Trích nội dung chương
8. The Tibetan is emphasizing that all new and worthy enterprises on behalf of Hierarchy, should be impelled by the power of meditation. DK appeals to RVB in a way that cannot fail to inspire. RVB has returned from a ‘karmic engagement’; he is fresh and ready to throw himself with new vigor into the work of the Ashram. DK offers him the opportunity for important service. 8. Chân sư Tây Tạng đang nhấn mạnh rằng mọi công cuộc mới mẻ và xứng đáng nhân danh Thánh đoàn đều cần được thúc đẩy bằng quyền năng của tham thiền. Chân sư DK kêu gọi RVB theo một cách chắc chắn khơi dậy cảm hứng. RVB đã trở lại sau một ‘mối ràng buộc nghiệp quả’; ông đầy…
8. The Tibetan is emphasizing that all new and worthy enterprises on behalf of Hierarchy, should be impelled by the power of meditation. DK appeals to RVB in a way that cannot fail to inspire. RVB has returned from a ‘karmic engagement’; he is fresh and ready to throw himself with new vigor into the work of the Ashram. DK offers him the opportunity for important service.
8. Chân sư Tây Tạng đang nhấn mạnh rằng mọi công cuộc mới mẻ và xứng đáng nhân danh Thánh đoàn đều cần được thúc đẩy bằng quyền năng của tham thiền. Chân sư DK kêu gọi RVB theo một cách chắc chắn khơi dậy cảm hứng. RVB đã trở lại sau một ‘mối ràng buộc nghiệp quả’; ông đầy sức sống và sẵn sàng dồn sinh lực mới vào công việc của ashram. Chân sư DK trao cho ông cơ hội thực hiện một sự phụng sự quan trọng.
9. And have we — readers of the DINA books — found that they serve the intensification of the Light in us and in the world? I think the answer must be, “Yes”, and strongly so. These instructions on Ashramic life; these invaluable letters from the Master to His chelas have an extraordinary effect in stimulating the disciplic consciousness. Perhaps, we too, should do all we can to study and assimilate the contents of these books and to share them with others, thereby doing our part in the task of drawing many towards the Masters’ Ashrams. In affiliation with these Ashrams the work and service of these ingathered students can be greatly potentized.
9. Và chúng ta — những độc giả của các cuốn DINA — có nhận thấy rằng chúng giúp tăng cường Ánh sáng trong chúng ta và trong thế giới không? Tôi nghĩ câu trả lời hẳn phải là “Có”, một cách mạnh mẽ. Những huấn thị về đời sống ashram này; những bức thư vô giá từ Chân sư gửi các đệ tử của Ngài có tác dụng phi thường trong việc kích thích tâm thức đệ tử. Có lẽ chúng ta cũng nên làm mọi điều có thể để nghiên cứu và thấm nhuần nội dung những cuốn sách này, đồng thời chia sẻ chúng với người khác, qua đó góp phần vào nhiệm vụ thu hút nhiều người hướng đến các ashram của các Chân sư. Khi gắn kết với các ashram ấy, công việc và sự phụng sự của những đạo sinh được quy tụ này có thể được tăng cường sức mạnh rất nhiều.
Increasingly must your life be filled with this kind of service; [560] it will lead to the establishing of lines of relationship; these, in later lives, will be less tenuous and will demonstrate to you as the nucleus of that group which every disciple begins to gather around him, preparatory to forming his own Ashram in a still later life. Thus the whole question of radiation and magnetism lies at the foundation of the hierarchical method of work. A disciple becomes spiritually magnetic; his radiation begins to make itself felt; this must inevitably be the case when head and heart are consciously related. Gradually that magnetism and that radiation make their presence felt in the disciple's environment and evoke response from others. Not only so, but the magnetic-radiatory vibration attracts the attention of the Master, and the disciple finds his way into the Ashram along the line or the beam of his own radiatory activity, which has been akin to that of the Ashram. There, the intensified training he receives makes him still more spiritually efficient and "esoterically attractive" in the world of men. He continues with his task of gathering to him those whom he can help and who recognise him as their chosen helper and guide.
Cuộc sống của em phải ngày càng tràn đầy loại hình [560] phụng sự này; nó sẽ dẫn đến việc thiết lập những đường dây liên hệ; trong các kiếp sống sau, những đường dây ấy sẽ bớt mong manh và sẽ hiện rõ với em như hạt nhân của nhóm mà mỗi đệ tử bắt đầu quy tụ quanh mình, để chuẩn bị thành lập ashram riêng trong một kiếp sống xa hơn nữa. Như vậy, toàn bộ vấn đề về sự tỏa chiếu và từ điện nằm ở nền tảng phương pháp làm việc của Thánh đoàn. Một đệ tử trở nên có sức hút từ tính về mặt tinh thần; sự tỏa chiếu của y bắt đầu tạo ảnh hưởng rõ rệt; điều này tất yếu xảy ra khi đầu và tim được liên kết một cách có ý thức. Dần dần, từ điện và sự tỏa chiếu ấy biểu lộ ảnh hưởng trong môi trường của đệ tử và khơi dậy sự đáp ứng từ những người khác. Không chỉ vậy, rung động từ tính–tỏa chiếu còn thu hút sự chú ý của Chân sư, và đệ tử tìm được đường vào ashram theo đường dây hay tia sáng của chính hoạt động tỏa chiếu nơi mình, vốn đã tương đồng với hoạt động tỏa chiếu của ashram. Tại đó, sự huấn luyện tăng cường mà y tiếp nhận khiến y càng thêm hiệu quả về mặt tinh thần và càng “có sức thu hút về mặt huyền bí” trong thế giới loài người. Y tiếp tục công việc quy tụ quanh mình những người mà y có thể giúp đỡ và những người nhìn nhận y là người trợ giúp và hướng dẫn mà họ đã chọn.
Thus is an Ashram formed — each on its ray vibration, and each taking much time and lives of choice and of radiation. Today sees many disciples — such as you — being trained to handle this phase of the hierarchical work among men. This might be stated to be the underlying motive and hierarchical purpose for the Arcane School. Each disciple in my Ashram should be aware of the intent that this life and the next should see him beginning to gather to himself his own. This new book is intended to aid in this process, and it is upon this aspect that I would ask your aid in meditation.
Một ashram hình thành như thế—mỗi ashram trên rung động cung riêng, và mỗi ashram đều cần nhiều thời gian cùng nhiều kiếp sống lựa chọn và tỏa chiếu. Ngày nay, nhiều đệ tử—như em—đang được huấn luyện để đảm nhiệm giai đoạn này trong công việc của Thánh đoàn giữa nhân loại. Có thể nói đây là động cơ nền tảng và mục đích của Thánh đoàn đối với Trường Arcane. Mỗi đệ tử trong ashram của Tôi cần nhận biết chủ đích rằng trong kiếp này và kiếp sau, y phải bắt đầu quy tụ quanh mình những người thuộc về mình. Cuốn sách mới này nhằm hỗ trợ tiến trình ấy, và chính về phương diện này mà Tôi muốn em trợ giúp bằng tham thiền.
1. The Master is offering RVB this subjective work so that he may establish “lines of relationship” which will grow in tangibility during later lives, and will eventually facilitate the gathering of his own Ashram. Every accepted disciple is, mostly unconsciously, making those connections with various individuals to whom he will one day stand as Master when they are members of his Ashram. It is a curious thought, but one which allows one to understand the true significance of certain connections in life.
1. Chân sư trao cho RVB công việc chủ quan này để ông có thể thiết lập những “đường dây liên hệ” ngày càng trở nên rõ nét hơn trong các kiếp sau, và cuối cùng tạo thuận lợi cho việc quy tụ ashram riêng của ông. Phần lớn trong vô thức, mỗi đệ tử được chấp nhận đều đang tạo nên những mối liên kết ấy với nhiều cá nhân khác nhau, những người mà một ngày kia y sẽ là Chân sư của họ khi họ trở thành thành viên trong ashram của y. Đây là một ý nghĩ lạ lùng, nhưng nó cho phép chúng ta thấu hiểu thâm nghĩa đích thực của một số mối liên kết trong đời.
2. RVB has apparently reached the age when subjective service will be the most potent kind of service he can perform.
2. Dường như RVB đã đến độ tuổi mà sự phụng sự chủ quan sẽ là hình thức phụng sự mạnh mẽ nhất ông có thể thực hiện.
3. DK speaks of the importance of radiation and magnetism as the foundation of the hierarchical method of work. We remember that His very first words of guidance to RVB concerned an increase of radiation and magnetism. We sense that RVB’s radiation and magnetism have been subtly increasing, and that the Tibetan’s request promises the utilization of that which has been generated and the opportunity for still greater increase.
3. Chân sư DK nói về tầm quan trọng của sự tỏa chiếu và từ điện như nền tảng phương pháp làm việc của Thánh đoàn. Chúng ta nhớ rằng những lời hướng dẫn đầu tiên của Ngài dành cho RVB liên quan đến việc gia tăng sự tỏa chiếu và từ điện. Chúng ta cảm thấy sự tỏa chiếu và từ điện của RVB đã gia tăng một cách tinh tế, và lời đề nghị của Chân sư Tây Tạng hứa hẹn việc sử dụng những gì đã được tạo ra cùng cơ hội gia tăng hơn nữa.
4. This is really an extraordinary paragraph dealing with the radiation and magnetism which lead eventually to the formation of an Ashram.
4. Đây thực sự là một đoạn văn phi thường bàn đến sự tỏa chiếu và từ điện, những yếu tố cuối cùng dẫn đến sự hình thành một ashram.
5. The union of head and heart signal the generation of a noticeable and effective radiation. When these two centers are joined, the disciple becomes spiritually magnetic and his Master takes note. (From an astrological perspective, we are speaking of the Sun/Vulcan in relation to Jupiter, the heart.)
5. Sự hợp nhất giữa đầu và tim báo hiệu việc tạo ra một sự tỏa chiếu rõ rệt và hữu hiệu. Khi hai trung tâm này liên kết, người đệ tử trở nên có từ tính về mặt tinh thần và Chân sư của y lưu ý đến điều đó. (Từ góc nhìn chiêm tinh học, chúng ta đang nói đến Mặt Trời/Vulcan trong mối quan hệ với Sao Mộc, tức trái tim.)
6. Entry into an Ashram proceeds along the “beam” determined by the disciple’s ray. All proceeds according to law.
6. Việc gia nhập một ashram diễn ra theo “tia” do cung của người đệ tử quyết định. Mọi sự đều tiến hành theo định luật.
7. Ashramic training makes the disciple still more “esoterically attractive” (no matter what the ray along which he is being trained). Thus the process of ingathering is further stimulated. It unfolds because of occult recognition. The others who are “his own” recognize his note and submit themselves to his guidance and supervision. Is this a noticeable dynamic in our own lives — either from the perspective of the ‘gathered’ or the ‘gatherer’?
7. Sự huấn luyện trong ashram khiến người đệ tử trở nên “thu hút về mặt huyền bí” hơn nữa (bất kể y đang được huấn luyện theo cung nào). Nhờ vậy, tiến trình quy tụ được kích thích thêm. Tiến trình này khai mở nhờ sự nhận biết huyền bí. Những người khác vốn “thuộc về y” nhận ra âm điệu của y và tự đặt mình dưới sự hướng dẫn và giám sát của y. Đây có phải là một động thái dễ nhận thấy trong đời sống của chính chúng ta — từ góc nhìn của ‘người được quy tụ’ hay ‘người quy tụ’ không?
8. We can conclude that the formation of an Ashram is a relatively slow matter. Many lives of choice and of increasing radiation are required. The “Cosmic Magnet” is at work microcosmically. Perhaps, some of us, even today, can feel these subtle radiatory and magnetic factors at work. Perhaps we are gathering others to ourselves for constructive work. Perhaps we sense ourselves being gathered into the Ashram or future Ashram of the one who, for perhaps a number of lives, has stood to us as a magnetic and attractive center.
8. Chúng ta có thể kết luận rằng sự hình thành một ashram là một việc tương đối chậm. Nó đòi hỏi nhiều kiếp sống lựa chọn và gia tăng sự tỏa chiếu. “Nam Châm Vũ Trụ” đang hoạt động ở cấp tiểu thiên địa. Có lẽ ngay hôm nay, một số người trong chúng ta có thể cảm thấy những yếu tố tỏa chiếu và từ tính tinh tế này đang hoạt động. Có lẽ chúng ta đang quy tụ người khác quanh mình để thực hiện công việc có tính xây dựng. Có lẽ chúng ta cảm thấy mình đang được quy tụ vào ashram hoặc ashram tương lai của một người mà có lẽ trong nhiều kiếp đã là một trung tâm từ tính và thu hút đối với chúng ta.
