← Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Lá Thư Thứ VIII

Nhắc lại ba phương pháp và âm điệu căn bản màu chàm — Commentary LOM 59

Tóm lược chương

Thầy MDR tóm lại mạch của bức thư dài đang học về bản chất nội tại của tham thiền: phương pháp Raja Yoga mà Chân sư DK liên kết với Cung một và cung phụ của nó; phương pháp Cung hai của bác ái và minh triết, dường như được dùng nhiều nhất hiện nay, với chữ “cung” số nhiều gợi các cung hỗ trợ, có lẽ trên tuyến 2-4-6; và phương pháp Cung ba, áp dụng trí năng vào mọi điều đã học trên hai cung chính kia. Thầy nhận xét phần lớn đoạn này bàn về việc sống đời thánh hiến. Về câu “sự tổng hợp luôn phải đạt được, nhưng màu sắc hay âm điệu căn bản luôn còn lại”, Thầy cho rằng cả bảy cung đều tham gia nhưng cung lớn màu chàm với bảy cung phụ sẽ chiếm…


Commentary LOM 59

Tóm Tắt

§ Nhắc lại ba phương pháp và âm điệu căn bản màu chàm

Thầy MDR tóm lại mạch của bức thư dài đang học về bản chất nội tại của tham thiền: phương pháp Raja Yoga mà Chân sư DK liên kết với Cung một và cung phụ của nó; phương pháp Cung hai của bác ái và minh triết, dường như được dùng nhiều nhất hiện nay, với chữ “cung” số nhiều gợi các cung hỗ trợ, có lẽ trên tuyến 2-4-6; và phương pháp Cung ba, áp dụng trí năng vào mọi điều đã học trên hai cung chính kia. Thầy nhận xét phần lớn đoạn này bàn về việc sống đời thánh hiến. Về câu “sự tổng hợp luôn phải đạt được, nhưng màu sắc hay âm điệu căn bản luôn còn lại”, Thầy cho rằng cả bảy cung đều tham gia nhưng cung lớn màu chàm với bảy cung phụ sẽ chiếm ưu thế, và trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, có lẽ trong dãy này, ta sẽ thấy phương pháp dùng trí năng được khai mở đầy đủ nhất.

§ Các chân thần của cuộc tuần hoàn thứ năm và sơ đồ các cung

Về cuộc tuần hoàn của sự phát triển trí tuệ tối thượng, Thầy MDR cho rằng đó chủ yếu là các chân thần Cung ba, nhưng có lẽ cả các cung phụ của Cung ba, mà theo một nghĩa không chỉ gồm Cung năm và phần nào Cung bảy mà tất cả, vì Cung ba là cung Brahma bao gồm các Cung bốn, năm, sáu và bảy. Có hai cách nhìn Cung bốn và Cung sáu: hoặc được bao gồm trong Cung ba, hoặc liên hệ với Cung hai, tuyến các cung mềm. Thầy mở một sơ đồ trên màn hình: bốn cung phụ dưới Cung ba được nối bằng một đường xanh lá; đồng thời Cung bốn và Cung sáu, với Chân sư Serapis và Chân sư Jesus, đi theo đường xanh dương về phía Đức Christ, còn Cung năm và Cung bảy theo đường đỏ về phía Đức Manu, tất cả vẫn phụ thuộc Cung ba, nơi Thầy cho rằng Chân sư Paul người Venice phụ trách. Thầy nhận xét các biểu đồ này chứa những gợi ý rất tinh tế về các mối quan hệ.

§ Cuộc tuần hoàn thứ tư và sự phối hợp các vận cụ

Chân sư DK nhắc rằng cuộc tuần hoàn này là đỉnh cao của phương pháp bác ái hay minh triết, khi có sự liên kết trực tiếp giữa cõi hòa hợp thứ tư, thể cảm xúc hay nguyên khí thứ tư, tứ phân, mà Thầy MDR chú thích là phàm ngã, và giống dân Atlantis đã phối hợp thể cảm dục. Thầy nói hiện nay trong giống dân Arya chúng ta có cơ hội phối hợp thể trí, và với một số người, thậm chí phối hợp cả vận cụ Bồ đề.

§ Năm hiệu quả của tham thiền trong ba cõi giới

Thầy MDR mở phần mới về năm hiệu quả của tham thiền trong ba cõi giới, tức mười tám cõi phụ thấp, hoặc từ một góc nhìn khác là hai mươi mốt cõi phụ thấp, và lưu ý Thư VIII còn chín trang, có thể kéo dài vài buổi. Chân sư DK nói đây là những hiệu quả đạo sinh sẽ ý thức được nếu đã theo đúng chương trình đề ra; Thầy nhấn mạnh rằng rõ ràng chúng ta đã được trao một chương trình học. Chân sư DK nói đó không phải những hiệu quả mà thế gian bên ngoài thấy, như tình thương, tính tinh thần hay khả năng phụng sự lớn hơn, mà là những dấu hiệu trong tâm thức bộ não hồng trần cho thấy đạo sinh đã làm được một phần công việc cần thiết. Thầy khuyên đừng hiểu quá mức, vì Chân sư DK đã trình bày quá nhiều điều phải làm, không thể làm hết ngay; và nếu đọc kỹ, ta có quyền cảm thấy phần nào choáng ngợp trước những khả năng được trình bày.

§ Tiếp cận các Chân sư trong tâm thức bộ não

Chân sư DK giới hạn chủ đề vào một phương diện: sự chứng nghiệm trong bộ não hồng trần về việc tiếp cận các Chân sư và một Chân sư cụ thể. Thầy MDR nhận xét đây là điều nhiều người tha thiết; với nhiều người đó có thể là Chân sư DK và ashram của Ngài như ashram nhà, nhưng không nhất thiết với tất cả. Theo Thầy, phần lớn các nhóm nội môn hiện nay gồm những người có linh hồn Cung một hoặc Cung hai, nên có thể liên quan đến Chân sư Kuthumi, Chân sư Morya và những vị khác; nếu các trước tác của Chân sư DK là trung tâm trong tâm thức mình thì có lẽ là một trong ba vị ấy, dù không chắc chắn.

§ Sự chứng nghiệm không tùy thuộc vị trí trên Đường Đạo

Chân sư DK nói sự chứng nghiệm này phần lớn độc lập với vị trí trên Đường Đạo và với việc gần hay xa điểm đạo; có những chân ngã rất tiến bộ ở gần Chân sư mà không đưa được bằng chứng xuống bộ não. Thầy MDR thấy đây là điều có lẽ ta không ngờ, và có thể xem là một sự khích lệ cho tương lai. Điều này tùy thuộc loại thể xác đang dùng và công việc ở các kiếp trước; Thầy nhấn mạnh dù thể xác không phải một nguyên khí, nó không hề tầm thường mà rất quan trọng, giúp thực hiện trên cõi ngoại, nơi có lẽ cần nhất, một số phương diện của Thiên Cơ. Thầy nói mình thường nghĩ rằng nếu thể dĩ thái là phản ảnh của thể nguyên nhân thì thể xác, trong một số hoàn cảnh, cũng có thể là sự biểu lộ khá đúng của con người bên trong, nếu ta biết đọc mối liên hệ.

§ Đừng phán xét người khác qua vẻ ngoài

Chân sư DK nói con người thường có tầm vóc và thành tựu ở các cõi nội lớn hơn nhiều so với trên cõi hồng trần, và nhiều người hoạt động tha thiết nhất trong nửa thế kỷ này, mà Thầy MDR chú thích là 1900–1950, đang trả nghiệp quả xấu qua những thể xác không tương xứng. Thầy cảnh báo cần dè dặt khi phán xét địa vị của người khác dựa trên vẻ ngoài, vì có thể thể xác không phải là sự biểu lộ đúng của con người bên trong họ. Thầy cho rằng điều Chân sư DK nói về nửa đầu thế kỷ có lẽ cũng áp dụng cho nửa sau và cả hiện nay, như sự trả giá vào cuối kỷ nguyên Song Ngư. Chân sư DK nói nhờ siêng năng, nỗ lực cao và kiên trì theo các quy luật, sẽ đến lúc đạo sinh bỗng ý thức ngay trong bộ não một sự soi sáng hay một sự thấy chưa từng biết, thật đến mức không gì có thể lấy đi nhận thức rằng mình đã thấy, đã tiếp xúc, đã cảm; Thầy nói chúng ta đang hướng tới điều đó.

§ Con số sáu mươi ngàn triệu linh hồn: hệ hành tinh hay hệ mặt trời

Chân sư DK nói với sáu mươi ngàn triệu linh hồn đang tiến hóa, mỗi linh hồn theo những chuỗi kiếp khác nhau, Ngài chỉ có thể nói tổng quát. Thầy MDR dừng lại khá lâu ở con số này và đặt câu hỏi khó giải: nó chỉ áp dụng cho hệ Địa Cầu hay cho toàn hệ mặt trời. Thầy lưu ý ở đây Chân sư dùng chữ linh hồn, còn ở chỗ khác dùng chữ chân thần; Thầy đọc Luận về Lửa Vũ Trụ (tr. 579) nêu 35 ngàn triệu chân thần bác ái, 20 ngàn triệu chân thần hoạt động và 5 ngàn triệu chân thần quyền năng, tổng cộng sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại; chân thần quyền năng tuy đang biểu hiện nhưng còn rất hiếm khi lâm phàm, đã vào đông ở cuối Dãy Mặt Trăng và sẽ vào lại đầy đủ trong hai cuộc tuần hoàn cuối của dãy hiện tại. Thầy lưu ý sự phân biệt giữa biểu hiện và lâm phàm, biểu hiện có lẽ là trên hai mươi mốt cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ, hoặc chỉ trong các dĩ thái vũ trụ, và thấy đoạn này dường như nói về hệ hành tinh của chúng ta. Đoạn khác trong Luận về Lửa Vũ Trụ (tr. 1093) lại nói về bốn mươi chín ngọn lửa cấu thành từ sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại và vô số dòng chân thần thiên thần, mà Thầy nói trong hệ mặt trời là 140.000 triệu.

§ Đoạn Trị Liệu Huyền Môn về hệ mặt trời nữ tính

Thầy MDR đọc thêm đoạn trong Trị Liệu Huyền Môn (tr. 109–110): hệ mặt trời thứ nhất có một dòng tiến hóa chủ đạo gồm một trăm ngàn triệu chân thần; hệ hiện tại, thứ hai, có hai dòng tiến hóa chủ đạo là nhân loại và thiên thần, với sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại cộng một trăm bốn mươi ngàn triệu thuộc dòng tiến hóa nữ tính của thiên thần, thành hai trăm ngàn triệu, điều giải thích vì sao đây là một hệ nữ tính; hệ thứ ba sẽ cần ba trăm ngàn triệu như sự hoàn hảo đòi hỏi nơi Thượng đế tam phân. Thầy đặt câu hỏi phải chăng hệ mặt trời trước ở đây chỉ tính hệ Địa Cầu, và nhận xét ở đoạn này dường như nói về toàn hệ mặt trời; Thầy lưu ý khó tìm vì Chân sư khi thì viết số bằng chữ, khi thì bằng con số.

§ Lập luận về một phần bảy đang lâm phàm

Thầy MDR đọc Luận về Lửa Vũ Trụ (tr. 1059): trong hàng ngàn mặt trời và chòm sao thấy bằng mắt thường, và hàng chục triệu qua kính viễn vọng, mà Thầy nói nay đã biết là hàng tỷ, ta thấy biểu hiện hồng trần của từng ấy triệu thực thể thông minh; nhưng chỉ một phần bảy đang lâm phàm, sáu phần bảy ở ngoài, chờ lượt biểu hiện. Thầy lập luận theo tương đồng: nếu trên Trái Đất cũng chỉ khoảng một phần bảy chân thần nhân loại lâm phàm, thì lấy khoảng tám tỷ người nhân bảy, và biết rằng thời Atlantis còn nhiều người lâm phàm hơn, ta tiến khá gần con số sáu mươi ngàn triệu áp dụng cho hệ Địa Cầu. Tóm lại, khi nói về hệ mặt trời nữ tính, Chân sư dường như áp con số cho toàn hệ mặt trời, nhưng khi xét kỹ các con số thì dường như nó áp dụng cho hệ hành tinh của chúng ta; Thầy kết luận con số cuối cùng không phải điều ta nắm được, Chân sư chỉ cho những con số xấp xỉ và để lại một thế lưỡng nan mà ta phải chấp nhận, và Thầy thừa nhận đã trăn trở về điều này từ lâu. Thầy lưu ý người ta chỉ nhìn số người đang lâm phàm mà bỏ sót các chân thần, ở đây gọi là linh hồn, đang ở ngoài lâm phàm; và vì chân thần có tâm thức mà linh hồn là tâm thức, trong hoàn cảnh này có thể đồng nhất hai thuật ngữ.

