← Bình GIảng Thư Chân sư Gửi Các Đệ tử

chapter 002 03

Trích nội dung chương

12. One wonders about this “process of balancing”, whether a series of lives with Libra prominent would be required to see it accomplished. Such a series may well come into play before the “wheel” is decisively “reversed” in such a way that its momentum towards soul-infusion increases irresistibly. 12. Người ta tự hỏi về “tiến trình cân bằng” này, liệu có cần một loạt kiếp sống với Thiên Bình nổi trội để hoàn tất nó hay không. Một loạt kiếp sống như thế rất có thể sẽ phát huy tác dụng trước khi “bánh xe” được “đảo chiều” một cách dứt khoát đến mức đà tiến tới sự thấm nhuần của linh hồn gia tăng không gì cưỡng lại được.


12. One wonders about this “process of balancing”, whether a series of lives with Libra prominent would be required to see it accomplished. Such a series may well come into play before the “wheel” is decisively “reversed” in such a way that its momentum towards soul-infusion increases irresistibly.

12. Người ta tự hỏi về “tiến trình cân bằng” này, liệu có cần một loạt kiếp sống với Thiên Bình nổi trội để hoàn tất nó hay không. Một loạt kiếp sống như thế rất có thể sẽ phát huy tác dụng trước khi “bánh xe” được “đảo chiều” một cách dứt khoát đến mức đà tiến tới sự thấm nhuần của linh hồn gia tăng không gì cưỡng lại được.

13. BSW can speak words of power and wisdom with great facility, but love is to precede the speaking. “You must pour out the love of your heart upon those who turn to you for light and strength”. BSW is to pour forth love and, only then, speak.

13. BSW có thể nói những lời đầy quyền năng và minh triết rất dễ dàng, nhưng tình thương phải đi trước lời nói. “Em phải tuôn đổ tình thương từ trái tim mình lên những người tìm đến em để có ánh sáng và sức mạnh”. BSW phải tuôn đổ tình thương rồi sau đó mới nói.

14. In the matter of acknowledging the need of men for love, BSW has moved from belief to understanding. This means progress. He now knows and understands that men need love. This growth of understanding has been the result of his training with Master DK.

14. Trong việc thừa nhận nhu cầu tình thương của con người, BSW đã chuyển từ niềm tin sang sự thấu hiểu. Điều này cho thấy sự tiến bộ. Giờ đây, ông biết và thấu hiểu rằng con người cần tình thương. Sự phát triển khả năng thấu hiểu này là kết quả của quá trình ông được Chân sư DK huấn luyện.

15. We see that Master DK seeks for BSW to clothe his words of wisdom and power in love. The cleavage between head and heart is being overcome. Master DK (who is, in a way, Mercury) is playing the role of Jupiter and Venus (linking head and heart) for BSW.

15. Chúng ta thấy Chân sư DK mong BSW khoác cho những lời minh triết và quyền năng của ông tấm áo tình thương. Sự chia cách giữa đầu và tim đang được khắc phục. Chân sư DK — theo một nghĩa nào đó là Sao Thủy — đang đóng vai trò Sao Mộc và Sao Kim, nối liền đầu và tim, đối với BSW.

As I have often pointed out to this group of my disciples, the tendering of constant personal advice cannot go on forever. There is a limit to what can be assimilated and much remains yet to be worked out in daily unfoldment. I can, however, give to you and your fellow disciples much that is of group import and significance and by this means familiarise disciples with the rules of that group activity which must govern unfoldment and service during the coming New Age. I can give the techniques of the future. I would ask you to brood much upon the work of the new groups of disciples as they form the seed groups wherein the technique of the New Age may be expressed. Endeavour to get the picture of the future work clearly in your mind in its threefold aspects. Brood on the mental purpose behind all Ashrams, and on my plan for my Ashram. I say "my plan" advisedly, my brother, as I am asking for your understanding of the thing which I am seeking [631] to do. I am planning for the future and in line with the Plan. I, your friend and teacher, am definitely preparing you and your co-disciples for certain possible and even imminent expansion of consciousness. Later I will ask you to tune in on the heart life of this particular group in my Ashram, upon its desire-aspiration life and this, through the medium of your desire-astral body. When the purpose and the desire of the group (as it endeavours to tune in on my plan) begins to mature in your mind, then there will be inevitably produced, upon the physical plane, certain cooperations and activities which will appear with clarity to your vision. What these will be, will later emerge, but the time is not yet.

Như Tôi đã thường chỉ ra với nhóm đệ tử này của Tôi, việc liên tục đưa ra lời khuyên riêng cho từng người không thể kéo dài mãi. Khả năng tiếp thu có giới hạn, và vẫn còn nhiều điều cần thực hiện trong sự khai mở hằng ngày. Tuy nhiên, Tôi có thể trao cho em và các đệ tử đồng môn nhiều điều có tầm quan trọng và thâm nghĩa đối với nhóm, và bằng cách này giúp các đệ tử quen thuộc với các quy luật của hoạt động nhóm phải chi phối sự khai mở và phụng sự trong Kỷ Nguyên Mới sắp tới. Tôi có thể trao những kỹ thuật của tương lai. Tôi muốn em suy ngẫm nhiều về công việc của các nhóm đệ tử mới, khi họ tạo thành những nhóm hạt giống, nơi kỹ thuật của Kỷ Nguyên Mới có thể biểu lộ. Hãy cố gắng hình dung rõ ràng trong thể trí em công việc tương lai với ba phương diện của nó. Hãy suy ngẫm về mục đích trí tuệ đằng sau mọi ashram, và về kế hoạch của Tôi dành cho ashram của Tôi. Huynh đệ của tôi, Tôi chủ ý nói “kế hoạch của Tôi”, vì Tôi đang yêu cầu em thấu hiểu điều mà Tôi đang tìm cách [631] thực hiện. Tôi đang lập kế hoạch cho tương lai và phù hợp với Thiên Cơ. Tôi, người bạn và huấn sư của em, đang dứt khoát chuẩn bị cho em và các đệ tử đồng môn đón nhận một sự mở rộng tâm thức nhất định có thể xảy ra, thậm chí sắp xảy ra. Về sau, Tôi sẽ yêu cầu em hoà nhịp với đời sống trái tim của nhóm đặc biệt này trong ashram của Tôi, với đời sống dục vọng-khát vọng của nhóm, và thực hiện điều này qua thể cảm dục-dục vọng của em. Khi mục đích và dục vọng của nhóm (trong lúc nhóm cố gắng hoà nhịp với kế hoạch của Tôi) bắt đầu chín muồi trong thể trí em, tất yếu sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần những sự hợp tác và hoạt động nhất định mà tầm nhìn của em sẽ thấy rõ. Những điều ấy là gì sẽ hiển lộ về sau, nhưng lúc này chưa đến thời điểm.

1. A number of years have passed since Master DK began the group of Telepathic Communicators. He has given much personal advice, He cannot keep doing so. Sufficient assimilation must be demonstrated. They (and we) must use what has been given.

1. Một số năm đã trôi qua kể từ khi Chân sư DK thành lập nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. Ngài đã đưa ra nhiều lời khuyên riêng; Ngài không thể cứ tiếp tục như vậy. Họ phải chứng tỏ mình đã tiếp thu đầy đủ. Họ — và chúng ta — phải sử dụng những gì đã được trao.

2. DK seems to be signally a turn from imparting personal advice to an approach which involves giving more that is “of group import and significance”.

2. Dường như Chân sư DK đang báo hiệu một sự chuyển hướng từ việc đưa ra lời khuyên riêng sang cách tiếp cận trao thêm những điều “có tầm quan trọng và thâm nghĩa đối với nhóm”.

3. DK turns His chela’s attention to the future, and asks for deeper understanding of His work — to be arrived at through brooding (a second ray technique akin to pondering).

3. Chân sư DK hướng sự chú ý của đệ tử Ngài về tương lai và yêu cầu một sự thấu hiểu sâu sắc hơn về công việc của Ngài — sự thấu hiểu đạt được qua việc suy ngẫm sâu, một kỹ thuật cung hai gần với việc chiêm nghiệm.

4. It would seem that Master DK is bringing BSW closer to Him. He seems to be asking BSW to participate more intensively and specifically in the work which He is trying to see accomplished.

4. Dường như Chân sư DK đang đưa BSW đến gần Ngài hơn. Ngài dường như đang yêu cầu BSW tham gia sâu sát và cụ thể hơn vào công việc mà Ngài đang cố gắng đưa đến chỗ hoàn thành.

5. DK tells the member of this group that He is preparing them for a definite and imminent expansion of consciousness. Perhaps, this is a step in the process of group initiation.

5. Chân sư DK nói với thành viên của nhóm này rằng Ngài đang chuẩn bị cho họ một sự mở rộng tâm thức xác định và sắp xảy đến. Có lẽ đây là một bước trong tiến trình điểm đạo nhóm.

6. Again, the Master emphasizes His friendship to BSW. Earlier the term “comrade” was used. This is another way of bringing the chela closer.

6. Một lần nữa, Chân sư nhấn mạnh tình bằng hữu của Ngài đối với BSW. Trước đó, từ “chiến hữu” đã được dùng. Đây là một cách khác để đưa người đệ tử đến gần hơn.

