõ điều ấy. Khi…


5. Steadiness and joy are in the prayer of the Master when He thinks of this disciple. Note the use of the word “prayer”. DK did not say, “meditation”. DK, it seems, does pray — for the Work and for His students — and says so. When He says so, it has an especially evocative effect on the student, stimulating, so it would seem, his earnestness and his aspiration.

5. Sự vững vàng và hoan hỉ có trong lời cầu nguyện của Chân sư khi Ngài nghĩ đến người đệ tử này. Hãy lưu ý việc dùng từ “cầu nguyện”. Chân sư DK không nói “tham thiền”. Dường như Chân sư DK quả có cầu nguyện — cho Công Việc và cho các đạo sinh của Ngài — và Ngài nói rõ điều ấy. Khi Ngài nói như vậy, điều đó có một tác dụng khơi gợi đặc biệt đối với đạo sinh, dường như kích thích lòng thiết tha và khát vọng của người ấy.

6. From the first, DK wanted to see RVB more magnetic and radiant. Through the keying-up process that magnetism and radiance have increased. DK wishes RVB to bestow it in an appropriate manner, according to the “measure” of his strength.

6. Ngay từ đầu, Chân sư DK đã muốn thấy RVB có từ tính mạnh hơn và tỏa sáng hơn. Qua tiến trình nâng cao mức rung động, từ điện và sự tỏa sáng ấy đã gia tăng. Chân sư DK muốn RVB trao tặng điều đó một cách thích hợp, theo “mức độ” sức mạnh của ông.

7. The word “measure” is so important. Disciples must measure themselves against the requirements demanded by soul and Hierarchy. The Master measures His disciples, evaluating their assets and liabilities. Energies and forces must flow in proper measure to maintain the balance of nature and cosmos. A life of “divine proportion” and correct measurement in all exchanges is desirable. We are (in manifestation) limited units of life, but the “measure “of what we have can and must be made available in service. Part of the deglamorization process is to “co-measure” ourselves properly, thus ending distortion and establishing truth. This requires the faculty of comparison — a faculty with which a Libran individual, such as RVB, is innately endowed.

7. Từ “mức độ” quan trọng biết bao. Các đệ tử phải tự đo lường mình theo những yêu cầu của linh hồn và Thánh đoàn. Chân sư đo lường các đệ tử của Ngài, đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của họ. Các năng lượng và mãnh lực phải tuôn chảy với mức độ thích hợp để duy trì sự quân bình của thiên nhiên và vũ trụ. Một đời sống có “tỉ lệ thiêng liêng” và sự đo lường đúng đắn trong mọi trao đổi là điều đáng mong muốn. Trong biểu hiện, chúng ta là những đơn vị sự sống có giới hạn, nhưng “phần” những gì mình có đều có thể và phải được đưa vào phụng sự. Một phần của tiến trình giải trừ ảo cảm là tự “đối chiếu và đo lường” mình đúng cách, qua đó chấm dứt sự méo mó và xác lập chân lý. Điều này đòi hỏi năng lực so sánh — một năng lực mà một người Thiên Bình như RVB vốn có bẩm sinh.

July 1935 – Tháng Bảy năm 1935

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ CỦA NGÀY XƯA:

I gave you in my previous instruction much upon which you can still work. There is much that you have not yet fully grasped and I would like you to re-read what I said with renewed care and understanding. With the exception of two of this particular group of disciples, all are in training for greatly extended service and that service will begin to take form very shortly.... Until that time arrives, work at an intensification of your understanding and heightening of your vibration.

Trong huấn thị trước, Tôi đã trao cho em nhiều điều mà em vẫn có thể tiếp tục thực hành. Có nhiều điều em chưa nắm bắt trọn vẹn, và Tôi muốn em đọc lại những gì Tôi đã nói với sự chú tâm và thấu hiểu mới mẻ. Ngoại trừ hai người trong nhóm đệ tử cụ thể này, tất cả đều đang được huấn luyện để phụng sự trên phạm vi mở rộng đáng kể, và công việc phụng sự ấy sẽ sớm bắt đầu thành hình.... Cho đến lúc ấy, hãy nỗ lực đào sâu sự thấu hiểu và nâng cao rung động của em.

1. We see that the Tibetan is very aware of the developments within the consciousness of His chelas.

1. Chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng nhận biết rất rõ những diễn biến trong tâm thức các đệ tử của Ngài.

2. The two in the particular group-of-nine who may not be in training for “greatly extended service” are certainly AAB (it is hard to imagine how her service could be further extended than it was) and probably, FCD or JWK-P (both of whom were already involved in very extended service, though JWK-P’s service was to extend greatly after the passing of AAB).

2. Hai người trong nhóm chín người cụ thể này có thể không đang được huấn luyện để “phụng sự trên phạm vi mở rộng rất nhiều” chắc chắn là AAB, vì khó hình dung sự phụng sự của Bà còn có thể mở rộng hơn mức khi ấy, và có lẽ là FCD hoặc JWK-P, cả hai vốn đã tham gia phụng sự trên phạm vi rất rộng, dù sự phụng sự của JWK-P sẽ mở rộng rất nhiều sau khi Bà AAB qua đời.

3. Occasionally, a disciple experiences a period of back-sliding. We note that in the instruction immediately preceding this one, the Tibetan stated that RVB’s progress in speeding up his “vibratory capacity” was proceeding satisfactorily. Now, in the instruction immediately following, we find a renewed emphasis on the “heightening of your vibration”. We have to ask whether commendation can work against advancement. For some it obviously does so; for JWK-P, apparently, it did not.

3. Đôi khi, một đệ tử trải qua một giai đoạn thụt lùi. Chúng ta lưu ý rằng trong huấn thị ngay trước huấn thị này, Chân sư Tây Tạng nói việc RVB gia tăng tốc độ trong “khả năng rung động” của ông đang tiến triển thỏa đáng. Giờ đây, trong huấn thị ngay sau đó, chúng ta lại thấy Ngài nhấn mạnh việc “nâng cao rung động của em”. Chúng ta phải tự hỏi liệu lời khen có thể cản trở sự tiến bộ hay không. Với một số người, rõ ràng là có; còn với JWK-P, dường như là không.

4. The Tibetan continues His emphasis on the necessity for keying-up. The great ‘Goodwill Initiative’ of 1936 lay not far ahead. It was to have been an opportunity for the New Group of World Servers and men and women of goodwill to push through, helping humanity avoid the very great and immanent dangers presented by growing German and Japanese militarism. We can see the Tibetan “keeping up the pressure”.

4. Chân sư Tây Tạng tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao mức rung động. ‘Sáng Kiến Thiện Chí’ lớn lao năm 1936 đã ở không xa phía trước. Lẽ ra đó phải là một cơ hội để Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cùng những người nam và nữ có thiện chí tạo bước đột phá, giúp nhân loại tránh những hiểm họa rất lớn và cận kề do chủ nghĩa quân phiệt Đức và Nhật đang gia tăng gây ra. Chúng ta có thể thấy Chân sư Tây Tạng đang “duy trì áp lực”.

5. There is a lesson in this for all teachers and mentors. When does one apply pressure and when does one relax the application? When does one enjoin towards greater accomplishment and when does one recognize and, even, commend that which has been accomplished? There is no hard and fast rule here, and the intuition must dictate. Judging from the Tibetan’s experience, we might conclude that, usually, commendation is less successful than continued application of pressure.

5. Trong điều này có một bài học dành cho tất cả các huấn sư và người hướng dẫn. Khi nào nên tạo áp lực và khi nào nên nới lỏng? Khi nào nên thúc giục hướng tới thành tựu lớn hơn, và khi nào nên ghi nhận, thậm chí khen ngợi những gì đã hoàn thành? Ở đây không có quy luật cứng nhắc, và trực giác phải quyết định. Xét từ kinh nghiệm của Chân sư Tây Tạng, chúng ta có thể kết luận rằng thông thường, lời khen ít thành công hơn việc tiếp tục tạo áp lực.

In the daily round of duties and of detail comes for you the opportunity to transfigure life in terms of accomplishment. In these words are to be found for you the objective of this life's endeavour. True accomplishment involves a life of steady radiance and stable uniform activity; but, brother of mine, in this activity and general accomplishment there must come [269]— as the years go by — what I might call crises of achievement. There must be culminating moments when the uniform activity climaxes into hours of dynamic crisis. Then one cycle of work ends in some direction or another and a new cycle of activity commences in the same place and within the limits of the same general endeavour; this is consciously recognised as a new beginning. Unless such moments of crisis occur, the life simmers down to a general dead level and (even if useful) offers not the chance for an extreme effort with its consequent need to draw upon the full resources of the soul.

Trong vòng công việc thường nhật với những bổn phận và chi tiết, em có cơ hội biến hình đời sống qua sự hoàn thành. Trong những lời này, em có thể tìm thấy mục tiêu cho nỗ lực của kiếp sống này. Sự hoàn thành chân chính đòi hỏi một đời sống tỏa sáng đều đặn cùng hoạt động ổn định, nhất quán; nhưng, huynh đệ của tôi, trong hoạt động và sự hoàn thành chung ấy, theo[269] năm tháng phải xuất hiện điều mà Tôi có thể gọi là những cuộc khủng hoảng đưa đến thành tựu. Phải có những thời điểm đạt đến đỉnh cao, khi hoạt động đều đặn lên tới cực điểm thành những giờ phút khủng hoảng đầy động lực. Khi ấy, một chu kỳ công việc kết thúc theo phương diện này hay phương diện khác, và một chu kỳ hoạt động mới bắt đầu ngay tại cùng nơi ấy, trong giới hạn của cùng nỗ lực chung; người đệ tử nhận biết một cách có ý thức rằng đây là một khởi đầu mới. Nếu những thời điểm khủng hoảng như thế không xuất hiện, đời sống sẽ lắng xuống thành một trạng thái bằng phẳng, thiếu sinh khí và (dù vẫn hữu ích) không đem lại cơ hội cho một nỗ lực tột cùng cùng nhu cầu phát sinh từ đó là huy động toàn bộ nguồn lực của linh hồn.

1. A statement formulating “the objective of this life’s endeavor” is given:

1. Một phát biểu xác định “mục tiêu nỗ lực của kiếp sống này” được đưa ra:

2. “In the daily round of duties and of detail comes for you the opportunity to transfigure life in terms of accomplishment”.

2. “Trong vòng công việc bổn phận và những việc nhỏ hằng ngày, em có cơ hội biến hình đời sống thông qua sự hoàn thành”.

This should be coupled with the mantram given above which was “intended to embody a statement of your life purpose”:

Điều này nên được kết hợp với mantram đã nêu ở trên, vốn “nhằm diễn đạt mục đích đời sống của em”:

1. “I know the Law and towards the goal I strive. Naught shall arrest my progress on the Way. Each tiny life within my form responds. My soul has sounded forth that call and clearer day by day it sounds. The glamour holds me not. The Path of Light streams clear ahead. My plea goes forth to reach the hearts of men. I seek, I cry to serve your need. Give me your hand and tread the Path with me."

1. “Tôi biết Định luật và nỗ lực hướng tới mục tiêu. Không gì ngăn được bước tiến của tôi trên Đường Đạo. Mỗi sự sống bé nhỏ trong hình tướng tôi đều đáp ứng. Linh hồn tôi đã xướng lên tiếng gọi ấy, và mỗi ngày tiếng gọi càng vang rõ hơn. Ảo cảm không cầm giữ được tôi. Con Đường Ánh sáng trải dài sáng rõ phía trước. Lời khẩn cầu của tôi phát ra để chạm đến trái tim con người. Tôi tìm kiếm, tôi kêu gọi được phụng sự nhu cầu của các bạn. Hãy trao tay cho tôi và cùng tôi bước trên Đường Đạo."

2. The first sentence sounds the note of persistent and repetitive labor leading to a high result. The second statement (the mantram) carries the quality of the heart and soul.

2. Câu thứ nhất xướng lên âm điệu của sự lao động kiên trì và lặp đi lặp lại dẫn đến một kết quả cao. Phát biểu thứ hai, tức mantram, mang phẩm tính của trái tim và linh hồn.

3. In the shorter statement there may be a hint as to the stage of development reached by RVB and his next step head. The word “transfigure” is used, and may hint at the necessity of working towards the initiation of transfiguration (whether in the present life, or more probably, in a life to come). RVB gives evidence of having passed the second degree, for he had achieved emotional poise (one of his major gifts to the group). Now, through hard and selfless labor and the persistent cultivation and radiation of love, an opportunity is being offered to move towards the next station in life — a transfiguration based upon very practical accomplishments in the daily round.

3. Trong phát biểu ngắn hơn, có thể có một gợi ý về giai đoạn phát triển mà RVB đã đạt tới và bước tiếp theo của ông. Từ “biến hình” được sử dụng, và có thể gợi ý về sự cần thiết phải nỗ lực hướng tới cuộc điểm đạo biến hình, dù trong kiếp sống hiện tại hay, có lẽ nhiều khả năng hơn, trong một kiếp sống sắp tới. RVB cho thấy dấu hiệu đã vượt qua cấp độ điểm đạo thứ hai, vì ông đã đạt sự quân bình cảm xúc, một trong những món quà lớn nhất của ông dành cho nhóm. Giờ đây, thông qua lao động cần mẫn và vô ngã, cùng việc kiên trì vun bồi và tỏa chiếu tình thương, ông đang có cơ hội tiến tới chặng tiếp theo trong đời sống — một sự biến hình dựa trên những thành quả rất thực tế trong vòng công việc hằng ngày.