§ Năm cách thường gặp để tiếp cận Chân sư

Chân sư DK nói sáu mươi ngàn triệu linh hồn với những chuỗi kiếp khác nhau tạo ra một phạm vi rộng, không kinh nghiệm nào giống hệt kinh nghiệm nào; Thầy MDR nói điều này giải thích vì sao Chân sư phải viết tổng quát. Tuy vậy có năm cách, trong nhiều cách, xảy ra đủ thường để kể ra; Thầy nhấn mạnh con số năm và lưu ý rằng về sau ta sẽ thấy sự tiếp cận này liên quan nhiều đến sáu giai đoạn của địa vị đệ tử.

§ Cách thứ nhất: thấy Chân sư và chính mình trong hang của trái tim

Chân sư DK mô tả việc đạo sinh hình dung mình và Chân sư, cỡ chừng một phần tư inch, trong chu vi của trái tim dĩ thái, xây dựng hằng ngày các hình ảnh nhỏ ấy bằng trí tưởng tượng và nỗ lực yêu thương, cho đến một ngày, thường khi điều kiện chiêm tinh thích hợp và trăng gần tròn, người ấy ý thức trong bộ não rằng mình đang ở trong hình ảnh đại diện cho mình và thực sự đứng trước Chân sư. Thầy MDR nói nhiều người đã qua Trường Arcane thấy bài tham thiền đầu tiên liên quan đến Chân sư trong Tim, và nhấn mạnh phương pháp tưởng chừng đơn giản này là một phương pháp rất huyền bí, quan trọng cho ai thực sự muốn tiếp xúc Chân sư. Về hình ảnh, Thầy nói hiện có những chân dung khá giống của Chân sư Morya, Chân sư Kuthumi và Chân sư Djwhal Khul, David Anrias đã vẽ một số Chân sư khác như các Ngài dường như đã hiện ra với tác giả vào thời ấy, và có Tấm vải liệm Turin với hình ảnh được tô màu của cái được cho là thân thể Chân sư Jesus; như vậy ta có thể dùng trí tưởng tượng của mình hoặc những hình ảnh được gợi ý. Thầy đặt câu hỏi phương pháp này chủ yếu dành cho người Cung một và Cung hai hay sẽ được các cung khác dùng, và gọi việc thấy mình ở trong hình ảnh là một trong những bí nhiệm của lĩnh vực thông linh. Chân sư DK nói ban đầu điều này hiếm và chỉ giữ được vài giây, về sau thường xuyên và lâu hơn, cho đến khi đạo sinh liên kết với Chân sư dễ dàng như khi tạo hình ảnh; Thầy thấy đây là điều đầy hứa hẹn cho ai cẩn thận làm theo cách Chân sư DK gợi ý.

§ Ba điều đạo sinh đã thành tựu

Chân sư DK nói đạo sinh đã làm được ba điều: đồng hóa với hình ảnh trong tim và hướng khát vọng đến Chân sư; tạo một kênh rõ ràng giữa luân xa tim và luân xa tương ứng trong đầu, vì mỗi luân xa trong cơ thể có một đối phần trong đầu, và sự soi sáng đến khi nối luân xa với đối phần ấy; và thanh lọc phần bộ não tương ứng với luân xa đầu ấy để nó đáp ứng rung động cao hơn và ghi nhận chính xác. Thầy MDR nhận xét việc mỗi luân xa có đối phần trong đầu vẫn là vấn đề rất huyền bí, mà ngay cả y học cao nhất thông thường cũng không ngờ tới.

§ Cách thứ hai: nhận biết rung động

Thầy MDR tự đánh số cho cách thứ hai để dễ định hướng, dù số không có trong bản văn. Chân sư DK nói trong những lúc khát vọng mãnh liệt nhất khi tham thiền, đạo sinh ý thức một rung động hay cảm giác đặc biệt trong đầu, ở một trong ba chỗ: đỉnh cột sống, trán, hoặc đỉnh đầu. Thầy nhấn mạnh khát vọng rất quan trọng, không nên xem nhẹ như thể chỉ dành cho người chí nguyện, vì tất cả chúng ta đều là người chí nguyện. Thầy giải thích ở đỉnh đầu có luân xa brahmarandhra, phần chính là hoa sen mười hai cánh trong đầu; ở trán có thể là một trong hai trung tâm, ajna và có lẽ một trung tâm trán cao hơn; ở đỉnh cột sống, không hẳn giống đáy sọ, là trung tâm cổ họng, và có lẽ cả một rung động kiểu alta major, thường được xem là ở đáy sọ. Thầy nói phải nhận biết và ghi nhận các cảm giác này vì chúng biểu thị sự tiếp xúc với một chiều kích khác.

§ Phân biện rung động của các Đấng Cao Cả

Chân sư DK nói Ngài không nói về cảm giác khi năng lực thông linh phát triển, dù hai điều có liên hệ, mà về một rung động rõ rệt đi kèm sự tiếp xúc với một trong các Đấng Cao Cả. Thầy MDR thấy qua đó Chân sư Tây Tạng hiểu đời sống nội tâm sâu sắc đến mức nào, và nhấn mạnh phân biện rung động là một trong những thành tựu cần thiết nhất; ở chỗ khác Chân sư nói về nhiều rung động có thể giáng xuống hay dâng lên mà ta phải học phân biện. Thầy đặt câu hỏi bao nhiêu người trong chúng ta có thể phân biện rung động đến từ Chân sư DK, Chân sư KH hay Chân sư Morya, bộ ba mà ta thường làm việc cùng.

§ Các cảm giác ban đầu và sự quen dần

Ban đầu đạo sinh chỉ thấy một sự dâng cao thoáng chốc như gợn sóng trong đầu, mà Thầy MDR cho là quen thuộc với nhiều người; có thể kèm khó chịu: ở trán có thể gây chảy nước mắt, ở đỉnh cột sống hay đáy sọ gây hưng phấn và cả chóng mặt, ở đỉnh đầu gây cảm giác mở rộng và đầy tràn như hộp sọ quá chật. Thầy lưu ý Chân sư DK gần như đồng nhất đỉnh cột sống với đáy sọ, hoặc ít ra xem là cùng một tiến trình. Thầy kể bà Mary Bailey từng nói về dòng năng lượng tuôn xuống khiến người ta tưởng đầu sắp nổ tung, mà Thầy cho là đi vào ở đỉnh đầu. Những phân biệt này giúp định vị và gọi tên các rung động ta có thể trải nghiệm; và như mọi khi, sự quen dần làm kinh nghiệm bớt kịch tính.

§ Mỗi Chân sư có rung động riêng

Chân sư DK nói tất cả là do sự tiếp xúc, lúc đầu thoáng chốc, với một Chân sư; dần dần đạo sinh nhận ra và gắn rung động ấy với một Đấng Cao Cả cụ thể, vì mỗi Chân sư có rung động riêng in dấu lên đệ tử theo cách đặc thù. Thầy MDR gọi đây là một phát biểu quan trọng và chắc rằng bà Alice Bailey rất quen với tiến trình này; người ta nói có một loại âm điệu vang lên trong tai bà khi Chân sư Tây Tạng muốn làm việc với bà, dù Thầy nói “ai biết được”, và vì bà thực ra là đạo sinh ở nhà trong ashram của Chân sư KH, rung động của Ngài hẳn quen thuộc với bà.

§ Hương thơm cảm dục và câu chuyện của R.S.W.

Chân sư DK nói phương pháp tiếp xúc này thường đi kèm hương thơm. Thầy MDR kể một câu chuyện, không chắc có chính xác không: đệ tử cuối cùng còn sống của chu kỳ trước là R.S.W., Marian Walter, mà Thầy và bạn là Keith Bailey thường đến thăm, kể rằng hương gắn với Chân sư Tây Tạng là hoa cẩm chướng, với Chân sư Kuthumi là hoa hồng trắng, và với Chân sư Morya là hoa lan Nam Phi (freesia). Thầy nói điều này cần được nghiên cứu, và có lẽ sẽ có thời gian dành cho việc ấy khi các đạo sinh chân chính của Chân sư so sánh ghi nhận để xác định hương thơm, thường gọi là hương cảm dục.

§ Khẩn cầu và gợi lên: nâng rung động và chờ đáp ứng

Chân sư DK nói đạo sinh học cách nâng rung động lên một cao độ nhất định và giữ vững cho đến khi cảm nhận rung động đáp lại của Chân sư hoặc hương thơm. Thầy MDR thêm rằng phải có lý do chính đáng cho lời gọi; có lẽ Đệ tử trong hào quang luôn có, còn với Đệ tử trên đường dây thì đó là khởi đầu tiến trình. Thầy giải thích đây rõ ràng là một sự khẩn cầu chủ động, tiếp theo là sự gợi lên, lời đáp; điều này cũng thấy trong việc xây antahkarana: khi phóng chiếu lên các tầng rung động cao hơn, có lẽ ta không thấy sự phóng chiếu đi trọn đến tầng ấy, nhưng có thể có một đáp ứng từ tầng cao cho ta biết khẩn cầu đã được đáp lại. Thầy nói việc chạm đến nguyên tử trường tồn Bồ đề hay atma là những sự chạm rất cao, có lẽ chưa khả hữu với chúng ta, vì chúng nằm trên các cõi phụ vượt quá mức mà Chân sư phân cực, thuộc về cấp Chohan; phân cực trong chân thần trên cõi chân thần liên quan đến cấp thứ sáu, nhưng Thầy suy đoán từ cấp thứ ba, vì số ba và sáu liên hệ nhau, có thể có một đáp ứng yếu ớt.

§ Hòa nhập tâm thức với Chân sư và sự xác nhận

Sau đó đạo sinh cố hòa nhập tâm thức mình với tâm thức Chân sư, tìm biết ý Chân sư và điều Ngài muốn truyền đạt; Thầy MDR nhấn mạnh đây không chỉ là trải nghiệm sự đáp ứng mà còn mang tính thực tiễn: biết điều phải làm. Khi đáp ứng của đệ tử tăng, Chân sư về phía Ngài sẽ thu hút sự chú ý hay báo hiệu chấp thuận, chẳng hạn bằng cách khơi dậy rung động trong đầu; Thầy giải thích lúc đó rung động không chỉ do khát vọng của đạo sinh mà Chân sư có thể trực tiếp kích thích, gọi đó là một sự tương tác kiểu Song Tử, và Thầy đôi khi gọi đó là sự xác nhận. Theo Thầy, tất cả phải được thực hiện qua thực hành đều đặn, phương pháp đúng và rất nhiều kiên nhẫn. Thầy tóm lại đã bàn hai trong năm cách: tham thiền Chân sư trong Tim và rung động ở một trong ba chỗ, trong đó vùng đáy sọ và đỉnh cột sống dường như liên hệ nhau, kích thích cả alta major và trung tâm cổ họng.

§ Kết buổi: hướng tới các trường nội môn mới

Thầy MDR ngắt buổi tại đây; ba cách tiếp xúc Chân sư còn lại sẽ được bàn trong buổi 60, bắt đầu từ tr. 292, rồi dẫn vào phần mới về các trường nội môn mới. Thầy đã có một bình giảng hơn trăm trang về các trường này và cân nhắc việc chỉ đọc bình giảng ấy, nhưng phương pháp video đôi khi giúp thấm hơn. Các trường nội môn mới là điều tất cả chúng ta hướng tới; có thể nhiều thế kỷ nữa chúng mới xuất hiện đầy đủ, nhưng Chân sư DK nói đã có những khởi đầu, kể cả với các trường cao cấp, nên chúng có thể là những hoạt động khích lệ cho các kiếp sau trong kỷ nguyên Bảo Bình. Thầy giải thích Cung hai lớn là cung của giáo dục, theo nghĩa giáo dục dẫn đến minh triết và minh triết đến hành động đúng, và bản thân Thánh Đoàn mang tính chất của Cung hai tổng hợp lớn; các trường này sẽ đem sự hiện diện của rung động Thánh Đoàn xuống các cõi thấp, cùng với Hội Tam Điểm và Giáo hội, mỗi bên quan trọng theo cách riêng, là ba phương pháp tiếp cận.

