← Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Lá Thư VI

Here are Planetary Logoi: seven below three, three above seven.

Trích nội dung chương

[Ghi chú biên tập — CẦN GHÉP HÌNH TỪ VIDEO — LOM-038-H01: Biểu đồ cosmic planes, Planetary Logoi ba trên bảy, tam giác Monad và area of liberation; mốc: seven below three, three above seven.] [Ghi chú biên tập — CẦN GHÉP HÌNH TỪ VIDEO — LOM-038-H01: Biểu đồ các cõi vũ trụ, các Đức Hành Tinh Thượng Đế ba trên bảy, tam giác Chân thần và vùng giải thoát; mốc: bảy ở dưới ba, ba ở trên bảy.]


Here are Planetary Logoi: seven below three, three above seven.

Đây là các Đức Hành Tinh Thượng Đế: bảy ở dưới ba, ba ở trên bảy.

[Ghi chú biên tập — CẦN GHÉP HÌNH TỪ VIDEO — LOM-038-H01: Biểu đồ cosmic planes, Planetary Logoi ba trên bảy, tam giác Monad và area of liberation; mốc: seven below three, three above seven.]

[Ghi chú biên tập — CẦN GHÉP HÌNH TỪ VIDEO — LOM-038-H01: Biểu đồ các cõi vũ trụ, các Đức Hành Tinh Thượng Đế ba trên bảy, tam giác Chân thần và vùng giải thoát; mốc: bảy ở dưới ba, ba ở trên bảy.]

And when you look at monadic types, well, here, we have seven possible types, but really the little green triangle is monadically what we're interested in. The three is not demonstrated except that there is a triangle in the area of liberation. Well, that's talking so high that it's going to be way beyond the masters themselves.

Và khi xem xét các loại chân thần, ở đây chúng ta có bảy loại có thể có, nhưng thực ra, xét về chân thần, tam giác nhỏ màu xanh lá cây mới là điều chúng ta quan tâm. Bộ ba không được thể hiện, ngoại trừ một tam giác trong vùng giải thoát. Điều này nói đến những cấp độ cao đến mức vượt xa cả chính các Chân sư.

So, it's the sheerest mental speculation, but certainly three represent the major monadic rays and seven, the seven subsidiary or normal monadic rays, at least that is my estimation at the present time from my present level of ignorance, until proven correct or incorrect. You just have to extend those hypotheses and see if they work out. So whichever way we ascend the object in our solar system for our planet at this time, and for these certain trillions of years that are involved in the remainder of the manifestational period of our planetary logos, it's not going to last the whole time, the objective is love.

Vì vậy, đây hoàn toàn chỉ là suy đoán trí tuệ, nhưng chắc chắn ba đại diện cho các cung chân thần chính, còn bảy là bảy cung chân thần phụ thuộc hay thông thường; ít nhất đó là nhận định hiện nay của tôi, từ mức độ thiếu hiểu biết hiện tại của mình, cho đến khi được chứng minh là đúng hay sai. Các bạn chỉ cần mở rộng những giả thuyết ấy và xem chúng có đứng vững không. Vì vậy, dù chúng ta đi lên theo cách nào, mục tiêu trong hệ mặt trời của chúng ta đối với hành tinh chúng ta vào lúc này, và trong hàng nghìn tỷ năm thuộc phần còn lại của thời kỳ biểu hiện của Đức Hành Tinh Thượng Đế chúng ta — điều đó sẽ không kéo dài suốt toàn bộ thời gian — mục tiêu vẫn là bác ái.

Or maybe we have to call it love wisdom, love demonstrating through light, a sacred lighted sphere. So we're on our way not to the personality demonstration of our planetary logos, but to its soul demonstration, which will be reinforced by the second ray soul now increasingly operative of the solar logos. Okay, so what was that all about? That was forms used in one of the three departments, and you know, it really helps to know which department we are connected with and where the source of that stream is coming from.

Hoặc có lẽ chúng ta phải gọi đó là Bác Ái – Minh Triết, bác ái biểu lộ thông qua ánh sáng, một khối cầu thiêng liêng được soi sáng. Vì vậy, chúng ta đang tiến tới sự biểu lộ linh hồn chứ không phải sự biểu lộ phàm ngã của Đức Hành Tinh Thượng Đế chúng ta; điều này sẽ được củng cố nhờ linh hồn cung hai của Thái dương Thượng đế, hiện đang ngày càng phát huy tác dụng. Vậy tất cả những điều ấy nói về điều gì? Đó là những hình tướng được sử dụng trong một trong ba ban, và các bạn biết đấy, thật hữu ích khi biết chúng ta kết nối với ban nào và dòng ấy bắt nguồn từ đâu.

And now all this is part of the section called form in meditation. And we have so far visual forms and geometrical forms. We have metric forms.

Và tất cả những điều này thuộc phần mang tên hình tướng trong tham thiền. Đến nay, chúng ta đã có các hình tướng thị giác và hình tướng hình học. Chúng ta có các hình tướng theo niêm luật.

We have formulas, set forms, things that just have to be known with exactitude. Now the next one is the three lines of approach. Well, in a way, we've just kind of studied that.

Chúng ta có những công thức, những hình tướng cố định, những điều phải biết thật chính xác. Phần tiếp theo là ba đường tiếp cận. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta vừa nghiên cứu điều ấy.

It is a joy to do the master's work, says Master M. Well, studying is part of it. I have to admit, I'm biased towards the study part, learning to be more balanced in meditation and just serving as I can. You know, we all have our emphasis.

Chân sư M. nói rằng thực hiện công việc của Chân sư là một sự hoan hỉ. Nghiên cứu là một phần của công việc ấy. Tôi phải thừa nhận rằng mình thiên về phần nghiên cứu, đồng thời học cách cân bằng hơn trong tham thiền và phụng sự trong khả năng của mình. Các bạn biết đấy, mỗi người chúng ta đều có trọng tâm riêng.

The three lines of approach from a hundred years ago.

Ba đường tiếp cận từ một trăm năm trước.

[18] As you will note (in continuation of that which we studied yesterday) there are three direct lines of contact between the higher and the lower, all finding their focal point through the same Initiator, and all, at the same time, quite distinct in their method of approach.

[18] Như các bạn sẽ nhận thấy (tiếp nối những điều chúng ta nghiên cứu hôm qua), có ba đường tiếp xúc trực tiếp giữa cái cao và cái thấp, tất cả đều tìm thấy tiêu điểm qua cùng một Đấng Điểm đạo, đồng thời phương pháp tiếp cận của mỗi đường đều hoàn toàn khác biệt.

You know, there are the rewards of study.

Các bạn biết đấy, nghiên cứu có những phần thưởng của nó.

You know, if the wages of sin is death, then the wages of careful, prolonged, continuous study is illumination, and of course, by death, I mean the death of consciousness. All of this is serious business at long last, and there comes a time in our life when we realize it.

Các bạn biết đấy, nếu tiền công của tội lỗi là cái chết, thì tiền công của việc nghiên cứu cẩn trọng, lâu dài và liên tục là sự soi sáng; và dĩ nhiên, khi nói cái chết, tôi muốn nói đến cái chết của tâm thức. Rốt cuộc, tất cả những điều này đều là chuyện nghiêm túc, và đến một lúc trong đời, chúng ta nhận ra điều đó.

[19] If this is borne in mind it will be apparent that each provides for the man (whose egoic note is one of the three,

[19] Nếu ghi nhớ điều này, sẽ thấy rõ rằng mỗi đường đều đem lại cho con người (có âm điệu chân ngã thuộc một trong ba đường,

So, note is the egoic note that is initially responsible for the method of approach, even building the antahkarana. When you use one of those words of power, like, I assert the fact, or I see the greatest light, or purpose itself, am I, etc., you use it on the note or the color or the ray of your causal body, egoic lotus of your ego.

Vì vậy, âm điệu ở đây là âm điệu chân ngã, vốn quyết định phương pháp tiếp cận ngay từ đầu, kể cả việc xây dựng antahkarana. Khi sử dụng một trong những quyền năng từ ấy, như “Tôi khẳng định sự thật”, hoặc “Tôi thấy ánh sáng vĩ đại nhất”, hoặc “Tôi chính là mục đích”, v.v., các bạn sử dụng nó theo âm điệu, màu sắc hay cung của thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã của chân ngã mình.

And you know, in occultism, the word ego just does not mean what it usually means, to the normal psychologist. We have to specify, like, the lower ego, i.e. the personality, when we want the word egoic to mean something lower. Otherwise, it does mean the consciousness within the causal body, egoic lotus, on the higher mental plane, especially subplanes two and three.

Và các bạn biết đấy, trong huyền bí học, từ chân ngã không mang nghĩa mà nhà tâm lý học thông thường thường hiểu. Khi muốn từ chân ngã chỉ điều gì đó thấp hơn, chúng ta phải nói rõ, chẳng hạn phàm ngã, tức phàm nhân. Nếu không, nó thực sự có nghĩa là tâm thức trong thể nguyên nhân, Hoa Sen Chân Ngã, trên Cõi thượng trí, đặc biệt là các cõi phụ hai và ba.

So,

Vì vậy,

it will be apparent that each provides for the man (whose egoic note is one of the three,

sẽ thấy rõ rằng mỗi đường đều cung cấp cho con người (có âm điệu chân ngã thuộc một trong ba cung,

[20] or a department of the third)

[20] hoặc một nhánh của đường thứ ba)

four, five, six, seven,

bốn, năm, sáu, bảy,

[21] the line of least resistance and the path whereby he may most easily approach the Ultimate.

[21] con đường ít trở ngại nhất và con đường mà qua đó y có thể dễ dàng nhất tiếp cận Đấng Tối Hậu.

whatever that ultimate really is. For us, relatively speaking, it's got to be the planetary logos, or even the solar logos. And note, sorry, note seven lines of approach.

dù Đấng Tối Hậu ấy thực sự là ai. Đối với chúng ta, nói một cách tương đối, đó hẳn phải là Đức Hành Tinh Thượng Đế, hoặc thậm chí là Thái dương Thượng đế. Và hãy lưu ý — xin lỗi — hãy lưu ý bảy đường tiếp cận.

Always there are under the three, the four. And remember that we don't always have to change that egoic note into a ray of aspect. There are high initiates on rays four, five, six, seven, and they have not changed their egoic ray to one, two, three.

Luôn có bốn dưới ba. Và hãy nhớ rằng chúng ta không phải lúc nào cũng cần chuyển âm điệu chân ngã ấy thành một cung trạng thái. Có những điểm đạo đồ cấp cao trên các cung bốn, năm, sáu, bảy, và Các Ngài chưa chuyển cung chân ngã của mình sang một, hai, ba.

He discusses that, you know. For instance, there are ray four souls that have become ray two, but there are also ray four souls that just remain on the fourth ray. Some of the intricacies of the ray science.

Ngài có bàn về điều đó, các bạn biết đấy. Chẳng hạn, có những linh hồn cung bốn đã trở thành cung hai, nhưng cũng có những linh hồn cung bốn vẫn ở lại cung bốn. Đó là một số điểm tinh tế của khoa học về các cung.

[22] It is fundamentally a matter dealing with various states of consciousness, and here it is that the Great Ones so powerfully assist the student.

[22] Về căn bản, đây là vấn đề liên quan đến các trạng thái tâm thức khác nhau, và chính ở đây Các Đấng Cao Cả trợ giúp đạo sinh một cách mạnh mẽ.

And if we could just be humble enough with a sense of adjusted right proportion to realize how much we stand in debt to the Great Ones, and how much they have to offer, and as Master Morya says, why do you insist on your own way when it fails, and ours succeed? It doesn't mean we can't be original, etc.

Và giá như chúng ta đủ khiêm nhường, với một ý thức đúng đắn và cân bằng về tỉ lệ, để nhận ra mình mang ơn Các Đấng Cao Cả đến mức nào, và Các Ngài có thể trao cho chúng ta biết bao điều; như Chân sư Morya nói, tại sao các bạn cứ khăng khăng theo cách của mình khi nó thất bại, còn cách của chúng tôi lại thành công? Điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể độc đáo, v.v.

But when we find advice, suggestions, even sometimes like commands from Master M, and we don't obey, we refuse to obey at our peril. Or at least we invoke retardation, which none of us really wants.

Nhưng khi gặp những lời khuyên, những gợi ý, đôi khi thậm chí như những mệnh lệnh từ Chân sư M., mà chúng ta không tuân theo, thì chính chúng ta phải chịu nguy cơ khi từ chối tuân theo. Hoặc ít nhất chúng ta tự chuốc lấy sự chậm tiến, điều mà không ai trong chúng ta thực sự muốn.