7. The Tibetan has plans for BSW. These plans will involve the use of his desire body (on the sixth ray) for through it, he is to tune in on the heart life and desire-aspiration life of the group. This tuning in will lead to new, cooperative activities on the physical plane. None of this would have been possible unless the process of sensitization had reached a sufficient degree of development.

7. Chân sư Tây Tạng có những kế hoạch dành cho BSW. Những kế hoạch này sẽ liên quan đến việc sử dụng thể dục vọng của BSW (thuộc cung sáu), vì qua thể này, BSW phải hòa nhịp với đời sống trái tim và đời sống dục vọng–khát vọng của nhóm. Sự hòa nhịp này sẽ dẫn đến những hoạt động hợp tác mới trên cõi hồng trần. Không điều nào trong số này có thể thực hiện được nếu tiến trình gia tăng tính nhạy cảm chưa đạt đến một mức phát triển đầy đủ.

January 1937 – Tháng Một năm 1937

DEAR BROTHER:

HUYNH ĐỆ THÂN MẾN:

Your replies to the questions which I set you entertained me. They were so like you — earnest, sincere, mental, logical and with the impersonality of the first ray type. Your answers could have been foreseen. They should prove helpful to all who read them. Was the task helpful to you? Did the answering of those questions bring you illumination and those moments of self-revelation which are not easy for men of your type? When they come, they come on the wings of blinding light. A study of St. Paul, his revelation and his way of truth, his logical tenacity (no matter what its disastrous effects on Christianity may have been) and his impersonality should give you much — of encouragement, of warning, of truth and of necessity. You could, my brother, with ease have written the Epistle to the Romans. Will you find out why?

Những câu trả lời của em cho các câu hỏi Tôi đặt ra đã khiến Tôi thích thú. Chúng thật giống em—nghiêm túc, chân thành, thiên về trí tuệ, hợp lô-gic và mang tính vô ngã của người cung một. Có thể đoán trước được những câu trả lời của em. Chúng hẳn sẽ hữu ích cho tất cả những ai đọc chúng. Nhiệm vụ ấy có hữu ích cho em không? Việc trả lời những câu hỏi ấy có đem lại cho em sự soi sáng và những khoảnh khắc tự mặc khải vốn không dễ đến với những người thuộc kiểu của em không? Khi những khoảnh khắc ấy đến, chúng đến trên đôi cánh của ánh sáng chói loà. Việc nghiên cứu Thánh Paul, sự mặc khải của ông và con đường chân lý của ông, sự kiên định trong lô-gic của ông (bất kể những tác động tai hại mà nó có thể đã gây ra cho Kitô giáo) cùng tính vô ngã của ông hẳn sẽ đem lại cho em nhiều điều—khích lệ, cảnh báo, chân lý và những điều cần thiết. Huynh đệ của tôi, em có thể dễ dàng viết được Thư gửi tín hữu Rôma. Em có tìm hiểu vì sao không?

1. DK approaches His chela with a personal touch — the Master was entertained!

1. Chân sư DK đến với đệ tử của Ngài bằng một nét gần gũi riêng tư — Chân sư đã thích thú!

2. BSW’s qualities are reviewed — earnestness, sincerity, mentality, logic, impersonality. Is logic unusual when there is a fourth ray mind?

2. Các phẩm tính của BSW được điểm lại — sự nghiêm túc, chân thành, trí tuệ, logic, tính vô ngã. Liệu tính logic có khác thường khi thể trí thuộc cung bốn không?

3. The Master is asking His disciple to go deeper, not merely to rely upon a ready logical understanding, but to achieve a heart understanding and increased illumination. This is not an easy matter for “men of your type” — first ray types.

3. Chân sư đang yêu cầu đệ tử của Ngài đi sâu hơn, không chỉ dựa vào sự thấu hiểu hợp logic sẵn có, mà còn đạt đến sự thấu hiểu bằng trái tim và sự soi sáng gia tăng. Đây không phải là việc dễ dàng đối với “những người thuộc kiểu như em” — những người cung một.

4. This is actually a fascinating paragraph as it likens BSW to St. Paul.

4. Đây thực sự là một đoạn văn hấp dẫn vì nó ví BSW với Thánh Paul.

5. It might be interesting for us to study the “Epistle to the Romans” and see if we can find it its words indications as to those character traits of St. Paul which are similar to those of BSW.

5. Có lẽ sẽ thú vị nếu chúng ta nghiên cứu “Thư gửi tín hữu Rôma” và xem liệu trong những lời ấy, chúng ta có thể tìm thấy những dấu hiệu về các nét tính cách của Thánh Paul tương đồng với BSW hay không.

6. The rays of St. Paul included the fourth and sixth rays. The first and fifth were also present. As the Master Hilarion, He is now the Chohan on the fifth ray, and may be, conceivably, a first ray monad. So, apparently, the rays of BSW and Hilarion have many differences, but the Tibetan thinks there are enough similarities of approach to warrant BSW’s study.

6. Các cung của Thánh Paul bao gồm cung bốn và cung sáu. Cung một và cung năm cũng hiện diện. Giờ đây, với cương vị Chân sư Hilarion, Ngài là Đấng Chohan thuộc cung năm, và có thể hình dung rằng Ngài có chân thần cung một. Như vậy, rõ ràng các cung của BSW và Chân sư Hilarion có nhiều khác biệt, nhưng Chân sư Tây Tạng cho rằng có đủ điểm tương đồng trong cách tiếp cận để BSW nên nghiên cứu.

7. We can see that Master DK is trying to increase BSW’s access to illumination. Mental illumination and spiritual intelligence are the characteristics of the disciple who has achieved the second degree. Of course, the illumination of which DK is speaking when He refers to St. Paul, and to the coming of illumination “on the wings of blinding light” pertains more to the third initiation.

7. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đang cố gắng giúp BSW tiếp cận sự soi sáng nhiều hơn. Sự soi sáng trí tuệ và trí thông tuệ tinh thần là những đặc điểm của đệ tử đã đạt bậc hai. Dĩ nhiên, sự soi sáng mà Chân sư DK nói đến khi Ngài đề cập đến Thánh Paul, và sự soi sáng đến “trên đôi cánh của ánh sáng chói lòa”, liên quan nhiều hơn đến lần điểm đạo thứ ba.

8. St. Paul was a mental disciple: “Some of the individuals on this way of the mind were Sankaracharya, the Apostle Paul, and Meister Eckhart” (DINA I 44).

8. Thánh Paul là một đệ tử thiên về trí tuệ: “Một số cá nhân trên con đường trí tuệ này là Sankaracharya, Tông đồ Paul và Meister Eckhart” (DINA I 44).

9. From all that has gone before, we can presume that BSW is a similar kind of disciple. We know that at one point in His development, the Apostle Paul realized the treasures of the heart — probably after His third initiation. The Tibetan seeks for a similar realization (at some point) from His chela BSW.

9. Từ tất cả những điều đã trình bày, chúng ta có thể suy đoán rằng BSW là một kiểu đệ tử tương tự. Chúng ta biết rằng vào một thời điểm trong sự phát triển của Ngài, Tông đồ Paul đã chứng nghiệm những kho báu của trái tim — có lẽ sau lần điểm đạo thứ ba của Ngài. Chân sư Tây Tạng mong đợi đệ tử BSW của Ngài đạt đến một chứng nghiệm tương tự vào một thời điểm nào đó.

The work of this group of disciples with whom you are associated is growing and your balanced judgment and clear vision may be needed in time to come. Give full measure of advice and aid, tempering all with a more vitally disclosed love. A "mental body as hard as nails" will some day have to be destroyed. Why not begin preserving intact the principle of mind, thus permitting it free function but using it with the wings of love and on errands of compassion. The ordinary man works from emotional levels, unaided by the mind and without the illumination of the soul. The advanced man and the aspirant [632] work from mental levels, producing the integration of the personality, and, therefore, power. The disciple works from soul levels which are the levels of divine love. He motivates the mind with love, subduing personality sentiment with universal love, worked out in practice and not preserved in theory. Could I aid you, my brother, did I not love you that way?

Công việc của nhóm đệ tử mà em cộng tác đang phát triển, và khả năng phán đoán quân bình cùng tầm nhìn rõ ràng của em có thể sẽ cần đến trong thời gian tới. Hãy hết lòng đưa ra lời khuyên và giúp đỡ, làm dịu tất cả bằng tình thương được biểu lộ sống động hơn. Một “thể trí cứng như đinh” một ngày nào đó sẽ phải bị phá huỷ. Sao không bắt đầu bằng cách giữ nguyên vẹn nguyên khí trí tuệ, nhờ đó cho phép nó hoạt động tự do, nhưng sử dụng nó trên đôi cánh của tình thương và để thực hiện những công việc từ bi. Người bình thường hoạt động từ các cấp độ cảm xúc, không có sự trợ giúp của thể trí và không có sự soi sáng của linh hồn. Người tiến hoá cao và người chí nguyện [632] hoạt động từ các cấp độ trí tuệ, tạo ra sự tích hợp phàm ngã và do đó tạo ra quyền năng. Đệ tử hoạt động từ các cấp độ linh hồn, vốn là các cấp độ của tình thương thiêng liêng. Y lấy tình thương làm động lực cho thể trí, chế ngự tình cảm phàm ngã bằng tình thương đại đồng được thể hiện trong thực hành, chứ không giữ lại trong lý thuyết. Huynh đệ của tôi, liệu Tôi có thể giúp em nếu Tôi không yêu thương em theo cách ấy không?

