Trích nội dung chương
5. DK seems to be describing how the first and seventh rays work together in the life of BSW. It is a beautiful sentence full of revelation for the first ray/seventh ray type: 5. Dường như Chân sư DK đang mô tả cách cung một và cung bảy cùng hoạt động trong đời sống của BSW. Đây là một câu văn đẹp, chứa đựng nhiều sự mặc khải cho người thuộc cung một/cung bảy:
5. DK seems to be describing how the first and seventh rays work together in the life of BSW. It is a beautiful sentence full of revelation for the first ray/seventh ray type:
5. Dường như Chân sư DK đang mô tả cách cung một và cung bảy cùng hoạt động trong đời sống của BSW. Đây là một câu văn đẹp, chứa đựng nhiều sự mặc khải cho người thuộc cung một/cung bảy:
“The first ray person is conscious of ordered life, the majesty of ordered forces; the glory of the intelligent ‘arrangement’ of the powers which lie behind the manifested world is his rightful field of service”.
“Người cung một có ý thức về đời sống có trật tự, về vẻ uy nghi của những mãnh lực được sắp đặt có trật tự; vẻ huy hoàng của sự ‘sắp xếp’ thông minh các quyền năng nằm sau thế giới biểu hiện là lĩnh vực phụng sự đúng đắn của người ấy”.
6. DK’s method is to affirm what BSW possesses and, then, to seek to add more. The orderly and intelligent arrangement of forces is understood. But the “power to intuit the plan as it exists in the heart of love” is not yet acquired. This is an extraordinary phrase. It seems to suggest that if we love enough the Plan will be revealed to us: “for only love reveals the Plan”. These thoughts could well be taken into meditation.
6. Phương pháp của Chân sư DK là khẳng định những gì BSW đang có, rồi tìm cách bổ sung thêm. Ông đã thấu hiểu sự sắp xếp các mãnh lực một cách có trật tự và thông minh. Nhưng ông chưa đạt được “khả năng trực nhận Thiên Cơ như Thiên Cơ hiện hữu trong trái tim bác ái”. Đây là một cách diễn đạt phi thường. Dường như nó gợi ý rằng nếu chúng ta có đủ bác ái, Thiên Cơ sẽ được mặc khải cho chúng ta: “vì chỉ bác ái mới mặc khải Thiên Cơ”. Những tư tưởng này rất đáng đưa vào tham thiền.
7. Love, pure reason and intuition are akin. These are the methods of accessing the Divine Plan. The heartless reason of the cold mind will not suffice.
7. Bác ái, lý trí thuần khiết và trực giác có quan hệ gần gũi. Đây là những phương pháp tiếp cận Thiên Cơ. Lý trí vô cảm của thể trí lạnh lùng sẽ không đủ.
8. The Divine Plan emerges from moment to moment in the tiniest thought, feeling or action. The one immersed in intuitive love from moment to moment facilitates the emergence of the Divine Plan in the tiniest things.
8. Thiên Cơ hiển lộ từng khoảnh khắc trong tư tưởng, cảm xúc hoặc hành động nhỏ bé nhất. Người đắm mình trong bác ái trực giác từng khoảnh khắc tạo điều kiện cho Thiên Cơ hiển lộ trong những điều nhỏ bé nhất.
December 1934 – Tháng Mười Hai năm 1934
In my last instruction to you, brother of old, I told you to stand as a tower of strength to your brothers. With your usual prompt acceptance of any suggestions which seem to you intellectually and intuitionally constructive, you have sought to do this. But, my brother, there has been too much of the tower in your attitude and of the highly placed and rather separative Observer in the top of the tower. Perhaps my use of the word "tower" was to blame. Maybe my vision of you as a strong and steady helper, added to your innate isolation, swept you too far apart. The first ray disciple loves isolation. It is for him the line of least resistance. He is, as you know, normally the one who stands alone. This is his strength and it is also his weakness. He glories in detachment, e'en as you gloried inwardly over your power to adapt yourself to me, as the teacher assigned to you by your own Master. You liked the [626] facility with which you made the adjustment, did you not?
Huynh đệ của ngày xưa, trong huấn thị lần trước gửi em, Tôi đã bảo em hãy đứng vững như một ngọn tháp sức mạnh cho các huynh đệ của mình. Với sự mau mắn thường lệ khi tiếp nhận bất kỳ đề nghị nào mà em thấy có tính xây dựng về mặt trí tuệ và trực giác, em đã cố gắng làm như vậy. Nhưng huynh đệ của tôi, thái độ của em mang quá nhiều dáng dấp của ngọn tháp và của Người Quan Sát ở vị trí cao, khá biệt lập trên đỉnh tháp. Có lẽ việc Tôi dùng từ “ngọn tháp” là nguyên nhân. Có lẽ hình dung của Tôi về em như một người trợ giúp mạnh mẽ, vững vàng, cộng với sự cô lập vốn có nơi em, đã đẩy em ra quá xa mọi người. Đệ tử cung một yêu thích sự cô lập. Đối với y, đó là con đường ít trở ngại nhất. Như em biết, y thường là người đứng một mình. Đây là sức mạnh và cũng là điểm yếu của y. Y hãnh diện về sự tách rời, cũng như trong lòng em đã hãnh diện về khả năng thích ứng với Tôi, người huấn sư mà chính Chân sư của em đã giao cho em. Em thích sự [626] dễ dàng khi thực hiện sự điều chỉnh ấy, phải không?
1. Here we see the reason why the Master must be cautious when He offers advice. BSW is eager and sincere and will readily accept the Master’s suggestions because they seem “intellectually and intuitionally constructive”. However, his interpretation of the advice has not been entirely sound. The term “tower” in “tower of strength” has somehow strengthened his centralized and isolative attitudes. He has not descended into the “valleys”, but has remained the “highly placed and rather separated Observer in the top of the tower”. The heart attitude which DK has been attempting to cultivate in His chela cannot flourish from such a position.
1. Ở đây chúng ta thấy lý do vì sao Chân sư phải thận trọng khi Ngài đưa ra lời khuyên. BSW nhiệt thành và chân thành, và sẽ sẵn sàng đón nhận những gợi ý của Chân sư vì chúng có vẻ “có tính xây dựng về mặt trí tuệ và trực giác”. Tuy nhiên, cách ông diễn giải lời khuyên ấy chưa hoàn toàn đúng đắn. Bằng cách nào đó, từ “tháp” trong “ngọn tháp sức mạnh” đã củng cố những thái độ tập trung vào bản thân và cô lập của ông. Ông chưa xuống những “thung lũng”, mà vẫn là “Người Quan Sát ở vị trí cao, khá tách biệt, trên đỉnh tháp”. Thái độ của trái tim mà Chân sư DK đang cố gắng vun bồi nơi đệ tử của Ngài không thể phát triển từ một vị trí như vậy.
2. Not only the words of a Master to His chela, but the Master’s vision of him can be effective for good or ill.
2. Không chỉ những lời Chân sư nói với đệ tử của Ngài, mà cả hình dung của Chân sư về người đệ tử ấy cũng có thể tạo ảnh hưởng tốt hoặc xấu.
3. Again and again we see Master DK attempting to educate his chela away from the “line of least resistance” — in this case the “love of isolation”.
3. Hết lần này đến lần khác, chúng ta thấy Chân sư DK cố gắng giáo dục đệ tử của Ngài rời xa “con đường ít trở ngại nhất” — trong trường hợp này là “sự yêu thích cô lập”.
4. BSW is a ready disciple — ready to do anything that is required. He knows that he is on the first ray and that his temporary Master is on the second. This chela is fond of his power to accomplish and, it seems, is rather proud about his ability to adapt from first ray attitudes to those characterized by the second ray. We see, however, that adaptation is not quite so easy to accomplish. “Old habits die hard”.
4. BSW là một đệ tử sẵn sàng — sẵn sàng làm bất cứ điều gì được yêu cầu. Ông biết mình thuộc cung một và Chân sư tạm thời của mình thuộc cung hai. Người đệ tử này thích khả năng hoàn thành công việc của mình và dường như khá tự hào về khả năng thích nghi từ những thái độ cung một sang những thái độ mang đặc trưng cung hai. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng việc thích nghi không dễ thực hiện đến thế. “Thói quen cũ khó bỏ”.
5. We notice certain words emerging — “glories”, “thrill”, “pomps”, “ceremonial”. The overall impression is of an exalted attitude — one that “towers above” ordinary circumstances, and, perhaps, ordinary people.
5. Chúng ta nhận thấy một số từ đang xuất hiện — “hãnh diện”, “rung cảm mãnh liệt”, “sự phô trương”, “nghi lễ”. Ấn tượng tổng thể là một thái độ cao ngạo — một thái độ “đứng cao hơn” những hoàn cảnh thông thường, và có lẽ cả những người bình thường.
6. The Master seeks to see this attitude end.
6. Chân sư muốn thấy thái độ này chấm dứt.
It is not easy for the first ray disciple to learn attachment (of the right and spiritual description) any more than it is easy for the second ray disciple to learn detachment. Disciples on both those rays have an extreme lesson to learn in this connection; they have to approach the problem from differing attitudes, for the problem of attachment and of detachment is one. It is the problem of right values. The first ray type loves himself, his power and his isolation too much. The second ray type errs through deep attachment to others and through a too fluid inclusiveness which is expressed before the disciple understands the true nature of inclusiveness. The second ray type errs through fear of not being understood or not adequately loved, and cares too much what others may think of him and say of him. The first ray type errs in not giving enough thought to the reaction of others to what he says and does; he prides himself on his detached attitude and on his immunity from attachment; he likes to have his strength and isolation appreciated. One suffers from fear. The other from pride. You exact frankness, my brother, and give it in full measure; hence my frankness with you.