[23] Through meditation, adjusted to the desired line, the student can control step by step the various intermediate states that lie between him and his goal. He rises by means of various focal points of force.

[23] Qua việc tham thiền phù hợp với đường mong muốn, đạo sinh có thể từng bước kiểm soát các trạng thái trung gian khác nhau nằm giữa y và mục tiêu. Y vươn lên nhờ các tiêu điểm mãnh lực khác nhau.

Let's call them, in a way, points of attention, but also rises through the cultivation of the different chakras and their opening.

Theo một nghĩa nào đó, hãy gọi chúng là những điểm chú tâm; nhưng y cũng vươn lên thông qua việc phát triển và khai mở các luân xa khác nhau.

[24] These focal points may be his Higher Self, they may be his Master, they may be an ideal....... (which ideal is but the form taken by the man's own manasic permanent atom, whose life he senseth as an abstraction an reacheth upward to embrace via the causal vehicle)

[24] Những tiêu điểm này có thể là chân ngã của y, có thể là Chân sư của y, có thể là một lý tưởng....... (lý tưởng ấy chỉ là hình tướng mà nguyên tử trường tồn manas của chính con người khoác lấy, mà sự sống của nó được y cảm nhận như một điều trừu tượng và vươn lên ôm lấy qua hiện thể nguyên nhân)

what, image of himself perhaps, or just an ideal.

điều gì nhỉ, có lẽ là hình ảnh về chính mình, hoặc chỉ là một lý tưởng.

[25] But they are only steps upon the ladder whereby expansions of consciousness are obtained, and the man is enabled to extend the periphery of his consciousness until he gradually embraces all, and merges at last with the Monad, and later with the All-Self, the Logos Himself.

[25] Nhưng chúng chỉ là những bậc thang giúp tâm thức mở rộng, cho phép con người nới rộng chu vi tâm thức cho đến khi y dần bao trùm tất cả, và cuối cùng hoà nhập với Chân Thần, rồi về sau [Page 169] với Toàn Ngã, chính Thượng đế.

By this he may mean the soul of Logos. Now, is it the all-self? Well, it's certainly an aspect of the all-self. So, it's a science, isn't it? And of course, as we get better at understanding the science, we can wield it as if it were an art form.

Qua điều này, có thể Ngài muốn nói đến linh hồn của Thượng đế. Vậy đó có phải là Đại Ngã Toàn Thể không? Chắc chắn đó là một phương diện của Đại Ngã Toàn Thể. Vì vậy, đây là một khoa học, phải không? Và dĩ nhiên, khi ngày càng thấu hiểu khoa học ấy, chúng ta có thể vận dụng nó như một hình thức nghệ thuật.

It's like a science is an art when it is intuitively wielded, when the knowledge is intuitively wielded. But that comes with familiarity, and right application, and will to serve, you know. Practice makes perfect, and we just get better at what we do.

Có thể nói khoa học trở thành nghệ thuật khi được vận dụng bằng trực giác, khi tri thức được vận dụng bằng trực giác. Nhưng điều đó đến cùng với sự quen thuộc, sự áp dụng đúng đắn và Ý Chí-Phụng sự, các bạn biết đấy. Luyện tập dẫn đến hoàn thiện, và chúng ta ngày càng làm tốt hơn những gì mình làm.

As we practice, we make our mistakes, we correct our mistakes, we try again, we keep on correcting, until our knowledge turns into an art. An art is not necessarily something less than a science. It's maybe an infallible intuitive application of the knowledge that the science reveals.

Khi thực hành, chúng ta phạm sai lầm, sửa sai, thử lại, tiếp tục sửa chữa, cho đến khi tri thức của mình trở thành nghệ thuật. Nghệ thuật không nhất thiết thấp hơn khoa học. Có lẽ đó là sự áp dụng bằng trực giác, không sai lầm, đối với tri thức mà khoa học hé lộ.

Somehow the great quest, and all the stages within it, are hinted in these paragraphs, and we learn a certain moderation and acquiescence to the system, so that we tread the path carefully, and according to the rules, and do not rush and avoid the pitfalls of carelessness. So, the focal points can be any center of energy, higher self, triad, master, various chakras. They are only steps upon the ladder whereby the expansions of consciousness are obtained.

Bằng cách nào đó, cuộc tìm kiếm vĩ đại cùng mọi giai đoạn trong đó được gợi ra trong những đoạn này; chúng ta học được một sự điều độ nhất định và sự thuận theo hệ thống, để bước trên Đường Đạo một cách cẩn trọng, theo đúng các quy luật, không hấp tấp và tránh những cạm bẫy của sự bất cẩn. Vì vậy, các tiêu điểm có thể là bất kỳ trung tâm năng lượng nào: chân ngã, Tam nguyên tinh thần, Chân sư, các luân xa khác nhau. Chúng chỉ là những nấc thang dẫn đến các sự mở rộng tâm thức.

And the man is enabled to extend the periphery. There's Jupiter, extending the periphery of his consciousness until he gradually embraces all. Now, admittedly, that's a very second-ray approach.

Và con người có thể mở rộng phạm vi ấy. Đó là Sao Mộc, mở rộng phạm vi tâm thức của y cho đến khi y dần bao trùm tất cả. Phải thừa nhận rằng đó là một cách tiếp cận rất đậm nét cung hai.

We're told that the second-ray type destroys the causal body through ever-greater inclusiveness, until he includes the entire entourage, as the Tibetan says. Everything around him, nothing's left out. He knows that all of it is part of the all-self, and even more authentically, each and every part, because of the indivisibility of the all-self, is the all-self.

Chúng ta được cho biết rằng người cung hai phá hủy thể nguyên nhân thông qua tính bao gồm ngày càng rộng lớn, cho đến khi y bao gồm toàn bộ những gì vây quanh, như Chân sư Tây Tạng nói. Mọi thứ quanh y, không có gì bị bỏ ngoài. Y biết rằng tất cả đều là phần của Đại Ngã Toàn Thể; và còn xác thực hơn nữa, mỗi một phần, do tính bất khả phân của Đại Ngã Toàn Thể, đều là Đại Ngã Toàn Thể.

And those are, strange paradoxical concepts, but you're looking upon a world divided by illusion. And although in the Maha Maya, the divisions are presented to our perception, there really is no division, no real division, and no separativeness. So we need that kind of a dual consciousness there, aware of the non-divisibility of every presentation to our consciousness, and also of the apparent divisibility—have to handle both.

Và đó là những khái niệm nghịch lý kỳ lạ, nhưng các bạn đang nhìn một thế giới bị ảo tưởng chia cắt. Mặc dù trong đại ảo lực, các sự phân chia hiện ra trước tri giác của chúng ta, thực sự không có sự phân chia, không có sự phân chia thực sự, và không có tính chia rẽ. Vì vậy, ở đây chúng ta cần một loại tâm thức kép như thế, nhận biết tính bất khả phân của mọi điều hiện ra trước tâm thức mình, đồng thời nhận biết tính khả phân bề ngoài — phải xử lý cả hai.

Both. We grow up through the handling of the apparent divisibility, but eventually underlying all of that apparent divisibility is the non-divisible. It's like the zero underlying the one.

Cả hai. Chúng ta trưởng thành thông qua việc xử lý tính khả phân bề ngoài, nhưng cuối cùng, bên dưới toàn bộ tính khả phân bề ngoài ấy là cái bất khả phân. Giống như số không nằm dưới số một.

As in the case with Blavatsky, we never know quite the scope that the Tibetan is indicating. You know, usually the all-self would be the universal self, the grand entirety in a universe, but here he puts a boundary on it and says, well, we're dealing with the Logos. For practical purposes, the all-self.

Cũng như trường hợp của Blavatsky, chúng ta không bao giờ biết rõ phạm vi mà Chân sư Tây Tạng muốn chỉ ra. Các bạn biết đấy, thông thường Đại Ngã Toàn Thể là Đại Ngã Vũ Trụ, toàn thể vĩ đại trong một vũ trụ, nhưng ở đây Ngài đặt một giới hạn và nói rằng chúng ta đang đề cập đến Thượng đế. Xét về mặt thực tiễn, đó là Đại Ngã Toàn Thể.

[26] For the sake of clarity and in order to satisfy the craving of the concrete mind for differentiation

[26] Để làm rõ và thoả mãn nhu cầu biến phân của trí cụ thể,

Feels like I have just been dealing with that subject.

Tôi có cảm giác mình vừa đề cập đến chủ đề ấy.

[27] these three departments are pictured as distinct and separated the one from the other, though having their points of contact. In reality—apart from the illusion that mind always sets up—

[27] ba ban này được mô tả như những ban riêng biệt, tách rời nhau, dù có những điểm tiếp xúc. Trong thực tế—ngoài ảo tưởng mà thể trí luôn dựng lên—

Through its native tendency towards perceived divisibility.

Thông qua khuynh hướng vốn có của nó hướng tới tính khả phân trong tri giác.

[28] the three are one, and the seven are but blended parts of one synthetic whole. They all interface and intermingle.

[28] ba là một, và bảy chỉ là những phần hoà hợp của một toàn thể tổng hợp. Tất cả đều tiếp nối và hoà quyện với nhau.

Interesting, though, about the concrete mind's craving for differentiation. Think about that. You know, people caught in revelatory yet intellectual illusion, proud of it for several lives, having abandoned the strictly emotional devotional approach, but it's a trap too.

Tuy nhiên, niềm khao khát biến phân của trí cụ thể thật đáng chú ý. Hãy suy ngẫm điều đó. Các bạn biết đấy, có những người mắc kẹt trong ảo tưởng mang tính mặc khải nhưng vẫn thuộc trí năng, tự hào về nó suốt nhiều kiếp sau khi đã từ bỏ cách tiếp cận thuần cảm xúc và sùng tín; nhưng đó cũng là một cái bẫy.

The mind slays the real because the real is non-divisible. But from another point of view, the mind can reveal the real and show where the illusions, the misinterpretations occur. The illusion that the mind always sets up.

Thể trí giết chết cái thực vì cái thực là bất khả phân. Nhưng từ một góc nhìn khác, thể trí có thể hé lộ cái thực và chỉ ra nơi các ảo tưởng, các sự diễn giải sai xuất hiện. Ảo tưởng mà thể trí luôn dựng lên.

There's something to think about. Lest we become too enamored of the mind, especially the dividing mind. Somewhere through the heart, you can look at anything, hear anything, and know it's all the same thing.

Đó là điều đáng suy ngẫm. Để chúng ta không quá say mê thể trí, đặc biệt là thể trí phân chia. Bằng cách nào đó, thông qua trái tim, các bạn có thể nhìn bất cứ điều gì, nghe bất cứ điều gì và biết rằng tất cả đều là cùng một điều.

As it's said in the Divine Pymander, the only one thing. I have to—I like some of these turns of phrase, to satisfy the craving of the concrete mind for differentiation. You ever wonder why everything has to be so divided and subdivided? But of course, when we study the Maha Maya, we've got to do that.

Như trong tác phẩm Pymander Thiêng Liêng có nói, điều duy nhất. Tôi phải — tôi thích một số cách diễn đạt này: đáp ứng niềm khao khát biến phân của trí cụ thể. Các bạn có bao giờ tự hỏi tại sao mọi thứ lại phải phân chia và chia nhỏ đến vậy không? Nhưng dĩ nhiên, khi nghiên cứu đại ảo lực, chúng ta phải làm thế.

Otherwise, we're not going to learn about—exactly about—the interactions within the Maha Maya. By Maha Maya, I basically mean the universe and all its apparent differentiations, any universe. So much of this is predicated upon the ongoingness of the Great Breath.

Nếu không, chúng ta sẽ không học được — một cách chính xác — về những tương tác trong đại ảo lực. Khi nói đại ảo lực, về căn bản tôi muốn nói đến vũ trụ và tất cả những sự biến phân bề ngoài của nó, bất kỳ vũ trụ nào. Rất nhiều điều ở đây dựa trên sự tiếp diễn của Hơi Thở Vĩ Đại.

From the stanzas of Dzyan—and maybe this came, from the libraries of Shambhala—I wonder how much a library card costs. Maybe everything, at least in terms of the personality. It'll cost you your whole personality to get a library card in the great library of Shambhala.

Từ những bài kệ Dzyan — và có lẽ điều này xuất phát từ các thư viện Shambhala — tôi tự hỏi một thẻ thư viện tốn bao nhiêu. Có lẽ là tất cả, ít nhất xét về phàm ngã. Các bạn sẽ phải trả bằng toàn bộ phàm ngã của mình để có được một thẻ thư viện trong thư viện vĩ đại của Shambhala.