1. Again a reference appears which may implicate the sign Libra in the astrological chart. Or perhaps, it is an indication of a mature fourth ray mind.

1. Một lần nữa xuất hiện một lời đề cập có thể gợi đến dấu hiệu Thiên Bình trong lá số chiêm tinh. Hoặc có lẽ đó là dấu hiệu của một thể trí cung bốn đã trưởng thành.

2. The Tibetan emphasizes BSW’s contribution to the group, suggesting that, if anything, it may be needed still more in the future.

2. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh sự đóng góp của BSW cho nhóm, gợi ý rằng nếu có thay đổi thì trong tương lai, sự đóng góp ấy có thể còn cần thiết hơn nữa.

3. The phrase, “a more vitally disclosed love” is interesting, because is suggests the energy of love as expressed through the etheric body — the vital body. The Tibetan is asking for the expression of a living love which is revealed and not concealed.

3. Cụm từ “một tình thương biểu lộ sống động hơn” thật thú vị, vì nó gợi đến năng lượng tình thương biểu lộ qua thể dĩ thái — thể sinh lực. Chân sư Tây Tạng đang yêu cầu biểu lộ một tình thương sống động, hiển lộ chứ không che giấu.

4. There are number of arresting phrases in this section: “A mental body as hard as nails”, is one such. It seems strange to speak of a fourth ray mind in this way, but we must remember that our mental body is not the product of only one incarnation, but has been conditioned for many lives. As well, various astrological factors may be contributing to the hardness of the mental body; perhaps aspects from Saturn to Mercury, or Mercury found in a ‘hard’ sign, like Capricorn.

4. Có một số cụm từ đáng chú ý trong phần này: “Một thể trí cứng như đinh” là một trong số đó. Có vẻ lạ khi nói về một thể trí cung bốn theo cách này, nhưng chúng ta phải nhớ rằng thể trí của mình không phải là sản phẩm của chỉ một kiếp lâm phàm, mà đã chịu ảnh hưởng định hình qua nhiều kiếp. Đồng thời, nhiều yếu tố chiêm tinh có thể góp phần tạo nên sự cứng rắn của thể trí; có lẽ là những góc hợp từ Sao Thổ đến Sao Thủy, hoặc Sao Thủy nằm trong một dấu hiệu ‘cứng rắn’ như Ma Kết.

5. Master DK suggests a necessary transformation in the sphere of mind — the task of “preserving intact the principle of mind, thus permitting it free function but using it with the wings of love and on errands of compassion”. DK is seeking a mind conditioned not so much by the planets Mercury and Saturn as by Venus and Neptune. He is also suggesting the sending of loving compassionate thoughts. Thus a line of service is recommended.

5. Chân sư DK đề nghị một sự chuyển đổi cần thiết trong lĩnh vực trí tuệ — nhiệm vụ “giữ nguyên vẹn nguyên khí trí tuệ, nhờ đó cho phép nó hoạt động tự do, nhưng sử dụng nó với đôi cánh của tình thương và trong những sứ mệnh từ bi”. Chân sư DK mong có một thể trí chịu ảnh hưởng định hình của Sao Kim và Sao Hải Vương nhiều hơn là Sao Thủy và Sao Thổ. Ngài cũng gợi ý việc gửi đi những tư tưởng đầy tình thương và lòng từ bi. Như vậy, Ngài đề nghị một hướng phụng sự.

6. The Tibetan discriminates between three modes of work — that of the ordinary man, the advanced man and the disciple. Three different ‘levels’ of work pertain to the three types: the emotional level, the mental level and the level of soul.

6. Chân sư Tây Tạng phân biện ba phương thức làm việc — của người bình thường, người tiến hóa cao và đệ tử. Ba ‘cấp độ’ làm việc khác nhau tương ứng với ba kiểu người ấy: cấp độ cảm xúc, cấp độ trí tuệ và cấp độ linh hồn.

7. We have reinforced for us the important point that soul levels are the levels of “divine love” — presumably, no matter what the ray, for the soul ray of BSW is not the Ray of Love.

7. Chúng ta được củng cố thêm điểm quan trọng rằng các cấp độ linh hồn là những cấp độ của “tình thương thiêng liêng” — có lẽ bất kể thuộc cung nào, vì cung linh hồn của BSW không phải là Cung Bác Ái.

8. A simply brilliant suggestion is offered regarding the way the disciple must work:

8. Một gợi ý thật xuất sắc được đưa ra về cách đệ tử phải làm việc:

“He motivates the mind with love, subduing personality sentiment with universal love, worked out in practice and not preserved in theory”.

“Y lấy tình thương làm động lực cho thể trí, dùng tình thương đại đồng để chế ngự tình cảm phàm ngã, thực hiện tình thương ấy trong thực tiễn chứ không giữ nó trong lý thuyết”.

These are, so it would seem, high requirements for a disciple. “Universal love” is a stupendous energy, and DK expects that the disciple will have access to it and will be able to express it.

Dường như đây là những yêu cầu cao đối với một đệ tử. “Tình thương đại đồng” là một năng lượng vô cùng lớn lao, và Chân sư DK mong đợi đệ tử có thể tiếp cận và biểu lộ năng lượng ấy.

Preservation in theory is also an interesting idea. That which is “preserved” is somewhat held back from expression. It is as if one cherishes the idea of universal love, but is loathe to express the fact.

Giữ lại trong lý thuyết cũng là một ý tưởng thú vị. Điều được “giữ lại” phần nào bị ngăn không cho biểu lộ. Như thể người ta trân quý ý tưởng về tình thương đại đồng, nhưng lại không muốn biểu lộ nó thành thực tế.

9. DK professes His Love for BSW; it is a “universal love” devoid of human sentiment. The Master explains that He is helping His chela through the use of just such a love and asks that the chela realize this, and utilize such a love when attempting to help others.

9. Chân sư DK bày tỏ Tình thương của Ngài đối với BSW; đó là một “tình thương đại đồng” không có tình cảm nhân loại. Chân sư giải thích rằng Ngài đang trợ giúp đệ tử của Ngài bằng chính tình thương như thế, và yêu cầu người đệ tử nhận ra điều này, đồng thời sử dụng tình thương ấy khi cố gắng giúp đỡ người khác.

10. A mind motivated with love — such an important thought! The truly loving mind. Venus has won the day and the Solar Angels have triumphed. This is the mind “which is in Christ”. Towards the possession of this type of mind may we continuously strive.

10. Một thể trí lấy tình thương làm động lực — một tư tưởng quan trọng biết bao! Thể trí thực sự đầy tình thương. Sao Kim đã giành phần thắng và các Thái dương Thiên Thần đã chiến thắng. Đây là thể trí “vốn ở trong Đức Christ”. Mong rằng chúng ta không ngừng nỗ lực để có được thể trí như thế.

Can I ask you to do one piece of work through and in yourself? Will you study the theory of the transmutation of mental attitudes through the processes of love — processes which in no way negate the holding of these attitudes but which motivate and universalise them. Through these processes, a mental concept can become a fact upon the physical plane through the activity of love, rightly used. You could do much with this thought and teach much to those who read your words.

Tôi có thể yêu cầu em thực hiện một công việc thông qua và ngay trong chính mình không? Em hãy nghiên cứu lý thuyết về sự chuyển hoá các thái độ trí tuệ qua những tiến trình của tình thương—những tiến trình không hề phủ định việc giữ vững các thái độ ấy, mà trao động lực và làm cho chúng trở nên đại đồng. Qua những tiến trình này, một quan niệm trí tuệ có thể trở thành một sự thật trên cõi hồng trần nhờ hoạt động của tình thương được sử dụng đúng đắn. Em có thể làm được nhiều điều với tư tưởng này và dạy nhiều điều cho những người đọc lời em.

1. A specific piece of internal work is suggested. BSW is a most mental disciple and certainly understands what it is to hold “mental attitudes”. Note that it is possible to be a mental disciple and still have a fourth ray mind.

1. Một công việc nội tâm cụ thể được đề nghị. BSW là một đệ tử rất thiên về trí tuệ và chắc chắn thấu hiểu việc giữ những “thái độ trí tuệ” là thế nào. Hãy lưu ý rằng một người có thể là đệ tử thiên về trí tuệ mà vẫn có thể trí cung bốn.

2. DK suggests that love is a transmuting agent and can transmute mental attitudes.

2. Chân sư DK gợi ý rằng tình thương là một tác nhân chuyển hoá và có thể chuyển hoá các thái độ trí tuệ.

3. Through this transmutation, the magnetism of thoughts will be changed and the configuration of mental attitudes will be magnetically altered.

3. Qua sự chuyển hoá này, từ điện của các tư tưởng sẽ thay đổi, và cấu hình của các thái độ trí tuệ sẽ biến đổi về mặt từ tính.

4. Love is the motivator and love is the ‘universalizer’. Love expands to include the whole. In this case, love leads mentality into the abstract mind and into the realm of pure reason.

4. Tình thương là tác nhân tạo động lực và cũng là tác nhân ‘mở rộng đến tính đại đồng’. Tình thương mở rộng để bao gồm toàn thể. Trong trường hợp này, tình thương dẫn hoạt động trí tuệ vào trí trừu tượng và vào lĩnh vực lý trí thuần túy.

5. The Tibetan is now intensively applying the disciplines and realization of love to BSW’s internal process.

5. Giờ đây, Chân sư Tây Tạng đang áp dụng mạnh mẽ những kỷ luật và sự chứng nghiệm tình thương vào tiến trình nội tâm của BSW.

