Trích nội dung chương
4. It is also interesting that it is not sufficient simply to wait passively for the ray of the next personality to arrive. One must do something about it in this life. RVB has to “develop those conditions” which will enable him to “assume and work through a first ray personality”. 4. Một điều thú vị nữa là chỉ thụ động chờ cung của phàm ngã kế tiếp xuất hiện thì chưa đủ. Cần phải làm điều gì đó về việc ấy ngay trong kiếp này. RVB phải “phát triển những điều kiện” cho phép ông “đảm nhận và hoạt động qua một phàm ngã cung một”.
4. It is also interesting that it is not sufficient simply to wait passively for the ray of the next personality to arrive. One must do something about it in this life. RVB has to “develop those conditions” which will enable him to “assume and work through a first ray personality”.
4. Một điều thú vị nữa là chỉ thụ động chờ cung của phàm ngã kế tiếp xuất hiện thì chưa đủ. Cần phải làm điều gì đó về việc ấy ngay trong kiếp này. RVB phải “phát triển những điều kiện” cho phép ông “đảm nhận và hoạt động qua một phàm ngã cung một”.
5. Mature people in the later part of their life should examine the behavioral tendencies they are evidencing. Perhaps a new ray emphasis is occurring and perhaps that emphasis is indicative of the ray that will be the ray of the personality in the next incarnation.
5. Những người trưởng thành ở giai đoạn sau của cuộc đời nên xem xét những khuynh hướng hành vi mà họ đang biểu lộ. Có lẽ một cung mới đang trở nên nổi bật, và có lẽ sự nổi bật ấy cho biết cung nào sẽ là cung phàm ngã trong kiếp lâm phàm kế tiếp.
6. DK suggests for RVB the use of another disciple’s instructions — the disciple ISG-L, who was intended to transfer from a sixth ray soul focus to a second ray focus. Interestingly, ISG-L had much of the first ray in his makeup — personality, mind and body were all on the first ray!
6. Chân sư DK đề nghị RVB sử dụng những huấn thị dành cho một đệ tử khác — người đệ tử ISG-L, vốn được dự định chuyển từ sự tập trung linh hồn ở cung sáu sang sự tập trung ở cung hai. Điều thú vị là cấu tạo của ISG-L có rất nhiều cung một — phàm ngã, thể trí và thân thể đều thuộc cung một!
7. DK asks RVB to study two of the six points (points 3 and 6) given to ISG-L anent Shamballa. They are as follows:
7. Chân sư DK yêu cầu RVB nghiên cứu hai trong sáu điểm — điểm 3 và điểm 6 — đã trao cho ISG-L về Shamballa. Hai điểm ấy như sau:
8. “3. Shamballa is the major point of tension upon the planet. It is a tension that expresses loving intelligent will, free from all self-will or mental bias.”
8. “3. Shamballa là điểm tập trung nhất tâm chủ yếu trên hành tinh. Đó là một trạng thái tập trung nhất tâm biểu lộ ý chí thông tuệ và đầy tình thương, thoát khỏi mọi ý chí vị kỷ hay thiên kiến trí tuệ.”
9. “6. Shamballa is the head centre, speaking symbolically, of our planetary Life, focussing will, love and intelligence in one great and fundamental Intention and holding that focussed point throughout the entire life cycle of a planet. This great Intention embodies current purpose and expresses itself through the medium of the Plan.” (DINA II 520)
9. “6. Nói theo nghĩa biểu tượng, Shamballa là trung tâm đầu của Sự Sống hành tinh chúng ta, tập trung ý chí, tình thương và trí tuệ vào một Ý Định vĩ đại và căn bản duy nhất, đồng thời duy trì điểm tập trung ấy suốt toàn bộ chu kỳ sống của một hành tinh. Ý Định vĩ đại này hiện thân cho thiên ý hiện hành và biểu lộ qua trung gian Thiên Cơ.” (DINA II 520)
10. This study is to encourage the understanding and expression of more of the first ray.
10. Việc nghiên cứu này nhằm khuyến khích sự thấu hiểu và biểu lộ cung một nhiều hơn.
11. RVB is also to use the first sentence given to him in a particular meditation. With these three statements, He is being given a method of putting himself en rapport with the Shamballa Force.
11. RVB cũng cần sử dụng câu đầu tiên trong một bài thiền cụ thể đã trao cho ông. Qua ba phát biểu này, ông được trao một phương pháp để thiết lập sự giao cảm với Mãnh Lực Shamballa.
12. We realize that RVB is being prepared for a certain initiation. It is interesting to consider that it may be the second. Why might this be so? He is being asked to study the instructions of another disciple (also, essentially, on the second ray from the soul perspective) who is being prepared for the second degree; DK openly says so.
12. Chúng ta nhận ra rằng RVB đang được chuẩn bị cho một cuộc điểm đạo nhất định. Điều thú vị là có thể đó là lần điểm đạo thứ hai. Vì sao có thể như vậy? Ông được yêu cầu nghiên cứu những huấn thị dành cho một đệ tử khác — về căn bản cũng thuộc cung hai xét từ góc độ linh hồn — đang được chuẩn bị cho cấp độ thứ hai; Chân sư DK nói rõ điều này.
13. RVB is already in isolation preparatory to an important and pronounced step forward. ISG-L was asked by DK to go into a similar isolation (which would have necessitated the disbanding of his groups for a time). This he did not do, and, presumably, did not avail himself of the opportunity offered, and, therefore, did not take “a definite step forward of a pronounced kind” — for him, the second degree.
13. RVB đã ở trong tình trạng cô lập để chuẩn bị cho một bước tiến quan trọng và nổi bật. Chân sư DK từng yêu cầu ISG-L đi vào một tình trạng cô lập tương tự — điều này hẳn đòi hỏi ông phải giải tán các nhóm của mình trong một thời gian. Ông đã không làm như vậy, và có lẽ đã không tận dụng cơ hội được trao, nên đã không thực hiện “một bước tiến rõ rệt mang tính nổi bật” — đối với ông, đó là cấp độ thứ hai.
14. Both of these disciples were being asked to study Shamballa more closely. At the second degree, the will and desire find themselves in contrast, and it is the will which must prevail. The Master’s request to both disciples is similar, and so are the retiring circumstances advised as necessary for advancement (circumstances entered in one case and refused in the other).
14. Cả hai đệ tử này đều được yêu cầu nghiên cứu Shamballa kỹ hơn. Ở cấp độ thứ hai, ý chí và dục vọng ở thế đối lập nhau, và ý chí phải chiếm ưu thế. Yêu cầu của Chân sư đối với hai đệ tử là tương tự nhau, cũng như hoàn cảnh rút lui được khuyên là cần thiết cho sự tiến bộ — hoàn cảnh mà một người đã bước vào, còn người kia từ chối.
15. In the instructions to ISG-L (DINA II 511), we learn that this disciple had been regarded by DK as a “pledged disciple” for only one previous incarnation. Does this mean he was not at that time a member of DK’s Ashram, and was only under observation? If so, his relation to the Ashram may have been similar to that of RVB. We remember that RVB had not been a member of any Ashram prior to the present incarnation. Do these two facts indicate another commonalty between the initiatory tasks of RVB and ISG-L?
15. Trong những huấn thị dành cho ISG-L (DINA II 511), chúng ta biết rằng trước đó Chân sư DK mới chỉ xem người đệ tử này là một “đệ tử đã cam kết” trong một kiếp lâm phàm. Liệu điều đó có nghĩa là lúc ấy ông chưa phải là một thành viên của ashram Chân sư DK, mà chỉ đang được quan sát? Nếu vậy, mối quan hệ của ông với ashram có thể tương tự như của RVB. Chúng ta nhớ rằng trước kiếp lâm phàm hiện tại, RVB chưa từng là thành viên của bất kỳ ashram nào. Hai sự kiện này có chỉ ra thêm một điểm chung giữa những nhiệm vụ điểm đạo của RVB và ISG-L hay không?
16. DK is teaching RVB how he can create that first tenuous thread which will lead him to the “levels where the Planetary Logos and His Council function”. We note, in this regard, that DK seems to be equating Sanat Kumara and the Planetary Logos — a constantly blinded mystery. Are They the same? Or are They not? The answer always seems to be both “Yes” and “No”.