[29] All the three departments are but necessary parts of one organisation over which the Lord of the World

[29] Cả ba ban chỉ là những bộ phận cần thiết của một tổ chức do Đức Chúa Tể Thế Giới cai quản.

. So we see differentiation, and we see the synthesis of it.

. Vì vậy, chúng ta thấy sự biến phân và thấy sự tổng hợp của nó.

[30] They are but the executives offices in which the business of our planet is handled, and each office is dependent upon the other offices, and all work in the closest collaboration.

[30] Các ban chỉ là những cơ quan điều hành xử lý công việc của hành tinh chúng ta, mỗi cơ quan đều phụ thuộc vào các cơ quan khác, và tất cả cùng hoạt động trong sự cộng tác chặt chẽ nhất.

I guess he tries to put it in language that will appeal to the businessman or to the intelligent thinker in the world of business. But it's nice to know how things are organized, even though the things that are organized aren't real in the ultimate sense. But we have to know how things are organized, otherwise why call the hierarchy of the society of organized and illumined minds? Notice the mental emphasis, the emphasis on light, and the emphasis on organization.

Tôi đoán Ngài cố diễn đạt bằng ngôn ngữ hấp dẫn giới doanh nhân hay những người tư duy thông minh trong thế giới kinh doanh. Nhưng thật tốt khi biết mọi thứ được tổ chức như thế nào, dù những thứ được tổ chức ấy không có thực theo nghĩa tối hậu. Tuy nhiên, chúng ta phải biết mọi thứ được tổ chức ra sao; nếu không, tại sao lại gọi Thánh đoàn là đoàn thể của những thể trí có tổ chức và được soi sáng? Hãy lưu ý sự nhấn mạnh vào trí tuệ, vào ánh sáng và vào tổ chức.

[31] The man who finds himself on one line has to remember that in time and before perfection is achieved

[31] Người thấy mình thuộc một đường phải nhớ rằng, theo thời gian và trước khi đạt đến sự hoàn thiện,

—that's the number four going upwards—

— đó là số bốn đi lên —

[32] he must realise the synthesis of the whole.

[32] y phải chứng nghiệm sự tổng hợp của toàn thể.

Maybe buddhic realization is the first, or at least, apprehension via pure reason. Technically the word realization occurs on the fifth sub-plane, coming from above of the atmic plane, but still you can use it in a general sense.

Có lẽ chứng nghiệm Bồ đề là bước đầu tiên, hoặc ít nhất là sự lĩnh hội thông qua lý trí thuần túy. Về mặt kỹ thuật, từ chứng nghiệm xuất hiện ở cõi phụ thứ năm của cõi atma, tính từ trên xuống, nhưng các bạn vẫn có thể dùng nó theo nghĩa chung.

[33] He must grasp it as a fact past all questioning and not just as a mental concept,

[33] Y phải nắm bắt điều ấy như một sự thật không còn gì để nghi vấn, chứ không chỉ như một quan niệm trí tuệ,

This is it. I assert the fact.

Chính là điều này. Tôi khẳng định sự thật.

I see the fact. The fact presents itself to me as real, not just I spout the word.

Tôi thấy sự thật. Sự thật tự hiện ra với tôi như điều có thực, chứ không chỉ là tôi tuôn ra lời nói ấy.

[34] and in his meditation there will eventually come a point when this realisation of the essential unity will be his and he will know himself as a fragment of a vaster whole.

[34] và trong việc tham thiền của y, cuối cùng sẽ đến một thời điểm khi y chứng nghiệm sự hợp nhất cốt yếu này và biết mình là một phần của một toàn thể rộng lớn hơn.

And I might say yet another step. He will know himself as the whole within every fragment, and he will know himself to be every fragment and the whole simultaneously. You know, it gets into Vedanta.

Và tôi có thể nói thêm một bước nữa. Y sẽ biết mình là toàn thể trong mỗi mảnh, và sẽ biết mình đồng thời là mỗi mảnh và toàn thể. Các bạn biết đấy, điều này đi vào triết học Vedanta.

Maybe it goes too far to be practical for most, but it does stimulate that heart apprehension of infuseption, I call it, which is the, perception of unity regardless of the number of differentiations also perceived within that unity. It's a way of solving in consciousness the contrast between the one and the many. And there's a lot of the third ray and second ray in that solution, and we do eventually have to solve it.

Có lẽ điều đó đi quá xa để có tính thực tiễn đối với phần lớn mọi người, nhưng nó kích thích sự lĩnh hội bằng trái tim ấy, mà tôi gọi là tri giác thấm nhập: sự tri giác về sự hợp nhất bất kể số lượng những sự biến phân cũng được nhận biết trong sự hợp nhất ấy. Đó là một cách giải quyết trong tâm thức sự tương phản giữa cái một và cái nhiều. Và trong lời giải ấy có rất nhiều yếu tố cung ba và cung hai; cuối cùng chúng ta thực sự phải giải quyết điều đó.

[35] In these three departments the method of approach to the Head of the Department is meditation, and the means whereby the student puts himself en rapport with the essential Life of that department (it is all a matter of terms) differ.

[35] Trong ba ban này, phương pháp tiếp cận Đấng đứng đầu Ban là tham thiền, còn những phương tiện giúp đạo sinh hoà điệu với Sự Sống cốt yếu của ban ấy (tất cả chỉ là vấn đề thuật ngữ) thì khác nhau.

The means differ.

Các phương tiện khác nhau.

[36] The life within the form manifests—as a result of meditation—in three different ways. The results of meditation as demonstrated in terms of character, if I may so express it, are really the same aspects of manifestation under different terms or conditions.

[36] Sự sống bên trong hình tướng biểu hiện—theo kết quả của tham thiền—theo ba cách khác nhau. Nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, những kết quả của tham thiền thể hiện qua tính cách thực sự là cùng những phương diện biểu hiện dưới các tên gọi hay điều kiện khác nhau.

Every time the number three is mentioned, I think green. The means differ.

Mỗi khi nhắc đến số ba, tôi nghĩ đến màu xanh lá cây. Các phương tiện khác nhau.

And we just have to be rock solid sure of the means we're going to use. Exactitude of knowledge is needed. Even though one realizes that the knowledge is only relative and basically maha-mayavic.

Và chúng ta phải chắc chắn vững như đá về những phương tiện mình sẽ sử dụng. Cần có tri thức chính xác. Dù người ta nhận ra rằng tri thức ấy chỉ tương đối và về căn bản thuộc đại ảo lực.

And how do we approach meditation? The possibilities inherent in meditation are seldom fully realized, but okay. Eventually we realize we have a great instrument at our disposal, and we can cultivate it. It's not just, close your eyes and drift off or, get a nice feeling or whatever.

Và chúng ta tiếp cận tham thiền như thế nào? Những khả năng vốn có trong tham thiền hiếm khi được nhận biết đầy đủ, nhưng cũng không sao. Cuối cùng, chúng ta nhận ra mình có một công cụ tuyệt vời để sử dụng, và có thể phát triển nó. Không chỉ là nhắm mắt rồi thả mình trôi đi, hoặc có một cảm giác dễ chịu, hay điều gì tương tự.

It's very exacting, the real meditation we're talking about here. And certain forms have to be used to make certain contexts.

Tham thiền thực sự mà chúng ta đang nói đến ở đây đòi hỏi sự chính xác rất cao. Và phải sử dụng những hình tướng nhất định để tạo lập những bối cảnh nhất định.

Certain forms have to be used to make reliably certain contexts. Now sometimes contexts just come out of the blue, but we want to make of this a science so that when we are entitled to set up some kind of rapport or even request, we use the right means. Reliably, efficiently.

Phải sử dụng những hình tướng nhất định để tạo lập một cách đáng tin cậy những bối cảnh nhất định. Đôi khi các bối cảnh xuất hiện bất ngờ, nhưng chúng ta muốn biến việc này thành một khoa học, để khi có đủ tư cách thiết lập một sự tương thông nào đó, hoặc thậm chí đưa ra một thỉnh cầu, chúng ta sử dụng đúng phương tiện. Một cách đáng tin cậy, hiệu quả.

so if I may so express it, we have the same aspects of manifestation under different terms or conditions. Let's see here.

Vì vậy, nếu tôi có thể diễn đạt như thế, chúng ta có cùng những phương diện biểu hiện dưới các thuật ngữ hay điều kiện khác nhau. Hãy xem ở đây.

The results of meditation as demonstrated in terms of character, if I may so express it, are really the same aspects of manifestation under different terms or conditions.

Những kết quả của tham thiền biểu hiện qua tính cách, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, thực ra cũng chính là những phương diện của sự biểu hiện, dưới những thuật ngữ hoặc điều kiện khác nhau.

When we get used to the relativity of the word and of speech, we will not make differentiations which prevent synthesis. There is such a thing as an articulated synthesis. It all is distinct and yet it's all together.

Khi quen với tính tương đối của từ ngữ và lời nói, chúng ta sẽ không tạo ra những sự biến phân cản trở sự tổng hợp. Có một sự tổng hợp trong đó các thành phần được phân định rõ. Tất cả đều riêng biệt, nhưng vẫn hợp thành một toàn thể.

And there is such a thing as a kind of a differentiation which stands as a wall, or many walls, against the possibility of perceiving synthesis and perceiving oneself as the synthesis. In the differentiation between the words as and with, there's quite a distinction. Now let me just see.

Và cũng có một kiểu biến phân dựng lên như một bức tường, hoặc nhiều bức tường, ngăn cản khả năng nhận thức sự tổng hợp và nhận thức bản thân mình là sự tổng hợp ấy. Giữa cách dùng từ “là” và “với” có một sự phân biệt khá rõ. Bây giờ, để tôi xem.

[37] Let me tabulate them for you:—

[37] Để Tôi liệt kê chúng cho các bạn:—

The same aspects of manifestation under different terms or conditions.

Cũng chính những phương diện của sự biểu hiện, dưới những thuật ngữ hoặc điều kiện khác nhau.

[38] Line of the Manu...Force, Strength, Power to rule.

[38] Đường của Đức Manu...Mãnh lực, Sức mạnh, Quyền năng cai quản. [Page 170]

I think, you've seen a very good example of that in the behavior of Nelson Mandela, chastened by 27, 28 years of incarceration, and extraordinary how he emerged. You see it in the line of Lincoln, you see it FDR, you see it in Churchill, all different characters, maybe some different rays, but the first ray line is the line of the Manu.

Tôi nghĩ các bạn đã thấy một ví dụ rất rõ về điều đó qua cách hành xử của Nelson Mandela, người đã được tôi luyện qua 27, 28 năm tù đày; cách ông bước ra khỏi cảnh ấy thật phi thường. Các bạn thấy điều đó nơi Lincoln, nơi FDR, nơi Churchill: những tính cách khác nhau, có lẽ thuộc những cung khác nhau, nhưng đường hướng cung một là đường hướng của Đức Manu.

They are heads of state and successful ones. Ataturk also. Force, strength, power to rule.

Họ là những nguyên thủ quốc gia thành công. Ataturk cũng vậy. Mãnh lực, sức mạnh, quyền năng cai quản.

They don't have to be dictators. They don't have to abuse their power. Because they are insecure, they don't have to force their way upon others.

Họ không nhất thiết phải là những nhà độc tài. Họ không nhất thiết phải lạm dụng quyền lực. Họ không cần vì cảm thấy bất an mà áp đặt ý muốn của mình lên người khác.

They are not totalitarian. They have a great humanity, and somehow maybe every one of them is a second-ray monad on some level, regardless of the first-ray soul. Not quite sure about Churchill.

Họ không theo chủ nghĩa toàn trị. Họ có lòng nhân ái sâu sắc, và có lẽ, theo một cách nào đó, ở một cấp độ nào đó, mỗi người trong số họ đều là chân thần cung hai, bất kể linh hồn thuộc cung một. Với Churchill thì tôi không chắc lắm.

I feel it with FDR. I feel it with Mandela. Well, clarification along those lines will come.

Tôi cảm nhận điều ấy nơi FDR. Tôi cảm nhận điều ấy nơi Mandela. Rồi sẽ có sự làm sáng tỏ theo những hướng đó.

[39] Line of the Bodhisattva...Magnetism, Attraction, Healing.

[39] Đường của Đức Bồ Tát...Từ điện, Thu hút, Chữa lành.

The Christ, the great exemplar of this. And let's remember Sanat Kumara, the greatest example of the teaching ray upon our planet.

Đức Christ là tấm gương vĩ đại về điều này. Và hãy nhớ đến Đức Sanat Kumara, tấm gương cao cả nhất của cung giáo huấn trên hành tinh chúng ta.

[40] Line of the Mahachohan...Electricity,

[40] Đường của Đức Mahachohan...Điện,

In its three aspects.