4. RVB is working on the cultivation and sharing of steady radiance, and he can be relied upon for “uniform activity” of a productive kind, but we find the Tibetan urging him towards a “crisis of achievement”. The danger with this disciple is the possibility of simply “going along”, usefully but not dynamically.

4. RVB đang nỗ lực vun bồi và chia sẻ sự tỏa sáng đều đặn, và có thể tin cậy ông trong “hoạt động nhất quán” mang lại kết quả, nhưng chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng thúc giục ông hướng tới một “cuộc khủng hoảng thành tựu”. Nguy cơ đối với người đệ tử này là khả năng chỉ đơn giản “tiếp tục như vậy”, một cách hữu ích nhưng thiếu năng lực thúc đẩy mạnh mẽ.

5. We find DK asking for a “new cycle of activity” within the context and “limits of the same general endeavor”. A “new beginning” is to be made so that “the full resources of the soul” may be invoked.

5. Chúng ta thấy Chân sư DK yêu cầu một “chu kỳ hoạt động mới” trong bối cảnh và “phạm vi của cùng nỗ lực chung ấy”. Phải tạo ra một “khởi đầu mới” để có thể khẩn cầu “toàn bộ nguồn lực của linh hồn”.

6. It is an ongoing principle in this type of work, that all of us are capable of much greater effort than we are making, and much greater intensity than we are sustaining. We may not believe this to be the case, but in moments of forced achievement, we can prove the thesis to ourselves.

6. Một nguyên khí xuyên suốt trong loại công việc này là tất cả chúng ta đều có khả năng nỗ lực lớn hơn nhiều so với mức đang thực hiện, và đạt cường độ lớn hơn nhiều so với mức đang duy trì. Chúng ta có thể không tin điều ấy là đúng, nhưng trong những thời điểm buộc phải đạt thành tựu, chúng ta có thể tự chứng minh luận điểm này.

7. The Taurean energy often tends, when focussed in the lunar vehicles, to induce plodding. “Keep on keeping on” was one of the persistent mantrams utilized in the Lucis Trust, and a very useful one. But no great moments of crisis are normally promoted by this sign when the Moon is found in it.

7. Khi tập trung trong các hiện thể thái âm, năng lượng Kim Ngưu thường có xu hướng gây ra sự cặm cụi chậm chạp. “Cứ tiếp tục bền bỉ” là một trong những mantram được sử dụng kiên trì trong Lucis Trust, và là một mantram rất hữu ích. Nhưng thông thường, dấu hiệu này không thúc đẩy những thời điểm khủng hoảng lớn khi Mặt Trăng nằm trong đó.

8. While Libra can be considered a sign of crisis (through choice necessitated) from another perspective, it is not, and neither is Aries, the proposed Ascendant.

8. Trong khi Thiên Bình có thể được xem là một dấu hiệu khủng hoảng do buộc phải lựa chọn, thì từ một góc nhìn khác, nó lại không phải như vậy; Bạch Dương, dấu hiệu được đề xuất làm Điểm mọc, cũng thế.

9. “It is for this basic reason — founded upon the above triple relationship — that Libra is the ‘point of balance’ in the zodiac. In most of the other constellations, at some stage or other, there comes a ‘point of crisis’ wherein the effect of the energy pouring through the sign (via the ruling planets) to man is at its highest point of effectiveness. This in time precipitates the crisis which is required to release the man from the planetary influences which condition his personality and bring him more definitely and consciously under the influence of the sign of the zodiac. But in Libra there is no such point of crisis any more than there is in Aries. [Bolding MDR] There is only the interlude of balance as a prelude to a more effective and sensitive progress upon the path. It is the same in Aries. As it is esoterically said: ‘Before creation, silence and the stillness of a focussed point.’ This applies to both Aries and Libra — the one in a cosmic and creative sense and the other in an individual and progressive evolutionary sense.” (EA 248)

9. “Chính vì lý do căn bản này — dựa trên mối quan hệ tam phân nói trên — mà Thiên Bình là ‘điểm quân bình’ trong hoàng đạo. Trong phần lớn các chòm sao khác, ở một giai đoạn nào đó, xuất hiện một ‘điểm khủng hoảng’, tại đó tác động của năng lượng tuôn qua dấu hiệu, thông qua các hành tinh chủ tinh, đến con người đạt mức hiệu quả cao nhất. Đến lúc thích hợp, điều này làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng cần thiết để giải phóng con người khỏi những ảnh hưởng hành tinh đang định hình phàm ngã của y, và đưa y một cách rõ rệt hơn, có ý thức hơn vào ảnh hưởng của dấu hiệu hoàng đạo. Nhưng trong Thiên Bình không có điểm khủng hoảng như thế, cũng như trong Bạch Dương. [MDR in đậm] Chỉ có khoảng lặng quân bình như bước chuẩn bị cho sự tiến bước hữu hiệu và nhạy cảm hơn trên đường đạo. Trong Bạch Dương cũng vậy. Theo cách nói huyền bí: ‘Trước sáng tạo là sự im lặng và tĩnh tại của một điểm tập trung.’ Điều này áp dụng cho cả Bạch Dương lẫn Thiên Bình — một bên theo nghĩa vũ trụ và sáng tạo, bên kia theo nghĩa cá nhân và tiến triển trong tiến hoá.” (EA 248)

10. We can see, then, why DK is trying to provoke a crisis of achievement, otherwise the routine will simply take over, and breakthroughs will not occur.

10. Như vậy, chúng ta có thể thấy tại sao Chân sư DK đang cố khơi lên một cuộc khủng hoảng thành tựu; nếu không, nếp thường lệ sẽ đơn giản chiếm ưu thế và những bước đột phá sẽ không xảy ra.

11. So we find that DK is calling for “extreme effort” (and this from a man whose strength appears to be poise, steadfast strength and the avoidance of extremes). In this case we see the Master forcing progress, and applying that kind of pressure to His chela which the chela would probably not apply to himself, because he did not sense the need for it, or was unable to formulate a proper response to a vaguely sensed but ill-defined need.

11. Vì vậy, chúng ta thấy Chân sư DK đang kêu gọi “nỗ lực tột bậc”, và lại yêu cầu điều này ở một người mà thế mạnh dường như là sự quân bình, sức mạnh kiên định và tránh các thái cực. Trong trường hợp này, chúng ta thấy Chân sư thúc ép sự tiến bộ, và tạo cho đệ tử của Ngài loại áp lực mà người đệ tử ấy có lẽ sẽ không tự đặt lên mình, vì ông không cảm thấy cần thiết, hoặc không thể hình thành một đáp ứng thích hợp trước một nhu cầu được cảm nhận mơ hồ nhưng chưa xác định rõ.

12. We have all probably had the experience of feeling ‘forced from within’ by the soul or some inner and higher urge. Perhaps the soul of RVB was trying to “get through” to the inattentive or insufficiently responsive personality. In this case the Master, knowing soul intention and having intentions of His own, lends a helping hand. We can understand the advantages of being in close touch with a surveillant Master, and also the pressures which one would experience as a result.

12. Có lẽ tất cả chúng ta đều từng trải nghiệm cảm giác bị linh hồn hoặc một thôi thúc cao hơn từ bên trong ‘thúc ép từ nội tâm’. Có lẽ linh hồn của RVB đang cố “truyền đạt” đến phàm ngã thiếu chú tâm hoặc chưa đủ sức đáp ứng. Trong trường hợp này, Chân sư, vốn biết ý định của linh hồn và có những ý định riêng của Ngài, ra tay trợ giúp. Chúng ta có thể thấu hiểu những thuận lợi khi giữ liên hệ mật thiết với một Chân sư đang dõi theo, cũng như những áp lực mà người ta sẽ trải nghiệm do mối liên hệ ấy.

The routine of the daily demands can usually be met by the technique of an aligned personality and in your case this is particularly so. It must, however, have in it — if it is to be adequate to the demands of this day and period of opportunity — those moments wherein the personality demands the full cooperation of the soul. Every such moment of fusion increases the personality potential and its vibratory influence; it also initiates those unfoldments that profoundly and deeply change the rhythm of the life. In these days, all working disciples must learn to use their entire equipment and every aspect of their physical nature, the whole man in the threefold world of human evolution.

Thông thường, kỹ thuật của một phàm ngã đã chỉnh hợp có thể đáp ứng những đòi hỏi thường nhật, và điều này đặc biệt đúng trong trường hợp của em. Tuy nhiên, để đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của thời đại này và giai đoạn cơ hội này, trong nếp hoạt động ấy phải có những thời điểm phàm ngã đòi hỏi sự hợp tác trọn vẹn của linh hồn. Mỗi thời điểm dung hợp như vậy làm gia tăng tiềm năng của phàm ngã và ảnh hưởng rung động của nó; đồng thời khởi đầu những sự khai mở làm thay đổi sâu xa nhịp điệu của đời sống. Trong những ngày này, tất cả các đệ tử đang hoạt động phải học cách sử dụng toàn bộ công cụ và mọi phương diện của bản chất hồng trần của mình, toàn bộ con người trong thế giới tam phân của tiến hoá nhân loại.

1. As secretary to AAB, there were many routine, daily demands. RVB was personally efficient and when his personality was aligned, within itself, he could handle the many daily demands through personality efficiency.

1. Với vai trò thư ký của AAB, RVB phải đáp ứng nhiều yêu cầu thường nhật. Về mặt cá nhân, RVB làm việc hiệu quả, và khi phàm ngã của ông chỉnh hợp trong chính nó, ông có thể xử lý nhiều yêu cầu hằng ngày nhờ hiệu quả hoạt động của phàm ngã.

2. But DK is asking for more. He is asking that there be moments or situations in which larger (perhaps, more global) demands are sensed — demands which cannot be met by personality efficiency alone.

2. Nhưng Chân sư DK đang yêu cầu nhiều hơn thế. Ngài yêu cầu phải có những khoảnh khắc hoặc tình huống trong đó ông cảm nhận được những đòi hỏi lớn hơn — có lẽ mang tính toàn cầu hơn — những đòi hỏi mà chỉ hiệu quả hoạt động của phàm ngã thì không thể đáp ứng.

3. Unless there are such moments, the personality will not be forced to invoke a spiritually augmentative downflow from greater and higher reservoirs of energy, and, simply, will not grow as it otherwise could.

3. Nếu không có những khoảnh khắc như thế, phàm ngã sẽ không buộc phải khẩn cầu một dòng năng lượng tuôn xuống giúp tăng trưởng tinh thần từ những nguồn dự trữ năng lượng lớn hơn và cao hơn; đơn giản là nó sẽ không phát triển được như lẽ ra có thể.

4. DK want RVB to engage in those processes which will demand “the full cooperation of the soul” and not be satisfied with a really fine personal efficiency. The dangers and opportunities of that day and age demanded this more intensified approach.

4. Chân sư DK muốn RVB tham gia vào những tiến trình đòi hỏi “sự hợp tác trọn vẹn của linh hồn”, thay vì hài lòng với hiệu quả hoạt động cá nhân thật sự tốt đẹp. Những hiểm nguy và cơ hội của thời đại ấy đòi hỏi một cách tiếp cận mãnh liệt hơn như vậy.

5. We can see DK working with RVB for a more complete integration of soul and personality and, thus, a more complete soul-infusion. In a way, spiritually, DK is trying to ‘upset the balance’ which RVB is good at maintaining.

5. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đang làm việc với RVB để đạt được sự tích hợp trọn vẹn hơn giữa linh hồn và phàm ngã, qua đó có được sự thấm nhuần của linh hồn trọn vẹn hơn. Theo một nghĩa nào đó về mặt tinh thần, Chân sư DK đang cố ‘phá vỡ thế quân bình’ mà RVB rất giỏi duy trì.

6. RVB works with and within a certain life-rhythm. (As one who worked for five years at the Lucis Trust Headquarters in New York, I have, perhaps, some idea of what that rhythm could have been, for life in Headquarters was very regular and rhythmic.) DK wants to see that rhythm changed, or at least deepened and enhanced. He wants to see the “whole man” galvanized and utilized. An initiate of the third degree is an entirely integrated, soul-infused personality. No part of the man is left out of this wholeness; all aspects are mobilized and mutually complementary. One can sense DK attempting to move RVB towards the achievement of such potentials.

6. RVB làm việc theo và trong một nhịp điệu sống nhất định. (Là người từng làm việc năm năm tại Trụ sở Lucis Trust ở New York, có lẽ tôi phần nào hình dung được nhịp điệu ấy, vì đời sống tại Trụ sở rất đều đặn và có nhịp điệu.) Chân sư DK muốn thấy nhịp điệu ấy thay đổi, hoặc ít nhất trở nên sâu sắc và mạnh mẽ hơn. Ngài muốn thấy “toàn bộ con người” được khơi dậy và sử dụng. Một điểm đạo đồ bậc ba là một phàm ngã hoàn toàn tích hợp, được linh hồn thấm nhuần. Không phần nào của con người nằm ngoài sự toàn vẹn này; mọi phương diện đều được huy động và bổ sung cho nhau. Người ta có thể cảm nhận Chân sư DK đang cố đưa RVB đến chỗ đạt được những tiềm năng ấy.