Text LOM 59

[1] Always synthesis most be attained, but always the fundamental colouring or tone remains. The next or fifth round will show the greatest exposition of this method. [2] It will be the round of supreme mental development, and will carry its evolving Monads to heights undreamed of now.

[1] Luôn phải đạt đến sự tổng hợp, nhưng sắc thái hay âm sắc căn bản luôn còn lại. Cuộc tuần hoàn kế tiếp, tức cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ biểu lộ phương pháp này ở mức cao nhất. [2] Đó sẽ là cuộc tuần hoàn của sự phát triển trí tuệ tối cao, và sẽ đưa các chân thần đang tiến hoá của nó lên những đỉnh cao mà hiện nay chưa ai mơ tới.

[3] This round marks the height of the second method, that through love or wisdom. It is the fourth round, that wherein the emotional reaches a high point of vibration, and there is direct connection between the fourth plane of harmony, between the emotional body, or the fourth principle, the quaternary, [5] the fourth root-race or the Atlantean which co-ordinated the astral. I give you food for thought in these correspondences.

[3] Cuộc tuần hoàn này đánh dấu đỉnh cao của phương pháp thứ hai, phương pháp thông qua tình thương hay minh triết. Đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, trong đó phương diện cảm xúc đạt đến một mức rung động cao, và có sự liên kết trực tiếp giữa cõi thứ tư, cõi hài hoà, với thể cảm xúc, hay nguyên khí thứ tư, bộ tứ, [5] và giống dân gốc thứ tư, tức giống dân Atlantis, vốn đã phối hợp phương diện cảm dục. Những sự tương ứng này mang đến cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm.

September 21st, 1920.

Ngày 21 tháng 9 năm 1920.

SEPTEMBER 21ST, 1920.

NGÀY 21 THÁNG 9 NĂM 1920.

[6] 1. Five effects of Meditation in the three worlds.

[6] 1. Năm tác động của tham thiền trong ba cõi giới.

Today we are to take up the five effects in the three bodies in the lower [7] worlds that the student of meditation will be conscious of if he has duly followed the course laid down.

Hôm nay chúng ta sẽ bàn đến năm tác động trong ba thể của phàm ngã ở các cõi [7] thấp mà đạo sinh tham thiền sẽ nhận biết nếu y đã tuân theo đúng tiến trình được đề ra.

[8] These effects are not specifically effects in the life as apparent to the onlooking world, such as greater love or [Page 288] spirituality or capacity to serve. [9] What I seek today to bring out are the indications in the physical brain consciousness of the student that he has done some of the necessary work [10] and is attaining somewhat the desired object. Keep this very clearly in mind. [11] I do not seek to make clear all the many and various results achieved by the successful following of the occult laws of meditation. [12] I deal here only with one phase of the matter, and that is, the realisation, in the physical brain consciousness, of certain results along the line of our immediate topic,—access to the Masters.

[8] Những tác động này không phải riêng những tác động trong đời sống mà người ngoài có thể thấy, chẳng hạn như tình thương lớn hơn hay [Page 288] tinh thần hoặc khả năng phụng sự cao hơn. [9]Hôm nay, điều Tôi muốn làm sáng tỏ là những dấu hiệu trong tâm thức bộ não hồng trần của đạo sinh cho thấy y đã thực hiện một phần công việc cần thiết [10] và đang phần nào đạt được mục tiêu mong muốn. Hãy ghi nhớ thật rõ điều này. [11] Tôi không tìm cách làm sáng tỏ tất cả những kết quả đa dạng đạt được nhờ tuân theo thành công các định luật huyền bí về tham thiền. [12] Ở đây, Tôi chỉ bàn đến một phương diện của vấn đề, đó là sự nhận biết, trong tâm thức bộ não hồng trần, về một số kết quả liên quan đến chủ đề trực tiếp của chúng ta,—tiếp cận các Chân sư.

[13] This narrows down our subject to that of a conscious realisation of the Masters and of some one particular Master by the student in his physical brain. [14] This realisation is very largely independent of his place upon the Path, of his nearness to or distance from initiation. [15] Some very advanced egos may be working at this problem, and be close indeed to their Master, without being able to bring through to the physical brain specific facts proving to them this nearness. [16] Some effect this knowledge at earlier stages than others. [17] It is dependent upon the type of body in use [18] and the work done in previous lives, resulting in a physical vehicle that is a fairly just exponent of the inner man. [19] Oft the man is of far greater calibre and attainment on the inner planes than he is on the physical. [20] So many of our most earnest workers in this particular half century [21] are working out evil karma through the possession of inadequate bodies. Through diligence, application, high endeavour, and the long and patient following of the rules laid down, there comes a time when the student is suddenly conscious—right within the physical brain—of certain unexpected events, an illumination or a seeing that has before been unknown. [23] It is something that is so real yet so momentarily surprising that no amount of subsequent [Page 289] apparent disproving can take away fron him the knowledge that he saw, he contacted, he felt.

[13] Điều này thu hẹp chủ đề của chúng ta vào sự nhận biết có ý thức của đạo sinh, trong bộ não hồng trần của y, về các Chân sư và về một Chân sư cụ thể nào đó. [14] Sự nhận biết này phần lớn không phụ thuộc vào vị trí của y trên Đường Đạo, hay vào việc y gần hoặc xa cuộc điểm đạo. [15] Một số chân ngã rất tiến bộ có thể đang nỗ lực giải quyết vấn đề này và quả thực rất gần Chân sư của mình, nhưng chưa thể truyền đến bộ não hồng trần những sự kiện cụ thể chứng minh cho họ thấy sự gần gũi ấy. [16] Một số người đạt được sự hiểu biết này ở những giai đoạn sớm hơn những người khác. [17] Điều này phụ thuộc vào loại thân thể đang sử dụng [18] và công việc đã thực hiện trong những kiếp trước, tạo nên một hiện thể hồng trần biểu đạt khá đúng con người bên trong. [19] Trên các cõi bên trong, con người thường có tầm vóc và thành tựu lớn hơn rất nhiều so với trên cõi hồng trần. [20] Rất nhiều người hoạt động nhiệt thành nhất của chúng ta trong nửa thế kỷ đặc biệt này [21] đang giải trừ nghiệp quả xấu qua việc mang những thân thể không đáp ứng được nhu cầu. Nhờ sự chuyên cần, chú tâm, nỗ lực cao độ và việc kiên nhẫn tuân theo lâu dài các quy luật đã đề ra, sẽ đến một lúc đạo sinh đột nhiên nhận biết—ngay trong bộ não hồng trần—một số sự kiện bất ngờ, một sự soi sáng hay một cái thấy mà trước đó y chưa từng biết. [23] Điều ấy chân thực đến mức, tuy gây kinh ngạc trong khoảnh khắc, không một sự phủ nhận nào về sau [Page 289] dù có vẻ thuyết phục đến đâu cũng có thể tước đi sự hiểu biết của y rằng y đã thấy, đã tiếp xúc, đã cảm nhận.

[24] As often I have told you, it is not possible in any way in this work to do more than widely generalise. Sixty thousand million souls in process of evolving, [25] each following certain rounds of lives totally different from those of others, offer a wide field to choose from, and no one experience is exactly the same as another. [26] But it might be generally laid down that there are five ways (out of the many possible) which are of such frequent occurrence, comparatively speaking, as to warrant our enumerating them. All have been hinted at, but I may somewhat enlarge the already imparted data.

[24] Như Tôi thường nói với các bạn, trong công việc này, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc khái quát trên phạm vi rộng. Sáu mươi nghìn triệu linh hồn đang tiến hoá, [25] mỗi linh hồn trải qua những chu kỳ kiếp sống nhất định hoàn toàn khác với các linh hồn khác, tạo nên một phạm vi lựa chọn rộng lớn, và không một trải nghiệm nào hoàn toàn giống trải nghiệm nào khác. [26] Nhưng có thể nói một cách khái quát rằng có năm cách thức (trong số nhiều cách có thể có) xảy ra tương đối thường xuyên đến mức đáng để chúng ta liệt kê. Tất cả đều đã được gợi ý, nhưng Tôi có thể trình bày rộng hơn đôi chút những dữ kiện đã truyền đạt.

[27] Seeing the Master and the self within the cave of the heart. [28] As the student has often been told to visualise himself and the Master—about the size of a quarter inch—within the circumference of the etheric heart. He is told to picture, toward the close of his meditation the heart etheric, and therein build minute forms of the Master to Whom he is drawn and of himself. This he proceeds to do with due and elaborate care, with the aid of the imagination and loving effort, working daily on his figures till they become to him very real, and their building and forming becomes almost an automatic part of his meditation form. Then comes a day (usually when astrological conditions are fit and the moon approaches the full) when he becomes conscious within his brain that those figures are not the little puppets he thinks, but that he is within the figure representing himself, and that he stands literally and in all verity before the Master. [30] This occurs at rare intervals at first, and the consciousness of the fact is held but for a few brief seconds; as progress is made, and every department of his nature and of his service develops, with greater frequency will come the experience, [Page 290] with longer periods will it be marked, until there comes a time when the pupil can link up as easily in this manner with his Master as earlier he formed his figures.

[27] Thấy Chân sư và bản thân mình trong hang động của trái tim. [28] Như đạo sinh thường được chỉ dẫn, y cần hình dung bản thân mình và Chân sư—với kích thước khoảng một phần tư inch—bên trong chu vi của trái tim dĩ thái. Y được chỉ dẫn rằng, khi gần kết thúc buổi tham thiền, hãy hình dung trái tim dĩ thái, và trong đó xây dựng những hình tướng nhỏ bé của Chân sư mà y hướng đến và của chính mình. Y tiến hành việc này với sự chăm chút tỉ mỉ, nhờ sự tưởng tượng và nỗ lực đầy tình thương, hằng ngày trau chuốt những hình tượng ấy cho đến khi chúng trở nên rất chân thực đối với y, và việc xây dựng, tạo hình chúng gần như trở thành một phần tự động trong khuôn thức tham thiền của y. Rồi đến một ngày (thường khi các điều kiện chiêm tinh thích hợp và Mặt Trăng gần tròn), y nhận biết trong bộ não rằng những hình tượng ấy không phải là các con rối nhỏ bé như y nghĩ, mà y đang ở trong hình tượng đại diện cho chính mình, và y thực sự, hoàn toàn chân thực, đang đứng trước Chân sư. [30] Lúc đầu, điều này chỉ thỉnh thoảng xảy ra, và sự nhận biết ấy chỉ duy trì trong vài giây ngắn ngủi; khi y tiến bộ, và mọi phương diện trong bản chất cũng như trong sự phụng sự của y đều phát triển, trải nghiệm này sẽ đến thường xuyên hơn, [Page 290] kéo dài hơn, cho đến lúc đệ tử có thể liên kết với Chân sư theo cách này dễ dàng như trước kia y tạo ra những hình tượng của mình.

[32] Just what did occur? The pupil had succeeded in doing three things:—

[32] Chính xác thì điều gì đã xảy ra? Đệ tử đã thành công trong ba việc:—

[33] 1. Identifying himself with the figure within the heart, and aspiring to the Master.

[33] 1. Đồng hoá mình với hình tượng bên trong trái tim, và hướng khát vọng đến Chân sư.

[34] 2. Making a definite channel between the heart centre (wherein he is endeavouring to focus his consciousness) and its corresponding head centre. Each of the seven centres in the body, as [35] has a counterpart within [36] the head. It is in the linking up of the [37] centre with its counterpart in the head that illumination comes. This,—in the case in point—has been accomplished by the student. He has connected the heart with its head centre.

[34] 2. Tạo một đường dẫn xác định giữa trung tâm tim (nơi y đang cố gắng tập trung tâm thức) và trung tâm đầu tương ứng của nó. Mỗi trung tâm trong số bảy trung tâm của thân thể, như [35] vậy, đều có một đối phần bên trong [36] đầu. Chính khi liên kết [37] trung tâm với đối phần của nó trong đầu, sự soi sáng xuất hiện. Trong trường hợp đang xét, đạo sinh đã hoàn thành điều này. Y đã nối kết trung tâm tim với trung tâm đầu tương ứng.

[38] 3. Not only has he accomplished the two above things but he has so purified that part of the physical brain that corresponds with the particular head centre that it can respond to the higher vibration necessitated, and therefore accurately record what has transpired.

[38] 3. Y không chỉ hoàn thành hai việc trên, mà còn thanh luyện phần bộ não hồng trần tương ứng với trung tâm đầu cụ thể ấy đến mức nó có thể đáp ứng rung động cao hơn cần thiết, và do đó ghi nhận chính xác những gì đã diễn ra.