9. It would seem that the Arcane School was formed to train disciples to be radiatory and magnetic, and thus esoterically attractive in the world of men. A trained disciple automatically becomes part of the hierarchical process of “ingathering”. We must remember that we are living through a period of great ingathering, similar to, yet greater than, the ingathering which took place during the last confirmed incarnation of the Buddha and, later, at the time that the Christ (the Lord Maitreya) appeared through Jesus in Palestine.
9. Dường như Trường Arcane được thành lập để huấn luyện các đệ tử biết tỏa chiếu và có từ tính, nhờ đó trở nên thu hút về mặt huyền bí trong thế giới loài người. Một đệ tử đã được huấn luyện tự nhiên trở thành một phần trong tiến trình “quy tụ” của Thánh đoàn. Chúng ta phải nhớ rằng mình đang sống trong một thời kỳ quy tụ lớn, tương tự nhưng lớn hơn sự quy tụ diễn ra trong lần lâm phàm cuối cùng đã được xác nhận của Đức Phật, và sau đó, vào thời Đức Christ (Đức Di Lặc) xuất hiện qua Đức Jesus tại Palestine.
10. Because of the nature of his radiation and magnetism a trained disciple necessarily strengthens the Ashram, and contributes to the possibility of its numerical and qualitative growth.
10. Do bản chất sự tỏa chiếu và từ điện của mình, một đệ tử đã được huấn luyện tất yếu củng cố ashram và góp phần tạo khả năng tăng trưởng cả về số lượng lẫn phẩm tính cho ashram.
11. Who are “our own”? Who are those who we may gather to ourselves for instruction and elevation? Probably no hard and fast rule can be laid down. Sometimes they are members of our families; sometimes friends. Sometimes those with whom we have had no personal connection, yet we meet them on the level of soul and the magnet begins to work both subjectively and objectively.
11. Ai là “những người thuộc về chúng ta”? Ai là những người mà chúng ta có thể quy tụ quanh mình để giáo huấn và nâng cao? Có lẽ không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc nào. Đôi khi họ là thành viên trong gia đình chúng ta; đôi khi là bạn bè. Đôi khi đó là những người chúng ta chưa từng có mối liên hệ cá nhân, nhưng chúng ta gặp họ ở cấp độ linh hồn và nam châm bắt đầu hoạt động cả về mặt chủ quan lẫn khách quan.
12. Similarity of soul ray will usually be a decisive factor, because an Ashram consists mostly of those who share the same soul ray. But this is not always the case, as the diversified content of Master DK’s Ashram demonstrates. Probably, however, soul ray is a good discriminator. Perhaps, however, similarity of monadic ray (though largely undetected) may also contribute to the ingathering.
12. Sự tương đồng về cung linh hồn thường là một yếu tố quyết định, vì một ashram chủ yếu gồm những người có cùng cung linh hồn. Nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng, như thành phần đa dạng trong ashram của Chân sư DK cho thấy. Tuy nhiên, có lẽ cung linh hồn là một tiêu chí phân biệt tốt. Dẫu vậy, có lẽ sự tương đồng về cung chân thần (dù phần lớn chưa được nhận biết) cũng có thể góp phần vào sự quy tụ.
13. This ingathering is not something that should not be manipulated. The magnetic/radiatory disciple is not sufficiently knowledgeable to meddle with the process. The natural, unforced process is best. One can only imagine the glamor which would arise should an accepted disciple begin to apply personality force to the so-called gathering of others into his ‘ashram’!
13. Sự quy tụ này không phải là điều không nên được điều khiển. Người đệ tử có từ tính và khả năng tỏa chiếu chưa có đủ hiểu biết để can thiệp vào tiến trình ấy. Tiến trình tự nhiên, không gượng ép là tốt nhất. Chỉ có thể hình dung ảo cảm nào sẽ nảy sinh nếu một đệ tử được chấp nhận bắt đầu áp dụng mãnh lực phàm ngã vào việc được gọi là quy tụ người khác vào ‘ashram’ của mình!
14. Yet an attitude of alertness and keen observation may be useful. Lines are being formed which may, in later lives, become more palpable. Presently, they may be delicate and easily disturbed. An attitude of respect for the “Great Magnet” is best. We have much to learn in these matters about subjective magnetism.
14. Tuy nhiên, thái độ tỉnh táo và quan sát nhạy bén có thể hữu ích. Những đường dây đang hình thành có thể trở nên rõ nét hơn trong các kiếp sau. Hiện tại, chúng có thể còn mảnh mai và dễ bị xáo trộn. Thái độ tôn trọng “Nam Châm Vĩ Đại” là tốt nhất. Chúng ta còn nhiều điều phải học về từ điện chủ quan trong những vấn đề này.
Let me now give you six statements which can form, if you so desire, six seed thoughts upon this particular theme during the coming year.
Giờ đây, Tôi sẽ trao cho em sáu phát biểu mà, nếu em muốn, có thể dùng làm sáu tư tưởng hạt giống về chủ đề đặc biệt này trong năm tới.
1. All of the Tibetan’s disciples were given six seed thoughts at this particular juncture of their work.
1. Tất cả các đệ tử của Chân sư Tây Tạng đều được trao sáu tư tưởng hạt giống tại thời điểm đặc biệt này trong công việc của họ.
2. Perhaps the Tibetan did not know how long He would be working with these disciples. It turns out that the six thoughts were exceedingly important for each disciple, and conveyed to him or her energies which would prove useful in years to come — even after the Tibetan ceased His outer work with AAB.
2. Có lẽ Chân sư Tây Tạng không biết Ngài sẽ làm việc với những đệ tử này trong bao lâu. Hóa ra sáu tư tưởng ấy vô cùng quan trọng đối với mỗi đệ tử, và truyền đến họ những năng lượng sẽ tỏ ra hữu ích trong những năm sắp tới — ngay cả sau khi Chân sư Tây Tạng chấm dứt công việc bên ngoài của Ngài với Bà AAB.
3. We note again, that there is no compulsion involved. The phrase “if you so desire” is utilized, and it indicates the complete freedom of the chela to follow or not to follow the Master’s indications.
3. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng ở đây không có sự ép buộc nào. Cụm từ “nếu em muốn” được sử dụng, cho thấy người đệ tử hoàn toàn tự do làm theo hoặc không làm theo những chỉ dẫn của Chân sư.
1. The Ashram pulsates with life. Its radiation penetrates the outer gloom and dark; waiting aspirants, one by one, and all alone, appear within the beam of light.
1. Ashram rung nhịp sự sống. Sự tỏa chiếu của ashram xuyên qua cảnh u ám và bóng tối bên ngoài; từng người chí nguyện đang chờ đợi, mỗi người một mình, xuất hiện trong tia sáng.
1. Pulsation is a first ray dynamic. To aspirants and disciples the Ashram (no matter what its ray) has a first ray function. It is the center from which the Master’s will emanates.
1. Sự rung nhịp là một động thái của cung một. Đối với những người chí nguyện và đệ tử, ashram (bất kể thuộc cung nào) có chức năng cung một. Đó là trung tâm phát ra ý chí của Chân sư.
2. These sentences deal with life, radiation and light. The pulsation of life produces a radiation which penetrates the “outer gloom and dark” (the normal condition of the three lower worlds in which the aspirant or disciple habitually lives).
2. Những câu này bàn đến sự sống, sự tỏa chiếu và ánh sáng. Nhịp đập của sự sống tạo ra sự tỏa chiếu xuyên qua “màn u ám và bóng tối bên ngoài” (tình trạng thông thường của ba cõi thấp mà người chí nguyện hoặc đệ tử thường sống trong đó).
3. Within the gloom and dark, aspirants wait. They are powerless to do much else along the lines of spiritual penetration until they are reached by the radiation.
3. Trong màn u ám và bóng tối, những người chí nguyện chờ đợi. Họ không đủ sức làm được gì nhiều hơn theo hướng thâm nhập tinh thần cho đến khi sự tỏa chiếu chạm đến họ.
4. The radiation finds the ready ones, one by one.
4. Sự tỏa chiếu tìm đến từng người đã sẵn sàng.
5. We realize that DK is giving RVB instructions concerning how he, himself, may work. In the gloom and dark, there are aspirants who are waiting for the beam from him. These statements give him a method for finding and recognizing “his own”.
5. Chúng ta nhận ra rằng Chân sư DK đang chỉ dẫn RVB về cách chính ông có thể làm việc. Trong màn u ám và bóng tối, có những người chí nguyện đang chờ đợi tia sáng từ ông. Những phát biểu này trao cho ông một phương pháp để tìm kiếm và nhận ra “những người thuộc về mình”.
6. It is interesting that the aspirants who may be affiliated with RVB, or with any representative of an Ashram, appear singly, one by one. They do not come forward in droves. Quality has answered quality, and each ‘located aspirant’ is subjected to a delicate and discriminative process. The source emitting the light has the responsibility to sustain the pulsation, as the aspirant draws closer (or, from time to time, temporarily retreats).
6. Điều thú vị là những người chí nguyện có thể gắn kết với RVB, hoặc với bất kỳ đại diện nào của một ashram, đều xuất hiện riêng lẻ, từng người một. Họ không kéo đến thành đám đông. Phẩm tính đã đáp ứng phẩm tính, và mỗi ‘người chí nguyện được tìm thấy’ đều trải qua một tiến trình tinh tế và có sự phân biện. Nguồn phát ánh sáng có trách nhiệm duy trì nhịp rung khi người chí nguyện tiến lại gần hơn (hoặc thỉnh thoảng tạm thời lui bước).
7. Probably, these statements, also give RVB certain hints about how he may approach his own Ashram more directly and achieve greater intimacy with it and within it.
7. Có lẽ những phát biểu này cũng trao cho RVB một số gợi ý về cách ông có thể tiếp cận ashram của mình trực tiếp hơn và đạt được sự gắn bó mật thiết hơn với ashram cũng như trong ashram.
2. Along that beam the chela travels towards the central [561] point of light, the Master in His Ashram. The Master waits. He moves not forth but quietly radiates.
2. Dọc theo tia sáng ấy, đệ tử tiến về điểm ánh sáng trung [561] tâm, là Chân sư trong ashram của Ngài. Chân sư chờ đợi. Ngài không bước ra mà lặng lẽ tỏa chiếu.
1. RVB is asked to understand the nature of a “beam” of light which emanates from the Ashram. To one such beam he is, no doubt, responding. As well, he may be the emanating source of a kind of beam which relates to the subtle, subjective ingathering process in which he is presently engaged, and will be engaged in the next life or lives ahead.
1. RVB được yêu cầu thấu hiểu bản chất của một “tia” sáng phát ra từ ashram. Chắc chắn ông đang đáp ứng với một tia sáng như thế. Đồng thời, ông có thể là nguồn phát ra một loại tia sáng liên quan đến tiến trình quy tụ tinh tế, chủ quan mà ông hiện đang tham gia, và sẽ tiếp tục tham gia trong kiếp tới hoặc những kiếp sắp đến.
2. The beam leads to a point. The Master is that “point of light”. From one perspective, a beam is a symbol of the second ray; the “point of light” a symbol of the first ray.
2. Tia sáng dẫn đến một điểm. Chân sư là “điểm sáng” ấy. Từ một góc nhìn, tia sáng là biểu tượng của cung hai; “điểm sáng” là biểu tượng của cung một.
3. In the earlier statement, the aspirant was discovered “waiting”. Now it is the Master who waits.
3. Trong phát biểu trước, người ta thấy người chí nguyện đang “chờ đợi”. Giờ đây, chính Chân sư là người chờ đợi.
4. The Master’s mode of approach is indicated. It is not a dynamic rushing forth. Instead the Master “holds the center”, quietly radiating. Presumably the chela (functioning within the beam) attunes with the quality of the central point, and thus the magnetism and drawing power of the central point are felt more strongly.
4. Phương thức tiếp cận của Chân sư được chỉ ra. Đó không phải là sự lao tới mạnh mẽ. Thay vào đó, Chân sư “giữ vững trung tâm”, lặng lẽ tỏa chiếu. Có lẽ người đệ tử (hoạt động trong tia sáng) hòa điệu với phẩm tính của điểm trung tâm, nhờ đó từ điện và sức hút của điểm trung tâm được cảm nhận mạnh mẽ hơn.
3. The chela enters through the door into the Ashram and stands before the Master of his life. He knows himself to be a soul. He knows that now his mind and all the lower natural forces must radiate the light he has attained.
3. Đệ tử bước qua cửa vào ashram và đứng trước Chân sư của đời mình. Y biết mình là một linh hồn. Y biết rằng giờ đây thể trí cùng mọi mãnh lực tự nhiên thấp của mình phải tỏa chiếu ánh sáng mà y đã đạt được.
1. The chela passes through what is here called the “door into the Ashram”. He has fulfilled the vibratory qualifications and is no longer barred from the vibratory level which the Master habitually demonstrates within His Ashram. There are, however, aspects of the Master which necessarily vibrate at a much higher level than the entering chela can detect or appreciate.