7. And what of each one of us? Has our life simmered down to a useful routine unpunctuated by growth-producing crisis? Or have we yet to achieve even that rhythmic regularity and poise which was a foundational attainment for RVB?

7. Còn mỗi người chúng ta thì sao? Đời sống của chúng ta đã lắng xuống thành một nếp sinh hoạt hữu ích, không có những cuộc khủng hoảng thúc đẩy tăng trưởng xen vào chăng? Hay chúng ta thậm chí còn chưa đạt được sự đều đặn có nhịp điệu và thế quân bình vốn là thành tựu nền tảng của RVB?

8. It is up to each one of us to stage those circumstances in our life which will promote maximum growth, integration, infusion and aliveness — not for our own sakes, but so that we can better serve the Great Pattern which is descending through the Divine Plan. A close examination of how we “live the life” is obviously in order, and much will depend upon how truthful we can be with ourselves about the needed changes, and how efficiently and effectively we can make those changes.

8. Mỗi người chúng ta có trách nhiệm tạo dựng những hoàn cảnh trong đời sống sẽ thúc đẩy tối đa sự tăng trưởng, tích hợp, thấm nhuần và sức sống — không vì bản thân mình, mà để có thể phụng sự tốt hơn Mô Hình Vĩ Đại đang giáng xuống qua Thiên Cơ. Rõ ràng, cần xem xét kỹ cách chúng ta “sống đời sống ấy”, và nhiều điều sẽ tuỳ thuộc vào mức độ chúng ta có thể thành thật với chính mình về những thay đổi cần thiết, cũng như mức độ hiệu quả và hiệu lực khi thực hiện những thay đổi ấy.

One point might here be noted. The extremity of the disciple in service finally draws out the interest of the soul. After the third initiation, the extremity of the soul (speaking symbolically and conveying no true meaning to the aspirant) evokes the cooperation of the Monad. Thus service is the scientific mode, par excellence, to evoke spiritual integration and to call forth the resources of a divine son of God. I am emphasising this to you as I seek to have you note, during this coming year, the points of crisis in your life which are the outcome of the pressure to serve.

Ở đây có thể lưu ý một điểm. Khi người đệ tử phụng sự đến giới hạn cùng cực, cuối cùng điều đó khơi dậy sự quan tâm của linh hồn. Sau lần điểm đạo thứ ba, tình trạng cùng cực của linh hồn (nói theo nghĩa biểu tượng và không truyền đạt ý nghĩa thực sự nào cho người chí nguyện) gợi lên sự hợp tác của Chân thần. Như vậy, phụng sự là phương thức khoa học ưu việt nhất để gợi lên sự tích hợp tinh thần và khơi gọi những nguồn lực của một người con thiêng liêng của Thượng đế. Tôi nhấn mạnh điều này với em vì Tôi muốn trong năm tới em ghi nhận những điểm khủng hoảng trong đời mình phát sinh từ áp lực phụng sự.

1. The emphasis of this paragraph is on “extremity”. It means, in the first instance, a condition in which one finds oneself “at the limit” of one’s personal powers and can draw no more from one’s own personal resources.

1. Trọng tâm của đoạn này nằm ở “tình thế cùng cực”. Trước hết, nó hàm ý một tình trạng trong đó người ta thấy mình “đã đến giới hạn” sức lực cá nhân và không thể huy động thêm từ những nguồn lực riêng của mình.

2. It is almost amusing, but it would seem that the soul is not all that interested in the usual affairs and processes of the personality, for it is only extremity that finally draws out the interest of the soul towards the disciple. We should pause to ponder.

2. Điều này gần như có phần thú vị, nhưng dường như linh hồn không quan tâm nhiều đến những công việc và tiến trình thông thường của phàm ngã, vì chỉ có tình thế cùng cực mới cuối cùng thu hút sự quan tâm của linh hồn đến người đệ tử. Chúng ta nên dừng lại để suy ngẫm.

3. The Solar Angel is quite ‘busy’ in its own ways, and has affairs on its own level to pursue. Human beings are rather self-centered and tend to think that the Solar Angel has nothing better to do than turn its eye expectantly towards the little personality, eagerly seeking moments for possible spiritual intervention. It is all a very anthropocentric point of view.

3. Thái dương Thiên Thần khá ‘bận rộn’ theo những cách riêng của mình, và có những công việc cần theo đuổi trên cấp độ riêng. Con người khá tập trung vào bản thân và có xu hướng nghĩ rằng Thái dương Thiên Thần chẳng có việc gì tốt hơn để làm ngoài việc hướng mắt chờ đợi về phía phàm ngã nhỏ bé, háo hức tìm kiếm những khoảnh khắc có thể can thiệp về mặt tinh thần. Tất cả những điều ấy đều là một quan điểm quá lấy con người làm trung tâm.

4. The key to uniting with the higher levels of spiritually livingness is to use our own resources completely. Help comes “at the eleventh hour” and after we have done all we can do “on our own”. “God helps those who help themselves” (a multi-layered mantram). The number “eleven” is, somehow, suitable as the “number of the initiate” and also the number of that sign, Aquarius, which rules the Hierarchy.

4. Chìa khoá để hợp nhất với những cấp độ cao hơn của sức sống tinh thần là sử dụng trọn vẹn những nguồn lực của chính mình. Sự trợ giúp đến “vào giờ thứ mười một” và sau khi chúng ta đã làm tất cả những gì có thể làm “bằng sức mình”. “Thượng đế giúp những ai tự giúp mình” (một mantram có nhiều tầng ý nghĩa). Theo một cách nào đó, con số “mười một” thích hợp với tư cách “con số của điểm đạo đồ”, đồng thời cũng là con số của dấu hiệu Bảo Bình, dấu hiệu cai quản Thánh đoàn.

5. Can we urge ourselves towards extremity and at the same time preserve a necessary balance in our daily life of discipleship service? It would seem a paradox, but it is completely possible to be in a condition of extremity without damaging the pattern of our daily routine and the service belonging to it.

5. Chúng ta có thể thúc đẩy mình đến tình thế cùng cực mà vẫn giữ được sự quân bình cần thiết trong đời sống phụng sự hằng ngày của người đệ tử không? Điều này dường như là một nghịch lý, nhưng hoàn toàn có thể ở trong tình thế cùng cực mà không làm tổn hại mô hình sinh hoạt thường nhật cùng công việc phụng sự gắn liền với nó.

6. “Extremity” is such an interesting concept. Pondering on it, one finds that ‘deliberate exhaustion of resources leads to their replenishment’. This attitude ties in with the major counsel of the Buddha’s Last Sermon: “Rely upon yourselves”.

6. “Tình thế cùng cực” là một khái niệm thật thú vị. Khi suy ngẫm về nó, người ta nhận thấy rằng ‘việc chủ động sử dụng cạn kiệt các nguồn lực dẫn đến sự bổ sung các nguồn lực ấy’. Thái độ này gắn với lời khuyên chủ yếu trong Bài Thuyết Pháp Cuối Cùng của Đức Phật: “Hãy nương tựa vào chính mình”.

7. We find however, that extremity is not limited to the personality. After the third initiation, the soul experiences it as well. The term “extremity of the soul” is presented to us as a symbolical statement. None but an initiate of the third degree will know what it really means. Always extremity is an invocation. Every unit of life (on its way to the ‘Great That’) wants to be more. Extremity is a straining towards that “more”. Extremity creates a vacuum into which fulfillment must flow. Let us ponder on being extreme and simultaneously balanced.

7. Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy rằng tình thế cùng cực không chỉ giới hạn ở phàm ngã. Sau lần điểm đạo thứ ba, linh hồn cũng trải nghiệm điều ấy. Thuật ngữ “tình thế cùng cực của linh hồn” được trình bày với chúng ta như một phát biểu mang tính biểu tượng. Chỉ một điểm đạo đồ bậc ba mới biết nó thực sự hàm ý gì. Bao giờ cũng vậy, tình thế cùng cực là một lời khẩn cầu. Mỗi đơn vị sự sống (trên đường đến ‘Cái Đó Vĩ Đại’) đều muốn trở nên hơn nữa. Tình thế cùng cực là sự vươn căng đến cái “hơn nữa” ấy. Tình thế cùng cực tạo ra một khoảng chân không mà sự đáp ứng trọn vẹn phải tuôn vào. Chúng ta hãy suy ngẫm về việc đạt đến cùng cực mà đồng thời vẫn quân bình.

8. Libra is a sign, however, that seeks to avoid extremes, which may be the reason for DK’s insistence upon extremity for RVB.

8. Tuy nhiên, Thiên Bình là một dấu hiệu tìm cách tránh các thái cực; điều này có thể là lý do khiến Chân sư DK nhấn mạnh tình thế cùng cực đối với RVB.

9. What is the “cooperation of the monad”? What will the “extremity of the soul” evoke from the monad? Perhaps the opportunity to overcome not only personalism, but, even, ‘trans-personalism’. The enshrouded soul (for the causal body is a shroud) seeks liberation from its confines on the higher mental plane. A higher, wider life (devoid of obstructive individuality) looms head. The monad is the custodian of the principle of ‘divine impersonality’; its power can shatter the ring pass not sustained during ages of personal/individual growth. Without the intervention of the monad, the human unit cannot become a selfless agent of the Divine Will and a conscious extension of the Will, Love and Intelligence of the Planetary Logos.

9. “Sự hợp tác của chân thần” là gì? “Tình thế cùng cực của linh hồn” sẽ gợi lên điều gì từ chân thần? Có lẽ là cơ hội vượt qua không chỉ tính cá nhân, mà cả ‘tính siêu cá nhân’. Linh hồn bị bao bọc (vì thể nguyên nhân là một lớp màn bao phủ) tìm kiếm sự giải thoát khỏi những giới hạn của mình trên Cõi thượng trí. Một đời sống cao hơn, rộng lớn hơn (không còn tính cá thể gây cản trở) đang hiện ra phía trước. Chân thần là đấng gìn giữ nguyên khí ‘vô ngã thiêng liêng’; quyền năng của chân thần có thể phá tan vòng-giới-hạn đã được duy trì qua bao thời đại tăng trưởng cá nhân/cá thể. Nếu không có sự can thiệp của chân thần, đơn vị nhân loại không thể trở thành một tác nhân vô ngã của Ý Chí thiêng liêng và một phần mở rộng hữu thức của Ý Chí, Bác ái và Trí tuệ của Hành Tinh Thượng đế.

10. The causal body is shattered for a number of reasons, but the intervention of the monad, inducing the pouring forth of all causal resources as an ultimate sacrificial gift to humanity, is one potent reason for the onset of that fiery, liberating process. The personality also has its part to play in the liberating process.

10. Thể nguyên nhân tan vỡ vì nhiều lý do, nhưng sự can thiệp của chân thần, khiến toàn bộ nguồn lực của thể nguyên nhân tuôn đổ như một tặng phẩm hi sinh tối hậu dành cho nhân loại, là một nguyên nhân mạnh mẽ khởi đầu tiến trình rực lửa và giải thoát ấy. Phàm ngã cũng có vai trò của mình trong tiến trình giải thoát.

11. So many memorable statements are found in the instructions to RVB. Here is another:

11. Có rất nhiều phát biểu đáng ghi nhớ trong những huấn thị dành cho RVB. Đây là một phát biểu khác:

12. “Thus service is the scientific mode, par excellence, to evoke spiritual integration and to call forth the resources of a divine son of God”.

12. “Vì vậy, phụng sự là phương thức khoa học ưu việt nhất để gợi lên sự tích hợp tinh thần và khơi dậy những nguồn lực của một người con thiêng liêng của Thượng đế”.

13. Thus, we ponder not only the value of “extremity” but, especially, “extremity in service”. If man is to become the “overflowing cup”, extremity in service is the way.

13. Vì vậy, chúng ta suy ngẫm không chỉ về giá trị của “tình thế cùng cực”, mà đặc biệt về “tình thế cùng cực trong phụng sự”. Nếu con người muốn trở thành “chiếc cốc tràn đầy”, thì tình thế cùng cực trong phụng sự chính là con đường.

14. DK foresees in the year ahead certain points of crisis which will result from the pressure to serve. He seeks for RVB to be more conscious of such moments. One can eventually become an expert in the art of provoking one’s own crises with their enlivening and empowering effect.

14. Chân sư DK thấy trước trong năm sắp tới những thời điểm khủng hoảng nhất định sẽ xuất phát từ áp lực phụng sự. Ngài muốn RVB ý thức rõ hơn về những khoảnh khắc như thế. Cuối cùng, người ta có thể trở nên thành thạo nghệ thuật khơi dậy những cuộc khủng hoảng của chính mình cùng tác dụng tiếp thêm sức sống và quyền năng của chúng.

15. While the fourth ray (humanity’s ray) causes frequent crises in the lives of those it conditions, Libra can act as a damper upon the tendency towards crisis, bringing out instead the harmonizing potentials of the fourth ray. Harmony, so customarily useful, can be detrimental to progress if the disciple seeks to preserve it rather than grow.