Recognition of vibration. [39] In this instance the method is not quite the same. The student becomes conscious during his moments of intensest aspiration [40] in meditation of a certain peculiar vibration or sensation in his head. It may be in one of three places:—

Nhận biết rung động. [39] Trong trường hợp này, phương pháp không hoàn toàn giống như trên. Trong những khoảnh khắc khát vọng mãnh liệt nhất [40] khi tham thiền, đạo sinh nhận biết một rung động hay cảm giác đặc biệt nào đó trong đầu. Nó có thể ở một trong ba vị trí:—

[41] a. At the top of the spine.

[41] a. Ở đỉnh cột sống.

[42] b. In the forehead.

[42] b. Ở trán.

[43] c. At the top of the head.

[43] c. Ở đỉnh đầu.

[44] I speak not here of the sensation that comes when psychic faculty develops, though there is an alliance between the two, [45] but I speak of a definite vibration that accompanies contact with one of the Great Ones. [46] The student at first is only conscious of a feeling of momentary heightening, which takes the form of a ripple or movement in the head. [Page 291] [47] At first it may be attended with some discomfort, if felt in the forehead it may cause tears and weeping, if at the top of the spine or base of the skull [49] exhilaration and even dizziness, and if at the top of the head a sense of expansion with a feeling of fullness, as if the limiting skull were too confining. This wears off with greater use. [50] It is all caused by a contact, momentary at first, with some one Master. [52] In time the student comes to recognise this vibration and to associate it with some particular Great One, for each Master has His own vibration which impresses itself upon His pupils in a specific manner. [53] This method of contact is frequently attended by perfume. [54] In time the pupil learns how to raise his vibration to a certain pitch. Having done this he holds the vibration steady until he senses the Master's answering vibration or the perfume. [56] Then he endeavours to merge his consciousness with the Master's as far as may be, to ascertain the Master's will, and to understand what it is that the Master has to communicate. [57] As time progresses and the response of the pupil grows, the Master on His side will attract his attention or signal to him approval (for instance by arousing this vibration within his head)....

[44] Ở đây, Tôi không nói đến cảm giác xuất hiện khi năng lực thông linh phát triển, dù hai điều này có liên hệ với nhau, [45] mà Tôi nói đến một rung động xác định đi kèm với sự tiếp xúc với một trong Các Đấng Cao Cả. [46] Lúc đầu, đạo sinh chỉ nhận biết một cảm giác nâng cao trong khoảnh khắc, biểu hiện thành một làn sóng gợn hay một chuyển động trong đầu. [Page 291] [47] Ban đầu, nó có thể đi kèm với đôi chút khó chịu, nếu cảm thấy ở trán, nó có thể khiến y chảy nước mắt và khóc; nếu ở đỉnh cột sống hay đáy hộp sọ, nó có thể gây [49] hưng phấn và thậm chí chóng mặt; còn nếu ở đỉnh đầu, nó có thể gây cảm giác mở rộng cùng với cảm giác đầy tràn, như thể hộp sọ giới hạn quá chật hẹp. Điều này sẽ mất dần khi y quen trải nghiệm hơn. [50] Tất cả đều do sự tiếp xúc, ban đầu chỉ trong khoảnh khắc, với một Chân sư nào đó. [52] Theo thời gian, đạo sinh nhận biết được rung động này và liên hệ nó với một Đấng Cao Cả cụ thể, vì mỗi Chân sư có rung động riêng của Ngài, ghi dấu lên các đệ tử của Ngài theo một cách đặc thù. [53] Phương pháp tiếp xúc này thường đi kèm với hương thơm. [54] Theo thời gian, đệ tử học cách nâng rung động của mình đến một mức nhất định. Sau khi làm được điều này, y giữ rung động ổn định cho đến khi cảm nhận được rung động đáp ứng của Chân sư hoặc hương thơm. [56] Rồi y cố gắng hoà nhập tâm thức của mình với tâm thức của Chân sư trong mức độ có thể, để nhận biết ý chí của Chân sư và thấu hiểu điều Chân sư muốn truyền đạt. [57] Theo thời gian, khi sự đáp ứng của đệ tử tăng lên, về phần Ngài, Chân sư sẽ thu hút sự chú ý của y hoặc ra hiệu tán thành với y (chẳng hạn bằng cách khơi dậy rung động này trong đầu y)....

[57b] It is the method of the Pythagorean discipline as taught in the ES.

[57b] Đây là phương pháp tu luyện của Pythagoras như được giảng dạy trong ES.

Thư Về Tham thiền Huyền môn — Chương trình 59

This is our 59th program in this wonderful book, Letters on Occult Meditation. It's been a little while again since I've been able to return, and it's already February, isn't it? The first of February, and we have been in a quite a long, what's called letter, with many sections, and we've been dealing with the interior nature of meditation. We've been dealing with the approach of the first three aspects of divinity, the Raja Yoga method, which he likens to the first ray and its subsidiary ray, and then the second ray method of love and wisdom.

Đây là chương trình thứ 59 của chúng ta về cuốn sách tuyệt vời này, Thư Về Tham thiền Huyền môn. Lại một thời gian nữa trôi qua tôi mới có thể trở lại, và đã sang tháng Hai rồi, phải không? Hôm nay là ngày đầu tiên của tháng Hai, và chúng ta đã nghiên cứu một bức thư khá dài, gồm nhiều phần, bàn về bản chất bên trong của tham thiền. Chúng ta đã bàn về cách tiếp cận ba phương diện đầu tiên của thiên tính, về phương pháp Raja Yoga mà Ngài ví với cung một và cung phụ của nó, rồi đến phương pháp bác ái và minh triết của cung hai.

It seems to be the method that is most used now, and he gives the plural. He says other supporting rays are involved, probably along the 2-4-6 line, and then he offered us an understanding of the third ray method, and how to use intellectual application of all that has been learned on the other two major rays. This, so much of this particular section has been on living the sanctified life.

Dường như đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất hiện nay, và Ngài dùng dạng số nhiều. Ngài nói rằng có những cung hỗ trợ khác cùng tham gia, có lẽ theo tuyến 2-4-6; rồi Ngài giúp chúng ta thấu hiểu phương pháp cung ba, cũng như cách vận dụng trí năng để áp dụng tất cả những gì đã học được trên hai cung chính kia. Phần lớn nội dung của phần này bàn về việc sống một đời sống thánh hiến.

[1] Always synthesis most be attained, but always the fundamental colouring or tone remains.

[1] Luôn phải đạt đến sự tổng hợp, nhưng sắc thái hay âm sắc căn bản luôn còn lại. Cuộc tuần hoàn kế tiếp, tức cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ biểu lộ phương pháp này ở mức cao nhất.

All the seven rays will be involved, of course, but the great ray of indigo with its seven sub-rays will be paramount, and he's telling us we will, in the next round, probably in this chain, find the most unfolded method of the use of the intellect.

Dĩ nhiên, cả bảy cung đều sẽ tham gia, nhưng cung chàm vĩ đại cùng bảy cung phụ của nó sẽ giữ vai trò chủ đạo; và Ngài cho chúng ta biết rằng trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, có lẽ trong Dãy này, chúng ta sẽ thấy phương pháp sử dụng trí năng khai mở đến mức đầy đủ nhất.

[2] It will be the round of supreme mental development, and will carry its evolving Monads to heights undreamed of now.

[2] Đó sẽ là cuộc tuần hoàn của sự phát triển trí tuệ tối cao, và sẽ đưa các chân thần đang tiến hoá của nó lên những đỉnh cao mà hiện nay chưa ai mơ tới.

Those are monads primarily on the third ray, but maybe on the subsidiaries to the third ray, which in one sense can be considered not only 5, ray 5, and to a certain extent ray 7, but all of them, as the Brahmic ray is ray 3, and subsumes 4, 5, 6, and 7. So there are a couple of ways to look at rays 4 and 6, either as subsumed in ray 3, or as related to the second ray, to the soft line rays.

Đó chủ yếu là các chân thần thuộc cung ba, nhưng có lẽ cũng thuộc các cung phụ của cung ba; theo một nghĩa nào đó, các cung phụ này không chỉ gồm cung năm và, ở một mức độ nhất định, cung bảy, mà gồm tất cả các cung ấy, vì cung Brahma là cung ba và bao hàm các cung bốn, năm, sáu và bảy. Vì vậy, có hai cách nhìn các cung bốn và sáu: hoặc xem chúng nằm trong cung ba, hoặc xem chúng liên hệ với cung hai, với các cung thuộc tuyến mềm.

When we look at these four subsidiary rays to the third ray, they are indeed subsidiary, and there is a green line connecting with all of them. But at the same time, you may notice that under the third ray overlordship or prominent position, we have rays 4 and 6, with Master Serapis and Master Jesus going in a blue line towards the Christ, and at the same time, rays 5 and 7 going in red lines towards the Manu.

Khi xem xét bốn cung phụ này của cung ba, chúng quả thực là các cung phụ, và có một đường màu xanh lá nối với tất cả các cung ấy. Nhưng đồng thời, các bạn có thể nhận thấy rằng dưới quyền chủ quản hay vị trí nổi trội của cung ba, chúng ta có các cung bốn và sáu, với Chân sư Serapis và Chân sư Jesus đi theo một đường màu xanh lam hướng về Đức Christ, và đồng thời, các cung năm và bảy đi theo những đường màu đỏ hướng về Đức Manu.

Two red lines and two blue lines, but still subsidiary to ray 3, where we presume Paul the Venetian, the Venetian Master, is in charge on that level. So, these charts do hold some very interesting and and intricate suggestions of relationship, or suggestions of intricate relationship. Now, so

Hai đường màu đỏ và hai đường màu xanh lam, nhưng vẫn phụ thuộc cung ba, nơi chúng ta cho rằng Paul người Venice, Chân sư người Venice, phụ trách ở cấp độ đó. Vì vậy, các biểu đồ này quả thực chứa những gợi ý rất thú vị và phức tạp về các mối liên hệ, hay những gợi ý về các mối liên hệ phức tạp. Giờ đây,

[3] This round marks the height of the second method, that through love or wisdom. It is the fourth round, that wherein the emotional reaches a high point of vibration, and there is direct connection between the fourth plane of harmony, between the emotional body, or the fourth principle, the quaternary,

[3] Cuộc tuần hoàn này đánh dấu đỉnh cao của phương pháp thứ hai, phương pháp thông qua tình thương hay minh triết. Đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, trong đó phương diện cảm xúc đạt đến một mức rung động cao, và có sự liên kết trực tiếp giữa cõi thứ tư, cõi hài hoà, với thể cảm xúc, hay nguyên khí thứ tư, bộ tứ,

That's the personality

Đó là phàm ngã.

[5] the fourth root-race or the Atlantean which co-ordinated the astral.

[5] và giống dân gốc thứ tư, tức giống dân Atlantis, vốn đã phối hợp phương diện cảm dục. Những sự tương ứng này mang đến cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm.

I mean, right now in the Aryan race, we have the opportunity to coordinate the mental, and for some, there is the coordination even of the buddhic vehicle. So that's where we are right now.

Ý tôi là, ngay lúc này, trong giống dân Arya, chúng ta có cơ hội phối hợp phương diện trí tuệ, và với một số người, thậm chí còn có sự phối hợp hiện thể Bồ đề. Vì vậy, đó là vị trí hiện nay của chúng ta.

And we're beginning a new section. Now, letter eight will shortly be over. Well, maybe I shouldn't say shortly, we do have nine pages, and that can be a few programs.

Và chúng ta đang bắt đầu một phần mới. Giờ đây, bức thư thứ tám sẽ sớm kết thúc. Có lẽ tôi không nên nói là sớm; chúng ta còn chín trang, và có thể cần vài chương trình.

Today, we are taking up the

Hôm nay, chúng ta bàn đến

[6] Five effects of Meditation in the three worlds.

[6] 1. Năm tác động của tham thiền trong ba cõi giới.

So how does this all work out? On the lower 18 subplanes, which are normally considered the three worlds, or from another perspective, the lower 21 subplanes are considered the three worlds. So in the three

Vậy tất cả những điều này diễn ra như thế nào? Trên 18 cõi phụ thấp, vốn thường được xem là ba cõi giới; hoặc theo một góc nhìn khác, 21 cõi phụ thấp được xem là ba cõi giới. Vì vậy, trong ba

[7] worlds that the student of meditation will be conscious of if he has duly followed the course laid down.

[7] thấp mà đạo sinh tham thiền sẽ nhận biết nếu y đã tuân theo đúng tiến trình được đề ra.