1. Người đệ tử bước qua điều ở đây được gọi là “cánh cửa vào ashram”. Y đã đáp ứng các điều kiện về rung động và không còn bị ngăn khỏi cấp độ rung động mà Chân sư thường biểu lộ trong ashram của Ngài. Tuy nhiên, có những phương diện của Chân sư tất yếu rung động ở cấp độ cao hơn nhiều so với mức người đệ tử mới gia nhập có thể nhận biết hoặc lĩnh hội.
2. Entry has been gained and the chela “stands before the Master of his life”. He knows himself to be an accepted disciple. Perhaps, he is becoming a “chela on the thread”.
2. Người đệ tử đã được gia nhập và “đứng trước Chân sư của đời mình”. Y biết mình là một đệ tử được chấp nhận. Có lẽ y đang trở thành một “đệ tử trên đường dây”.
3. Only the soul can enter the Ashram. The personality stays without the “door”. The disciple knows himself to be a soul. He is no longer identified with the personality but he knows that his personality must evidence the light which he has experienced within the Ashram.
3. Chỉ linh hồn mới có thể vào ashram. Phàm ngã ở lại bên ngoài “cánh cửa”. Người đệ tử biết mình là một linh hồn. Y không còn đồng hóa với phàm ngã, nhưng biết rằng phàm ngã của mình phải biểu lộ ánh sáng mà y đã trải nghiệm trong ashram.
4. In all these statements to RVB, it is clear that he is being instructed in modes of ‘ashramic entry’.
4. Trong tất cả những phát biểu này dành cho RVB, rõ ràng ông đang được chỉ dẫn về các phương thức ‘gia nhập ashram’.
4. As one by one the chelas find their way into the Ashram and to the central Light, the light therein intensifies. The radiation of the Ashram waxes to a great intensity. The tiny beam of light focussed within the chela's heart, directed by his eye, penetrates in turn the outer gloom and is seen by those who wait.
4. Khi từng đệ tử tìm được đường vào ashram và đến với Ánh sáng trung tâm, ánh sáng trong đó càng tăng cường. Sự tỏa chiếu của ashram gia tăng đến một cường độ lớn lao. Tia sáng nhỏ bé hội tụ trong tim đệ tử, do mắt y định hướng, đến lượt nó xuyên qua cảnh u ám bên ngoài và những người đang chờ đợi nhìn thấy tia sáng ấy.
1. We are dealing here with the augmentation of the light of the Ashram. This light increases as more and more chelas are drawn toward the central Light and succeed in standing before the Master.
1. Ở đây, chúng ta đang bàn đến sự gia tăng ánh sáng của ashram. Ánh sáng này tăng lên khi ngày càng có nhiều đệ tử được thu hút về phía Ánh sáng trung tâm và thành công trong việc đứng trước Chân sư.
2. An Ashram is not center with a fixed intensity of light and power. It can and will grow in strength as its personnel increases. Ashrams are of all kinds of qualities and energic intensities.
2. Một ashram không phải là trung tâm có cường độ ánh sáng và quyền năng cố định. Ashram có thể và sẽ gia tăng sức mạnh khi số thành viên tăng lên. Các ashram có đủ loại phẩm tính và cường độ năng lượng.
3. We receive an important occult hint here concerning the “tiny beam of light focussed within the chela’s heart”. There is a foundational meditation called “The Master in the Heart”. It is, it would seem, related to this “tiny beam of light”. Where does the radiating beam from the Ashram and its central point, the Master, anchor itself within the chela’s energy system?
3. Ở đây, chúng ta nhận được một gợi ý huyền bí quan trọng về “tia sáng nhỏ bé tập trung trong tim người đệ tử”. Có một bài thiền nền tảng mang tên “Chân sư trong Tim”. Dường như bài thiền ấy liên quan đến “tia sáng nhỏ bé” này. Tia sáng tỏa ra từ ashram và điểm trung tâm của nó, tức Chân sư, neo lại ở đâu trong hệ thống năng lượng của người đệ tử?
4. We see how the heart and ajna centers may be used together in service. Ashramic light is anchored in the chela’s heart, but the energy of that light may be directed in service (through the eye/ajna) by the chela as he faces a sphere of obligation in the outer, lower world.
4. Chúng ta thấy cách trung tâm tim và trung tâm ajna có thể cùng được sử dụng trong phụng sự. Ánh sáng ashram neo trong tim người đệ tử, nhưng y có thể định hướng năng lượng của ánh sáng ấy vào phụng sự (qua mắt/ajna) khi đối diện với một phạm vi trách nhiệm trong thế giới thấp bên ngoài.
5. Just as the chela saw the light of the Ashram in statement number one, so now, others (appearing to him as aspirants) see his light, just as he appeared to (and saw the light of) those who were the source of light emanating from the Ashram.
5. Cũng như người đệ tử đã thấy ánh sáng của ashram trong phát biểu thứ nhất, giờ đây những người khác (xuất hiện trước y như những người chí nguyện) thấy ánh sáng của y, giống như y đã xuất hiện trước những người là nguồn ánh sáng phát ra từ ashram (và đã thấy ánh sáng của họ).
6. Relation between heart and eye would, at this point, repay much pondering. Perhaps revelation will come on the dynamics of that stage of discipleship which is called “chela on the thread”.
6. Ở điểm này, việc suy ngẫm sâu về mối quan hệ giữa tim và mắt sẽ mang lại nhiều lợi ích. Có lẽ sự mặc khải sẽ đến về động lực của giai đoạn trong địa vị đệ tử được gọi là “đệ tử trên đường dây”.
5. Within the Ashram I have taken my place. My little light is merged and blended with the greater light, for thus I best can serve. I face the Master and know His light and mine to be the same. I turn and send my light into the dark, to guide some wanderer home.
5. Trong ashram, tôi đã nhận lấy vị trí của mình. Ánh sáng nhỏ bé của tôi hòa nhập và hòa quyện với ánh sáng lớn hơn, vì như vậy tôi mới có thể phụng sự tốt nhất. Tôi hướng về Chân sư và biết ánh sáng của Ngài cùng ánh sáng của tôi là một. Tôi quay lại và gửi ánh sáng của mình vào bóng tối, để dẫn một người lữ hành lạc bước trở về nhà.
1. The chela has now become the “chela within the aura”. He is a full and conscious member of the Ashram. He has taken his place.
1. Giờ đây, người đệ tử đã trở thành “đệ tử trong hào quang”. Y là một thành viên đầy đủ và có ý thức của ashram. Y đã nhận lấy vị trí của mình.
2. He knows the difference between his “little light” and the greater light of the Master but he recognizes that they are blended. This blending augments the power of his service.
2. Y biết sự khác biệt giữa “ánh sáng nhỏ bé” của mình và ánh sáng lớn hơn của Chân sư, nhưng nhận ra rằng chúng hòa quyện với nhau. Sự hòa quyện này gia tăng quyền năng phụng sự của y.
3. The disciple within the Ashram becomes Janus, the two-faced god of Gemini, facing in two directions — towards the Master with Whose Light he blends his own, and towards the dark, into which he sends his little light to guide some wanderer home. The images are very beautiful and reveal in poetic language the nature of ashramic accomplishment.
3. Người đệ tử trong ashram trở thành Janus, vị thần hai mặt của Song Tử, hướng về hai phía — về Chân sư, với Ánh sáng của Ngài mà y hòa quyện ánh sáng của mình vào, và về bóng tối, nơi y gửi ánh sáng nhỏ bé của mình đến để dẫn một người lữ hành lạc lối trở về nhà. Những hình ảnh này rất đẹp và dùng ngôn ngữ thi ca để hé lộ bản chất của sự thành tựu trong ashram.
4. Perhaps one faces the Master with one’s heart, and others through the aid of one’s activated ajna center.
4. Có lẽ người ta hướng về Chân sư bằng trái tim, và hướng về người khác nhờ trung tâm ajna đã được khơi hoạt.
5. There is no question that at a certain point of ashramic affiliation, the disciple recognizes that the Master has, indeed, taken up residence in his heart.
5. Chắc chắn rằng ở một thời điểm nhất định trong quá trình gắn kết với ashram, người đệ tử nhận ra Chân sư quả thực đã an trú trong tim mình.
6. Grant me the light that I may shine. Let me throughout the world of time and space radiate light, create a light, transmit the light, and treading thus the Lighted Way (which is my Lighted Self), enter the light and so return the light to those who need, to Those likewise from whence it came.
6. Xin ban cho con ánh sáng để con có thể tỏa sáng. Xin cho con, khắp thế giới thời gian và không gian, tỏa chiếu ánh sáng, tạo nên ánh sáng, truyền ánh sáng, và khi bước trên Con Đường được Soi Sáng như thế (vốn là Bản Ngã được Soi Sáng của con), con bước vào ánh sáng và nhờ đó trao lại ánh sáng cho những ai cần đến, cũng như dâng trả lên Các Đấng mà từ đó ánh sáng đã đến.
1. The disciple, now initiate, has come to a stage of consummation. He is engaged in full ashramic functioning.
1. Người đệ tử, giờ đây là điểm đạo đồ, đã đạt đến một giai đoạn viên mãn. Y đang hoạt động trọn vẹn trong ashram.
2. The words are exultant. All light granted from the Master and His Ashram is radiated in service. The disciple desires to shine, not that he may be admired, but that he may increase the quantity of light shared with others.
2. Những lời này chan chứa hân hoan. Mọi ánh sáng được ban từ Chân sư và ashram của Ngài đều được tỏa chiếu trong phụng sự. Người đệ tử mong muốn tỏa sáng để có thể gia tăng lượng ánh sáng chia sẻ với người khác, chứ không phải để được ngưỡng mộ.
3. He asks to radiate, create and transmit light. He has become a true “light bearer”.
3. Y cầu xin được tỏa chiếu, tạo ra và truyền ánh sáng. Y đã trở thành một “người mang ánh sáng” đích thực.
4. He recognizes himself as treading the “Lighted Way” which, really, is his “Lighted Self” (the Self which is the soul, triad and spirit).
4. Y nhận ra mình đang bước trên “Con Đường được Soi Sáng”, vốn thực sự là “Bản Ngã được Soi Sáng” của y (Bản Ngã là linh hồn, tam nguyên tinh thần và tinh thần).
5. He is now capable of radiating the light fully into areas of darkness and need.
5. Giờ đây, y có khả năng tỏa chiếu ánh sáng trọn vẹn vào những vùng tối tăm và thiếu thốn.
6. He is also capable of returning the light to Those from whence it came. What may be described here is that consummating stage which is called the “blending of the lights”. It is a climactic stage of ashramic relationship, and obviously lies far beyond the stage which RVB has reached, yet is given for the sake of inspiration.
6. Y cũng có khả năng hoàn trả ánh sáng cho các Đấng mà từ đó ánh sáng đã đến. Điều có thể được mô tả ở đây là giai đoạn viên mãn được gọi là “sự hòa quyện của các ánh sáng”. Đây là một giai đoạn đỉnh cao của mối quan hệ với ashram, và rõ ràng vượt xa giai đoạn mà RVB đã đạt tới, nhưng được trao ra để khơi nguồn cảm hứng.
7. The disciple/initiate for whom the sixth statement is real is coming very close to the pronouncement of the Christ: “I am the Light of the world”.
7. Người đệ tử/điểm đạo đồ mà đối với y phát biểu thứ sáu đã trở thành hiện thực đang tiến rất gần đến lời tuyên bố của Đức Christ: “Ta là Ánh sáng của thế gian”.
Thus, my brother and my friend, travel life's way; work in my Ashram; aid your fellowmen, and know the joy of constant service and sacrifice.
Vậy, hỡi huynh đệ và bằng hữu của Tôi, hãy tiến bước trên đường đời; hãy làm việc trong ashram của Tôi; hãy trợ giúp đồng loại, và biết đến sự hoan hỉ của việc phụng sự và hi sinh không ngừng.
1. The Tibetan is speaking to a disciple in His Ashram. RVB is addressed not only as a “brother”, but as a “friend”, indicating a progressing stage of relationship with the Master.
1. Chân sư Tây Tạng đang nói với một đệ tử trong ashram của Ngài. RVB được gọi không chỉ là một “huynh đệ”, mà còn là một “người bạn”, cho thấy mối quan hệ với Chân sư đang tiến triển.
2. RVB is called to a high quality of ashramic living, to the “joy of constant service and sacrifice”. Only someone who had entered the Ashram could respond with understanding and positivity to those words. DK obviously knows that RVB has arrived at that point.
2. RVB được kêu gọi sống đời sống ashram có phẩm tính cao, hướng đến “sự hoan hỉ của việc phụng sự và hi sinh không ngừng”. Chỉ người đã gia nhập ashram mới có thể đáp ứng những lời ấy bằng sự thấu hiểu và thái độ tích cực. Rõ ràng Chân sư DK biết rằng RVB đã đạt đến điểm đó.