Trong ba phương diện của nó.

[41] Synthesis,

[41] Tổng hợp,

In its articulated aspect.

Trong phương diện có các thành phần được phân định rõ.

[42] Organisation.

[42] Tổ chức.

I want to say synthesis articulated, or differentiated.

Tôi muốn nói là sự tổng hợp có các thành phần được phân định, hay biến phân.

That's different from what I might call the homogeneous synthesis. Synthesis throughout articulation. Articulation in synthesis.

Điều đó khác với cái tôi có thể gọi là sự tổng hợp đồng nhất. Tổng hợp xuyên suốt sự phân định. Sự phân định trong tổng hợp.

It's the one and the many again, the many and the one. Interesting about electricity, there are so many varieties of it, but it does take the triangle, plus, minus, and the result in the central position, the form of neutral electricity. So, DK gives us different terms at different times, and these terms just give us different angles of vision, and the angles of vision expand our understanding.

Lại là cái một và cái nhiều, cái nhiều và cái một. Điều thú vị về điện là nó có rất nhiều dạng, nhưng quả thật nó tạo thành tam giác: dương, âm, và kết quả ở vị trí trung tâm, dưới dạng điện trung hòa. Vì vậy, Chân sư DK dùng những thuật ngữ khác nhau vào những lúc khác nhau; những thuật ngữ ấy cho chúng ta những góc nhìn khác nhau, và các góc nhìn mở rộng sự thấu hiểu của chúng ta.

[43] I seek here to point out that the effect in the life of the student of meditation on one of these three lines will be as enumerated above, though all of course coloured and modified by his personality ray, and by the point attained in evolution.

[43] Ở đây Tôi muốn chỉ ra rằng tác động của việc tham thiền theo một trong ba đường này lên đời sống của đạo sinh sẽ như đã liệt kê ở trên, dù dĩ nhiên tất cả đều nhuốm sắc thái và biến đổi theo cung phàm ngã của y và điểm y đạt tới trong tiến hoá.

Well, with Roosevelt, I feel first-ray soul, second-ray personality. I don't feel that with Churchill.

Với Roosevelt, tôi cảm nhận linh hồn cung một, phàm ngã cung hai. Tôi không cảm nhận như vậy nơi Churchill.

I find first-ray soul, fourth-ray personality. With Ataturk, not sure, but maybe more the seventh-ray personality, I guess, I could include on a lesser, to a lesser degree, Mannerheim, Marshall Mannerheim here in Finland, who basically saved his nation from takeover by the Soviets. First-ray, seventh-ray personality.

Tôi thấy linh hồn cung một, phàm ngã cung bốn. Với Ataturk thì không chắc, nhưng có lẽ thiên về phàm ngã cung bảy hơn. Tôi nghĩ cũng có thể đưa vào đây, ở mức độ thấp hơn, Mannerheim, Thống chế Mannerheim ở Phần Lan này, người về cơ bản đã cứu đất nước mình khỏi sự thôn tính của Liên Xô. Cung một, phàm ngã cung bảy.

First-ray soul, seventh-ray personality. When it comes to Mandela, I believe first-ray soul, second-ray personality. Seems like, the second or the fourth-ray always gets in there to soften, to sweeten, to humanize the application of the first ray.

Linh hồn cung một, phàm ngã cung bảy. Với Mandela, tôi tin là linh hồn cung một, phàm ngã cung hai. Dường như cung hai hoặc cung bốn luôn góp mặt để làm dịu, làm mềm mại và làm cho việc vận dụng cung một mang tính nhân ái hơn.

Churchill had powerful, I think, fourth-ray personality. I made a mistake. I crossed over Hitler and Churchill, the opponents, in my book, and I said Hitler, fourth-ray personality, but I think fourth-ray mind and sixth-ray personality.

Tôi nghĩ Churchill có phàm ngã cung bốn mạnh mẽ. Tôi đã nhầm. Trong sách của mình, tôi đã lẫn lộn giữa Hitler và Churchill, hai người đối địch, và nói Hitler có phàm ngã cung bốn, nhưng tôi nghĩ ông có thể trí cung bốn và phàm ngã cung sáu.

With his first-ray soul, sixth-ray personality. With Churchill, because he was such a great orator, and born in Sagittarius, I know sixth-ray was important, but I don't think it was his. It's got to be his, well, astral body, but not his personality.

Với linh hồn cung một, phàm ngã cung sáu của ông. Với Churchill, vì ông là một nhà hùng biện vĩ đại và sinh dưới dấu hiệu Nhân Mã, tôi biết cung sáu rất quan trọng, nhưng tôi không nghĩ đó là cung phàm ngã của ông. Hẳn đó là cung của thể cảm dục, chứ không phải của phàm ngã.

I think that's fourth-ray. Napoleon had the first-ray and the fourth-ray together, and I think in an earlier demonstration, Alexander the Great, whatever he turns into, had the first-ray and the fourth-ray again. First-ray soul, fourth-ray personality.

Tôi nghĩ phàm ngã ấy thuộc cung bốn. Napoleon có cung một và cung bốn kết hợp, và tôi nghĩ trong một biểu hiện trước đó, Alexander Đại đế, bất kể về sau ông trở thành ai, cũng có cung một và cung bốn. Linh hồn cung một, phàm ngã cung bốn.

And you get some, and Patton, well, I think the same. First-ray soul, maybe fourth-ray personality, makes tremendous warriors, you know. And in terms of the really popular leader, the first and second rays together can account for that.

Và có những người như Patton, tôi nghĩ cũng vậy. Linh hồn cung một, có lẽ phàm ngã cung bốn, tạo nên những chiến binh phi thường, các bạn biết đấy. Còn với một nhà lãnh đạo thực sự được quần chúng yêu mến, sự kết hợp giữa cung một và cung hai có thể giải thích điều đó.

Little, side journey, but that's how it goes with me these days.

Một chút đi lạc đề, nhưng dạo này tôi vẫn thường như thế.

[44] If you study the three words applied to the three lines you will find it very illuminating. (I seek not to enlarge the mental body but to train the intuition.)

[44] Nếu nghiên cứu ba từ áp dụng cho ba đường, các bạn sẽ thấy điều đó rất có tính soi sáng. (Tôi không tìm cách mở rộng thể trí mà nhằm rèn luyện trực giác.)

and illumination as he knows it.

Và sự soi sáng như Ngài hiểu.

The transcendental mind. Maybe that's the mind you get when you lose all your teeth. Anyway, this is interesting. It's not for the cultivation of the mental body. There's plenty of that in the teaching, but for his closer students to really train the intuition. If you study the three words, force, strength, power to rule.

Trí Tuệ Siêu Việt. Có lẽ đó là thể trí mà các bạn có được khi rụng hết răng. Dù sao, điều này cũng thú vị. Mục đích không phải là phát triển thể trí. Trong giáo huấn có rất nhiều điều phục vụ mục đích ấy, nhưng với những đạo sinh gần gũi hơn của Ngài, mục đích là thực sự huấn luyện trực giác. Nếu các bạn nghiên cứu ba từ: mãnh lực, sức mạnh, quyền năng cai quản.

Magnetism, attraction, healing. Electricity, synthesis, organization. I'm remembering also, I'm not sure if it's necessarily page 600 in Cosmic Fire, but there are these, the blending power, talks about the blending power of the third logos. Well, let's just go there, I think that'd be the way to do it, but there are some interesting words here. Third logos. Page 433.

Từ điện, thu hút, chữa lành. Điện, tổng hợp, tổ chức. Tôi cũng đang nhớ lại, không chắc có phải trang 600 trong Lửa Vũ Trụ hay không, nhưng có những từ này, quyền năng hòa hợp, nói về quyền năng hòa hợp của Thượng đế thứ ba. Chúng ta hãy đến đó, tôi nghĩ làm vậy là phù hợp, nhưng ở đây có vài từ thú vị. Thượng đế thứ ba. Trang 433.

And he,

Và Ngài,

The magical force of the seventh Logos

Mãnh lực huyền thuật của Thượng đế thứ bảy

The aggressive fire of the sixth Logos

Lửa tiến công của Thượng đế thứ sáu

Yeah? Let me, so you can see it. Magical, aggressive,

Đúng không? Để tôi cho các bạn thấy. Huyền thuật, tiến công,

The illuminating light of the fifth Logos

Ánh sáng soi sáng của Thượng đế thứ năm

The harmonising life of the fourth Logos

Sự sống hài hòa của Thượng đế thứ tư

The blending power of the third Logos

Quyền năng hòa hợp của Thượng đế thứ ba

The unifying heat of the second Logos

Nhiệt hợp nhất của Thượng đế thứ hai

The dynamic electricity of the first Logos

Điện năng động của Thượng đế thứ nhất

Very illuminating page, page 433 of A Treatise on Cosmic Fire. Now, going back to where we were, these words. Dynamic electricity, unifying heat, blending power.

Một trang đem lại rất nhiều sự soi sáng, trang 433 của Luận về Lửa Vũ Trụ. Bây giờ, trở lại chỗ chúng ta đang xem, những từ này: điện năng động, nhiệt hợp nhất, quyền năng hòa hợp.

Maybe different angles of vision than we are used to considering when considering these rays.

Có lẽ đó là những góc nhìn khác với những góc nhìn mà chúng ta quen dùng khi xem xét các cung này.

So, we have to study the three words, but I want to add to it, I want to add dynamic electricity. I want to add unifying heat. And I want to add, what do I want to add? Blending power.

Vì vậy, chúng ta phải nghiên cứu ba từ ấy, nhưng tôi muốn bổ sung thêm điện năng động. Tôi muốn bổ sung nhiệt hợp nhất. Và tôi muốn bổ sung, tôi muốn bổ sung gì nhỉ? Quyền năng hòa hợp.

I want to add blending power. How can you benefit, by learning these words? Just, they provide different angles of understanding. That's the thing about the third ray, you can look at things from every point on the sphere, and the vision of what you see will be different.

Tôi muốn bổ sung quyền năng hòa hợp. Các bạn có thể được lợi gì khi học những từ này? Chúng đem lại những góc độ thấu hiểu khác nhau. Đó là đặc điểm của cung ba: các bạn có thể nhìn sự vật từ mọi điểm trên khối cầu, và hình ảnh các bạn thấy sẽ khác nhau.

And then in all those points simultaneously, you will get a completed point of view, and you will be the all-seeing eye. Maybe you have to be within the thing you're looking at to be the all-seeing eye in the understanding of any energy center. All right, now I just have to check.

Rồi khi đồng thời nhìn từ tất cả những điểm ấy, các bạn sẽ có một quan điểm hoàn chỉnh và trở thành con mắt thấy tất cả. Có lẽ các bạn phải ở bên trong điều mình đang nhìn để trở thành con mắt thấy tất cả trong việc thấu hiểu bất kỳ trung tâm năng lượng nào. Bây giờ tôi chỉ cần kiểm tra.

Yes, we're okay. So,

Đúng, mọi thứ vẫn ổn. Vì vậy,

[45] These words demonstrate the law as working through the three groups, and the working out into active expression in the three worlds of the due following of the desired line.

[45] Những từ này biểu thị định luật hoạt động qua ba nhóm, và sự biểu hiện tích cực trong ba cõi giới khi đường mong muốn được tuân theo đúng đắn.

What's above, what's below.

Điều ở trên, điều ở dưới.

What's above, what's below. Both.

Điều ở trên, điều ở dưới. Cả hai.

[46] Each line has its specific forms whereby those results are achieved, and the time is coming when the rudiments of these forms (the first fundamental formulas)

[46] Mỗi đường có những hình thức riêng để đạt các kết quả ấy, và thời điểm đang đến khi những yếu tố sơ đẳng của các hình thức này (những công thức căn bản đầu tiên)

you know, how complex and variegated it is,

các bạn biết đấy, chúng phức tạp và đa dạng biết bao,

[47] will be given to students deemed ready and who have done the necessary preliminary work.

[47] sẽ được trao cho những đạo sinh được xem là sẵn sàng và đã thực hiện công việc chuẩn bị cần thiết.

No way to avoid the necessary preliminary work. No way.

Không có cách nào tránh công việc chuẩn bị cần thiết. Không có cách nào.

And if it seems too arduous, too rigorous, well, it only seems so. Because, as D.K. says rather dryly, the rewards of, well, cultism, mastering the ageless wisdom, are adequate. When, we as aspiring students think they're just fantastic, but D.K., it's a little tongue-in-cheek there.

