← Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Lá Thư VI

Commentary LOM 37

Tóm lược chương

Trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, mantram là những tổ hợp âm thanh, từ ngữ hoặc cụm từ tạo ra kết quả nhờ nhịp điệu mà cách diễn đạt thông thường không thể tạo ra. Chúng không nhất thiết gồm những từ người nghe nhận biết được; việc xướng đúng cao độ, âm điệu và nhịp điệu là một phần của hiệu lực. Những hình thức mạnh chỉ được truyền khi đạo sinh đã được huấn luyện, thanh lọc và chứng tỏ năng lực cùng nhu cầu sử dụng; sự kiên trì làm theo chỉ dẫn cũng là một thử thách thực tế của địa vị đệ tử. Một loại mantram dựa hoàn toàn trên Linh từ Thiêng liêng, được hiểu ở đây có thể là OM; khi xướng theo nhịp điệu và âm điệu thích hợp, chúng có thể…


Commentary LOM 37

Tóm Tắt

Tóm tắt Webinar: Commentary LOM 37_edited

Bản chất và điều kiện sử dụng mantram

Trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, mantram là những tổ hợp âm thanh, từ ngữ hoặc cụm từ tạo ra kết quả nhờ nhịp điệu mà cách diễn đạt thông thường không thể tạo ra. Chúng không nhất thiết gồm những từ người nghe nhận biết được; việc xướng đúng cao độ, âm điệu và nhịp điệu là một phần của hiệu lực. Những hình thức mạnh chỉ được truyền khi đạo sinh đã được huấn luyện, thanh lọc và chứng tỏ năng lực cùng nhu cầu sử dụng; sự kiên trì làm theo chỉ dẫn cũng là một thử thách thực tế của địa vị đệ tử.

Mantram dựa trên Linh từ Thiêng liêng

Một loại mantram dựa hoàn toàn trên Linh từ Thiêng liêng, được hiểu ở đây có thể là OM; khi xướng theo nhịp điệu và âm điệu thích hợp, chúng có thể khẩn cầu các thiên thần bảo hộ và tạo ra hiệu quả bên ngoài hoặc bên trong. Chúng hiện được dùng nhiều hơn trong các truyền thống phương Đông, còn phương Tây sẽ dần tiếp nhận khi hiểu rõ hơn quyền năng của âm thanh. Theo cách diễn giải riêng của Thầy MDR, câu Om Mani Padme Hum có thể góp phần tạo nên “linh hồn kim cương”, nhưng cách sử dụng đầy đủ của câu này vẫn chưa được biết rõ. Một số mantram Sanskrit cổ có hiệu lực quá mạnh để phổ biến rộng rãi và chỉ được khẩu truyền trong quá trình chuẩn bị điểm đạo.

Ba mươi lăm mantram Sensa

Giáo lý được trích nêu 35 mantram bằng ngôn ngữ Sensa nguyên thủy, được các Đấng Chúa Tể của Lửa mang đến Trái Đất khi Thánh Đoàn được thành lập, khoảng 18 triệu năm trước. Chúng là chìa khóa mở những bí nhiệm của từng cõi phụ trên năm cõi thuộc tiến hóa nhân loại; chân sư chỉ được học cách dùng chúng tại nơi thích hợp và theo những điều kiện nhất định. Nhận định riêng của Thầy MDR liên hệ số 35 với các chu kỳ cung năm và địa vị chân sư đạt đến trên cõi atma; khả năng Sensa là ngôn ngữ của các Thái dương Thiên Thần chỉ được nêu như một giả thuyết. Giáo lý còn nói các mantram ở mọi ngôn ngữ đều có nguồn gốc xa xôi từ 35 mantram ấy, dù nay đã khác đến mức không thể dùng để suy ra nguyên bản.

Âm điệu, cõi giới và quyền năng tập thể

Mỗi cõi đáp ứng với một âm điệu và cao độ khác nhau: xướng đúng những từ nhất định có thể tác động đến chất liệu, khai thác dòng mãnh lực và đưa chân sư vào tâm thức của cõi cùng mọi sự hiện hữu trong đó. Theo cách lý giải được đề xuất, một điểm tập trung nhất tâm có thể mở lối vào vùng tâm thức tương ứng; vì vậy việc dùng âm thanh phải gắn với mục đích đúng đắn của Thiên Cơ, không phải sự thử nghiệm tùy tiện. Thánh Đoàn cùng xướng một số mantram Sensa trong những dịp trọng đại khi cần quyền năng hợp nhất; mỗi Giống dân gốc cũng có hợp âm mantram riêng mà những người phụ trách công việc liên quan đến giống dân ấy biết sử dụng. Các liên tưởng đến nghi lễ Wesak và đến vai trò sáng tạo của trung tâm cổ họng là phần bình luận nhằm làm rõ quy mô của việc phối hợp âm thanh.

Mantram liên lạc với Chân sư

Một số mantram Sanskrit được trao cho đệ tử để thu hút sự chú ý và cầu thỉnh trợ giúp của Chân sư; những công thức lớn hơn có thể hướng sự chú ý của ba Đấng Chúa Tể lớn đến một vấn đề cụ thể. Khi được xướng đúng, mantram tạo một khoảng chân không giống chiếc phễu giữa người xướng và đấng được liên lạc, hình thành kênh giao tiếp trực tiếp. Giai đoạn Đệ tử trên đường dây cũng thiết lập liên hệ hai chiều với Chân sư, nhưng theo nhận xét riêng của Thầy MDR, cách ấy có lẽ không mang tính kỹ thuật chính xác bằng những mantram được mô tả. Từ ngữ và âm điệu được giữ kín vì sử dụng bừa bãi có thể gây tai họa; đệ tử cần đạt mức tiến hóa và sự tương đồng rung động thích hợp, đồng thời không cầu viện Chân sư cho những việc mình có thể tự xử lý.

Liên lạc với các Hành Tinh Thượng đế

Bảy mantram chỉ các Đấng Chúa Tể lớn và những vị đứng đầu Thánh Đoàn biết cho phép các Ngài liên lạc với bảy Hành Tinh Thượng đế, tức Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. Một mantram liên lạc với Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất còn được các chân sư biết; mantram ấy dựa trên âm điệu của Trái Đất và chứa một cụm từ tóm lược tiến hóa của hành tinh. Âm điệu chính xác chưa được tiết lộ, nên việc gán nó cho một nốt nhạc cụ thể chỉ là suy đoán. Mỗi hành tinh cũng có âm điệu hoặc cụm từ để những đấng hướng dẫn của nó liên lạc với Hành Tinh Thượng đế tương ứng.

Nghi thức hằng năm và mối liên hệ vũ trụ

Bảy Hành Tinh Thượng đế có nghi thức để giao tiếp với Đấng Chúa Tể tam phân của hệ mặt trời, đều đặn bốn lần mỗi năm hoặc khi có nhu cầu khẩn cấp. Việc đồng nhất bốn thời điểm ấy với hai điểm chí và hai điểm phân là giả thuyết, không phải thời gian được văn bản xác nhận. Mỗi năm một lần, toàn thể Thánh Đoàn dùng một mantram tổng hợp, nối các thành viên thấp nhất với cao nhất rồi vươn qua bảy Hành Tinh Thượng đế đến Thái dương Thượng đế; đó là thời điểm nỗ lực tinh thần và tiếp sinh lực mãnh liệt nhất năm, với ảnh hưởng kéo dài suốt những tháng tiếp theo. Sự liên hệ của dịp này với lễ Wesak hoặc lễ Sư Tử–Sirius, cũng như việc xác định trung tâm vũ trụ được nhắc đến là Pleiades, đều được đặt dưới dạng khả năng.

Mantram của các Cung và nhóm chân ngã

Mỗi Cung có nhiều công thức và âm thanh riêng tác động lên những người thuộc Cung ấy. Ba tác dụng được nêu là chỉnh hợp họ với chân ngã, đưa họ tiếp xúc với Chân sư và qua đó với một Đấng Chúa Tể lớn, đồng thời liên kết họ với nhóm chân ngã thành một toàn thể cùng rung động theo một âm điệu. Mối liên hệ giữa các công thức ấy và hình học đặc trưng của từng Cung là một cách diễn giải; nhóm chân ngã có thể thuộc cõi thượng trí hoặc những cấp độ cao hơn. Các mantram này được gọi là bí nhiệm của “ba lần điểm đạo cuối”, nhưng phạm vi của cụm từ chưa rõ; khả năng đó là lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm được nêu vì đạo sinh vẫn có thể tham gia xướng dưới sự hướng dẫn của Chân sư.

Mantram tác động lên các thể và trung tâm

Một nhóm công thức được đạo sinh hát lên có tác động trực tiếp đến một trong ba thể của phàm ngã. Giáo lý nêu rằng dấu vết của chúng còn trong nghi thức tôn giáo ở nhiều nơi và trong mật khẩu Hội Tam Điểm, dù đã bị biến dạng hoặc gần như mất hiệu lực; khi các tổ chức ấy có người đứng đầu là điểm đạo đồ, những mantram cổ có thể được phục hồi nguyên dạng. Cách liên hệ Hội Tam Điểm với cung một, các giáo hội với cung hai và những tổ chức huyền bí học với cung ba, cũng như giả thuyết đây là các cung chân thần, là nhận định diễn giải riêng. Những mantram khác phục vụ trị liệu, phát triển năng lực thông linh và tác động lên các trung tâm để tăng rung động, tạo chuyển động bốn chiều hoặc tiếp sinh lực hoàn toàn; loại tác động lên lửa ẩn tàng đặc biệt cần được giữ kín.

Triển vọng thực hành và sự thận trọng

Khi thượng trí có ảnh hưởng lớn hơn đối với nhân loại, mantram huyền môn được truyền và xướng đúng có thể trở thành một phần thông thường của việc tham thiền. Trình tự được nêu gồm xướng mantram của Cung để xác lập vị trí trong hệ thống, dùng mantram liên lạc với Chân sư và Thánh Đoàn, rồi tham thiền khi các thể đã chỉnh hợp và kênh giao tiếp đã hình thành. Trước giai đoạn ấy, việc mải tìm hiểu vô số sách về mantram có thể làm người phụng sự lãng phí thời gian; sự vâng theo hướng dẫn, khiêm nhường, vô tư và phụng sự thiết thực quan trọng hơn việc theo đuổi quyền năng âm thanh.

Text LOM 37

AUGUST 20, 1920.

NGÀY 20 THÁNG 8 NĂM 1920.

Mantric forms.

Các hình thức mantram.

[1] We must today continue the discussion on the forms that will some day be in common use among the students of occult meditation. [2] We have touched upon three of the forms, and five more remain to be dealt with.

[1] Hôm nay, chúng ta phải tiếp tục bàn về những hình thức mà một ngày kia các đạo sinh thực hành tham thiền huyền môn sẽ sử dụng phổ biến. [2] Chúng ta đã đề cập đến ba hình thức, và còn năm hình thức nữa cần bàn đến.

[3] Mantric forms are collections of phrases, words, and sounds which by virtue of rhythmic effect achieve results that would not be possible apart from them. [4] These mantric forms are too numerous to study here; suffice it to indicate somewhat the types of mantrams there will be in use, or are now in use among those privileged to use them.

[3] Các hình thức mantram là những tập hợp gồm các cụm từ, từ ngữ và âm thanh, nhờ tác động của nhịp điệu mà tạo ra những kết quả không thể đạt được nếu thiếu chúng. [4] Những hình thức mantram này quá nhiều để nghiên cứu ở đây; chỉ cần nêu sơ lược những loại mantram sẽ được sử dụng, hoặc hiện đang được những người có đặc quyền sử dụng chúng vận dụng.

[5] There are mantric forms based entirely on the Sacred Word. [6] These, sounded rhythmically and on certain keys, accomplish certain results, such as the invoking of protective angels; they lead to certain effects, either objective or subjective. These forms or mantrams are much more in use among orientals and in the eastern faiths than at present among occidentals. As the power of sound is more completely understood and its effect studied, these mantrams will be adopted in the occident.

[5] Có những hình thức mantram hoàn toàn dựa trên Linh Từ Thiêng Liêng. [6] Khi được xướng theo nhịp điệu và ở những âm khóa nhất định, chúng tạo ra những kết quả nhất định, chẳng hạn như khẩn cầu các thiên thần bảo hộ; chúng dẫn đến những tác động nhất định, bên ngoài hoặc bên trong. Hiện nay, những hình thức hay mantram này được sử dụng ở phương Đông và trong các tín ngưỡng phương Đông nhiều hơn hẳn ở người phương Tây. Khi quyền năng của âm thanh được thấu hiểu đầy đủ hơn và tác động của nó được nghiên cứu, phương Tây sẽ tiếp nhận những mantram này.