6. It would seem that BSW is a writer of a kind; at least there are many who read his words.

6. Dường như BSW là một người viết theo một cách nào đó; ít nhất có nhiều người đọc những lời BSW viết.

7. We learn here that love can also be considered an agent of precipitation. Love, rightly used, will help mental concepts become facts on the physical plane. Perhaps, under the influence of love, the desire element is rightly engaged and leads the thought closer to precipitation.

7. Ở đây, chúng ta biết rằng tình thương cũng có thể được xem là một tác nhân ngưng tụ. Tình thương được sử dụng đúng đắn sẽ giúp các khái niệm trí tuệ trở thành những sự kiện trên cõi hồng trần. Có lẽ dưới ảnh hưởng của tình thương, yếu tố dục vọng được huy động đúng cách và đưa tư tưởng đến gần sự ngưng tụ hơn.

8. We remember that Master DK is talking to a strongly seventh ray disciple — a seventh ray personality and seventh ray brain/ body. We are, therefore, dealing with love as part of the white-magical process.

8. Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK đang nói với một đệ tử mang ảnh hưởng cung bảy rất mạnh — phàm ngã cung bảy và bộ não/thân thể cung bảy. Vì vậy, chúng ta đang bàn đến tình thương như một phần của tiến trình chánh thuật.

9. Really, the great training BSW is receiving is the training in love.

9. Thực sự, sự huấn luyện lớn lao mà BSW đang nhận là sự huấn luyện về tình thương.

I have no special occult exercise for you to do, save that you pay close attention to your spiritual sensitivity at the time of each Full Moon and do this from three angles:

Tôi không có bài tập huyền bí đặc biệt nào dành cho em, ngoài việc em hết sức chú tâm đến tính nhạy cảm tinh thần của mình vào mỗi kỳ Trăng Tròn và thực hiện điều này từ ba góc độ:

1. Seek to draw near to me and endeavour to sense my vibration.

1. Tìm cách đến gần Tôi và cố gắng cảm nhận rung động của Tôi.

2. Try to realise at the same time the vibration of my group of disciples.

2. Đồng thời, cố gắng nhận biết rung động của nhóm đệ tử của Tôi.

3. Register any phenomena, if present.

3. Ghi nhận mọi hiện tượng, nếu có.

1. Training in sensitivity continues. The Full Moon is to be the main time for the cultivation of such sensitivity.

1. Việc huấn luyện tính nhạy cảm tiếp tục. Kỳ Trăng Tròn sẽ là thời điểm chính để vun bồi tính nhạy cảm ấy.

2. At that time the Master’s vibration is more accessible than at other times — usually. Also the disciple may be more sensitive to the vibration of his group of fellow disciples.

2. Thông thường, vào thời điểm ấy, rung động của Chân sư dễ tiếp cận hơn những lúc khác. Đệ tử cũng có thể nhạy cảm hơn với rung động của nhóm đệ tử đồng môn của mình.

3. The Full Moon is a time of inner communion when ashramic relations may be ascertained.

3. Kỳ Trăng Tròn là thời điểm hiệp thông nội tâm, khi những mối quan hệ ashram có thể được xác nhận.

4. The registration of phenomena is secondary, it would seem. We must remember that, as a seventh ray disciple (from the personality perspective) BSW would be interested in phenomena.

4. Dường như việc ghi nhận các hiện tượng là thứ yếu. Chúng ta phải nhớ rằng, là một đệ tử cung bảy (xét từ góc độ phàm ngã), BSW hẳn sẽ quan tâm đến các hiện tượng.

July 1937 – Tháng Bảy năm 1937

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

There is little need for me to do more than give you the facts; you can and will make your own adjustments. You have the faculty of regarding facts clearly and then acting upon what you discover or deduce.

Tôi hầu như không cần làm gì hơn ngoài việc trình bày các sự thật cho em; em có thể và sẽ tự điều chỉnh. Em có khả năng nhìn nhận các sự thật một cách rõ ràng rồi hành động dựa trên những gì em khám phá hoặc suy ra.

Your mental body (and this may surprise you!) is on the fourth Ray of Harmony through Conflict and hence the intensity of your mystical interior life. Of this interior life, few are aware. It is the sweetening, inclusive aspect in your life and your polarisation is largely there and should be so increasingly. It is the factor in your life which makes you magnetic and loved. You have a non-separative mind.

Thể trí của em (và điều này có thể khiến em ngạc nhiên!) thuộc cung bốn, cung Hài Hoà qua Xung Đột, do đó đời sống nội tâm thần bí của em rất mãnh liệt. Ít người biết đến đời sống nội tâm này. Đó là phương diện làm dịu và mang tính bao gồm trong đời em; sự phân cực của em phần lớn nằm ở đó và cần ngày càng như vậy. Đó là yếu tố trong đời em khiến em có sức hút từ tính và được yêu thương. Em có một thể trí không chia rẽ.

1. Often Master DK simply presents BSW with the facts. There seems to be very little necessity to wrap these facts in soft words. BSW is a frank individual and expects frankness. He can also be relied upon to make adjustment rapidly.

1. Chân sư DK thường chỉ đơn giản trình bày các sự kiện cho BSW. Dường như rất ít khi cần bọc những sự kiện ấy trong lời lẽ dịu dàng. BSW là một người thẳng thắn và mong đợi sự thẳng thắn. Cũng có thể tin cậy rằng BSW sẽ nhanh chóng điều chỉnh.

2. Again, there seems to be previous training upon the fifth ray, though the ray of the mind is now the fourth.

2. Một lần nữa, dường như trước đây đã có sự huấn luyện trên cung năm, dù hiện nay cung của thể trí là cung bốn.

3. DK remarks that BSW may consider it surprising that his mental body is upon the fourth ray. Perhaps he had considered it as a fifth ray mental body — such is the continuing influence of rays which had been a focus in preceding incarnations.

3. Chân sư DK nhận xét rằng BSW có thể thấy ngạc nhiên khi thể trí của mình thuộc cung bốn. Có lẽ BSW đã cho rằng đó là một thể trí cung năm — ảnh hưởng tiếp diễn của những cung từng là trọng tâm trong các kiếp lâm phàm trước chính là như vậy.

4. We learn that we may surmise that one of our vehicles is focussed on a certain ray, only to discover that it is not. The qualities we were noticing, and which led us to conclude that a certain ray was active, were caused by forces other than the present ray of the vehicle. A number of disciples have been confused in this way — especially about the rays of the soul, personality or mind.

4. Chúng ta biết rằng mình có thể suy đoán một trong các hiện thể của mình tập trung trên một cung nào đó, để rồi phát hiện rằng không phải vậy. Những phẩm tính mà chúng ta nhận thấy và khiến chúng ta kết luận rằng một cung nào đó đang hoạt động thực ra do các mãnh lực khác gây nên, chứ không phải cung hiện tại của hiện thể ấy. Một số đệ tử đã nhầm lẫn theo cách này — đặc biệt về các cung của linh hồn, phàm ngã hoặc thể trí.

5. We learn that the fourth ray mental body contributes to an intense, mystical interior life.

5. Chúng ta biết rằng thể trí cung bốn góp phần tạo nên một đời sống nội tâm mãnh liệt, mang tính thần bí.

6. Few would be aware that BSW had such an intense, inner life, because his seventh ray personality and brain would cloak the fact.

6. Ít ai nhận biết rằng BSW có một đời sống nội tâm mãnh liệt đến thế, vì phàm ngã và bộ não cung bảy của ông che giấu điều đó.

7. DK says surprising things about this fourth ray mind: it is “the sweetening, inclusive aspect; it makes BSW “magnetic and loved”. It is a “non-separative mind”. We do not expect separativeness form the mind when it is qualified by the fourth ray; the first or fifth ray mind, however, can more readily be used in a separative manner.

7. Chân sư DK nói những điều đáng ngạc nhiên về thể trí cung bốn này: đó là “phương diện làm dịu lại, có tính bao gồm”; nó khiến BSW “có từ tính và được yêu mến”. Đó là một “thể trí không chia rẽ”. Chúng ta không trông đợi tính chia rẽ nơi thể trí khi cung bốn quy định phẩm tính của nó; tuy nhiên, thể trí cung một hoặc cung năm có thể dễ dàng được sử dụng theo cách chia rẽ hơn.

8. It is interesting that the Master did not speak of these softer mental qualities before. Instead, He spoke of a mind “hard as nails”; this would seem to be a legacy quality or a partially astrologically induced.

8. Điều thú vị là trước đây Chân sư không nói đến những phẩm tính mềm mại hơn này của thể trí. Thay vào đó, Ngài nói đến một thể trí “cứng như đinh”; đây dường như là một phẩm tính lưu lại từ quá khứ hoặc phần nào do ảnh hưởng chiêm tinh tạo nên.

9. The Master speaks of the disciple’s polarization. We judge that for all his mentality, BSW is not yet an entirely mentally polarized individual. This occurs at a point midway between the second and third initiation, which may not be the case for BSW.

9. Chân sư nói đến sự phân cực của người đệ tử. Chúng ta nhận định rằng, bất chấp năng lực trí tuệ của mình, BSW vẫn chưa phải là một cá nhân hoàn toàn phân cực trí tuệ. Điều này xảy ra tại một điểm ở giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba, mà BSW có thể chưa đạt tới.