16. Chân sư DK đang dạy RVB cách tạo nên sợi dây mảnh đầu tiên dẫn ông đến “những cấp độ nơi Hành Tinh Thượng đế và Hội Đồng của Ngài hoạt động”. Về điều này, chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK dường như đang đồng nhất Sanat Kumara với Hành Tinh Thượng đế — một điều huyền nhiệm luôn được che giấu. Các Ngài có phải là một không? Hay Các Ngài khác nhau? Câu trả lời dường như luôn vừa là “Có” vừa là “Không”.
17. DK is setting up the conditions in which RVB may learn to respond to first ray energy. It is to be used constructively and later (at a much later stage) as a “channel of approach” to much higher dimensions of being. It crosses one’s mind whether the monadic ray of RVB could be the first. However, there is not much to indicate that it is. In the case of ISG-L, there is strong reason to believe that he believed that the first ray was his monadic ray, and perhaps it was. It appears that ISG-L had somehow penetrated to the periphery of Master M.’s Ashram (even though it was not his immediate next step ahead). In fact, his next and real spiritual task was to refocus his soul on the second ray rather than the sixth.
17. Chân sư DK đang thiết lập những điều kiện để RVB có thể học cách đáp ứng với năng lượng cung một. Năng lượng ấy cần được sử dụng một cách xây dựng, và về sau — ở một giai đoạn muộn hơn nhiều — như một “kênh tiếp cận” những chiều kích hiện tồn cao hơn rất nhiều. Ta chợt tự hỏi liệu cung chân thần của RVB có thể là cung một hay không. Tuy nhiên, không có nhiều dấu hiệu cho thấy như vậy. Trong trường hợp ISG-L, có cơ sở vững chắc để tin rằng ông cho cung một là cung chân thần của mình, và có lẽ đúng là như thế. Dường như bằng cách nào đó, ISG-L đã tiến được đến vùng ngoại vi ashram của Chân sư M., dù đó không phải bước tiến kế tiếp ngay trước mắt ông. Thực ra, nhiệm vụ tinh thần kế tiếp và đích thực của ông là tái tập trung linh hồn mình vào cung hai thay vì cung sáu.
18. RVB seems to be quite a different character, with much less first ray. And yet they are both being asked to place themselves en rapport with Shamballa. It may be a question of the monadic ray, for after the second degree, the disciple may refocus upon the ray of the monad and in the Ashram of a Master Who wields that particular ray (cf. LOM 267). We are not justified, however, in drawing any conclusions in this regard. The whole matter of approaching Shamballa and the Shamballic Will may simply be part of preparation for the second degree (and is certainly part of preparation for the third).
18. RVB dường như là một người có tính cách khá khác biệt, với cung một ít hơn nhiều. Tuy vậy, cả hai đều được yêu cầu thiết lập sự giao cảm với Shamballa. Đây có thể là vấn đề liên quan đến cung chân thần, vì sau cấp độ thứ hai, đệ tử có thể tái tập trung vào cung của chân thần và vào ashram của một Chân sư vận dụng cung đặc thù ấy (xem LOM 267). Tuy nhiên, chúng ta không có cơ sở để rút ra bất kỳ kết luận nào về phương diện này. Toàn bộ vấn đề tiếp cận Shamballa và Ý Chí Shamballa có thể chỉ là một phần của sự chuẩn bị cho cấp độ thứ hai (và chắc chắn là một phần của sự chuẩn bị cho cấp độ thứ ba).
The above three points for reflection will suffice for your meditation work for the coming year, and you should profit greatly by it. Every Sunday, however, I would have you take the meditation which I gave you last year and give thirty minutes to it, thus each week establishing a closer link with my Ashram and with me. My Ashram might be called the doorway to the Ashram of the Master K.H., and some day you will pass through to the higher and more potent centre.
Ba điểm suy ngẫm trên sẽ đủ cho công việc tham thiền của em trong năm tới, và em hẳn sẽ thu được nhiều lợi ích từ đó. Tuy nhiên, mỗi Chủ nhật, Tôi muốn em dành ba mươi phút cho bài thiền Tôi đã trao cho em năm ngoái, qua đó mỗi tuần thiết lập một mối liên kết mật thiết hơn với ashram của Tôi và với Tôi. Có thể gọi ashram của Tôi là cửa ngõ dẫn vào ashram của Chân sư KH, và một ngày kia em sẽ đi qua đó để đến trung tâm cao hơn và mạnh mẽ hơn.
1. We do not have access to the meditation which DK gave to RVB, so we cannot be sure of its content, but surely it relates to the Divine Will and to Shamballa.
1. Chúng ta không có được bài thiền mà Chân sư DK đã trao cho RVB, nên không thể biết chắc nội dung của nó, nhưng chắc chắn bài thiền ấy liên quan đến Ý Chí thiêng liêng và Shamballa.
2. DK’s instructions to RVB involve an approach to the first ray and the will, and also a closer approach to His own Ashram, in preparation to a transfer into the Ashram of Master KH.
2. Những huấn thị của Chân sư DK dành cho RVB bao gồm việc tiếp cận cung một và ý chí, đồng thời tiếp cận mật thiết hơn với ashram của chính Ngài, để chuẩn bị chuyển dịch vào ashram của Chân sư KH.
3. It is interesting to consider DK’s Ashram as the “doorway to the Ashram of the Master K.H.” Master DK has clearly outlined what RVB must do and has given him good reasons for doing it. As a mature disciple, RVB can be counted on to profit from the information.
3. Thật thú vị khi xem ashram của Chân sư DK là “cánh cửa dẫn vào ashram của Chân sư KH”. Chân sư DK đã phác thảo rõ ràng những gì RVB phải làm và đưa ra những lý do xác đáng để ông thực hiện. Là một đệ tử trưởng thành, RVB có thể được tin cậy là sẽ biết tận dụng những thông tin ấy.
4. DK asks that the suggested mediation be performed every Sunday. One wonders whether Sunday is an especially good day on which to approach the Ashram — considering the Sun as the symbol of the Master.
4. Chân sư DK yêu cầu thực hành bài thiền đã đề nghị vào mỗi Chủ nhật. Người ta tự hỏi liệu Chủ nhật có phải là một ngày đặc biệt thuận lợi để tiếp cận ashram hay không — khi xét Mặt Trời là biểu tượng của Chân sư.
August 1946 – Tháng Tám năm 1946
MY BROTHER:
HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
You have profited much from the attention you paid to the last instruction I gave you; you have also done a good and creative task, aiding A.A.B. Even though it did not involve your own rays, I suggested your working temporarily along first ray lines because it would strengthen you greatly and bring the Will aspect more definitely into expression. You will have realised that it has been necessary for you to develop more will and fiery determination and powerful understanding, prior to transfer into the Ashram of K.H. This transfer will eventually take place, but you are not yet ready [566] to stand the strong Shamballa pressure which is ever to be experienced in the Ashram of a Chohan. Mine, as you know, is an Ashram subsidiary to His.
Em đã thu được nhiều lợi ích từ việc chú tâm đến huấn thị cuối cùng Tôi trao cho em; em cũng đã thực hiện một công việc tốt đẹp và sáng tạo khi trợ giúp A.A.B. Dù việc ấy không liên quan đến các cung riêng của em, Tôi đã đề nghị em tạm thời làm việc theo đường hướng cung một, vì điều đó sẽ tăng cường sức mạnh cho em rất nhiều và đưa phương diện Ý Chí biểu lộ rõ rệt hơn. Hẳn em đã nhận ra rằng em cần phát triển thêm ý chí, quyết tâm rực lửa và sự thấu hiểu mạnh mẽ trước khi chuyển dịch vào ashram của Chân sư KH. Cuối cùng, sự chuyển dịch này sẽ diễn ra, nhưng em vẫn chưa sẵn sàng [566] chịu đựng áp lực Shamballa mạnh mẽ luôn hiện diện trong ashram của một Đấng Chohan. Như em biết, ashram của Tôi là một ashram trực thuộc ashram của Ngài.
1. The previous instructions given to RVB were indeed potent, prophetic and inspiring. RVB attended to them carefully and profited thereby.
1. Những huấn thị trước đây dành cho RVB quả thực mạnh mẽ, có tính tiên tri và truyền cảm hứng. RVB đã chú tâm cẩn thận đến những huấn thị ấy và nhờ đó thu được lợi ích.
2. Even though, presumably, at quite a distance — perhaps the distance between Los Angeles
2. Dù có lẽ ở cách khá xa — có thể là khoảng cách giữa Los Angeles
3. and New York — RVB assisted AAB in an unspecified creative work.