Đối với đệ tử cung một, học cách gắn bó (theo nghĩa đúng đắn và tinh thần) cũng khó như đối với đệ tử cung hai học cách tách rời. Về phương diện này, đệ tử trên cả hai cung ấy đều có một bài học hết sức khó khăn phải học; họ phải tiếp cận vấn đề từ những thái độ khác nhau, vì vấn đề gắn bó và tách rời chỉ là một. Đó là vấn đề về các giá trị đúng đắn. Người thuộc cung một quá yêu bản thân, quyền lực và sự cô lập của mình. Người thuộc cung hai sai lầm vì gắn bó sâu đậm với người khác và vì một tính bao gồm quá linh động, biểu lộ trước khi đệ tử thấu hiểu bản chất đích thực của tính bao gồm. Người thuộc cung hai sai lầm vì sợ không được thấu hiểu hoặc không được yêu thương đầy đủ, và quá bận tâm đến những gì người khác có thể nghĩ và nói về mình. Người thuộc cung một sai lầm vì không suy xét đầy đủ phản ứng của người khác trước những điều mình nói và làm; y tự hào về thái độ tách rời và việc mình không chịu ảnh hưởng của sự gắn bó; y thích người khác trân trọng sức mạnh và sự cô lập của mình. Một người khổ vì sợ hãi. Người kia khổ vì kiêu hãnh. Huynh đệ của tôi, em đòi hỏi sự thẳng thắn và cũng hoàn toàn thẳng thắn với người khác; vì thế Tôi thẳng thắn với em.
1. The first sentence is foundational, and much of the Master’s efforts with His various disciples are directed towards inducing counterbalancing attitudes.
1. Câu đầu tiên mang tính nền tảng, và phần lớn những nỗ lực của Chân sư với các đệ tử khác nhau của Ngài đều hướng đến việc khơi dậy những thái độ tạo thế quân bình.
2. Of course, the “attachment” in question must be “of the right and spiritual description” — namely, the attachment to souls and not to personalities. However, the personality aspect of others must not be coldly repudiated.
2. Dĩ nhiên, “sự gắn bó” đang bàn đến phải “theo nghĩa đúng đắn và tinh thần” — cụ thể là sự gắn bó với các linh hồn chứ không phải với các phàm ngã. Tuy nhiên, không được lạnh lùng phủ nhận phương diện phàm ngã của người khác.
3. DK puts the problem in a larger context. Whether one is dealing with the need for detachment or attachment, the problem is the same; it is a problem of “right values”.
3. Chân sư DK đặt vấn đề vào một bối cảnh rộng lớn hơn. Dù đang xử lý nhu cầu không dính mắc hay nhu cầu gắn bó, vấn đề vẫn như nhau; đó là vấn đề về “những giá trị đúng đắn”.
4. This paragraph offers one of the most exact descriptions of first and second ray problems (in contrast) of any in the entire Teaching.
4. Đoạn này đưa ra một trong những mô tả chính xác nhất trong toàn bộ Giáo Huấn về các vấn đề của cung một và cung hai khi đặt chúng trong thế tương phản.
5. Self-love is contrasted with the unwise ‘love’ of others — more of their personalities than their souls. For the second ray type there is a premature “fluid inclusiveness” of others, before soul-inclusiveness is understood. The first ray type seems to reject others, caring too little about their reactions. The contrast is very clear, is it not?
5. Lòng tự yêu mình được đặt tương phản với “tình yêu” thiếu minh triết dành cho người khác — hướng đến phàm ngã của họ nhiều hơn linh hồn họ. Ở người cung hai, có một “tính bao gồm linh động” đối với người khác xuất hiện quá sớm, trước khi thấu hiểu tính bao gồm của linh hồn. Người cung một dường như khước từ người khác, quá ít quan tâm đến phản ứng của họ. Sự tương phản rất rõ ràng, phải không?
6. It all boils down to “pride” and “fear”. Some people who have both the first and second rays prominent in their nature are afflicted by both attitudes and the warfare in their nature is great.
6. Tất cả quy về “kiêu hãnh” và “sợ hãi”. Một số người có cả cung một và cung hai nổi trội trong bản chất chịu khổ vì cả hai thái độ, và cuộc chiến trong bản chất họ rất dữ dội.
7. We find DK telling his chela that he is proud. The Master’s words are direct and karmically justified, due to the characteristic “frankness” of His chela.
7. Chúng ta thấy Chân sư DK nói với đệ tử của Ngài rằng ông kiêu hãnh. Những lời của Chân sư rất trực tiếp và có cơ sở chính đáng về nghiệp quả, do tính “thẳng thắn” đặc trưng của đệ tử Ngài.
8. In both cases (whether one suffers from pride or fear) there is an unsuspected focus on one’s own “little self” rather than on one’s true Self or the Self of the ‘other’.
8. Trong cả hai trường hợp (dù khổ vì kiêu hãnh hay sợ hãi), người ta đều tập trung vào “tiểu ngã” của mình mà không hay biết, thay vì vào Chân Ngã đích thực của mình hoặc Chân Ngã của “người khác”.
It is this inner "isolation," deeply loved by you and fostered by early training and present circumstance which militates against your being telepathically sensitive to other people. Instead of so much "will to love," why not just love more simply? You and F.C.D. are extreme types on your specific rays. In him, the heart dominates, e'en though his wisdom is deep and his understanding rare. In you the head dominates, and you sit on the summit of your tower, whilst all the time the call of the heart sounds throughout your being and in your ears. Yet you fear to descend and walk among your fellowmen in loving identification with them. It is only through walking the dusty street of life with our brothers that we find ourselves passing eventually through the portal of initiation.
Chính sự “cô lập” bên trong này, vốn được em yêu quý sâu sắc và được sự giáo dục thuở đầu cùng hoàn cảnh hiện tại nuôi dưỡng, đang cản trở khả năng nhạy cảm viễn cảm của em đối với người khác. Thay vì quá nhiều “ý chí yêu thương”, sao em không đơn giản yêu thương hơn? Em và F.C.D. là những kiểu người cực đoan trên các cung riêng của mình. Ở bạn ấy, trái tim chi phối, dù minh triết của bạn ấy sâu sắc và sự thấu hiểu của bạn ấy hiếm có. Ở em, cái đầu chi phối, và em ngồi trên đỉnh tháp của mình, trong khi tiếng gọi của trái tim luôn vang khắp con người em và bên tai em. Thế nhưng em sợ bước xuống và đi giữa đồng loại, đồng hoá với họ trong tình thương. Chỉ khi cùng các huynh đệ bước trên con đường đời đầy bụi bặm, cuối cùng chúng ta mới thấy mình đi qua cánh cổng điểm đạo.
And yet, brother of old, I have noted that, in moments of stress and of possible misunderstanding, you choose the heart way. Were it not so, I would not thus write.
Thế nhưng, hỡi huynh đệ từ thuở xưa, Tôi đã nhận thấy rằng trong những lúc căng thẳng và có nguy cơ hiểu lầm, em chọn con đường của trái tim. Nếu không như vậy, Tôi đã không viết thế này.
1. BSW is in that group-of-nine called the Telepathic Communicators. Experiments in telepathy were undertaken in this little group and, apparently, BSW was not especially successful in cultivating telepathic sensitivity. The Master puts His finger on the reason.
1. BSW thuộc nhóm chín người mang tên Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. Nhóm nhỏ này đã tiến hành những thử nghiệm viễn cảm và dường như BSW không đặc biệt thành công trong việc vun bồi sự nhạy cảm viễn cảm. Chân sư chỉ ra chính xác nguyên nhân.
2. It matters not that the isolative attitude (which is at fault) was cultivated early and fostered by present circumstance (probably the clergy or priesthood); it has to change.
2. Việc thái độ cô lập (vốn là điều sai lầm) được vun bồi từ sớm và được hoàn cảnh hiện tại nuôi dưỡng (có lẽ là đời sống trong hàng giáo sĩ hoặc chức tư tế) không phải là điều quyết định; thái độ ấy phải thay đổi.
3. Some sound advice is offered. It is true that the Master often asks the disciple to cultivate the will-to-love, but here He is going a step further and just asking the chela to “love more simply”. It is the difference between theory (perhaps elaborate) about a quality to be expressed, versus the simple expression of the quality.
3. Một lời khuyên đúng đắn được đưa ra. Đúng là Chân sư thường yêu cầu đệ tử vun bồi Ý Chí-Yêu Thương, nhưng ở đây Ngài tiến thêm một bước và chỉ yêu cầu đệ tử “yêu thương giản dị hơn”. Đó là sự khác biệt giữa lý thuyết (có lẽ rất công phu) về một phẩm tính cần biểu lộ và việc biểu lộ phẩm tính ấy một cách giản dị.
4. FCD is a soul deeply identified with the second ray. His ray formula is 24-127. His problem was entirely other than BSW’s, as his “Developmental Formula” suggests — “Freedom from ties; Chelaship; Detachment”.
4. FCD là một linh hồn đồng hoá sâu sắc với cung hai. Công thức cung của ông là 24-127. Vấn đề của ông hoàn toàn khác với vấn đề của BSW, như “Công Thức Phát Triển” của ông gợi ra — “Thoát khỏi những ràng buộc; Địa vị đệ tử; Không dính mắc”.
5. It seems that Master DK often teaches BSW through contrasts, which makes one wonder about the possible presence of the sign of contrasts, Gemini, in BSW’s astrological chart.
5. Dường như Chân sư DK thường dạy BSW qua những sự tương phản, khiến người ta tự hỏi liệu dấu hiệu của những tương phản, Song Tử, có hiện diện trong lá số chiêm tinh của BSW hay không.
6. A vivid picture is presented. The head is dominating as the disciple sits on the summit of his tower but all the while the “heart is sounding” throughout his being and in his ears. Apparently, he senses and hears and heart, but does not know how to respond to it and express it. We have here, an example of a cleavage between head and heart. The planets Jupiter and Venus are required to bridge this cleavage.
6. Một bức tranh sống động hiện ra. Cái đầu đang chiếm ưu thế khi người đệ tử ngồi trên đỉnh tháp của mình, nhưng suốt lúc ấy “trái tim đang vang lên” khắp con người ông và bên tai ông. Dường như ông cảm nhận và nghe thấy trái tim, nhưng không biết cách đáp ứng và biểu lộ nó. Ở đây, chúng ta có một ví dụ về sự chia cắt giữa đầu và tim. Cần đến Sao Mộc và Sao Kim để bắc cầu qua sự chia cắt này.
7. First ray types pride themselves on their fearlessness, but no human being who is not an initiate of the fourth degree is without fear. For those on the first ray, the fear is often one of intimacy or of compromising the self through humble associations and acts. The Tibetan makes this clear:
7. Những người cung một tự hào về sự không sợ hãi của mình, nhưng không một người nào chưa là điểm đạo đồ bậc bốn lại không có sợ hãi. Với những người thuộc cung một, nỗi sợ thường là sợ sự thân mật hoặc sợ làm tổn hại hình ảnh bản thân qua những mối giao tiếp và hành động khiêm nhường. Chân sư Tây Tạng nói rõ điều này:
“Yet you fear to descend and walk among your fellowmen in loving identification with them”.