10. Probably the announcement to BSW of a fourth ray mind would come as a surprise to the reader as well, had the ray of the mind not been mentioned from the first (in this Commentary), and had the reader concentrated only on what the Master said.

10. Có lẽ lời thông báo cho BSW rằng ông có thể trí cung bốn cũng sẽ khiến độc giả ngạc nhiên, nếu cung của thể trí chưa được đề cập ngay từ đầu trong bài Bình giảng này, và nếu độc giả chỉ tập trung vào những gì Chân sư đã nói.

11. The polarization of the disciple is, however, to be increasingly in the fourth ray mind. Does this mean that the first ray soul is to express itself through this vehicle?

11. Tuy nhiên, người đệ tử phải ngày càng phân cực trong thể trí cung bốn. Điều này có nghĩa là linh hồn cung một phải biểu lộ qua hiện thể này chăng?

Your astral body is under the influence of the sixth Ray of Devotion and hence your early interest in things Piscean and [633] your strong Christian tendency. Hence, also, your strong emotional nature which is, however, well controlled, largely because in this life you have a masculine body.

Thể cảm dục của em chịu ảnh hưởng của cung sáu, cung Sùng Tín, do đó em sớm quan tâm đến những điều thuộc Song Ngư và [633] có khuynh hướng Kitô giáo mạnh mẽ. Cũng vì thế mà bản chất cảm xúc của em mạnh mẽ, tuy nhiên được kiểm soát tốt, phần lớn vì trong kiếp này em có một thân thể nam giới.

1. Is the sign Pisces prominent in BSW’s chart? There are a few reasons for asking this. Of course one may be interested in “things Piscean” without, necessarily, having the sign Pisces prominent.

1. Dấu hiệu Song Ngư có nổi bật trong lá số của BSW không? Có một vài lý do để đặt câu hỏi này. Dĩ nhiên, người ta có thể quan tâm đến “những điều thuộc Song Ngư” mà không nhất thiết phải có dấu hiệu Song Ngư nổi bật.

2. There was an early momentum towards things Piscean which may suggest that the sixth ray was of considerable importance to BSW in immediately preceding incarnations. He does have, after all, a priestly past.

2. Ngay từ sớm đã có một đà hướng về những điều thuộc Song Ngư, có thể cho thấy cung sáu có tầm quan trọng đáng kể đối với BSW trong những kiếp lâm phàm ngay trước đó. Xét cho cùng, ông quả có một quá khứ làm giáo sĩ.

3. We are learning that the sixth ray emotional body can be potent indeed.

3. Chúng ta đang biết thêm rằng thể cảm xúc cung sáu quả thực có thể rất mạnh mẽ.

4. Is the Master suggesting that BSW was recently in a feminine body and that, at that time, the emotional nature was not so well controlled?

4. Có phải Chân sư đang gợi ý rằng trong một kiếp gần đây BSW có thân thể nữ giới, và khi ấy bản chất cảm xúc không được kiểm soát tốt đến thế?

5. It is interesting, is it not, that the masculine body will contribute to the control of the emotions. Contrarily, the feminine body may contribute to their expression.

5. Thật thú vị, phải không, rằng thân thể nam giới góp phần kiểm soát cảm xúc. Ngược lại, thân thể nữ giới có thể góp phần biểu lộ chúng.

6. There may be a difference between men and women after all!

6. Rốt cuộc, có lẽ có sự khác biệt giữa những người nam và nữ!

7. We can also imagine that a seventh ray personality and brain would be factors which would contribute to the control of the emotions.

7. Chúng ta cũng có thể hình dung rằng phàm ngã và bộ não cung bảy là những yếu tố góp phần kiểm soát cảm xúc.

8. The “strong Christian tendency” probably led to a career in the Church, which, in this case, may have been the Church of England (Episcopal) rather than the Catholic Church. Though, there is also a possibility of association with the Liberal Catholic Church so promoted by prominent members of the Theosophical Society.

8. “Khuynh hướng Cơ Đốc giáo mạnh mẽ” có lẽ đã dẫn đến một sự nghiệp trong Giáo hội, mà trong trường hợp này có thể là Giáo hội Anh (Giám nhiệm) hơn là Giáo hội Công giáo. Tuy vậy, cũng có khả năng ông có liên hệ với Giáo hội Công giáo Tự do, vốn được các thành viên nổi bật của Hội Thông Thiên Học cổ xúy mạnh mẽ.

As you might well imagine, your physical body is conditioned by the seventh ray. Upon this I need not enlarge. You are, therefore, a composite aggregate of forces, as follows:

Như em có thể hình dung, thể xác của em chịu tác động định hình của cung bảy. Tôi không cần nói thêm về điều này. Vì vậy, em là một tập hợp tổng hợp của các mãnh lực như sau:

1. The soul ray — first Ray of Will or Power.

1. Cung linh hồn—cung một, cung Ý Chí hay Quyền Năng.

2. The personality ray — the seventh Ray of Ceremonial Order.

2. Cung phàm ngã—cung bảy, cung Trật Tự Nghi Lễ.

3. The ray of the mind — the fourth Ray of Harmony.

3. Cung của thể trí—cung bốn, cung Hài Hoà.

4. The ray of the astral body — the sixth Ray of Devotion.

4. Cung của thể cảm dục—cung sáu, cung Sùng Tín.

5. The ray of the physical body — the seventh Ray of Ceremonial Order.

5. Cung của thể xác—cung bảy, cung Trật Tự Nghi Lễ.

1. It appears that BSW realized quite well that his physical body and brain were on the seventh ray. DK often makes short, plain statements to this disciple.

1. Dường như BSW nhận biết khá rõ rằng thể xác và bộ não của ông thuộc cung bảy. Chân sư DK thường đưa ra những lời ngắn gọn, rõ ràng với người đệ tử này.

2. The rays are as follows (using the shortened form of notation): 17-467.

2. Các cung như sau (dùng dạng ký hiệu rút gọn): 17-467.

3. We see there is an accentuation on the hard-line of force. If, however, the monad is on the second ray, as seems probable, the situation is rather more balance.

3. Chúng ta thấy tuyến mãnh lực cứng được nhấn mạnh. Tuy nhiên, nếu chân thần thuộc cung hai, như có vẻ có khả năng là vậy, thì tình thế cân bằng hơn khá nhiều.

January 1938 – Tháng Một năm 1938

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I wonder if you will be able to grasp my intention or if I shall be able to reach you. With disciples in my group, I work not on the astral plane. I work on mental levels, seeking to aid you all in the building of the bridging link between your personalities and your soul, between each of you as co-disciples, and between the Ashram and the Brotherhood to which I belong and which your soul, on its own level, consciously seeks to serve. But — you have been away from home for some time now.

Tôi tự hỏi liệu em có thể nắm bắt ý định của Tôi, hay liệu Tôi có thể đến được với em không. Với các đệ tử trong nhóm của Tôi, Tôi không làm việc trên cõi cảm dục. Tôi làm việc trên các cấp độ trí tuệ, tìm cách giúp tất cả các em xây dựng mối liên kết bắc cầu giữa phàm ngã và linh hồn của các em, giữa mỗi người trong các em với tư cách các đệ tử đồng môn, và giữa ashram với Huynh Đệ Đoàn mà Tôi là thành viên, và linh hồn em, trên cấp độ riêng của nó, đang hữu thức tìm cách phụng sự. Nhưng—em đã xa nhà một thời gian rồi.

1. There has been a change. A condition not at all discussed during the earlier letters has emerged and it is serious.

1. Đã có một sự thay đổi. Một tình trạng hoàn toàn không được bàn đến trong các thư trước đã xuất hiện, và tình trạng này nghiêm trọng.

2. BSW, it appears, has a strong involvement with the astral plane and this involvement is making it difficult for DK to reach him.

2. Dường như BSW đang gắn bó sâu đậm với cõi cảm dục, và sự gắn bó này khiến Chân sư DK khó đến được với ông.

3. It is strange that this liability was not mentioned in earlier letters. Maybe it was latent and not sufficiently serious to warrant being addressed. Or maybe, it was addressed in the deleted sentences of various instructions.

3. Thật lạ là nhược điểm này không được đề cập trong các thư trước. Có lẽ nó còn tiềm ẩn và chưa đủ nghiêm trọng để cần đề cập đến. Hoặc có lẽ nó đã được đề cập trong những câu bị lược bỏ ở các huấn thị khác nhau.

4. It is been only a half year since the last message. So much of an undesirable nature (from the standpoint of consciousness) must have happened in a short time.

4. Mới chỉ nửa năm kể từ thông điệp trước. Hẳn đã có rất nhiều điều không đáng mong muốn, xét từ quan điểm tâm thức, xảy ra trong một thời gian ngắn.

5. DK defines His area of work. He does not work in relation to the astral plane. His work is with the mental plane, with the link between personality and soul, and with the soul-links between co-disciples, and between the Ashram and the Brotherhood (the Hierarchy). These are the legitimate foci of Master DK’s work.

5. Chân sư DK xác định lĩnh vực công việc của Ngài. Ngài không làm việc trong mối liên hệ với cõi cảm dục. Công việc của Ngài liên quan đến cõi trí, đến mối liên kết giữa phàm ngã và linh hồn, đến những mối liên kết linh hồn giữa các đệ tử đồng môn, và giữa ashram với Huynh đệ Đoàn (Thánh đoàn). Đây là những trọng tâm chính đáng trong công việc của Chân sư DK.