[7] Some of them are very old and when enunciated in the original Sanskrit have unbelievably powerful effects. [8] So powerful are they that they are not permitted to be [Page 163] known by the ordinary student and are only orally imparted during preparation for initiation.

[7] Một số mantram rất cổ xưa và khi được phát âm bằng tiếng Phạn nguyên gốc, chúng có những tác động mạnh mẽ đến khó tin. [8] Chúng mạnh mẽ đến mức đạo sinh thông thường không được phép [Page 163] biết đến, và chúng chỉ được truyền miệng trong quá trình chuẩn bị cho điểm đạo.

[9] There are a few very esoteric mantrams that exist in the original Sensa, and that have remained in the knowledge of the Brotherhood from the early days of the founding of the Hierarchy. [10] They were brought by the Lords of Flame when They came to earth and are only thirty-five in number. They form the key that unlocks the mysteries of each subplane on the five planes of human evolution. [11] The adept receives instruction on their use, and can employ them in the right place and subject to certain conditions. [12] They are the most powerful known on our planet and their effects are far-reaching. [13] As each plane vibration responds to a different key and note, and its matter is manipulated, and its current tapped, by the sounding of certain words in a specific manner, and in a specific tone. When so sounded, the adept enters into the consciousness of that plane [14] and of all contained therein. [15] Mantrams in any tongue are founded on them, [16] even though so far removed and unlike as to be practically useless.

[9] Có một vài mantram mang tính nội môn rất sâu xa, tồn tại bằng tiếng Sensa nguyên gốc, mà Huynh đệ Đoàn vẫn lưu giữ tri thức về chúng từ những ngày đầu thành lập Thánh đoàn. [10] Các Đấng Chúa Tể Ngọn Lửa đã mang chúng đến khi Các Ngài đến Trái Đất, và chúng chỉ có ba mươi lăm mantram. Chúng tạo thành chìa khóa mở ra những huyền nhiệm của từng cõi phụ trên năm cõi tiến hoá của nhân loại. [11] Chân sư nhận được sự chỉ dẫn về cách sử dụng chúng, và có thể vận dụng chúng đúng nơi, theo những điều kiện nhất định. [12] Đây là những mantram mạnh mẽ nhất được biết đến trên hành tinh chúng ta, và tác động của chúng sâu rộng. [13] Vì rung động của mỗi cõi đáp ứng với một âm giai và âm điệu khác nhau, nên việc xướng những từ ngữ nhất định theo một cách thức và một âm sắc cụ thể có thể điều khiển vật chất của cõi ấy và khai thác dòng năng lượng của nó. Khi xướng như vậy, Chân sư đi vào tâm thức của cõi ấy [14] và của tất cả những gì chứa đựng trong đó. [15] Mantram trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều dựa trên chúng, [16] dù đã biến đổi xa đến mức khác biệt với nguyên gốc và gần như vô dụng.

[17] Certain of these original mantrams are chanted in unison by the Brotherhood on great occasions, or when the united power of the Lodge is required to effect desired ends. Great events are inaugurated by the sounding of their key note with appropriate words employed; each root-race has its mantric chord [18] known to those who work with races.

[17] Huynh đệ Đoàn đồng thanh xướng một số mantram nguyên gốc này vào những dịp trọng đại, hoặc khi cần đến quyền năng hợp nhất của Thánh đoàn để đạt những mục đích mong muốn. Những sự kiện lớn được khởi đầu bằng việc xướng chủ âm của chúng cùng với những từ ngữ thích hợp; mỗi giống dân gốc có hợp âm mantram riêng [18] mà những vị làm việc với các giống dân đều biết.

[19] Again there are, as certain mantrams in Sanskrit that are employed by students in meditation to call the attention of some one Master. These mantrams are communicated to Their disciples, and by their means the Master's attention is attracted, and His assistance called for. [Page 164]

[19] Ngoài ra, còn có những mantram nhất định bằng tiếng Phạn mà các đạo sinh sử dụng trong tham thiền để thu hút sự chú ý của một Chân sư nào đó. Các Ngài truyền những mantram này cho các đệ tử của mình; nhờ chúng, đệ tử thu hút sự chú ý của Chân sư và cầu xin Ngài trợ giúp. [Page 164]

[20] Other and greater formulas are sometimes imparted by which the three Great Lords may be contacted, and Their attention drawn in any specific direction.

[20] Đôi khi, những công thức khác mạnh mẽ hơn được truyền dạy, nhờ đó có thể tiếp xúc với ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại và hướng sự chú ý của Các Ngài theo một phương hướng cụ thể.

[21] A mantram, when rightly sounded forth, creates a vacuum in matter, resembling a funnel. [22] This funnel is formed betwixt the one who sounds it forth and the one who is reached by the sound. There is then formed a direct channel of communication. [23] You will see therefore why it is that these forms are so carefully guarded and the words and keys concealed. Their indiscriminate use would but result in disaster. A certain point in evolution has to be reached, and a similarity of vibration somewhat achieved, before the privilege [24] is afforded the pupil of being custodian of a mantram whereby he may call his Master.

[21] Khi được xướng đúng cách, một mantram tạo ra một khoảng chân không trong vật chất, giống như một cái phễu. [22] Phễu này hình thành giữa người xướng mantram và người mà âm thanh truyền đến. Khi ấy, một kênh giao tiếp trực tiếp hình thành. [23] Vì vậy, các bạn sẽ thấy tại sao những hình thức này được gìn giữ hết sức cẩn trọng, còn các từ ngữ và âm giai thì được giữ kín. Sử dụng chúng một cách bừa bãi chỉ dẫn đến tai họa. Môn sinh phải đạt đến một điểm tiến hoá nhất định và phần nào đạt được sự tương đồng về rung động trước khi có đặc quyền [24] lưu giữ một mantram mà nhờ đó y có thể triệu thỉnh Chân sư của mình.

[25] There are also seven mantrams that are known to the three Great Lords and the Heads of the Hierarchy, whereby They can call the seven Planetary Logoi, or the seven “Spirits before the Throne” as They are called in the Christian Bible. [26] One of these mantrams, which causes contact with the Logos of our planet, [27] is known to the adepts as well. [28] So the scale is mounted, and the Words are sounded forth, until we reach the mantram of our planet, which is based on the key of the Earth, and embodies a phrase which sums up our evolution. [29] Each planet has some such note or phrase whereby its guides may contact their Planetary Logos. [30] The seven Logoi in Their turn have Their available ritual or form whereby They can communicate with the threefold Lord of the Solar System. This is done always four times a year, or when urgent need arises.

[25] Ngoài ra, có bảy mantram mà ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại và các Vị Đứng Đầu Thánh đoàn biết đến, nhờ đó Các Ngài có thể triệu thỉnh bảy Đức Hành Tinh Thượng Đế, hay bảy “Thánh Linh trước Thánh Ngai”, như cách gọi Các Ngài trong Kinh Thánh Kitô giáo. [26] Một trong những mantram này, vốn tạo ra sự tiếp xúc với Thượng đế của hành tinh chúng ta, [27] cũng được các Chân sư biết đến. [28] Như vậy, từng bậc của thang âm được đi lên và các Linh từ được xướng lên, cho đến khi chúng ta đạt tới mantram của hành tinh mình, vốn dựa trên âm giai của Trái Đất và chứa đựng một cụm từ tóm lược sự tiến hoá của chúng ta. [29] Mỗi hành tinh đều có một âm điệu hay cụm từ tương tự, nhờ đó các vị hướng đạo của hành tinh ấy có thể tiếp xúc với Đức Hành Tinh Thượng Đế của mình. [30] Đến lượt mình, bảy Thượng đế có nghi thức hay hình thức sẵn dùng để Các Ngài có thể giao tiếp với Đấng Chúa Tể tam phân của hệ mặt trời. Việc này luôn được thực hiện bốn lần mỗi năm, hoặc khi có nhu cầu khẩn cấp.

[31] Once a year the entire Hierarchy employs a composite mantram that creates a vacuum between the highest and the lowest members of that Hierarchy and on up—via the seven Planetary Logoi—to the Logos Himself. [32] It marks [Page 165] the moment of intensest spiritual effort and vitalization during the year, and its effects last throughout the intervening months. [33] Its effect is cosmic, [34] and links us up with our cosmic center.

[31] Mỗi năm một lần, toàn thể Thánh đoàn sử dụng một mantram tổng hợp, tạo ra một khoảng chân không giữa những thành viên cao nhất và thấp nhất của Thánh đoàn ấy, rồi lên cao nữa—qua bảy Đức Hành Tinh Thượng Đế—đến chính Thượng đế. [32] Điều này đánh dấu [Page 165] thời điểm nỗ lực tinh thần và sự tiếp sinh lực mãnh liệt nhất trong năm, và tác động của nó kéo dài suốt những tháng cho đến lần kế tiếp. [33] Tác động của nó mang tính vũ trụ, [34] và nối kết chúng ta với trung tâm vũ trụ của mình.

[35] Ray mantrams. Each ray has its own formulas and sounds [36] which have a vital effect upon the units gathered on those rays. The effect of sounding it by the student of meditation is threefold:

[35] Các mantram cung. Mỗi cung có những công thức và âm thanh riêng [36] tác động mạnh mẽ đến sinh lực của những đơn vị quy tụ trên các cung ấy. Việc đạo sinh thực hành tham thiền xướng mantram này có tác động tam phân:

[37] 1. It links him and aligns him with his Higher self or Ego.

[37] 1. Nó nối kết và chỉnh hợp y với Bản Ngã Cao Siêu hay Chân ngã của y.

[38] 2. It puts him in contact with his Master, and through that Master with one of the great Lords,—dependent upon the ray.

[38] 2. Nó đưa y tiếp xúc với Chân sư của mình, và qua Chân sư ấy, với một trong các Đấng Chúa Tể Vĩ Đại—tùy theo cung.

[39] 3. It links him with his egoic group and binds all into one composite whole, vibrating to one note.

[39] 3. Nó nối kết y với nhóm chân ngã của y và gắn kết tất cả thành một toàn thể tổng hợp, rung động theo một âm điệu duy nhất.

[40] These mantrams are one of the secrets of the last three initiations and may not be sounded by the pupil before that time without permission, though he may participate at times in the chanting of the mantram under the Master's direction.

[40] Những mantram này là một trong các bí mật của ba lần điểm đạo cuối cùng; trước thời điểm ấy, môn sinh không được phép xướng chúng nếu chưa được cho phép, dù đôi khi y có thể tham gia xướng mantram dưới sự hướng dẫn của Chân sư.

[41] Mantrams, or formulas of words, sung by the pupil, which have direct effect on one of the three bodies. [42] These mantrams are largely already in use—though in a much distorted degree—in the services of the religious bodies in all lands. Some light on them is being communicated and will be more so in the ritual of the Church..........in the LCC [Liberal Catholic Church], and CWL is already laying a foundation for fuller knowledge. [43] The passwords as used in Masonry—though practically valueless now—based on the use of mantrams and some day when there is an Initiate Head to all these organizations (such as Masonry, various esoteric societies, and religious bodies) [44] the old mantrams will be given back in pure form to the peoples. [Page 166]

[41] Những mantram, hay công thức từ ngữ, do môn sinh xướng lên, có tác động trực tiếp lên một trong ba thể của phàm ngã. [42] Phần lớn những mantram này đã được sử dụng—dù đã biến dạng rất nhiều—trong các nghi lễ của những tổ chức tôn giáo ở mọi quốc gia. Một phần tri thức soi sáng về chúng đang được truyền đạt và sẽ được truyền đạt nhiều hơn trong nghi thức của Giáo hội..........trong LCC [Giáo hội Công giáo Tự do], và CWL đã đặt nền móng cho tri thức đầy đủ hơn. [43] Các mật khẩu dùng trong Hội Tam Điểm—dù hiện nay gần như không còn giá trị—đều dựa trên việc sử dụng mantram, và một ngày kia, khi có một Điểm đạo đồ đứng đầu tất cả những tổ chức này (như Hội Tam Điểm, các hội nội môn khác nhau và các tổ chức tôn giáo), [44] những mantram cổ xưa sẽ được trao lại cho các dân tộc dưới hình thức thuần khiết. [Page 166]

[45] There are also mantrams for use in healing, and for the development of certain psychic faculties. [46] Some mantrams have a direct effect on the centers of the body, and will later be used under the guidance of the Master for increasing vibration, for causing fourth dimensional movement, and for the complete vivification of the center.