November 1944 – Tháng Mười Một năm 1944
MY BROTHER AND FELLOW-WORKER:
HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI CỘNG SỰ CỦA TÔI:
Your spiritual life has deepened during this past year and your light within the Ashram shines brighter. I think that it is only fair to tell you this for your encouragement. The loneliness of your life warrants at times my endorsing any spiritual confidence of which you may be possessed. Disciples need to learn sometimes that their spiritual status is not always [561] evocative of a life of violent outward activity. For such as you, with the handicap of a frail body and the limitations of karma, the place of triumph has to be exactly where you stand and within the circumference of a somewhat limited physical sphere. There — with no outer stimulation — the disciple himself, alone, becomes a focal point of power. His influence can then reach out to points unexpected and oft unknown to him. Frequently, prior to a definite step forward of a pronounced kind which is not due simply to a normal progress of a persistent aspirant, the soul of the disciple forces him into a quiet place where he has both the inclination and the time to deepen, to integrate more consciously into the Ashram, and to focus with definite intention upon work in mental matter, under clear, inner impression. Such is now your opportunity.
Đời sống tinh thần của em đã sâu sắc hơn trong năm qua, và ánh sáng của em trong ashram tỏa sáng hơn. Tôi nghĩ việc nói cho em biết điều này để khích lệ em là hoàn toàn chính đáng. Cuộc sống cô đơn của em đôi lúc khiến Tôi cần xác nhận bất cứ niềm tự tin tinh thần nào mà em có. Đôi khi, các đệ tử cần học rằng vị thế tinh thần của họ không phải lúc nào cũng [562] khơi dậy một cuộc sống hoạt động mãnh liệt ở bên ngoài. Đối với những người như em, chịu trở ngại vì thân thể yếu ớt và những giới hạn của nghiệp quả, nơi giành chiến thắng phải chính là nơi em đang đứng, trong phạm vi của một khối cầu hồng trần có phần hạn hẹp. Tại đó—không có sự kích thích bên ngoài—chính đệ tử, một mình, trở thành một tiêu điểm quyền năng. Khi ấy, ảnh hưởng của y có thể vươn tới những nơi bất ngờ và thường chính y cũng không biết. Thường thì, trước một bước tiến rõ rệt, nổi bật, không chỉ do sự tiến bộ bình thường của một người chí nguyện kiên trì, linh hồn của đệ tử buộc y vào một nơi yên tĩnh, nơi y vừa có khuynh hướng vừa có thời gian để trở nên sâu sắc hơn, tích hợp một cách có ý thức hơn vào ashram, và tập trung với chủ đích rõ ràng vào công việc trong vật chất trí tuệ, dưới ấn tượng nội tâm sáng rõ. Đó là cơ hội hiện nay của em.
1. The Master is no longer writing His chelas every six months. This letter follows the previous one by approximately one year and two months.
1. Chân sư không còn viết thư cho các đệ tử của Ngài mỗi sáu tháng một lần. Bức thư này cách bức trước khoảng một năm hai tháng.
2. Thoughts are communicated which only a Master can know — namely concerning the intensity of the chela’s light as it shines within the Ashram.
2. Những tư tưởng được truyền đạt ở đây liên quan đến điều mà chỉ một Chân sư mới có thể biết — cụ thể là cường độ ánh sáng của người đệ tử khi ánh sáng ấy tỏa chiếu trong ashram.
3. DK often tells His chelas that He has little time to pat them on the back or encourage them. Rather, His few words may deal with areas of their lives which need improvement. Here, again, however, He offers words of encouragement, as He frequently did for JWK-P. DK knows the general personal conditions in which His chelas live, especially if such conditions may affect their group functioning or usefulness. He knows the loneliness of RVB’s life (a loneliness no doubt emphasized by the ending of the relationship which led him for several years to discontinue his association with DK’s work). Cognizant of this, DK seeks to strengthen whatever spiritual confidence RVB possesses.
3. Chân sư DK thường nói với các đệ tử của Ngài rằng Ngài có ít thời gian để vỗ về hoặc khích lệ họ. Thay vào đó, vài lời ngắn ngủi của Ngài có thể bàn đến những khía cạnh cần cải thiện trong đời sống họ. Tuy nhiên, ở đây một lần nữa Ngài đưa ra những lời khích lệ, như Ngài thường làm với JWK-P. Chân sư DK biết những hoàn cảnh cá nhân nói chung mà các đệ tử của Ngài đang sống, nhất là khi những hoàn cảnh ấy có thể ảnh hưởng đến hoạt động nhóm hoặc tính hữu ích của họ. Ngài biết sự cô đơn trong đời sống RVB (một sự cô đơn chắc chắn càng sâu sắc hơn do sự chấm dứt mối quan hệ đã khiến ông ngừng gắn kết với công việc của Chân sư DK trong vài năm). Nhận biết điều này, Chân sư DK tìm cách củng cố bất kỳ niềm tự tin tinh thần nào mà RVB có.
4. It may be that in earlier days (when working at Headquarters) RVB’s outer life was more active. We are proposing, after all, that he had an Aries Ascendant, with its ruling planet, Mars, in a sign often associated with strenuous physical activity — Virgo.
4. Có thể vào thời gian trước (khi làm việc tại Trụ sở), đời sống bên ngoài của RVB năng động hơn. Xét cho cùng, chúng ta đang đề xuất rằng ông có Điểm mọc Bạch Dương, với chủ tinh của dấu hiệu này là Sao Hỏa nằm trong một dấu hiệu thường gắn với hoạt động thể chất vất vả — Xử Nữ.
5. The Master assesses his chela’s life circumstances. He calls for triumph in a place of karmic and bodily limitation, offering wise words about subjective possibilities.
5. Chân sư đánh giá hoàn cảnh sống của đệ tử Ngài. Ngài kêu gọi giành chiến thắng ngay tại nơi chịu những giới hạn nghiệp quả và thân thể, đồng thời đưa ra những lời minh triết về các khả năng chủ quan.
6. RVB’s life has become outwardly quiet; there is no significant outward stimulation. That which he must generate must emerge from himself. He is facing subtle spiritual opportunity.
6. Đời sống bên ngoài của RVB đã trở nên yên tĩnh; không có sự kích thích bên ngoài đáng kể nào. Những gì ông phải tạo ra đều phải phát sinh từ chính ông. Ông đang đối diện với một cơ hội tinh thần tinh tế.
7. Frequently we are bewildered by circumstances, thinking that an apparently uneventful life (in the outer sense) is an inconsequential life. But the disciple’s influence may be far greater than he/she suspects. It the disciple’s subtle energy which is of real use to the world, and that energy may assist unknown people in unknown ways. Once again, we are encouraged to work correctly without attachment to results. It is a difficult lesson to learn, as for millennia we have judged according to the condition of form and circumstance. When the esoteric sense becomes a reality, we can also make progress in the process of detaching from outer results.
7. Chúng ta thường hoang mang trước hoàn cảnh, nghĩ rằng một đời sống dường như không có biến cố gì (theo nghĩa bên ngoài) là một đời sống không có ý nghĩa. Nhưng ảnh hưởng của người đệ tử có thể lớn hơn nhiều so với điều người ấy ngờ tới. Chính năng lượng tinh tế của người đệ tử mới thực sự hữu ích cho thế giới, và năng lượng ấy có thể trợ giúp những người không quen biết theo những cách không được biết đến. Một lần nữa, chúng ta được khuyến khích làm việc đúng đắn mà không dính mắc vào kết quả. Đây là một bài học khó, vì suốt nhiều thiên niên kỷ chúng ta đã phán xét theo tình trạng của hình tướng và hoàn cảnh. Khi cảm quan huyền bí trở thành hiện thực, chúng ta cũng có thể tiến bộ trong quá trình tách rời khỏi những kết quả bên ngoài.
8. The Master seems to be telling RVB that he is preparing for a pronounced step forward, perhaps an initiation. The words are veiled but suggestive.
8. Dường như Chân sư đang nói với RVB rằng ông đang chuẩn bị cho một bước tiến rõ rệt, có lẽ là một cuộc điểm đạo. Những lời này kín đáo nhưng đầy gợi ý.
9. “Frequently, prior to a definite step forward of a pronounced kind which is not due simply to a normal progress of a persistent aspirant, the soul of the disciple forces him into a quiet place where he has both the inclination and the time to deepen, to integrate more consciously into the Ashram, and to focus with definite intention upon work in mental matter, under clear, inner impression. Such is now your opportunity.”
9. “Thường thì, trước một bước tiến rõ rệt, xác định, không đơn thuần là kết quả của sự tiến bộ bình thường của một người chí nguyện kiên trì, linh hồn người đệ tử buộc y vào một nơi yên tĩnh, nơi y vừa có khuynh hướng vừa có thời gian để trở nên sâu sắc hơn, để tích hợp vào ashram một cách có ý thức hơn, và để tập trung với chủ đích xác định vào công việc trong vật chất trí tuệ, dưới ấn tượng nội tâm rõ ràng. Giờ đây, đó chính là cơ hội của em.”
10. This “definite step forward of a pronounced kind” seems to be a code phrase for an initiatory leap. If this is the case, and well may it be, the Tibetan is helping RVB appreciate the value of the limitations of his present surroundings.Opportunity to integrate more deeply into the Ashram is presented. The work suggested is of a subtle kind, and to be pursued largely upon the mental plane.
10. “Bước tiến rõ rệt, xác định” này dường như là một cách nói hàm ẩn về bước nhảy vọt trong điểm đạo. Nếu đúng như vậy, và rất có thể là thế, Chân sư Tây Tạng đang giúp RVB nhận thức giá trị của những giới hạn trong hoàn cảnh hiện tại của ông. Cơ hội tích hợp sâu hơn vào ashram được mở ra. Công việc được gợi ý thuộc loại tinh tế và cần được theo đuổi chủ yếu trên cõi trí.
11. Can we, as disciples, realize when opportunities of this kind are with us? The Master is, perhaps, not there to tell us so explicitly the nature of our opportunity. But may we not divine it when it comes?
11. Là những đệ tử, liệu chúng ta có thể nhận ra khi những cơ hội như thế đến với mình không? Có lẽ Chân sư không hiện diện để nói rõ cho chúng ta bản chất cơ hội của mình. Nhưng chẳng lẽ chúng ta không thể trực cảm được nó khi nó đến sao?
12. The best policy would be to treat all circumstance as opportunity. In this we will not be incorrect.”
12. Cách tốt nhất là xem mọi hoàn cảnh đều là cơ hội. Làm như vậy, chúng ta sẽ không sai.”
Then all that comes is for the best — sickness, opportunity, success, and disappointment, the gibes and machinations of enemies, the lack of comprehension on the part of those we love — all is but to be used, and all exists but to be transmuted. Continuity of vision, of aspiration, and of the inner touch, is seen to be of more importance than them all. That continuity is the thing to be aimed at, in spite of, and not because of circumstances” (IHS 78)
Khi ấy, mọi điều đến đều nhằm điều tốt đẹp nhất — bệnh tật, cơ hội, thành công và thất vọng, những lời chế giễu và mưu mô của kẻ thù, sự thiếu thấu hiểu từ những người chúng ta yêu thương — tất cả đều chỉ để được sử dụng, và tất cả đều tồn tại chỉ để được chuyển hoá. Có thể thấy tính liên tục của tầm nhìn, của khát vọng và của sự tiếp xúc nội tâm quan trọng hơn tất cả những điều ấy. Chính tính liên tục đó là điều cần hướng tới, bất chấp hoàn cảnh, chứ không phải nhờ hoàn cảnh” (IHS 78)
But, my brother, to make this duly effective and to get true and real benefit out of the opportunity, the disciple must accustom himself to a complete negation of concentration upon the physical vehicle and upon his physical surroundings. Note, I did not say neglect of concentration. It is his path and destiny in life to enter upon what has been called "the higher way"; he has to learn on those levels and to live constructively there, without reducing the effectiveness of normal, practical living upon the physical plane.
Nhưng, huynh đệ của tôi, để điều này đạt hiệu quả thích đáng và để thực sự thu được lợi ích từ cơ hội ấy, đệ tử phải tập cho mình hoàn toàn chấm dứt việc tập trung vào hiện thể hồng trần và môi trường vật chất quanh mình. Hãy lưu ý, Tôi không nói là lơ là việc tập trung. Con đường và vận mệnh của y trong đời là bước vào điều được gọi là “con đường cao hơn”; y phải học hỏi trên những cấp độ ấy và sống một cách xây dựng tại đó, mà không làm giảm hiệu quả của đời sống thực tiễn, bình thường trên cõi hồng trần.