6. Using the language of symbolism (which the fourth ray mind would appreciate), BSW is told that he has “been away from home for some time now”.

6. Dùng ngôn ngữ biểu tượng, vốn là điều thể trí cung bốn sẽ trân trọng, Ngài nói với BSW rằng ông đã “xa nhà một thời gian rồi”.

7. Thus DK signals the reemergence of a tendency towards “astral wandering”.

7. Như vậy, Chân sư DK báo hiệu sự tái xuất hiện của khuynh hướng “lang thang trên cõi cảm dục”.

You are not particularly intuitive, my brother, nor has your contact with the "inner brotherhoods" anything to do with the intuition or with inspiration. There are no brotherhoods on the plane of the intuition. The brotherhoods are group forms and are in the nature of being the personality aspects of the egoic groups. The expression or term, Hierarchy, is only a word applied to the transfigured personality aspect of all these egoic groups of liberated egos or souls which function on the higher levels of the mental plane, and from there seek to aid the sons of men. Your contact with the Hierarchy is, therefore, on mental levels. Your contact with what you call "inner brotherhoods" is astral, with all that this word implies. There is not necessarily anything wrong or undesirable in this contact, provided that you recognise the plane whereon you function, with its obvious limitations.

Huynh đệ của tôi, em không đặc biệt có trực giác, và sự tiếp xúc của em với các “huynh đệ đoàn bên trong” cũng chẳng liên quan gì đến trực giác hay cảm hứng. Không có các huynh đệ đoàn trên cõi trực giác. Các huynh đệ đoàn là những hình tướng nhóm và mang tính chất các phương diện phàm ngã của những nhóm chân ngã. Cách diễn đạt, hay thuật ngữ Thánh đoàn, chỉ là một từ dùng để chỉ phương diện phàm ngã đã biến hình của tất cả những nhóm chân ngã này, gồm các chân ngã hay linh hồn đã giải thoát, hoạt động trên những cấp độ cao của cõi trí và từ đó tìm cách giúp đỡ những người con của nhân loại. Vì vậy, sự tiếp xúc của em với Thánh đoàn diễn ra trên các cấp độ trí tuệ. Sự tiếp xúc của em với những gì em gọi là “các huynh đệ đoàn bên trong” thuộc cõi cảm dục, với tất cả những gì từ này hàm ý. Sự tiếp xúc ấy không nhất thiết có điều gì sai trái hay không đáng mong muốn, miễn là em nhận biết cõi mà em đang hoạt động, cùng những giới hạn hiển nhiên của nó.

1. It appears that BSW is on some glamorous “trip”. He is contacting “inner brotherhoods” (which are certainly astral brotherhoods — reflections of the real thing, and perhaps fabrications altogether).

1. Dường như BSW đang ở trong một “chuyến du hành” đầy ảo cảm nào đó. Ông đang tiếp xúc với các “huynh đệ đoàn bên trong” (chắc chắn đó là các huynh đệ đoàn cảm dục — những phản ảnh của thực tại đích thực, và có lẽ hoàn toàn là những tạo tác hư cấu).

2. Interesting information is given here for all who would “channel” the members of the Spiritual Hierarchy — and there are many such channelers.

2. Ở đây có thông tin thú vị dành cho tất cả những ai muốn “truyền dẫn” các thành viên của Thánh đoàn — và có nhiều người truyền dẫn như thế.

3. DK is trying to give a proper frame of reference to BSW’s newly emergent astral activities. These activities are unrelated to intuition or inspiration (which relate to the Spiritual Triad). DK says flatly, “There are no brotherhoods on the plane of intuition”.

3. Chân sư DK đang cố gắng đặt các hoạt động cảm dục mới xuất hiện của BSW vào một khung tham chiếu thích hợp. Những hoạt động này không liên quan đến trực giác hay cảm hứng (vốn liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần). Chân sư DK nói thẳng: “Không có huynh đệ đoàn nào trên cõi trực giác”.

4. BSW has contacted the “personality aspects of the egoic groups”, and not the egoic groups themselves.

4. BSW đã tiếp xúc với “các phương diện phàm ngã của những nhóm chân ngã”, chứ chưa tiếp xúc với chính những nhóm chân ngã ấy.

5. DK tries to explain what Hierarchy really is, and how it works from the “higher levels of the mental plane”.

5. Chân sư DK cố gắng giải thích Thánh đoàn thực sự là gì, và Thánh đoàn làm việc như thế nào từ “các cấp độ cao của cõi trí”.

6. BSW has been dealing with reflections which he takes for realities.

6. BSW đã tiếp xúc với những phản ảnh mà ông cho là thực tại.

7. The Master is trying to bring a more realistic assessment into the mind of His disciple. In fact, BSW is presently deluded.

7. Chân sư đang cố gắng giúp người đệ tử của Ngài có một cách đánh giá thực tế hơn trong thể trí. Thực tế, BSW hiện đang bị mê lầm.

Have you ever noticed that I am training you to come out of your tower of isolation, and yet at the same time I am training C.D.P. to stay up on the summit of her tower? But yours has been a tower of isolated personality, and she has had to learn (and is still learning) to create a tower of strength and of resistance to calls of a lower kind. Her tower has naught to do with the personality. Forget not, my brother, that when you have learned to leave your tower it does not mean that you must range the levels of personality life with no true direction.

Em đã bao giờ nhận thấy rằng Tôi đang huấn luyện em ra khỏi ngọn tháp cô lập của mình, nhưng đồng thời lại huấn luyện C.D.P. ở trên đỉnh tháp của bạn ấy chưa? Nhưng tháp của em là một ngọn tháp phàm ngã cô lập, còn bạn ấy đã phải học (và vẫn đang học) cách tạo dựng một ngọn tháp sức mạnh và sức đề kháng trước những tiếng gọi thuộc loại thấp hơn. Tháp của bạn ấy không liên quan gì đến phàm ngã. Huynh đệ của tôi, đừng quên rằng khi em đã học cách rời khỏi tháp của mình, điều đó không có nghĩa là em phải lang thang qua các cấp độ của đời sống phàm ngã mà không có định hướng đích thực.

1. DK contrasts the work He is doing with CDP with His work for BSW. Again a second ray disciple is contrasted with a disciple on the first ray; the contrast is a vivid one.

1. Chân sư DK đối chiếu công việc Ngài đang làm với CDP với công việc Ngài làm cho BSW. Một lần nữa, một đệ tử cung hai được đối chiếu với một đệ tử cung một; sự tương phản rất rõ nét.

2. The difference between a tower erected for soul purposes and one which the personality has constructed is also made clear — even though, earlier, we saw DK trying to help BSW consecrate his tower to soul purposes.

2. Sự khác biệt giữa một tháp được dựng lên vì các mục đích của linh hồn và một tháp do phàm ngã xây dựng cũng được làm rõ — dù trước đó, chúng ta đã thấy Chân sư DK cố gắng giúp BSW thánh hiến tháp của ông cho các mục đích của linh hồn.

3. We are beginning to understand that BSW created his tower to compensate for a fundamental weakness. The tower centralized him and gave him a kind of protection from the very astral wandering in which he is now engaged.

3. Chúng ta bắt đầu thấu hiểu rằng BSW tạo ra tháp của mình để bù đắp cho một nhược điểm căn bản. Tháp ấy giúp ông quy tụ vào trung tâm và phần nào bảo vệ ông khỏi chính việc lang thang trên cõi cảm dục mà hiện nay ông đang dấn vào.

4. When BSW left his tower, he, to a degree, lost his center, hence the disorientation of the present period.

4. Khi BSW rời khỏi tháp, ở một mức độ nào đó, ông đã đánh mất trung tâm của mình, do đó dẫn đến sự mất phương hướng trong giai đoạn hiện tại.

5. We can see that the Master ever runs the danger of stimulating imbalance in the life of his disciple (even though He has had the best of intentions).

5. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư luôn đối diện với nguy cơ kích thích sự mất cân bằng trong đời sống đệ tử của Ngài (dù Ngài có những ý định tốt đẹp nhất).

6. CDP needs her tower to resist calls of the lower kind. It appears that BSW has succumbed to some calls of a lower kind. He has temporarily forgotten that the soul on the higher mental plane is the center of life.

6. CDP cần tháp của bà để chống lại những tiếng gọi thuộc loại thấp kém. Dường như BSW đã khuất phục trước một số tiếng gọi thuộc loại thấp kém. Ông đã tạm thời quên rằng linh hồn trên cõi thượng trí là trung tâm của sự sống.

If you will look back upon the training which I have given you during the past few years, you will note that I have had a twofold task:

Nếu nhìn lại sự huấn luyện mà Tôi đã dành cho em trong vài năm qua, em sẽ nhận thấy rằng Tôi có một nhiệm vụ nhị phân:

1. To reveal to you that you were a first ray type and needed, therefore, to learn attachment of the right kind. You had to learn to integrate into my group of disciples and to love with inclusion and not exclusion.

1. Cho em thấy rằng em thuộc kiểu người cung một và vì vậy cần học sự gắn bó đúng đắn. Em phải học cách tích hợp vào nhóm đệ tử của Tôi và yêu thương với tinh thần bao gồm, không loại trừ.

2. To set you free from a tower in which you have secluded yourself. This last task has been successfully accomplished. The first task yet remains to be carried out to a satisfactory conclusion.