[45] Cũng có những mantram dùng trong trị liệu và để phát triển một số năng lực thông linh. [46] Một số mantram có tác động trực tiếp lên các trung tâm của thân thể, và sau này sẽ được sử dụng dưới sự hướng dẫn của Chân sư để tăng cường rung động, tạo ra chuyển động trong chiều thứ tư và tiếp sinh lực hoàn toàn cho trung tâm.

[47] Still other mantrams act upon the hidden fire, but I will deal with them a little later. [48] There are numerous oriental books on the subject, which is so vast a one that I caution the student from investigating much. [49] It would but prove for the worker in the world a waste of time. [50] I have touched upon the matter because no book on meditation would be complete without a reference to what will some day supersede all preliminary meditation. When the race has reached a certain point of development, and when the higher mind holds greater sway, these occult mantrams—rightly imparted and rightly enunciated—will be part of the ordinary curriculum of the student. He will start his meditation by the use of his ray mantram, [51] thereby adjusting his position in the scheme; he will follow this with the mantram that calls his Master, and which puts him en rapport with the Hierarchy. Then he will begin to meditate with his bodies adjusted, and with the vacuum formed that may then be used as a medium of communication.

[47] Còn những mantram khác tác động lên lửa tiềm ẩn, nhưng Tôi sẽ bàn đến chúng sau đây một chút. [48] Có nhiều sách phương Đông viết về chủ đề này; chủ đề ấy rộng lớn đến mức Tôi khuyên đạo sinh không nên tìm hiểu quá nhiều. [49] Đối với người hoạt động trong thế gian, điều đó chỉ là lãng phí thời gian. [50] Tôi đã đề cập đến vấn đề này vì không một cuốn sách nào về tham thiền có thể trọn vẹn nếu không nhắc đến điều một ngày kia sẽ thay thế mọi thực hành tham thiền sơ bộ. Khi nhân loại đạt đến một trình độ phát triển nhất định, và khi Thượng trí có ảnh hưởng lớn hơn, những mantram huyền môn này—được truyền dạy đúng cách và phát âm đúng cách—sẽ là một phần trong chương trình học thông thường của đạo sinh. Y sẽ bắt đầu tham thiền bằng việc sử dụng mantram cung của mình, [51] qua đó điều chỉnh vị trí của mình trong hệ hành tinh; tiếp theo, y sẽ sử dụng mantram triệu thỉnh Chân sư của mình, đưa y vào sự giao cảm với Thánh đoàn. Sau đó, y sẽ bắt đầu tham thiền khi các thể của phàm ngã đã được điều chỉnh và khoảng chân không đã hình thành, để có thể dùng làm phương tiện giao tiếp.

Thư Về Tham thiền Huyền môn Chương trình 37

hi and good evening everyone. I'm continuing a bit here. We're dealing with forms in meditation and so far we have reviewed some more specific material about forms of meditation used for each personality vehicle, forms for the seven rays which are, it seems to suggest geometrical in nature, and forms for healing.

Xin chào và chúc mọi người một buổi tối tốt lành. Tôi xin tiếp tục thêm một chút ở đây. Chúng ta đang bàn đến các hình thức trong tham thiền, và cho đến nay, chúng ta đã xem lại một số nội dung cụ thể hơn về các hình thức tham thiền dùng cho từng hiện thể của phàm ngã, các hình thức dành cho bảy cung—dường như có bản chất hình học—và các hình thức dùng trong trị liệu.

Now we're going to continue with mantric forms. It's a rather long section and I probably cannot complete the whole of it right now. So it says,

Bây giờ, chúng ta sẽ tiếp tục với các hình thức mantram. Đây là một phần khá dài, và có lẽ tôi không thể hoàn tất toàn bộ ngay lúc này. Nội dung như sau:

[1] We must today continue the discussion on the forms that will some day be in common use among the students of occult meditation.

[1] Hôm nay, chúng ta phải tiếp tục bàn về những hình thức mà một ngày kia các đạo sinh thực hành tham thiền huyền môn sẽ sử dụng phổ biến.

Of course that is once there is or are adequate teachers of these forms. We really don't know what they are and they will only be offered to the student when he has proved his capacity along a number of lines.

Dĩ nhiên, điều đó chỉ xảy ra khi có những huấn sư đủ năng lực giảng dạy các hình thức này. Chúng ta thực sự chưa biết chúng là gì, và đạo sinh chỉ được truyền dạy khi y đã chứng tỏ năng lực của mình trên một số phương diện.

[2] We have touched upon three of the forms, and five more remain to be dealt with.

[2] Chúng ta đã đề cập đến ba hình thức, và còn năm hình thức nữa cần bàn đến.

So this is really quite an extensive section.

Vì vậy, đây thực sự là một phần khá rộng.

[3] Mantric forms are collections of phrases, words, and sounds which by virtue of rhythmic effect achieve results that would not be possible apart from them.

[3] Các hình thức mantram là những tập hợp gồm các cụm từ, từ ngữ và âm thanh, nhờ tác động của nhịp điệu mà tạo ra những kết quả không thể đạt được nếu thiếu chúng.

Okay, notice that they may not at all be words that we recognize.

Hãy lưu ý rằng chúng có thể hoàn toàn không phải là những từ ngữ mà chúng ta nhận biết.

Rather they may be sounds which are effective and they can be brought together in phrases as well as simply words. Maybe one of the most powerful of the Sanskrit mantras is the Om Mani Padme Hum which I think we hardly know how to use. Hail to the jewel in the lotus.

Thay vào đó, chúng có thể là những âm thanh có hiệu lực, và có thể kết hợp thành các cụm từ chứ không chỉ thành những từ riêng lẻ. Có lẽ một trong những mantram tiếng Phạn mạnh mẽ nhất là Om Mani Padme Hum, mà tôi nghĩ chúng ta hầu như chưa biết cách sử dụng. Kính lễ viên ngọc trong hoa sen.

And I think it eventually will produce what we call the diamond soul.

Và tôi nghĩ cuối cùng mantram ấy sẽ tạo ra điều mà chúng ta gọi là linh hồn kim cương.

[4] These mantric forms are too numerous to study here; suffice it to indicate somewhat the types of mantrams there will be in use, or are now in use among those privileged to use them.

[4] Những hình thức mantram này quá nhiều để nghiên cứu ở đây; chỉ cần nêu sơ lược những loại mantram sẽ được sử dụng, hoặc hiện đang được những người có đặc quyền sử dụng chúng vận dụng.

Special requirements make this privilege possible—or, let us say, fulfilling them. This study of occultism is not easy, and it is exacting. It demands obedience to that which the teacher has given.

Những yêu cầu đặc biệt khiến đặc ân này trở nên khả thi — hay nói đúng hơn, việc đáp ứng những yêu cầu ấy. Việc nghiên cứu huyền bí học này không dễ dàng và đòi hỏi rất nghiêm ngặt. Nó đòi hỏi sự tuân thủ những gì huấn sư đã truyền dạy.

The Tibetan gave excellent advice through letters to a number of his students and even so many of them did not continue to follow what he suggested. You might say that they gave up or they did not find fulfillment immediately or within the time frame they expected. They lost their courage to continue so that by the end of it all maybe there were eight students remaining who had adhered quite closely to the Tibetans advice.

Chân sư Tây Tạng đã đưa ra những lời khuyên tuyệt vời qua các bức thư gửi một số đạo sinh của Ngài, nhưng ngay cả như vậy, nhiều người trong số họ vẫn không tiếp tục làm theo những điều Ngài đề nghị. Có thể nói rằng họ đã bỏ cuộc, hoặc không tìm thấy sự thành tựu ngay lập tức hay trong khoảng thời gian họ mong đợi. Họ mất đi can đảm để tiếp tục, đến mức cuối cùng có lẽ chỉ còn tám đạo sinh đã tuân theo khá sát lời khuyên của Chân sư Tây Tạng.

[5] There are mantric forms based entirely on the Sacred Word.

[5] Có những hình thức mantram hoàn toàn dựa trên Linh Từ Thiêng Liêng.

We will not be given these forms, but they will be indicated at least.

Chúng ta sẽ không được truyền những hình thức này, nhưng ít nhất chúng cũng sẽ được chỉ ra.

Mantric forms based entirely on the sacred word we assume that word will be the OM.

Với những hình thức mantram hoàn toàn dựa trên Linh từ Thiêng Liêng, chúng ta cho rằng linh từ ấy sẽ là OM.

[6] These, sounded rhythmically and on certain keys, accomplish certain results, such as the invoking of protective angels; they lead to certain effects, either objective or subjective. These forms or mantrams are much more in use among orientals and in the eastern faiths than at present among occidentals. As the power of sound is more completely understood and its effect studied, these mantrams will be adopted in the occident.

[6] Khi được xướng theo nhịp điệu và ở những âm khóa nhất định, chúng tạo ra những kết quả nhất định, chẳng hạn như khẩn cầu các thiên thần bảo hộ; chúng dẫn đến những tác động nhất định, bên ngoài hoặc bên trong. Hiện nay, những hình thức hay mantram này được sử dụng ở phương Đông và trong các tín ngưỡng phương Đông nhiều hơn hẳn ở người phương Tây. Khi quyền năng của âm thanh được thấu hiểu đầy đủ hơn và tác động của nó được nghiên cứu, phương Tây sẽ tiếp nhận những mantram này.

It is such a fascinating subject.

Đây là một chủ đề hết sức hấp dẫn.

Well you know being a musician my attention is drawn to rhythm and key. There are a number of meters rhythms which we observe in music and certainly a choice in the tempered scale of some 12 different keys. So we have to understand as clearly as possible the nature of these various keys and we can't just sound them on any key.

Các bạn biết đấy, là một nhạc sĩ, tôi chú ý đến nhịp điệu và giọng. Trong âm nhạc, chúng ta nhận thấy có nhiều loại nhịp và tiết tấu, và chắc chắn trong thang âm bình quân có khoảng 12 giọng khác nhau để lựa chọn. Vì vậy, chúng ta phải thấu hiểu rõ nhất có thể bản chất của những giọng khác nhau này, và không thể tùy tiện xướng chúng ở bất kỳ giọng nào.

They have to be sounded on the appropriate key the key appropriate to the effect that they are meant to produce. Well we in the west will gradually see these forms adopted. Right now we are being made aware that they exist.

Phải xướng chúng ở giọng thích hợp, giọng phù hợp với tác động mà chúng nhằm tạo ra. Ở phương Tây, chúng ta sẽ dần thấy những hình thức này được tiếp nhận. Hiện giờ, chúng ta đang được cho biết rằng chúng tồn tại.

[7] Some of them are very old and when enunciated in the original Sanskrit have unbelievably powerful effects.

[7] Một số mantram rất cổ xưa và khi được phát âm bằng tiếng Phạn nguyên gốc, chúng có những tác động mạnh mẽ đến khó tin.

So I think DK is protecting us from the effects that perhaps we could not handle unless we are far better better educated and have gone through the necessary purification and empowerment.

Vì vậy, tôi nghĩ Chân sư DK đang bảo vệ chúng ta khỏi những tác động mà có lẽ chúng ta không thể ứng phó, trừ khi chúng ta được đào luyện tốt hơn nhiều và đã trải qua sự thanh luyện cùng sự trao quyền năng cần thiết.

[8] So powerful are they that they are not permitted to be known by the ordinary student and are only orally imparted during preparation for initiation.

[8] Chúng mạnh mẽ đến mức đạo sinh thông thường không được phép [Page 163] biết đến, và chúng chỉ được truyền miệng trong quá trình chuẩn bị cho điểm đạo.

and it may be that during initiation one has to utter them.

Và có thể trong cuộc điểm đạo, người ta phải xướng chúng.

Perhaps during initiation one must utter such mantrams at the appropriate moment. Well talk about power. The power of the word, the phrase, the sound. I'll just make note of that. We are speaking of the power of the word, or maybe the order in which you put them, the phrase, the word, the sound. So DK, Master DK, is not one given to exaggeration. These word forms exist. Master Morya talks about the word of death which cannot be released because it would lead to, I think He calls it, an impermissible fray, a battle using these kinds of powers. But still the story remains about Him at a campfire with another and from concealment a tiger leapt at them and He simply held up his hand, who knows what He uttered, but the tiger fell dead on the spot.