Và nếu công việc ấy có vẻ quá gian nan, quá nghiêm ngặt, thì đó chỉ là vẻ ngoài. Bởi vì, như Chân sư DK nói khá khô khan, những phần thưởng của huyền bí học, của việc làm chủ Minh Triết Ngàn Đời, là tương xứng. Chúng ta, những đạo sinh chí nguyện, nghĩ những phần thưởng ấy thật tuyệt diệu, nhưng Chân sư DK có chút hài hước kín đáo ở đây.

Adequate to the effort spent. So all of this is trying to help us understand along which line, along which line we are approaching, and where we belong, basically. We have to be in the right place, in the right time, doing the right thing.

Tương xứng với nỗ lực đã bỏ ra. Vì vậy, tất cả những điều này đang cố giúp chúng ta hiểu mình tiếp cận theo đường hướng nào, và về cơ bản, mình thuộc về đâu. Chúng ta phải ở đúng nơi, đúng lúc, làm đúng việc.

Seems like that's kind of the law of the Manu, instead of barking up the wrong tree, you know. So here is a little bit about the line of the Manu, on page 170 here.

Dường như đó là một dạng định luật của Đức Manu, thay vì tìm kiếm sai chỗ, các bạn biết đấy. Vậy đây là đôi điều về đường hướng của Đức Manu, ở trang 170 này.

[48] We might here somewhat indicate the approximate method, and lay down certain rules which will serve to elucidate when the time comes.

[48] Ở đây chúng ta có thể phần nào phác hoạ phương pháp và nêu ra một số quy luật sẽ giúp làm sáng tỏ khi thời điểm đến.

This teacher is preparing the way for the future when further revelation will be given. He's doing that with the treatise on white magic, and, he's doing it here. He has to proceed from the general to the particular, and in this second presentation, he's giving a lot that is general.

Vị huấn sư này đang chuẩn bị con đường cho tương lai, khi có thêm sự mặc khải. Ngài làm điều đó trong Luận về Chánh Thuật, và cũng đang làm điều đó ở đây. Ngài phải đi từ tổng quát đến cụ thể, và trong lần trình bày thứ hai này, Ngài đưa ra rất nhiều điều mang tính tổng quát.

And maybe in this set of bridging treatises, he will simply continue to give what is general compared to the orally transmitted details.

Và có lẽ trong loạt khảo luận bắt cầu này, Ngài sẽ chỉ tiếp tục đưa ra những điều tổng quát, so với các chi tiết được truyền khẩu.

[49] This first line is specially the line of government, of racial, development,

[49] Đường thứ nhất này đặc biệt là đường cai quản, phát triển các giống dân,

maybe no common needs to be there,

có lẽ không cần dấu phẩy ở đó,

[50] of working in and with the matter of all forms on all the planes of human evolution. It is, as I have said before,

[50] hoạt động trong và với vật chất của mọi hình tướng trên tất cả các cõi tiến hoá của nhân loại. Như Tôi đã nói trước đây, đó là

you know, in discipleship, rather in The Destiny of the Nations,

các bạn biết đấy, trong Đường Đạo, đúng hơn là trong Vận Mệnh của Các Quốc Gia,

[51] the line of occultism.

[51] đường của huyền bí học.

The occultist, the first ray line, the line of the occultist, he gives it, second-ray mystic, third-ray magician, interesting, fourth-ray artist, fifth-ray scientist, sixth-ray, I think, devotee, and seventh-ray ritualist. So he differentiates between magic and ritualism, although obviously ritualism has plenty of magic in it, and the seventh-ray is considered the ray of magic, but in this particular chart, he differentiates. I believe it's in The Destiny of the Nations, Page 145:

Nhà huyền bí học, đường hướng cung một, đường hướng của nhà huyền bí học, Ngài trình bày như vậy; cung hai là nhà thần bí, cung ba là nhà huyền thuật, thú vị đấy, cung bốn là nghệ sĩ, cung năm là nhà khoa học, cung sáu, tôi nghĩ, là người sùng tín, và cung bảy là người thực hành nghi lễ. Vì vậy, Ngài phân biệt huyền thuật với việc thực hành nghi lễ, dù rõ ràng nghi lễ chứa rất nhiều huyền thuật, và cung bảy được xem là cung huyền thuật; nhưng trong bảng cụ thể này, Ngài phân biệt như vậy. Tôi tin là trong Vận Mệnh của Các Quốc Gia, trang 145:

Ray I — Force — Energy — Action — The Occultist.

Cung I — Mãnh lực — Năng lượng — Hành động — Nhà huyền bí học.

Ray II — Consciousness — Expansion — Initiation — The true Psychic.

Cung II — Tâm thức — Mở rộng — Điểm đạo — Nhà thông linh chân chính.

Not the mystic—the psychic.

Không phải nhà thần bí—nhà thông linh.

I am glad I looked at it to clarify that.

Tôi mừng vì đã xem lại để làm rõ điều đó.

Ray III — Adaptation — Development — Evolution — The Magician.

Cung III — Thích ứng — Phát triển — Tiến hoá — Nhà huyền thuật.

Ray IV — Vibration — Response — Expression — The Artist.

Cung IV — Rung động — Đáp ứng — Biểu hiện — Nghệ sĩ.

Ray V — Mentation — Knowledge — Science — The Scientist.

Cung V — Tư duy — Tri thức — Khoa học — Nhà khoa học.

Ray VI — Devotion — Abstraction — Idealism — The Devotee.

Cung VI — Sùng tín — Trừu xuất — Chủ nghĩa lý tưởng — Người sùng tín.

Ray VII — Incantation — Magic — Ritual — The Ritualist.

Cung VII — Niệm chú — Huyền thuật — Nghi lễ — Người thực hành nghi lễ.

Magic is included. First line, occultism.

Có cả huyền thuật trong đó. Đường hướng thứ nhất, huyền bí học.

[52] It emphasises the hierarchical method, it embodies the divine autocracy,

[52] Đường này nhấn mạnh phương pháp thứ bậc, thể hiện quyền cai trị tối cao thiêng liêng,

which is not, the same as being a selfish autocrat, as we have appearing these days on the world stage, not the same as the selfish autocrat.

điều này không giống với việc làm một nhà chuyên quyền ích kỷ như những người đang xuất hiện trên sân khấu thế giới ngày nay, không giống với nhà chuyên quyền ích kỷ.

[53] and it is the line whereby our solar Logos imposes His Will on men.

[53] và là đường mà qua đó Thái dương Thượng đế của chúng ta áp đặt Ý Chí của Ngài lên con người.

even though he is on the second ray predominantly.

dù Ngài chủ yếu thuộc cung hai.

[54] It is closely linked to the Lords of Karma,

[54] Đường này liên kết chặt chẽ với các Chúa Tể Nghiệp Quả,

maybe absolute sonship somehow leading to the cosmic, uh, logoic plane perhaps, or cosmic atmic.

có lẽ địa vị người con tuyệt đối bằng cách nào đó dẫn đến cõi Thượng đế vũ trụ, hoặc có lẽ cõi atma vũ trụ.

[55] and it is through the Manu's department that the Law of Cause and Effect is wielded.

[55] và chính qua ban của Đức Manu mà Định luật Nhân Quả được vận dụng.

Saturn and the Manu and the first ray.

Sao Thổ, Đức Manu và cung một.

Saturn has much of the first ray in it.

Sao Thổ chứa rất nhiều tính chất của cung một.

[56] The four Lords of Karma work closely with the Manu,

[56] Bốn Chúa Tể Nghiệp Quả làm việc chặt chẽ với Đức Manu,

the Maharajas, the four kings,

các vị Đại Vương, bốn vị vua,

[57] for They impose the Law, and He manipulates the forms of men, of continents, of races, and of nations so that that law may be duly worked out.

[57] vì Các Ngài áp đặt Định luật, còn [Page 171] Ngài vận dụng hình tướng của con người, các lục địa, giống dân và quốc gia để định luật ấy có thể được thực thi đúng đắn.

Notice how often the word manipulation is associated with first ray activities, not just third ray activities.

Hãy lưu ý từ “điều khiển” thường xuyên gắn với các hoạt động cung một đến mức nào, chứ không chỉ với các hoạt động cung ba.

Well, I suppose we all manipulate. We all arrange things. It's just a question of how it is done and for what purpose.

Tôi cho rằng tất cả chúng ta đều điều khiển. Tất cả chúng ta đều sắp xếp sự việc. Vấn đề chỉ là thực hiện như thế nào và nhằm mục đích gì.

It emphasizes the hierarchical method, divine autocracy, which in a way is ending with, well not ending, you can't say that, but peaking with Sanat Kumara, and of course it goes higher still with the planetary logos in its entirety and with the solar logos eventually. So the great will of the solar logos has to be authoritative, no matter what his ray may be.

Nó nhấn mạnh phương pháp thứ bậc, quyền cai trị tối cao thiêng liêng, theo một cách nào đó kết thúc ở—không, không phải kết thúc, không thể nói như vậy—mà đạt tới đỉnh cao nơi Đức Sanat Kumara; và tất nhiên còn lên cao hơn nữa với Đức Hành Tinh Thượng đế trong toàn thể của Ngài, và cuối cùng với Thái dương Thượng đế. Vì vậy, ý chí vĩ đại của Thái dương Thượng đế phải có thẩm quyền tối cao, bất kể Ngài thuộc cung nào.

In the next solar system, I believe it will be the first ray personality, but the soul will remain on the second ray. And karma has this very powerful ray one component, and the man who works with karma, okay, he's going to try, maybe we've been reading a lot in the books, and you know, this seems like old hat, but we have to be careful about that old hat, because it may mean that we've had too superficial an approach to what has been written, in fact that we have not paid attention when the Tibetan said, read my words more carefully.

Trong hệ mặt trời kế tiếp, tôi tin phàm ngã sẽ thuộc cung một, nhưng linh hồn vẫn thuộc cung hai. Và nghiệp quả có một thành phần cung một rất mạnh mẽ; còn người làm việc với nghiệp quả, y sẽ cố gắng—có lẽ chúng ta đã đọc rất nhiều trong sách, và các bạn biết đấy, điều này có vẻ đã quá quen thuộc, nhưng chúng ta phải cẩn thận với cảm giác quá quen thuộc ấy, vì nó có thể hàm ý rằng chúng ta đã tiếp cận quá hời hợt những điều được viết ra; thực ra, chúng ta đã không chú tâm khi Chân sư Tây Tạng nói: hãy đọc lời Tôi kỹ hơn.

[58] The man therefore who attempts through meditation

[58] Vì vậy, người cố gắng thông qua tham thiền

again a reminder, okay,

lại là một lời nhắc nhở,

[59] to contact these powers, to rise to union by these means, and to attain the consciousness of the Will aspect, works under set rules, rises from point to point under due forms, and broods ever on the Law and its workings.

[59] để tiếp xúc với các quyền năng này, vươn lên tới sự hợp nhất bằng những phương tiện ấy và đạt tâm thức của phương diện Ý Chí, sẽ hoạt động theo các quy luật đã định, vươn lên từ điểm này đến điểm khác theo các hình thức thích hợp, và luôn suy ngẫm về Định luật cùng sự vận hành của nó.

Is that your way? I mean, we all have to pay attention to law. And if we are on the seventh ray, we will also, but every ray has to pay attention to law, although some rays, ray types, are less skillful at it than others, or it happens later for them.

Đó có phải là cách của các bạn không? Ý tôi là tất cả chúng ta đều phải chú ý đến định luật. Và nếu thuộc cung bảy, chúng ta cũng sẽ làm vậy; nhưng mọi cung đều phải chú ý đến định luật, dù một số kiểu người thuộc các cung ít thành thạo việc ấy hơn những kiểu khác, hoặc điều đó đến với họ muộn hơn.

[60] He seeks to understand, he discriminates and studies;

[60] Y tìm cách thấu hiểu, phân biện và nghiên cứu;

note he studies,

hãy lưu ý rằng y nghiên cứu,

[61] he is occupied with the concrete and its place in the divine plan. He admits the fact of the indwelling life but concentrates primarily on its method and form of manifestation.

[61] y chuyên chú vào cái cụ thể và vị trí của nó trong Thiên Cơ. Y thừa nhận sự thật về sự sống nội tại, nhưng tập trung chủ yếu vào phương pháp và hình thức biểu hiện của sự sống ấy.

So clear, isn't it, what he's being saying, what he's saying here.

Những điều Ngài đang nói ở đây thật rõ ràng, phải không?

[62] The basic rules of expression and of government occupy his attention, and by studying the rules and laws, and by seeking to comprehend, he necessarily contacts the Ruler.

[62] Các quy luật căn bản của sự biểu hiện và cai quản thu hút sự chú ý của y, và nhờ nghiên cứu các quy luật, định luật, cũng như tìm cách thấu triệt, tất yếu y tiếp xúc với Đấng Cai Quản.