2. Giải phóng em khỏi ngọn tháp mà em đã tự giam mình trong đó. Nhiệm vụ sau này đã hoàn thành tốt đẹp. Nhiệm vụ thứ nhất vẫn còn phải thực hiện cho đến khi đạt kết quả thoả đáng.

1. DK summarizes the training to which He has subjected BSW.

1. Chân sư DK tóm lược quá trình huấn luyện mà Ngài đã dành cho BSW.

2. The first task was to teach right attachment to this first ray disciple. He had to learn to integrate into the group and to love inclusively and not exclusively.

2. Nhiệm vụ đầu là dạy người đệ tử cung một này sự gắn bó đúng đắn. Ông phải học cách tích hợp vào nhóm và yêu thương với tính bao gồm thay vì loại trừ.

3. The second task was to set BSW free from his tower of isolation. This has been accomplished but the first task remains uncompleted. BSW is, presumably, not yet integrated into the group of the Tibetan’s disciples, still fails to love with sufficient inclusiveness and still needs to learn attachment of the right kind.

3. Nhiệm vụ thứ hai là giải phóng BSW khỏi tháp cô lập của ông. Điều này đã hoàn thành, nhưng nhiệm vụ đầu vẫn còn dang dở. Có lẽ BSW vẫn chưa tích hợp vào nhóm đệ tử của Chân sư Tây Tạng, vẫn chưa yêu thương với đủ tính bao gồm và vẫn cần học sự gắn bó đúng đắn.

The group of disciples to which you belong, my brother, is upon the mental plane and exists in two parts: There is the group of disciples to whom you belong, assigned to specific work by me; there is also the hierarchical group, my particular Ashram, to which you are affiliated and into which you must be absorbed by soul dedication and later, as the years slip away, by initiation. Only one thing prevents your rapid integration into your true place; that is your ancient love for astral wandering and for psychic phenomena.

Huynh đệ của tôi, nhóm đệ tử mà em thuộc về ở trên cõi trí và tồn tại thành hai bộ phận: có nhóm đệ tử mà em là thành viên, được Tôi giao công việc cụ thể; cũng có nhóm thuộc Thánh đoàn, ashram riêng của Tôi, mà em có sự liên kết và phải hoà nhập vào qua sự hiến dâng của linh hồn, rồi về sau, theo năm tháng, qua điểm đạo. Chỉ một điều ngăn cản em nhanh chóng tích hợp vào vị trí đích thực của mình; đó là sự yêu thích từ xa xưa của em đối với việc lang thang trên cõi cảm dục và các hiện tượng thông linh.

1. The Telepathic Communicators are, indeed, a mentally focussed group. It would not do for BSW to reemphasize an ancient astral polarization. We realize that in the instruction immediately before this one, DK spoke of the need for BSW to polarizing himself increasingly in his fourth ray mind.

1. Quả thực, Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm là một nhóm tập trung trí tuệ. BSW không nên nhấn mạnh trở lại sự phân cực cảm dục từ xa xưa. Chúng ta nhận ra rằng trong huấn thị ngay trước huấn thị này, Chân sư DK đã nói đến việc BSW cần ngày càng phân cực trong thể trí cung bốn của ông.

2. DK speaks of a twofold division of the first group. The first aspect of the group consists of the group of disciples to which BSW belongs. There is also a higher group; it is Master DK’s Ashram.

2. Chân sư DK nói đến sự phân chia nhị phân của nhóm thứ nhất. Phương diện thứ nhất của nhóm gồm nhóm đệ tử mà BSW là thành viên. Cũng có một nhóm cao hơn; đó là ashram của Chân sư DK.

3. We learn that the Master considers BSW “affiliated” with His Ashram. Stages of absorption remain to be accomplished. The first stage of such absorption occurs through “soul dedication”. This stage precedes absorption through initiation — to be accomplished later. Whether DK is speaking of the second or third initiation we cannot be sure. Both would bring the disciple into increasing intimacy with the Ashram.

3. Chúng ta biết rằng Chân sư xem BSW là người “có liên hệ” với ashram của Ngài. Các giai đoạn hấp thu vẫn còn cần được hoàn tất. Giai đoạn đầu của sự hấp thu ấy diễn ra qua “sự tận hiến của linh hồn”. Giai đoạn này đi trước sự hấp thu qua điểm đạo — sẽ được hoàn tất về sau. Chúng ta không thể chắc Chân sư DK đang nói đến lần điểm đạo thứ hai hay thứ ba. Cả hai đều sẽ đưa người đệ tử vào mối quan hệ ngày càng mật thiết với ashram.

4. The “ancient love for astral wandering” is not, we learn, a harmless pastime. In fact, it is preventing BSW from “rapid integration into [his] true place” within the Ashram — presumably through “soul dedication”.

4. Chúng ta biết rằng “niềm yêu thích từ xa xưa đối với việc lang thang trong cõi cảm dục” không phải là một thú tiêu khiển vô tổn hại. Thực tế, nó đang ngăn BSW “nhanh chóng tích hợp vào vị trí đích thực của [ông]” trong ashram — có lẽ qua “sự tận hiến của linh hồn”.

This tendency to astralism is a heritage from other lives and has its basis in old monastic trends and in the dream world in which you wandered in olden times to relieve the monotony of life within the four walls of the cell in which you lived, dedicated to the contemplative life. Your consciousness was then mystical, visionary and imaginative, veering off into realms of astral hallucination. This means that in this life, your astral body easily reverts to ancient ways, to ancient thoughts, to control by ancient thoughtforms and is consequently subject to facile deception.

Khuynh hướng hướng về cõi cảm dục này là di sản từ những kiếp sống khác, bắt nguồn từ các khuynh hướng tu viện xưa và thế giới mộng tưởng mà em từng lang thang trong đó thuở trước để làm vơi sự đơn điệu của cuộc sống giữa bốn bức tường của căn phòng tu mà em cư ngụ, hiến mình cho đời sống chiêm ngưỡng. Khi ấy, tâm thức em mang tính thần bí, đầy linh ảnh và sự tưởng tượng, chệch sang những miền ảo giác cảm dục. Điều này có nghĩa là trong kiếp này, thể cảm dục của em dễ trở lại những nếp cũ, những tư tưởng cũ, chịu sự kiểm soát của những hình tư tưởng cũ, và do đó dễ bị lừa dối.

1. DK explains the origin of the tendency to astralism and psychism. Monastic life was monotonous and monks of the period wandered off onto the astral plane to relieve the monotony. Apparently BSW was a monk and lived confined by the four walls of a cell.

1. Chân sư DK giải thích nguồn gốc của khuynh hướng thiên về cõi cảm dục và các năng lực thông linh. Đời sống tu viện vốn đơn điệu, và các tu sĩ thời ấy đã lang thang vào cõi cảm dục để làm vơi sự đơn điệu đó. Dường như BSW từng là một tu sĩ và sống giam mình giữa bốn bức tường của một phòng tu.

2. Like most of Master DK’s chelas, BSW had spent at least one or two lives in monasteries in the East or West. We presume that for BSW, the more recent incarnations were in the West, due to his strongly Christian leanings.

2. Như phần lớn các đệ tử của Chân sư DK, BSW đã trải qua ít nhất một hoặc hai kiếp trong các tu viện ở phương Đông hoặc phương Tây. Chúng ta phỏng đoán rằng những kiếp nhập thể gần đây hơn của BSW là ở phương Tây, do ông có khuynh hướng Cơ Đốc giáo mạnh mẽ.

3. Already a life has been spent in dedication to contemplation. BSW is no stranger to the internal life of the mystic.

3. Ông đã từng dành một kiếp sống để tận hiến cho sự chiêm ngưỡng. BSW không xa lạ với đời sống nội tâm của nhà thần bí.

4. DK describes the nature of that earlier life or lives — “mystical, visionary and imaginative, veering off into realms of astral hallucination”. In those former times, BSW’s consciousness was deluded, at least in this respect.

4. Chân sư DK mô tả bản chất của một hay nhiều kiếp sống trước ấy — “mang tính thần bí, đầy linh ảnh và giàu tưởng tượng, chệch vào những miền ảo giác cảm dục”. Vào những thời xa xưa ấy, tâm thức của BSW đã mê lầm, ít nhất về phương diện này.

5. The astral body, so well controlled by his combination of rays and his masculine body, may still serve as an instrument of deception — “facile” deception.

5. Thể cảm dục, dù được sự phối hợp các cung và thân thể nam giới của ông kiểm soát rất tốt, vẫn có thể là công cụ của sự lừa dối — một sự lừa dối “dễ dàng”.

6. There are many snares and traps latent within our energy systems. Probably we do not suspect what they are, but they can be reawakened under conducive circumstances. The Master can see these tendencies, whereas we cannot. Thus He must be very careful in His handling of His disciples.

6. Có nhiều cạm bẫy tiềm ẩn trong các hệ thống năng lượng của chúng ta. Có lẽ chúng ta không ngờ chúng là gì, nhưng chúng có thể thức dậy khi gặp hoàn cảnh thuận lợi. Chân sư có thể thấy những khuynh hướng này, còn chúng ta thì không. Vì vậy, Ngài phải rất thận trọng trong cách dìu dắt các đệ tử của Ngài.