3. và New York — RVB đã trợ giúp AAB trong một công việc sáng tạo không được nêu cụ thể.
4. As well, the advice to approach the first ray was apparently heeded.
4. Đồng thời, dường như ông cũng đã làm theo lời khuyên tiếp cận cung một.
5. Not only did RVB need “more will and fiery determination” but also a more “powerful understanding” — all of this preparatory to his eventual transfer (probably in his next life) into the Ashram of Master KH. The powerful understanding would come, presumably, from a blending of the first and second rays. The wisdom aspect of the second ray is related to the first ray.
5. RVB không chỉ cần “thêm ý chí và sự quyết tâm rực lửa”, mà còn cần “sức thấu hiểu mạnh mẽ” hơn — tất cả đều nhằm chuẩn bị cho sự chuyển dịch sau này của ông (có lẽ trong kiếp sống kế tiếp) vào ashram của Chân sư KH. Có lẽ sức thấu hiểu mạnh mẽ ấy sẽ đến từ sự hòa quyện của cung một và cung hai. Phương diện minh triết của cung hai có liên hệ với cung một.
6. DK acknowledges His disciple’s efforts, but tells him as well that he is not yet ready for transfer to KH’s Ashram. Did RVB become overly eager, hoping that transfer could occur sooner than predicted?
6. Chân sư DK ghi nhận những nỗ lực của đệ tử Ngài, nhưng cũng cho ông biết rằng ông chưa sẵn sàng chuyển dịch vào ashram của Chân sư KH. Liệu RVB có trở nên quá nóng lòng, hy vọng sự chuyển dịch có thể diễn ra sớm hơn dự đoán chăng?
7. How would this “strong Shamballa pressure” materialize? What would it mean within the context of his rather confined life? Perhaps it would have been destructive considering his apparently precarious physical condition. DK acts with wisdom in this and all cases, and reaffirms the place whereon RVB stands.
7. “Áp lực Shamballa mạnh mẽ” này sẽ biểu hiện cụ thể ra sao? Nó sẽ có ý nghĩa gì trong hoàn cảnh sống khá hạn hẹp của ông? Có lẽ nó sẽ gây tổn hại nếu xét đến tình trạng thể chất dường như bấp bênh của ông. Chân sư DK hành động với minh triết trong trường hợp này cũng như trong mọi trường hợp, và tái khẳng định vị trí hiện tại của RVB.
8. DK persists in offering His disciple a tempering sense of proportion.
8. Chân sư DK kiên trì giúp đệ tử Ngài có ý thức về tỉ lệ để giữ được sự chừng mực.
Why, therefore, did I direct you towards the will aspect when both Ashrams are on the second ray and you are predominantly a second ray disciple? Because the subsidiary Ashrams deal with the ray qualities in action and in service, whilst the major or senior Ashrams concern in all cases the will in action through the ray qualities. This is possible because the major Ashrams are presided over by those who have achieved the sixth initiation; Ashrams such as mine are under the guidance of a Master or Initiate of the fifth degree.
Vậy tại sao Tôi lại hướng em tới phương diện ý chí khi cả hai ashram đều thuộc cung hai và em chủ yếu là một đệ tử cung hai? Bởi vì các ashram trực thuộc làm việc với các phẩm tính của cung trong hành động và phụng sự, trong khi các ashram chính hay cấp cao, trong mọi trường hợp, đều chú trọng đến ý chí hoạt động qua các phẩm tính của cung. Điều này khả thi vì các ashram chính do những Đấng đã đạt lần điểm đạo thứ sáu chủ trì; các ashram như ashram của Tôi do một Chân sư hay điểm đạo đồ bậc năm hướng dẫn.
1. DK continues to discuss the reason for directing RVB towards the understanding and expression of the first ray. We learn that a Chohan’s Ashram simulates the will and concerns itself with “the will in action through the ray qualities”.
1. Chân sư DK tiếp tục bàn về lý do hướng RVB đến việc thấu hiểu và biểu lộ cung một. Chúng ta biết rằng ashram của một Chohan mô phỏng ý chí và chú trọng đến “ý chí hoạt động thông qua những phẩm tính cung”.
2. Since a Chohan is an initiate of the sixth degree, the monad or spirit (upon the sixth plane, counting from below) is definitely accessed.
2. Vì một Chohan là điểm đạo đồ cấp độ thứ sáu, nên chắc chắn có sự tiếp cận chân thần hay tinh thần (trên cõi thứ sáu, tính từ dưới lên).
3. An important distinction is revealed concerning the difference between a Chohan’s Ashram and the Ashram of a Master of the fifth degree. The junior Ashram concerns itself with “ray qualities in action and in service” (clearly relating such an Ashram to the third aspect of divinity). The Chohan’s Ashram is related to the first aspect.
3. Một nét phân biệt quan trọng được hé lộ về sự khác nhau giữa ashram của một Chohan và ashram của một Chân sư cấp độ thứ năm. Ashram cấp dưới chú trọng đến “những phẩm tính cung trong hành động và trong phụng sự” (điều này rõ ràng liên hệ một ashram như thế với phương diện thứ ba của thiên tính). Ashram của Chohan có liên hệ với phương diện thứ nhất.
4. DK is affirming RVB’s second ray nature, but explaining how the will may and should be cultivated within the context of the second ray.
4. Chân sư DK khẳng định bản chất cung hai của RVB, đồng thời giải thích cách có thể và nên vun bồi ý chí trong bối cảnh cung hai.
5. It would seem that an increasing understanding of and rapport with the Shamballa Energy is required of all those (no matter what may be their ray) who are being prepared to enter the Ashram of a Chohan. Clearly DK intends for RVB to continue to focus upon the second ray, but to bring more of the first ray into that focus.
5. Dường như tất cả những ai đang được chuẩn bị để gia nhập ashram của một Chohan đều cần ngày càng thấu hiểu và giao cảm với Năng Lượng Shamballa, bất kể họ thuộc cung nào. Rõ ràng, Chân sư DK muốn RVB tiếp tục tập trung vào cung hai, nhưng đưa thêm năng lượng cung một vào sự tập trung ấy.
You have needed much to study the nature of the will. A disciple's ideas on this subject are apt to be far removed from the reality; the understanding of the will is a progressive matter and disciples on all rays have to arrive at comprehension of Will activity as they move forward.
Em rất cần nghiên cứu bản chất của ý chí. Những ý tưởng của một đệ tử về chủ đề này thường cách xa thực tại; sự thấu hiểu ý chí là một tiến trình tăng tiến, và các đệ tử thuộc mọi cung đều phải lĩnh hội hoạt động của Ý Chí khi họ tiến bước.
1. Straight advice is offered. RVB had needed to study the will because he has not understood it. Perhaps he needs to continue his study.
1. Đây là lời khuyên thẳng thắn. RVB đã cần nghiên cứu ý chí vì ông chưa thấu hiểu nó. Có lẽ ông cần tiếp tục việc nghiên cứu của mình.
2. The study of the will is really a task for disciples on all rays, for mind and will are important factors in the disciple’s life.
2. Nghiên cứu ý chí thực sự là nhiệm vụ của các đệ tử thuộc mọi cung, vì trí tuệ và ý chí là những yếu tố quan trọng trong đời sống của đệ tử.
Perhaps some idea of what I am trying to convey anent the work done in the Ashram of a Master or that done in the Ashram of a Chohan would come to you if you meditated upon the two words: Goodwill and the Will-to-Good. The first is worked out as qualifying the life in all Ashrams under the care of a Master of the Wisdom; the Will-to-Good is developed and understood in the Ashrams of Those of still greater attainment. The first concerns the Plan whilst the second deals with Purpose. Again, in this same connection, you have: Vision and Illumination. I have here given all of you a vital hint as to the distinction between the work of the two types of Ashrams.
Có lẽ em sẽ có được phần nào ý niệm về điều Tôi đang cố truyền đạt liên quan đến công việc trong ashram của một Chân sư và công việc trong ashram của một Đấng Chohan nếu em tham thiền về hai thuật ngữ: Thiện chí và Ý Chí-hướng Thiện. Thuật ngữ thứ nhất được thực hiện bằng cách đem phẩm tính vào đời sống trong mọi ashram do một Chân sư Minh Triết trông nom; Ý Chí-hướng Thiện được phát triển và thấu hiểu trong các ashram của Những Đấng có thành tựu cao hơn nữa. Thuật ngữ thứ nhất liên quan đến Thiên Cơ, còn thuật ngữ thứ hai liên quan đến Thiên Ý. Cũng trong mối liên hệ này, em có: Tầm nhìn và Sự soi sáng. Ở đây, Tôi đã trao cho tất cả các em một gợi ý thiết yếu về sự khác biệt giữa công việc của hai loại ashram.