15. Trong khi cung bốn (cung của nhân loại) gây ra những cuộc khủng hoảng thường xuyên trong đời sống của những người chịu ảnh hưởng của nó, Thiên Bình có thể kìm hãm khuynh hướng khủng hoảng, thay vào đó khơi dậy những tiềm năng hài hoà hoá của cung bốn. Sự hài hoà, vốn thường hữu ích như thế, có thể gây bất lợi cho sự tiến bộ nếu người đệ tử tìm cách gìn giữ nó thay vì tăng trưởng.

Note these in the following way and ask yourself the following questions, entering the relation of the crisis in your spiritual diary:

Hãy ghi nhận những điều ấy theo cách sau và tự hỏi mình những câu hỏi dưới đây, ghi lại diễn biến của cuộc khủng hoảng trong nhật ký tinh thần của em:

1. What was the form of service which produced the crisis?

1. Hình thức phụng sự nào đã tạo ra cuộc khủng hoảng?

2. Was it in the field of the emotional or the mental life?

2. Cuộc khủng hoảng thuộc lĩnh vực đời sống cảm xúc hay trí tuệ?

3. What steps did I take to produce a fuller soul experience in order to meet the necessity?

3. Tôi đã thực hiện những bước nào để có trải nghiệm linh hồn trọn vẹn hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ấy?

4. Did the crisis produce any definite after-effects of a relatively permanent nature in the lower bodies? [270]

4. Cuộc khủng hoảng có để lại những tác động rõ rệt nào mang tính tương đối lâu bền trong các thể thấp không?

During the next few years such crises are possible. It is also possible that two of them may pass unrecognised by you. Therefore, my brother, watch with care your daily life and note the moments of opportunity wherein, given a little more stimulation, your field of accomplishment may expand and your vibratory rate be increased.

Trong vài năm tới, những cuộc khủng hoảng như thế có thể xảy ra. Cũng có thể hai cuộc khủng hoảng sẽ trôi qua mà em không nhận biết. Vì vậy, huynh đệ của tôi, hãy cẩn thận quan sát đời sống hằng ngày và ghi nhận những thời điểm có cơ hội mà chỉ cần thêm một chút kích thích, phạm vi hoàn thành của em có thể mở rộng và nhịp rung động của em có thể gia tăng.

1. DK helps RVB approach an understanding of crisis through the use of certain questions.

1. Chân sư DK giúp RVB tiếp cận sự thấu hiểu về khủng hoảng bằng một số câu hỏi.

2. Crisis is of no use unless it produces changes in the quality of the energy system and the ability to serve. DK is seeking for recognized crises rightly handled to produce relatively permanent effects in the quality of RVB’s discipleship.

2. Khủng hoảng không có ích gì nếu không tạo ra những thay đổi trong phẩm tính của hệ thống năng lượng và khả năng phụng sự. Chân sư DK muốn những cuộc khủng hoảng được nhận biết và xử lý đúng đắn tạo ra những tác động tương đối lâu bền trong phẩm tính của địa vị đệ tử của RVB.

3. DK already foresees the coming of certain crises. Two, He says, may pass unnoticed. Therefore they may not be of an obvious nature. When we think of crisis, we may think too much of external and obvious happenings.

3. Chân sư DK đã thấy trước sự xuất hiện của một số cuộc khủng hoảng. Ngài nói rằng hai cuộc khủng hoảng có thể trôi qua mà không được chú ý. Vì vậy, chúng có thể không biểu lộ rõ ràng. Khi nghĩ đến khủng hoảng, có lẽ chúng ta nghĩ quá nhiều đến những diễn biến bên ngoài và hiển nhiên.

4. The effect of telling RVB that two crises may pass unnoticed would serve, however, to keep him “on the alert”, and more likely to recognize and seize opportunity as the potential for crisis appeared. We remember, from the very first instruction, that RVB had seized opportunity and made more rapid progress than his soul/Solar Angel had anticipated. The recognition and seizing of opportunity seems to be one of the keynotes of his life.

4. Tuy nhiên, việc nói với RVB rằng hai cuộc khủng hoảng có thể trôi qua mà không được chú ý sẽ giúp ông “luôn cảnh giác”, và có nhiều khả năng hơn để nhận ra và nắm bắt cơ hội khi tiềm năng khủng hoảng xuất hiện. Chúng ta nhớ rằng, ngay từ huấn thị đầu tiên, RVB đã nắm bắt cơ hội và tiến bộ nhanh hơn điều linh hồn/Thái dương Thiên Thần của ông dự tính. Nhận biết và nắm bắt cơ hội dường như là một trong những chủ âm của đời sống ông.

5. The impending crises may pass unnoticed because RVB’s level of vibration would be inadequate to respond to the proffered opportunity. In short, the rate of vibration of his vehicles would be too slow to respond, and so he would not sense the possibilities at the ‘moment of presentation’.

5. Những cuộc khủng hoảng sắp tới có thể trôi qua mà không được chú ý vì cấp độ rung động của RVB chưa đủ để đáp ứng cơ hội được trao. Nói ngắn gọn, nhịp độ rung động của các hiện thể của ông sẽ quá chậm để đáp ứng, nên ông sẽ không cảm nhận được những khả năng vào ‘khoảnh khắc cơ hội xuất hiện’.

6. He is, therefore, being asked to remain vigilant so that moments for potential heightening and expansion may be seized. DK is always seeking to help refine RVB’s perceptions. The Master wishes him to become a disciple more alert, but the alertness required is subjective and requires the use of the esoteric sense.

6. Vì vậy, ông được yêu cầu luôn tỉnh táo để có thể nắm bắt những khoảnh khắc tiềm tàng khả năng nâng cao và mở rộng. Chân sư DK luôn tìm cách giúp RVB tinh luyện những nhận thức của mình. Chân sư muốn ông trở thành một đệ tử tỉnh thức hơn, nhưng sự tỉnh thức cần có mang tính chủ quan và đòi hỏi sử dụng giác quan huyền bí.

7. We can see that the kind of growth DK expects of a disciple is often subtle. Achievement or its lack can pass with no outer signs. We are reminded that the kind of training DK is offering is, indeed, esoteric training.

7. Chúng ta có thể thấy rằng loại tăng trưởng Chân sư DK kỳ vọng ở một đệ tử thường rất tinh tế. Thành tựu hoặc sự thiếu thành tựu có thể diễn ra mà không có dấu hiệu bên ngoài. Chúng ta được nhắc rằng loại huấn luyện Chân sư DK đang đưa ra quả thực là huấn luyện huyền bí.

January 1936 – Tháng Một năm 1936

As you have seen, my brother, I am not making any vital changes in the work of the group now. An increased momentum in service and a more rapid spiritual reaction at all times should constitute the major emphasis from now on. I have told all of you so much during the past four years that (should I now cease my instructions) you have, both as individuals and as a group in my Ashram, sufficient teaching and information to carry you along the Path for a very long way. But I continue with my task of awakening each of you upon the subtler planes in order to intensify the contribution to world aid that you can make and to stimulate you, as a group, to avail yourselves of the world opportunity for service.

Huynh đệ của tôi, như em đã thấy, hiện nay Tôi không thực hiện thay đổi trọng yếu nào trong công việc của nhóm. Từ nay trở đi, trọng tâm chính phải là gia tăng đà phụng sự và luôn có phản ứng tinh thần nhanh nhạy hơn. Trong bốn năm qua, Tôi đã nói với tất cả các em nhiều đến mức (nếu giờ đây Tôi ngừng huấn thị), cả với tư cách cá nhân lẫn một nhóm trong ashram của Tôi, các em đều đã có đủ giáo huấn và thông tin để tiến một quãng rất xa trên Đường Đạo. Nhưng Tôi vẫn tiếp tục nhiệm vụ thức tỉnh từng người trong các em trên những cõi vi tế hơn, nhằm tăng cường phần đóng góp mà các em có thể dành cho việc trợ giúp thế giới và khích lệ các em, với tư cách một nhóm, tận dụng cơ hội phụng sự thế giới.

1. This instruction begins with a remark for the entire group. Increased momentum in service and more rapid spiritual reaction are required of all group members. DK is seeking an intensification of that which is already established.

1. Huấn thị này bắt đầu bằng một nhận xét dành cho toàn nhóm. Mọi thành viên trong nhóm đều cần tăng thêm đà phụng sự và phản ứng nhanh nhạy hơn về mặt tinh thần. Chân sư DK đang tìm cách tăng cường những gì đã được thiết lập.

2. He reminds His disciples of how much teaching they have really received. In the desire to acquire more and more teaching, disciples may forget the value (and quantity) of that which has already been imparted (yet incompletely assimilated).

2. Ngài nhắc các đệ tử của Ngài về lượng giáo huấn mà họ thực sự đã nhận được. Trong mong muốn tiếp thu ngày càng nhiều giáo huấn, các đệ tử có thể quên mất giá trị (và số lượng) của những điều đã được truyền đạt (nhưng vẫn chưa được lĩnh hội trọn vẹn).

3. Is DK giving a foretaste of the possibility that He may not continue with instructions to these groups? Has He seen something in the groups which hints at the necessity for discontinuation? It must be remembered that a few years after this instruction, He did, indeed, discontinue the first phase of His experiment (and a number of the participants in the first phase were never informed when a second phase began).

3. Có phải Chân sư DK đang hé báo khả năng Ngài sẽ không tiếp tục huấn thị cho các nhóm này? Ngài đã thấy điều gì trong các nhóm gợi ý rằng cần phải ngừng lại chăng? Cần nhớ rằng vài năm sau huấn thị này, Ngài quả thực đã ngừng giai đoạn đầu của cuộc thử nghiệm của Ngài (và một số người tham gia giai đoạn đầu không hề được thông báo khi giai đoạn thứ hai bắt đầu).

4. DK wants His disciple to ‘pause and appreciate’ the great value of what they have received. Later (a few years before AAB’s death) when He discontinued the second phase of the experiment, He again reminded certain disheartened disciples that they had been given more than they needed to continue their spiritual growth for the rest of their lives.

4. Chân sư DK muốn các đệ tử của Ngài ‘dừng lại và trân trọng’ giá trị lớn lao của những gì họ đã nhận được. Về sau (vài năm trước khi AAB qua đời), khi ngừng giai đoạn thứ hai của cuộc thử nghiệm, Ngài lại nhắc một số đệ tử đang nản lòng rằng họ đã nhận được nhiều hơn những gì cần thiết để tiếp tục tăng trưởng tinh thần suốt phần đời còn lại.

5. DK is telling his groups that He need not continue the instructions, and they should have no complaint if He did not, but that He will do so for the sake of continuing His attempt to awaken them upon the subtler planes, and for the purpose of stimulating them, as a group, towards greater effectiveness in service to the world.

5. Chân sư DK đang nói với các nhóm của Ngài rằng Ngài không cần tiếp tục huấn thị, và họ không nên phàn nàn nếu Ngài ngừng lại; nhưng Ngài vẫn sẽ tiếp tục nhằm duy trì nỗ lực đánh thức họ trên những cõi tinh tế hơn, và nhằm thúc đẩy họ, với tư cách một nhóm, đạt hiệu quả cao hơn trong việc phụng sự thế giới.

6. One gets the sense that there was also more teaching that needed to emerge (especially along the lines of the Science of the Seven Rays), for He had not yet entered as deeply into practical esoteric psychology as He would in the next several instructions.

6. Người ta có cảm giác rằng vẫn còn những giáo huấn khác cần xuất hiện (đặc biệt theo hướng Khoa Học về Bảy Cung), vì Ngài chưa đi sâu vào Tâm Lý Học Nội Môn thực hành như Ngài sẽ làm trong một số huấn thị tiếp theo.

7. We are reminded that the Master is not seeking to train individual disciples for their own edification. His is a group experiment, and only to the extent that there is real group response and progress is His continued attention warranted.

7. Chúng ta được nhắc rằng Chân sư không tìm cách huấn luyện từng đệ tử chỉ vì sự phát triển riêng của họ. Cuộc thử nghiệm của Ngài là một cuộc thử nghiệm nhóm, và chỉ trong chừng mực có sự đáp ứng và tiến bộ thực sự của nhóm thì sự quan tâm liên tục của Ngài mới có cơ sở chính đáng.

Go forward, therefore, with the same work as outlined in the previous instructions; during the next six months take as your seed thoughts for meditation three sentences out of that earlier teaching:

Vì vậy, hãy tiếp tục cùng công việc đã phác thảo trong những huấn thị trước; trong sáu tháng tới, hãy lấy ba câu từ giáo huấn trước đó làm tư tưởng hạt giống cho việc tham thiền:

1. For the sake of better assimilation, DK is advising a recapitulation. He selects certain key points from the teaching already imparted and asks RVB to extract still more from the reconsideration of these three points.

1. Để giúp lĩnh hội tốt hơn, Chân sư DK khuyên nên ôn lại. Ngài chọn một số điểm then chốt từ giáo huấn đã truyền đạt và yêu cầu RVB rút ra thêm nữa từ việc xem xét lại ba điểm này.

2. We note, however, that the Master rephrases the teaching slightly, probably to make a fresh impact on the consciousness of His disciple.

2. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng Chân sư diễn đạt lại giáo huấn đôi chút, có lẽ để tạo một tác động mới lên tâm thức của đệ tử Ngài.

1. Transfigure life in terms of accomplishment. True accomplishment involves a life of steady radiance.

1. Biến hình đời sống qua sự hoàn thành. Sự hoàn thành chân chính đòi hỏi một đời sống tỏa sáng đều đặn.

1. Note that the first sentence is now put in terms of an injunction or command. It is now an imperative. The pressure is on.