With first ray disciples, I can ever speak with clarity and frankness, knowing that they will take my words in the right spirit. I tell you, therefore, with truth and understanding, that you are wandering into the delusions of astral phenomena. There is no true reality in what you are now doing. You are a soul and not a seeker of astral phenomena.

Với các đệ tử cung một, Tôi luôn có thể nói rõ ràng và thẳng thắn, biết rằng họ sẽ tiếp nhận lời Tôi với tinh thần đúng đắn. Vì vậy, với sự chân thật và thấu hiểu, Tôi nói với em rằng em đang lạc vào những mê lầm của các hiện tượng cảm dục. Không có thực tại đích thực trong những gì em đang làm. Em là một linh hồn, không phải một người tìm kiếm các hiện tượng cảm dục.

1. The situation is serious — so serious that Master DK wondered if He could even “reach” His chela

1. Tình hình nghiêm trọng — nghiêm trọng đến mức Chân sư DK tự hỏi liệu Ngài có thể “tiếp cận” được đệ tử của Ngài hay không

2. The Master speaks in no uncertain terms. BSW is in danger. He is “wandering into the delusions of astral phenomena”. For seventh ray disciples (conditioned strongly by the sixth ray and Piscean tendencies) this is ever a strong tendency.

2. Chân sư nói hết sức dứt khoát. BSW đang gặp nguy hiểm. Ông đang “lạc vào những mê lầm của các hiện tượng cảm dục”. Đối với các đệ tử cung bảy (chịu ảnh hưởng mạnh của cung sáu và các khuynh hướng Song Ngư), đây luôn là một khuynh hướng mạnh.

3. BSW has always been capable of discerning reality. His wise and logical mind has helped him. DK alerts him to the absence of reality in his present pursuits.

3. BSW luôn có khả năng phân biện thực tại. Thể trí sáng suốt và hợp lý đã giúp ông. Chân sư DK cảnh báo ông rằng những điều ông đang theo đuổi không có thực tại.

4. It becomes clear that BSW is not functioning as a soul, but as a human consciousness within a wandering astral body.

4. Điều trở nên rõ ràng là BSW không hoạt động như một linh hồn, mà như một tâm thức con người trong một thể cảm dục đang lang thang.

Three or four of those with whom you work on the astral plane are genuinely deluded and they are in danger, for you are holding them back from progressing on to mental levels. For the majority of the group with whom you work, there is no reality at all; they are but shells of ancient astral workers, held together in form-activity by the few people who are on their way through the astral plane to higher levels. They are also held by those on the physical plane who are enticed by astral phenomena and temporarily sidetracked by the glamour.

Ba hoặc bốn người trong số những người em cùng làm việc trên cõi cảm dục quả thật đang mê lầm và gặp nguy hiểm, vì em đang cản trở họ tiến lên các cấp độ trí tuệ. Với phần lớn nhóm mà em cùng làm việc, hoàn toàn không có thực tại nào; họ chỉ là những lớp vỏ của các người hoạt động trên cõi cảm dục thời xưa, được duy trì trong hoạt động hình tướng nhờ một số ít người đang đi qua cõi cảm dục để đến các cấp độ cao hơn. Họ cũng được duy trì nhờ những người trên cõi hồng trần bị các hiện tượng cảm dục lôi cuốn và tạm thời lạc hướng vì ảo cảm.

1. A kind of inner ‘work’ is occurring. BSW is not working only with dreams. He is alert and awake on the astral plane, working with other human beings in astral bodies.

1. Một loại “công việc” nội tâm đang diễn ra. BSW không chỉ làm việc với những giấc mơ. Ông tỉnh táo và thức tỉnh trên cõi cảm dục, làm việc với những người khác trong các thể cảm dục.

2. DK assess the nature of this work. BSW’s astral ‘co-workers’ are “genuinely deluded”. Worse, BSW is holding them back from real progress, which would be achieved could they transfer their attention to the mental plane.

2. Chân sư DK đánh giá bản chất của công việc này. Những “cộng sự” trên cõi cảm dục của BSW đang “thực sự mê lầm”. Tệ hơn nữa, BSW đang cản trở họ tiến bộ thực sự, điều họ có thể đạt được nếu chuyển dịch sự chú ý sang cõi trí.

3. DK paints a picture which should prove distressing to His chela. BSW is working mostly with astral shells, phantoms, held in coherency by those who are on their way through the astral plane to higher levels. Clearly, the pursuits of this valued disciple are presently spiritually worthless and even harmful.

3. Chân sư DK vẽ nên một bức tranh hẳn phải khiến đệ tử của Ngài đau lòng. BSW chủ yếu làm việc với những lớp vỏ cảm dục, những bóng ma, được duy trì sự cố kết nhờ những người đang đi qua cõi cảm dục để lên các cấp độ cao hơn. Rõ ràng, những điều người đệ tử đáng quý này đang theo đuổi hiện không có giá trị tinh thần, thậm chí còn gây hại.

4. We see why a disciple cannot be trusted until he has passed the Temptations midway through the period between the second and third initiations.

4. Chúng ta thấy vì sao chưa thể tin cậy một đệ tử cho đến khi y vượt qua những Cám Dỗ ở giữa giai đoạn từ lần điểm đạo thứ hai đến lần điểm đạo thứ ba.

5. A sidetracking is in full swing, and BSW is participating in it, incognizant of its danger or of the harm he is doing to others.

5. Một sự chệch hướng đang diễn ra mạnh mẽ, và BSW đang tham gia vào đó mà không nhận biết mối nguy hay tác hại ông đang gây ra cho người khác.

6. Astral phenomena are ‘real enough’ in their own way, but are illusory, for all that, and tantalize the unwary, who become, first, interested in them, and, then, ensnared by them.

6. Các hiện tượng cảm dục “khá thực” theo cách riêng của chúng, nhưng dù vậy chúng vẫn mang tính ảo tưởng và quyến rũ những người thiếu cảnh giác, khiến họ trước hết quan tâm đến chúng, rồi sau đó mắc bẫy chúng.

7. We learn that these ancient shells require human energy to keep them coherent; otherwise they would disintegrate.

7. Chúng ta biết rằng những lớp vỏ cổ xưa này cần năng lượng con người để duy trì sự cố kết; nếu không, chúng sẽ tan rã.

The astral plane is not for you, my brother. I suggest that you relinquish this activity and begin again to function as a soul. The soul in its true nature does not identify itself with phenomena; it is the centre of spiritual force through which the plans of God come into being. Your excursions into the world of maya and illusion have held back the group of disciples with which you are working and have postponed their united group activity. You have observed none of the rules governing my disciples, for months; this means, brother of old, that the group integrity has been infringed and that the group is not at this time functioning as a unit. Until it is again one functioning whole, our planned work cannot be undertaken. You are in the difficult position of holding your co-disciples back from a specific task to which they have been assigned.

Huynh đệ của tôi, cõi cảm dục không dành cho em. Tôi đề nghị em từ bỏ hoạt động này và bắt đầu hoạt động trở lại như một linh hồn. Trong bản chất đích thực, linh hồn không đồng hoá với các hiện tượng; linh hồn là trung tâm mãnh lực tinh thần mà qua đó các kế hoạch của Thượng đế trở thành hiện thực. Những chuyến du hành của em vào thế giới ảo lực và ảo tưởng đã cản trở nhóm đệ tử mà em đang cùng làm việc và trì hoãn hoạt động hợp nhất của nhóm. Suốt nhiều tháng, em không tuân thủ một quy luật nào chi phối các đệ tử của Tôi; hỡi huynh đệ từ thuở xưa, điều này có nghĩa là tính toàn vẹn của nhóm đã bị xâm phạm và lúc này nhóm không hoạt động như một đơn vị. Cho đến khi nhóm lại trở thành một chỉnh thể hoạt động thống nhất, công việc mà chúng ta đã hoạch định không thể được tiến hành. Em đang ở trong tình thế khó khăn là cản trở các đệ tử đồng môn thực hiện một nhiệm vụ cụ thể đã giao cho họ.

1. Could the Master’s words be more plain? “Stop it”, DK is saying. “Give up this astral activity and function again as a soul.”

1. Lời Chân sư còn có thể rõ ràng hơn được nữa sao? Chân sư DK đang nói: “Hãy dừng lại. Hãy từ bỏ hoạt động cảm dục này và lại hoạt động như một linh hồn.”

2. DK finds it necessary to help BSW distinguish between astralism and soul activity. Seventh ray types love phenomena, and BSW, presently, is one such.

2. Chân sư DK thấy cần giúp BSW phân biệt giữa hoạt động cảm dục và hoạt động của linh hồn. Những người cung bảy yêu thích các hiện tượng, và hiện nay BSW là một người như vậy.

3. But the soul is “the centre of spiritual forced through which the plans of God come into being”. The contrast is very clear, but the glamor is thick.

3. Nhưng linh hồn là “trung tâm mãnh lực tinh thần, qua đó các kế hoạch của Thượng đế thành hiện thực”. Sự tương phản rất rõ ràng, nhưng ảo cảm lại dày đặc.

4. Then come some very chastening words: BSW’s astral excursions have held his group back. No true disciple will continue unwise pursuits once he hears such words from the Master.

4. Tiếp đó là những lời khiển trách nghiêm khắc: những chuyến du hành cảm dục của BSW đã kìm hãm nhóm của ông. Không một đệ tử chân chính nào sẽ tiếp tục theo đuổi những điều thiếu sáng suốt sau khi nghe những lời như thế từ Chân sư.