1. This is a very pregnant paragraph. We have understood that Goodwill is “Love in Action” and thus relates the second aspect of divinity to the third. The Will-to-Good combines the second and first aspects.
1. Đây là một đoạn văn rất hàm súc. Chúng ta đã thấu hiểu rằng Thiện chí là “Tình thương trong Hành động”, và do đó liên kết phương diện thứ hai của thiên tính với phương diện thứ ba. Ý Chí-hướng Thiện kết hợp phương diện thứ hai và phương diện thứ nhất.
2. Humanity is to learn to express Goodwill whereas disciples are to apply themselves to an understanding and expression of the Will-to-Good.
2. Nhân loại phải học biểu lộ Thiện chí, còn các đệ tử phải chuyên tâm thấu hiểu và biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện.
3. Now we go deeper into an understanding of the distinction between the two, relating Goodwill to the Ashrams of Masters of the Wisdom, and the Will-to-Good to Ashrams of Chohans.
3. Giờ đây, chúng ta đi sâu hơn vào việc thấu hiểu sự khác biệt giữa hai điều này, liên hệ Thiện chí với các ashram của những Chân sư Minh Triết, và Ý Chí-hướng Thiện với các ashram của những Chohan.
4. Goodwill is related to Plan and Vision, whereas the Will-to-Good is related to Purpose and Illumination.
4. Thiện chí liên hệ với Thiên Cơ và Tầm nhìn, còn Ý Chí-hướng Thiện liên hệ với Thiên Ý và Sự soi sáng.
5. It would seem that Goodwill is stimulated from the buddhic plane whereas the Will-to-Good is at least atmic in its nature.
5. Dường như Thiện chí được kích thích từ cõi Bồ đề, còn Ý Chí-hướng Thiện ít nhất cũng mang bản chất atma.
6. There is much general clarification coming in these instructions regarding the distinctions between two types of Ashrams. These points are needed by RVB as he attempts to prepare himself for a vital transition. They are also needed to round out the understanding of the average disciple who is likely to be ignorant of such distinctions.
6. Những huấn thị này đem lại nhiều sự sáng tỏ tổng quát về những khác biệt giữa hai loại ashram. RVB cần những điểm này khi ông cố gắng chuẩn bị cho một bước chuyển tiếp trọng yếu. Chúng cũng cần thiết để hoàn thiện sự thấu hiểu của người đệ tử thông thường, vốn có lẽ chưa biết đến những khác biệt như thế.
7. It would seem that an initiate of the first degree is far less likely to be a disciple in the Ashram of a Chohan. After passing the second degree (with its emphasis on learning the meaning of will in relation to the second aspect — for the second initiation relates to that aspect), such membership is more likely. Desire is mastered, to a degree, at the second initiation. Desire (closely connected to ray six) is, of course, closely associated with the second aspect.
7. Dường như một điểm đạo đồ cấp độ thứ nhất ít có khả năng trở thành đệ tử trong ashram của một Chohan hơn nhiều. Sau khi vượt qua cấp độ thứ hai (với trọng tâm là học ý nghĩa của ý chí trong mối liên hệ với phương diện thứ hai — vì lần điểm đạo thứ hai liên quan đến phương diện ấy), khả năng trở thành thành viên như thế sẽ lớn hơn. Ở lần điểm đạo thứ hai, dục vọng được làm chủ đến một mức độ nhất định. Dĩ nhiên, dục vọng (liên hệ chặt chẽ với cung sáu) gắn bó mật thiết với phương diện thứ hai.
8. The numbers six and two are related, just as the astral plane and the monadic plane are related. It is not insignificant that important lessons concerning the will are learned at the second degree. The contrast between the energies of Mars and Vulcan comes into focus.
8. Các con số sáu và hai có liên hệ với nhau, cũng như cõi cảm dục và cõi chân thần có liên hệ với nhau. Việc những bài học quan trọng về ý chí được học ở cấp độ thứ hai mang ý nghĩa đáng kể. Sự tương phản giữa các năng lượng của Sao Hỏa và Vulcan trở nên nổi bật.
You can also, if you so choose, work out the same idea in the linking of the three periodical vehicles, finding a third word, allied and descriptive, to form a sequential educational picture:
Nếu muốn, em cũng có thể khai triển cùng ý tưởng ấy trong mối liên kết giữa ba hiện thể chu kỳ, tìm một từ thứ ba có liên hệ và có tính mô tả, để tạo thành một bức tranh học tập theo trình tự:
1. Sight Vision Illumination.
1. Thị giác............ Tầm nhìn.............. Sự soi sáng.
2. Action Plan Purpose.
2. Hành động........ Thiên Cơ................. Thiên Ý.
3. Self-will Goodwill Will-to-Good. [567]
3. Ý chí cá nhân....... Thiện chí......... Ý Chí-hướng Thiện.
You would find the creation of similar combinations of spiritually explanatory words a valuable exercise.
Em sẽ thấy việc tạo ra những tổ hợp tương tự từ các từ ngữ có tác dụng làm sáng tỏ ý nghĩa tinh thần là một bài tập có giá trị.
1. DK is educating His disciple, attempting to evoke the intuition.
1. Chân sư DK đang giáo dục đệ tử Ngài, cố gắng khơi gợi trực giác.
2. The second column takes us towards soul life, but the third column bridges towards the Spiritual Triad.
2. Cột thứ hai đưa chúng ta đến đời sống linh hồn, còn cột thứ ba bắc cầu hướng đến Tam Nguyên Tinh Thần.
3. In fact, the third column presents, rather clearly, a trinity of considerations for those approaching the third initiation.
3. Thực ra, cột thứ ba trình bày khá rõ một bộ ba điều cần suy xét cho những ai đang tiến đến lần điểm đạo thứ ba.
4. The third column represents a significant ‘unveiling’ when compared to the second.
4. So với cột thứ hai, cột thứ ba biểu thị một sự ‘vén màn’ đáng kể.
5. The three aspects of divinity are mirrored in the three columns.
5. Ba phương diện của thiên tính phản chiếu trong ba cột.
6. The three periodical vehicles are personality, soul and monad. A number of illuminating trinities can be associated with these three.
6. Ba hiện thể chu kỳ là phàm ngã, linh hồn và chân thần. Có thể liên hệ một số bộ ba có tính soi sáng với ba hiện thể này.
7. We can see that DK is at work assisting RVB to structure his consciousness so that the different phases of disciplic development stand forth in bold relief.
7. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đang trợ giúp RVB tổ chức tâm thức của ông sao cho những giai đoạn khác nhau trong sự phát triển của đệ tử hiện lên thật rõ nét.
8. Important steps in consciousness are on the verge of accomplishment, and DK is evoking RVB’s full understanding of the implications.
8. Những bước tiến quan trọng trong tâm thức đang sắp thành tựu, và Chân sư DK đang khơi gợi để RVB thấu hiểu đầy đủ những hàm ý của chúng.
I infer not here, my brother, that your will is weak. It is constantly oriented towards that which is good and towards the Hierarchy. But the use of the spiritual will as it can affect and direct the affairs of the personality is another thing altogether; it is here that you must seek to learn the direct action of the will of the soul as you face the opportunities and crises of life. I would therefore suggest to you the following type of meditation. You know enough of the meditation process to work it out through the years into your own reflective pattern of living, as it gradually takes effect and you see deeper into the subject of the will.
Huynh đệ của tôi, ở đây Tôi không hàm ý rằng ý chí của em yếu. Ý chí ấy luôn hướng về điều thiện và về Thánh đoàn. Nhưng việc sử dụng ý chí tinh thần sao cho nó có thể tác động và điều khiển những công việc của phàm ngã lại là một vấn đề hoàn toàn khác; chính ở đây em phải tìm cách học hỏi tác động trực tiếp của ý chí linh hồn khi đối diện với những cơ hội và khủng hoảng trong đời. Vì vậy, Tôi đề nghị em thực hiện kiểu tham thiền sau đây. Em đã biết đủ về tiến trình tham thiền để qua năm tháng đưa nó vào khuôn mẫu sống suy ngẫm của riêng mình, khi nó dần phát huy tác dụng và em nhìn sâu hơn vào chủ đề ý chí.