Có lẽ trong cuộc điểm đạo, người ta phải xướng những mantram như vậy vào đúng thời điểm thích hợp. Thật là quyền năng! Quyền năng của linh từ, của cụm từ, của âm thanh. Tôi chỉ ghi nhận điều đó. Chúng ta đang nói về quyền năng của linh từ, hoặc có lẽ về thứ tự sắp xếp chúng: cụm từ, linh từ, âm thanh. Chân sư DK không phải là người có khuynh hướng phóng đại. Những hình thức linh từ này thực sự tồn tại. Chân sư Morya nói về linh từ của sự chết, một linh từ không thể được phóng thích vì nó sẽ dẫn đến điều mà tôi nghĩ Ngài gọi là một cuộc giao tranh không thể cho phép, một trận chiến sử dụng những quyền năng như vậy. Tuy nhiên, vẫn có câu chuyện kể rằng khi Ngài cùng một người khác ngồi bên lửa trại, một con hổ từ chỗ ẩn nấp lao vào họ. Ngài chỉ giơ tay lên — ai biết Ngài đã xướng điều gì — nhưng con hổ ngã chết ngay tại chỗ.

We can understand how a morally undeveloped man might use such powers until proven. There are a few very esoteric mantrams—maybe we can talk about this as number two.

Chúng ta có thể thấu hiểu một người chưa phát triển về đạo đức có thể sử dụng những quyền năng như vậy ra sao khi chưa chứng tỏ được phẩm chất của mình. Có một vài mantram rất nội môn — có lẽ chúng ta có thể bàn về chúng như mục thứ hai.

We are not going to have any exact numbering here, but it will be enough to help us differentiate one from another.

Ở đây chúng ta sẽ không đánh số thật chính xác, nhưng như vậy cũng đủ giúp phân biệt loại này với loại khác.

[9] There are a few very esoteric mantrams that exist in the original Sensa, and that have remained in the knowledge of the Brotherhood from the early days of the founding of the Hierarchy.

[9] Có một vài mantram mang tính nội môn rất sâu xa, tồn tại bằng tiếng Sensa nguyên gốc, mà Huynh đệ Đoàn vẫn lưu giữ tri thức về chúng từ những ngày đầu thành lập Thánh đoàn.

18 million years. This idea that there are words of power applies not only to the human being, but words of power are used by great beings to effect their creative purposes, to bring about effect, not affect, but effect. So this is fascinating.

18 triệu năm. Ý tưởng rằng có những Quyền năng từ không chỉ áp dụng cho con người; các Sinh Mệnh vĩ đại cũng sử dụng những Quyền năng từ để thực hiện các mục đích sáng tạo của Các Ngài, để tạo ra kết quả — không chỉ gây ảnh hưởng, mà thực sự tạo ra kết quả. Điều này thật hấp dẫn.

It's apparently an ideographic language and the images within it sound. They radiate sound and light and color. But anyway, we're talking about mantrams, millions of years old, or at least in the use of the hierarchy for millions of years, 18 million years.

Dường như đó là một ngôn ngữ tượng hình, và những hình ảnh trong đó phát ra âm thanh. Chúng tỏa ra âm thanh, ánh sáng và màu sắc. Dù sao, chúng ta đang nói về những mantram có tuổi đời hàng triệu năm, hoặc ít nhất đã được Thánh đoàn sử dụng suốt hàng triệu năm, 18 triệu năm.

The Lords of the Flame came at that time, the solar Angels earlier.

Các Chúa Tể của Ngọn Lửa đã đến vào thời điểm ấy, còn các Thái dương Thiên Thần thì đến sớm hơn.

[10] They were brought by the Lords of Flame when They came to earth and are only thirty-five in number. They form the key that unlocks the mysteries of each subplane on the five planes of human evolution.

[10] Các Đấng Chúa Tể Ngọn Lửa đã mang chúng đến khi Các Ngài đến Trái Đất, và chúng chỉ có ba mươi lăm mantram. Chúng tạo thành chìa khóa mở ra những huyền nhiệm của từng cõi phụ trên năm cõi tiến hoá của nhân loại.

So this is dealing with the planes of Brahma up to and through the atmic plane, but apparently not involving the monadic and the lord plane. Now that number 35 is very important. And what can we say about it? The number 35 is most important.

Như vậy, điều này đề cập đến các cõi của Brahma, lên đến và bao gồm cả cõi atma, nhưng dường như không bao gồm cõi chân thần và cõi của Chúa Tể. Con số 35 này rất quan trọng. Và chúng ta có thể nói gì về nó? Con số 35 có tầm quan trọng đặc biệt.

It is associated with the fifth ray cycles, and also with mastership, which consummates on the atmic plane.

Nó gắn với các chu kỳ cung năm, và cả với địa vị Chân sư, vốn đạt đến sự viên mãn trên cõi atma.

[11] The adept receives instruction on their use, and can employ them in the right place and subject to certain conditions.

[11] Chân sư nhận được sự chỉ dẫn về cách sử dụng chúng, và có thể vận dụng chúng đúng nơi, theo những điều kiện nhất định.

And when he says only 35, we can imagine the proliferation of these various kinds of mantrams. No wonder He tells us there are too many to go into at this time, nor do we need them. We're always being tested, and we have to show our worthiness to receive these and the need to do so. These powerful words of power are not given unless there is a need for them.

Và khi Ngài nói chỉ có 35, chúng ta có thể hình dung sự sinh sôi đa dạng của những loại mantram khác nhau này. Không có gì lạ khi Ngài bảo chúng ta rằng chúng quá nhiều để đi sâu vào lúc này, và chúng ta cũng không cần đến chúng. Chúng ta luôn được thử thách, và phải chứng tỏ mình xứng đáng nhận chúng cũng như có nhu cầu nhận chúng. Những Quyền năng từ mạnh mẽ này không được truyền trao nếu không có nhu cầu sử dụng.

So the right place at the right time and every subplane has its own type of phenomena, and the word will unlock, or the mantram, whatever it may be, will unlock the ability to work on that particular subplane.

Vì vậy, phải đúng nơi, đúng lúc; mỗi cõi phụ đều có loại hiện tượng riêng, và linh từ hay mantram, dù là gì, cũng sẽ khai mở khả năng hoạt động trên cõi phụ cụ thể ấy.

[12] They are the most powerful known on our planet and their effects are far-reaching.

[12] Đây là những mantram mạnh mẽ nhất được biết đến trên hành tinh chúng ta, và tác động của chúng sâu rộng.

Again, we are playing with fire, aren't we? And of course, the word play indicates caution. We can't really play. We have to use appropriately at the right time for the right purpose, and according to need in regard to the plan.

Một lần nữa, chúng ta đang đùa với lửa, phải không? Và tất nhiên, từ “đùa” nhắc chúng ta phải thận trọng. Chúng ta thực sự không thể đùa được. Chúng ta phải sử dụng chúng một cách thích hợp, đúng lúc, đúng mục đích và theo nhu cầu liên quan đến Thiên Cơ.

[13] As each plane vibration responds to a different key and note, and its matter is manipulated, and its current tapped, by the sounding of certain words in a specific manner, and in a specific tone. When so sounded, the adept enters into the consciousness of that plane

[13] Vì rung động của mỗi cõi đáp ứng với một âm giai và âm điệu khác nhau, nên việc xướng những từ ngữ nhất định theo một cách thức và một âm sắc cụ thể có thể điều khiển vật chất của cõi ấy và khai thác dòng năng lượng của nó. Khi xướng như vậy, Chân sư đi vào tâm thức của cõi ấy

A point of tension releases us into the consciousness of that planar area to which the point gives access. Then we can operate upon and within that plane or subplane. When so sounded, the adept enters into the consciousness of that plane

Một điểm tập trung nhất tâm giải phóng chúng ta để đi vào tâm thức của khu vực trên cõi mà điểm ấy mở lối tiếp cận. Khi đó, chúng ta có thể tác động lên và hoạt động trong cõi hoặc cõi phụ ấy. Khi xướng như vậy, Chân sư đi vào tâm thức của cõi ấy

[14] and of all contained therein.

[14] và của tất cả những gì chứa đựng trong đó.

So there is power over the contents of a subplane or plane.

Như vậy, có quyền năng đối với những gì chứa trong một cõi phụ hay một cõi.

[15] Mantrams in any tongue are founded on them,

[15] Mantram trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều dựa trên chúng,

these 35,

ba mươi lăm mantram này,

[16] even though so far removed and unlike as to be practically useless.

[16] dù đã biến đổi xa đến mức khác biệt với nguyên gốc và gần như vô dụng.

So these really are the secrets of initiation, and we have to know, I think, something about music and true vibration. We have to know what is a real A or a C. Those are two notes that seem to begin the scales which we most generally use, the A and the C. The orchestra tunes itself to an A, interestingly a kind of fifth ray note, but we don't have certainty about the exact vibration of the proper A, the A that fits into the system of vibration which is here referenced. Well, one day we will.

Vì vậy, đây thực sự là những bí mật của điểm đạo, và tôi nghĩ chúng ta phải biết đôi điều về âm nhạc và rung động chân thực. Chúng ta phải biết thế nào là một nốt La hay nốt Đô thực sự. Đó là hai nốt dường như mở đầu những thang âm chúng ta thường dùng nhất, La và Đô. Dàn nhạc chỉnh âm theo nốt La — thú vị thay, đó là một loại âm điệu của cung năm — nhưng chúng ta chưa biết chắc rung động chính xác của nốt La đúng chuẩn, nốt La phù hợp với hệ thống rung động đang được đề cập ở đây. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ biết.

So we have to be able to hold a note in a certain key on a certain word or sound or maybe sing or enunciate the whole chant, the whole phrase on that note and in that key. So this is hugely consciousness expanding and power expanding. The Sensa mantrams.

Vì vậy, chúng ta phải có khả năng giữ một nốt ở một giọng nhất định khi xướng một linh từ hay âm thanh nhất định, hoặc có lẽ hát hay phát âm toàn bộ bài tụng, toàn bộ cụm từ trên nốt ấy và trong giọng ấy. Điều này mở rộng tâm thức và quyền năng vô cùng lớn lao. Những mantram Sensa.

I guess, all he can do is indicate. He cannot responsibly give us an example.

Tôi đoán tất cả những gì Ngài có thể làm là chỉ ra chúng. Với trách nhiệm của mình, Ngài không thể cho chúng ta một ví dụ.

[17] Certain of these original mantrams are chanted in unison by the Brotherhood on great occasions, or when the united power of the Lodge is required to effect desired ends. Great events are inaugurated by the sounding of their key note with appropriate words employed; each root-race has its mantric chord

[17] Huynh đệ Đoàn đồng thanh xướng một số mantram nguyên gốc này vào những dịp trọng đại, hoặc khi cần đến quyền năng hợp nhất của Thánh đoàn để đạt những mục đích mong muốn. Những sự kiện lớn được khởi đầu bằng việc xướng chủ âm của chúng cùng với những từ ngữ thích hợp; mỗi giống dân gốc có hợp âm mantram riêng

You know, that's at least three notes a chord

Các bạn biết đấy, một hợp âm có ít nhất ba nốt.

[18] known to those who work with races.

[18] mà những vị làm việc với các giống dân đều biết.

So again, we receive what we need according to the work assigned and not just to know these things.

Vì vậy, một lần nữa, chúng ta nhận được những gì mình cần theo công việc được giao, chứ không chỉ để biết những điều này.

It reminds one of the Wesak celebration where we're told there are rhythmic movements and chanting by those who are assembled, members of the Brotherhood assembled. But all is created through sound. You know, we're dealing with the manifestation of the throat center here.

Điều này gợi nhớ đến lễ Wesak, nơi chúng ta được biết rằng những thành viên Huynh đệ Đoàn tụ hội có các động tác theo nhịp điệu và tụng xướng. Nhưng tất cả đều được tạo ra qua âm thanh. Các bạn biết đấy, ở đây chúng ta đang đề cập đến sự biểu hiện của trung tâm cổ họng.

And these very high mantrams are vouchsafed to those who can, who are tasked tasked with the responsibility of bringing certain phases of the plan into existence. It's quite an extraordinary idea how powerful these mantrams can be. The Sanskrit mantrams are powerful enough so that we cannot be allowed to simply access them without need and without fitness.

Và những mantram rất cao siêu này được truyền trao cho những người có khả năng, những người được giao trách nhiệm đưa một số giai đoạn của Thiên Cơ vào hiện hữu. Ý tưởng về sức mạnh của những mantram này thật phi thường. Những mantram tiếng Phạn đã đủ mạnh đến mức chúng ta không thể được phép tùy tiện tiếp cận chúng khi không có nhu cầu và không đủ tư cách.