1. Another hint is given. Opportunity is presented, but can the disciple truly avail himself of the presentation?
1. Một gợi ý nữa được đưa ra. Cơ hội được mở ra, nhưng liệu người đệ tử có thực sự tận dụng được cơ hội ấy không?
2. DK lists a requirement: “negation of concentration upon the physical vehicle and upon his physical surroundings”. This is not the same as “neglect”, for there is concentration, necessitated from those who would live a normal, practical life upon the physical plane — and disciples must do so.
2. Chân sư DK nêu một yêu cầu: “phủ định sự tập trung vào hiện thể hồng trần và môi trường hồng trần quanh mình”. Điều này không giống với “sao nhãng”, vì vẫn có sự tập trung mà những người muốn sống một đời sống thực tế, bình thường trên cõi hồng trần cần phải duy trì — và các đệ tử phải sống như thế.
3. So concentration is sufficient for the carrying out of practical necessities, and yet the imprisoning effects often accompanying such concentration are negated — that is, the necessary modicum of physical concentration is not allowed to become an entrapment, a preoccupation, as it is for so many, who, when concentrating physically, cannot elevate their consciousness into higher realms.
3. Như vậy, sự tập trung đủ để thực hiện những việc cần thiết trong thực tiễn, nhưng những tác động giam hãm thường đi kèm với sự tập trung ấy lại được hóa giải — nghĩa là, mức tập trung cần thiết vào phương diện hồng trần không được phép trở thành một cái bẫy, một mối bận tâm choán hết tâm trí, như đối với rất nhiều người vốn không thể nâng tâm thức lên những cảnh giới cao hơn khi tập trung vào phương diện hồng trần.
4. A kind of dual focus is necessitated, with the greater part of the focus ‘above’, and a sufficiency of focus ‘below’.
4. Cần có một kiểu tập trung kép, với phần lớn sự tập trung ở ‘trên’, và một mức tập trung vừa đủ ở ‘dưới’.
5. Naturally, an appropriately balanced dual focus becomes more difficult when the physical vehicle and physical circumstances seem to cry out for attention due to bodily problems and circumstantial constraints.
5. Dĩ nhiên, việc duy trì sự tập trung kép cân bằng thích hợp trở nên khó khăn hơn khi hiện thể hồng trần và hoàn cảnh hồng trần dường như đòi hỏi sự chú ý cấp thiết do những vấn đề của thân thể và những hạn chế của hoàn cảnh.
6. The Tibetan is preparing His disciple to tread, eventually, “the higher way”. Although the true “Higher Way” will not occur until after the disciple/initiate has become a Master, the disciple in his/her attitude and approach can prepare.
6. Chân sư Tây Tạng đang chuẩn bị cho đệ tử của Ngài để cuối cùng bước trên “con đường cao hơn”. Mặc dù “Con Đường Cao Hơn” đích thực chỉ mở ra sau khi người đệ tử/điểm đạo đồ đã trở thành một Chân sư, người đệ tử vẫn có thể chuẩn bị qua thái độ và cách tiếp cận của mình.
7. There is so much practical wisdom to be found in almost every sentence of the Tibetan’s. A veritable treasury of advice for practical disciplic living is presented in the pages of the DINA books.
7. Hầu như trong mỗi câu của Chân sư Tây Tạng đều có biết bao minh triết thực tiễn. Những trang sách DINA chứa đựng cả một kho tàng lời khuyên cho đời sống thực tiễn của người đệ tử.
8. Before long every reader will develop the ability to imagine that the letters are specifically addressed to him or her, and then absorption of wisdom will become increasingly possible.
8. Chẳng bao lâu, mỗi độc giả sẽ phát triển khả năng hình dung rằng các bức thư được viết riêng cho chính mình, và khi ấy, việc hấp thu minh triết sẽ ngày càng trở nên khả thi.
You might ask: To what specific end? You know that such a mode of daily life should not and must not last for several lives, because the goal thus expressed becomes increasingly active in its outer service and form. You will remember however, my brother, that there are times when the Master, speaking technically, goes into a state of consciousness which we call samadhi. This means that for a stated and qualified time, He quits His created threefold lower vehicle and "travels in consciousness" to those levels whereon the spirit aspect can commune with Him, wherein the force of the Spiritual Triad can re-stimulate and revitalise Him. On these levels, His vision is renewed and He draws from the force of Shamballa — according to His degree — the inspiration (again speaking technically) for a new cycle of service. This requires on His part absence or a state of withdrawal, [563] for the space of several hours as we count them on Earth, from His body of manifestation.
Em có thể hỏi: Nhằm mục đích cụ thể nào? Em biết rằng một lối sống hằng ngày như thế không nên và không được kéo dài qua nhiều kiếp, bởi mục tiêu biểu lộ theo cách ấy sẽ ngày càng trở nên tích cực trong việc phụng sự và hình tướng bên ngoài. Tuy nhiên, huynh đệ của tôi, em sẽ nhớ rằng có những lúc Chân sư, nói theo thuật ngữ chuyên môn, đi vào một trạng thái tâm thức mà chúng ta gọi là đại định. Điều này có nghĩa là trong một khoảng thời gian xác định và có tính chất nhất định, Ngài rời hiện thể thấp tam phân do Ngài tạo nên và “du hành trong tâm thức” đến những cấp độ nơi phương diện tinh thần có thể giao cảm với Ngài, nơi mãnh lực của Tam Nguyên Tinh Thần có thể tái kích thích và tiếp sinh lực trở lại cho Ngài. Trên những cấp độ này, tầm nhìn của Ngài được đổi mới, và tùy theo cấp độ của mình, Ngài rút ra từ mãnh lực Shamballa nguồn cảm hứng (một lần nữa, nói theo thuật ngữ chuyên môn) cho một chu kỳ phụng sự mới. Điều này đòi hỏi Ngài phải vắng mặt hoặc ở trong trạng thái triệt thoái [563] khỏi thân thể biểu hiện của Ngài trong khoảng vài giờ, theo cách chúng ta tính thời gian trên Trái Đất.
In the case of a disciple in training, true samadhi is not possible. The cycles of enforced quiet and of conscious withdrawal from the pressure of daily life out in the world of business and of men have to be of great length, though — as progress is made — these periods get shorter and shorter. On the lower turn of the spiral, the Ashram is to the disciple what the courts of Shamballa are to the Master. That is why, my brother, I gave you that special meditation last year upon the theme of the Ashram. I trust you have followed it with care.
Đối với một đệ tử đang được huấn luyện, đại định chân chính chưa thể đạt được. Những chu kỳ tĩnh lặng bắt buộc và triệt thoái có ý thức khỏi áp lực của đời sống hằng ngày trong thế giới công việc và con người phải kéo dài rất lâu, dù khi có tiến bộ, những thời kỳ này ngày càng ngắn lại. Ở vòng xoắn thấp hơn, ashram đối với đệ tử cũng như các nội điện Shamballa đối với Chân sư. Đó là lý do, huynh đệ của tôi, năm ngoái Tôi đã trao cho em bài thiền đặc biệt ấy về chủ đề ashram. Tôi tin rằng em đã cẩn thận thực hành bài thiền ấy.
1. The Tibetan speaks of the duration of the state of withdrawal prior to the “definite step forward of a pronounced kind”. DK is speaking here of the value of the “higher way”. Using analogy, He compares certain processes in a Master’s life to processes encountered in the life of disciples such as RVB.
1. Chân sư Tây Tạng nói về thời gian kéo dài của trạng thái rút lui trước khi có “một bước tiến rõ rệt mang tính nổi bật”. Ở đây, Chân sư DK đang nói về giá trị của “con đường cao hơn”. Qua phép tương đồng, Ngài so sánh một số tiến trình trong đời sống của một Chân sư với những tiến trình gặp trong đời sống của các đệ tử như RVB.
2. RVB is being urged again towards speed. A term is being placed upon this cycle of quiet and relative withdrawal. It cannot and should not last for “several lives”.
2. Một lần nữa, RVB được thúc giục tiến nhanh hơn. Chu kỳ tĩnh lặng và tương đối rút lui này đang được đặt một giới hạn thời gian. Nó không thể và không nên kéo dài trong “nhiều kiếp”.
3. DK discusses samadhi and its true purposes. During samadhi a Master “travels in consciousness”, leaving His body, perhaps only for a few hours of normal Earth time, and communing with higher planes and the energies there to be found.
3. Chân sư DK bàn về đại định và những mục đích đích thực của trạng thái này. Trong đại định, một Chân sư “du hành trong tâm thức”, rời thân thể của Ngài, có lẽ chỉ trong vài giờ theo thời gian thông thường trên Trái Đất, và giao cảm với các cõi cao hơn cùng những năng lượng hiện hữu ở đó.
4. On those higher levels, the spirit aspect can commune with the Master and the Spiritual Triad can stimulate and revitalize Him. We note that it is not the Master who communes with the spirit aspect. In this description, the Master assumes a more passive role, and the initiative is taken by those forms of life/being represented by the spirit aspect and the Spiritual Triad. We can, therefore, understand that these higher reaches of a man’s energy system are capable of initiative and are not passive.
4. Trên những cấp độ cao hơn ấy, phương diện tinh thần có thể giao cảm với Chân sư, và Tam Nguyên Tinh Thần có thể kích thích và phục hồi sinh lực cho Ngài. Chúng ta lưu ý rằng không phải Chân sư là bên giao cảm với phương diện tinh thần. Trong mô tả này, Chân sư đảm nhận một vai trò thụ động hơn, còn những hình thức sự sống/hiện tồn mà phương diện tinh thần và Tam Nguyên Tinh Thần đại diện là bên chủ động. Do đó, chúng ta có thể thấu hiểu rằng những tầng cao hơn này trong hệ thống năng lượng của con người có khả năng chủ động và không thụ động.
5. It is as if the Master is being called to the higher worlds by those aspects of Himself which can regenerate Him.
5. Dường như những phương diện của chính Chân sư có khả năng tái sinh Ngài đang kêu gọi Ngài đến các thế giới cao hơn.
6. We are told that, “on these levels, His [the Master’s] vision is renewed and He draws from the force of Shamballa — according to His degree — the inspiration (again speaking technically) for a new cycle of service.” The practical usefulness of samadhi is succinctly described here; it is surely no merely self-satisfying retreat for earthly affairs. Its purpose is clear.
6. Chúng ta được cho biết rằng, “trên những cấp độ này, tầm nhìn của Ngài [Chân sư] được đổi mới, và tùy theo cấp độ của mình, Ngài rút từ mãnh lực Shamballa nguồn cảm hứng — một lần nữa, nói theo nghĩa chuyên môn — cho một chu kỳ phụng sự mới.” Công dụng thực tiễn của đại định được mô tả súc tích ở đây; chắc chắn đó không chỉ là sự rút lui khỏi những công việc trần thế để thỏa mãn bản thân. Mục đích của trạng thái này rất rõ ràng.
7. The disciple is not capable of a true Samadhi and his withdrawal is a much more modest affair though far lengthier. The disciple’s periods of “enforced quiet and conscious withdrawal” are intended to shorten as the disciple becomes more experienced.
7. Người đệ tử chưa có khả năng đạt đại định đích thực, và sự rút lui của y có quy mô khiêm tốn hơn nhiều, dù kéo dài hơn rất nhiều. Những khoảng thời gian “buộc phải tĩnh lặng và rút lui có ý thức” của người đệ tử cần ngắn dần khi y trở nên giàu kinh nghiệm hơn.
8. The analogy continues: the Ashram is for the disciple what the courts of Shamballa are for the Master. During the quiet periods in a disciple’s life, increasing communion with the Ashram is possible. The disciple receives, thereby, from the Ashram, a proportionate measure of revitalization and inspiration.
8. Phép tương đồng tiếp tục: ashram đối với người đệ tử cũng như các triều đường Shamballa đối với Chân sư. Trong những giai đoạn tĩnh lặng của đời sống đệ tử, sự giao cảm với ashram có thể gia tăng. Nhờ đó, người đệ tử nhận từ ashram một mức độ phục hồi sinh lực và cảm hứng tương xứng.
9. In the life of RVB, Ashramic stimulation, revitalization and inspiration are, at this point, necessary. If we follow the analogy, we can infer that the Master and the Ashram can commune with him during such periods.
9. Vào thời điểm này trong đời sống RVB, sự kích thích, phục hồi sinh lực và cảm hứng từ ashram là cần thiết. Nếu theo phép tương đồng ấy, chúng ta có thể suy ra rằng Chân sư và ashram có thể giao cảm với ông trong những giai đoạn như thế.
The objective of this life of interlude and of a somewhat drastic, hampering experience, plus repeated frustration, is to fit you in a later life (next life, if you profit by the presented opportunity) for transfer into the Ashram of the Master K.H. As you know, one of the tasks I undertook in this time of world crisis was to relieve several of the Masters from the task of instructing and watching over Their junior disciples. The senior disciples and those that are called world disciples have retained their position in the older and more potent Ashrams. One of these senior disciples, A.A.B., as you well know, has aided me in this task. I also undertook to prepare certain disciples who had never been in the Ashram of either the Master K.H. or the Master M. so that they could transfer out of my Ashram into Theirs; among these you will find yourself. In your case you have here the chief reason for your present circumstances.