“Tuy vậy, em sợ bước xuống và đi giữa đồng loại, đồng hoá với họ trong tình thương”.
What could be lost by such a descent? Power? An exalted self-image? Would the self be degraded by familiarity with others? Only that collection of self-referencing ideas we call “ego” would be altered, and this alteration would only be for the good. Yet, as always, the fear prevents the salutary act.
Điều gì có thể mất đi khi bước xuống như thế? Quyền lực? Một hình ảnh cao quý về bản thân? Liệu bản thân có bị hạ thấp vì thân tình với người khác? Chỉ tập hợp những ý tưởng quy chiếu về bản thân mà chúng ta gọi là “phàm ngã” mới thay đổi, và sự thay đổi này chỉ đem lại điều tốt đẹp. Tuy nhiên, như mọi khi, nỗi sợ ngăn cản hành động có ích ấy.
8. A statement of great importance is made, and it must be absorbed and acted upon if the average disciple’s vision of the portal of initiation is ever to be more than a figment of the imagination, which so often it is.
8. Một phát biểu hết sức quan trọng được đưa ra, và người đệ tử bình thường phải thấm nhuần và hành động theo đó nếu muốn linh ảnh về cánh cổng điểm đạo của mình vượt khỏi một sản phẩm của sự tưởng tượng, như tình trạng rất thường thấy.
“It is only through walking the dusty street of life with our brothers that we find ourselves passing eventually through the portal of initiation”.
“Chỉ khi cùng các huynh đệ bước đi trên con đường đời đầy bụi bặm, cuối cùng chúng ta mới thấy mình đi qua cánh cổng điểm đạo”.
The Spiritual Hierarchy is the “Hierarchy of Love” and it is only the heart which opens the portal. There are many other requirements (it is true) but without the heart there is no passage.
Thánh đoàn là “Thánh đoàn của Tình thương”, và chỉ trái tim mới mở được cánh cổng. Đúng là còn nhiều yêu cầu khác, nhưng thiếu trái tim thì không có lối qua.
9. The Tibetan is asking us to see our self-image compromised if necessary, to “get our hands dirty”, if necessary, and our shoes too, in the dusty, muddy streets — if necessary. And, of course, because mental pride cannot penetrate into the Ashram, and because every disciple must know the meaning of true humility — it is, indeed, necessary.
9. Chân sư Tây Tạng yêu cầu chúng ta chấp nhận để hình ảnh bản thân bị tổn hại nếu cần, “lấm bẩn đôi tay” nếu cần, và cả đôi giày nữa, trên những con đường bụi bặm, lầy lội — nếu cần. Và dĩ nhiên, vì lòng kiêu hãnh trí tuệ không thể thâm nhập ashram, và vì mỗi đệ tử phải biết ý nghĩa của sự khiêm nhường đích thực — điều đó quả thực là cần thiết.
10. Master DK sees into the heart of His chela. Basically the heart is sound and is utilized in moments of real stress and need. During the course of a number of lives, various defense mechanisms have been erected and have covered that heart, and the mind has been used as a protection against vulnerability. It cannot hurt this disciple to be reminded that the Master does, after all, see his heart and that it is “alive and well”.
10. Chân sư DK nhìn thấu trái tim đệ tử của Ngài. Về cơ bản, trái tim ấy lành mạnh và được vận dụng trong những lúc thực sự căng thẳng và cần thiết. Qua nhiều kiếp sống, nhiều cơ chế phòng vệ khác nhau đã được dựng lên và che phủ trái tim ấy, còn thể trí được dùng làm lá chắn trước nguy cơ bị tổn thương. Việc nhắc người đệ tử này rằng rốt cuộc Chân sư vẫn nhìn thấy trái tim ông, và trái tim ấy vẫn “sống động và khỏe mạnh”, không thể gây hại cho ông.
11. The principle to be extracted is that we have not always been as we are now. Some of our present attitudes have been built as self-protective mechanisms. Knowing this, we are more likely to release ourselves from such attitudes.
11. Nguyên tắc cần rút ra là chúng ta không phải lúc nào cũng như hiện nay. Một số thái độ hiện tại của chúng ta đã được xây dựng như những cơ chế tự bảo vệ. Biết điều này, chúng ta có nhiều khả năng giải thoát mình khỏi những thái độ như thế hơn.
12. Mind, for instance, can be used as a defense against sensitivity and the heart, but it can also come to serve sensitivity and the heart as the “loving mind”.
12. Chẳng hạn, thể trí có thể được dùng làm lá chắn chống lại sự nhạy cảm và trái tim, nhưng cũng có thể phụng sự sự nhạy cảm và trái tim với tư cách là “thể trí yêu thương”.
I would like to set you the task of writing an article on the use of love as an interpreter of men. I commend to you that [627] theme for meditation. You have power in writing and ability in the expression of the deeper truths through the medium of words and your field of service can be increased in this respect. Write, therefore, for the many who will listen to your words, and write with that understanding heart which is yours in full measure when you descend from your tower and give love both time and scope.
Tôi muốn giao cho em nhiệm vụ viết một bài về việc dùng tình thương để thấu hiểu con người. Tôi đề nghị em dùng [627] chủ đề ấy để tham thiền. Em có sức mạnh trong việc viết lách và có khả năng diễn đạt những chân lý sâu xa hơn qua ngôn từ, và lĩnh vực phụng sự của em có thể mở rộng theo phương diện này. Vì vậy, hãy viết cho đông đảo những người sẽ lắng nghe lời em, và hãy viết bằng trái tim thấu hiểu mà em có đầy đủ khi bước xuống khỏi tháp của mình và dành cho tình thương cả thời gian lẫn phạm vi biểu lộ.
1. The Tibetan wants BSW to learn to see “through the eyes of love” and to interpret his fellow human beings through those eyes.
1. Chân sư Tây Tạng muốn BSW học cách nhìn “qua đôi mắt của tình thương” và thấu hiểu đồng loại qua đôi mắt ấy.
2. BSW has power in writing. We would look for a strong Mercury or a well-fortified third house of the horoscope or a dignified ruler of that house. Again, there may be an indication of the presence of the sign Gemini, which seems to have been a quite frequent occurrence among Master DK’s disciples.
2. BSW có sức mạnh trong việc viết lách. Chúng ta có thể tìm kiếm một Sao Thủy mạnh, một nhà 3 được hỗ trợ vững chắc trong lá số chiêm tinh, hoặc một chủ tinh đắc địa của nhà ấy. Một lần nữa, có thể có dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của dấu hiệu Song Tử, vốn dường như xuất hiện khá thường xuyên trong lá số của các đệ tử Chân sư DK.
3. We note that the Master never relents in His intention to increase the scope of the disciple’s field of service.
3. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư không bao giờ giảm bớt quyết tâm mở rộng lĩnh vực phụng sự của đệ tử.
4. The Master is asking BSW to descend and, as it were, ‘uncover’ his waiting heart. The heart is ready but it has to be released from the captivity of the mind and the sometimes proud ego it serves.
4. Chân sư yêu cầu BSW bước xuống và, có thể nói, “vén mở” trái tim đang chờ đợi của ông. Trái tim đã sẵn sàng, nhưng cần được giải phóng khỏi sự giam cầm của thể trí và cái phàm ngã đôi khi kiêu hãnh mà thể trí phụng sự.
5. We begin to see that initiation is not for those who, because of fear, hold themselves aloof from their fellowmen.
5. Chúng ta bắt đầu thấy rằng điểm đạo không dành cho những người vì sợ hãi mà giữ mình xa cách đồng loại.
May I point out to you also that a recognition of those ray problems and liabilities which exist in your own life and in the lives of those around you involves no criticism on my part or any on yours. The facts of nature exist; the wise man faces them, knowing them for what they are and he then endeavours to transcend them....
Tôi cũng xin chỉ ra với em rằng việc nhận biết những vấn đề và nhược điểm do các cung gây ra trong đời sống của chính em và của những người quanh em không hàm ý sự chỉ trích nào từ phía Tôi hay từ phía em. Những sự thật của tự nhiên vẫn tồn tại; người minh triết đối diện với chúng, biết rõ chúng đúng như thực chất, rồi cố gắng vượt lên trên chúng....
1. The Master is calling attention to the difference between analysis and criticism. Facts are facts. The first ray type “assert(s) the fact” and, as a result, has to face facts.
1. Chân sư đang lưu ý đến sự khác biệt giữa phân tích và chỉ trích. Sự thật vẫn là sự thật. Người cung một “khẳng định sự thật” và do đó phải đối diện với sự thật.
2. DK is speaking as a realistic psychologist who knows how human beings are made.
2. Chân sư DK đang nói với tư cách một nhà tâm lý học thực tế, biết rõ con người được cấu tạo như thế nào.
3. The Master is asking BSW to face the problems attendant upon his ray structure and then, to deliberately rise above those problems, by cultivating qualities which are not natural to his present rays.
3. Chân sư yêu cầu BSW đối diện với những vấn đề đi kèm cấu trúc cung của ông, rồi chủ tâm vượt lên trên những vấn đề ấy bằng cách vun bồi những phẩm tính không vốn có tự nhiên nơi các cung hiện tại của ông.
4. We note that more has been said here, for dots follow the word “them”, but the editor (acting on the request of the disciple to whom the instruction is written) has chosen to delete any additional words in this paragraph, so we can only imagine that they were of a more personal nature.
4. Chúng ta lưu ý rằng ở đây còn có những lời khác đã được nói ra, vì sau từ “chúng” là những dấu chấm, nhưng người biên tập (theo yêu cầu của người đệ tử nhận huấn thị này) đã quyết định lược bỏ mọi lời tiếp theo trong đoạn này, nên chúng ta chỉ có thể hình dung rằng những lời ấy mang tính riêng tư hơn.
May I ask you also to study again the last instruction which I gave you, for it still embodies much needed work. This new instruction is in the nature of a frank talk with a highly valued brother. And I do value you, my friend.