I suppose,

Tôi cho là vậy,

[63] From stage to stage he rises—from the ruler of the microcosm in the three worlds, to the group egoic and its focal point, a Master; from the ruler of the group he rises to the Manu, the Ruler of the department wherein he has his place, thence to the Ruler of the World, later to the Planetary Logos,

[63] Y vươn lên từ giai đoạn này đến giai đoạn khác—từ đấng cai quản tiểu thiên địa trong ba cõi giới, đến nhóm chân ngã và tiêu điểm của nhóm, một Chân sư; từ đấng cai quản nhóm, y vươn lên tới Đức Manu, Đấng Cai Quản ban mà y thuộc về, rồi tới Đấng Cai Quản Thế Giới, sau đó tới Đức Hành Tinh Thượng Đế,

Here is a really important differentiation.

Đây là một sự phân biệt thực sự quan trọng.

Note a vital differentiation between the Lord of the World and the Planetary Logos.

Hãy lưu ý sự phân biệt thiết yếu giữa Đức Chúa Tể Thế Giới và Đức Hành Tinh Thượng đế.

I mean, they certainly are, oh, sometimes considered to be the same being, and through emanation in a way they are, but the Sanat Kumara is definitely an extension of the Planetary Logos,

Ý tôi là đôi khi Các Ngài được xem là cùng một Đấng, và theo một cách nào đó, qua sự phát xạ thì đúng như vậy; nhưng Đức Sanat Kumara chắc chắn là một phần mở rộng của Đức Hành Tinh Thượng đế,

[64] and thence to the Solar Logos.

[64] và từ đó tới Thái dương Thượng đế.

So, there are many rulers through which, or in relation to which, he ascends.

Vì vậy, có nhiều đấng cai quản mà qua đó, hoặc trong mối liên hệ với Các Ngài, y tiến lên.

He seeks to understand, he discriminates and studies, third ray and second ray he uses, of course. Foster Bailey, on the first ray, he did plenty of studying, that's for sure. He admits the fact of the indwelling life, but concentrates primarily on its method and form.

Y tìm cách thấu hiểu, y phân biện và nghiên cứu; tất nhiên y vận dụng cung ba và cung hai. Foster Bailey, thuộc cung một, đã nghiên cứu rất nhiều, điều đó là chắc chắn. Y thừa nhận thực tại của sự sống nội tại, nhưng chủ yếu tập trung vào phương pháp và hình tướng của sự sống ấy.

Studying the rules and laws, he contacts the ruler, whatever the ruler may be of the particular sphere of activity in which he is temporarily working. It is good to see something a little more detailed about how these types work. Then we have the line of the Bodhisattva: a little more detail on how they ascend, because one day ascension will be ours; we too will ascend.

Khi nghiên cứu các quy luật và định luật, y tiếp xúc với đấng cai quản, dù đó là đấng cai quản nào của phạm vi hoạt động cụ thể mà y đang tạm thời làm việc trong đó. Thật hữu ích khi thấy thêm một chút chi tiết về cách những kiểu người này hoạt động. Rồi chúng ta có tuyến của Đức Bồ Tát: thêm một chút chi tiết về cách họ thăng lên, bởi một ngày kia sự thăng lên sẽ thuộc về chúng ta; chúng ta cũng sẽ thăng lên.

Let us look at the line of the Bodhisattva.

Chúng ta hãy xem tuyến của Đức Bồ Tát.

[65] This is the line of religion and of philosophy,

[65] Đây là đường của tôn giáo và triết học,

Considering philosophy as the love of wisdom.

Xét triết học là tình yêu minh triết.

[66] and of the development of the indwelling life.

[66] và của sự phát triển sự sống nội tại.

I don't. Anyway,

Tôi thì không. Dù sao đi nữa,

[67] It deals with consciousness within the form more than with the form itself. It is the line of least resistance for the many.

[67] Đường này bàn đến tâm thức bên trong hình tướng nhiều hơn là chính hình tướng. Đây là con đường ít trở ngại nhất đối với số đông.

and maybe this implies the present, oh, present second preponderance of second-ray monads.

và có lẽ điều này hàm ý sự chiếm ưu thế hiện nay của các chân thần cung hai.

[68] It embodies the wisdom aspect of the Logos, and is the line whereby His love is manifested in a predominant fashion. The solar system being in itself a direct expression of the Logos, and of His love aspect,

[68] Đường này thể hiện phương diện minh triết của Thượng đế, và là đường mà qua đó tình thương của Ngài biểu hiện nổi trội. Vì chính hệ mặt trời là sự biểu hiện trực tiếp của Thượng đế và phương diện bác ái của Ngài,

this, our present solar system,

hệ mặt trời hiện nay của chúng ta,

[69] all in manifestation is based upon it—love in rule, love abounding, love in activity,—

[69] nên tất cả những gì biểu hiện đều dựa trên phương diện ấy—tình thương trong sự cai quản, tình thương dồi dào, tình thương trong hoạt động,—

with first, second, and third ray, rule, first ray, abounding, expansion, second ray, activity, third ray.

tương ứng với cung một, cung hai và cung ba: sự cai quản, cung một; sự dồi dào, sự mở rộng, cung hai; hoạt động, cung ba.

[70] but in this second line the above manifestation is supreme, and will eventually absorb all the others.

[70] nhưng trong đường thứ hai này, sự biểu hiện nói trên là tối cao, và cuối cùng sẽ thu nhiếp tất cả những đường khác.

maybe via Neptune, our great second-ray monadic planet, a planet of synthesis.

có lẽ thông qua Sao Hải Vương, hành tinh chân thần cung hai vĩ đại của chúng ta, một hành tinh tổng hợp.

So, the life within the form. Consciousness within the form, rather than the form itself. Rule, love abounding, love in rule.

Vậy, sự sống bên trong hình tướng. Tâm thức bên trong hình tướng, thay vì chính hình tướng. Sự cai quản, tình thương dồi dào, tình thương trong sự cai quản.

It's amazing how he expresses the same thing in different ways. Love abounding, love in activity. Abounding, what a great word for the second ray.

Thật đáng kinh ngạc khi Ngài diễn đạt cùng một điều theo những cách khác nhau. Tình thương dồi dào, tình thương trong hoạt động. Dồi dào, thật là một từ tuyệt vời dành cho cung hai.

Rule, first ray. Also the seventh. But in this second line, the above manifestation is supreme, especially at this time, when our solar logos is working through a second-ray personality, which corresponds to his second-ray soul.

Sự cai quản, cung một. Cũng là cung bảy. Nhưng trong tuyến thứ hai này, sự biểu hiện nói trên là tối thượng, đặc biệt vào lúc này, khi Thái dương Thượng đế của chúng ta đang hoạt động qua một phàm ngã cung hai, tương ứng với linh hồn cung hai của Ngài.

And so, tremendous emphasis in this fifth solar system, the second major solar system, on the second ray, the line of the bodhisattva, the approach. Well, so many of us who are in the theosophical work and the Tibetans' work, we just love the occult philosophy, and we are teachers, healers, maybe the religious types, not given so much to care exactingly about the form, at least the outer form. Although, sometimes there's this inter-ashramic trading, and you're on loan to really learn something and help.

Và như vậy, trong hệ mặt trời thứ năm này, tức hệ mặt trời chính yếu thứ hai, có sự nhấn mạnh rất lớn vào cung hai, tuyến của Đức Bồ Tát, cách tiếp cận ấy. Rất nhiều người trong chúng ta đang tham gia công việc Thông Thiên Học và công việc của Chân sư Tây Tạng đều yêu thích triết học huyền bí, và chúng ta là những huấn sư, những người chữa lành, có lẽ thuộc kiểu người tôn giáo, không quá thiên về việc quan tâm tỉ mỉ đến hình tướng, ít nhất là hình tướng bên ngoài. Tuy nhiên, đôi khi có sự trao đổi giữa các ashram, và bạn được biệt phái để thực sự học hỏi điều gì đó và giúp đỡ.

Foster Bailey was obviously on loan to the second-ray ashram. I think Daniel Enten, who did such a great job with Agni Yoga, was on loan to the first-ray ashram, at least according to what he said about relating most to Kuthumi. It's a balancing factor, because one ray can't handle it all, and you need supplementals, so that a reasonable balance is preserved.

Foster Bailey rõ ràng đã được biệt phái đến ashram cung hai. Tôi nghĩ Daniel Enten, người đã làm rất tốt công việc với Agni Yoga, đã được biệt phái đến ashram cung một, ít nhất theo điều ông nói về việc có liên hệ mật thiết nhất với Chân sư Kuthumi. Đó là một yếu tố cân bằng, bởi một cung không thể đảm đương tất cả, và bạn cần những yếu tố bổ sung để duy trì một sự cân bằng hợp lý.

Well, maybe you'll find yourself ascending here, and maybe, let us think of Neptune as a great second-ray synthesizing planet. It may not belong to our solar system. I mean, that's an enigmatic thing, and his distance from the sun doesn't correspond to Bode's law of distances, but there are other ways.

Có lẽ bạn sẽ thấy mình thăng lên theo tuyến này, và có lẽ chúng ta hãy nghĩ về Sao Hải Vương như một hành tinh tổng hợp cung hai vĩ đại. Hành tinh này có thể không thuộc hệ mặt trời của chúng ta. Ý tôi là, đó là một điều bí ẩn, và khoảng cách của nó đến Mặt Trời không phù hợp với định luật khoảng cách của Bode, nhưng còn có những cách khác.

My teacher Charles Jayne used to say that we can account for Neptune's position. I couldn't follow it exactly, but he had some mathematical thing worked out. Hmm.

Huấn sư của tôi, Charles Jayne, từng nói rằng chúng ta có thể lý giải vị trí của Sao Hải Vương. Tôi không thể theo dõi chính xác, nhưng ông đã tìm ra một cách tính toán nào đó.

[71] The man who meditates on this line seeks ever

[71] Người tham thiền theo đường này luôn tìm cách

Now notice who meditates. This is all different modes of approach through meditation.

Bây giờ hãy lưu ý ai là người tham thiền. Tất cả đây đều là những phương thức tiếp cận khác nhau thông qua tham thiền.

That's what we're talking about here. Modes of approach to a great Lord and beyond through meditation. All the specifics that we need will be given.

Đó là điều chúng ta đang nói đến ở đây. Những phương thức tiếp cận một Chúa Tể vĩ đại và xa hơn nữa thông qua tham thiền. Mọi chi tiết cụ thể mà chúng ta cần đều sẽ được trao truyền.

Right now we need the foundation, and we need character, refinement. We need some pretty simple things, and constancy, and consistency, and reliability, and loyalty, and we need those things. And then when the time is right, the impartation of the practical methods will be given to us, whether from the master or, as I said earlier, from somehow soul impression or soul impartation, because the soul knows. The man who meditates on this line seeks ever

Ngay lúc này, chúng ta cần nền tảng, cần tính cách và sự tinh luyện. Chúng ta cần một số điều khá đơn giản, cần sự bền bỉ, nhất quán, đáng tin cậy và lòng trung thành; chúng ta cần những điều ấy. Rồi khi thời điểm thích hợp đến, chúng ta sẽ được trao truyền các phương pháp thực hành, hoặc từ Chân sư, hoặc, như tôi đã nói trước đây, bằng cách nào đó qua ấn tượng từ linh hồn hay sự trao truyền của linh hồn, bởi linh hồn biết. Người tham thiền theo tuyến này luôn tìm cách

[72] to enter into the consciousness of all that breathes, and by graded expansions of consciousness to arrive

[72] đi vào tâm thức của mọi sinh linh đang thở, và qua [Page 172] những lần mở rộng tâm thức theo cấp độ

I mean graded expansions of consciousness and initiations as the science of initiation is the teaching method of those upon the second ray from EP1. I'm paraphrasing.

Ý tôi là những sự mở rộng tâm thức theo từng cấp độ và các cuộc điểm đạo, vì khoa học điểm đạo là phương pháp giảng dạy của những vị thuộc cung hai, theo Tâm Lý Học Nội Môn, tập I. Tôi đang diễn ý.

and by graded expansions of consciousness

và qua những sự mở rộng tâm thức theo từng cấp độ

you know, which obviously that's what initiations are,

các bạn biết đấy, rõ ràng đó chính là các cuộc điểm đạo,

[73] to arrive eventually at the All-Consciousness,

[73] cuối cùng đạt đến Tâm Thức Toàn Thể,

He's, stopping with the Solar Logos, I think. When you use a word like all, it's pretty big, so. But being practical,

Tôi nghĩ Ngài dừng lại ở Thái dương Thượng đế. Khi bạn dùng một từ như “toàn thể”, phạm vi của nó khá lớn. Nhưng xét trên phương diện thực tiễn,

[74] and to enter into the life of the Supreme Being. Thus he enters into the life of all within the Logoic Consciousness.