1. DK clarifies His evaluation of RVB and offers a balancing statement. RVB’s will is not weak. It is oriented towards the good and towards the Hierarchy, but is not sufficient to “affect and direct the affairs of the personality”. What is needed is the “direct action of the will of the soul” as RVB faces the “opportunities and crises of life”.
1. Chân sư DK làm rõ sự đánh giá của Ngài về RVB và đưa ra một nhận định cân bằng. Ý chí của RVB không yếu. Nó hướng đến điều thiện và đến Thánh đoàn, nhưng chưa đủ để “tác động và chỉ đạo các công việc của phàm ngã”. Điều cần thiết là “tác động trực tiếp của ý chí linh hồn” khi RVB đối diện với “những cơ hội và khủng hoảng của cuộc sống”.
2. We note that it is the “will of the soul” that is required. We are not yet speaking of monadic will.
2. Chúng ta lưu ý rằng điều cần thiết là “ý chí của linh hồn”. Chúng ta chưa nói đến ý chí chân thần.
3. It is the “will of the soul” which must become stronger and more directive in relation to the life of the personality. This seems a concept sufficiently easy to grasp, but it is not easy to execute.
3. Chính “ý chí linh hồn” phải trở nên mạnh mẽ hơn và có sức chỉ đạo lớn hơn đối với đời sống phàm ngã. Khái niệm này có vẻ khá dễ nắm bắt, nhưng không dễ thực hiện.
4. DK hints that the meditation He is offering may be useful for years to come and that RVB will be responsible for working it out and applying it in relation to his “reflective pattern of living” (an interesting phrase on which to reflect). The usefulness of the meditation will deepen as RVB learns to see more deeply into the subject of the will. It seems that DK is preparing His disciples for their independence from Him which will be necessitated by the conclusion of His outer contact with AAB.
4. Chân sư DK gợi ý rằng bài thiền Ngài đang trao có thể hữu ích trong nhiều năm tới, và RVB sẽ có trách nhiệm triển khai cũng như áp dụng nó trong mối liên hệ với “mô hình sống có suy ngẫm” của ông (một cụm từ thú vị để suy ngẫm). Tính hữu ích của bài thiền sẽ sâu sắc hơn khi RVB học cách nhìn sâu hơn vào chủ đề ý chí. Dường như Chân sư DK đang chuẩn bị cho các đệ tử Ngài trở nên độc lập với Ngài, điều sẽ cần thiết khi sự tiếp xúc bên ngoài của Ngài với AAB kết thúc.
1. Sound the OM consciously as:
1. Xướng linh từ OM một cách có ý thức với tư cách là:
a. The physical body, using the brain as the centre of dedication,
a. Thể xác, dùng bộ não làm trung tâm hiến dâng,
b. The astral body, "lifting up the heart unto the Lord" thereby, in reality, ignoring the existence of the astral body,
b. Thể cảm dục, qua đó “nâng tâm lên với Chúa”, thực ra là không lưu tâm đến sự tồn tại của thể cảm dục,
c. As the mind, orienting it with directness towards the soul.
c. Với tư cách là thể trí, hướng thẳng thể trí về linh hồn.
2. Then sound the OM three times as the soul, flooding the triple instrument with light and love.
2. Sau đó, với tư cách là linh hồn, xướng linh từ OM ba lần, làm ngập tràn khí cụ tam phân bằng ánh sáng và tình thương.
3. Then give some time to the expression of goodwill by the personality.
3. Sau đó, dành một khoảng thời gian để phàm ngã biểu lộ thiện chí.
4. Centre the consciousness anew in the soul, orienting your soul-infused personality towards the Spiritual Triad. This will require the use of the imagination, until such time as it is factual.
4. Lại tập trung tâm thức trong linh hồn, hướng phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của em về Tam Nguyên Tinh Thần. Điều này đòi hỏi phải dùng sự tưởng tượng, cho đến khi nó trở thành sự thật.
1. As RVB sounds the OM, he is to change his levels of identification.
1. Khi RVB xướng linh từ OM, ông phải thay đổi các cấp độ đồng hoá của mình.
2. A dedicated brain is a concentrated focus of power, brining dedicated direction onto the physical plane.
2. Một bộ não hiến dâng là một tiêu điểm quyền năng tập trung, đem sự định hướng hiến dâng vào cõi hồng trần.
3. Identifying with the astral body, RVB is to treat that body as a center of love, negating its usual function as a focus of desire. Love is taking the place of desire. This kind of replacement does occur at the second degree.
3. Khi đồng hoá với thể cảm dục, RVB phải xem thể này là một trung tâm tình thương, phủ nhận chức năng thông thường của nó là tiêu điểm dục vọng. Tình thương đang thay thế dục vọng. Kiểu thay thế này quả thực diễn ra ở cấp độ thứ hai.
4. The mind is to become an instrument of the will. The word “directness” is important, carrying as it does the energy of the first ray.
4. Thể trí phải trở thành công cụ của ý chí. Từ “thẳng” rất quan trọng, vì nó mang năng lượng cung một.
5. With the personality aligned with, dedicated and oriented to the soul, RVB is identify with the soul using the OM to flood the each personality vehicle with light and love.
5. Khi phàm ngã đã chỉnh hợp với linh hồn, hiến dâng và hướng về linh hồn, RVB phải đồng hoá với linh hồn, sử dụng linh từ OM để làm ngập tràn từng hiện thể của phàm ngã bằng ánh sáng và tình thương.
6. In point three, the personality is realized as an instrument of goodwill, and that energy is felt and expressed.
6. Ở điểm thứ ba, phàm ngã được nhận biết là một công cụ của thiện chí, và năng lượng ấy được cảm nhận và biểu lộ.
7. The previous stages led to a degree of soul infusion. Now the meditation calls for the rapport of the soul-infused personality with the Spiritual Triad. The imagination is to be used, as it always is in the initial stages of the building of the antahkarana. Eventually, when the rapport is sensed as factual, the use of the imagination can be discontinued.
7. Những giai đoạn trước đã dẫn đến một mức độ thấm nhuần của linh hồn. Giờ đây, bài thiền đòi hỏi sự giao cảm giữa phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và Tam Nguyên Tinh Thần. Cần sử dụng sự tưởng tượng, như vẫn luôn làm trong các giai đoạn đầu của việc xây dựng antahkarana. Cuối cùng, khi cảm nhận được sự giao cảm ấy như một thực tế, có thể ngừng sử dụng sự tưởng tượng.
5. Then take the following themes sequentially into meditative reflection, taking one each month and — when completed — resuming the sequence.
5. Sau đó, lần lượt suy ngẫm trong tham thiền về các chủ đề sau, mỗi tháng một chủ đề và—khi hoàn tất—bắt đầu lại trình tự ấy.
a. From the centre where the Will of God is known.
a. Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế
b. Let purpose rule the little wills of men.
b. Cầu xin Thiên Ý cai quản ý chí nhỏ bé của con người.
c. The purpose which the Masters know.
c. Thiên Ý mà các Chân sư biết.
d. The purpose which the Masters serve.
d. Thiên Ý mà các Chân sư phụng sự.
e. Let Light restore the Plan on Earth.
e. Cầu xin Ánh sáng phục hồi Thiên Cơ trên Trái Đất.
f. Let Love restore the Plan.
f. Cầu xin Tình thương phục hồi Thiên Cơ.
g. Let Power restore the Plan on Earth.
g. Cầu xin Quyền năng phục hồi Thiên Cơ trên Trái Đất.
h. Let His Will be done on Earth as it is in Heaven.
h. Cầu xin Ý Chí của Ngài được thực thi dưới đất cũng như trên trời.
i. To the accomplishment of His Will, I dedicate myself from now until eternity.
i. Con hiến dâng mình cho việc thành tựu Ý Chí của Ngài, từ nay cho đến vĩnh cửu.
6. Sound the OM three times inaudibly. [568]
6. Xướng thầm linh từ OM ba lần.
1. It appears that DK is planning an interval of at least nine months between this communication and the next. Actually it was rather longer.
