Tóm lược chương
Trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, Chân sư DK chia các nguy cơ của tham thiền đối với thể xác thành ba nhóm: não bộ, hệ thần kinh và cơ quan sinh dục. Những rối loạn biểu hiện ở thể xác thường bắt nguồn từ các hiện thể tinh tế hơn, đặc biệt là thể dĩ thái và thể cảm dục. Phạm vi thực tiễn của lời cảnh báo là đời sống con người trên Dãy Địa Cầu và bầu hành tinh Trái Đất. Thể xác và thể dĩ thái khi sinh ra mang những thành phần được hình thành từ kiếp trước, gần như tái lập tình trạng của hiện thể khi người ấy rời cõi hồng trần. Theo cách diễn giải trong bình giảng, nhìn lại thời thơ ấu có thể giúp ước lượng tình trạng thể dĩ thái lúc cuối…
Commentary LOM 27
Tóm Tắt
Tóm tắt Webinar: LOM-027_edited
Ba nhóm nguy cơ đối với thể xác
Trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, Chân sư DK chia các nguy cơ của tham thiền đối với thể xác thành ba nhóm: não bộ, hệ thần kinh và cơ quan sinh dục. Những rối loạn biểu hiện ở thể xác thường bắt nguồn từ các hiện thể tinh tế hơn, đặc biệt là thể dĩ thái và thể cảm dục. Phạm vi thực tiễn của lời cảnh báo là đời sống con người trên Dãy Địa Cầu và bầu hành tinh Trái Đất.
Thể dĩ thái và công việc cải tạo hiện thể
Thể xác và thể dĩ thái khi sinh ra mang những thành phần được hình thành từ kiếp trước, gần như tái lập tình trạng của hiện thể khi người ấy rời cõi hồng trần. Theo cách diễn giải trong bình giảng, nhìn lại thời thơ ấu có thể giúp ước lượng tình trạng thể dĩ thái lúc cuối kiếp trước; những cải thiện tạo ra trong đời này vẫn được ghi nhận ở phương diện dĩ thái, dù thể xác dần suy yếu. Xây dựng một hiện thể thích hợp hơn cho tinh thần đòi hỏi thời gian, kỷ luật, sự từ bỏ và khả năng phán đoán; công việc ấy có thể thuận lợi hơn trong thời đại cung bảy, khi hiểu biết về sức khỏe và tác động củng cố thể dĩ thái gia tăng.
Lửa của tham thiền và kundalini
Lời cảnh báo rằng tham thiền huyền môn là “đùa với lửa” được trình bày như một sự kiện thực tế, không chỉ là biểu tượng: lửa tiềm ẩn trong hiện thể có thể thiêu hủy mô và kích thích sai các trung tâm, hoặc thanh lọc, tiếp sinh lực và nối kết phần thấp với phần cao. Bình giảng liên hệ lửa này với kundalini ở đáy cột sống, đồng thời phân biệt tác dụng hủy diệt, thanh lọc và tổ chức của lửa; việc tổ chức đúng giúp tránh sự hủy hoại bất lợi. Một suy luận riêng đặt câu hỏi liệu lửa có đồng nhất với bản thể hay phát sinh từ bản thể, thay vì coi mối liên hệ ấy là điều đã được xác lập.
Sự chỉnh hợp và đường đi thích hợp của lửa
Tham thiền chân chính hướng đến tiếp xúc với ngọn lửa thiêng liêng của chân ngã và lửa của cõi trí; theo diễn giải trong bình giảng, điều này còn liên quan đến Chân Thần, Lửa Điện và Lửa Thái dương. Khi tham thiền bị thúc ép trước khi các hiện thể cao và thấp được chỉnh hợp qua thể cảm dục, lửa cao có thể kích động kundalini lưu chuyển quá sớm, gây đổ vỡ thay vì kích thích các trung tâm cao. Chân sư DK nêu rằng lửa phải đi theo đường xoắn ốc hình học phù hợp với cung và rung động của từng đạo sinh, dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của chân sư; chỉ dẫn dành riêng cho một người vì vậy không nên tùy tiện áp dụng cho người khác. Lửa đôi khi vận hành đúng trên các cõi bên trong dù tâm thức ở cõi hồng trần chưa ghi nhận được, nên sự thiếu cảm nhận không phải lý do để cưỡng ép nó.
Não bộ: sung huyết và tổn thương
Một nguy cơ đối với não là sung huyết: năng lượng bị dồn vào phạm vi quá hẹp làm căng mạch máu và mô não, khởi đầu bằng tê mỏi hoặc mệt mỏi nhưng có thể dẫn đến tổn thương lâu dài. Cần dừng tham thiền ngay khi xuất hiện dấu hiệu mệt mỏi hay bất ổn, thay vì tiếp tục gia tăng áp lực. Trường hợp đệ tử BSD được nhắc đến như một đối chiếu: sau khi não mệt mỏi vì học tập và tham thiền quá mức, người này không được giao một hình thức tham thiền cố định mà được hướng sang phát triển các năng lực khác.