[74] và đi vào sự sống của Đấng Tối Cao. Như vậy, y đi vào sự sống của tất cả những gì nằm trong Tâm Thức Thượng đế.

probably the Solar Logos.

có lẽ là Thái dương Thượng đế.

But of course, the universe is much bigger, as there are these beings to whom the Solar Logos is just as a crystal. But it doesn't pay, to go too far into the completely unverifiable. And there's much about the higher initiations, which can at least verify something concerning our Solar Logos.

Nhưng dĩ nhiên, vũ trụ lớn hơn nhiều, vì có những Sinh Mệnh mà đối với Các Ngài, Thái dương Thượng đế chỉ như một tinh thể. Tuy nhiên, đi quá xa vào những điều hoàn toàn không thể kiểm chứng thì chẳng ích gì. Và có nhiều điều về những cuộc điểm đạo cao hơn ít nhất có thể xác minh đôi chút liên quan đến Thái dương Thượng đế của chúng ta.

Entering into the consciousness of all that breathes. Maybe we've, as we practice identification, we can somewhat do that, and that's one of the reasons in one of our online classes, so to speak, that we study and practice methods of identification.

Đi vào tâm thức của tất cả những gì đang thở. Có lẽ khi thực hành đồng hoá, chúng ta có thể phần nào làm được điều đó, và đó là một trong những lý do khiến trong một lớp học trực tuyến của chúng ta, có thể nói như vậy, chúng ta nghiên cứu và thực hành các phương pháp đồng hoá.

Arriving at the all consciousness, and the supreme being here in this context, probably means the Solar Logos.

Đạt đến tâm thức toàn thể, và Đấng Tối Cao trong ngữ cảnh này có lẽ chỉ Thái dương Thượng đế.

[75] He broods not so much upon the Law as upon the life that is governed by that Law.

[75] Y suy ngẫm về sự sống do Định luật ấy cai quản nhiều hơn là về chính Định luật.

And what do we mean by life? You know, what do we mean by that? Maybe, maybe the inner God, the what we are within the form.

Và chúng ta muốn nói gì khi nói đến sự sống? Các bạn biết đấy, chúng ta muốn nói gì qua từ ấy? Có lẽ là Thượng đế bên trong, là điều mà chúng ta vốn là bên trong hình tướng.

[76] Through love he comprehends, and through love he blends himself first with his Ego, then with his Master, next with his group egoic and then with all groups, till finally he enters into the consciousness of the Deity Himself.

[76] Qua tình thương, y thấu triệt, và qua tình thương, y hoà nhập trước tiên với Chân ngã, rồi với Chân sư của mình, tiếp đến với nhóm chân ngã của mình, rồi với tất cả các nhóm, cho đến cuối cùng y đi vào tâm thức của chính Thượng đế.

All the Logos.

Toàn thể Thượng đế.

And maybe you'll wish I would just leave it all alone, and not worry about color. But this fourth ray thing in me, has to be expressed. So, is life governed by law? Or is law, as an expression of will, governed by life considered as being? It all depends on how we want to interpret words.

Và có lẽ các bạn mong tôi cứ để nguyên mọi thứ, không bận tâm về màu sắc. Nhưng yếu tố cung bốn này trong tôi phải được biểu lộ. Vậy, sự sống có chịu sự cai quản của định luật không? Hay định luật, với tư cách là biểu hiện của ý chí, chịu sự cai quản của sự sống được xem là bản thể? Tất cả phụ thuộc vào cách chúng ta muốn diễn giải các từ.

So, is this your line? Do you recognize anything here? When, in the beginning of the book, he, around, somewhere in there, 15, 16, 17, 18, he deals with the methods of breaking the causal body, and this sounds very much like the second ray method. Let's see here. I wonder if I can find that.

Vậy, đây có phải là tuyến của bạn không? Bạn có nhận ra điều gì ở đây không? Ở phần đầu cuốn sách, khoảng đâu đó trong các trang 15, 16, 17, 18, Ngài bàn đến những phương pháp phá vỡ thể nguyên nhân, và điều này nghe rất giống phương pháp cung hai. Hãy xem ở đây. Tôi tự hỏi liệu mình có tìm được đoạn ấy không.

The section below is about the third ray, associated with green.

Phần dưới nói về cung ba, liên hệ với màu xanh lá.

When the egoic ray is the second or the Love-Wisdom Ray, the path of least resistance lies along the line of expansion, of a gradual inclusion. It is not so much a driving forward

Khi cung chân ngã là cung hai hay Cung Bác Ái – Minh Triết, con đường ít trở ngại nhất nằm theo tuyến mở rộng, bao gồm dần dần. Đó không hẳn là sự thúc mạnh về phía trước

first ray,

cung một,

as it is a gradual expanding from an inner centre to include the entourage, the environment, the allied souls, and the affiliated groups of pupils under some one Master, until all are included in the consciousness. Carried to the point of achievement, this expansion results in the final shattering

mà là sự mở rộng dần dần từ một trung tâm bên trong để bao gồm những người chung quanh, môi trường, các linh hồn đồng minh và những nhóm môn sinh có liên hệ dưới sự hướng dẫn của một Chân sư nào đó, cho đến khi tất cả đều được bao gồm trong tâm thức. Khi đạt đến điểm thành tựu, sự mở rộng này dẫn đến sự phá vỡ cuối cùng

wobbling apart, I guess,

tôi đoán là rung chuyển rồi tan rã,

of the causal body at the fourth Initiation. In the first instance—achievement via the Power Ray—the driving forward and the forcing upward had a like result; the opened channel admitted the downflow of force or fire from the spirit and the causal body in time is equally destroyed.

của thể nguyên nhân ở lần điểm đạo thứ tư. Trong trường hợp thứ nhất—thành tựu qua Cung Quyền Năng—sự thúc mạnh về phía trước và sự cưỡng thúc đi lên cũng có kết quả tương tự; kênh đã mở cho phép mãnh lực hay lửa từ tinh thần tuôn xuống, và theo thời gian, thể nguyên nhân cũng bị huỷ diệt.

You can see why what we are studying reminded me of this section, pages 15–16.

Các bạn có thể thấy vì sao điều chúng ta đang nghiên cứu khiến tôi nhớ đến phần này, các trang 15–16.

The line of the Mahachohan.

Tuyến của Đức Mahachohan.

But okay, the line of the Maha Chohan.

Tuyến của Đức Mahachohan.

[77] This is the line of mind or intelligence,

[77] Đây là đường của trí tuệ hay trí thông minh,

Interesting that yellow is sometimes given as the color of the third ray monad, and not just the fourth ray.

Điều thú vị là đôi khi màu vàng được xem là màu của chân thần cung ba, chứ không chỉ cung bốn.

So yellow or green, green definitely on the third ray. Yellow having to do actually with third, fourth, and fifth ray, which gives me the hint that yellow is associated with mercury, and that mercury is associated with the third, fourth, and fifth rays.

Vậy, màu vàng hoặc xanh lá; màu xanh lá chắc chắn thuộc cung ba. Màu vàng thực ra liên quan đến cung ba, cung bốn và cung năm, điều này gợi cho tôi rằng màu vàng liên hệ với Sao Thủy, và Sao Thủy liên hệ với các cung ba, bốn và năm.

This is the line of mind or intelligence,

Đây là tuyến của trí tuệ hay trí thông minh,

[78] of knowledge and of science. It is the line of abstract mind, and of archetypal ideas.

[78] của tri thức và khoa học. Đây là đường của trí trừu tượng và các ý tưởng nguyên mẫu.

We're not dealing with concrete mind so much. The man is still brooding.

Chúng ta không đề cập nhiều đến trí cụ thể. Người ấy vẫn đang suy ngẫm.

[79] The man broods not so much upon the Law, not so much upon the Life, as upon the effects of both in manifestation, and upon the reason why.

[79] Con người suy ngẫm về những tác động của cả Định luật lẫn Sự Sống trong biểu hiện, và về nguyên do của chúng, nhiều hơn là về chính Định luật hay Sự Sống.

and upon the reason why in manifestation. So this is the ray of manifestation in a large and general sense. And how did it all come to manifest?

và về lý do tại sao trong sự biểu hiện. Vậy đây là cung của sự biểu hiện theo nghĩa rộng và tổng quát. Và tất cả đã đi đến biểu hiện như thế nào?

[80] The man on this fivefold line

[80] Người thuộc đường ngũ phân này

three, four, five, six, seven,

ba, bốn, năm, sáu, bảy,

[81] ever asks why, and how, and whence, and seeks to synthesise, to comprehend and to make the archetypes and ideals facts in manifestation.

[81] luôn hỏi tại sao, như thế nào, từ đâu, và tìm cách tổng hợp, thấu triệt, làm cho các nguyên mẫu và lý tưởng trở thành sự thật trong biểu hiện.

He really brings it down and through.

Y thực sự đưa chúng xuống và thể hiện ra.

[82] He broods on the ideals as he senses them; he aims at contacting the Universal Mind,

[82] Y suy ngẫm về các lý tưởng theo cách y cảm nhận chúng; y hướng tới việc tiếp xúc với Vũ Trụ Trí,

atma, but also the mind on the cosmic mental plane one day.

atma, nhưng một ngày kia cũng là trí tuệ trên cõi trí vũ trụ.

he aims at contacting the Universal Mind,

y hướng đến việc tiếp xúc với Vũ Trụ Trí,

[83] at wresting its secrets from it, and giving them expression.

[83] khám phá những bí mật của Vũ Trụ Trí và biểu hiện chúng. Đây là đường của

Einstein here, let us say. It is the line, I would say also,

Có thể nói Einstein là một ví dụ ở đây. Tôi cũng muốn nói, đó là tuyến của,

[84] business organisation, the line also in which the artists, musicians, scientists and the workers of the world have their place.

[84] việc tổ chức kinh doanh, cũng là đường dành cho các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà khoa học và những người hoạt động trên thế gian.

when you consider the subsidiary rays of ray three.

khi bạn xét đến những cung phụ thuộc cung ba.

[85] The Spirits of Love and Activity pass much time in each of its five departments before passing on to the lines of love and of power.

[85] Các Chân Linh của Bác Ái và Hoạt Động dành nhiều thời gian trong mỗi ban thuộc năm ban của đường này trước khi chuyển sang các đường bác ái và quyền năng.

The spirits, that's not used casually, or monads of love and activity pass much time in each of its departments, probably through expression on the personality, or maybe even, well, for the variety, we need the personality, for the more rapid changes, spend much time in the five departments before passing on to the lines of love and of power. Now, some of them do pass, and some of them do not, it appears. D.K. at one point tells us about the difference between those on the fourth ray who have moved to the second, and those who have stayed on the fourth ray.

Các tinh thần—từ ấy không được dùng một cách tuỳ tiện—hay các chân thần của tình thương và hoạt động dành nhiều thời gian trong mỗi phân bộ của tuyến này, có lẽ qua sự biểu hiện trên phàm ngã, hoặc có lẽ thậm chí… để có sự đa dạng và những thay đổi nhanh hơn, chúng ta cần phàm ngã; họ dành nhiều thời gian trong năm phân bộ trước khi chuyển sang các tuyến của tình thương và quyền năng. Có vẻ một số thực sự chuyển sang, còn một số thì không. Ở một chỗ, Chân sư DK cho chúng ta biết sự khác biệt giữa những người thuộc cung bốn đã chuyển sang cung hai và những người vẫn ở lại cung bốn.

Or maybe those upon the second ray, well, they have to come from somewhere, and those on the second ray who have been on the fourth ray. Not everybody passes to soul one or two, and not everybody passes to monad one or two, but everybody does pass eventually into the liberated monadic state of one, two, three. On the Logoic plane, at least that is how I see it.

Hoặc có lẽ những người thuộc cung hai—họ phải đến từ đâu đó—và những người thuộc cung hai từng ở trên cung bốn. Không phải ai cũng chuyển sang cung linh hồn một hay hai, và không phải ai cũng chuyển sang cung chân thần một hay hai, nhưng cuối cùng mọi người đều chuyển vào trạng thái chân thần đã giải thoát của các cung một, hai, ba. Trên cõi Thượng đế, ít nhất đó là cách tôi nhìn nhận.

One has to try to speculate intelligently about these things and then be corrected as time passes. So it's all about manifestation with this ray, with this line of approach. And it's not enough just to have the power to do something, or it's not enough to have the motivation through love to do something.