And so there's no question here, we do have a course of study, which has been presented to us.

Vì vậy, ở đây không có gì phải nghi ngờ: chúng ta quả thực có một chương trình học đã được trình bày cho chúng ta.

[8] These effects are not specifically effects in the life as apparent to the onlooking world, such as greater love or spirituality or capacity to serve.

[8] Những tác động này không phải riêng những tác động trong đời sống mà người ngoài có thể thấy, chẳng hạn như tình thương lớn hơn hay [Page 288] tinh thần hoặc khả năng phụng sự cao hơn.

Although we might ask, what then are they? So what then? Because that may be how we would expect these to work out.

Tuy vậy, chúng ta có thể hỏi: thế thì chúng là gì? Vậy là gì? Vì đó có thể là cách chúng ta mong đợi những tác động này biểu hiện.

[9] What I seek today to bring out are the indications in the physical brain consciousness of the student that he has done some of the necessary work

[9] Hôm nay, điều Tôi muốn làm sáng tỏ là những dấu hiệu trong tâm thức bộ não hồng trần của đạo sinh cho thấy y đã thực hiện một phần công việc cần thiết

Let's, not take it too far. There's so much that DK has presented that must be done.

Chúng ta đừng đi quá xa. Có rất nhiều điều Chân sư DK đã trình bày mà chúng ta phải thực hiện.

Really, we have an impossibility of doing it all immediately anyway that he has done some of the necessary work

Thực ra, dù sao chúng ta cũng không thể làm tất cả ngay lập tức rằng y đã thực hiện một phần công việc cần thiết

[10] and is attaining somewhat the desired object. Keep this very clearly in mind.

[10] và đang phần nào đạt được mục tiêu mong muốn. Hãy ghi nhớ thật rõ điều này.

So what are the indications?

Vậy những dấu hiệu ấy là gì?

[11] I do not seek to make clear all the many and various results achieved by the successful following of the occult laws of meditation.

[11] Tôi không tìm cách làm sáng tỏ tất cả những kết quả đa dạng đạt được nhờ tuân theo thành công các định luật huyền bí về tham thiền.

Well, that would just be too much, wouldn't it? I guess, we have the right to feel, if we've read carefully, somewhat overwhelmed by what has been presented as possibility.

Như thế thì quá nhiều, phải không? Tôi nghĩ rằng, nếu đã đọc kỹ, chúng ta có quyền cảm thấy phần nào choáng ngợp trước những khả năng đã được trình bày.

[12] I deal here only with one phase of the matter, and that is, the realisation, in the physical brain consciousness, of certain results along the line of our immediate topic,—access to the Masters.

[12] Ở đây, Tôi chỉ bàn đến một phương diện của vấn đề, đó là sự nhận biết, trong tâm thức bộ não hồng trần, về một số kết quả liên quan đến chủ đề trực tiếp của chúng ta,—tiếp cận các Chân sư.

So DK is clarifying. Many things may be developed by following the course laid down, but now we are basically talking about something that seems to be dear to the heart of many, that is access to the Masters.

Như vậy, Chân sư DK đang làm rõ điều này. Nhiều điều có thể phát triển khi tuân theo tiến trình đã vạch ra, nhưng giờ đây, về cơ bản, chúng ta đang nói đến điều dường như rất thân thiết với nhiều người, đó là tiếp cận các Chân sư.

[13] This narrows down our subject to that of a conscious realisation of the Masters and of some one particular Master by the student in his physical brain.

[13] Điều này thu hẹp chủ đề của chúng ta vào sự nhận biết có ý thức của đạo sinh, trong bộ não hồng trần của y, về các Chân sư và về một Chân sư cụ thể nào đó.

Now, for many of us that might be Master DK and his ashram may be our home, home ashram as it were, but not necessarily for all. The majority of the esoteric groups are composed of individuals whose soul is the first or the second ray, at this time anyway.

Với nhiều người trong chúng ta, đó có thể là Chân sư DK, và ashram của Ngài có thể là mái nhà của chúng ta, có thể nói là ashram gốc của chúng ta, nhưng không nhất thiết đúng với tất cả mọi người. Dù sao, vào lúc này, phần lớn các nhóm huyền bí gồm những cá nhân có linh hồn thuộc cung một hoặc cung hai.

Master Koot Hoomi could be involved, Master Morya could be involved, and others too. But, if you are a follower of Master DK's writings and it holds a centerpiece in your consciousness, then probably we're talking about one of those three Masters, though not definitely so. Now this is interesting.

Có thể có sự liên hệ với Chân sư Koot Hoomi, Chân sư Morya, và cả các Chân sư khác nữa. Nhưng nếu bạn theo học các tác phẩm của Chân sư DK và những tác phẩm ấy giữ vị trí trung tâm trong tâm thức bạn, thì có lẽ chúng ta đang nói đến một trong ba Chân sư ấy, dù không chắc chắn là như vậy. Điều này thật thú vị.

[14] This realisation is very largely independent of his place upon the Path, of his nearness to or distance from initiation.

[14] Sự nhận biết này phần lớn không phụ thuộc vào vị trí của y trên Đường Đạo, hay vào việc y gần hoặc xa cuộc điểm đạo.

That is perhaps something we did not expect.

Có lẽ đó là điều chúng ta không ngờ tới.

[15] Some very advanced egos may be working at this problem, and be close indeed to their Master, without being able to bring through to the physical brain specific facts proving to them this nearness.

[15] Một số chân ngã rất tiến bộ có thể đang nỗ lực giải quyết vấn đề này và quả thực rất gần Chân sư của mình, nhưng chưa thể truyền đến bộ não hồng trần những sự kiện cụ thể chứng minh cho họ thấy sự gần gũi ấy.

Maybe we can consider that an encouragement, at least for the future.

Có lẽ chúng ta có thể xem đó là một điều khích lệ, ít nhất là cho tương lai.

[16] Some effect this knowledge at earlier stages than others.

[16] Một số người đạt được sự hiểu biết này ở những giai đoạn sớm hơn những người khác.

I.e., consciousness of nearness to the Master.

Tức là tâm thức về sự gần gũi với Chân sư.

[17] It is dependent upon the type of body in use

[17] Điều này phụ thuộc vào loại thân thể đang sử dụng

We can never say that although the body is not a principle, it is insignificant. It is very significant and helps us carry out on the outer plane where maybe it is most needed certain aspects of the Divine Plan. It is dependent upon the type of body in use

Chúng ta không bao giờ có thể nói rằng thân thể không quan trọng chỉ vì nó không phải là một nguyên khí. Thân thể rất quan trọng và giúp chúng ta thực hiện một số phương diện của Thiên Cơ trên cõi bên ngoài, nơi có lẽ cần chúng nhất. Điều đó phụ thuộc vào loại thân thể đang sử dụng

[18] and the work done in previous lives, resulting in a physical vehicle that is a fairly just exponent of the inner man.

[18] và công việc đã thực hiện trong những kiếp trước, tạo nên một hiện thể hồng trần biểu đạt khá đúng con người bên trong.

I've often thought that if the etheric body is a reflection of the causal body, this is very strange, okay, and if the physical body is a reflection of the causal body and could be considered under some circumstances a just exponent of the inner man if we know how to read the relationship. So we're speaking of nearness to the Master or to the awareness of nearness to the Master.

Tôi thường nghĩ rằng nếu thể dĩ thái là sự phản chiếu của thể nguyên nhân—điều này rất lạ—và nếu thể xác là sự phản chiếu của thể nguyên nhân, thì trong một số hoàn cảnh, thể xác có thể được xem là sự biểu đạt trung thực con người bên trong, nếu chúng ta biết cách đọc mối liên hệ ấy. Vì vậy, chúng ta đang nói về sự gần gũi với Chân sư, hay sự nhận biết về việc ở gần Chân sư.

[19] Oft the man is of far greater calibre and attainment on the inner planes than he is on the physical.

[19] Trên các cõi bên trong, con người thường có tầm vóc và thành tựu lớn hơn rất nhiều so với trên cõi hồng trần.

That's really something to be aware of and to hold our judgment, if we're inclined towards judgment, of others and their particular status based upon their outer representation. Maybe the physical body is not for them and a just exponent of the inner man.

Đó thực sự là điều cần nhận biết để chúng ta kiềm chế sự phán xét, nếu có khuynh hướng phán xét người khác và vị thế cụ thể của họ dựa vào biểu hiện bên ngoài. Có lẽ đối với họ, thể xác không phải là sự biểu đạt trung thực con người bên trong.

[20] So many of our most earnest workers in this particular half century

[20] Rất nhiều người hoạt động nhiệt thành nhất của chúng ta trong nửa thế kỷ đặc biệt này

1900 to 1950

Từ năm 1900 đến năm 1950.

[21] are working out evil karma through the possession of inadequate bodies. Through diligence, application, high endeavour, and the long and patient following of the rules laid down, there comes a time when the student is suddenly conscious—right within the physical brain—of certain unexpected events, an illumination or a seeing that has before been unknown.

[21] đang giải trừ nghiệp quả xấu qua việc mang những thân thể không đáp ứng được nhu cầu. Nhờ sự chuyên cần, chú tâm, nỗ lực cao độ và việc kiên nhẫn tuân theo lâu dài các quy luật đã đề ra, sẽ đến một lúc đạo sinh đột nhiên nhận biết—ngay trong bộ não hồng trần—một số sự kiện bất ngờ, một sự soi sáng hay một cái thấy mà trước đó y chưa từng biết.

So you know what he has said of the first half century may indeed be applicable to the second half century and even now. So the paying of the price at the end of the age of Pisces is in process.

Như các bạn biết, những điều Ngài nói về nửa đầu thế kỷ quả thực có thể áp dụng cho nửa sau thế kỷ và ngay cả hiện nay. Vì vậy, việc trả giá vào cuối kỷ nguyên Song Ngư đang diễn ra.

[23] It is something that is so real yet so momentarily surprising that no amount of subsequent apparent disproving can take away from him the knowledge that he saw, he contacted, he felt.

[23] Điều ấy chân thực đến mức, tuy gây kinh ngạc trong khoảnh khắc, không một sự phủ nhận nào về sau [Page 289] dù có vẻ thuyết phục đến đâu cũng có thể tước đi sự hiểu biết của y rằng y đã thấy, đã tiếp xúc, đã cảm nhận.

So we're working towards that. Yeah, now going on, as I have told you

Vì vậy, chúng ta đang nỗ lực hướng tới điều đó. Giờ tiếp tục, như Tôi đã nói với các bạn,

[24] As often I have told you, it is not possible in any way in this work to do more than widely generalise. Sixty thousand million souls in process of evolving,

[24] Như Tôi thường nói với các bạn, trong công việc này, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc khái quát trên phạm vi rộng. Sáu mươi nghìn triệu linh hồn đang tiến hoá,

This is this figure, six billion, 60 billion we call it, or maybe they call it 60 milliard, something like that. And the big question is, not easily resolved, is this only on the earth scheme, or within the earth scheme, or does it apply to the whole solar system? Now sometimes he seems to offer a suggestion that this is a solar systemic figure. In some ways it would fit better as a figure for our planetary scheme.

Đây là con số ấy, sáu tỷ, chúng ta gọi là 60 tỷ, hoặc có lẽ họ gọi là 60 nghìn triệu, đại loại như vậy. Và câu hỏi lớn, không dễ giải quyết, là: con số này chỉ thuộc hệ hành tinh Trái Đất, hay nằm trong hệ hành tinh Trái Đất, hay áp dụng cho toàn bộ hệ mặt trời? Đôi khi Ngài dường như gợi ý rằng đây là con số của hệ mặt trời. Theo một số phương diện, con số này có vẻ phù hợp hơn với hệ hành tinh của chúng ta.

And in this particular section, he seems to be implying that it is our planetary scheme, that whether in incarnation or out of incarnation has a total of 60 billion souls, because six-sevenths, we're told elsewhere, of souls are out of incarnation, and only one-seventh approximately in incarnation. I want to point out also that he uses the word souls here, and elsewhere, where he deals with these very large figures, he uses the word monads, 20, yeah, I think that's correct. It's usually considered to be five billion monads of power, 35 billion monads of love, and 20 billion monads of intelligence, which may include monads on the fourth, fifth, sixth, and seventh levels, or rays.