1. Dường như Chân sư DK dự định có một khoảng cách ít nhất chín tháng giữa lần trao đổi này và lần kế tiếp. Thực tế, khoảng thời gian ấy dài hơn khá nhiều.
2. Parts of the third stanza of the Great Invocation, dealing as it does with the Will, are included in the proposed meditation. These phrases are ideal for the strengthening of the will.
2. Những phần của khổ thứ ba trong Đại Khấn Nguyện, vốn đề cập đến Ý Chí, được đưa vào bài thiền đã đề nghị. Những câu này rất lý tưởng cho việc tăng cường ý chí.
3. Additional statements related to the will, and to the blending of will with the other aspects of divinity, are also offered.
3. Những lời khẳng định bổ sung liên quan đến ý chí, và đến sự hòa quyện ý chí với các phương diện khác của thiên tính, cũng được đưa ra.
4. The last sentence is especially interesting as it involves a complete consecration. The phrase “from now until eternity” is paradoxical and challenges the thought process.
4. Câu cuối đặc biệt thú vị vì nó bao hàm một sự thánh hiến hoàn toàn. Cụm từ “từ nay cho đến vĩnh cửu” mang tính nghịch lý và thách thức tiến trình tư duy.
5. The effect of this meditation can be summed as, “Not my will by Thine be done”. It leads to the emergence of the selfless will. We find in the ninefold sequence of phrases all aspects of divinity united, and the meditator is moved to consider will in relation to synthesis.
5. Có thể tóm lược tác dụng của bài thiền này bằng câu: “Xin ý chí của Ngài được thực hiện, chứ không phải ý chí của con”. Nó dẫn đến sự xuất hiện của ý chí vô ngã. Trong trình tự cửu phân gồm những câu này, chúng ta thấy mọi phương diện của thiên tính hợp nhất, và người hành thiền được thúc đẩy suy xét ý chí trong mối liên hệ với sự tổng hợp.
6. An inaudible sounding of the OM is more occultly effective if executed properly.
6. Việc xướng thầm linh từ OM có hiệu quả huyền bí lớn hơn nếu thực hiện đúng cách.
Call on me when you will, but only at need. The words "when you will" have an occult significance. It is the use of the will which is needed when the attention of the Master is needed, in the case of a chela at your point of ashramic contact. Your link with me remains unbroken.
Hãy gọi Tôi khi em muốn, nhưng chỉ khi cần thiết. Những từ “khi em muốn” có một thâm nghĩa huyền bí. Khi cần đến sự chú tâm của Chân sư, một đệ tử có mức độ tiếp xúc với ashram như em cần vận dụng ý chí. Mối liên kết của em với Tôi vẫn không gián đoạn.
1. This is a fascinating paragraph. It seems to suggest that RVB has reached the disciplic stage known as “Chela on the Thread”. It is permitted for such a disciple to call upon the Master and expect response. DK would not invite RVB to sound such a call if no response were to be forthcoming from Him.
1. Đây là một đoạn văn đầy cuốn hút. Dường như nó gợi ý rằng RVB đã đạt đến giai đoạn phát triển của đệ tử được gọi là “Đệ tử trên đường dây”. Một đệ tử như thế được phép kêu gọi Chân sư và chờ đợi sự đáp ứng. Chân sư DK sẽ không mời RVB phát ra lời kêu gọi như thế nếu Ngài không có ý đáp ứng.
2. The emphasis here is on the words, “need” and “will”. There is no desire involved.
2. Ở đây, trọng tâm nằm ở những từ “cần thiết” và “ý chí”. Không có dục vọng nào xen vào.
3. “When you will” is obviously not the same as “when you want”. At the second degree, the distinction between willing and wanting is made clear.
3. “Khi em vận dụng ý chí” rõ ràng không giống với “khi em muốn”. Ở cấp độ thứ hai, sự khác biệt giữa vận dụng ý chí và ham muốn được làm sáng tỏ.
4. The will is released into the psyche of those who know the Plan and dedicate themselves to that Plan, responsive to as much of the Purpose as they can fathom.
4. Ý chí được giải phóng vào đời sống nội tâm của những ai biết Thiên Cơ và hiến dâng bản thân cho Thiên Cơ ấy, đáp ứng với Thiên Ý trong phạm vi họ có thể thấu đạt.
5. When the disciple is willing according to the needs of the Plan, he may call upon the Master. A call to the Master is only justified if the Plan requires it; the need of the disciple, as an individual, is not considered sufficient cause.
5. Khi đệ tử vận dụng ý chí theo nhu cầu của Thiên Cơ, y có thể kêu gọi Chân sư. Chỉ khi Thiên Cơ đòi hỏi thì việc kêu gọi Chân sư mới có cơ sở chính đáng; nhu cầu của người đệ tử, xét như một cá nhân, không được xem là lý do đủ xác đáng.
6. RVB is a chela in DK’s Ashram and has contact with the Ashram and with the Master.
6. RVB là một đệ tử trong ashram của Chân sư DK và có sự tiếp xúc với ashram cũng như với Chân sư.
7. When DK tells him that “your link with me remains unbroken”, it may be another hint concerning the degree of disciplic development known as “Chela on the Thread”. The “link”, then, would be the “thread”.
7. Khi Chân sư DK nói với ông rằng “mối liên kết của em với Tôi vẫn không gián đoạn”, đó có thể là một gợi ý khác về cấp độ phát triển của đệ tử được gọi là “Đệ tử trên đường dây”. Khi ấy, “mối liên kết” chính là “sợi dây”.
November 1948 – Tháng Mười Một năm 1948
MY FRIEND AND BROTHER:
BẠN VÀ HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:
There is relatively little that I have to say to you in this year's "touch of recognition" which I am giving to all who are actively affiliated with my Ashram. The circumstances of your life are such that you are eminently capable of handling its issues and dealing with its crises yourself; that ordains for you, therefore, a somewhat unusual state of affairs in the life of discipleship. You have been vouchsafed an interlude wherein you can perfect your work for individual souls; you have been provided full preparation. I would have you ponder deeply upon these conceptions.
Tôi có tương đối ít điều để nói với em trong lần “tiếp xúc ghi nhận” năm nay mà Tôi dành cho tất cả những ai đang tích cực gắn bó với Ashram của Tôi. Hoàn cảnh cuộc sống của em cho thấy em hoàn toàn đủ khả năng tự giải quyết các vấn đề và xử lý những khủng hoảng trong đó; vì vậy, điều ấy tạo nên cho em một tình thế có phần khác thường trong đời sống đệ tử. Em đã được ban cho một khoảng lặng để hoàn thiện công việc của mình đối với từng linh hồn; em đã được chuẩn bị đầy đủ. Tôi muốn em suy ngẫm sâu sắc về những quan niệm này.
1. RVB is actively affiliated with DK’s Ashram, so he is truly a “working disciple”, in the Ashram.
1. RVB đang tích cực gắn bó với ashram của Chân sư DK, nên ông thực sự là một “đệ tử đang làm việc” trong ashram.
2. The New Seed Group with twenty-four members had been disbanded, but probably for reasons of upliftment and ashramic continuity, DK wrote one more letter to those chelas who were still working in His Ashram and in relation to AAB after the disbanding.
2. Nhóm Hạt Giống Mới gồm hai mươi bốn thành viên đã giải thể, nhưng có lẽ vì mục đích nâng đỡ và duy trì tính liên tục của ashram, Chân sư DK đã viết thêm một bức thư cho những đệ tử vẫn đang làm việc trong ashram của Ngài và trong mối liên hệ với AAB sau khi nhóm giải thể.
3. The phrase “touch of recognition” is interesting and important. It is an ashramic affirmation from the Master, and must have been extremely important as an inspiration and assurance to those disciples who received it.
3. Cụm từ “sự ghi nhận thoáng qua” rất thú vị và quan trọng. Đó là một sự xác nhận từ Chân sư trong phạm vi ashram, hẳn vô cùng quan trọng như một nguồn cảm hứng và bảo đảm đối với những đệ tử nhận được.
4. DK is conveying important and subtle matters. He evaluates RVB as “eminently capable” of handling his life circumstances, issues and crises.
4. Chân sư DK đang truyền đạt những vấn đề quan trọng và tinh tế. Ngài đánh giá RVB là “hoàn toàn đủ khả năng” xử lý những hoàn cảnh, vấn đề và khủng hoảng trong cuộc sống của ông.