And then we have these Sensa mantrams. I imagine that Sensa is an older language, maybe something spoken by the solar angels, perhaps. Well, they will have their methods of communication.

Rồi chúng ta còn có những mantram Sensa này. Tôi hình dung Sensa là một ngôn ngữ cổ hơn, có lẽ là ngôn ngữ các Thái dương Thiên Thần sử dụng. Các Ngài hẳn có những phương thức giao tiếp riêng.

We approach this whole subject with humility. In making an outline of what he says, there are so many particulars and subcategories that it is fairly easy to get lost.

Chúng ta tiếp cận toàn bộ chủ đề này với lòng khiêm nhường. Khi lập dàn ý cho những điều Ngài nói, có rất nhiều chi tiết và phân nhóm đến mức khá dễ bị lạc hướng.

And we want to keep our mind as organized as possible. as you know,

Và chúng ta muốn giữ thể trí của mình ngăn nắp nhất có thể. Một lần nữa, như các bạn biết, có

[19] Again, there are certain mantrams in Sanskrit that are employed by students in meditation to call the attention of some one Master. These mantrams are communicated to Their disciples, and by their means the Master's attention is attracted, and His assistance called for.

[19] Ngoài ra, còn có những mantram nhất định bằng tiếng Phạn mà các đạo sinh sử dụng trong tham thiền để thu hút sự chú ý của một Chân sư nào đó. Các Ngài truyền những mantram này cho các đệ tử của mình; nhờ chúng, đệ tử thu hút sự chú ý của Chân sư và cầu xin Ngài trợ giúp. [Page 164]

Well, there are probably a number of ways of contacting the master. DK says, some of you have access to me. Some of you have it, though you know it not. And others of you could have it if you paid attention to its cultivation. We have that stage of discipleship, it's a fourth stage, I think it's called chela on the thread.

Có lẽ có nhiều cách để liên lạc với Chân sư. Chân sư DK nói: một số các bạn có thể tiếp cận Tôi. Một số các bạn có khả năng ấy, dù không biết. Và những người khác trong các bạn cũng có thể có nếu chú ý vun bồi khả năng ấy. Chúng ta có giai đoạn đó trong địa vị đệ tử; đó là giai đoạn thứ tư, tôi nghĩ gọi là Đệ tử trên đường dây.

And it means that a line of communication is set up between the disciple and the master, the master and the disciple. But that is not, I think, so scientific a method as what is being referenced here. I'm just trying to keep the outline straight, if possible, you know.

Và điều đó có nghĩa là một đường liên lạc được thiết lập giữa đệ tử và Chân sư, giữa Chân sư và đệ tử. Nhưng tôi nghĩ đó không phải là một phương pháp khoa học bằng phương pháp đang được đề cập ở đây. Tôi chỉ cố giữ dàn ý rõ ràng, nếu có thể, các bạn biết đấy.

But, of course, it has to be, studied carefully, and then the outline of the types and subtypes will fall into place.

Nhưng tất nhiên, cần nghiên cứu kỹ điều này, rồi dàn ý về các loại và phân loại sẽ đâu vào đấy.

[20] Other and greater formulas are sometimes imparted by which the three Great Lords may be contacted, and Their attention drawn in any specific direction.

[20] Đôi khi, những công thức khác mạnh mẽ hơn được truyền dạy, nhờ đó có thể tiếp xúc với ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại và hướng sự chú ý của Các Ngài theo một phương hướng cụ thể.

It sounds like they have to respond to the mantram, mantrams which are related to them.

Nghe như Các Ngài phải đáp ứng với mantram, những mantram có liên hệ với Các Ngài.

Now, this is a, this kind of mantra will not be given to the average student. It seems one of the members of the hierarchy. We have Christ, let us say, and his ashram of masters.

Loại mantram này sẽ không được truyền cho đạo sinh thông thường. Dường như người sử dụng phải là một thành viên của Thánh đoàn. Chẳng hạn, chúng ta có Đức Christ và ashram gồm các Chân sư của Ngài.

And we have an ashram of masters connected with the chohan who is the manu and the chohan who is the maha chohan, and that seems to me to be the kind of individual who could use such mantrams connecting to the three great lords. So, if anything, we have to approach this whole area of knowledge with a lot of respect and reticence.

Và chúng ta có một ashram gồm các Chân sư liên hệ với Đức Chohan là Đức Manu, và Đức Chohan là Đức Mahachohan; theo tôi, dường như chính những vị như vậy mới có thể sử dụng những mantram liên lạc với ba Chúa Tể Vĩ Đại. Vì vậy, trên hết, chúng ta phải tiếp cận toàn bộ lĩnh vực tri thức này với lòng kính trọng sâu sắc và sự dè dặt.

It speaks of things that we are still far from receiving, and we have much to prove yet about our nature and our usefulness before reception becomes possible.

Nó nói đến những điều mà chúng ta vẫn còn rất xa mới được tiếp nhận, và chúng ta còn phải chứng minh nhiều điều về bản chất cũng như sự hữu ích của mình trước khi có thể tiếp nhận.

[21] A mantram, when rightly sounded forth, creates a vacuum in matter, resembling a funnel.

[21] Khi được xướng đúng cách, một mantram tạo ra một khoảng chân không trong vật chất, giống như một cái phễu.

I think this is one of the fundamental ideas of superphysics.

Tôi nghĩ đây là một trong những ý tưởng nền tảng của siêu vật lý học.

[22] This funnel is formed betwixt the one who sounds it forth and the one who is reached by the sound. There is then formed a direct channel of communication.

[22] Phễu này hình thành giữa người xướng mantram và người mà âm thanh truyền đến. Khi ấy, một kênh giao tiếp trực tiếp hình thành.

A vacuum, a funnel, is created by the mantram. That's how one gets through and is not blocked by various conditions.

Mantram tạo ra một khoảng chân không, một cái phễu. Đó là cách người ta xuyên qua mà không bị các điều kiện khác nhau ngăn trở.

[23] You will see therefore why it is that these forms are so carefully guarded and the words and keys concealed. Their indiscriminate use would but result in disaster. A certain point in evolution has to be reached, and a similarity of vibration somewhat achieved, before the privilege

[23] Vì vậy, các bạn sẽ thấy tại sao những hình thức này được gìn giữ hết sức cẩn trọng, còn các từ ngữ và âm giai thì được giữ kín. Sử dụng chúng một cách bừa bãi chỉ dẫn đến tai họa. Môn sinh phải đạt đến một điểm tiến hoá nhất định và phần nào đạt được sự tương đồng về rung động trước khi có đặc quyền

again that word,

lại là từ ấy,

[24] is afforded the pupil of being custodian of a mantram whereby he may call his Master.

[24] lưu giữ một mantram mà nhờ đó y có thể triệu thỉnh Chân sư của mình.

That stage of chela on the thread, we are told, calls for very little expenditure of the master's energy when he does respond.

Chúng ta được cho biết rằng giai đoạn Đệ tử trên đường dây ấy đòi hỏi Chân sư tiêu hao rất ít năng lượng khi Ngài đáp ứng.

And for the time being, I think it is for those who can reach that stage what they will have to utilize rather than these more specific scientific forms. So carefully guarded and the words and keys concealed. Just read with respect.

Và trong lúc này, Tôi nghĩ những người có thể đạt đến giai đoạn ấy sẽ phải vận dụng điều đó, thay vì những hình thức khoa học cụ thể hơn này. Vì thế, chúng được bảo vệ hết sức cẩn mật, còn các linh từ và âm khóa thì được giữ kín. Hãy đọc với lòng tôn kính.

This is not going to be rushed. We have to scrupulously undergo the kind of training that makes of us a pure vessel for reception. And, as we know, the master appreciates it when it is possible for the student to handle needs, or let's say his own needs, without calling for help.

Không thể vội vàng trong việc này. Chúng ta phải nghiêm túc trải qua sự rèn luyện giúp mình trở thành một khí cụ thanh khiết để tiếp nhận. Và như chúng ta biết, Chân sư đánh giá cao việc đạo sinh có thể tự giải quyết những nhu cầu của mình mà không cần cầu viện.

The true student seeks not to spend the time and energy of a master needlessly. When there is perhaps a real emergency, that is another matter. And when it is not proper, we are told, to attempt these higher contacts, a kind of oppression will be upon the student, informing him that it is not appropriate to to seek contact when he might be able to handle it in his own way and by himself on his own.

Đạo sinh chân chính không tìm cách tiêu tốn thời gian và năng lượng của Chân sư một cách vô ích. Khi thực sự có tình huống khẩn cấp, đó lại là chuyện khác. Và chúng ta được cho biết rằng khi không thích hợp để thử thực hiện những tiếp xúc cao siêu này, đạo sinh sẽ cảm thấy một sự đè nặng, báo cho y biết rằng không nên tìm kiếm tiếp xúc khi y có thể tự giải quyết theo cách riêng của mình.

In this system of numbering we are up to point five, but different people might number it differently.

Theo hệ thống đánh số này, chúng ta đã đến điểm thứ năm, nhưng những người khác có thể đánh số khác đi.

He's going through different kinds of mantrams.

Ngài đang lần lượt bàn về những loại mantram khác nhau.

[25] There are also seven mantrams that are known to the three Great Lords and the Heads of the Hierarchy, whereby They can call the seven Planetary Logoi, or the seven “Spirits before the Throne” as They are called in the Christian Bible.

[25] Ngoài ra, có bảy mantram mà ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại và các Vị Đứng Đầu Thánh đoàn biết đến, nhờ đó Các Ngài có thể triệu thỉnh bảy Đức Hành Tinh Thượng Đế, hay bảy “Thánh Linh trước Thánh Ngai”, như cách gọi Các Ngài trong Kinh Thánh Kitô giáo.

Now, this is really beyond the capacity of humanity per se, and of most initiates, and maybe beyond the capacity of the masters themselves, except for the three great lords.

Điều này thực sự vượt quá khả năng của chính nhân loại, của phần lớn các điểm đạo đồ, và có lẽ vượt quá khả năng của cả các Chân sư, ngoại trừ ba Chúa Tể Vĩ Đại.

They can call, we're not just talking about calling the ray lords in, we're talking about calling the planetary logoi. So only those with a huge planetary responsibility, such as the Christ, the Manu, the Mahachohan, might be entitled to use such exalted mantrams. I suppose they connect with, I'll put it in, probably connecting with the seven sacred planets.

Các Ngài có thể triệu thỉnh; chúng ta không chỉ nói đến việc triệu thỉnh các Chúa Tể Cung, mà đang nói đến việc triệu thỉnh các Đức Hành Tinh Thượng Đế. Vì vậy, chỉ những Đấng gánh vác trách nhiệm hành tinh vô cùng lớn lao, như Đức Christ, Đức Manu, Đức Mahachohan, mới có thể có quyền sử dụng những mantram cao siêu như thế. Tôi cho rằng chúng kết nối với—Tôi xin thêm vào đây—có lẽ là kết nối với bảy hành tinh thiêng liêng.

The seven spirits before the throne are planetary logoi. There are probably seven solar logoi, who are spirits before a still higher throne, and there are lesser beings, we can call them ray lords, who are before the throne of our planetary logos.

Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai là các Đức Hành Tinh Thượng Đế. Có lẽ có bảy Thái dương Thượng đế, là những Thánh Linh trước một Thánh Ngai còn cao hơn nữa; và có những sinh mệnh thấp hơn, mà chúng ta có thể gọi là các Chúa Tể Cung, đứng trước Thánh Ngai của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

[26] One of these mantrams, which causes contact with the Logos of our planet,

[26] Một trong những mantram này, vốn tạo ra sự tiếp xúc với Thượng đế của hành tinh chúng ta,

it's not a sacred planet,

đó không phải là một hành tinh thiêng liêng,

[27] is known to the adepts as well.

[27] cũng được các Chân sư biết đến.

I kind of take my breath away when I think of the scope of what is being presented here, and how along with the treatise on Cosmic Fire, this can give us an idea of this huge sphere of knowledge, which DK is attempting to at least indicate to us, not always in detail, as a matter of fact, very often not in detail at all, because it's not safe yet.

Tôi gần như nín thở khi nghĩ đến tầm vóc của những điều đang được trình bày ở đây, và cách mà tài liệu này, cùng với khảo luận về Lửa Vũ Trụ, có thể giúp chúng ta hình dung về lĩnh vực tri thức bao la ấy, mà Chân sư DK đang cố gắng ít nhất cũng chỉ ra cho chúng ta—không phải lúc nào cũng chi tiết; thực ra, rất thường là hoàn toàn không đi vào chi tiết, vì hiện vẫn chưa an toàn.