Và trong phần này, Ngài dường như hàm ý rằng chính hệ hành tinh của chúng ta có tổng cộng 60 tỷ linh hồn, dù đang nhập thể hay không nhập thể, vì ở nơi khác, chúng ta được cho biết rằng sáu phần bảy số linh hồn không nhập thể, và chỉ khoảng một phần bảy đang nhập thể. Tôi cũng muốn chỉ ra rằng ở đây Ngài dùng từ linh hồn, còn ở nơi khác, khi bàn đến những con số rất lớn này, Ngài dùng từ chân thần: 20, tôi nghĩ như thế là đúng. Người ta thường cho rằng có năm tỷ chân thần quyền năng, 35 tỷ chân thần bác ái và 20 tỷ chân thần trí tuệ, có thể bao gồm các chân thần ở các cấp độ, hay các cung, thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy.

But that is oftentimes a solar systemic figure. And here, let's just take a look that he equates the term souls with monads.

Nhưng đó thường là con số của hệ mặt trời. Và ở đây, chúng ta hãy xem Ngài đồng nhất thuật ngữ linh hồn với chân thần.

And here is that reference.

Và đây là đoạn dẫn ấy.

A hint has been given us as to the approximate figures governing the Monads: (TCF)

Chúng ta đã được gợi ý về các con số xấp xỉ liên quan đến các chân thần: (Luận về Lửa Vũ Trụ)

35 Thousand million Monads of love (TCF)

35 tỷ chân thần bác ái (Luận về Lửa Vũ Trụ)

20 Thousand million Monads of activity (TCF)

20 tỷ chân thần hoạt động (Luận về Lửa Vũ Trụ)

5 Thousand million Monads of power (TCF)

5 tỷ chân thần quyền năng (Luận về Lửa Vũ Trụ)

making a total of sixty thousand million human Monads. (TCF)

tạo thành tổng cộng sáu mươi tỷ chân thần nhân loại. (Luận về Lửa Vũ Trụ)

The Monads of power, though in manifestation, are as yet very rare in incarnation. (TCF)

Các chân thần quyền năng, tuy đang biểu hiện, nhưng cho đến nay vẫn rất hiếm khi nhập thể. (Luận về Lửa Vũ Trụ)

Notice how he distinguishes between manifestation and incarnation. Manifestation may mean, upon the lower 21 subplanes of the cosmic physical plane, or maybe simply within the cosmic ethers.

Hãy lưu ý cách Ngài phân biệt giữa biểu hiện và nhập thể. Biểu hiện có thể hàm ý hiện diện trên 21 cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ, hoặc có lẽ chỉ đơn giản là trong các cõi dĩ thái vũ trụ.

They came in, in large numbers, at the close of the moon chain, and will come in again in full numerical strength in the last two rounds of the present chain. (TCF)

Các chân thần ấy đã đi vào với số lượng lớn vào cuối Dãy Mặt Trăng, và sẽ lại đi vào với đầy đủ số lượng trong hai cuộc tuần hoàn cuối của dãy hiện tại. (Luận về Lửa Vũ Trụ)

So in this particular case, he really does seem to be speaking of the monads associated with our particular planetary scheme. Elsewhere, he seems to connect these monads with the solar system.

Vì vậy, trong trường hợp này, Ngài quả thực dường như đang nói về các chân thần liên hệ với hệ hành tinh riêng của chúng ta. Ở nơi khác, Ngài dường như liên hệ các chân thần này với hệ mặt trời.

And here is another reference.

Và đây là một đoạn dẫn khác.

We can picture to ourselves the glory of this concept; the downpouring of the streams of fiery sparks; (TCF)

Chúng ta có thể hình dung vẻ huy hoàng của quan niệm này; sự tuôn xuống của những dòng tia lửa; (Luận về Lửa Vũ Trụ)

their flashing forth into points of intensified fire as they meet conditions which produce occult “ignition”; and the constant circulation of the forty-nine fires constructed of the sixty thousand million human Monads (TCF)

chúng loé sáng thành những điểm lửa mãnh liệt khi gặp các điều kiện tạo ra sự “bắt lửa” huyền bí; và sự lưu chuyển liên tục của bốn mươi chín ngọn lửa cấu thành từ sáu mươi tỷ chân thần nhân loại (Luận về Lửa Vũ Trụ)

Of course, there is a humanity found on other types of planets too.

Dĩ nhiên, trên các loại hành tinh khác cũng có nhân loại.

and the countless streams of deva monads: (TCF)

và vô số dòng chân thần thiên thần: (Luận về Lửa Vũ Trụ)

In our particular solar system, 140,000 million.

Trong hệ mặt trời riêng của chúng ta, có 140 tỷ.

Here, I'd like to show you a reference. It looks like it is from Esoteric Healing. In the first solar system, notice that he's not talking about a planetary scheme, apparently.

Ở đây, tôi muốn cho các bạn xem một đoạn dẫn. Dường như đoạn này trích từ Trị Liệu Huyền Môn. Trong hệ mặt trời thứ nhất, hãy lưu ý rằng dường như Ngài không nói về một hệ hành tinh.

In the first solar system there was one dominant evolution, and it consisted of one hundred thousand million monads. (EH, p. 109–110)

Trong hệ mặt trời thứ nhất, có một dòng tiến hoá chủ đạo, gồm một trăm tỷ chân thần. (Trị Liệu Huyền Môn, tr. 109–110)

I wonder why we didn't find that earlier. Okay

Tôi tự hỏi vì sao chúng ta không tìm thấy điều đó sớm hơn.

In the present system, the second, there are two dominant evolutions, the human and the deva; (EH, p. 109–110)

Trong hệ hiện tại, hệ thứ hai, có hai dòng tiến hoá chủ đạo, nhân loại và thiên thần; (Trị Liệu Huyền Môn, tr. 109–110)

there are two dominant evolutions, the human and the deva;

có hai dòng tiến hoá chủ đạo, nhân loại và thiên thần;

there are—as earlier stated—sixty thousand million human monads. (EH, p. 109–110)

như đã nói trước đây, có sáu mươi tỷ chân thần nhân loại. (Trị Liệu Huyền Môn, tr. 109–110)

Now, does he mean in the earlier solar system, considering only the earth scheme? That is possible.

Giờ đây, liệu Ngài có muốn nói rằng trong hệ mặt trời trước đó, chỉ xét riêng hệ hành tinh Trái Đất không? Điều đó là có thể.

Add to this the feminine evolution of the devas, consisting of 140 thousand million, (EH, p. 109–110)

Cộng thêm dòng tiến hoá nữ tính của các thiên thần, gồm 140 tỷ, (Trị Liệu Huyền Môn, tr. 109–110)

and you have the necessary two hundred thousand million. (EH, p. 109–110)

và các bạn có đủ hai trăm tỷ cần thiết. (Trị Liệu Huyền Môn, tr. 109–110)

In our second major solar system.

Trong hệ mặt trời chính yếu thứ hai của chúng ta.

This elucidates my statement anent this being a feminine system. (EH, p. 109–110)

Điều này làm sáng tỏ phát biểu của Tôi về việc đây là một hệ thống mang tính nữ. (Trị Liệu Huyền Môn, tr. 109–110)

So here we are, really, we are talking about, apparently, the entire solar system.

Ở đây, dường như chúng ta thực sự đang nói về toàn bộ hệ mặt trời.

In the third solar system, the total number in evolution will be the needed three hundred thousand million (EH, p. 109–110)

Trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá sẽ là ba trăm nghìn triệu cần thiết (Trị Liệu Huyền Môn, tr. 109–110)

There

Đó.

that perfection requires of the threefold Logos. (EH, p. 109–110)

mà sự hoàn thiện đòi hỏi nơi Thượng đế tam phân. (Trị Liệu Huyền Môn, tr. 109–110)

Sometimes it's hard to find because he uses, sometimes written out words, and sometimes he uses numbers, as in 140,000 million.

Đôi khi khó tìm thấy vì Ngài đôi lúc viết số bằng chữ, đôi lúc dùng chữ số, như trong 140.000 triệu.

We are still not understanding whether the 60 billion human monads of the present solar system are of the earth scheme in the present solar system, with other thousand millions of monads that are human, given that type of humanity on other planets, or whether the grand entirety is 60,000 million human monads. As I say, when he tells us that six-sevenths are out of incarnation, it does seem, given the number of human monads in incarnation now, that the 60 billion or 60,000 million would have to apply to our earth scheme. I've been puzzling over that, for a long time.

Chúng ta vẫn chưa thấu hiểu liệu 60 tỷ chân thần nhân loại của hệ mặt trời hiện tại thuộc hệ hành tinh Trái Đất trong hệ mặt trời hiện tại, bên cạnh hàng tỷ chân thần nhân loại khác, xét đến loại nhân loại ấy trên các hành tinh khác, hay toàn bộ tổng số là 60.000 triệu chân thần nhân loại. Như Tôi đã nói, khi Ngài cho chúng ta biết rằng sáu phần bảy không nhập thể, thì xét số chân thần nhân loại hiện đang nhập thể, dường như con số 60 tỷ hay 60.000 triệu phải áp dụng cho hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta. Tôi đã suy nghĩ mãi về điều đó trong một thời gian dài.

Here we are in Cosmic Fire on page 1059, and

Ở đây chúng ta đang đọc Luận về Lửa Vũ Trụ ở trang 1059, và

Go out on some clear starlit night and seek to realise that in the many thousands of suns and constellations (TCF)

Hãy ra ngoài vào một đêm quang đãng đầy sao và tìm cách nhận biết rằng trong hàng nghìn mặt trời và chòm sao (Luận về Lửa Vũ Trụ)

And now we've learned there are billions

Và giờ đây chúng ta đã biết có hàng tỷ.

visible to the unaided eye of man, and in the tens of millions (TCF)

mà mắt thường của con người nhìn thấy, và trong hàng chục triệu (Luận về Lửa Vũ Trụ)

which the modern telescope reveals there is seen the physical manifestation of as many millions of intelligent existences; this infers that what is visible is simply those existences who are in incarnation. But only one-seventh of the possible appearances are incarnating. Six-sevenths are out of incarnation, waiting their turn to manifest, and holding back from incarnation until, in the turning of the great wheel, suitable and better conditions may eventuate. (TCF)

mà kính thiên văn hiện đại cho thấy, người ta nhìn thấy sự biểu hiện hồng trần của ngần ấy triệu hiện hữu có trí tuệ; điều này hàm ý rằng những gì nhìn thấy được chỉ là các hiện hữu đang nhập thể. Nhưng chỉ một phần bảy số hiện hữu có thể xuất hiện đang nhập thể. Sáu phần bảy không nhập thể, đang chờ đến lượt biểu hiện và trì hoãn việc nhập thể cho đến khi, trong vòng quay của bánh xe vĩ đại, những điều kiện thích hợp và tốt đẹp hơn có thể xuất hiện. (Luận về Lửa Vũ Trụ)

Given that on the earth right now there are, we can draw the analogy I think, that maybe only one-seventh approximately of human monads are manifesting, or incarnating rather, we may be able to determine that since there are approximately eight billion, so it would be eight over, one-seventh, so six-sevenths times eight, let's see, so if we multiply that figure about eight billion, and we're told that in Atlantean days there were even more who were in incarnation, we're coming pretty close to the 60,000 million that could be applied to the earth scheme. So the question here is, when he's talking about a feminine universe, a feminine solar system, he seems to be applying the figure 60 billion to the entire solar system, but when we look more closely at the numbers, that application seems to be applied to our planetary scheme within that solar system. So in sum, the final numbers are not ours to apprehend.

Xét tình hình trên Trái Đất hiện nay, Tôi nghĩ chúng ta có thể suy ra theo phép tương đồng rằng có lẽ chỉ khoảng một phần bảy các chân thần nhân loại đang biểu hiện, hay đúng hơn là đang nhập thể. Vì có khoảng tám tỷ, nên chúng ta có thể xác định bằng cách lấy tám chia cho một phần bảy, rồi sáu phần bảy nhân với tám; hãy xem, nếu chúng ta nhân con số khoảng tám tỷ ấy lên, và chúng ta được cho biết rằng vào thời Atlantis còn có nhiều người nhập thể hơn nữa, thì chúng ta tiến khá gần đến con số 60.000 triệu có thể áp dụng cho hệ hành tinh Trái Đất. Vậy câu hỏi ở đây là: khi Ngài nói về một vũ trụ mang tính nữ, một hệ mặt trời mang tính nữ, dường như Ngài đang áp dụng con số 60 tỷ cho toàn bộ hệ mặt trời; nhưng khi xem xét các con số kỹ hơn, con số ấy dường như lại áp dụng cho hệ hành tinh của chúng ta trong hệ mặt trời đó. Tóm lại, những con số cuối cùng không nằm trong khả năng lĩnh hội của chúng ta.