5. The term “interlude” is used again, evoking remembrance of Libran energy, so important in RVB’s life.
5. Thuật ngữ “khoảng lặng” lại được sử dụng, gợi nhớ đến năng lượng Thiên Bình, vốn rất quan trọng trong đời sống của RVB.
6. In relation to this interlude, words like “ordained” and “vouchsafed” (unusual and rather Biblical terms) are woven into this letter.
6. Liên quan đến khoảng lặng này, những từ như “ấn định” và “ban cho” (những từ khác thường và khá đậm sắc thái Kinh Thánh) được đan vào bức thư.
7. Has RVB reached the stage of development foreseen by the Tibetan? The ring of the Master’s words seems to suggest that he has.
7. RVB đã đạt đến giai đoạn phát triển mà Chân sư Tây Tạng từng dự thấy hay chưa? Âm hưởng trong lời của Chân sư dường như cho thấy ông đã đạt đến.
8. RVB knows exactly what he has to do for the remainder of his incarnation. DK acknowledges that RVB is fully prepared to “perfect [his] work for individual souls”. There are probably certain souls within his range of influence which must be taught, cultivated and refined. The Master seems satisfied with what has been accomplished. A breathing-space seems to be given.
8. RVB biết chính xác mình phải làm gì trong phần còn lại của kiếp sống. Chân sư DK xác nhận rằng RVB đã được chuẩn bị đầy đủ để “hoàn thiện công việc [của ông] dành cho từng linh hồn”. Có lẽ có những linh hồn nhất định trong phạm vi ảnh hưởng của ông cần được dạy dỗ, vun bồi và tinh luyện. Chân sư dường như hài lòng với những gì đã thành tựu. Dường như một khoảng thời gian thư sức đang được dành cho ông.
9. We remember that one of RVB’s signature words is “The Breath”, a term related to “interlude”. From now until the close of his life he will be passing through a quiet and most productive interlude, in preparation for spiritual events which he realizes are imminent — probably to transpire in his next incarnation.
9. Chúng ta nhớ rằng một trong những từ đặc trưng của RVB là “Hơi Thở”, một thuật ngữ liên quan đến “khoảng lặng”. Từ nay cho đến cuối đời, ông sẽ trải qua một khoảng lặng yên tĩnh và hết sức hữu ích, để chuẩn bị cho những sự kiện tinh thần mà ông nhận biết là sắp đến — có lẽ sẽ diễn ra trong kiếp lâm phàm kế tiếp.
You have not in this life functioned in any way as a member of your race, once you had reached due years of understanding; you have been held possessively by no binding family ties, though you have always been in touch with your relatives; you have had no difficulty in assimilating the Ageless Wisdom and you have served the Hierarchy consciously for many decades; you are giving real help to A.A.B. and she is, I know, going to ask for a deepening of the nature of that help though not necessarily for an increase in its quantity.... You have had the handicap of poor health which is not, in your case, a real handicap but a pronounced and definitely [569] planned role whereby the disciple learns certain lessons of detachment and above all registers — as he learns — the relative unimportance of form. These things have happened to you and these lessons have been presented to you for assimilation; you are now faced with a greatly deepened esoteric service which you still perform in the place where you are.
Trong kiếp sống này, từ khi đạt đến tuổi có đủ sự thấu hiểu, em không hề hoạt động với tư cách là một thành viên của chủng tộc mình; không có mối ràng buộc gia đình nào níu giữ em, dù em luôn giữ liên lạc với thân quyến; em không gặp khó khăn trong việc lĩnh hội Minh Triết Ngàn Đời và đã phụng sự Thánh đoàn một cách hữu thức suốt nhiều thập niên; em đang thực sự giúp đỡ A.A.B. và Tôi biết Bà sẽ yêu cầu sự giúp đỡ ấy có bản chất sâu sắc hơn, dù không nhất thiết phải gia tăng về lượng.... Em đã chịu trở ngại do sức khỏe kém, nhưng trong trường hợp của em, đó không phải là một trở ngại thực sự mà là một vai trò rõ rệt và dứt khoát [569] đã được hoạch định, qua đó người đệ tử học những bài học nhất định về sự tách rời và trên hết, trong khi học, ghi nhận rằng hình tướng tương đối ít quan trọng. Những điều này đã xảy đến với em và những bài học này đã được đặt trước em để em lĩnh hội; giờ đây, em đứng trước một công việc phụng sự nội môn sâu sắc hơn rất nhiều mà em vẫn thực hiện tại nơi mình đang ở.
1. It is probable that like RSU, RVB is a member of the Jewish race. He has, however, been free from that thoughtform once reaching “due years of understanding”. He has not been bound to his people. Perhaps this was not entirely true of RSU.
1. Có lẽ giống như RSU, RVB là người thuộc dân tộc Do Thái. Tuy nhiên, một khi đã đến “tuổi đủ chín chắn để thấu hiểu”, ông đã thoát khỏi hình tư tưởng ấy. Ông không bị ràng buộc với dân tộc mình. Có lẽ điều này không hoàn toàn đúng với RSU.
2. RVB, it appears, true to his Libran nature, has functioned in a balanced manner. He has not been bound to his relatives and their customs, but has, nevertheless, preserved right human relations with them.
2. Dường như RVB, đúng với bản chất Thiên Bình của mình, đã hành xử một cách cân bằng. Ông không bị ràng buộc với thân quyến và các tập tục của họ, nhưng vẫn duy trì những quan hệ nhân sinh đúng đắn với họ.
3. DK lists RVB’s accomplishments. It is a summation, but not a final summary, for AAB is going to ask for a “deepening” of the help which RVB has been offering so consistently and dependably.
3. Chân sư DK liệt kê những thành tựu của RVB. Đây là một sự tổng kết, nhưng chưa phải bản tổng kết cuối cùng, vì AAB sẽ yêu cầu sự trợ giúp mà RVB vẫn luôn đem lại một cách đều đặn và đáng tin cậy trở nên “sâu sắc hơn”.
4. There are handicaps in RVB’s personal life, but the Master informs him that these (especially the present poor health) have been planned to teach detachment and the relative unimportance of form life. The soul’s methods are interesting, are they not? The personality consciousness might easily misunderstand them. The Master’s interpretation is, therefore, very helpful.
4. Có những trở ngại trong đời sống cá nhân của RVB, nhưng Chân sư cho ông biết rằng những trở ngại ấy (đặc biệt là tình trạng sức khỏe kém hiện tại) đã được hoạch định để dạy sự tách rời và tầm quan trọng tương đối nhỏ của đời sống hình tướng. Những phương pháp của linh hồn thật thú vị, phải không? Tâm thức phàm ngã có thể dễ dàng hiểu sai chúng. Vì vậy, cách lý giải của Chân sư rất hữu ích.
5. DK’s words help RVB negate any undue concentration upon physical plane life as he prepares for deepening esoteric service, to be performed in the place where he is. Saturn is still at work, holding him to that “place”.
5. Lời của Chân sư DK giúp RVB phủ nhận bất kỳ sự tập trung quá mức nào vào đời sống cõi hồng trần khi ông chuẩn bị cho công việc phụng sự huyền bí sâu sắc hơn, sẽ được thực hiện ngay tại nơi ông đang ở. Sao Thổ vẫn đang tác động, giữ ông ở “nơi” ấy.
So you see, my brother, your life is rich and full and free and promises to be even more so. Your need is to acquiesce in the limitations of the physical body, which need not necessarily increase until old age is upon you, and at the same time to refuse recognition of that body so that it in no way impinges upon your consciousness in such a manner that it curtails or hinders your pledged service.
Vậy em thấy đó, huynh đệ của tôi, cuộc sống của em phong phú, trọn vẹn, tự do và hứa hẹn sẽ còn hơn thế nữa. Điều em cần là chấp nhận những giới hạn của thể xác, vốn không nhất thiết phải gia tăng cho đến khi tuổi già đến, đồng thời không lưu tâm đến thể xác ấy để nó không tác động đến tâm thức của em theo bất kỳ cách nào làm thu hẹp hoặc cản trở công việc phụng sự mà em đã cam kết.
1. DK interprets RVB’s present life circumstances in terms of opportunity. The Master deems his life “rich and full and free” — glowing words of affirmation. Even more along these lines is promised, presumably the reward of karma fulfilled and dharma consistently pursued.