[28] So the scale is mounted, and the Words are sounded forth, until we reach the mantram of our planet, which is based on the key of the Earth, and embodies a phrase which sums up our evolution.

[28] Như vậy, từng bậc của thang âm được đi lên và các Linh từ được xướng lên, cho đến khi chúng ta đạt tới mantram của hành tinh mình, vốn dựa trên âm giai của Trái Đất và chứa đựng một cụm từ tóm lược sự tiến hoá của chúng ta.

and that is, again, every one of these statements is to me rather awe-inspiring. We don't know the key of the earth.

Một lần nữa, đối với Tôi, mỗi lời khẳng định này đều khơi dậy niềm kính phục sâu xa. Chúng ta không biết âm khóa của Trái Đất.

You can imagine how carefully guarded that key would be. I mean one can, assume, and I've heard it said, well really we're dealing with a C-sharp, or something of that nature, but this is all just speculation, and certainly the phrases, words, or sounds are absolutely concealed from the likes of us, and from, I guess, most masters even. What are we told, that the masters only know, is it one syllable of the name of Sanat Kumara? That understanding of the name has also to be related to the mantram, the more complete mantram of the Logos, the Logos of our planet, and well, we seem to be able to contact the Logoi of other planets, according to what is said here, the seven planetary Logoi, or the seven spirits before the throne, but probably the effect is lighter, and not so immediately dangerous or impressive as contacting the Logos of one's own planet, where more immediate effects can be expected to take place.

Các bạn có thể hình dung âm khóa ấy sẽ được bảo vệ cẩn mật đến mức nào. Người ta có thể phỏng đoán, và Tôi đã nghe nói rằng thực ra chúng ta đang đề cập đến nốt Đô thăng, hoặc một nốt tương tự; nhưng tất cả chỉ là suy đoán. Chắc chắn những cụm từ, linh từ hay âm thanh ấy hoàn toàn được giữ kín đối với những người như chúng ta, và Tôi đoán rằng ngay cả phần lớn các Chân sư cũng không biết. Chúng ta được cho biết điều gì—rằng các Chân sư chỉ biết, có phải là một âm tiết trong danh xưng của Đức Sanat Kumara không? Sự thấu hiểu danh xưng ấy cũng phải liên hệ với mantram, với mantram đầy đủ hơn của Thượng đế, Thượng đế của hành tinh chúng ta. Và theo những gì được nói ở đây, dường như chúng ta có thể tiếp xúc với các Thượng đế của những hành tinh khác, với bảy Đức Hành Tinh Thượng Đế, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai; nhưng có lẽ tác động sẽ nhẹ hơn, không nguy hiểm hoặc gây ấn tượng mạnh tức thời như khi tiếp xúc với Thượng đế của chính hành tinh mình, nơi có thể dự kiến những tác động trực tiếp hơn sẽ xảy ra.

What responsibility? Therefore, we have to understand that the control of speech is an absolute necessity, and leads eventually to a sufficient worthiness and cooperative involvement to be granted access to some of these higher mantrams. Of course, there are only three great lords, and I don't think the majority of us is ever going to be one of the three great lords. There's only three.

Trách nhiệm lớn lao biết bao! Vì vậy, chúng ta phải thấu hiểu rằng việc kiểm soát lời nói là điều tuyệt đối cần thiết, và cuối cùng sẽ dẫn đến mức độ xứng đáng cùng sự tham gia hợp tác đủ để được phép tiếp cận một số mantram cao siêu này. Dĩ nhiên, chỉ có ba Chúa Tể Vĩ Đại, và Tôi không nghĩ phần lớn chúng ta sẽ có ngày trở thành một trong ba Chúa Tể Vĩ Đại ấy. Chỉ có ba Đấng.

But still, there are very, very high and powerful mantrams in the Sanskrit and in the Sensa, and we have to prove our worthiness. We're always being tested, and there really is no other way than to prove oneself. This is one of the beauties of the sign Scorpio, which is the major sign for humanity, connected as it is with the Buddhic plane, where on the monads express themselves.

Tuy nhiên, vẫn có những mantram rất cao siêu và đầy quyền năng trong tiếng Phạn và tiếng Sensa, và chúng ta phải chứng tỏ mình xứng đáng. Chúng ta luôn được thử thách, và thực sự không có cách nào khác ngoài việc chứng tỏ bản thân. Đây là một trong những nét đẹp của dấu hiệu Hổ Cáp, dấu hiệu chủ yếu của nhân loại, bởi nó liên hệ với cõi Bồ đề, nơi các chân thần biểu lộ.

The fourth creative hierarchy expresses itself there. The proving of oneself by fulfilling the requirements of the tests one inevitably encounters.

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư biểu lộ ở đó. Đó là việc chứng tỏ bản thân bằng cách đáp ứng những yêu cầu của các thử thách mà mình tất yếu gặp phải.

[29] Each planet has some such note or phrase whereby its guides may contact their Planetary Logos.

[29] Mỗi hành tinh đều có một âm điệu hay cụm từ tương tự, nhờ đó các vị hướng đạo của hành tinh ấy có thể tiếp xúc với Đức Hành Tinh Thượng Đế của mình.

DK is dealing with matters so occult, so esoteric. No wonder he says that it will be a long time before humanity in general is ready for the teachings of occultism. Still, there are people that we meet and know, and we can influence them in the proper direction without overwhelming them with something they're liable to believe is a fairy tale or worse.

Chân sư DK đang bàn đến những vấn đề hết sức huyền bí, hết sức nội môn. Chẳng trách Ngài nói rằng còn rất lâu nữa nhân loại nói chung mới sẵn sàng đón nhận những giáo huấn của huyền bí học. Tuy nhiên, vẫn có những người chúng ta gặp gỡ và quen biết, và chúng ta có thể tác động đến họ theo hướng đúng đắn mà không khiến họ choáng ngợp trước những điều họ dễ cho là chuyện cổ tích, hoặc còn tệ hơn thế.

You know, it's so easy to say, oh, all this comes from the devil, but that is, if the teacher is not careful and does not speak proportionately, that kind of adverse reaction can occur.

Các bạn biết đấy, người ta rất dễ nói rằng tất cả những điều này đều đến từ ma quỷ. Nếu huấn sư không thận trọng và không nói một cách chừng mực, phản ứng bất lợi như thế có thể xảy ra.

[30] The seven Logoi in Their turn have Their available ritual or form whereby They can communicate with the threefold Lord of the Solar System. This is done always four times a year, or when urgent need arises.

[30] Đến lượt mình, bảy Thượng đế có nghi thức hay hình thức sẵn dùng để Các Ngài có thể giao tiếp với Đấng Chúa Tể tam phân của hệ mặt trời. Việc này luôn được thực hiện bốn lần mỗi năm, hoặc khi có nhu cầu khẩn cấp.

And I imagine we are speaking of the equinoxes and solstices, and it's a fascinating idea. The threefold lord of the solar system with his primordial ray, his divine ray, and his cosmic ray of will. I suppose he means the solar logos.

Và Tôi hình dung chúng ta đang nói đến các điểm phân và điểm chí; đây là một ý tưởng đầy cuốn hút. Chúa Tể tam phân của hệ mặt trời, với cung nguyên sơ, cung thiêng liêng và cung ý chí vũ trụ của Ngài. Tôi cho rằng Ngài muốn nói đến Thái dương Thượng đế.

But again, the time for such contact must be scrupulously observed. We can't imagine any haphazard contact such as a man might engage in when offering up a prayer, please let this happen, please let that happen. It has to be exactingly timed.

Nhưng một lần nữa, thời điểm thực hiện sự tiếp xúc ấy phải được tuân thủ hết sức nghiêm ngặt. Chúng ta không thể hình dung bất kỳ sự tiếp xúc tùy tiện nào, như khi một người dâng lời cầu nguyện: xin cho điều này xảy ra, xin cho điều kia xảy ra. Thời điểm phải được xác định thật chính xác.

Four times a year, and maybe the solstice moment is the equinoctial moment are those times. And some of what the three great lords do, I think, correlate with those exact moments. We're given a lot about the full moon, but maybe not so much about the solstices and equinoxes.

Bốn lần mỗi năm, và có lẽ những thời điểm ấy chính là thời khắc của các điểm chí và điểm phân. Tôi nghĩ một số công việc của ba Chúa Tể Vĩ Đại tương ứng với những thời khắc chính xác ấy. Chúng ta được cung cấp nhiều thông tin về trăng tròn, nhưng có lẽ không nhiều về các điểm chí và điểm phân.

Now let's see what is said here.

Bây giờ, hãy xem ở đây nói gì.

[31] Once a year the entire Hierarchy employs a composite mantram that creates a vacuum between the highest and the lowest members of that Hierarchy and on up—via the seven Planetary Logoi—to the Logos Himself.

[31] Mỗi năm một lần, toàn thể Thánh đoàn sử dụng một mantram tổng hợp, tạo ra một khoảng chân không giữa những thành viên cao nhất và thấp nhất của Thánh đoàn ấy, rồi lên cao nữa—qua bảy Đức Hành Tinh Thượng Đế—đến chính Thượng đế.

Usually when the term logos is used, it does mean the solar logos, and when it means a place of worship, the planetary logos, we're told the logos of a planet, or, planetary logos.

Thông thường, khi thuật ngữ Thượng đế được sử dụng, nó chỉ Thái dương Thượng đế; còn khi chỉ một đối tượng thờ phụng, Đức Hành Tinh Thượng Đế, thì chúng ta được nói rõ là Thượng đế của một hành tinh, hay Đức Hành Tinh Thượng Đế.

Once a year the entire Hierarchy employs a composite mantram

Mỗi năm một lần, toàn thể Thánh đoàn sử dụng một mantram tổng hợp

What does he mean by that? That it has a number of parts that creates a vacuum between the highest and the lowest members of that hierarchy. So I suppose from the three great lords down to the humble initiate of the first degree, and on up via the seven planetary logoi, the logoi of the sacred planet, I suppose, to the logos himself,

Ngài muốn nói gì qua điều đó? Rằng mantram ấy có một số phần, tạo ra một khoảng chân không giữa các thành viên cao nhất và thấp nhất của Thánh đoàn ấy. Vì vậy, Tôi cho rằng đó là từ ba Chúa Tể Vĩ Đại xuống đến điểm đạo đồ khiêm nhường ở cấp thứ nhất, rồi lên cao qua bảy Đức Hành Tinh Thượng Đế—Tôi cho rằng đó là các Thượng đế của những hành tinh thiêng liêng—đến chính Thượng đế,

[32] It marks the moment of intensest spiritual effort and vitalisation during the year, and its effects last throughout the intervening months.

[32] Điều này đánh dấu [Page 165] thời điểm nỗ lực tinh thần và sự tiếp sinh lực mãnh liệt nhất trong năm, và tác động của nó kéo dài suốt những tháng cho đến lần kế tiếp.

you know, of course, naturally, we would ask, does this indicate the Wesak festival, or maybe something or the Leo Sirius festival? Really extraordinary.

Dĩ nhiên, chúng ta tự nhiên sẽ hỏi: điều này có chỉ lễ hội Wesak, hay có lẽ một lễ hội nào khác, hoặc lễ hội Sư Tử–Sirius không? Thật phi thường.

Such a joy to read of these expansive possibilities.

Thật hoan hỉ khi đọc về những khả năng rộng lớn này.

[33] Its effect is cosmic,

[33] Tác động của nó mang tính vũ trụ,

because after all, the solar logos is a cosmic being,

vì xét cho cùng, Thái dương Thượng đế là một Sinh Mệnh vũ trụ,

[34] and links us up with our cosmic centre.

[34] và nối kết chúng ta với trung tâm vũ trụ của mình.

and this probably, the cosmic center, probably Pleiades. Sort of the hub of the wheel, around which our seven solar systems revolve.

Và trung tâm vũ trụ này có lẽ là cụm sao Thất Nữ. Như trục của bánh xe mà bảy hệ mặt trời của chúng ta quay quanh.

And maybe, the zodiac too, has a kind of revolution around a central, a jewel-like formation, because we're dealing in the zodiac with the heart and the head center, which does have its own jewel. Yes, my conclusion here is that we are dealing with a subject which is really inspiring. Maybe I can go on just a little bit.