Mục tiêu của kiếp sống chuyển tiếp này, với trải nghiệm có phần khắc nghiệt, gây trở ngại, cùng những lần thất vọng liên tiếp, là chuẩn bị cho em trong một kiếp sau (kiếp kế tiếp, nếu em tận dụng cơ hội được trao) để chuyển dịch vào ashram của Chân sư KH. Như em biết, một trong những nhiệm vụ Tôi đảm nhận trong thời kỳ khủng hoảng thế giới này là giúp một số Chân sư giảm bớt công việc huấn thị và trông nom các đệ tử ít thâm niên của Các Ngài. Những đệ tử thâm niên và những người được gọi là đệ tử thế giới vẫn giữ vị trí của mình trong các ashram lâu đời và mạnh mẽ hơn. Như em biết rõ, một trong những đệ tử thâm niên ấy, A.A.B., đã giúp Tôi trong nhiệm vụ này. Tôi cũng đảm nhận việc chuẩn bị cho một số đệ tử chưa từng ở trong ashram của Chân sư KH hay Chân sư M., để họ có thể chuyển dịch từ ashram của Tôi sang ashram của Các Ngài; em nằm trong số đó. Trong trường hợp của em, đây là lý do chủ yếu cho hoàn cảnh hiện tại của em.
1. The Tibetan describes the possible future. We note the use of the word, “interlude”, and we realize that this phase of RVB’s life has been planned by the Solar/Angel. Assessing the needs of RVB as a developing soul, Solar Angel has chosen a Libran life (the Sun, and two important planets are in Libra), and Libra is the sign which controls the interludes.( The whole matter of how life circumstances are chosen is of great interest. It would seem that as the individual advances, consultation on causal levels with the Solar Angel could become increasingly possible.)
1. Chân sư Tây Tạng mô tả tương lai có thể xảy ra . Chúng ta lưu ý việc dùng từ “khoảng lặng”, và nhận ra rằng Thái dương Thiên Thần đã hoạch định giai đoạn này trong đời sống RVB. Khi đánh giá những nhu cầu của RVB với tư cách một linh hồn đang phát triển, Thái dương Thiên Thần đã chọn một kiếp sống mang tính Thiên Bình — Mặt Trời và hai hành tinh quan trọng đều ở Thiên Bình — và Thiên Bình là dấu hiệu kiểm soát các khoảng lặng. (Toàn bộ vấn đề về cách lựa chọn hoàn cảnh sống rất đáng quan tâm. Dường như khi cá nhân tiến bộ, việc tham vấn Thái dương Thiên Thần trên các cấp độ nguyên nhân có thể ngày càng trở nên khả thi.)
2. We see that this period in RVB’s life is characterized by some rather Saturnian experiences, and, indeed, a consideration of RVB’s proposed astrological reveals that transiting Saturn is square to his Libran Sun and, quite close to the fourth house cusp (representing “home” and “the Ashram”), bringing the experience of confinement — a confinement which could contribute to the ‘deepening’ of his spiritual life and contacts.
2. Chúng ta thấy giai đoạn này trong đời sống RVB mang dấu ấn của một số trải nghiệm khá đậm tính Sao Thổ, và quả thật, việc xem xét lá số chiêm tinh được đề xuất cho RVB cho thấy Sao Thổ quá cảnh tạo góc vuông với Mặt Trời Thiên Bình của ông và ở khá gần đỉnh nhà 4 — tượng trưng cho “mái nhà” và “ashram” — mang lại trải nghiệm bị bó buộc; sự bó buộc này có thể góp phần ‘làm sâu sắc’ đời sống và những tiếp xúc tinh thần của ông.
3. Interpreted from the personality perspective, the events would seem to be nothing but frustrating, but the Tibetan explains the reason for the outer difficulties. RVB is under preparation for transfer the Ashram of the Master KH, a Chohan. Transfer into the Ashram of a Chohan is no light matter, and requires considerable preparation (about which the one being transferred probably knows little, unless, as in this case, informed by a Master).
3. Nếu diễn giải từ góc nhìn phàm ngã, những sự kiện ấy dường như chỉ gây thất vọng, nhưng Chân sư Tây Tạng giải thích lý do của những khó khăn bên ngoài. RVB đang được chuẩn bị để chuyển dịch vào ashram của Chân sư KH, một Đế Quân. Việc chuyển dịch vào ashram của một Đế Quân không phải chuyện nhỏ, và đòi hỏi sự chuẩn bị đáng kể — điều mà người sắp chuyển dịch có lẽ biết rất ít, trừ khi được một Chân sư cho biết như trong trường hợp này.
4. DK speaks as if this transfer is inevitable, but the time equation, it seems, is in RVB’s hands. If he profits from the present interlude of (shall we say) ‘ashramic deepening’, the transfer may come as soon as his next life.
4. Chân sư DK nói như thể sự chuyển dịch này là điều chắc chắn, nhưng dường như yếu tố thời gian nằm trong tay RVB. Nếu ông tận dụng khoảng lặng hiện tại để, có thể nói là, ‘đào sâu mối liên hệ với ashram’, sự chuyển dịch có thể diễn ra ngay trong kiếp kế tiếp của ông.
5. In the next sentences, the Master tells us much about categories of discipleship. He gives us a sequence to ponder: “junior” disciple, “senior” disciple and “world” disciple. Some of those belonging to the class of junior disciples related to the Master KH were transferred to Master DK’s Ashram to relieve Master KH of some of the burden of His work. DK may also have taken some junior disciples from the Ashrams of other Masters not on the second ray.
5. Trong những câu tiếp theo, Chân sư cho chúng ta biết nhiều điều về các cấp loại của địa vị đệ tử. Ngài đưa ra một trình tự để chúng ta suy ngẫm: đệ tử “sơ cấp”, đệ tử “cao cấp” và đệ tử “thế giới”. Một số người thuộc lớp đệ tử sơ cấp có liên hệ với Chân sư KH đã được chuyển sang ashram của Chân sư DK để giảm bớt phần nào gánh nặng công việc cho Chân sư KH. Chân sư DK cũng có thể đã tiếp nhận một số đệ tử sơ cấp từ ashram của các Chân sư khác không thuộc cung hai.
6. If we wish to speculate upon the initiatory ranking of such categories of disciples, we might propose that “junior disciples” have not yet taken the second initiation; “senior disciples” have taken the second initiation and are approaching the third; “world disciples”, are disciples whose rank is the third degree or very close to it. At least they have achieved the developments necessary to take the third initiation, whether or not that initiatory event has actually occurred.
6. Nếu muốn suy đoán về cấp bậc điểm đạo của các loại đệ tử ấy, chúng ta có thể đề xuất rằng “các đệ tử sơ cấp” chưa trải qua lần điểm đạo thứ hai; “các đệ tử cao cấp” đã trải qua lần điểm đạo thứ hai và đang tiến gần lần điểm đạo thứ ba; “các đệ tử thế giới” là những đệ tử ở cấp độ thứ ba hoặc rất gần cấp độ ấy. Ít nhất, họ đã đạt được những bước phát triển cần thiết để trải qua lần điểm đạo thứ ba, dù sự kiện điểm đạo ấy đã thực sự diễn ra hay chưa.
7. RVB is soon to be incorporated in the Ashram of Master KH, but, previously, was not a member of either DK’s Ashram or that of KH. We learn that DK (as well as taking on the training of certain, already affiliated “junior disciples” in KH’s or M’s Ashrams) had also undertaken the training of a number of disciples (such as RVB) who had no previous ashramic membership. DK is training RVB for transfer to KH’s Ashram just as He is training others for transfer to the Ashram of Master M.
7. RVB sắp được thu nhận vào ashram của Chân sư KH, nhưng trước đây ông không phải là thành viên của bất kỳ ashram nào trong hai ashram của Chân sư DK và Chân sư KH. Chúng ta biết rằng ngoài việc đảm nhận huấn luyện một số “đệ tử sơ cấp” đã có liên hệ với ashram của Chân sư KH hoặc Chân sư M., Chân sư DK còn đảm nhận huấn luyện một số đệ tử như RVB, những người trước đó chưa từng là thành viên của ashram nào. Chân sư DK đang huấn luyện RVB để chuyển dịch vào ashram của Chân sư KH, cũng như Ngài đang huấn luyện những người khác để chuyển dịch vào ashram của Chân sư M.
8. The explanation must have proved very clarifying for RVB and helped him approach his period of frustration, isolation and relative confinement with greater understanding and benefit.
8. Lời giải thích này hẳn đã làm sáng tỏ rất nhiều điều cho RVB và giúp ông đón nhận giai đoạn thất vọng, cô lập và tương đối bó buộc của mình với sự thấu hiểu sâu hơn và thu được nhiều lợi ích hơn.
9. We note that DK calls AAB a “senior disciple”, though elsewhere, it is clear, that He thinks of her as a “world disciple”. While AAB’s initiatory status upon entering her last incarnation is not discussed (and, of course, it is her own business, just as should be the case with all disciples), we can judge from the quality of her life and the tremendous work which she brilliantly and heroically undertook for her Master, KH, and for Master DK, that she had achieved the third degree during that incarnation. It would seem that her orientation towards religious life (prior to her theosophical studies and Master DK’s approach) reflected an orientation more congruent with the second degree than the third.
9. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK gọi AAB là một “đệ tử cao cấp”, dù ở nơi khác, rõ ràng Ngài xem Bà là một “đệ tử thế giới”. Mặc dù cấp độ điểm đạo của AAB khi bước vào kiếp lâm phàm cuối cùng của Bà không được bàn đến — và dĩ nhiên, đó là chuyện riêng của Bà, cũng như đối với mọi đệ tử — chúng ta có thể xét phẩm tính đời sống của Bà cùng công việc phi thường mà Bà đã đảm nhận một cách xuất sắc và anh dũng cho Chân sư của Bà là Chân sư KH, cũng như cho Chân sư DK, để nhận định rằng Bà đã đạt cấp độ thứ ba trong kiếp ấy. Dường như khuynh hướng hướng về đời sống tôn giáo của Bà — trước khi Bà nghiên cứu Thông Thiên Học và trước khi Chân sư DK tiếp cận — phản ánh một định hướng phù hợp với cấp độ thứ hai hơn là thứ ba.
10. A disciple may have clear or unclear ideas when attempting to ‘locate’ himself in relation to the Ashram and its activities. From time to time, it may be useful and even necessary for the Master to help him adjust his ideas, so a clearer estimation may be his, and more effective work accomplished.
10. Một đệ tử có thể có những ý tưởng rõ ràng hoặc chưa rõ ràng khi cố gắng ‘xác định vị trí’ của mình trong mối quan hệ với ashram và các hoạt động của nó. Thỉnh thoảng, việc Chân sư giúp y điều chỉnh những ý tưởng ấy có thể hữu ích, thậm chí cần thiết, để y có sự đánh giá rõ ràng hơn và thực hiện công việc hiệu quả hơn.
Another reason has been that you also brought about a great transfer of energy from the sacral centre to the throat centre, and here you have one of the causes of your present physical condition, but only one of them, my brother. A transfer and centralisation of the lower fires into a higher centre is oft the cause of trouble in the physical body; you can [564] be thankful that it has worked out this way with you, for a centralisation in one of the subtler bodies is far more difficult to handle.
Một lý do khác là em cũng đã thực hiện một sự chuyển dịch năng lượng lớn từ trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng, và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thể chất hiện nay của em, nhưng chỉ là một trong số đó thôi, huynh đệ của tôi. Việc chuyển dịch và tập trung các ngọn lửa thấp vào một trung tâm cao hơn thường gây ra vấn đề trong thể xác; em có thể biết ơn vì tiến trình ấy đã diễn ra theo cách này với em, bởi việc tập trung trong một trong các thể tinh tế hơn khó xử lý hơn nhiều.
1. Important hints are given (and some of these will be addressed in the accompanying astrological analysis provided by HD).
1. Những gợi ý quan trọng được đưa ra, và một số trong đó sẽ được đề cập trong phần phân tích chiêm tinh kèm theo do HD cung cấp.
2. There has been a significant transfer of energy from the sacral to the throat center. This is an energy process which is related to work done between the first and second degree, though, no doubt, it continues during the interlude between the second and third degrees.
2. Đã có một sự chuyển dịch năng lượng đáng kể từ trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng. Đây là một tiến trình năng lượng có liên quan đến công việc thực hiện giữa cấp độ thứ nhất và thứ hai, mặc dù chắc chắn tiến trình ấy vẫn tiếp tục trong khoảng lặng giữa cấp độ thứ hai và thứ ba.