1. Chân sư DK lý giải hoàn cảnh sống hiện tại của RVB theo những cơ hội mà nó đem lại. Chân sư xem cuộc sống của ông là “phong phú, đầy đặn và tự do” — những lời khẳng định rạng rỡ. Ngài hứa hẹn rằng những điều ấy sẽ còn gia tăng, có lẽ là phần thưởng của nghiệp quả đã được hoàn tất và bổn phận được kiên trì thực hiện.
2. RVB is not only a pledged disciple but also an accepted disciple. DK strengthens his will to negate any hindering influence of a frail body. The needs of the body may be attended to, and that body need not become further incapacitated, but it cannot be allowed to impinge obstructively upon the consciousness.
2. RVB không chỉ là một đệ tử đã cam kết mà còn là một đệ tử được chấp nhận. Chân sư DK củng cố ý chí của ông để phủ nhận mọi ảnh hưởng cản trở của một thân thể yếu ớt. Có thể chăm lo những nhu cầu của thân thể, và thân thể ấy không nhất thiết phải suy yếu thêm, nhưng không thể để nó tác động lên tâm thức theo cách gây cản trở.
3. It is a kind of acquiescence that is required. Limitations must be acknowledged, and afterwards negated. The requirements are clear.
3. Điều cần thiết là một dạng chấp nhận. Phải thừa nhận những giới hạn, rồi sau đó phủ nhận chúng. Những yêu cầu ấy rất rõ ràng.
You have progressed beyond the stages of set meditations and definite forms; your requirement at this time is to start each day of your life with a steadily deepening period of spiritual recognition.
Em đã tiến vượt qua những giai đoạn sử dụng các bài thiền định sẵn và những hình thức xác định; lúc này, điều em cần là bắt đầu mỗi ngày trong đời bằng một khoảng thời gian nhận biết tinh thần ngày càng sâu sắc.
1. RVB is by now an experienced meditator. DK leaves him in freedom with respect to the pursuit of meditation but offers suggestions nonetheless.
1. Đến lúc này, RVB đã là một người hành thiền giàu kinh nghiệm. Chân sư DK để ông tự do trong việc theo đuổi tham thiền, nhưng vẫn đưa ra những gợi ý.
2. What is required is a daily “period of spiritual recognition”. The realities of the inner worlds are accessible to RVB. He has simply to register the facts.
2. Điều cần thiết là một “khoảng thời gian nhận biết tinh thần” hằng ngày. RVB có thể tiếp cận những thực tại của các cõi bên trong. Ông chỉ cần ghi nhận các sự kiện.
In that period, you do four things:
Trong khoảng thời gian ấy, em làm bốn điều:
1. You render recognition to your own soul
1. Em ghi nhận linh hồn của chính mình
a. As one with the souls of men.
a. Là một với linh hồn của mọi người.
b. As steadily fulfilling its life purpose.
b. Đang kiên định hoàn thành mục đích sống của mình.
2. You render recognition to the Ashram with which you are connected and to the group of co-workers with whom you are determined to cooperate.
2. Em ghi nhận Ashram mà em liên kết và nhóm cộng sự mà em quyết tâm hợp tác.
3. You render recognition to me, your Master, D.K., by a flash of thought and of love.
3. Em ghi nhận Tôi, Chân sư của em, Chân sư DK, bằng một thoáng tư tưởng và tình thương.
4. You recognise your personality as a divine server.
4. Em nhận biết phàm ngã của mình là một người phụng sự thiêng liêng.
If you follow this apparently very simple procedure in the morning and at night prior to sleeping, you will discover for yourself a renewed dedication and a very deep insight into another layer (if I may so call it) of esoteric truth and of the divine consciousness.
Nếu em thực hiện trình tự có vẻ rất đơn giản này vào buổi sáng và buổi tối trước khi ngủ, em sẽ tự khám phá một sự hiến dâng được đổi mới và một sự thấu suốt rất sâu sắc vào một tầng khác (nếu Tôi có thể gọi như vậy) của chân lý nội môn và tâm thức thiêng liêng.
1. RVB is now meditating as a soul, and not an aspiring personality.
1. Giờ đây, RVB đang tham thiền với tư cách một linh hồn, chứ không phải một phàm ngã đầy khát vọng.
2. He is a soul, at one with all souls, and fulfilling his purpose — as a soul.
2. Ông là một linh hồn, hợp nhất với mọi linh hồn và hoàn thành mục đích của mình — với tư cách một linh hồn.
3. He is to recognize the Ashram and affirm his place within the Ashram and in relation to his co-workers in the Ashram.
3. Ông cần nhận biết ashram và khẳng định vị trí của mình trong ashram cũng như trong mối quan hệ với những người đồng sự trong ashram.
4. By recognizing the Master, through a “flash of thought and of love” he is utilizing the “thread” linking him to the Master. This aligns him with the Master’s presence and will — a daily exercise of importance.
4. Qua việc nhận biết Chân sư bằng một “tia chớp tư tưởng và tình thương”, ông đang sử dụng “sợi dây” nối mình với Chân sư. Điều này giúp ông chỉnh hợp với sự hiện diện và ý chí của Chân sư — một bài thực hành hằng ngày có tầm quan trọng.
5. As a soul, RVB recognizes his personality. But it is a personality transmuted and largely transformed — though probably not transfigured. He recognizes his personality as a “divine server”. Indeed, this is what the personality should become.
5. Với tư cách một linh hồn, RVB nhận biết phàm ngã của mình. Nhưng đó là một phàm ngã đã được chuyển hoá và phần lớn đã được chuyển đổi — dù có lẽ chưa được biến hình. Ông nhận biết phàm ngã của mình là một “người phụng sự thiêng liêng”. Quả thực, đây chính là điều mà phàm ngã cần trở thành.
We are forever linked as workers in the one Hierarchy and under the leadership of the Christ and His Successor in a distant century. Count heavily on this, my brother, and go forward with my love and blessing. [570]
Chúng ta mãi mãi gắn bó với nhau như những người hoạt động trong cùng một Thánh đoàn, dưới sự lãnh đạo của Đức Christ và Đấng Kế Vị Ngài trong một thế kỷ xa xôi. Huynh đệ của tôi, hãy vững tin vào điều này và tiến bước với tình thương cùng phúc lành của Tôi.
1. DK presents, with subtlety, RVB’s destiny. RVB is affirmed as a co-worker of Master DK, and is linked as well to the Christ.
1. Chân sư DK trình bày một cách tinh tế về vận mệnh của RVB. RVB được xác nhận là một người đồng sự của Chân sư DK, đồng thời cũng gắn kết với Đức Christ.
2. The hint relates to RVB’s relationship to Master KH, Who is related to the Christ as “His Successor in a distant century”. This may be later in the Aquarian Age or in the succeeding Age of Capricorn.
2. Lời gợi ý liên quan đến mối quan hệ của RVB với Chân sư KH, Đấng có mối quan hệ với Đức Christ với tư cách là “Đấng Kế Vị Ngài trong một thế kỷ xa xôi”. Điều này có thể diễn ra vào giai đoạn sau của Kỷ Nguyên Bảo Bình hoặc trong Kỷ Nguyên Ma Kết tiếp theo.
3. DK seems to be suggesting that RVB will be serving Master KH during that distant century and that Master DK will be there as well.
3. Dường như Chân sư DK đang gợi ý rằng RVB sẽ phụng sự Chân sư KH trong thế kỷ xa xôi ấy, và Chân sư DK cũng sẽ hiện diện ở đó.
4. RVB is to “count heavily” upon the fact that he is linked as a worker with DK and is under the leadership of the Christ and the Master KH. This realization will give him strength and inspiration. It would appear that RVB’s intended link with the Ashram of Master KH is proceeding as it should.
4. RVB cần “vững lòng tin” vào sự thật rằng ông gắn kết với Chân sư DK với tư cách một người hoạt động, và ở dưới sự lãnh đạo của Đức Christ cùng Chân sư KH. Nhận thức này sẽ mang lại cho ông sức mạnh và cảm hứng. Dường như mối liên kết dự kiến của RVB với ashram của Chân sư KH đang tiến triển đúng như cần phải thế.
5. The Master closes on the note of “love and blessing”. One can feel that, all along, He has enfolded RVG in these qualities.
5. Chân sư kết thúc bằng âm điệu của “tình thương và phúc lành”. Có thể cảm nhận rằng suốt từ đầu đến cuối, Ngài đã bao bọc RVG trong những phẩm tính này.