Và có lẽ hoàng đạo cũng có một dạng chuyển động quay quanh một cấu trúc trung tâm giống như viên ngọc, bởi trong hoàng đạo, chúng ta đang đề cập đến trung tâm tim và trung tâm đầu, vốn có viên ngọc riêng của nó. Vâng, kết luận của Tôi ở đây là chúng ta đang bàn về một chủ đề thực sự đầy cảm hứng. Có lẽ Tôi có thể tiếp tục thêm một chút.

But we're almost at the hour, and yet at the same time, a new subject is taken up in just a couple of pages. A couple of pages can last a long time. Forms used in one of the three departments.

Nhưng chúng ta đã gần đủ một giờ, đồng thời chỉ sau vài trang nữa là bắt đầu một chủ đề mới. Vài trang có thể kéo dài rất lâu. Những hình thức được sử dụng trong một trong ba ban.

Ray mantrams.

Các mantram cung.

[35] Ray mantrams. Each ray has its own formulas and sounds

[35] Các mantram cung. Mỗi cung có những công thức và âm thanh riêng

We seem to have indicated that earlier.

Dường như chúng ta đã đề cập đến điều đó trước đây.

It leads to its own geometry that correlates, I think, with its own formulas and sounds,

Điều đó dẫn đến dạng hình học riêng của cung ấy, mà Tôi nghĩ là tương ứng với những công thức và âm thanh riêng của nó,

[36] which have a vital effect upon the units gathered on those rays.

[36] tác động mạnh mẽ đến sinh lực của những đơn vị quy tụ trên các cung ấy. Việc đạo sinh thực hành tham thiền xướng mantram này có tác động tam phân:

And the effects are threefold. So, Ray Mantrams. Each ray has its own formulas, that's plural, and sounds, not just necessarily one.

Và những tác động này mang tính tam phân. Vậy, các mantram cung. Mỗi cung có những công thức riêng—ở số nhiều—và những âm thanh, không nhất thiết chỉ có một.

And what is the effect? So, let's take a look at that.

Và tác động là gì? Chúng ta hãy xem xét điều đó.

[37] 1. It links him and aligns him with his Higher self or Ego.

[37] 1. Nó nối kết và chỉnh hợp y với Bản Ngã Cao Siêu hay Chân ngã của y.

if I would imagine he uses the Mantram associated with his soul ray.

Tôi hình dung điều này xảy ra nếu y sử dụng mantram liên hệ với cung linh hồn của mình.

[38] 2. It puts him in contact with his Master, and through that Master with one of the great Lords,—dependent upon the ray.

[38] 2. Nó đưa y tiếp xúc với Chân sư của mình, và qua Chân sư ấy, với một trong các Đấng Chúa Tể Vĩ Đại—tùy theo cung.

So, let's say one of the Chohans, and

Vậy, một trong các Đấng Chohan, và

[39] 3. It links him with his egoic group and binds all into one composite whole, vibrating to one note.

[39] 3. Nó nối kết y với nhóm chân ngã của y và gắn kết tất cả thành một toàn thể tổng hợp, rung động theo một âm điệu duy nhất.

Okay. So, we've been taught a little about the geometry which connects us, the symbolism which connects us with our ray, and now we have phrases, words, and sounds.

Như vậy, chúng ta đã được dạy đôi chút về dạng hình học kết nối chúng ta, về hệ biểu tượng kết nối chúng ta với cung của mình, và giờ đây chúng ta có những cụm từ, linh từ và âm thanh.

But these too have to be imparted. I guess they cannot be guessed at. So, it links him with his higher self, or ego.

Nhưng những điều này cũng phải được truyền dạy. Tôi đoán rằng không thể phỏng đoán ra chúng. Như vậy, nó kết nối y với Bản Ngã Cao Siêu, hay Chân ngã của y.

It puts him in touch with his master, and one of the three great lords, and also the egoic group at the time that this was written. These groups were found on the higher mental plane. So, maybe he means that, but then the groups moved many of them to the Buddhic plane the following 1925, I believe.

Nó đưa y vào sự tiếp xúc với Chân sư của mình, với một trong ba Chúa Tể Vĩ Đại, và cả với nhóm chân ngã. Vào thời điểm tài liệu này được viết, những nhóm ấy ở trên Cõi thượng trí. Vì vậy, có lẽ Ngài muốn nói đến điều đó; nhưng sau đó, Tôi tin là sau năm 1925, nhiều nhóm trong số ấy đã chuyển lên cõi Bồ đề.

So, wherever these groups are found, again page 39 in this book, there are three kinds of groups found on the mental plane, two on the Buddhic, one on the Atmic, and one on the monadic plane. So, we're either talking about, probably talking about the higher mental plane, but maybe about Buddhic plane groups as well. Okay, this is, okay, ray mantrams and their connections with higher centers of consciousness.

Vậy, bất kể những nhóm này ở đâu, một lần nữa, trang 39 của cuốn sách này cho biết có ba loại nhóm trên cõi trí, hai loại trên cõi Bồ đề, một loại trên cõi atma và một loại trên cõi chân thần. Vì vậy, có lẽ chúng ta đang nói đến Cõi thượng trí, nhưng cũng có thể nói đến các nhóm trên cõi Bồ đề. Đây là các mantram cung và những mối liên hệ của chúng với các trung tâm tâm thức cao hơn.

[40] These mantrams are one of the secrets of the last three initiations and may not be sounded by the pupil before that time without permission, though he may participate at times in the chanting of the mantram under the Master's direction.

[40] Những mantram này là một trong các bí mật của ba lần điểm đạo cuối cùng; trước thời điểm ấy, môn sinh không được phép xướng chúng nếu chưa được cho phép, dù đôi khi y có thể tham gia xướng mantram dưới sự hướng dẫn của Chân sư.

Now, what does he mean the last three initiations? It doesn't seem to me that he's talking about the 7th, 8th, and 9th. That's too much.

Bây giờ, Ngài muốn nói gì qua cụm từ ba lần điểm đạo cuối cùng? Tôi không nghĩ Ngài đang nói đến lần thứ 7, thứ 8 và thứ 9. Như thế là quá cao.

Is he talking about the 5th, 6th, and 7th? Well, that would make of a person a master, a chohan, and a 7th degree chohan. Maybe he's talking about a five-fold system of initiation, where we have the 3rd, 4th, and 5th. Are we speaking of the 3rd, 4th, and 5th initiations? And if, the master's permission, it sounds like we're not dealing with 5, 6, 7, but more with 3, 4, 5, the approach to mastership, because the master is still giving direction.

Ngài đang nói đến lần thứ 5, thứ 6 và thứ 7 chăng? Điều đó sẽ khiến một người trở thành Chân sư, một Đấng Chohan, và một Đấng Chohan cấp thứ 7. Có lẽ Ngài đang nói đến một hệ thống điểm đạo ngũ phân, trong đó chúng ta có lần thứ 3, thứ 4 và thứ 5. Có phải chúng ta đang nói đến các lần điểm đạo thứ 3, thứ 4 và thứ 5 không? Và nếu cần sự cho phép của Chân sư, thì có vẻ chúng ta không bàn đến lần thứ 5, thứ 6 và thứ 7, mà thiên về lần thứ 3, thứ 4 và thứ 5 hơn—tiến trình tiến đến địa vị Chân sư—vì Chân sư vẫn đang chỉ dẫn.

It's hard to know what he means by the last three initiations, because maybe initiations 6 and 7 are not normally considered in that way. Okay.

Khó biết Ngài muốn nói gì qua cụm từ ba lần điểm đạo cuối cùng, vì có lẽ lần điểm đạo thứ 6 và thứ 7 thường không được xem theo cách ấy.

[41] Mantrams, or formulas of words, sung by the pupil, which have direct effect on one of the three bodies.

[41] Những mantram, hay công thức từ ngữ, do môn sinh xướng lên, có tác động trực tiếp lên một trong ba thể của phàm ngã.

He does seem to be continuing with different kinds of mantrams.

Dường như Ngài vẫn tiếp tục bàn về những loại mantram khác nhau.

And now, sung mantrams. Is there a difference between chanting and singing? Well, one day we will know. They are sung by the pupil and have a direct effect upon one of his three bodies.

Và bây giờ là những mantram được hát lên. Có sự khác biệt giữa tụng và hát không? Một ngày nào đó chúng ta sẽ biết. Môn sinh hát chúng lên, và chúng có tác động trực tiếp lên một trong ba thể của y.

Well, we've already dealt with forms of meditation that have a direct effect on one of the three bodies. And maybe, I think he said they'll be among the first to be given out, because they are very practical, and they still need guarding, no question about it. Okay.

Chúng ta đã bàn đến những hình thức tham thiền có tác động trực tiếp lên một trong ba thể của y. Và có lẽ, Tôi nghĩ Ngài đã nói rằng chúng sẽ nằm trong số những hình thức đầu tiên được truyền dạy, bởi chúng rất thiết thực; nhưng chắc chắn chúng vẫn cần được bảo vệ.

Mantrams, or formulas of words, sung by the pupil,

Các mantram, hay những công thức bằng lời, do môn sinh hát lên,

I think he uses that word deliberately rather than chanted,

Tôi nghĩ Ngài cố ý dùng từ ấy thay vì “tụng”,

which have direct effect on one of the three bodies.

có tác động trực tiếp lên một trong ba thể của y.

and naturally the key and note must be known. Okay.

và dĩ nhiên, phải biết âm khóa và âm điệu.

[42] These mantrams are largely already in use—though in a much distorted degree—in the services of the religious bodies in all lands. Some light on them is being communicated and will be more so in the ritual of the Church..........in the LCC [Liberal Catholic Church], and CWL is already laying a foundation for fuller knowledge.

[42] Phần lớn những mantram này đã được sử dụng—dù đã biến dạng rất nhiều—trong các nghi lễ của những tổ chức tôn giáo ở mọi quốc gia. Một phần tri thức soi sáng về chúng đang được truyền đạt và sẽ được truyền đạt nhiều hơn trong nghi thức của Giáo hội..........trong LCC [Giáo hội Công giáo Tự do], và CWL đã đặt nền móng cho tri thức đầy đủ hơn.

and there's obviously here an hiatus where he's elaborated on something more specific.

và rõ ràng ở đây có một đoạn lược bỏ, nơi Ngài đã giải thích thêm về một điều cụ thể hơn.

[43] The passwords as used in Masonry—though practically valueless now—based on the use of mantrams and some day when there is an Initiate Head to all these organisations (such as Masonry, various esoteric societies, and religious bodies)

[43] Các mật khẩu dùng trong Hội Tam Điểm—dù hiện nay gần như không còn giá trị—đều dựa trên việc sử dụng mantram, và một ngày kia, khi có một Điểm đạo đồ đứng đầu tất cả những tổ chức này (như Hội Tam Điểm, các hội nội môn khác nhau và các tổ chức tôn giáo),

and those are the three organisms,

và đó là ba loại tổ chức,

[44] the old mantrams will be given back in pure form to the peoples.

[44] những mantram cổ xưa sẽ được trao lại cho các dân tộc dưới hình thức thuần khiết. [Page 166]

So I imagine, a word like amen in the church, or so mote it be in masonry, these are perhaps what he's indicating. And there are other passwords to be used as one moves from one degree to another, etc. But though they are in use, they are in use in maybe quite an unrecognizable form, a distorted form.

Tôi hình dung rằng một từ như “xin được như vậy” trong giáo hội, hay “mong điều ấy thành hiện thực” trong Hội Tam Điểm, có lẽ là những gì Ngài đang muốn nói đến. Và còn có những mật ngữ khác để sử dụng khi chuyển từ cấp bậc này sang cấp bậc khác, v.v. Nhưng dù vẫn được sử dụng, chúng có lẽ mang một hình thức khó nhận ra, một hình thức đã bị biến dạng.

There's been so much crystallization in both the church and masonry. He does tell us that there are three bodies or organisms which are attempting to reach humanity with the Ageless Wisdom, masonry on the first ray, the church on the second ray, and the banded esoteric organisms on the third ray. I consider maybe those rays to be a monadic in nature.

Cả giáo hội lẫn Hội Tam Điểm đều đã bị kết tinh cứng nhắc quá nhiều. Ngài cho chúng ta biết rằng có ba tổ chức hay cơ cấu đang cố gắng đưa Minh Triết Ngàn Đời đến với nhân loại: Hội Tam Điểm thuộc cung một, giáo hội thuộc cung hai, và các tổ chức huyền bí liên kết với nhau thuộc cung ba. Tôi nghĩ có lẽ những cung ấy mang bản chất chân thần.