Tôi cũng muốn yêu cầu em nghiên cứu lại huấn thị gần nhất mà Tôi đã trao cho em, vì trong đó vẫn còn nhiều công việc cần thiết phải làm. Huấn thị mới này mang tính chất một cuộc nói chuyện thẳng thắn với một huynh đệ rất được trân trọng. Và Tôi quả thật trân trọng em, bạn của tôi.
1. DK knows the psychology of his chelas. He knows their rays and often, He speaks in a manner suited to their ray psychology.
1. Chân sư DK biết rõ tâm lý các đệ tử của Ngài. Ngài biết các cung của họ và thường nói theo cách phù hợp với tâm lý cung của họ.
2. The approach of the Master is ever to mix correction with commendation. It is a technique of the second ray, and it involves strengthening the one who is to be corrected so that he may accept the correction in stride and act upon it. We all know that browbeating another with a barrage of corrections is often counterproductive. The technique, then, is basically to remind the one to be corrected of his strengths, and then offer correction; or to follow correction with a reminder of strengths and of the capacity to act properly on the correction because of those strengths.
2. Cách tiếp cận của Chân sư luôn kết hợp sửa chữa với khen ngợi. Đó là một kỹ thuật của cung hai, bao gồm việc củng cố người cần được sửa chữa để người ấy có thể bình thản tiếp nhận và hành động theo sự sửa chữa đó. Tất cả chúng ta đều biết rằng áp đảo người khác bằng một loạt lời sửa sai thường phản tác dụng. Vì vậy, về cơ bản, kỹ thuật này là nhắc người cần được sửa chữa nhớ đến những điểm mạnh của mình, rồi đưa ra sự sửa chữa; hoặc sau khi sửa chữa, nhắc lại những điểm mạnh và khả năng hành động đúng đắn theo sự sửa chữa nhờ những điểm mạnh ấy.
3. Perhaps the talk was even more “frank” than we can suspect from reading this particular instruction, as some of it has been deleted.
3. Có lẽ cuộc trao đổi còn “thẳng thắn” hơn mức chúng ta có thể hình dung khi đọc huấn thị cụ thể này, vì một phần nội dung đã bị lược bỏ.
June 1935 – Tháng Sáu năm 1935
MY BROTHER OF OLD:
HỠI HUYNH ĐỆ TỪ THUỞ XƯA CỦA TÔI:
You are halfway down from the altitude of your tower and that is good. In my last instruction, I spoke to you with frankness and you recognised the justice of that which I said and started to make the needed re-adjustments. That work must be continued for another year.
Em đã xuống được nửa đường từ trên cao của ngọn tháp, và điều đó là tốt. Trong huấn thị trước, Tôi đã nói thẳng thắn với em, và em đã nhận ra tính xác đáng của những điều Tôi nói, rồi bắt đầu thực hiện những điều chỉnh cần thiết. Công việc ấy phải tiếp tục thêm một năm nữa.
1. The Tibetan is following His chela’s progress closely. The process of inducing humility and heart-felt human contact is in motion.
1. Chân sư Tây Tạng đang theo sát sự tiến bộ của đệ tử Ngài. Tiến trình khơi dậy lòng khiêm nhường và sự tiếp xúc chân thành với con người đang diễn ra.
2. BSW is a prompt and eager disciple. He wishes to achieve, to advance, and, with his will and mind, he will put the Master’s suggestions into practice — according to the level of his understanding.
2. BSW là một đệ tử mau mắn và nhiệt tâm. Ông mong muốn thành tựu, tiến bước, và với ý chí cùng thể trí của mình, ông sẽ đưa những gợi ý của Chân sư vào thực hành — theo mức độ thấu hiểu của ông.
3. The quality of “justice” is referenced — another suggestion of the possibility that the sign Libra is present in the horoscope. Earlier we discussed the tendency towards “personality judgment” (judgmentalism), a negative quality of the Saturnian signs Libra and Capricorn. The Principle of Justice is important in the psyche of first ray disciples.
3. Phẩm tính “công bằng” được nhắc đến — thêm một gợi ý cho khả năng dấu hiệu Thiên Bình hiện diện trong lá số chiêm tinh. Trước đó, chúng ta đã bàn về khuynh hướng “phán xét theo phàm ngã” (thói phán xét), một phẩm tính tiêu cực của các dấu hiệu chịu ảnh hưởng Sao Thổ là Thiên Bình và Ma Kết. Nguyên khí Công Bằng giữ vai trò quan trọng trong tâm lý của các đệ tử cung một.
4. We often see Master DK initiating a process with one of His chelas and then stating how long it will (or should) take for the process to be completed. In this case, He predicts that another year of work will be necessary before BSW will have descended from his tower.
4. Chúng ta thường thấy Chân sư DK khởi động một tiến trình với một đệ tử của Ngài, rồi cho biết tiến trình ấy sẽ (hoặc nên) mất bao lâu để hoàn tất. Trong trường hợp này, Ngài dự đoán cần thêm một năm làm việc nữa trước khi BSW xuống khỏi tòa tháp của mình.
5. Not all disciples have been as willing to make the necessary adjustments so promptly. A prompt acquiescence to the will of the soul is much to be desired in a disciple. When the soul reveals to us the need to act, how prompt are we in response?
5. Không phải mọi đệ tử đều sẵn lòng thực hiện những điều chỉnh cần thiết một cách mau mắn như vậy. Sự mau mắn thuận theo ý chí của linh hồn là điều rất đáng mong muốn ở một đệ tử. Khi linh hồn cho chúng ta thấy sự cần thiết phải hành động, chúng ta đáp ứng mau mắn đến mức nào?
Have you any idea, my brother, with what care I watch the work of this group of disciples? I watch with patient attention, not because of any personal interest where the personalities of the disciples are concerned but because of the potency latent in such consecrated groups. If the personnel of the group can be sufficiently purified and trained and if the disciples who compose it can be sufficiently welded together into one functioning unit, then much can be accomplished. All is yet in the trial stage with many of them and only the coming few years will show the Masters which of Their groups can stand pressure and yet preserve the soul link which underlies all the differing personalities.
Huynh đệ của tôi, em có biết Tôi dõi theo công việc của nhóm đệ tử này cẩn trọng đến mức nào không? Tôi dõi theo với sự chú tâm kiên nhẫn, không phải vì bất kỳ mối quan tâm cá nhân nào đến phàm ngã của các đệ tử, mà vì tiềm năng mạnh mẽ trong những nhóm đã thánh hiến như thế. Nếu các thành viên của nhóm có thể được thanh luyện và huấn luyện đầy đủ, và nếu các đệ tử hợp thành nhóm có thể gắn kết đủ chặt chẽ thành một đơn vị hoạt động, thì có thể thành tựu nhiều điều. Với nhiều người trong số họ, mọi việc vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm, và chỉ vài năm sắp tới mới cho các Chân sư thấy nhóm nào của Các Ngài có thể chịu được áp lực mà vẫn giữ gìn mối liên kết linh hồn nằm bên dưới mọi phàm ngã khác biệt.
1. The Master shares with BSW (and with all His chelas) the degree of His attentiveness to the group process. His watchfulness is motivated not by personal interest, but “because of the potency latent in such consecrated groups”. Eventually, they can do much good in the world.
1. Chân sư chia sẻ với BSW (và với tất cả đệ tử của Ngài) mức độ Ngài chú tâm đến tiến trình nhóm. Sự theo dõi sát sao của Ngài không xuất phát từ mối quan tâm cá nhân, mà “vì quyền năng tiềm tàng trong những nhóm đã thánh hiến như thế”. Cuối cùng, họ có thể làm nhiều điều tốt đẹp trên thế gian.
2. DK is a servant of the Divine Plan and the groups in formation were to become an instrument of service through which He and the Hierarchy could work. Purification, training and unity would be required of the group personnel if the groups were to measure up to opportunity.
2. Chân sư DK là người phụng sự Thiên Cơ, và các nhóm đang hình thành sẽ trở thành một công cụ phụng sự mà qua đó Ngài và Thánh đoàn có thể hoạt động. Sự thanh luyện, sự huấn luyện và sự hợp nhất là những điều cần có ở các thành viên để các nhóm có thể đáp ứng xứng đáng với cơ hội.
3. We come to understand that a number of the Masters may be preparing groups for service. The next few years (written in 1935) were to be crucial in determining the fitness of the groups under preparation.
3. Chúng ta dần thấu hiểu rằng một số Chân sư có thể đang chuẩn bị các nhóm để phụng sự. Vài năm tiếp theo (đoạn này được viết vào năm 1935) sẽ có ý nghĩa quyết định trong việc xác định mức độ sẵn sàng của các nhóm đang được chuẩn bị.
4. The main thing is that a prepared group must withstand pressure and yet preserve the soul link.
4. Điều chính yếu là một nhóm đã được chuẩn bị phải chịu đựng được áp lực mà vẫn giữ gìn mối liên kết linh hồn.
5. Perhaps we know from observing our own lives that the soul link may seem to disappear in moments of stress. What is desired is a ‘continuity of soul consciousness’ during all manner of pressured, stressful circumstances. When an individual or a group has proved its capacity to preserve soul consciousness under such conditions, the stage of fitness (Master M. calls it “goal-fitness”) has been achieved and the individual or the group may be used.
5. Có lẽ qua việc quan sát cuộc sống của chính mình, chúng ta biết rằng mối liên kết linh hồn dường như có thể biến mất trong những lúc căng thẳng. Điều được mong muốn là “sự liên tục của tâm thức linh hồn” trong mọi hoàn cảnh chịu áp lực và căng thẳng. Khi một cá nhân hay một nhóm đã chứng tỏ khả năng giữ gìn tâm thức linh hồn trong những điều kiện như vậy, thì đã đạt đến giai đoạn đủ năng lực (Chân sư M. gọi là “đủ năng lực để đạt mục tiêu”), và cá nhân hay nhóm ấy có thể được sử dụng.
The problem of group integration is always a difficult one; it has been particularly difficult for you to integrate into [628] my group of disciples because of your much cherished and deeply rooted sense of isolation. This was developed in your last life as a defense mechanism for a very sensitive personality. This attitude you are, however, learning to relinquish. For other disciples, the reasons which militate against integration vary. For some, it is largely based upon submergence in personality problems; these hold the disciple fast in prison just as you have been held in your tower of isolation. For others, the problem is to be found in the powerful will-to-be at the centre, both in its right and noble sense and in its personality and wrong sense. This attitude produces a sense of identity and of selfhood which hinders integration. Other disciples are hindered by the reverse of this attitude and by their second ray power of attachment and of inclusiveness. This has to be negated in the case of attachment and necessitates a focussing where the tendency to expansion is constructively possible.