1. Hãy lưu ý rằng câu đầu tiên giờ đây được trình bày như một huấn lệnh hay mệnh lệnh. Giờ đây, đó là một yêu cầu bắt buộc. Áp lực đã được đặt ra.

2. We are given a slightly different perspective on the meaning of “true accomplishment” or achievement. Steady radiance is required. For those of us who think of accomplishment in more material, formal terms, this sentence gives us pause. If our radiance is not steady, we are not accomplishing truly and transfiguration is not possible. When we think of transfiguration, we realize that a new quality of light pervades and radiates from the disciple. It is Venusian light encountered at the summit of consciousness (the mountain top of initiation). DK seems to be leading his disciple towards a necessary intensification of that light, in preparation.

2. Chúng ta được trao một góc nhìn hơi khác về ý nghĩa của “thành tựu đích thực” hay sự đạt được. Cần có sự toả sáng bền bỉ. Đối với những ai trong chúng ta nghĩ về thành tựu theo những khía cạnh vật chất và hình tướng hơn, câu này khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm. Nếu sự toả sáng của chúng ta không bền bỉ, chúng ta chưa thành tựu một cách đích thực, và sự biến hình không thể xảy ra. Khi nghĩ đến sự biến hình, chúng ta nhận ra rằng một phẩm tính ánh sáng mới thấm khắp và toả ra từ người đệ tử. Đó là ánh sáng Sao Kim gặp được trên đỉnh cao của tâm thức (đỉnh núi điểm đạo). Dường như Chân sư DK đang dẫn đệ tử của Ngài đến sự tăng cường cần thiết của ánh sáng ấy để chuẩn bị.

2. There must ever be crises of achievement which will draw upon the full resources of the soul. These must be demanded by the personality.

2. Phải luôn có những cuộc khủng hoảng đưa đến thành tựu, huy động toàn bộ nguồn lực của linh hồn. Phàm ngã phải đòi hỏi những cuộc khủng hoảng ấy.

1. Again a reformulation, a tightening, a strengthening of the originally presented ideas

1. Một lần nữa, những ý tưởng được trình bày ban đầu lại được diễn đạt lại, làm chặt chẽ hơn và mạnh mẽ hơn

2. Have any of us contemplated what may be the “full resources of the soul”. Two things can be meant: the full resources of the causal body — self-accumulated, or the full resources of the Solar Angel.

2. Có ai trong chúng ta đã chiêm ngưỡng xem “toàn bộ nguồn lực của linh hồn” có thể là gì chưa? Cụm từ này có thể hàm ý hai điều: toàn bộ nguồn lực của thể nguyên nhân — do chính mình tích luỹ, hoặc toàn bộ nguồn lực của Thái dương Thiên Thần.

3. Or, perhaps, there is a third possibility: the full resources of the causal body plus as much of the energy and attention of the Solar Angel as that Angel can possible release without destructive results.

3. Hoặc có lẽ còn một khả năng thứ ba: toàn bộ nguồn lực của thể nguyên nhân cộng với lượng năng lượng và sự chú tâm lớn nhất mà Thái dương Thiên Thần có thể giải phóng mà không gây ra những hậu quả huỷ hoại.

4. The law holds good, however; there will be no release of resources (even from within oneself — i.e., from within one’s own causal ‘treasury’) unless the soul in incarnation manifesting through the personality makes the demand. The higher powers force no benevolence upon those lower units who have achieved self-consciousness and, thus, free will. The inquiry, petition, request, demand must first ascend.

4. Tuy nhiên, định luật vẫn đúng: sẽ không có sự giải phóng các nguồn lực (ngay cả từ bên trong chính mình — tức là từ ‘kho tàng’ thể nguyên nhân của chính mình), trừ khi linh hồn đang nhập thể, biểu hiện qua phàm ngã, đưa ra đòi hỏi. Những quyền năng cao hơn không áp đặt ân huệ lên những đơn vị thấp hơn đã đạt được ngã thức và do đó có ý chí tự do. Lời thỉnh vấn, thỉnh cầu, yêu cầu, đòi hỏi trước hết phải dâng lên.

3. Understand the technique of an aligned personality, for the extremity of the disciple in service draws out finally the interest of the soul.

3. Hãy thấu hiểu kỹ thuật của một phàm ngã đã chỉnh hợp, vì khi người đệ tử phụng sự đến giới hạn cùng cực, cuối cùng điều đó khơi dậy sự quan tâm của linh hồn.

1. Extremity and alignment are allied. Have we not had the experience that, under extreme conditions, we may find ourselves suddenly in an excellent state of alignment with all faculties “at the ready”?

1. Tình thế cùng cực và sự chỉnh hợp gắn liền với nhau. Chẳng phải chúng ta đã từng trải nghiệm rằng, trong những điều kiện cùng cực, chúng ta có thể đột nhiên thấy mình ở trong một trạng thái chỉnh hợp tuyệt vời, với mọi năng lực đều “sẵn sàng” đó sao?

2. That alignment, often forced by extremity, is what makes increasing soul influence possible. Alignment creates a vacuum. An unobstructed channel is a demand.

2. Sự chỉnh hợp ấy, thường do tình thế cùng cực thúc ép, chính là điều giúp ảnh hưởng của linh hồn có thể gia tăng. Sự chỉnh hợp tạo ra một khoảng chân không. Một kênh thông suốt chính là một lời đòi hỏi.

3. Right alignment is right relationship between all aspects of the human being. When right relationship is achieved, it means than nothing further can be done within the aligned mechanism. Perfect harmony evokes its own disruption. “As good as can be” invites that which, from ‘above’ will make it better.

3. Chỉnh hợp đúng là mối quan hệ đúng đắn giữa mọi phương diện của con người. Khi đạt được mối quan hệ đúng đắn, điều đó có nghĩa là không còn có thể làm gì thêm trong bộ máy đã chỉnh hợp. Sự hài hoà hoàn hảo gợi lên chính sự phá vỡ của nó. Trạng thái “tốt nhất có thể” mời gọi điều từ ‘trên cao’ sẽ khiến nó tốt đẹp hơn nữa.

You will ponder upon these ideas during the coming months, remembering that they embody your needed lesson and your [271] ultimate achievement; and that they also indicate in a most amazing manner the work and the achievement of the New Group of World Servers.

Em hãy suy ngẫm về những ý tưởng này trong những tháng sắp tới, ghi nhớ rằng chúng hàm chứa bài học em cần và thành tựu [271] tối hậu của em; đồng thời, chúng cũng chỉ ra một cách hết sức kỳ diệu công việc và thành tựu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

1. The Tibetan, interestingly, is adopting the tone of will rather than suggestion.

1. Điều thú vị là Chân sư Tây Tạng đang dùng giọng điệu của ý chí hơn là lời gợi ý.

2. The ultimate achievement for RVB is very probably the third degree (though DK was certainly not offering training for the third degree to the majority of His chelas). If this is so, the three points given are most useful in the training for approaching that degree.

2. Thành tựu tối hậu đối với RVB rất có thể là bậc ba (mặc dù chắc chắn Chân sư DK không huấn luyện phần lớn các đệ tử của Ngài cho bậc ba). Nếu đúng như vậy, ba điểm được đưa ra rất hữu ích trong việc huấn luyện để tiến gần đến bậc ấy.

3. The injunctions offered are not chosen with only RVB in mind; their usefulness is much broader than that. They indicate, “in a most amazing manner” (says the Tibetan”, “the work and the achievement of the New Group of World Servers”.

3. Những huấn lệnh này không được lựa chọn chỉ dành riêng cho RVB; tính hữu ích của chúng rộng hơn nhiều. Theo lời Chân sư Tây Tạng, chúng chỉ ra “theo một cách hết sức kỳ diệu”, “công việc và thành tựu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian”.

4. The NGWS, then, is to transfigure life in terms of accomplishment through the achievement of a steady radiance. The NGWS is to engineer its own crises of achievement, calling upon the fulness of its own inner resources and upon the greatest possible infusion of the energy of Hierarchy. The NGWS is to enter extremity in service, thus producing the greatest possible alignment between itself and the Great Ashram.

4. Vì vậy, NGWS phải biến hình đời sống bằng thành tựu, thông qua việc đạt được sự toả sáng bền bỉ. NGWS phải chủ động tạo ra những cuộc khủng hoảng thành tựu của chính mình, huy động trọn vẹn các nguồn lực nội tâm và khẩn cầu sự thấm nhuần năng lượng lớn nhất có thể từ Thánh đoàn. NGWS phải bước vào tình thế cùng cực trong phụng sự, qua đó tạo ra sự chỉnh hợp lớn nhất có thể giữa mình và ashram Vĩ Đại.

5. The members of the NGWS are not those of small accomplishment. The inner group within this body is composed of those who have achieved the second degree (to which the light of Taurus is related). They are illumined under Taurus, possessed of “enlightened, enthusiastic will”, and are aspiring (again under Taurus) towards the still greater illumination of the Mountain Top.

5. Các thành viên của NGWS không phải là những người có thành tựu nhỏ bé. Nhóm nội tại trong đoàn thể này gồm những người đã đạt bậc hai (bậc mà ánh sáng Kim Ngưu có liên hệ). Họ được soi sáng dưới ảnh hưởng của Kim Ngưu, sở hữu “ý chí giác ngộ, nhiệt thành”, và đang khát vọng (cũng dưới ảnh hưởng của Kim Ngưu) hướng đến sự soi sáng còn lớn hơn nữa trên Đỉnh Núi.

6. Like JWK-P, RVB has responsibilities related to the development of the NGWS.

6. Giống như JWK-P, RVB có những trách nhiệm liên quan đến sự phát triển của NGWS.

June 1936 – Tháng Sáu năm 1936

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I would commend you today for work accomplished silently within yourself. How much has been done, only you yourself can gauge. A steady re-adjustment has gone forward in your life and in your grasp of the work essentials, and you have succeeded in freeing yourself inwardly from much of the detail work with which you have been confronted. This was my desire; in the future, you can do much towards an aspect of my work which makes the rest of it possible. I refer to the financing of the work which I have planned. Cooperating with those who are endeavouring to procure the needed funds for the work to be done during the next few years will strengthen you inwardly and eliminate that fear which still tinctures much that you do. This fear to which I refer is not due to lack of courage as it is to fear of definite action, of clear speech where individuals are concerned, where the need is for a direct appeal and a straight presentation of the facts is warranted. This fear is being overcome; for this I have much commendation for you because this fear went down into the very roots of your being; it is basic in the form life and also in the specialised activity of the second ray type and is coincident with your second ray ability to react sensitively to others. It is, therefore, a problem to you of peculiar difficulty, as it is a soul expression and not a personality one.

Hôm nay, Tôi muốn khen ngợi em về công việc em đã âm thầm hoàn thành bên trong chính mình. Chỉ em mới có thể đánh giá được em đã làm được bao nhiêu. Một sự điều chỉnh lại bền bỉ đã diễn ra trong đời sống em và trong cách em nắm bắt những điều cốt yếu của công việc, và em đã thành công trong việc tự giải thoát về nội tâm khỏi phần lớn công việc chi tiết mà em phải đối mặt. Đây là điều Tôi mong muốn; trong tương lai, em có thể đóng góp nhiều cho một phương diện trong công việc của Tôi, phương diện tạo điều kiện cho toàn bộ phần việc còn lại. Tôi muốn nói đến việc tài trợ cho công việc mà Tôi đã hoạch định. Hợp tác với những người đang nỗ lực tìm kiếm các khoản tiền cần thiết cho công việc phải thực hiện trong vài năm tới sẽ củng cố nội tâm em và loại bỏ nỗi sợ vẫn còn nhuốm màu lên phần lớn những gì em làm. Nỗi sợ mà Tôi đề cập đến không hẳn do thiếu can đảm, mà là nỗi sợ hành động dứt khoát, sợ nói rõ ràng khi liên quan đến các cá nhân, khi cần kêu gọi trực tiếp và có đủ lý do để trình bày thẳng thắn các sự kiện. Em đang khắc phục nỗi sợ này; vì điều đó, Tôi hết sức khen ngợi em, bởi nỗi sợ ấy đã ăn sâu tận gốc rễ con người em; nó có tính căn bản trong đời sống hình tướng cũng như trong hoạt động chuyên biệt của người cung hai, và đi đôi với khả năng đáp ứng nhạy cảm với người khác của em thuộc cung hai. Do đó, đây là một vấn đề đặc biệt khó khăn đối với em, vì nó là một biểu hiện của linh hồn chứ không phải của phàm ngã.

1. A word of commendation is offered. The Master’s previous instructions were very clear and definite, and RVB has, apparently, responded to them properly.

1. Một lời khen ngợi được đưa ra. Những huấn thị trước của Chân sư rất rõ ràng và dứt khoát, và dường như RVB đã đáp ứng đúng đắn.

2. The office work for which he was responsible is full of detail and not very creative. It was well-handled, however.

2. Công việc văn phòng mà ông phụ trách có rất nhiều chi tiết và không mấy sáng tạo. Tuy nhiên, ông đã xử lý tốt.

3. DK, however, had a different type of work in mind for RVB, and, essentially of vital importance.

3. Tuy nhiên, Chân sư DK đã dự định một loại công việc khác cho RVB, về bản chất có tầm quan trọng thiết yếu.

4. RVB is to cooperate with others who are attempting to raise funds for the Master’s work. If he cooperates rightly, it will help to eliminate fear from his system.