There are also mantrams for use in healing, and this would be, in the same way we had forms of meditation for healing. They are more imagined, and these are enunciated. Different centers are in use.

Cũng có những mantram dùng trong trị liệu, tương tự như các hình thức tham thiền dành cho trị liệu mà chúng ta đã bàn đến. Các hình thức ấy thiên về sự hình dung, còn những mantram này được xướng lên. Những trung tâm khác nhau được sử dụng.

More the ajna center in the earlier type where one visualizes, and here is the throat center, maybe in combination with some other chakras.

Ở loại hình trước, khi người ta hình dung, trung tâm ajna được sử dụng nhiều hơn; còn ở đây là trung tâm cổ họng, có lẽ kết hợp với một số luân xa khác.

[45] There are also mantrams for use in healing, and for the development of certain psychic faculties.

[45] Cũng có những mantram dùng trong trị liệu và để phát triển một số năng lực thông linh.

Maybe Leadbeater, I think he was educated by Master K.H. in the building up of his psychic faculties.

Có lẽ là Leadbeater; tôi nghĩ Chân sư KH đã huấn luyện ông để phát triển các năng lực thông linh của ông.

Maybe these mantrams, some of them were given to him or to Annie Besant as they did their research.

Có lẽ một số mantram này đã được trao cho ông hoặc cho Bà Annie Besant khi họ tiến hành nghiên cứu.

[46] Some mantrams have a direct effect on the centres of the body, and will later be used under the guidance of the Master for increasing vibration, for causing fourth dimensional movement, and for the complete vivification of the centre.

[46] Một số mantram có tác động trực tiếp lên các trung tâm của thân thể, và sau này sẽ được sử dụng dưới sự hướng dẫn của Chân sư để tăng cường rung động, tạo ra chuyển động trong chiều thứ tư và tiếp sinh lực hoàn toàn cho trung tâm.

I think if we did not have an idea of how powerful the word can be, the phrase, the word, the sound, we have a much clearer idea now.

Tôi nghĩ nếu trước đây chúng ta chưa hình dung được lời nói có thể mạnh mẽ đến mức nào — cụm từ, linh từ, âm thanh — thì giờ đây chúng ta đã hiểu rõ hơn nhiều.

So psychic faculties, healing, and these Master DK would use. He is the, well, a great healer. You can't say he's the great healer, but he's going to be one of those teaching the ancient methods of Esoteric Healing, probably very much in an externalized condition.

Vậy là có các năng lực thông linh, việc trị liệu, và Chân sư DK sử dụng những điều này. Ngài là một nhà trị liệu vĩ đại. Không thể nói Ngài là nhà trị liệu vĩ đại duy nhất, nhưng Ngài sẽ là một trong những vị giảng dạy các phương pháp cổ xưa của Trị Liệu Huyền Môn, có lẽ phần lớn trong trạng thái ngoại hiện.

[47] Still other mantrams act upon the hidden fire, but I will deal with them a little later.

[47] Còn những mantram khác tác động lên lửa tiềm ẩn, nhưng Tôi sẽ bàn đến chúng sau đây một chút.

I mean, these must be mantrams for arousing the kundalini, and again must be very safely guarded as tampering with the fires, playing with the fires, it seems to be a favorite activity of overeager students.

Ý tôi là, đây hẳn phải là những mantram để khơi dậy lửa xà, và một lần nữa, chúng phải được bảo vệ hết sức cẩn mật, vì việc tùy tiện can thiệp vào các ngọn lửa, đùa với các ngọn lửa, dường như là một hoạt động ưa thích của những đạo sinh quá nôn nóng.

The hidden fire, but with them I shall deal later.

Lửa ẩn tàng, nhưng Tôi sẽ bàn đến những mantram ấy sau.

[48] There are numerous oriental books on the subject, which is so vast a one that I caution the student from investigating much.

[48] Có nhiều sách phương Đông viết về chủ đề này; chủ đề ấy rộng lớn đến mức Tôi khuyên đạo sinh không nên tìm hiểu quá nhiều.

Okay.

The whole question of occult development is one in which the greatest caution has to be observed, and a real obedience, a real humility, a real tendency towards service, unselfishness, unselfish service. When we begin to see the power of these mantrams and of these forms of meditation, we understand why so much caution is required.

Toàn bộ vấn đề phát triển huyền bí đòi hỏi sự thận trọng cao nhất, cùng với sự tuân phục chân thực, lòng khiêm nhường chân thực, khuynh hướng phụng sự chân thực, tính vị tha và sự phụng sự vô tư. Khi bắt đầu thấy quyền năng của những mantram và những hình thức tham thiền này, chúng ta thấu hiểu vì sao cần phải thận trọng đến vậy.

[49] It would but prove for the worker in the world a waste of time.

[49] Đối với người hoạt động trong thế gian, điều đó chỉ là lãng phí thời gian.

if he really wants to work and do something, otherwise you just get lost in study.

Nếu y thực sự muốn làm việc và thực hiện điều gì đó; nếu không, y chỉ sa vào việc nghiên cứu.

[50] I have touched upon the matter because no book on meditation would be complete without a reference to what will some day supersede all preliminary meditation. When the race has reached a certain point of development, and when the higher mind holds greater sway, these occult mantrams—rightly imparted and rightly enunciated—will be part of the ordinary curriculum of the student. He will start his meditation by the use of his ray mantram,

[50] Tôi đã đề cập đến vấn đề này vì không một cuốn sách nào về tham thiền có thể trọn vẹn nếu không nhắc đến điều một ngày kia sẽ thay thế mọi thực hành tham thiền sơ bộ. Khi nhân loại đạt đến một trình độ phát triển nhất định, và khi Thượng trí có ảnh hưởng lớn hơn, những mantram huyền môn này—được truyền dạy đúng cách và phát âm đúng cách—sẽ là một phần trong chương trình học thông thường của đạo sinh. Y sẽ bắt đầu tham thiền bằng việc sử dụng mantram cung của mình,

He will start his meditation by the use of his ray mantram,

Y sẽ bắt đầu việc tham thiền bằng cách sử dụng mantram thuộc cung của mình,

[51] thereby adjusting his position in the scheme; he will follow this with the mantram that calls his Master, and which puts him en rapport with the Hierarchy. Then he will begin to meditate with his bodies adjusted, and with the vacuum formed that may then be used as a medium of communication.

[51] qua đó điều chỉnh vị trí của mình trong hệ hành tinh; tiếp theo, y sẽ sử dụng mantram triệu thỉnh Chân sư của mình, đưa y vào sự giao cảm với Thánh đoàn. Sau đó, y sẽ bắt đầu tham thiền khi các thể của phàm ngã đã được điều chỉnh và khoảng chân không đã hình thành, để có thể dùng làm phương tiện giao tiếp.

So the one, two, three, the method is laid out for us.

Như vậy, phương pháp gồm một, hai, ba bước đã được trình bày cho chúng ta.

The ordinary curriculum, probably given out in the esoteric schools when they are directed behind the scenes, perhaps mostly by a master. So there will be, at first, in this one, two, three, okay, we are being given a one, two, three process.

Chương trình học thông thường này có lẽ sẽ được truyền dạy trong các trường huyền bí khi những trường ấy được hướng dẫn từ phía sau, có lẽ chủ yếu do một Chân sư. Vì vậy, trước hết sẽ có trình tự một, hai, ba này; chúng ta đang được trao một tiến trình gồm một, hai, ba bước.

He will start his meditation by the use of his ray mantram, thereby adjusting his position in the scheme; he will follow this with the mantram that calls his Master, and which puts him en rapport with the Hierarchy. Then he will begin to meditate with his bodies adjusted, and with the vacuum formed that may then be used as a medium of communication.

Y sẽ bắt đầu việc tham thiền bằng cách sử dụng mantram thuộc cung của mình, qua đó điều chỉnh vị trí của mình trong hệ hành tinh; tiếp theo, y sẽ sử dụng mantram triệu thỉnh Chân sư của mình và đưa y vào sự hòa hợp với Thánh đoàn. Sau đó, y sẽ bắt đầu tham thiền khi các thể của phàm ngã đã được điều chỉnh, và một khoảng chân không đã hình thành để có thể dùng làm trung gian giao tiếp.

Will you not agree with me that this book must be read more often and more carefully than is presently the case? Well, friends, that's enough for tonight, I think. We continue with these forms in meditation.

Các bạn có đồng ý với tôi rằng cuốn sách này cần được đọc thường xuyên hơn và kỹ lưỡng hơn hiện nay không? Các bạn của tôi, tôi nghĩ tối nay như vậy là đủ. Chúng ta sẽ tiếp tục với những hình thức này trong tham thiền.

We've been looking at mantric forms, largely, and we are on page 166. So I have brought down the indicators, what page and what date, and we finished program number 37, I believe. I often get these mixed up, and then I rely upon the communications team to help me out.

Chúng ta chủ yếu đã xem xét các hình thức mantram, và đang ở trang 166. Tôi đã ghi lại các thông tin đánh dấu, trang nào và ngày nào, và tôi tin rằng chúng ta đã hoàn tất chương trình số 37. Tôi thường nhầm lẫn những điều này, rồi phải nhờ đội ngũ truyền thông giúp tôi.

And we'll, on whatever day, but not tonight, begin program 38 on page 166, and we'll be working with forms used in one of the three departments. You know, there are a few of these types of analysis of forms that remain. So much information.

Vào một ngày nào đó, nhưng không phải tối nay, chúng ta sẽ bắt đầu chương trình 38 ở trang 166, và sẽ nghiên cứu những hình thức được sử dụng trong một trong ba ban. Các bạn biết đấy, vẫn còn một vài kiểu phân tích hình thức như thế này. Thật nhiều thông tin.

I'm so, what can I say, re-excited about this book. It's been years since I've examined it closely. Of course, I've examined references from these books, this particular book, but not to see it in its continuity, and what a gift it is as a foundational text, along with initiation, human, and solar.

Tôi lại vô cùng hào hứng với cuốn sách này, biết nói thế nào đây. Đã nhiều năm kể từ lần tôi xem xét kỹ cuốn sách. Dĩ nhiên, tôi vẫn xem xét các đoạn tham khảo từ những cuốn sách này, từ chính cuốn sách này, nhưng chưa đọc lại toàn bộ mạch liên tục của nó; và đây quả là một món quà quý giá, một văn bản nền tảng, cùng với cuốn Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương.

I think we have to have a deep appreciation for how the Tibetan has oriented us toward real esoteric accomplishment for the sake of enhancing our service to humanity. So many blessings, a lot of love, many blessings to everybody, and we will continue. Are we halfway through the book? Well, not quite.

Tôi nghĩ chúng ta cần trân trọng sâu sắc cách Chân sư Tây Tạng đã định hướng chúng ta đến sự thành tựu huyền bí thực sự nhằm nâng cao việc phụng sự nhân loại. Xin gửi đến mọi người thật nhiều phúc lành, thật nhiều tình thương, và chúng ta sẽ tiếp tục. Chúng ta đã đi được nửa cuốn sách chưa? Chưa hẳn.

Almost. Almost halfway through the book. And there are some tantalizing prospects that lie ahead.

Gần rồi. Gần được nửa cuốn sách. Và phía trước còn có những triển vọng đầy hấp dẫn.

And as he said to one of his more advanced students, he said, well, there are so many words of so many books that you've read that are stored in your causal body. So how about doing something with all that? And we too, with the knowledge we accumulate, we have to do something, at least to inform others of the treasure, those who can appreciate what the treasure is. So we'll see you soon, and I'll send this out to you, or actually BL will put it onto the Morya Federation website, and Harold will put it onto the YouTube.

Như Ngài đã nói với một trong những đạo sinh tiến bộ hơn của mình: có biết bao lời trong biết bao cuốn sách mà bạn đã đọc đang được lưu giữ trong thể nguyên nhân của bạn. Vậy sao không làm điều gì đó với tất cả những điều ấy? Chúng ta cũng vậy, với tri thức tích lũy được, chúng ta phải làm điều gì đó, ít nhất là cho những người có thể trân trọng kho báu ấy biết đến nó. Vậy hẹn sớm gặp lại các bạn, và tôi sẽ gửi phần này cho các bạn; thực ra BL sẽ đưa nó lên trang web của Liên đoàn Morya, và Harold sẽ đưa nó lên YouTube.

And hopefully, we will continue. That's our big job, to assimilate before the great conclave. So bye for now.

Hy vọng chúng ta sẽ tiếp tục. Đó là công việc lớn của chúng ta: lĩnh hội trước Đại Mật Nghị. Xin tạm biệt.