Vấn đề tích hợp nhóm luôn là một vấn đề khó khăn; đối với em, việc tích hợp vào [628] nhóm đệ tử của Tôi đặc biệt khó khăn vì ý thức cô lập mà em hết sức nâng niu và đã ăn sâu trong em. Điều này đã phát triển trong kiếp trước của em như một cơ chế phòng vệ cho một phàm ngã rất nhạy cảm. Tuy nhiên, em đang học cách từ bỏ thái độ này. Với những đệ tử khác, các nguyên nhân cản trở sự tích hợp rất khác nhau. Đối với một số người, nguyên nhân chủ yếu nằm ở việc chìm đắm trong các vấn đề phàm ngã; chúng giam chặt đệ tử trong ngục tù, cũng như em từng bị giam trong ngọn tháp cô lập của mình. Đối với những người khác, vấn đề nằm ở ý chí mạnh mẽ muốn ở vị trí trung tâm, cả theo nghĩa đúng đắn và cao quý lẫn theo nghĩa sai lầm và thuộc phàm ngã. Thái độ này tạo ra một ý thức về bản sắc và cái tôi, cản trở sự tích hợp. Những đệ tử khác lại bị cản trở bởi thái độ ngược lại và bởi sức mạnh gắn bó cùng tính bao gồm của cung hai nơi họ. Đối với sự gắn bó, điều này phải được phủ định; còn nơi nào khuynh hướng mở rộng có thể biểu lộ một cách xây dựng thì cần có sự tập trung.
1. The Tibetan is now speaking from a group perspective. He is not offering training for individual disciples so that they, individually, can advanced. All individual training is being offered in the context of group usefulness.
1. Giờ đây, Chân sư Tây Tạng đang nói từ góc nhìn của nhóm. Ngài không huấn luyện các đệ tử riêng lẻ để mỗi người có thể tiến bộ riêng. Mọi sự huấn luyện cá nhân đều diễn ra trong bối cảnh khả năng hữu ích đối với nhóm.
2. The manner in which BSW is a liability in the process of group integration is now reviewed. It is his “much cherished and deeply rooted sense of isolation” which prevents him from integrating into the group of Telepathic Communicators as he otherwise might.
2. Giờ đây, cách BSW trở thành một trở ngại trong tiến trình tích hợp nhóm được xem xét lại. Chính “cảm thức cô lập mà ông hết sức trân quý và đã ăn sâu trong ông” ngăn ông tích hợp vào nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm theo mức độ mà lẽ ra ông có thể.
3. We read that the sense of isolation is a relatively recent cultivation, or at least that it was strengthened considerably in BSW’s last life as a “defense mechanism for a very sensitive personality”. May we infer that the personality ray of BSW’s last incarnation was the second ray of Love-Wisdom?
3. Chúng ta đọc thấy rằng cảm thức cô lập mới được vun bồi tương đối gần đây, hoặc ít nhất đã được củng cố đáng kể trong kiếp sống trước của BSW như một “cơ chế phòng vệ cho một phàm ngã rất nhạy cảm”. Liệu chúng ta có thể suy ra rằng cung phàm ngã trong kiếp lâm phàm trước của BSW là cung hai Bác Ái – Minh Triết không?
4. The Master reviews various types of attitudes and behaviors which militate against the integration of the disciple into the group. Submergence in personality problems is often a problem for those upon the soft-line rays. Isolativeness and personality centralization are difficulties for those on the hard-line rays.
4. Chân sư xem xét nhiều loại thái độ và hành vi cản trở người đệ tử tích hợp vào nhóm. Việc chìm đắm trong những vấn đề của phàm ngã thường là một khó khăn đối với những người thuộc các cung theo đường mềm. Khuynh hướng cô lập và lấy phàm ngã làm trung tâm là những khó khăn đối với những người thuộc các cung theo đường cứng.
5. DK is cautious to point out that there is a correct approach to the “will-to-be at the centre”. It is related to soul-centralization and eventually to spirit-centralization. When, however, a disciple identified as a personality wishes to be at the center of a group, the integration process in the group will be harmed.
5. Chân sư DK thận trọng chỉ ra rằng có một cách tiếp cận đúng đắn đối với “ý chí muốn ở vị trí trung tâm”. Điều đó liên quan đến việc lấy linh hồn làm trung tâm và cuối cùng là lấy tinh thần làm trung tâm. Tuy nhiên, khi một đệ tử đồng hoá với phàm ngã muốn ở vị trí trung tâm của một nhóm, tiến trình tích hợp trong nhóm sẽ bị tổn hại.
6. Disciples in a group can integrate more easily into and with the group when they develop the realization that “I am the group” rather than “I am I”.
6. Các đệ tử trong một nhóm có thể tích hợp vào nhóm và với nhóm dễ dàng hơn khi họ phát triển sự nhận biết rằng “Tôi là nhóm” thay vì “Tôi là tôi”.
7. Second ray disciples, more easily attached, can hinder the group integration process by becoming too attached to the personalities of fellow group members. Thus the need (as expressed in Rule XI for Disciple and Initiates) to sever all personality ties between group members. This injunction, however, cannot be interpreted only at face value. The attitude of “personally-impersonal” and “impersonally-personal” is required, and in no case is there a reduction of kindness between group members.
7. Các đệ tử cung hai, vốn dễ gắn bó hơn, có thể cản trở tiến trình tích hợp nhóm khi trở nên quá gắn bó với phàm ngã của các thành viên đồng nhóm. Do đó, cần phải cắt đứt mọi ràng buộc phàm ngã giữa các thành viên trong nhóm (như được nêu trong Quy luật XI dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ). Tuy nhiên, không thể chỉ diễn giải huấn lệnh này theo nghĩa bề mặt. Cần có thái độ “mang tính cá nhân mà vẫn vô ngã” và “vô ngã mà vẫn mang tính cá nhân”, và trong mọi trường hợp, lòng tử tế giữa các thành viên trong nhóm không hề giảm đi.
8. DK offers advice to second ray types who through the power of attachment and inclusiveness are hindering the integration process. He asks for a “focussing where the tendency to expansion is constructively possible”. These are interesting and enigmatic words. Second ray types are conditioned by the expansive energies of Jupiter. Rather than ‘expand into each other’ in a personality sense, it is the expansion of group consciousness which is to be cultivated. By focussing within the group consciousness, second ray types can rightly direct their expansive tendencies.
8. Chân sư DK đưa ra lời khuyên cho những người cung hai đang cản trở tiến trình tích hợp qua sức mạnh gắn bó và tính bao gồm của họ. Ngài yêu cầu “sự tập trung vào nơi khuynh hướng mở rộng có thể biểu hiện một cách xây dựng”. Đây là những lời thú vị và hàm ẩn. Những năng lượng mở rộng của Sao Mộc tác động lên những người cung hai. Thay vì “mở rộng vào nhau” theo nghĩa phàm ngã, điều cần vun bồi là sự mở rộng tâm thức nhóm. Bằng cách tập trung trong tâm thức nhóm, những người cung hai có thể định hướng đúng đắn các khuynh hướng mở rộng của mình.
With these ideas before you, you can realise the need I felt for right understanding on the part of all in this group of disciples as to the rules for group work and a right comprehension as to the place each of you had to play in the future work. If all my disciples take hold of the present opportunity with fresh endeavour and enthusiasm, they will then discover what it is that the disciples in a Master's Ashram can achieve.
Với những ý tưởng này trước mắt, em có thể nhận ra vì sao Tôi cảm thấy cần phải có sự thấu hiểu đúng đắn từ tất cả mọi người trong nhóm đệ tử này về các quy luật làm việc nhóm, cũng như sự lĩnh hội đúng đắn về vai trò mà mỗi người trong các em phải đảm nhận trong công việc tương lai. Nếu tất cả các đệ tử của Tôi nắm lấy cơ hội hiện tại với nỗ lực và nhiệt tình mới, họ sẽ khám phá những gì các đệ tử trong ashram của một Chân sư có thể thành tựu.
1. The disciples in a group are very much responsible for its success or failure.
1. Các đệ tử trong một nhóm chịu trách nhiệm rất lớn đối với sự thành công hay thất bại của nhóm.
2. The Master imparts the correct Teaching and does all He can to instruct, guard and balance the group process, but the disciples must apply what they have received.
2. Chân sư truyền đạt Giáo Huấn đúng đắn và làm mọi điều Ngài có thể để hướng dẫn, bảo vệ và giữ cho tiến trình nhóm được cân bằng, nhưng các đệ tử phải áp dụng những gì họ đã tiếp nhận.
3. The Group of Telepathic Communicators was first group-of-nine formed, and therefore was, in a sense, the leading group. In it, as well, were many in whom the first ray was prominent. Thus the need for this group, especially, to understand and demonstrate “the rules for group work”.
3. Nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm là nhóm chín người đầu tiên được thành lập, và vì vậy, theo một nghĩa nào đó, là nhóm dẫn đầu. Trong nhóm này cũng có nhiều người mà cung một nổi trội. Do đó, nhóm này đặc biệt cần thấu hiểu và thể hiện “các quy luật của công việc nhóm”.
4. As well, the Tibetan seeks for each group member to understand his or her particular place within the group. Light, therefore, is shed upon the problem of the particular disciple but in relation to the group structure and process.
4. Chân sư Tây Tạng cũng mong mỗi thành viên trong nhóm thấu hiểu vị trí riêng của mình trong nhóm. Vì vậy, vấn đề của người đệ tử cụ thể được soi sáng, nhưng trong mối liên hệ với cấu trúc và tiến trình của nhóm.
5. When we learn to know ourselves we must consider our identities, skills and abilities in relation to the group and its needs, and not simply in isolation.
5. Khi học cách biết chính mình, chúng ta phải xem xét bản sắc, kỹ năng và khả năng của mình trong mối liên hệ với nhóm cùng những nhu cầu của nhóm, chứ không chỉ xem xét riêng lẻ.