4. RVB phải hợp tác với những người khác đang cố gắng gây quỹ cho công việc của Chân sư. Nếu ông hợp tác đúng đắn, điều đó sẽ giúp loại bỏ nỗi sợ khỏi hệ thống của ông.

5. DK elaborates upon the fear which “tinctures” much of RVB’s life — not a lack or courage, but a kind of fear of “definite action”, of “clear speech” and of a straight approach. We can imagine that with so much fourth and second rays, and with Libra so strong, the indirect, harmonizing approach would be much more congenial. The first ray is lacking from the present ray formula (though we do not know the rays of the previous incarnation, and Aries, provided that it is the Ascendant, would bring in the first ray energy).

5. Chân sư DK giải thích thêm về nỗi sợ “nhuốm màu” phần lớn đời sống của RVB — không phải thiếu can đảm, mà là một kiểu sợ “hành động dứt khoát”, sợ “nói rõ ràng” và sợ tiếp cận thẳng thắn. Chúng ta có thể hình dung rằng với ảnh hưởng mạnh đến thế của cung bốn và cung hai, cùng Thiên Bình mạnh mẽ như vậy, cách tiếp cận gián tiếp nhằm tạo hài hoà sẽ phù hợp với ông hơn nhiều. Cung một vắng mặt trong công thức cung hiện tại (mặc dù chúng ta không biết các cung của kiếp trước, và Bạch Dương, nếu là Điểm mọc, sẽ đưa năng lượng cung một vào).

6. Here the Tibetan informs RVB that he is upon the second ray. Once could gather this fact from what had been said in earlier instructions, and also from the very second ray mantram which DK offered as embodying RVB’s life purpose.

6. Ở đây, Chân sư Tây Tạng cho RVB biết rằng ông thuộc cung hai. Người ta có thể rút ra điều này từ những gì đã được nói trong các huấn thị trước, và cả từ chính mantram cung hai mà Chân sư DK đưa ra như sự thể hiện mục đích đời sống của RVB.

7. DK commends RVB for being in process of overcoming this fundamental fear — the fear of talking directly about money and financial needs. We note that the Taurus Moon connects RVB with the problem of values, of money and its right use. As well, in the proposed chart, he has three planets in the house of finance (the second house) and two planets associated with money (Venus and Uranus) in the sign Scorpio which is also a financial sign relating to “the money of others”. Libra, his powerful Sun-sign, rules “sex, law and money”, and is to be considered a major financial sign.

7. Chân sư DK khen ngợi RVB vì ông đang khắc phục nỗi sợ căn bản này — nỗi sợ nói thẳng về tiền bạc và nhu cầu tài chính. Chúng ta lưu ý rằng Mặt Trăng Kim Ngưu kết nối RVB với vấn đề giá trị, tiền bạc và cách sử dụng tiền bạc đúng đắn. Đồng thời, trong lá số được đề xuất, ông có ba hành tinh trong nhà tài chính (nhà 2) và hai hành tinh gắn với tiền bạc (Sao Kim và Sao Thiên Vương) trong dấu hiệu Hổ Cáp, vốn cũng là một dấu hiệu tài chính liên quan đến “tiền bạc của người khác”. Thiên Bình, dấu hiệu Mặt Trời mạnh mẽ của ông, cai quản “tính dục, luật pháp và tiền bạc”, và cần được xem là một dấu hiệu tài chính chủ yếu.

8. RVB’s great second ray sensitivity had made him reticent and hesitant to be direct in such matters. But he recognized that this sensitivity (essentially soul-based) had to be sacrificed in the interests of the greater work.

8. Sự nhạy cảm sâu sắc thuộc cung hai của RVB đã khiến ông dè dặt và ngần ngại nói thẳng trong những vấn đề như thế. Nhưng ông nhận ra rằng sự nhạy cảm này (về bản chất bắt nguồn từ linh hồn) phải được hi sinh vì lợi ích của công việc lớn hơn.

9. DK reveals some interesting facts about fear in general, and about the specific fear of which RVB had been a victim. It went to the “very roots” of his being; it was rooted in the form life; it was fear as a “soul expression and not a personality one”.

9. Chân sư DK tiết lộ một số sự thật thú vị về nỗi sợ nói chung và về nỗi sợ cụ thể mà RVB từng là nạn nhân. Nó ăn sâu đến “tận cội rễ” con người ông; nó bắt rễ trong đời sống hình tướng; đó là nỗi sợ như một “biểu hiện của linh hồn chứ không phải của phàm ngã”.

10. If RVB overcame these fears (or at least overrode them), his proposed Aries Ascendant would be very useful in the task. Regardless of fear, the Aries energy causes one to confront, override and overcome. The choice of the Aries Ascendant would be a soul choice. The choice would relate to specific initiatives and ‘overcomings’ required in the forthcoming incarnation.

10. Nếu RVB khắc phục những nỗi sợ này (hoặc ít nhất vượt lên trên chúng), Điểm mọc Bạch Dương được đề xuất của ông sẽ rất hữu ích cho nhiệm vụ ấy. Bất kể nỗi sợ, năng lượng Bạch Dương khiến người ta đối diện, vượt lên và chiến thắng. Việc lựa chọn Điểm mọc Bạch Dương sẽ là một lựa chọn của linh hồn. Lựa chọn ấy sẽ liên quan đến những sáng kiến cụ thể và những sự ‘vượt thắng’ cần có trong kiếp nhập thể sắp tới.

11. It is clear that commendation at this point can only strengthen this disciple for further difficult work along this line — i.e., continuing to ask for money for the work.

11. Rõ ràng, lời khen ngợi vào thời điểm này chỉ có thể tiếp thêm sức mạnh cho người đệ tử ấy để tiếp tục công việc khó khăn theo hướng này — tức là tiếp tục xin tiền cho công việc.

This whole question of money is one of the greatest difficulty at this time and also one of the utmost simplicity. The difficulty is due to the wrong thought which, for generations, has been brought to bear upon the problem, leading to wrong attitudes, even among the most devoted disciples. The attitude of humanity to money has been coloured by greed, by grasping for the lower self, by jealousy, by material desire and by the heart-breaking need for it which — in its turn — is the result of these wrong attitudes. These wrong attitudes lead to [272] the disastrous economic conditions which we find all around us. They are effects of causes which are initiated by man himself. In the re-generation of money and in the changing of man's attitude to it will eventually come world release. If this cannot take place, then some dire condition will arise; money (as we know it) will vanish off the earth and the situation will have to be met in some other way. Let us hope that this will not be needed but that it will be possible to change the thought of humanity where money is concerned so that it will be regarded as a great spiritual asset, as a definite spiritual responsibility and as a means to real world work. The custodians of money will then shoulder their responsibility without fear and with due understanding. At present, they hold on to it through fear of the future and distrust of each other.

Toàn bộ vấn đề tiền bạc này hiện nay vừa là một trong những vấn đề khó khăn nhất, vừa là một trong những vấn đề hết sức đơn giản. Khó khăn bắt nguồn từ lối suy nghĩ sai lầm mà qua nhiều thế hệ người ta đã áp vào vấn đề này, dẫn đến những thái độ sai lầm, ngay cả trong số những đệ tử tận tụy nhất. Thái độ của nhân loại đối với tiền bạc đã nhuốm màu tham lam, sự vơ vét cho phàm ngã, lòng đố kỵ, dục vọng vật chất và nhu cầu tiền bạc đến đau lòng—mà đến lượt nó lại là kết quả của những thái độ sai lầm ấy. Những thái độ sai lầm này dẫn đến [272] những tình trạng kinh tế thảm khốc mà chúng ta thấy khắp quanh mình. Chúng là những kết quả của các nguyên nhân do chính con người khởi phát. Việc tái sinh tiền bạc và thay đổi thái độ của con người đối với nó cuối cùng sẽ đem lại sự giải thoát cho thế giới. Nếu điều này không thể xảy ra, một tình trạng khủng khiếp nào đó sẽ nảy sinh; tiền bạc (như chúng ta biết) sẽ biến mất khỏi Trái Đất và người ta sẽ phải ứng phó với tình thế bằng một cách khác. Chúng ta hãy hy vọng rằng điều này sẽ không cần thiết, và có thể thay đổi tư tưởng của nhân loại về tiền bạc để nó được xem là một tài sản tinh thần lớn lao, một trách nhiệm tinh thần rõ rệt và một phương tiện để thực hiện công việc thực sự cho thế giới. Khi ấy, những người quản giữ tiền bạc sẽ gánh vác trách nhiệm của mình mà không sợ hãi và với sự thấu hiểu thích đáng. Hiện nay, họ giữ chặt nó vì sợ tương lai và thiếu tin tưởng lẫn nhau.

1. Here DK offers a lesson to all His disciples, and a major teaching on humanity’s financial woes is offered. One cannot imagine that such statements would be read only by one disciple. It was imperative that they be widely distributed. Probably DK foresaw the creation and distribution of the book, Discipleship in the New Age.

1. Ở đây, Chân sư DK đưa ra một bài học cho tất cả các đệ tử của Ngài, cùng một giáo huấn quan trọng về những khốn khó tài chính của nhân loại. Người ta không thể hình dung rằng những phát biểu như thế chỉ dành cho một đệ tử đọc. Điều thiết yếu là chúng phải được phổ biến rộng rãi. Có lẽ Chân sư DK đã thấy trước việc biên soạn và phổ biến cuốn sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới.

2. All the wrong attitudes toward money are eloquently detailed. DK points out that the question of money is at once a question of the “greatest difficulty” and of the “utmost simplicity”.

2. Tất cả những thái độ sai lầm đối với tiền bạc đều được trình bày chi tiết và đầy sức thuyết phục. Chân sư DK chỉ ra rằng vấn đề tiền bạc đồng thời là một vấn đề “khó khăn nhất” và “hết sức đơn giản”.

3. DK calls for the “regeneration of money” and the changing of man’s thought in relation to it.

3. Chân sư DK kêu gọi “sự tái sinh của tiền bạc” và thay đổi tư tưởng của con người về tiền bạc.

4. A prediction is made should this regeneration not occur: money as we know it will disappear — “vanish off the earth”. This is not considered a desirable possibility; a change of thought is much preferred.

4. Một lời tiên đoán được đưa ra nếu sự tái sinh này không xảy ra: tiền bạc như chúng ta biết sẽ biến mất — “biến mất khỏi Trái Đất”. Đây không được xem là một khả năng đáng mong muốn; thay đổi tư tưởng là điều được ưu tiên hơn nhiều.

5. The matter is of vital importance. If rightly handled, “world release” will come. If not, even greater suffering and disaster.

5. Vấn đề này có tầm quan trọng thiết yếu. Nếu được xử lý đúng đắn, “sự giải thoát cho thế giới” sẽ đến. Nếu không, đau khổ và tai hoạ còn lớn hơn nữa sẽ xảy ra.

6. The “dire condition” which DK anticipates if no correctives to the problem are found, is foreseen today by a number of insightful prophets in the field of economics. Many of them predict a world economic collapse with the most dire consequences. They are not speaking from an uninformed point of view. Therefore, this problem is of great moment and deep concern to all of us.

6. “Tình trạng khủng khiếp” mà Chân sư DK dự liệu nếu không tìm ra biện pháp khắc phục vấn đề hiện đang được một số nhà tiên tri có tầm nhìn sâu sắc trong lĩnh vực kinh tế thấy trước. Nhiều người trong số họ dự đoán một cuộc sụp đổ kinh tế thế giới với những hậu quả khủng khiếp nhất. Họ không phát biểu từ một quan điểm thiếu hiểu biết. Vì vậy, vấn đề này có tầm quan trọng lớn lao và là mối quan tâm sâu sắc đối với tất cả chúng ta.

7. DK points to a new attitude of money, devoid of fear, jealous, greed and general distrust. This will be the task of a number of initiates of the first degree who are focussed on the seventh ray (a major financial ray). Their day is soon coming, and their position will strengthen with the increasing potency of the seventh ray, as well as with the increasing potency of the Libra, now waxing in the planetary horoscope (as we are told).

7. Chân sư DK chỉ ra một thái độ mới đối với tiền bạc, không còn sợ hãi, đố kỵ, tham lam và sự nghi kỵ nói chung. Đây sẽ là nhiệm vụ của một số điểm đạo đồ bậc một tập trung trên cung bảy (một cung tài chính chủ yếu). Thời của họ sắp đến, và vị thế của họ sẽ được củng cố cùng với sức mạnh ngày càng tăng của cung bảy, cũng như sức mạnh ngày càng tăng của Thiên Bình, hiện đang gia tăng ảnh hưởng trong lá số chiêm tinh hành tinh (như chúng ta được cho biết).

8. There is a great difference between fearlessly shouldering financial responsibility and holding on to money in fear and distrust. One can see that the “divine circulatory flow” has been compromised, even jeopardized. This unhealthy condition cannot be allowed to persist.

8. Có một khác biệt lớn giữa việc không sợ hãi gánh vác trách nhiệm tài chính và việc giữ chặt tiền bạc trong sợ hãi và nghi kỵ. Người ta có thể thấy rằng “dòng lưu chuyển thiêng liêng” đã bị tổn hại, thậm chí bị đe doạ. Không thể để tình trạng thiếu lành mạnh này kéo dài.