3. Libra, we realize, is often associated with the sacral center, and the relatively undeveloped Libran has to deal with what the Tibetan calls “unbalanced, fiery passion”. (EA 333)
3. Chúng ta nhận ra rằng Thiên Bình thường gắn với trung tâm xương cùng, và người Thiên Bình tương đối chưa phát triển phải xử lý điều mà Chân sư Tây Tạng gọi là “dục tình bốc lửa, mất cân bằng”. (EA 333)
4. Libra, in the case of disciples, is ruled by Uranus (the esoteric ruler) and the sacral center is also ruled by Uranus (cf. EA 517). The conjunction in RVB’s chart between Saturn (throat center) and Mercury (associated with the throat center and with the dynamic of transference) sets up the astrological condition which assists the sacral-throat transference. Uranus conjuncting Venus (ruler of Taurus which, itself, rules the throat, and also exoteric ruler of Libra) in the sacral sign Scorpio, adds further to the dynamic of transfer.
4. Đối với các đệ tử, Thiên Bình do Sao Thiên Vương — chủ tinh nội môn — cai quản, và trung tâm xương cùng cũng do Sao Thiên Vương cai quản (xem EA 517). Sự đồng vị giữa Sao Thổ — trung tâm cổ họng — và Sao Thủy — gắn với trung tâm cổ họng và động lực chuyển dịch — trong lá số của RVB tạo nên điều kiện chiêm tinh hỗ trợ sự chuyển dịch từ xương cùng lên cổ họng. Sao Thiên Vương đồng vị với Sao Kim — chủ tinh của Kim Ngưu, vốn cai quản cổ họng, và cũng là chủ tinh ngoại môn của Thiên Bình — trong Hổ Cáp, dấu hiệu gắn với xương cùng, càng tăng thêm động lực chuyển dịch.
5. When we study the “diseases of mystics” (Esoteric Psychology Vol. II), we realize that the energy transfers associated with the spiritual-developmental process are neither easy nor initially stable. Perhaps those well-trained in esoteric healing could infer the nature of the physical difficulty which RVB was experiencing. DK rarely mentions such things as He seeks to keep the group mind away from the physical problems of co-disciples; concentrated group thought might only worsen the conditions.
5. Khi nghiên cứu “những căn bệnh của các nhà thần bí” (Tâm Lý Học Nội Môn, Tập II), chúng ta nhận ra rằng những sự chuyển dịch năng lượng gắn với tiến trình phát triển tinh thần không dễ dàng, cũng không ổn định ngay từ đầu. Có lẽ những người được đào tạo kỹ về trị liệu huyền môn có thể suy ra bản chất khó khăn về thể chất mà RVB đang trải qua. Chân sư DK hiếm khi đề cập đến những điều như thế vì Ngài muốn giữ thể trí của nhóm tránh tập trung vào những vấn đề thể chất của các đệ tử đồng môn; tư tưởng tập trung của nhóm có thể chỉ làm tình trạng trầm trọng hơn.
6. Again, a principle is brought forward: difficulties in the physical vehicle are less serious and easier to handle than difficulties within a disciple’s psychic nature. We are also alerted to the thought that different kinds of “centralisation” are possible in the transference process — physical, astral and mental. The etheric chakras have their inner counterparts in the astral and mental bodies, and these, too, will be affected and stimulated by such energy transfers.
6. Một lần nữa, một nguyên khí được nêu ra: những khó khăn trong hiện thể hồng trần ít nghiêm trọng hơn và dễ xử lý hơn những khó khăn trong bản chất thông linh của một đệ tử. Chúng ta cũng được lưu ý rằng trong tiến trình chuyển dịch có thể xảy ra những kiểu “tập trung” khác nhau — hồng trần, cảm dục và trí tuệ. Các luân xa dĩ thái có những đối phần bên trong ở thể cảm dục và thể trí; những đối phần này cũng chịu ảnh hưởng và sự kích thích từ các chuyển dịch năng lượng ấy.
7. Interestingly, the first line of attack by the counterforce is the psychological nature of the disciple. Attacking the physical body only comes as a last resort, when the disciple has been able to fight off the psychological attack — an attack using the weapons of glamor and illusion.
7. Điều đáng chú ý là hướng tấn công đầu tiên của mãnh lực đối kháng nhắm vào bản chất tâm lý của người đệ tử. Việc tấn công thể xác chỉ diễn ra như biện pháp cuối cùng, khi người đệ tử đã đẩy lùi được cuộc tấn công tâm lý — một cuộc tấn công dùng ảo cảm và ảo tưởng làm vũ khí.
Thus you have presented to you a clear statement as to the goal ahead of you, and also the corroboration of many thoughts which have passed through your mind. You can now cease from all questioning as to the future, can you not? And in exactly the same place where you now are, you can use in a new and a fresh way the creative power of the mind and begin to use your pen in a more potent and dynamic fashion.
Như vậy, em đã nhận được một lời trình bày rõ ràng về mục tiêu phía trước, đồng thời cũng là sự xác nhận nhiều tư tưởng từng đi qua thể trí em. Giờ đây em có thể [564] ngừng mọi thắc mắc về tương lai, phải không? Và ngay tại chính nơi em đang ở, em có thể sử dụng quyền năng sáng tạo của trí tuệ theo một cách mới mẻ, tươi mới, và bắt đầu sử dụng ngòi bút của mình một cách mạnh mẽ, năng động hơn.
1. The Master is obliged to confirm the truth when the disciple has arrived at it using his own powers. It seems that RVB has had some ideas very similar to the ones DK is now confirming.
1. Chân sư có bổn phận xác nhận chân lý khi người đệ tử đã tự mình đạt đến chân lý ấy bằng những năng lực của mình. Dường như RVB đã có một số ý tưởng rất gần với những điều Chân sư DK hiện đang xác nhận.
2. DK is attempting to free RVB from certain lines of thinking and thereby set him freer for accomplishment. When we have clarity about our direction and future, the consciousness can focus with a conviction hitherto impossible.
2. Chân sư DK đang cố gắng giải thoát RVB khỏi một số chiều hướng suy nghĩ, qua đó giúp ông tự do hơn để thành tựu. Khi chúng ta thấy rõ phương hướng và tương lai của mình, tâm thức có thể tập trung với một niềm xác tín mà trước đó chưa thể có.
3. The pen is the instrument of the ray two disciple; the sword, that of the disciple on the first ray.
3. Ngòi bút là công cụ của người đệ tử cung hai; thanh kiếm là công cụ của người đệ tử cung một.
4. We see that DK is doing all He can to empower RVB, increasing his creativity and opening the door to fresh inspiration. Potency and dynamism have been watchwords from the very first. If Aries is indeed RVB’s Rising-sign, then the Master has been driving him towards the expression of dynamic Aretian qualities.
4. Chúng ta thấy Chân sư DK đang làm tất cả những gì Ngài có thể để tăng cường năng lực cho RVB, gia tăng khả năng sáng tạo của ông và mở cửa đón nguồn cảm hứng mới. Uy lực và tính năng động đã là những phương châm ngay từ đầu. Nếu Bạch Dương quả thực là dấu hiệu mọc của RVB, thì Chân sư đã luôn thúc đẩy ông biểu lộ những phẩm tính năng động của Bạch Dương.
5. It is the Master’s hope to empower and inspire all His disciples. The method of doing so is often to emphasize the possibilities of accomplishment within a sphere of apparent limitation. Many disciples decide that because of physical or circumstantial limitation they are unable to accomplish. The Master seeks to negate this line of unproductive thinking.
5. Chân sư mong muốn tăng cường năng lực và truyền cảm hứng cho mọi đệ tử của Ngài. Phương pháp thường là nhấn mạnh những khả năng thành tựu trong một phạm vi dường như bị giới hạn. Nhiều đệ tử cho rằng vì những hạn chế thể chất hoặc hoàn cảnh, họ không thể thành tựu. Chân sư tìm cách hóa giải chiều hướng suy nghĩ không đem lại kết quả này.
The above statement gives you, also, the incentive which you need for the remainder of your life; further detailed instruction from me will not be necessary — unless you make such important progress that I shall have to watch more closely over you. That also lies in your own hands. I would have you remember that I am not urging upon you a too intensive pushing forward, for I have due regard for your physical condition.
Lời trình bày trên cũng đem lại cho em động lực em cần trong phần đời còn lại; sẽ không cần thêm huấn thị chi tiết nào từ Tôi—trừ khi em đạt được tiến bộ quan trọng đến mức Tôi phải trông nom em sát sao hơn. Điều đó cũng nằm trong tay em. Tôi muốn em nhớ rằng Tôi không thúc giục em tiến tới quá gấp gáp, vì Tôi có cân nhắc thích đáng đến tình trạng thể chất của em.
1. DK probably knows that He will be discontinuing His work with this last group of disciples (the New Seed Group with twenty-four members). He is attempting to give them guidance which will be of lasting use to them in those years during which He will no longer be communicating with them exoterically, as He has through the mediatorship of AAB.
1. Có lẽ Chân sư DK biết rằng Ngài sẽ ngừng công việc với nhóm đệ tử cuối cùng này — Nhóm Hạt Giống Mới gồm hai mươi bốn thành viên. Ngài đang cố gắng trao cho họ sự hướng dẫn có giá trị lâu dài trong những năm Ngài sẽ không còn giao tiếp với họ theo cách ngoại môn như Ngài đã làm qua vai trò trung gian của AAB.
2. DK is fulfilling RVB’s needs. The needed knowledge has been imparted and no more detailed instruction is necessary, unless…
2. Chân sư DK đang đáp ứng những nhu cầu của RVB. Tri thức cần thiết đã được truyền đạt, và không cần huấn thị chi tiết hơn nữa, trừ khi…
3. And this is most fascinating. There is always the possibility that RVB may make more progress than anticipated. In the very first instruction to him (1931) DK remarked that RVB had accomplished more than his soul had expected. A similar achievement may again be possible. The door is left open.
3. Và điều này hết sức lý thú. Luôn có khả năng RVB tiến bộ nhiều hơn dự kiến. Trong huấn thị đầu tiên dành cho ông vào năm 1931, Chân sư DK nhận xét rằng RVB đã thành tựu nhiều hơn linh hồn ông mong đợi. Một thành tựu tương tự có thể lại xảy ra. Cánh cửa vẫn để ngỏ.
4. We also come to understand that if a disciple pushes his way into a greater point of tension, thus making unanticipated and “important progress”, the Master’s help may again be needed.
4. Chúng ta cũng đi đến chỗ thấu hiểu rằng nếu một đệ tử nỗ lực đạt đến một điểm tập trung nhất tâm lớn hơn, qua đó đạt “tiến bộ quan trọng” ngoài dự kiến, thì sự trợ giúp của Chân sư có thể lại trở nên cần thiết.
5. DK leaves much in the hands of His disciple. The Master does not know what will happen. He is careful to take a balanced approach. An “intensive pushing forward” is, to a degree possible, but if it is too intensive, there may be adverse physical effects. We remember that RVB is definitely a Libran disciple, and the balance must be preserved.
5. Chân sư DK để nhiều điều trong tay đệ tử của Ngài. Chân sư không biết điều gì sẽ xảy ra. Ngài thận trọng giữ cách tiếp cận cân bằng. Việc “tiến lên mãnh liệt” có thể thực hiện ở một mức độ nào đó, nhưng nếu quá mãnh liệt, nó có thể gây tác động bất lợi lên thể xác. Chúng ta nhớ rằng RVB rõ ràng là một đệ tử Thiên Bình, và phải giữ gìn sự cân bằng.
One thing, however, you will have to watch with care. As you know, and as I pointed out to you some years ago, you have an undue number of rays along one particular line; your equipment of energies is therefore somewhat unbalanced, and this will require the process of obtaining equilibrium before you can move on to the more potent Ashram of K.H. The potency of an Ashram is necessarily dependent upon the status, the degree and the experience of the Master at its centre or heart. The more advanced the Master, the more of the energy of Shamballa which will pour into the Ashram. The Master K.H., being a Chohan and one of the senior Masters (ranking next to the Christ Himself), can "walk into the courts of Shamballa" at will. Masters of my degree can only make contact with Shamballa at certain stated periods, and one of the goals of our training is to move steadily forward into a closer relationship with the Christ, and through Him with the Lord of the World. The Ashrams for which Masters of my degree are responsible are not, therefore, so potent.