I have several times told you that your function in this particular group is to give strength and power to your fellow disciples. Can you do this with pure detachment and with deep attachment? Such is your problem. Each of them needs what you have to give, but needs it in a different manner. I commend this to you as your theme for study for the next few months and propose to you the following work. Study those of your fellow disciples whom you know and seek to get into close rapport with them. Study what they say and write and try to tune in on their souls and to understand their personalities. The result will be partially correct and partially wrong. If they discover what you are doing, you will find that they are all impersonal enough to permit you to learn some psychology from a study of their characters, their temperaments and their tendencies. It will also enable me to give you some training as a practical psychologist — never an easy thing for a first ray ego....
Tôi đã nhiều lần nói với em rằng chức năng của em trong nhóm đặc biệt này là trao sức mạnh và quyền năng cho các đệ tử đồng môn. Em có thể làm điều đó với sự tách rời thuần khiết và sự gắn bó sâu sắc không? Đó là vấn đề của em. Mỗi người trong số họ đều cần điều em có thể trao, nhưng cần theo một cách khác nhau. Tôi đề nghị em lấy điều này làm chủ đề nghiên cứu trong vài tháng tới, và đề xuất với em công việc sau đây. Hãy nghiên cứu những đệ tử đồng môn mà em biết và tìm cách thiết lập mối tương giao gần gũi với họ. Hãy nghiên cứu những gì họ nói và viết, cố gắng hoà nhịp với linh hồn họ và thấu hiểu phàm ngã của họ. Kết quả sẽ có phần đúng và phần sai. Nếu họ phát hiện ra điều em đang làm, em sẽ thấy rằng tất cả họ đều có đủ tính vô ngã để cho phép em học đôi điều về tâm lý học qua việc nghiên cứu tính cách, khí chất và khuynh hướng của họ. Điều đó cũng sẽ giúp Tôi huấn luyện em phần nào để trở thành một nhà tâm lý học thực hành—điều không bao giờ dễ dàng đối với một chân ngã cung một....
1. DK began His instructions to BSW commending him for his Strength and also his Wisdom. Strength and Wisdom were two gifts to be shared with his fellow disciples.
1. Chân sư DK bắt đầu các huấn thị dành cho BSW bằng lời khen ngợi Sức Mạnh và cả Minh Triết của ông. Sức Mạnh và Minh Triết là hai món quà để chia sẻ với các đệ tử đồng môn.
2. Now the Master presents (again presents) a paradox — to give strength with “pure detachment and with deep attachment”. It will take the fourth ray mind of BSW to help resolve this apparent contradiction.
2. Giờ đây, Chân sư đưa ra (lại đưa ra) một nghịch lý — trao tặng sức mạnh với “sự buông xả thuần khiết và sự gắn bó sâu sắc”. Cần đến thể trí cung bốn của BSW để giúp giải quyết mâu thuẫn có vẻ hiển nhiên này.
3. The task is ever to be detached from personalities and the reactions of personalities, and yet, to be deeply attached to souls — to the real individual, which whom, in fact, we are one. This is most easily accomplished if we want nothing from the individual to whom we are relating.
3. Nhiệm vụ luôn là buông xả khỏi các phàm ngã và những phản ứng của phàm ngã, nhưng đồng thời gắn bó sâu sắc với các linh hồn — với cá nhân chân thực mà thực ra chúng ta là một với người ấy. Điều này dễ thực hiện nhất nếu chúng ta không mong cầu điều gì từ người mà mình đang liên hệ.
4. We see Master DK calling also for adaptability. Strength and Wisdom cannot be given to each in the same way. The one who bestows must know the nature of the one who is to receive. Such knowledge cannot be acquired if the one who gives remains in a state of isolation and separateness.
4. Chúng ta thấy Chân sư DK cũng kêu gọi khả năng thích ứng. Không thể trao tặng Sức Mạnh và Minh Triết cho mọi người theo cùng một cách. Người trao tặng phải biết bản chất của người sẽ tiếp nhận. Không thể có được sự hiểu biết ấy nếu người trao tặng vẫn ở trong trạng thái cô lập và chia rẽ.
5. The Tibetan is trying to deepen BSW’s capacity for rapport. Since BSW is a deep student of the Ageless Wisdom, this rapport is to be generated through the study of his fellow disciples.
5. Chân sư Tây Tạng đang cố gắng làm sâu sắc thêm khả năng hòa hợp của BSW. Vì BSW là một đạo sinh nghiên cứu sâu về Minh Triết Ngàn Đời, sự hòa hợp này phải được tạo ra qua việc nghiên cứu các đệ tử đồng môn của ông.
6. BSW, it would appear, does not habitually approach others in a psychological manner. The first ray type may not have all that much interest in the psyches of others, nor may he wish for others to know him intimately.
6. Dường như BSW không có thói quen tiếp cận người khác theo góc độ tâm lý. Người cung một có thể không mấy quan tâm đến tâm lý của người khác, cũng có thể không muốn người khác hiểu biết sâu sắc về mình.
7. BSW is to learn some psychology. Since there are so many second ray egos in the Tibetan’s groups, they will be willing to help BSW in this task. Second ray egos are, generally, more psychological in their orientation than first ray types.
7. BSW cần học đôi điều về tâm lý học. Vì có rất nhiều chân ngã cung hai trong các nhóm của Chân sư Tây Tạng, họ sẽ sẵn lòng giúp BSW trong nhiệm vụ này. Nhìn chung, các chân ngã cung hai có định hướng thiên về tâm lý hơn những người cung một.
8. We come to the point: it is difficult for first ray egos to become practical psychologists. They are simply not interested in getting to know others intimately; at least, this is not their natural trend, though it can be cultivated. The great first ray leaders of men have been, however, more adept at psychology. They had to develop the ability along the way, otherwise they could not succeed. First ray types will do whatever is necessary.
8. Chúng ta đi đến điểm cốt yếu: các chân ngã cung một khó trở thành những nhà tâm lý học thực hành. Đơn giản là họ không quan tâm đến việc tìm hiểu sâu sắc người khác; ít nhất, đó không phải khuynh hướng tự nhiên của họ, dù có thể vun bồi được. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo nhân loại vĩ đại thuộc cung một đã thành thạo hơn về tâm lý học. Họ phải phát triển khả năng ấy trên đường đi, nếu không thì không thể thành công. Những người cung một sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết.
9. Again there has been a deletion in the text. Perhaps this letter exists somewhere in its original form, or perhaps it has been destroyed. In any case, we have enough to see the general trend of DK’s instruction for this disciple. “Get to know people. Relate more closely to people. Become attached even while being detached. Adapt yourself to the psychological states and needs of other people.”
9. Một lần nữa, văn bản có phần bị lược bỏ. Có lẽ bức thư này còn tồn tại đâu đó dưới dạng nguyên bản, hoặc có lẽ đã bị hủy. Dù sao, chúng ta cũng có đủ nội dung để thấy hướng chung trong huấn thị của Chân sư DK dành cho người đệ tử này. “Hãy tìm hiểu con người. Hãy liên hệ mật thiết hơn với con người. Hãy trở nên gắn bó ngay cả khi vẫn buông xả. Hãy thích ứng với những trạng thái tâm lý và nhu cầu của người khác.”
February 1936 – Tháng Hai năm 1936
MY BROTHER OF OLD:
HỠI HUYNH ĐỆ TỪ THUỞ XƯA CỦA TÔI:
It has been a year of interesting inner development for you, has it not? You have learned much and, fortunately for your progress, your ivory tower of beauty and of isolation is rocking to its very foundations. Your soul has seriously undermined it. It still stands, but you are suspicious of it and have lost interest in it and that is a great step. Continue the good work and see to it that this year your ivory tower — erected with care during the past six incarnations — disappears and that you are down among men, sharing with them all that concerns humanity. You will not have such a comfortable time but you can — and will — become yourself a tower of strength to others.
Đây là một năm phát triển nội tâm thú vị đối với em, phải không? Em đã học được nhiều điều, và may mắn cho sự tiến bộ của em, ngọn tháp ngà đẹp đẽ và cô lập của em đang rung chuyển đến tận nền móng. Linh hồn em đã làm suy yếu nghiêm trọng nền móng ấy. Nó vẫn đứng đó, nhưng em đã nghi ngờ nó và không còn quan tâm đến nó nữa, và đó là một bước tiến lớn. Hãy tiếp tục công việc tốt đẹp ấy và bảo đảm rằng trong năm nay, ngọn tháp ngà của em—được xây dựng cẩn thận suốt sáu kiếp nhập thể vừa qua—sẽ biến mất, và em sẽ xuống sống giữa mọi người, cùng họ chia sẻ tất cả những gì liên quan đến nhân loại. Em sẽ không còn được thoải mái như vậy, nhưng em có thể—và sẽ—trở thành một ngọn tháp sức mạnh cho người khác.
1. The Tibetan began instructing BSW about three years before this letter was written. The Tibetan’s suggestions have taken hold and the main impediment to progress (isolation, pride and separatism) symbolized by the “ivory tower” is in process of destruction. One thinks of the Tarot card, the “Blasted Tower” — assailed by lightning and rocking towards a crash.
1. Chân sư Tây Tạng bắt đầu huấn luyện BSW khoảng ba năm trước khi bức thư này được viết. Những gợi ý của Chân sư Tây Tạng đã phát huy tác dụng, và trở ngại chính đối với sự tiến bộ (sự cô lập, lòng kiêu hãnh và khuynh hướng chia rẽ), được biểu tượng hóa bằng “tòa tháp ngà”, đang trong tiến trình bị phá hủy. Điều này khiến người ta nghĩ đến lá bài Tarot “Tòa Tháp Bị Đánh Đổ” — bị sét đánh và rung chuyển, sắp đổ sụp.
2. We note that the tower has been weakened to the point of destruction by the soul. No personality decision would be sufficient to undermine the strength of so strong an edifice.
2. Chúng ta lưu ý rằng tòa tháp đã bị làm suy yếu đến mức sắp bị phá hủy do linh hồn. Không một quyết định nào của phàm ngã đủ sức làm suy yếu một công trình kiên cố đến thế.
3. The entire task is not completed, however, for the tower still stands, but the disciple no longer loves it and retreats to it.
3. Tuy nhiên, toàn bộ nhiệm vụ vẫn chưa hoàn tất, vì tòa tháp vẫn đứng đó, nhưng người đệ tử không còn yêu thích nó và lui về ẩn náu trong đó nữa.
4. One must marvel at the consciousness available to the Master. Master DK has the insight to see the last six incarnations of BSW. He can trace the beginning of the erection of the “ivory tower” to those earlier times.