9. Some dire possibilities foreseen or discussed during the years when the teaching was offered never materialized; some did. DK hopes that things will not become so dire that money is forced to vanish. Untold suffering would be the immediate result. It was hoped that the Second World War could be avoided; it was not. On the other hand, a Shamballic intervention was forestalled during the First World War, and again, later, because the Second World War made it (manifesting, perhaps, through a great and general epidemic) unnecessary. Dire experiences do come to humanity, often self-precipitated. Some drastic experiences, however, are not necessary. There are other ways to accomplish important objectives. Fourth ray humanity has a mixed record in its approach to averting disaster.

9. Một số khả năng khủng khiếp được thấy trước hoặc bàn đến trong những năm giáo huấn này được đưa ra đã không bao giờ thành hiện thực; một số khác thì có. Chân sư DK hy vọng rằng tình hình sẽ không trở nên khủng khiếp đến mức buộc tiền bạc phải biến mất. Khi ấy, đau khổ khôn xiết sẽ là kết quả tức thời. Người ta từng hy vọng có thể tránh được Chiến tranh Thế giới Thứ hai; nhưng đã không tránh được. Mặt khác, một sự can thiệp từ Shamballa đã được ngăn lại trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, rồi một lần nữa về sau, vì Chiến tranh Thế giới Thứ hai khiến sự can thiệp ấy (có lẽ biểu hiện qua một đại dịch lan rộng) trở nên không cần thiết. Những trải nghiệm khủng khiếp quả thực đến với nhân loại, thường do chính nhân loại khiến chúng ngưng tụ. Tuy nhiên, một số trải nghiệm khốc liệt là không cần thiết. Có những cách khác để đạt được các mục tiêu quan trọng. Nhân loại cung bốn có cả thành công lẫn thất bại trong cách tiếp cận việc ngăn ngừa tai hoạ.

“It may not perhaps be generally known that at a certain crisis during the Great War[WW I], the Hierarchy of our planet deemed it well nigh necessary to invoke the aid of the Silent Watcher, and — employing the great mantram whereby the Buddha can be reached — called the attention of the latter, and sought his agency with the Planetary Logos. In consultation between the Planetary Logos, the Lord of the World, one of the Buddhas of Activity, the Buddha, the Mahachohan, and the Manu (these names are given in order of their relative evolutionary stage) it was decided to watch proceedings a little longer before interfering with the trend of affairs, as the karma of the planet would have been delayed should the strife have been ended too soon. Their confidence in the ability of men duly to adjust conditions was justified, and interference proved needless. This conference took place at Shamballa. This is mentioned to show the close scrutiny given to everything concerning the affairs of men by the various Planetary Existences. It is literally true, in an occult sense, that ‘not a sparrow falleth’ without its fall being noticed.” (IHS 105)

“Có lẽ chưa nhiều người biết rằng, vào một thời điểm khủng hoảng trong cuộc Đại Chiến[WW I], Thánh đoàn của hành tinh chúng ta xét thấy gần như cần phải khẩn cầu sự trợ giúp của Đấng Canh Giữ Thầm Lặng, và — bằng cách sử dụng mantram vĩ đại có thể tiếp cận Đức Phật — đã thu hút sự chú ý của Ngài và xin Ngài làm trung gian với Hành Tinh Thượng đế. Trong cuộc tham nghị giữa Hành Tinh Thượng đế, Đức Chúa Tể Thế Giới, một trong các Đức Phật Hoạt Động, Đức Phật, Đức Mahachohan và Đức Manu (các danh xưng này được nêu theo thứ tự cấp độ tiến hoá tương đối của Các Ngài), Các Ngài quyết định theo dõi diễn biến thêm một thời gian trước khi can thiệp vào chiều hướng của tình hình, vì việc thực hiện nghiệp quả của hành tinh sẽ bị trì hoãn nếu cuộc xung đột chấm dứt quá sớm. Niềm tin của Các Ngài vào khả năng con người điều chỉnh hoàn cảnh một cách thích đáng đã có cơ sở, và sự can thiệp tỏ ra không cần thiết. Cuộc hội nghị này diễn ra tại Shamballa. Điều này được nhắc đến để cho thấy các Đấng Hiện Hữu Hành Tinh khác nhau xem xét kỹ lưỡng đến mức nào mọi điều liên quan đến công việc của nhân loại. Theo nghĩa huyền bí, câu ‘không một con chim sẻ nào rơi xuống’ mà sự rơi xuống ấy không được nhận biết là hoàn toàn đúng theo nghĩa đen.” (IHS 105)

The key to the right expenditure of money and to its correct use can be summed up in the following statement to which I would ask all of you to pay attention:

Chìa khóa cho việc chi tiêu đúng đắn và sử dụng tiền bạc đúng cách có thể được đúc kết trong lời khẳng định sau đây mà Tôi muốn tất cả các bạn chú ý:

As money has in the past ministered to personal and family need, so in the future it must minister to group and world need. Each unit has, in the past, attempted to act as a magnet and to attract to itself that which will meet what it regards as its need — using personal activity and labour, if of no influence or education, and financial manipulation where that was possible. Groups in the future must act as magnets; they must see to it that they are animated by a spirit of love. I give you a thought here which is capable of much expansion. Need, love and magnetic power are the three things which — consciously or unconsciously — attract money. But they must all manifest at once. The need in the past has not always been real, though it has been felt (such is the world glamour and illusion). The love has been selfish or unreal; the demand for things material has been for that which is not necessary to health or happiness. The magnetic force utilised has been, therefore, wrongly motivated and this process — carried forward over so long a time — has led to the present dire financial situation in the world.

Trong quá khứ, tiền bạc đã đáp ứng nhu cầu cá nhân và gia đình như thế nào thì trong tương lai, nó phải đáp ứng nhu cầu của nhóm và thế giới như thế ấy. Trong quá khứ, mỗi đơn vị đều cố gắng hành động như một nam châm và thu hút về mình những gì đáp ứng điều mà mình xem là nhu cầu—bằng hoạt động và lao động cá nhân nếu không có thế lực hay học vấn, và bằng sự thao túng tài chính khi có thể. Trong tương lai, các nhóm phải hành động như những nam châm; họ phải bảo đảm rằng tinh thần bác ái là động lực của mình. Ở đây, Tôi trao cho các bạn một tư tưởng có thể được khai triển sâu rộng. Nhu cầu, tình thương và quyền năng từ tính là ba yếu tố—một cách hữu thức hoặc vô thức—thu hút tiền bạc. Nhưng cả ba phải biểu hiện đồng thời. Trong quá khứ, nhu cầu không phải lúc nào cũng có thật, dù người ta đã cảm thấy nó (ảo cảm và ảo tưởng của thế gian là như vậy). Tình thương đã mang tính ích kỷ hoặc không chân thực; người ta đã đòi hỏi những thứ vật chất không cần thiết cho sức khỏe hay hạnh phúc. Do đó, mãnh lực từ tính đã được sử dụng với động cơ sai lầm, và tiến trình này—tiếp diễn trong một thời gian dài đến thế—đã dẫn đến tình trạng tài chính khủng khiếp hiện nay trên thế giới.

1. Here we have one of the major financial statements in the entire Teaching.

1. Ở đây, chúng ta có một trong những lời phát biểu về tài chính quan trọng nhất trong toàn bộ Giáo Huấn.

2. Essentially, we are asked to adopt an impersonal approach to money, seeing that it meet “group and world need” rather than “personal and family need” alone.

2. Về căn bản, chúng ta được yêu cầu tiếp cận tiền bạc một cách vô ngã, bảo đảm rằng nó đáp ứng “nhu cầu của nhóm và thế giới”, thay vì chỉ đáp ứng “nhu cầu cá nhân và gia đình”.

3. When an individual or a group is animated by “a spirit of love” they will be successful magnets for money. Thus animated, their motive will be correct. The third aspect (money) will become the servant of the second aspect (love). Selfish and unnecessary gratification will end.

3. Khi “tinh thần yêu thương” thôi thúc một cá nhân hay một nhóm, họ sẽ trở thành những nam châm thu hút tiền bạc thành công. Với sự thôi thúc ấy, động cơ của họ sẽ đúng đắn. Phương diện thứ ba (tiền bạc) sẽ trở thành kẻ phụng sự phương diện thứ hai (tình thương). Sự thỏa mãn ích kỷ và không cần thiết sẽ chấm dứt.

4. “Need, love and magnetic power are the three things which…attract money”. The need must be true need; the love must be selfless — not selfish or unreal; the magnetic force must be rightly motivated. And they must all manifest simultaneously. If anything is lacking in the financial drawing power of an individual or a group, these are the three requirements which must be examined.

4. “Nhu cầu, tình thương và quyền năng từ tính là ba điều…thu hút tiền bạc”. Nhu cầu phải là nhu cầu thực sự; tình thương phải vị tha — không ích kỷ hay giả tạo; mãnh lực từ tính phải có động cơ đúng đắn. Và cả ba phải cùng biểu hiện một lúc. Nếu sức thu hút tài chính của một cá nhân hay một nhóm còn thiếu điều gì, thì đây là ba yêu cầu cần được xem xét.

5. World glamor and illusion have made the right evaluation of these three requirements subject to error.

5. Ảo cảm và ảo tưởng của thế giới đã khiến việc đánh giá đúng ba yêu cầu này dễ mắc sai lầm.

6. Real need can only be assessed in relation to the Divine Plan (which calls for the “illumination of the mind”, the “revelation of love” and the “evocation of the will”).

6. Chỉ có thể đánh giá nhu cầu thực sự trong mối liên hệ với Thiên Cơ (vốn đòi hỏi “sự soi sáng thể trí”, “sự mặc khải tình thương” và “sự gợi lên ý chí”).

7. Love must be judged according to its personal or impersonal nature.

7. Phải xét tình thương theo bản chất cá nhân hay vô ngã của nó.

8. Magnetism can be soundly or unsoundly based. Very often individuals and groups are powerfully magnetic for the wrong reasons. Glamor and illusion create huge magnetisms which support false values. So we must determine whether any magnetism sensed (no matter how great its strength) is representative of Plan-aligned values.

8. Từ điện có thể có nền tảng vững chắc hoặc thiếu vững chắc. Rất thường xuyên, các cá nhân và nhóm có từ tính mạnh mẽ vì những lý do sai lầm. Ảo cảm và ảo tưởng tạo ra những sức từ điện khổng lồ nâng đỡ các giá trị sai lạc. Vì vậy, chúng ta phải xác định xem bất kỳ sức từ điện nào mà mình cảm nhận được (dù mạnh đến đâu) có đại diện cho những giá trị chỉnh hợp với Thiên Cơ hay không.

9. In order to straighten out the very difficult financial condition in which humanity constantly lives, an entire re-patterning of thought and emotional energy is required.

9. Để chấn chỉnh tình trạng tài chính vô cùng khó khăn mà nhân loại thường xuyên sống trong đó, cần tái định hình hoàn toàn năng lượng tư tưởng và cảm xúc.

10. In all simplicity, we could follow one of the Christ’s golden precepts: “It is better to give than to receive”. Rightly adapted to the world situation, this mantram would go far towards ending the financial impasse.

10. Một cách hết sức giản dị, chúng ta có thể làm theo một trong những lời dạy quý báu của Đức Christ: “Cho thì tốt hơn nhận”. Khi được vận dụng đúng vào tình hình thế giới, mantram này sẽ góp phần đáng kể vào việc chấm dứt tình trạng bế tắc về tài chính.

By the transmutation of these factors and the expression of their higher correspondences — through right love, right thought or meditation and right technique — the financial requirements [273] of the new groups and of the New Group of World Servers will be found. I would suggest that an elaboration of these ideas should be disseminated among all whom you know who could help. I would ask you to ponder much on these ideas for, in the education of the intelligent world servers, this question of money and of right attitudes towards money and right meditation upon money must be boldly faced. The emphasis laid by certain large groups on meditation for the raising of funds (usually for personal use or for the selfish ends of their own particular organisation or group) has been based upon this emerging concept of the group use of money. Being, however, selfishly and personally interested, the money was thought of in relation to the individual and not in relation to the group. This attitude must and will be changed.

Qua việc chuyển hoá những yếu tố này và biểu hiện các tương ứng cao hơn của chúng—thông qua tình thương đúng đắn, tư tưởng hay tham thiền đúng đắn và kỹ thuật đúng đắn—những nguồn tài chính cần thiết [273] cho các nhóm mới và cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ được tìm thấy. Tôi đề nghị nên phổ biến một bản khai triển những ý tưởng này đến tất cả những người em biết có thể giúp đỡ. Tôi muốn em suy ngẫm nhiều về những ý tưởng này, vì trong việc giáo dục những người phụng sự thế gian có trí tuệ, cần mạnh dạn đối diện với vấn đề tiền bạc, thái độ đúng đắn đối với tiền bạc và việc tham thiền đúng đắn về tiền bạc. Việc một số nhóm lớn nhấn mạnh tham thiền để quyên góp tiền (thường nhằm sử dụng cho cá nhân hoặc phục vụ mục đích ích kỷ của tổ chức hay nhóm riêng của họ) đã dựa trên quan niệm đang xuất hiện này về việc sử dụng tiền bạc cho nhóm. Tuy nhiên, vì mối quan tâm mang tính ích kỷ và cá nhân, họ đã nghĩ về tiền bạc trong mối liên hệ với cá nhân thay vì với nhóm. Thái độ này phải và sẽ thay đổi.