Chúng ta phải cố gắng suy đoán một cách sáng suốt về những điều này, rồi dần dần được điều chỉnh lại theo thời gian. Vậy, với cung này, với tuyến tiếp cận này, tất cả đều liên quan đến sự biểu hiện. Chỉ có quyền năng làm điều gì đó thì chưa đủ, hoặc chỉ có động lực từ tình thương để làm điều gì đó cũng chưa đủ.

It's necessary to have the ability to bring through. The word comprehend is here used. This man on the fivefold line, attribute and one ray of aspect, the third, seeks to make ideals, facts, and manifestation.

Cần có khả năng đưa điều ấy ra biểu hiện. Ở đây dùng từ “lĩnh hội”. Người thuộc tuyến ngũ phân này—các cung thuộc tính và một cung trạng thái, cung ba—tìm cách biến những lý tưởng thành những thực tại trong sự biểu hiện.

Others are satisfied just to know, and to impart what they know. Others demand that the manifestation occur. Which are you? Or, toward what is your emphasis? Notice brooding is found on both the ray lines, and intuition is needed.

Những người khác chỉ cần biết và truyền đạt điều họ biết là đã thoả mãn. Những người khác lại đòi hỏi sự biểu hiện phải xảy ra. Bạn thuộc kiểu nào? Hay bạn nhấn mạnh vào điều gì? Hãy lưu ý rằng sự suy ngẫm có trên cả hai tuyến cung, và trực giác là điều cần thiết.

Intuition is available to every ray line eventually. Some accepting it more readily, some deflecting it more readily, but eventually open to all. Giving, so expression is the key.

Cuối cùng, trực giác sẵn có cho mọi tuyến cung. Một số tiếp nhận dễ dàng hơn, một số gạt đi dễ dàng hơn, nhưng cuối cùng đều mở ra với tất cả. Trao ra, vậy sự biểu lộ là chìa khoá.

The will to express actually, the will to expression, is the seventh ray line of the will. But the third ray and the seventh ray are so closely related, as the major financial rays. And also they are said to give expression to the Jewish force, with its strong emphasis upon manifestation, because so much of it is coming from the previous major solar system, where manifestation, the outer form was the key thing.

Ý chí biểu lộ, thực ra ý chí hướng đến biểu lộ, là tuyến cung bảy của ý chí. Nhưng cung ba và cung bảy có liên hệ rất mật thiết, với tư cách là các cung tài chính chính yếu. Và người ta cũng nói rằng chúng biểu lộ mãnh lực Do Thái, với sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào biểu hiện, bởi rất nhiều yếu tố của mãnh lực ấy đến từ hệ mặt trời chính yếu trước, nơi sự biểu hiện, hình tướng bên ngoài, là điều then chốt.

You'll notice the subtlety here, when he says, the spirits of love and activity, he uses the word spirit, it means monad, I think. Pass much time on each of its five departments. How could you pass time? Except maybe through personality, or occasionally a change of egoic ray.

Các bạn sẽ nhận thấy sự tinh tế ở đây: khi Ngài nói “các tinh thần của tình thương và hoạt động”, Ngài dùng từ tinh thần; tôi nghĩ từ ấy có nghĩa là chân thần. Dành nhiều thời gian trong mỗi phân bộ thuộc năm phân bộ của tuyến này. Làm sao có thể dành thời gian? Có lẽ chỉ qua phàm ngã, hoặc đôi khi qua một sự thay đổi cung chân ngã.

Like if you change from the sixth to the second egoic ray, you would pass time in the department of religion and idealism, and also time in the department of unification, of cohesion. But of course, that would be a ray of aspect. So, maybe particularly the personality determines how a spirit of a certain kind... See, spirit and spiritual is contrasted with divine.

Chẳng hạn, nếu bạn chuyển từ cung chân ngã sáu sang cung chân ngã hai, bạn sẽ dành thời gian trong phân bộ tôn giáo và lý tưởng, đồng thời cũng dành thời gian trong phân bộ hợp nhất, cố kết. Nhưng dĩ nhiên, đó sẽ là một cung trạng thái. Vậy, có lẽ đặc biệt là phàm ngã quyết định cách một tinh thần thuộc một loại nào đó… Các bạn thấy đấy, tinh thần và tính chất tinh thần được đặt đối lập với tính chất thiêng liêng.

Sometimes spirit just does mean monad. Oftentimes spiritual takes us into the spiritual triad, but not into the monadic realm, whereas the divine does. It all depends on context.

Đôi khi tinh thần đơn giản có nghĩa là chân thần. Thường thì tính chất tinh thần đưa chúng ta vào Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng không vào lĩnh vực chân thần, trong khi tính chất thiêng liêng thì có. Tất cả phụ thuộc vào ngữ cảnh.

A word is a word, but can mean different things in different contexts.

Một từ vẫn là một từ, nhưng có thể mang những nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau.

[86] In meditation the man takes some ideal,

[86] Trong tham thiền, con người chọn một lý tưởng,

So let's remember here, rays six and three are closely related.

Vậy hãy nhớ ở đây rằng cung sáu và cung ba có liên hệ mật thiết.

This was one and two and two and four. So there's a lot of idealism on the third ray, especially when the sixth ray has been the means of being led to expression upon the third ray. Expression upon the third ray can also occur via the fourth ray.

Ở đây từng là cung một và cung hai, rồi cung hai và cung bốn. Vậy có rất nhiều tính lý tưởng trên cung ba, đặc biệt khi cung sáu là phương tiện dẫn đến sự biểu lộ trên cung ba. Sự biểu lộ trên cung ba cũng có thể xảy ra qua cung bốn.

And you would think via ray seven and ray five, but those apparently are rarer circumstances. Master R, though, took his initiates of what, second and third degree, onto the third ray with him from the seventh ray. And it says by special dispensation.

Và bạn hẳn sẽ nghĩ cũng có thể qua cung bảy và cung năm, nhưng dường như những trường hợp ấy hiếm hơn. Tuy nhiên, Chân sư R. đã đưa các điểm đạo đồ của Ngài—cấp độ nào nhỉ, thứ hai và thứ ba—từ cung bảy sang cung ba cùng với Ngài. Và sách nói rằng đó là theo một sự đặc miễn.

So we take some ideal,

Vậy chúng ta chọn một lý tưởng nào đó,

[87] some part of the divine plan, some phase of beauty and of art, some scientific or racial problem, and by brooding over it and by the employment of lower mind, finds out all that can be known and sensed.

[87] một phần của Thiên Cơ, một phương diện của cái đẹp và nghệ thuật, một vấn đề khoa học hay giống dân, rồi bằng cách suy ngẫm về điều ấy và sử dụng hạ trí, tìm ra tất cả những gì có thể biết và cảm nhận.

So, focusing on one of the rays of attribute here, the plan ray three, beauty ray four, science ray five, he doesn't deal with ray six and seven exactly, but of course if it's an ideal, it's ray six in a way. And he wants to inquire via ray five everything that can be known and sensed.

Vậy ở đây, tập trung vào một trong Các cung thuộc tính: Thiên Cơ, cung ba; cái đẹp, cung bốn; khoa học, cung năm. Ngài không đề cập cụ thể đến cung sáu và cung bảy, nhưng dĩ nhiên, nếu đó là một lý tưởng thì theo một cách nào đó, nó thuộc cung sáu. Và y muốn thông qua cung năm để tìm hiểu mọi điều có thể biết và cảm nhận được.

[88] Then, having done all that, he seeks to raise the consciousness still higher

[88] Sau khi đã làm tất cả những điều ấy, y tìm cách nâng tâm thức lên cao hơn nữa

and we might say from five to three,

và chúng ta có thể nói là từ cung năm lên cung ba,

[89] till he taps the source of illumination, and gains the light and information required.

[89] cho đến khi tiếp cận nguồn soi sáng, nhận được ánh sáng và thông tin [Page 173] cần thiết.

[90] He mounts likewise by entering into the consciousness of those greater than himself, not so much from the point of view of love (as in the second line) as from admiration and joy in their achievement,

[90] Y cũng vươn lên bằng cách đi vào tâm thức của những vị cao cả hơn mình, không hẳn từ góc độ tình thương (như trong đường thứ hai), mà từ lòng ngưỡng mộ và sự hoan hỉ trước thành tựu của các vị ấy,

Ray six, admiration, but not only ray six, admiration and joy, okay,

Cung sáu, sự ngưỡng mộ, nhưng không chỉ cung sáu; sự ngưỡng mộ và sự hoan hỉ,

[91] and gratitude for what they have given to the world,

[91] cùng lòng biết ơn về những gì các vị đã trao cho thế gian,

Gratitude. And Master Morya essentially says that with gratitude you have the best fires, and with gratitude so much can be accomplished. So they can assess what it has taken to do that, and they really want to aspire to be able to, in many cases, do the same.

Lòng biết ơn. Và về cơ bản, Chân sư Morya nói rằng với lòng biết ơn, bạn có những ngọn lửa tốt nhất, và với lòng biết ơn, có thể thành tựu rất nhiều điều. Vậy họ có thể đánh giá cần những gì để làm được điều ấy, và trong nhiều trường hợp, họ thực sự muốn khát vọng đạt khả năng làm được điều tương tự.

You might say, well, the Christ was the initiate Jesus's great ideal, we're told. And when we hear the stories of and Plato, and understand that Aristotle was the last student remaining in one of Plato's very long lectures, we understand that admiration that can occur. Obviously, Aristotle had much of the six ray, and well, I've seen it, people in mathematics, or the arts, or sciences having a great exemplar before them, an ideal that they try to fulfill.

Có thể nói, chúng ta được cho biết rằng Đức Christ là lý tưởng vĩ đại của điểm đạo đồ Jesus. Và khi nghe những câu chuyện về Plato, rồi hiểu rằng Aristotle là môn sinh cuối cùng còn ở lại trong một buổi giảng rất dài của Plato, chúng ta hiểu được sự ngưỡng mộ có thể nảy sinh như thế nào. Rõ ràng Aristotle có nhiều yếu tố cung sáu, và tôi đã thấy những người trong toán học, nghệ thuật hay khoa học có một tấm gương vĩ đại trước mắt, một lý tưởng mà họ cố gắng thực hiện.

They try to be like that person. So gratitude for what they have given to the world. This is, we're talking about, we're talking about the line of approach along the Maha Chohan's line,

Họ cố gắng trở nên giống người ấy. Vậy, lòng biết ơn về những gì Các Ngài đã trao cho thế giới. Ở đây, chúng ta đang nói về tuyến tiếp cận theo tuyến của Đức Mahachohan,

[92] and devotion to the same idea that impels them to action.

[92] và lòng sùng tín đối với cùng ý tưởng đã thúc đẩy các vị hành động.

So there we have ray six. We are speaking, oh sorry, of the method of approach of those upon the third line. Is this your line of approach? Is it some mixture where your sub-rays give you a real feeling for a line of approach which is secondary or ancillary to yours, but still significant? We're all approaching, and we have to know how we are approaching.

Vậy ở đó chúng ta có cung sáu. Xin lỗi, chúng ta đang nói về phương pháp tiếp cận của những người thuộc tuyến thứ ba. Đây có phải là tuyến tiếp cận của bạn không? Hay đó là một sự pha trộn nào đó, trong đó các cung phụ của bạn giúp bạn thực sự cảm nhận một tuyến tiếp cận thứ yếu hay bổ trợ cho tuyến của mình, nhưng vẫn có ý nghĩa? Tất cả chúng ta đều đang tiếp cận, và chúng ta phải biết mình đang tiếp cận như thế nào.

[93] Therefore you will see from even the most superficial study of the above three lines how apparent it is that all the sons of men are rising.

[93] Vì vậy, ngay cả khi chỉ nghiên cứu sơ lược nhất về ba đường trên, các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng tất cả những người con của nhân loại đều đang vươn lên.

even if they don't know it, and even if they're running into difficulty, and even if they're making mistakes whereby they will learn some often very hard lessons, they are rising, and you sense in your own life this rising. Every once in a while, you can break through into that sense of rising.

Ngay cả khi họ không biết điều đó, ngay cả khi họ gặp khó khăn, và ngay cả khi họ phạm những sai lầm mà qua đó họ sẽ học được những bài học thường rất khắc nghiệt, họ vẫn đang vươn lên, và bạn cảm nhận sự vươn lên này trong chính cuộc đời mình. Thỉnh thoảng, bạn có thể đột phá để chạm tới cảm giác vươn lên ấy.

There may be oppression for a long period of time, uncertainty, a clouded consciousness, and then suddenly, aha, well that feeling of the wind being at your back.

Có thể có sự đè nặng kéo dài, sự bất định, một tâm thức mờ mịt, rồi đột nhiên bạn chợt nhận ra, có cảm giác như gió đang đẩy mình tiến về phía trước.