He's giving us some approximations and leaving us with a little bit of a dilemma here as to the area to which the term 60 billion is to be applied. We'll just have to live with that. Okay, see, because when he says something like, the earth will manifest, or the Planetary Logos of the earth will manifest in the next solar system, and when he says in the third solar system the total number in evolution with that sort of hidden factor, will it be the earth evolution, will be needed, will be the needed 300,000 million.

Ngài đang cho chúng ta một số con số gần đúng và để lại một chút khó xử về phạm vi áp dụng con số 60 tỷ. Chúng ta đành phải chấp nhận điều đó. Bởi khi Ngài nói những điều như Trái Đất sẽ biểu hiện, hay Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất sẽ biểu hiện trong hệ mặt trời kế tiếp, và khi Ngài nói rằng trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá — với một yếu tố phần nào ẩn kín như thế, liệu đó có phải là sự tiến hoá của Trái Đất không — sẽ là con số 300.000 triệu cần thiết.

That perfection requires of the threefold logos. Well, it may be the Solar Logos, or it may be the Solar Logos. In any way, the number is huge, and when people simply look at the number of human beings in incarnation, they are missing the human monads, and in this particular case called human souls, out of incarnation.

Mà sự hoàn thiện đòi hỏi nơi Thượng đế tam phân. Có thể đó là Thái dương Thượng đế, hoặc có thể là Thái dương Thượng đế. Dù thế nào, con số ấy cũng rất lớn, và khi người ta chỉ nhìn vào số người đang nhập thể, họ bỏ sót các chân thần nhân loại không nhập thể, mà trong trường hợp cụ thể này được gọi là các linh hồn nhân loại.

Let's see here. Yes, here's that word souls. 60,000 million souls.

Hãy xem ở đây. Đúng rồi, đây là từ “linh hồn”. 60.000 triệu linh hồn.

We do know that monads have consciousness, and soul is consciousness. So, okay, we can, under these circumstances, equate the two terms. So, 60,000 million souls.

Chúng ta biết rằng các chân thần có tâm thức, và linh hồn là tâm thức. Vì vậy, trong những hoàn cảnh này, chúng ta có thể coi hai thuật ngữ là tương đương. Vậy là 60.000 triệu linh hồn.

I know I've taken a little while on this, but be nice to get straight about what's really happening. Sixty thousand million souls in process of evolving,

Tôi biết mình đã dành hơi nhiều thời gian cho điều này, nhưng sẽ rất tốt nếu làm rõ điều gì thực sự đang diễn ra. Sáu mươi nghìn triệu linh hồn đang trong tiến trình tiến hoá,

[25] each following certain rounds of lives totally different from those of others, offer a wide field to choose from, and no one experience is exactly the same as another.

[25] mỗi linh hồn trải qua những chu kỳ kiếp sống nhất định hoàn toàn khác với các linh hồn khác, tạo nên một phạm vi lựa chọn rộng lớn, và không một trải nghiệm nào hoàn toàn giống trải nghiệm nào khác.

So, that's a huge variety, and it explains to us why Master DK has to write in generalities.

Vậy đó là một sự đa dạng vô cùng lớn, và nó giải thích cho chúng ta vì sao Chân sư DK phải viết theo những nét khái quát.

[26] But it might be generally laid down that there are five ways (out of the many possible) which are of such frequent occurrence, comparatively speaking, as to warrant our enumerating them. All have been hinted at, but I may somewhat enlarge the already imparted data.

[26] Nhưng có thể nói một cách khái quát rằng có năm cách thức (trong số nhiều cách có thể có) xảy ra tương đối thường xuyên đến mức đáng để chúng ta liệt kê. Tất cả đều đã được gợi ý, nhưng Tôi có thể trình bày rộng hơn đôi chút những dữ kiện đã truyền đạt.

We are speaking of access to the Master.

Chúng ta đang nói về việc tiếp cận Chân sư.

And we'll notice later that this access has much to do with the six stages of discipleship also. We are speaking of access to the Master

Và sau này chúng ta sẽ nhận thấy việc tiếp cận này cũng liên quan nhiều đến sáu giai đoạn của địa vị đệ tử. Chúng ta đang nói về việc tiếp cận Chân sư.

[27] Seeing the Master and the self within the cave of the heart.

[27] Thấy Chân sư và bản thân mình trong hang động của trái tim.

And here it is laid out quite clearly.

Và ở đây điều ấy được trình bày khá rõ ràng.

In the Master in the Heart meditation, many of us have gone through the Arcane School, and of course you could stay a long time. But we have found the very first meditation to be related to the Master in the Heart.

Về bài tham thiền Chân sư trong Trái tim, nhiều người trong chúng ta đã theo học Trường Arcane, và dĩ nhiên các bạn có thể ở lại rất lâu. Nhưng chúng ta nhận thấy bài tham thiền đầu tiên liên quan đến Chân sư trong Trái tim.

[28] As the student has often been told to visualise himself and the Master—about the size of a quarter inch—within the circumference of the etheric heart. He is told to picture, toward the close of his meditation the heart etheric, and therein build minute forms of the Master to Whom he is drawn and of himself. This he proceeds to do with due and elaborate care, with the aid of the imagination and loving effort, working daily on his figures till they become to him very real, and their building and forming becomes almost an automatic part of his meditation form. Then comes a day (usually when astrological conditions are fit and the moon approaches the full) when he becomes conscious within his brain that those figures are not the little puppets he thinks, but that he is within the figure representing himself, and that he stands literally and in all verity before the Master.

[28] Như đạo sinh thường được chỉ dẫn, y cần hình dung bản thân mình và Chân sư—với kích thước khoảng một phần tư inch—bên trong chu vi của trái tim dĩ thái. Y được chỉ dẫn rằng, khi gần kết thúc buổi tham thiền, hãy hình dung trái tim dĩ thái, và trong đó xây dựng những hình tướng nhỏ bé của Chân sư mà y hướng đến và của chính mình. Y tiến hành việc này với sự chăm chút tỉ mỉ, nhờ sự tưởng tượng và nỗ lực đầy tình thương, hằng ngày trau chuốt những hình tượng ấy cho đến khi chúng trở nên rất chân thực đối với y, và việc xây dựng, tạo hình chúng gần như trở thành một phần tự động trong khuôn thức tham thiền của y. Rồi đến một ngày (thường khi các điều kiện chiêm tinh thích hợp và Mặt Trăng gần tròn), y nhận biết trong bộ não rằng những hình tượng ấy không phải là các con rối nhỏ bé như y nghĩ, mà y đang ở trong hình tượng đại diện cho chính mình, và y thực sự, hoàn toàn chân thực, đang đứng trước Chân sư.

This, however simple it may seem, is a very occult method and important for those who would truly contact the Master about a quarter inch, and himself as well, perhaps in meditation or according to what his creative imagination suggests, and according maybe to the images of the Master that he conceives or which have been given.

Dù có vẻ đơn giản, đây là một phương pháp rất huyền bí và quan trọng đối với những người muốn thực sự tiếp xúc với Chân sư có kích thước khoảng một phần tư inch, cùng với bản thân mình, có lẽ trong tham thiền hoặc theo gợi ý của sự tưởng tượng sáng tạo của y, và có lẽ theo những hình ảnh về Chân sư mà y hình dung hoặc đã được trao cho y.

Thus far there are, I think, pretty good likenesses of Master Morya, Master Koot Hoomi, Master Djwhal Khul, and David Anrias has drawn some of the other Masters as they appear to have appeared to him at that time. And we do have the Shroud of Turinand the elaboration of the appearance of what purports to be the body of the Master Jesus, when the impression on that shroud is filled out in color. So we have either with our own imagination or with actual images suggested to us images that we can use.

Cho đến nay, Tôi nghĩ có những chân dung khá giống Chân sư Morya, Chân sư Koot Hoomi, Chân sư Djwhal Khul, và David Anrias đã vẽ một số Chân sư khác theo dáng vẻ mà Các Ngài dường như đã hiện ra với ông vào thời đó. Và chúng ta có Tấm Vải Liệm Turin cùng hình ảnh được dựng lại về diện mạo của thân thể được cho là của Chân sư Jesus, khi dấu in trên tấm vải liệm ấy được hoàn thiện bằng màu sắc. Vì vậy, dù nhờ sự tưởng tượng của chính mình hay nhờ những hình ảnh thực tế được gợi ý, chúng ta đều có những hình ảnh để sử dụng.

The question is, who will use these images? Is it mostly those upon the first ray and the second ray, or will this become a method that other rays use also? So he finds that he is within the figure representing himself, and that he stands literally and in all verity All truth, before the Master. This is one of the, I suppose, mysteries of the psychic realm.

Câu hỏi là ai sẽ sử dụng những hình ảnh này? Chủ yếu là những người thuộc cung một và cung hai, hay đây cũng sẽ trở thành một phương pháp mà các cung khác sử dụng? Vậy y nhận thấy rằng y đang ở trong hình tượng đại diện cho chính mình, và y thực sự, hoàn toàn chân thực, đứng Hoàn toàn thật, trước Chân sư. Tôi cho rằng đây là một trong những bí nhiệm của lĩnh vực thông linh.

[30] This occurs at rare intervals at first, and the consciousness of the fact is held but for a few brief seconds; as progress is made, and every department of his nature and of his service develops, with greater frequency will come the experience, with longer periods will it be marked, until there comes a time when the pupil can link up as easily in this manner with his Master as earlier he formed his figures.

[30] Lúc đầu, điều này chỉ thỉnh thoảng xảy ra, và sự nhận biết ấy chỉ duy trì trong vài giây ngắn ngủi; khi y tiến bộ, và mọi phương diện trong bản chất cũng như trong sự phụng sự của y đều phát triển, trải nghiệm này sẽ đến thường xuyên hơn, [Page 290] kéo dài hơn, cho đến lúc đệ tử có thể liên kết với Chân sư theo cách này dễ dàng như trước kia y tạo ra những hình tượng của mình.

So this is promising for those who carefully work and build the images in the manner in which Master DK has suggested.

Vậy đây là điều đầy hứa hẹn đối với những người làm việc cẩn thận và tạo dựng các hình ảnh theo cách Chân sư DK đã gợi ý.

[32] Just what did occur? The pupil had succeeded in doing three things:—

[32] Chính xác thì điều gì đã xảy ra? Đệ tử đã thành công trong ba việc:—

[33] 1. Identifying himself with the figure within the heart, and aspiring to the Master.

[33] 1. Đồng hoá mình với hình tượng bên trong trái tim, và hướng khát vọng đến Chân sư.

So that's the first that he is, the first thing

Vậy đó là điều đầu tiên y làm, việc đầu tiên.

He's identified himself with the figure within the heart, Point two

Y đã đồng hoá mình với hình tượng trong trái tim, Điểm thứ hai.

[34] 2. Making a definite channel between the heart centre (wherein he is endeavouring to focus his consciousness) and its corresponding head centre. Each of the seven centres in the body, as you know,

[34] 2. Tạo một đường dẫn xác định giữa trung tâm tim (nơi y đang cố gắng tập trung tâm thức) và trung tâm đầu tương ứng của nó. Mỗi trung tâm trong số bảy trung tâm của thân thể, như

As we should know by this time perhaps

Có lẽ đến lúc này chúng ta đã nên biết.

[35] has a counterpart within the head.

[35] vậy, đều có một đối phần bên trong

Still a very occult matter, unsuspected even by our normally highest science of medicine. Each of the seven centres in the body, as you know, has a counterpart within

Đây vẫn là một vấn đề rất huyền bí, mà ngay cả ngành y học, thường được coi là khoa học cao nhất của chúng ta, cũng chưa ngờ tới. Như các bạn biết, mỗi trung tâm trong bảy trung tâm của thân thể đều có một đối phần bên trong

[36] the head. It is in the linking up of the

[36] đầu. Chính khi liên kết

Center with its counterpoint in the head.

Trung tâm với đối phần của nó trong đầu.

It is in the linking up of the

Chính trong sự liên kết của

[37] centre with its counterpart in the head that illumination comes. This,—in the case in point—has been accomplished by the student. He has connected the heart with its head centre.

[37] trung tâm với đối phần của nó trong đầu, sự soi sáng xuất hiện. Trong trường hợp đang xét, đạo sinh đã hoàn thành điều này. Y đã nối kết trung tâm tim với trung tâm đầu tương ứng.

And number three that he has accomplished

Và việc thứ ba mà y đã hoàn thành.