1. The negative ‘needs’, ‘loves’ and ‘magnetisms’ can be transmuted into their higher correspondences. DK gives the method by which the NGWS can meet its financial requirements. Right thought and right meditation play a key role, as well as “right love” and “right technique”.

1. Những ‘nhu cầu’, ‘tình thương’ và ‘sức từ điện’ tiêu cực có thể được chuyển hoá thành những tương ứng cao hơn của chúng. Chân sư DK đưa ra phương pháp để NGWS có thể đáp ứng các nhu cầu tài chính của mình. Tư tưởng đúng đắn và tham thiền đúng đắn giữ vai trò then chốt, cùng với “tình thương đúng đắn” và “kỹ thuật đúng đắn”.

2. The NGWS is not yet a wealthy body, and the billions needed to finance the “Reappearance of the Christ” are not yet available.

2. NGWS vẫn chưa phải là một tập thể giàu có, và hàng tỷ cần thiết để tài trợ cho “Sự Tái Lâm của Đức Christ” vẫn chưa có sẵn.

3. The whole problem, says the Tibetan is to be “boldly faced”. Probably many of us know the reason why the word “boldly” is used. There is a fear which exists in relation to the presentation of financial needs for spiritual purposes, and this fear must be overcome (largely through a clear and correct understanding of the Divine Plan as it must manifest presently).

3. Chân sư Tây Tạng nói rằng phải “mạnh dạn đối diện” với toàn bộ vấn đề. Có lẽ nhiều người trong chúng ta biết lý do vì sao từ “mạnh dạn” được sử dụng. Quả có một nỗi sợ liên quan đến việc trình bày những nhu cầu tài chính cho các mục đích tinh thần, và phải vượt qua nỗi sợ này (phần lớn nhờ thấu hiểu rõ ràng và đúng đắn Thiên Cơ như nó phải biểu hiện trong hiện tại).

4. Some have mastered the technique of the “group use of money”. Usually the groups involved have been more selfish than spiritual and more personal than generously global. Always the negative pattern manifests first, followed at length by that which is rightly adapted to humanity’s need. This seems to be a characteristic of the fourth ray which learns through conflict-producing-error a more harmonious and widely-beneficial response.

4. Một số người đã làm chủ kỹ thuật “sử dụng tiền bạc cho nhóm”. Thông thường, các nhóm liên quan mang tính ích kỷ nhiều hơn tinh thần, và chú trọng lợi ích cá nhân nhiều hơn là rộng lượng hướng đến toàn cầu. Mô hình tiêu cực luôn biểu hiện trước, rồi sau một thời gian dài mới đến điều thích ứng đúng đắn với nhu cầu của nhân loại. Điều này dường như là một đặc điểm của cung bốn, vốn học cách đáp ứng hài hòa hơn và đem lại lợi ích rộng rãi hơn thông qua những sai lầm gây ra xung đột.

One thing more I would ask of you, my brother, and of the group who read my words. Money is the manifestation of energy. All energy can be applied in differing ways, being in itself an impersonal and blind force. It can be selfishly or unselfishly used. That, in itself, constitutes the main difference. Motive and creative thought determine the magnetic power of any individual, group or centre. Determine your motive; see that your group ideal and group love are dominant; use skill in action; this will involve right preliminary meditation, plus correct thinking; then you will find that that which you need will be forthcoming.

Huynh đệ của tôi, Tôi muốn yêu cầu em và nhóm đọc những lời của Tôi thêm một điều nữa. Tiền bạc là sự biểu hiện của năng lượng. Mọi năng lượng đều có thể được sử dụng theo những cách khác nhau, vì bản thân nó là một mãnh lực vô ngã và mù quáng. Người ta có thể sử dụng nó một cách ích kỷ hoặc vô tư. Chính điều ấy tạo nên sự khác biệt chủ yếu. Động cơ và tư tưởng sáng tạo quyết định quyền năng từ tính của bất kỳ cá nhân, nhóm hay trung tâm nào. Hãy xác định động cơ của các bạn; hãy bảo đảm rằng lý tưởng nhóm và tình thương đối với nhóm chiếm ưu thế; hãy hành động khéo léo; điều này đòi hỏi tham thiền chuẩn bị đúng đắn, cùng với tư duy chính xác; rồi các bạn sẽ thấy rằng những gì các bạn cần sẽ đến.

1. DK offers to RVB and to all who read this instruction, the secret of supply.

1. Chân sư DK trao cho RVB và tất cả những ai đọc huấn thị này bí quyết để có được nguồn cung ứng.

2. The impersonal nature of money is stressed. It is a blind force which can be used selfishly or unselfishly. If the motive is correct; if group love and the group ideal predominate; if skill-in-action based upon right meditation and thinking is employed — then, the need will be met.

2. Bản chất vô ngã của tiền bạc được nhấn mạnh. Đó là một mãnh lực mù quáng có thể được sử dụng một cách ích kỷ hoặc vị tha. Nếu động cơ đúng đắn; nếu tình thương nhóm và lý tưởng nhóm chiếm ưu thế; nếu vận dụng sự khéo léo trong hành động dựa trên tham thiền và tư duy đúng đắn — thì nhu cầu sẽ được đáp ứng.

3. In these few paragraphs, the approach to money which should be followed by the world’s spiritual people is clearly offered. Interestingly, further instructions about the right approach to the use of money are offered in the Libra chapter ofEsoteric Astrology. As the sign Libra is growing in power in the planetary horoscope, we can expect that important steps will be taken to the correct solving of this problem which has, until this moment, resisted all adequate solution.

3. Trong vài đoạn văn này, cách tiếp cận tiền bạc mà những người sống theo tinh thần trên thế giới nên tuân theo đã được trình bày rõ ràng. Điều thú vị là chương Thiên Bình củaChiêm Tinh Học Nội Môn. còn đưa ra những huấn thị khác về cách tiếp cận đúng đắn đối với việc sử dụng tiền bạc. Khi dấu hiệu Thiên Bình đang gia tăng sức mạnh trong lá số chiêm tinh hành tinh, chúng ta có thể mong đợi những bước tiến quan trọng hướng đến việc giải quyết đúng đắn vấn đề này, vốn cho đến nay vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng nào.

I have little of a personal nature to give to you at this time. With you as with all the group there is much knowledge. You have been given and taught much, both by your own souls and by myself in instructions and in my various books. It is not possible for me to continue ceaselessly telling you that which you already know in theory and which you need now to work out in practice. That working out lies with you individually; when you have worked out that which you know, then more will be forthcoming. I can, however, teach you somewhat anent the newer aspects of group work and this I seek to do and you seek to know.

Lúc này, Tôi có ít điều mang tính cá nhân để trao cho em. Em cũng như tất cả các thành viên trong nhóm đều có nhiều tri thức. Các bạn đã được trao và được dạy nhiều điều, cả từ chính linh hồn mình lẫn từ Tôi qua những huấn thị và các sách khác nhau của Tôi. Tôi không thể tiếp tục không ngừng nói với các bạn những điều các bạn đã biết trên lý thuyết và giờ đây cần thực hiện trong thực hành. Việc thực hiện ấy tùy thuộc vào từng cá nhân các bạn; khi các bạn đã thực hiện những gì mình biết, những điều khác sẽ đến. Tuy nhiên, Tôi có thể dạy các bạn đôi điều về những phương diện mới hơn của công việc nhóm; đó là điều Tôi tìm cách làm và các bạn tìm cách biết.

1. Master DK seems to vary His approach in these instructions. Some are strictly personal, and some aspects of such instructions have been withheld from general publication. Other aspects are impersonal, of a general nature and are meant for wide distribution.

1. Chân sư DK dường như thay đổi cách tiếp cận của Ngài trong những huấn thị này. Một số mang tính cá nhân hoàn toàn, và một số phương diện của những huấn thị như vậy đã không được công bố rộng rãi. Những phương diện khác mang tính vô ngã, có tính chất chung và dành cho việc phổ biến rộng rãi.

2. A danger is here pointed out. One can go on accumulating unapplied knowledge forever; it serves no useful purpose and will but increase responsibility.

2. Một nguy cơ được chỉ ra ở đây. Người ta có thể mãi tích lũy tri thức mà không áp dụng; điều đó không đem lại lợi ích thiết thực nào mà chỉ làm tăng trách nhiệm.

3. DK is calling for the “working out in practice” of that which has been imparted.

3. Chân sư DK đang kêu gọi “thực hành” những điều đã được trao truyền.

4. A principle is again stated: when that which is given is worked out, then more will be forthcoming. “Use. Demand. Take”. First we must use what we have, and this, obviously, involves assimilating that which is given.

4. Một nguyên khí lại được nêu ra: khi những điều đã trao được thực hành, những điều khác sẽ đến. “Hãy sử dụng. Hãy yêu cầu. Hãy nhận lấy”. Trước tiên, chúng ta phải sử dụng những gì mình có, và hiển nhiên điều này đòi hỏi phải đồng hóa những gì đã được trao.

5. Throughout His vast Teaching, Master DK seeks not to repeat Himself (except deliberately and for a purpose). He mind is cognizant of what He has said in this book and that; it is the work of the students to gather what has been said into a coherent whole. Theirs is the search.

5. Trong toàn bộ Giáo Huấn rộng lớn của mình, Chân sư DK tìm cách tránh lặp lại những điều Ngài đã nói (trừ khi chủ ý làm vậy vì một mục đích). Thể trí Ngài biết rõ những gì Ngài đã nói trong cuốn sách này hay cuốn sách kia; công việc của các đạo sinh là tập hợp những điều đã được nói thành một tổng thể mạch lạc. Việc tìm kiếm thuộc về họ.

6. It seems, however, that He always has something new to say. One is mindful of the fact that DK knows He is writing for students in future decades and even centuries. He has a program in mind; He knows what Teaching must be presented whether or not the students to whom He is initially presenting it, assimilate it in its entirety. We have to be grateful for that fact that He persisted despite the incomplete assimilation of those in the earlier groups.

6. Tuy nhiên, dường như Ngài luôn có điều mới để nói. Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK biết Ngài đang viết cho các đạo sinh trong những thập niên, thậm chí những thế kỷ tương lai. Ngài có sẵn một chương trình trong trí; Ngài biết phải trình bày Giáo Huấn nào, dù các đạo sinh mà Ngài trao truyền lúc đầu có đồng hóa trọn vẹn hay không. Chúng ta phải biết ơn việc Ngài đã kiên trì, bất chấp sự đồng hóa chưa đầy đủ của những người trong các nhóm trước đây.

7. The Ashram is, after all, an “international group” operating on many levels of consciousness. No small group “owns” the entirety of the Teaching. It is for all who may be drawn to it, value it and wish to assimilate it.

7. Xét cho cùng, Ashram là một “nhóm quốc tế” hoạt động trên nhiều cấp độ tâm thức. Không một nhóm nhỏ nào “sở hữu” toàn bộ Giáo Huấn. Giáo Huấn dành cho tất cả những ai có thể được thu hút đến với nó, trân trọng nó và muốn đồng hóa nó.

One thing only would I say to you at this time of a personal nature: Rest much this summer; be much out of doors and lay [274] the foundations for work in the coming winter months by much quiet thinking in the open air.

Lúc này, Tôi chỉ muốn nói với em một điều mang tính cá nhân: Hãy nghỉ ngơi nhiều trong mùa hè này; hãy ở ngoài trời nhiều và đặt [274] nền móng cho công việc trong những tháng mùa đông sắp tới bằng nhiều suy tư tĩnh lặng giữa không khí ngoài trời.

1. These bits of personal advice reveal the Master’s deep knowledge of His chelas — in regard to both their abstract-spiritual nature and to their concrete-form nature.

1. Những lời khuyên cá nhân ngắn gọn này cho thấy Chân sư hiểu biết sâu sắc các đệ tử của Ngài — cả về bản chất trừu tượng–tinh thần lẫn bản chất cụ thể–hình tướng của họ.

2. In the astrological analysis which will accompany this commentary, the astrological reasons for this advice will be offered.

2. Phần phân tích chiêm tinh đi kèm bài bình giảng này sẽ trình bày những lý do chiêm tinh cho lời khuyên ấy.

3. DK understands the value of interludes. RVB has a Libran Sun-sign and Libra is a sign of interlude.

3. Chân sư DK thấu hiểu giá trị của những khoảng gián kỳ. RVB có dấu hiệu Mặt Trời là Thiên Bình, và Thiên Bình là một dấu hiệu của gián kỳ.

4. Further, the third keynote of for RVB is “the Breath”. There is a need for right rhythm and the ability to breathe both pranically and spiritually.

4. Hơn nữa, chủ âm thứ ba dành cho RVB là “Hơi Thở”. Cần có nhịp điệu đúng đắn và khả năng thở cả về phương diện prana lẫn tinh thần.

5. The term “open air” may be a hint suggesting intuitive access to the buddhic plane — the plane of “air”

5. Cụm từ “không khí ngoài trời” có thể là một gợi ý về việc tiếp cận cõi Bồ đề bằng trực giác — cõi của “khí”

January 1937 – Tháng Một năm 1937