4. Người ta không khỏi kinh ngạc trước tầm tâm thức của Chân sư. Chân sư DK có sự thấu suốt để nhìn thấy sáu kiếp nhập thể gần nhất của BSW. Ngài có thể truy nguyên việc bắt đầu dựng nên “tháp ngà” về những thời kỳ xa xưa ấy.
5. In an earlier instruction, we gathered that the tower was strengthened considerably in the immediately preceding incarnation immediately as a means of defense to protect a very sensitive personality. We cannot accurately surmise the personality rays during those preceding six incarnations. The most recently preceding incarnation seems to have had a soft-line personality. Was the tower erected as a defense to protect a series of soft-line personalities, or were there other motives involved in the erection? One day BSW will know (with objectivity) just as His Master, DK, now knows.
5. Trong một huấn thị trước đó, chúng ta đã hiểu rằng tòa tháp đã được củng cố đáng kể trong kiếp nhập thể ngay trước kiếp này, như một phương tiện phòng vệ để bảo vệ một phàm ngã rất nhạy cảm. Chúng ta không thể suy đoán chính xác các cung phàm ngã trong sáu kiếp nhập thể trước ấy. Kiếp nhập thể ngay trước kiếp này dường như có một phàm ngã thuộc tuyến cung mềm. Có phải tòa tháp được dựng lên như một phương tiện phòng vệ để bảo vệ một loạt phàm ngã thuộc tuyến cung mềm, hay còn có những động cơ khác trong việc xây dựng ấy? Một ngày kia, BSW sẽ biết một cách khách quan, cũng như Chân sư của ông, Chân sư DK, hiện đang biết.
6. For that matter, one day we all will know (with clarity and objectivity) the reason for our present personality condition, as that reason is rooted in a number of our preceding incarnations.
6. Về điều đó, một ngày kia, tất cả chúng ta đều sẽ biết rõ ràng và khách quan lý do dẫn đến tình trạng phàm ngã hiện tại của mình, vì lý do ấy bắt nguồn từ một số kiếp nhập thể trước của chúng ta.
7. The Tibetan is calling for sacrifice. The ivory tower has been, strangely, a place of comfort for BSW. When in the tower, BSW has been spared the pains and dissonances of human interaction. He has been relatively undisturbed in splendid isolation.
7. Chân sư Tây Tạng đang kêu gọi sự hi sinh. Thật lạ, tháp ngà đã là một nơi an ổn đối với BSW. Khi ở trong tháp, BSW tránh được những đau đớn và bất hòa trong sự tương tác giữa người với người. Ông tương đối không bị quấy nhiễu trong cảnh cô lập huy hoàng.
8. Now that particular kind of comfort has to be sacrificed, that avenue of retreat relinquished.
8. Giờ đây, sự an ổn đặc biệt ấy phải được hi sinh, lối lui về ấy phải được từ bỏ.
9. However, if this is done, BSW, himself, may become “a tower of strength to others”. Thus is the idea of the tower preserved, but it becomes a tower of real value to the soul because humility will have been achieved.
9. Tuy nhiên, nếu làm được điều này, chính BSW có thể trở thành “một tòa tháp sức mạnh cho người khác”. Như vậy, ý tưởng về tòa tháp vẫn được giữ lại, nhưng nó trở thành một tòa tháp có giá trị thực sự đối với linh hồn vì đức khiêm nhường đã thành tựu.
10. Early in these instructions DK asked His chela to become a “tower of strength” to others. The chela somewhat misunderstood and used the Master’s words to reinforce old habits. Since that time DK has labored to help BSW understand what it means to stand, in humility, as a real “tower of strength”. It would seem that a point of understanding is being reached.
10. Ngay từ đầu những huấn thị này, Chân sư DK đã yêu cầu đệ tử của Ngài trở thành một “tòa tháp sức mạnh” cho người khác. Người đệ tử đã phần nào hiểu lầm và dùng lời của Chân sư để củng cố những thói quen cũ. Kể từ đó, Chân sư DK đã nỗ lực giúp BSW thấu hiểu ý nghĩa của việc đứng vững, trong sự khiêm nhường, như một “tòa tháp sức mạnh” thực sự. Dường như ông đang đạt tới một mức độ thấu hiểu.
Your major spiritual activity must now be turned into work at the time of the Full Moon. Each month spend your periods of inner recollection in getting ready for the work of the five days of the Full Moon period:
Giờ đây, hoạt động tinh thần chủ yếu của em phải chuyển thành công việc vào thời điểm Trăng Tròn. Mỗi tháng, hãy dành những khoảng thời gian hồi tâm để chuẩn bị cho công việc trong năm ngày của kỳ Trăng Tròn:
1. The two days of preparation and introspection.
1. Hai ngày chuẩn bị và nội quan.
2. The day of the Full Moon with its opportunity to tune in with your fellow disciples in my Ashram.
2. Ngày Trăng Tròn với cơ hội hoà nhịp cùng các đệ tử đồng môn trong ashram của Tôi.
3. The two days of attempt to capitalise on that which has been subjectively gained — making it objective in your consciousness.
3. Hai ngày cố gắng tận dụng những gì đã đạt được về mặt chủ quan—làm cho chúng trở nên khách quan trong tâm thức em.
The gain of this exercise, if successfully carried out, in the development of your inner sensitivity would be immeasurable and its usefulness to your fellow disciples would be greater than you know.
Nếu thực hiện thành công, bài tập này sẽ đem lại lợi ích không thể đo lường cho sự phát triển tính nhạy cảm bên trong của em, và sự hữu ích của nó đối với các đệ tử đồng môn sẽ lớn hơn em biết.
1. The days of preparation are important if the fullest advantage is to be had from the Full Moon itself.
1. Những ngày chuẩn bị rất quan trọng nếu muốn tận dụng tối đa chính ngày Trăng Tròn.
2. Of what nature is this “introspection”? Perhaps there is to be a brooding upon the qualities which are to be released at the Full Moon. Perhaps, a readying of the personality for reception.
2. Sự “nội tỉnh” này có bản chất gì? Có lẽ cần suy ngẫm sâu về những phẩm tính sẽ được phóng thích vào dịp Trăng Tròn. Có lẽ đó là sự chuẩn bị phàm ngã để tiếp nhận.
3. The instruction for correct approach on the day of the Full Moon itself may be particular to BSW, though it seems we could all benefit from doing the same. He is to “tune in with [his] fellow disciples” in the Tibetan’s Ashram. The reception of subtle energy on that day is to be a kind of group reception. For BSW this will strengthen the sense of soul-rapport with his spiritual comrades.
3. Huấn thị về cách tiếp cận đúng trong chính ngày Trăng Tròn có thể dành riêng cho BSW, dù dường như tất cả chúng ta đều có thể hưởng lợi từ việc làm như vậy. Ông phải “hòa nhịp cùng các đệ tử đồng môn [của mình]” trong ashram của Chân sư Tây Tạng. Việc tiếp nhận năng lượng tinh tế vào ngày ấy phải là một hình thức tiếp nhận nhóm. Đối với BSW, điều này sẽ củng cố cảm nhận về sự giao cảm linh hồn với những người đồng hành tinh thần của ông.
4. The two days following the Full Moon are to be days of objectification in consciousness. The inner gain is to be worked out and made more tangible.
4. Hai ngày sau Trăng Tròn phải là những ngày khách quan hóa trong tâm thức. Thành quả bên trong phải được triển khai và trở nên cụ thể hơn.
5. DK sees the best paths for His chelas. This type of work proposed is apparently a very great service opportunity for BSW. The cultivation of “sensitivity” is BSW’s great need, but it is a soul-sensitivity. The Full Moon exercise will promote this — immeasurably, says the Tibetan. The potentials must be very great because the Tibetan is not given to exaggeration.
5. Chân sư DK thấy những con đường tốt nhất cho các đệ tử của Ngài. Hình thức công việc được đề xuất này rõ ràng là một cơ hội phụng sự rất lớn đối với BSW. Việc vun bồi “tính nhạy cảm” là nhu cầu lớn của BSW, nhưng đó là tính nhạy cảm của linh hồn. Bài tập Trăng Tròn sẽ thúc đẩy điều này — đến mức không thể đo lường, Chân sư Tây Tạng nói. Những tiềm năng hẳn phải rất lớn, vì Chân sư Tây Tạng không có thói quen phóng đại.
6. When we read of the potentials to this disciple, do we not imagine that similar potentials might await us and our groups if we used the Full Moon opportunities properly?
6. Khi đọc về những tiềm năng dành cho người đệ tử này, chẳng phải chúng ta hình dung rằng những tiềm năng tương tự cũng có thể đang chờ đợi chúng ta và các nhóm của mình nếu chúng ta sử dụng đúng những cơ hội Trăng Tròn sao?
The next few months are intended to be (for all disciples in all Ashrams) a period of preparation for fuller service. No cost is too great to pay in order to be of use to the Hierarchy at the time of the Full Moon of May, the Wesak Festival; no price is too high in order to gain the spiritual illumination which can be possible, particularly at that time.
Đối với tất cả các đệ tử trong mọi ashram, vài tháng tới được dự định là một thời kỳ chuẩn bị cho việc phụng sự trọn vẹn hơn. Không có sự hy sinh nào là quá lớn để có thể hữu ích cho Thánh đoàn vào thời điểm Trăng Tròn tháng Năm, Lễ Wesak; không có cái giá nào là quá cao để đạt được sự soi sáng tinh thần có thể có được, đặc biệt vào thời điểm ấy.
1. The Tibetan was writing in preparation for the higher interlude of 1936.
1. Chân sư Tây Tạng viết những lời này để chuẩn bị cho thời kỳ gián đoạn cao của năm 1936.
2. 1936 was a significant year. A great hierarchical offensive was underway, seeking to offset the terrible imminent dangers in the world situation.
2. Năm 1936 là một năm có ý nghĩa quan trọng. Một cuộc tiến công lớn của Thánh đoàn đang diễn ra, nhằm hóa giải những hiểm họa khủng khiếp sắp xảy đến trong tình hình thế giới.
3. In His final sentence, Master DK may be speaking of the opportunity of that particular year, but His words can be generalized to all Wesak opportunities.