[38] 3. Not only has he accomplished the two above things but he has so purified that part of the physical brain that corresponds with the particular head centre that it can respond to the higher vibration necessitated, and therefore accurately record what has transpired.

[38] 3. Y không chỉ hoàn thành hai việc trên, mà còn thanh luyện phần bộ não hồng trần tương ứng với trung tâm đầu cụ thể ấy đến mức nó có thể đáp ứng rung động cao hơn cần thiết, và do đó ghi nhận chính xác những gì đã diễn ra.

These are three factors out of five when it comes to contacting the Master, so now we're going on to another method of receiving confirmation that some kind of contact has been made with the Master.

Đây là ba yếu tố trong số năm yếu tố liên quan đến việc tiếp xúc với Chân sư; vậy giờ đây chúng ta chuyển sang một phương pháp khác để nhận được sự xác nhận rằng một hình thức tiếp xúc nào đó với Chân sư đã diễn ra.

Recognition of vibration.

Nhận biết rung động.

[39] In this instance the method is not quite the same. The student becomes conscious during his moments of intensest aspiration

[39] Trong trường hợp này, phương pháp không hoàn toàn giống như trên. Trong những khoảnh khắc khát vọng mãnh liệt nhất

Note how important aspiration is.

Hãy lưu ý khát vọng quan trọng đến mức nào.

It's not something that is to be discounted and said, well, okay, it's only for aspirants. We're all aspirants, aren't we? The student becomes conscious during his moments of intensest aspiration

Đó không phải là điều có thể xem nhẹ và nói rằng nó chỉ dành cho những người chí nguyện. Tất cả chúng ta đều là người chí nguyện, phải không? Đạo sinh nhận biết, trong những khoảnh khắc khát vọng mãnh liệt nhất của y

[40] in meditation of a certain peculiar vibration or sensation in his head. It may be in one of three places:—

[40] khi tham thiền, đạo sinh nhận biết một rung động hay cảm giác đặc biệt nào đó trong đầu. Nó có thể ở một trong ba vị trí:—

One of three places.

Một trong ba vị trí.

[41] a. At the top of the spine.

[41] a. Ở đỉnh cột sống.

[42] b. In the forehead.

[42] b. Ở trán.

[43] c. At the top of the head.

[43] c. Ở đỉnh đầu.

Well, at the top of the head, we have the brahmarandhra center, and the major part of the brahmarandhra, which is the 12-petaled lotus within the head.

Ở đỉnh đầu, chúng ta có trung tâm brahmarandhra, và phần chính của brahmarandhra, tức hoa sen 12 cánh bên trong đầu.

In the forehead, we have maybe one of two centers, ajna, and then maybe a higher brow center. And at the top of the spine, which is not necessarily the same as the bottom of the skull, we have the throat center. Perhaps there's also, including a kind of an alta major vibration.

Ở trán, có lẽ chúng ta có một trong hai trung tâm: ajna, và có lẽ một trung tâm trán cao hơn. Còn ở đỉnh cột sống, vốn không nhất thiết đồng nghĩa với đáy hộp sọ, chúng ta có trung tâm cổ họng. Có lẽ ở đó còn bao gồm một dạng rung động alta major.

That's usually considered to be at the bottom of the skull. Okay. Now, all of these are sensations which we have to be aware of and make note of, because they do definitely represent contact with some other dimension which is habitual to us.

Trung tâm ấy thường được coi là nằm ở đáy hộp sọ. Giờ đây, tất cả những điều này đều là những cảm giác mà chúng ta phải nhận biết và ghi lại, vì chúng chắc chắn biểu thị sự tiếp xúc với một chiều kích khác vốn quen thuộc với chúng ta.

[44] I speak not here of the sensation that comes when psychic faculty develops, though there is an alliance between the two,

[44] Ở đây, Tôi không nói đến cảm giác xuất hiện khi năng lực thông linh phát triển, dù hai điều này có liên hệ với nhau,

I think we realize how much the Tibetan knows about the interior life.

Tôi nghĩ chúng ta nhận ra Chân sư Tây Tạng hiểu biết nhiều đến mức nào về đời sống nội tâm.

[45] but I speak of a definite vibration that accompanies contact with one of the Great Ones.

[45] mà Tôi nói đến một rung động xác định đi kèm với sự tiếp xúc với một trong Các Đấng Cao Cả.

And discrimination of vibration is one of the most necessary accomplishments.

Và khả năng phân biện rung động là một trong những thành tựu cần thiết nhất.

Elsewhere, he tells us about all the many vibrations that can descend or arise, and how we have to learn how to discriminate between them. So, not just psychic faculty, though we cannot necessarily separate the two entirely, but of a definite vibration that accompanies contact with one of the Great Ones. And I wonder how many of us could discriminate a vibration which originates with Master DK, or Master KH, or Master Morya, for instance, given the triangle that we usually work with.

Ở nơi khác, Ngài nói với chúng ta về nhiều rung động có thể giáng xuống hoặc dâng lên, và cách chúng ta phải học để phân biện giữa chúng. Vì vậy, không chỉ là năng lực thông linh, dù chúng ta không nhất thiết có thể tách biệt hoàn toàn hai điều, mà là một rung động rõ rệt đi kèm với sự tiếp xúc với một trong Các Đấng Cao Cả. Và Tôi tự hỏi có bao nhiêu người trong chúng ta có thể phân biện một rung động phát xuất từ Chân sư DK, Chân sư KH hay Chân sư Morya, chẳng hạn, xét đến tam giác mà chúng ta thường làm việc cùng.

[46] The student at first is only conscious of a feeling of momentary heightening, which takes the form of a ripple or movement in the head.

[46] Lúc đầu, đạo sinh chỉ nhận biết một cảm giác nâng cao trong khoảnh khắc, biểu hiện thành một làn sóng gợn hay một chuyển động trong đầu. [Page 291]

I think for many, this will be familiar.

Tôi nghĩ với nhiều người, điều này sẽ quen thuộc.

[47] At first it may be attended with some discomfort, if felt in the forehead it may cause tears and weeping, if at the top of the spine or base of the skull

[47] Ban đầu, nó có thể đi kèm với đôi chút khó chịu, nếu cảm thấy ở trán, nó có thể khiến y chảy nước mắt và khóc; nếu ở đỉnh cột sống hay đáy hộp sọ, nó có thể gây

Notice how he basically equates those, or at least relates them as part of the same process

Hãy lưu ý cách Ngài về cơ bản coi những vị trí ấy là tương đương, hoặc ít nhất liên hệ chúng như những phần của cùng một tiến trình.

[49] exhilaration and even dizziness, at the top of the head a sense of expansion with a feeling of fullness, as if the limiting skull were too confining. This wears off with greater use.

[49] hưng phấn và thậm chí chóng mặt; còn nếu ở đỉnh đầu, nó có thể gây cảm giác mở rộng cùng với cảm giác đầy tràn, như thể hộp sọ giới hạn quá chật hẹp. Điều này sẽ mất dần khi y quen trải nghiệm hơn.

I remember Mary Bailey talking to us about the downflow of energy and how it made one think that one's head was going to explode. So that must have been coming in at the top of the head.

Tôi nhớ bà Mary Bailey nói với chúng ta về dòng năng lượng tuôn xuống và cách nó khiến người ta nghĩ đầu mình sắp nổ tung. Vậy dòng ấy hẳn đã đi vào từ đỉnh đầu.

This will help us locate and name the kind of vibrations we may experience. and if at the top of the head a sense of expansion with a feeling of fullness, as if the limiting skull were too confining.

Điều này sẽ giúp chúng ta xác định vị trí và gọi tên những dạng rung động mà chúng ta có thể trải nghiệm. và nếu ở đỉnh đầu thì gây cảm giác mở rộng và đầy tràn, như thể hộp sọ giới hạn quá chật hẹp.

As always, habituation renders the experience far more familiar with less sort of noticeable, dramatic, unusual results. So this does wear off with greater use.

Như mọi khi, sự quen dần khiến trải nghiệm trở nên quen thuộc hơn nhiều, với ít biểu hiện đáng chú ý, mạnh mẽ hay khác thường hơn. Vì vậy, điều này quả thực giảm dần khi thực hành nhiều hơn.

[50] It is all caused by a contact, momentary at first, with some one Master.

[50] Tất cả đều do sự tiếp xúc, ban đầu chỉ trong khoảnh khắc, với một Chân sư nào đó.

Okay. And just so we can see what we're doing here.

Và chỉ để chúng ta thấy mình đang làm gì ở đây.

[52] In time the student comes to recognise this vibration and to associate it with some particular Great One, for each Master has His own vibration which impresses itself upon His pupils in a specific manner.

[52] Theo thời gian, đạo sinh nhận biết được rung động này và liên hệ nó với một Đấng Cao Cả cụ thể, vì mỗi Chân sư có rung động riêng của Ngài, ghi dấu lên các đệ tử của Ngài theo một cách đặc thù.

That's an important statement. I'm sure Alice Bailey was very familiar with this process. Of course, there is said to have been kind of a note that sounded in her ear when the Tibetan wanted to work with her.

Đó là một phát biểu quan trọng. Tôi chắc chắn bà Alice Bailey rất quen thuộc với tiến trình này. Dĩ nhiên, người ta nói rằng có một dạng âm điệu vang lên trong tai bà khi Chân sư Tây Tạng muốn làm việc với bà.

But who knows? And then she was, after all, a student at home, really in the ashram of Master K.H. And so his vibration must have been familiar to her. In time the student comes to recognise this vibration and to associate it with some particular Great One, for each Master has His own vibration which impresses itself upon His pupils in a specific manner.

Nhưng ai biết được? Xét cho cùng, bà là một đạo sinh đã ở đúng nơi của mình, thực sự trong ashram của Chân sư K.H. Vì vậy, rung động của Ngài hẳn đã quen thuộc với bà. Theo thời gian, đạo sinh nhận biết được rung động này và liên hệ nó với một Đấng Cao Cả cụ thể, vì mỗi Chân sư có rung động riêng của Ngài, tạo ấn tượng lên các môn sinh của Ngài theo một cách đặc thù.

[53] This method of contact is frequently attended by perfume.

[53] Phương pháp tiếp xúc này thường đi kèm với hương thơm.

Now, I have a little story to tell, whether it's accurate or not. But the last remaining disciple alive in that former cycle was R.S.W., Marion Walter.

Giờ đây, Tôi có một câu chuyện nhỏ để kể, dù không biết có chính xác hay không. Nhưng người đệ tử cuối cùng còn sống trong chu kỳ trước ấy là R.S.W., Marion Walter.

And my friend Keith Bailey and I were somewhat frequent visitors at her apartment. And she told us stories, you know. And the perfume apparently connected with the Tibetan, she said, was the Carnation, with the Master Koot Hoomi, the White Rose, and with Master Morya, the Freesia, Freesia fragrance.

Bạn tôi, Keith Bailey, và tôi khá thường xuyên đến thăm căn hộ của bà. Bà kể cho chúng tôi nghe nhiều câu chuyện. Bà nói rằng hương thơm dường như gắn với Chân sư Tây Tạng là hương hoa cẩm chướng; với Chân sư Koot Hoomi là hương hoa hồng trắng; và với Chân sư Morya là hương hoa lan Nam Phi.

This is something that may be of interest, but it has to be researched. And probably it will be time spent in this research when people who are genuinely the students of the Master compare notes and try to establish what the perfume, often called the astral perfume, will offer in terms of its fragrance.

Điều này có thể đáng quan tâm, nhưng cần nghiên cứu. Có lẽ sẽ cần dành thời gian cho việc nghiên cứu này, khi những người thực sự là môn sinh của Chân sư đối chiếu các ghi nhận và cố gắng xác định hương thơm ấy, thường gọi là hương thơm cảm dục, sẽ mang lại mùi hương như thế nào.

[54] In time the pupil learns how to raise his vibration to a certain pitch. Having done this he holds the vibration steady until he senses the Master's answering vibration or the perfume.

[54] Theo thời gian, đệ tử học cách nâng rung động của mình đến một mức nhất định. Sau khi làm được điều này, y giữ rung động ổn định cho đến khi cảm nhận được rung động đáp ứng của Chân sư hoặc hương thơm.

And, you have to be able to justify the call. I suppose a chela within the aura can always justify it, and a chela on the thread, well, it's certainly the beginning of the process.

Và bạn phải có lý do chính đáng cho lời kêu gọi ấy. Tôi cho rằng một đệ tử trong hào quang luôn có lý do chính đáng, còn với một Đệ tử trên đường dây thì đây chắc chắn là bước khởi đầu của tiến trình.