Tuy nhiên, có một điều em sẽ phải theo dõi cẩn thận. Như em biết, và như Tôi đã chỉ ra cho em vài năm trước, em có quá nhiều cung thuộc cùng một tuyến đặc biệt; do đó, hệ năng lượng của em có phần mất cân bằng, và điều này đòi hỏi một tiến trình đạt tới quân bình trước khi em có thể tiến vào ashram mạnh mẽ hơn của Chân sư KH. Sức mạnh của một ashram tất yếu tùy thuộc vào vị thế, cấp độ và kinh nghiệm của Chân sư ở trung tâm hay trái tim của ashram ấy. Chân sư càng tiến xa, năng lượng Shamballa tuôn vào ashram càng nhiều. Chân sư KH, là một Đấng Chohan và một trong các Chân sư thâm niên (có thứ bậc kế ngay sau chính Đức Christ), có thể tùy ý “bước vào các nội điện Shamballa”. Các Chân sư ở cấp độ của Tôi chỉ có thể tiếp xúc với Shamballa vào những thời kỳ xác định, và một trong những mục tiêu huấn luyện của chúng tôi là vững vàng tiến tới một mối liên hệ mật thiết hơn với Đức Christ, và qua Ngài, với Đức Chúa Tể Thế Giới. Vì vậy, những ashram do các Chân sư ở cấp độ của Tôi phụ trách không mạnh mẽ bằng.
1. DK’s messages are a mixture of ‘touches’, each with its particular effects. He reveals the future; He encourages and inspires; and here, He is offering a kind of gentle warning.
1. Những thông điệp của Chân sư DK kết hợp nhiều ‘tác động’, mỗi tác động có hiệu quả riêng. Ngài hé lộ tương lai; Ngài khích lệ và truyền cảm hứng; còn ở đây, Ngài đưa ra một lời cảnh báo nhẹ nhàng.
2. RVB’s ray formula is 24-423. We see four rays along the ‘soft line’ and only one ray connecting to the ‘hard line’. This is an imbalance (perhaps compensated by the hard-line energy coming through Libra and the first and seventh rays transmitted through Aries, his proposed Rising-sign).
2. Công thức cung của RVB là 24-423. Chúng ta thấy có bốn cung thuộc ‘tuyến mềm’ và chỉ một cung liên kết với ‘tuyến cứng’. Đây là một sự mất cân bằng, có lẽ được bù đắp bằng năng lượng tuyến cứng đi qua Thiên Bình cùng cung một và cung bảy truyền qua Bạch Dương, dấu hiệu mọc được đề xuất cho ông.
3. RVB needs equilibrium. It is an ongoing need, and his Sun-sign, Libra (plus Libra planets), can only be helpful in this regard.
3. RVB cần sự quân bình. Đây là một nhu cầu liên tục, và dấu hiệu Mặt Trời của ông, Thiên Bình — cùng các hành tinh ở Thiên Bình — hẳn sẽ hữu ích về phương diện này.
4. A principle is set forth. Progress into the Ashram of a Chohan, such as KH, can only occur if a reasonable equilibrium is attained within the energy equipment of the entering chela. Otherwise, we may infer, destabilization would ensue due to a potent influx of energy from such a powerful Ashram.
4. Một nguyên khí được nêu ra. Việc tiến vào ashram của một Đế Quân như Chân sư KH chỉ có thể xảy ra nếu hệ thống năng lượng của người đệ tử sắp gia nhập đạt được sự quân bình hợp lý. Nếu không, chúng ta có thể suy ra rằng dòng năng lượng mạnh mẽ tuôn vào từ một ashram đầy uy lực như thế sẽ gây mất ổn định.
5. We learn that Shamballic Will pours through all the various Ashrams. The greater the attainment of the Master, the greater the amount of Shamballic Will pouring through. Master KH is one of the most powerful of the Masters (“ranking next to the Christ”), and therefore His Ashram must be potent indeed.
5. Chúng ta biết rằng Ý Chí Shamballa tuôn qua mọi ashram khác nhau. Thành tựu của Chân sư càng lớn, lượng Ý Chí Shamballa tuôn qua càng nhiều. Chân sư KH là một trong những Chân sư có quyền năng lớn nhất — “xếp ngay sau Đức Christ” — vì vậy ashram của Ngài hẳn có uy lực rất lớn.
6. DK discriminates between KH’s Ashram and His own. Master KH can “walk into the courts of Shamballa” at will. DK, relatively a lesser Master, cannot do likewise. His penetration into Shamballa is reserved for “stated periods”. For such Masters as DK, a closer relationship with the Christ (in process of development) will mean a closer relation to the Lord of the World in Shamballa.
6. Chân sư DK phân biệt ashram của Chân sư KH với ashram của chính Ngài. Chân sư KH có thể “bước vào các triều đường Shamballa” theo ý muốn. Chân sư DK, một Chân sư ở cấp độ tương đối thấp hơn, không thể làm như vậy. Việc Ngài đi vào Shamballa chỉ dành cho “những thời kỳ nhất định”. Đối với những Chân sư như Chân sư DK, mối quan hệ gần gũi hơn với Đức Christ — hiện đang phát triển — sẽ đồng nghĩa với một mối quan hệ gần gũi hơn với Đức Chúa Tể Thế Giới tại Shamballa.
7. RVB is a Libran who can appreciate the sense of proportion conveyed by Master DK’s words. Master DK’s sense of humility is always evident when He speaks of Master KH, and even more so in relation to the Christ or the Lord of the World.
7. RVB là người Thiên Bình, có thể trân trọng ý thức về tỉ lệ mà lời Chân sư DK truyền đạt. Sự khiêm nhường của Chân sư DK luôn thể hiện rõ khi Ngài nói về Chân sư KH, và càng rõ hơn khi nói về Đức Christ hoặc Đức Chúa Tể Thế Giới.
8. We can see that DK has the task of preparing RVB’s consciousness for the possibility of relatively imminent transference. Thus, the utility of the information conveyed. With the right mind-set, RVB can be counted upon to make the necessary progress and avail himself of the opportunity presented by isolation, confinement and physical limitation. One way to profit from the limitation is also indicated — the pen.
8. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK có nhiệm vụ chuẩn bị tâm thức RVB cho khả năng chuyển dịch trong tương lai tương đối gần. Đó là công dụng của những thông tin được truyền đạt. Với thái độ trí tuệ đúng đắn, có thể tin rằng RVB sẽ đạt tiến bộ cần thiết và tận dụng cơ hội mà sự cô lập, bó buộc và giới hạn thể chất mang lại. Một cách tận dụng giới hạn ấy cũng được chỉ ra — ngòi bút.
It will be necessary for you to bring into your outer experience more force, and that of the first ray; it is necessary, also, that you should develop those conditions which will enable you to assume and work through a first ray personality when you next come into incarnation. To do this I would suggest that you study the instructions of I.S.G-L., given by me to him last year. There I gave him six statements anent [565] this mysterious and holy centre which we call Shamballa. For this year's meditation, I would ask you to take the third statement and ponder it deeply, relating it to the sixth statement and endeavouring to arrive at an understanding of both of them. This you can do through the key which you will find in the first sentence of the meditation which I gave you in that same series.
Em sẽ cần đưa thêm mãnh lực vào trải nghiệm bên ngoài của mình, và đó là mãnh lực cung một; em cũng cần phát triển những điều kiện cho phép em mang lấy và hoạt động qua một phàm ngã cung một khi em lại lâm phàm. Để làm điều này, Tôi đề nghị em nghiên cứu những huấn thị Tôi đã trao cho I.S.G-L. năm ngoái. Trong đó, Tôi đã trao cho bạn ấy sáu phát biểu về [565] trung tâm huyền nhiệm và thiêng liêng mà chúng ta gọi là Shamballa. Đối với việc tham thiền năm nay, Tôi muốn em chọn phát biểu thứ ba và suy ngẫm sâu sắc về nó, liên hệ nó với phát biểu thứ sáu và cố gắng đạt đến sự thấu hiểu cả hai. Em có thể làm điều này nhờ chìa khóa nằm trong câu đầu tiên của bài thiền Tôi đã trao cho em trong cùng loạt huấn thị ấy.
In these three statements and in their true comprehension you have the mode whereby you can put yourself en rapport with the Shamballa force. No disciple can do this without establishing a tenuous thread along which he can some day travel towards those sublime levels where the planetary Logos and His Council function. The first step is to respond to first ray energy; later you will come to use it consciously and constructively — not employing its destructive aspect — and thus learn to use first ray energy as a channel of approach; that, however, constitutes a much later stage.
Trong ba phát biểu này và trong sự lĩnh hội chân chính về chúng, em có phương cách để thiết lập sự hòa hợp với mãnh lực Shamballa. Không đệ tử nào có thể làm điều này mà không thiết lập một sợi dây mong manh, dọc theo đó một ngày kia y có thể tiến về những cấp độ cao cả nơi Hành Tinh Thượng đế và Hội Đồng của Ngài hoạt động. Bước đầu tiên là đáp ứng với năng lượng cung một; về sau, em sẽ sử dụng năng lượng ấy một cách có ý thức và xây dựng—không vận dụng phương diện hủy diệt của nó—và như vậy học cách dùng năng lượng cung một làm một kênh tiếp cận; tuy nhiên, điều đó thuộc về một giai đoạn muộn hơn nhiều.
1. An interesting piece of prophecy is offered. RVB needs more first ray in this present incarnation. This increase in access to the first ray is a preparation for the first ray personality through which he should express in his next incarnation. If Aries is, indeed, His Rising-sign, and the Rising-sign indicates the way of the future, then we can see that first-ray-Aries is an energy suitable to prepare him for the appropriation of his next personality ray.
1. Một lời tiên báo thú vị được đưa ra. RVB cần thêm cung một trong chính kiếp lâm phàm hiện tại này. Việc gia tăng khả năng tiếp cận cung một là sự chuẩn bị cho phàm ngã cung một mà qua đó ông cần biểu lộ trong kiếp lâm phàm kế tiếp. Nếu Bạch Dương quả thực là dấu hiệu mọc của ông, và dấu hiệu mọc chỉ ra con đường tương lai, thì chúng ta có thể thấy năng lượng cung một của Bạch Dương thích hợp để chuẩn bị cho ông tiếp nhận cung phàm ngã kế tiếp của mình.
2. It would be interesting to know if there is a sequence of personality rays through which disciples on a particular soul ray pass as they evolve. In this case, RVB would be moving from a fourth ray personality (strongly accentuated because of a fourth ray mind) towards a first ray personality.
2. Sẽ rất thú vị nếu biết liệu có một trình tự các cung phàm ngã mà các đệ tử thuộc một cung linh hồn nhất định lần lượt trải qua khi họ tiến hóa hay không. Trong trường hợp này, RVB sẽ chuyển từ một phàm ngã cung bốn — được nhấn mạnh rõ vì có thể trí cung bốn — sang một phàm ngã cung một.
3. DK at times indicates which should be the personality ray of the next incarnation. It would be interesting to compare the Ascendant (or other astrological factors) with the proposed impending ray. In the case of RVB, the major ray of the Ascendant and the proposed personality ray for the next incarnation are identical.
3. Đôi khi Chân sư DK chỉ ra cung phàm ngã cần có trong kiếp lâm phàm kế tiếp. Sẽ rất thú vị khi so sánh Điểm mọc — hoặc những yếu tố chiêm tinh khác — với cung được đề xuất cho tương lai gần ấy. Trong trường hợp RVB, cung chủ yếu của Điểm mọc và cung phàm ngã được đề xuất cho kiếp lâm phàm kế tiếp là một.
The disciple LTS-K is told that his personality ray in the next life is also to be the first ray.
Người đệ tử LTS-K được cho biết rằng cung phàm ngã của ông trong kiếp kế tiếp cũng sẽ là cung một.
1. “There are too many energies in your present equipment along the line of the first ray, and your ultimate goal must be a second ray personality, following upon the coming first ray personality of your next life.” (DINA II 731)
1. “Trong hệ thống năng lượng hiện tại của em có quá nhiều năng lượng thuộc tuyến cung một, và mục tiêu cuối cùng của em phải là một phàm ngã cung hai, tiếp sau phàm ngã cung một trong kiếp sống kế tiếp của em.” (DINA II 731)
2. With a Leo Ascendant, LTS-K, too, is prepared for his impending first ray personality, for Leo transmits the first and fifth rays.
2. Với Điểm mọc Sư Tử, LTS-K cũng được chuẩn bị cho phàm ngã cung một sắp tới của ông, vì Sư Tử truyền cung một và cung năm.
3. I do not think we are in any position yet to generalize that a ray conveyed by the Rising-sign will, necessarily, be the personality ray of the next life, but it is interesting that in two cases in which the personality ray of the next life is predicted, a ray of the present Rising-sign is identical with the predicted ray.
3. Tôi không nghĩ rằng hiện nay chúng ta đã có đủ cơ sở để khái quát rằng một cung do dấu hiệu mọc truyền đạt nhất thiết sẽ là cung phàm ngã của kiếp kế tiếp, nhưng điều thú vị là trong hai trường hợp có lời tiên báo về cung phàm ngã của kiếp kế tiếp, một cung của dấu hiệu mọc hiện tại trùng với cung được tiên báo.