3. Trong câu cuối của Ngài, Chân sư DK có thể đang nói về cơ hội của năm đặc biệt ấy, nhưng lời Ngài có thể áp dụng rộng ra cho mọi cơ hội Wesak.
4. The potentials (to the well-prepared meditator) must be great indeed if He says that “no cost is too great to pay in order to be of use to the Hierarchy at the time of the Full Moon of May, the Wesak Festival”.
4. Những tiềm năng đối với người hành thiền đã chuẩn bị kỹ hẳn phải thực sự lớn lao nếu Ngài nói rằng “không có cái giá nào là quá lớn để trở nên hữu ích cho Thánh đoàn vào thời điểm Trăng Tròn tháng Năm, Lễ Wesak”.
5. Should we not ponder the reason for such a statement, considering our spiritual values as we do?
5. Chẳng phải chúng ta nên suy ngẫm lý do của lời khẳng định như vậy, đồng thời xem xét những giá trị tinh thần của mình sao?
August 1936 – Tháng Tám năm 1936
It has been a year of change for you, my warrior brother, and the result has been that there is less of the warrior in you page 630] and more of the disciple upon the Way of Light. Your ivory tower is still there and stands in beauty real. Perhaps it will never be destroyed and maybe it will turn into a haven of refuge for others. Its doors stand wide open and you are often not to be found within your tower but are busy elsewhere in the service of your fellowmen. Keep the door open and pass and re-pass with freedom, using your tower as a "Tower of Silence" for the lower self, as a place of entrance into the "Secret Place of the Most High," and as a "Temple of Refuge" into which the tired, the bewildered and the lonely may pass — there to be aided and strengthened. You have much wisdom and also the first ray capacity to take a stand upon principle. For decades, these two (wisdom and principle) have expressed themselves as far as your personality will permit. But within you, you have much deep innate love which must — under the process of balancing to which all true disciples are subjected — have more definite expression. Before you speak the words of power and of wisdom (which you speak with such facility and truth from the storehouse of a long experience), you must pour out the love of your heart upon those who turn to you for light and strength. Men today have need of love. Had I told you this five years ago, you might have believed, but you would not have understood. Now you understand.
Đây là một năm thay đổi đối với em, hỡi huynh đệ chiến binh của tôi, và kết quả là trong em có ít tính chất chiến binh hơn [630] và nhiều tính chất của người đệ tử trên Con Đường Ánh sáng hơn. Ngọn tháp ngà của em vẫn còn đó và vẫn đứng trong vẻ đẹp đích thực. Có lẽ nó sẽ không bao giờ bị phá huỷ, và có thể nó sẽ trở thành một nơi nương náu cho người khác. Các cánh cửa của nó mở rộng, và thường người ta không thấy em trong tháp, vì em đang bận rộn ở nơi khác để phụng sự đồng loại. Hãy giữ cửa mở và tự do ra vào, dùng ngọn tháp của em như một “Tháp Im Lặng” dành cho phàm ngã, như một nơi dẫn vào “Chốn Bí Mật của Đấng Tối Cao”, và như một “Đền Nương Náu” mà những người mệt mỏi, hoang mang và cô đơn có thể bước vào—để được giúp đỡ và tiếp thêm sức mạnh. Em có nhiều minh triết và cũng có khả năng của cung một là giữ vững lập trường trên nguyên khí. Suốt nhiều thập niên, hai điều này (minh triết và nguyên khí) đã biểu lộ trong chừng mực phàm ngã em cho phép. Nhưng bên trong em còn có nhiều tình thương bẩm sinh sâu sắc, và tình thương ấy phải—qua tiến trình quân bình mà mọi đệ tử chân chính đều trải qua—biểu lộ rõ rệt hơn. Trước khi nói những lời đầy quyền năng và minh triết (mà em nói một cách dễ dàng và chân thật đến thế từ kho tàng kinh nghiệm lâu dài), em phải tuôn đổ tình thương từ trái tim mình lên những người tìm đến em để có ánh sáng và sức mạnh. Con người ngày nay cần tình thương. Nếu Tôi nói với em điều này năm năm trước, có thể em đã tin, nhưng em sẽ chưa thấu hiểu. Giờ đây em thấu hiểu.
1. Those on the first ray have, no doubt, been warriors. Scorpio, particularly, is the sign of the “warrior”. Is this sign present in BSW’s chart?
1. Chắc chắn những người thuộc cung một đã từng là chiến binh. Đặc biệt, Hổ Cáp là dấu hiệu của “chiến binh”. Dấu hiệu này có hiện diện trong lá số của BSW không?
2. There has been a transformation. The quality of this transformation seems to have taken BSW from the first and sixth rays more towards the second.
2. Đã có một sự chuyển đổi. Phẩm tính của sự chuyển đổi này dường như đã đưa BSW từ cung một và cung sáu tiến gần hơn đến cung hai.
3. The imagery is so interesting. The ivory tower still stands, but its nature has been transformed.
3. Hình ảnh này thật thú vị. Tháp ngà vẫn đứng vững, nhưng bản chất của nó đã chuyển đổi.
4. We remember that “Beauty” was the chief quality in BSW’s ‘Developmental Formula’. Now the tower “stands in beauty real”, so, indeed, something of value has been achieved by the inner process through which he has been passing.
4. Chúng ta nhớ rằng “Vẻ đẹp” là phẩm tính chủ yếu trong ‘Công Thức Phát Triển’ của BSW. Giờ đây, tòa tháp “đứng vững trong vẻ đẹp đích thực”, nên quả thật, tiến trình bên trong mà ông đang trải qua đã đem lại một điều có giá trị.
5. CDP was to build a tower in her “garden” and use that tower for soul contact. BSW’s tower is apparently very strongly built, for although rocking to its foundations not long before, it has not fallen to earth. In fact, it appears to be of inner, redemptive use, just as was CDP’s garden.
5. CDP phải xây một tòa tháp trong “khu vườn” của bà và dùng tòa tháp ấy để tiếp xúc với linh hồn. Tòa tháp của BSW rõ ràng được xây dựng rất vững chắc, vì dù cách đó không lâu đã rung chuyển đến tận nền móng, nó vẫn chưa đổ xuống đất. Thực ra, dường như nó có công dụng cứu chuộc bên trong, cũng như khu vườn của CDP.
6. Now BSW’s tower is for others. He has lost interest in it and is busy elsewhere, serving.
6. Giờ đây, tòa tháp của BSW dành cho người khác. Ông đã không còn quan tâm đến nó và đang bận rộn phụng sự ở nơi khác.
7. The Masters are economical and use anything that is serviceable. DK has recognized that it may be more useful to see the tower transformed in its nature than to attempt to bring it down. He presents to BSW new uses for the tower and they are very beautiful. The tower is to become a “Tower of Silence”, and a “Temple of Refuge”. The tower is not for purposes of isolation and self-protection, but is to be dedicated to higher communion, both for BSW and for others.
7. Các Chân sư biết tiết kiệm và sử dụng bất cứ thứ gì còn hữu dụng. Chân sư DK đã nhận ra rằng việc chuyển đổi bản chất của tòa tháp có thể hữu ích hơn việc cố phá đổ nó. Ngài trình bày với BSW những công dụng mới của tòa tháp, và chúng rất đẹp đẽ. Tòa tháp phải trở thành một “Tháp Im Lặng” và một “Đền Nương Náu”. Tòa tháp phải dành cho sự giao cảm cao hơn, cho cả BSW lẫn người khác, thay vì phục vụ mục đích cô lập và tự bảo vệ.
8. We have learned in studying the instructions of CDP that that which is created through thought on the inner places is, indeed, real, and has inner utility of a definite and spiritual kind. Thus it is coming to be for BSW’s tower.
8. Qua việc nghiên cứu những huấn thị dành cho CDP, chúng ta đã học được rằng những gì được tạo ra bằng tư tưởng tại các chốn bên trong quả thật là có thực, và có công dụng bên trong mang tính xác định và tinh thần. Tòa tháp của BSW cũng đang trở nên như vậy.
9. In this interesting episode concerning the transformation of the tower, we see the Master’s ability to turn evil into good — a reflection of that capacity so consummately demonstrated by Sanat Kumara.
9. Trong diễn biến thú vị này về sự chuyển đổi của tòa tháp, chúng ta thấy khả năng biến điều ác thành điều thiện của Chân sư — một phản ánh của năng lực mà Sanat Kumara đã thể hiện hết sức toàn hảo.
10. DK begins again to work on the factor of balance. He commends BSW’s Wisdom and his capacity to take a stand of Principle. These are first ray capacities. The Master also recognizes “deep innate love”, which almost surely indicates a monad on the second ray — the Ray of Love-Wisdom. DK calls for this quality to come more into expression.
10. Chân sư DK lại bắt đầu tác động lên yếu tố cân bằng. Ngài khen ngợi Minh triết của BSW và khả năng giữ vững lập trường trên Nguyên khí của ông. Đây là những năng lực cung một. Chân sư cũng nhận ra “tình thương bẩm sinh sâu sắc”, điều gần như chắc chắn chỉ ra một chân thần thuộc cung hai — Cung Bác Ái – Minh Triết. Chân sư DK kêu gọi phẩm tính này biểu lộ nhiều hơn.
11. DK becomes explicit about a tendency we have observed when studying the various instructions. There is a “process of balancing to which all true disciples are subjected”. This process appears, it would seem, as part of the rounding out of the causal body. DK, we have noticed, is attempting to cooperate with that tendency, and is always offering His chela the means of achieving balance. Love, magnetism, relationship, rapport, humility, fraternity — these have been the means suggested by Master DK for counterbalancing BSW’s well-established first ray characteristics.
11. Chân sư DK nói rõ về một khuynh hướng mà chúng ta đã quan sát thấy khi nghiên cứu những huấn thị khác nhau. Có một “tiến trình cân bằng mà mọi đệ tử chân chính đều trải qua”. Dường như tiến trình này xuất hiện như một phần trong việc hoàn thiện thể nguyên nhân. Chúng ta đã nhận thấy Chân sư DK đang cố gắng hợp tác với khuynh hướng ấy và luôn trao cho đệ tử của Ngài những phương tiện để đạt được sự cân bằng. Tình thương, từ điện, mối quan hệ, sự giao cảm, đức khiêm nhường, tình huynh đệ — đó là những phương tiện Chân sư DK đã đề xuất để đối trọng với những đặc điểm cung một đã định hình vững chắc của BSW.