Não bộ: mất trật tự của lửa
Việc hấp tấp dùng bài tập thở hoặc những phương pháp nhằm khơi dậy lửa thiêng liêng có thể khiến lửa không theo đúng đường hình học và không tạo thành các tam giác cần thiết. Theo lời cảnh báo được trích, dòng điện khi ấy dâng lên với nhiệt và tốc độ ngày càng lớn, có thể phá hủy mô não, làm mất khả năng suy xét và thậm chí gây tử vong. Bình giảng liên hệ xu hướng cưỡng ép này với tính bốc đồng của Sao Hỏa và sự nhất tâm cực đoan của cung sáu; đó là cách lý giải về khuynh hướng của người thực hành, không phải chỉ dẫn để quy mọi bệnh não cho tham thiền. Lời tiên liệu rằng giới y học sẽ nghiên cứu mối liên hệ giữa tình trạng điện của cột sống và não bộ cũng được đặt trong bối cảnh các nguyên nhân nội tại hiện chưa được nhận biết rộng rãi.
Thận trọng không đồng nghĩa với chậm tiến
Thể xác cần được huấn luyện và xây dựng từ từ, bởi tham thiền thiếu phân biện có thể phá hủy chính công cụ cần thiết cho phụng sự. Hình ảnh cây đàn Stradivarius không thể dùng như búa thép minh họa rằng giá trị của một hiện thể phụ thuộc vào việc sử dụng đúng tính chất và giới hạn của nó. Kỳ công tìm táo vàng của Hercules được dùng để gợi ý rằng dừng lại giúp người khác, thay vì chỉ lao thẳng đến mục tiêu, có thể tránh khổ sở và đưa đến tiến bộ hữu ích hơn.
Hệ thần kinh và nếp sống điều độ
Rối loạn hệ thần kinh xảy ra thường xuyên hơn tổn thương não và có thể biểu hiện thành mất ngủ, kích động, bồn chồn, cáu gắt, co giật nhẹ, suy giảm sinh lực hoặc không thể thư giãn. Bình giảng liên hệ một số biểu hiện với tác động dĩ thái và cảm xúc, đồng thời nêu Song Tử như một liên hệ chiêm tinh có thể góp phần giải thích sự hoạt hóa thần kinh; đây là nhận xét diễn giải, không phải nguyên nhân chung cho mọi trường hợp. Việc hiểu lý do của từng phương pháp, xét đúng khí chất của mình, ăn uống hợp lý, ngủ đủ và tiến hành chậm rãi được đặt lên trước khát vọng tiến bộ nhanh. Kỷ luật khôn ngoan phải tránh cả nuông chiều lẫn khắc nghiệt, để phàm ngã còn là công cụ bền bỉ cho phụng sự.
Tham thiền như phương tiện chữa lành
Chân sư DK chỉ đưa ra những cảnh báo tổng quát, đồng thời dự liệu rằng khi các huấn sư có thể công khai giảng dạy, tham thiền được điều chỉnh theo từng người sẽ giúp chữa một số rối loạn não và thần kinh. Các phương pháp thích hợp có thể kích thích trung tâm trì trệ, dẫn lửa vào đúng đường, phân phối nhiệt đều hơn và hỗ trợ phục hồi mô bị tổn hại. Khả năng chữa lành ấy không biện minh cho việc tự thử các kỹ thuật mạnh khi chưa biết tình trạng hiện thể của mình.
Cơ quan sinh dục và chuyển hướng xung lực sáng tạo
Sự kích thích quá mức các cơ quan sinh dục là nguy cơ có thật, vì lửa bên trong dễ đi theo con đường ít trở ngại nhất trong tình trạng phân cực cảm xúc kéo dài của nhân loại. Chân sư DK nêu hai việc cần làm: rút tâm thức khỏi các trung tâm thấp và hướng xung lực sáng tạo lên cõi trí. Khi thành công, hoạt động của lửa thiêng liêng chuyển đến trung tâm cổ họng và trung tâm tương ứng trong đầu, thay vì tập trung vào cơ quan sinh sản; bình giảng liên hệ tiến trình này với sự chuyển dịch năng lượng từ trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng quanh lần điểm đạo thứ nhất. Việc chuyển hướng không diễn ra tức thì, vì nó phải vượt qua những khuynh hướng đã hình thành qua thời gian rất dài.
Tham thiền và năng lượng tính dục
Theo đoạn giáo lý được bình giảng, người chưa tiến bộ nhiều không nên dành quá nhiều thời gian tham thiền khi còn trẻ, vì trung tâm xương cùng mạnh có thể dẫn đến kích thích tính dục quá mức. Quy tắc Bà-la-môn xưa dành những năm đầu đời cho đời sống gia đình rồi mới chuyển sang đời sống sùng tín phù hợp với người bình thường; người chí nguyện và đệ tử tiến bộ phải tự giải quyết vấn đề theo hoàn cảnh riêng. Yogananda được nêu như một trường hợp có thể khác thường: dường như ông sống độc thân tự nhiên, không do đè nén, và có thể đã đạt lần điểm đạo thứ tư.
Chuyển dịch năng lượng và các nguy cơ
Khi tuổi tăng, trọng tâm năng lượng có thể chuyển lên các trung tâm cao hơn; một cách lý giải được đề xuất là dấu hiệu Kim Ngưu liên hệ cả trung tâm xương cùng lẫn trung tâm cổ họng, gợi khả năng chuyển từ biểu hiện thấp của Sao Kim sang biểu hiện của Vulcan. Đây là suy luận, không phải chỉ dẫn cố định về việc điều tiết tính dục. Các nguy cơ được phân biệt gồm ức chế và teo yếu, tổn hại thể xác, rối loạn hệ thần kinh hoặc bộ não, và tổn hại cơ quan sinh dục; Chân sư Tây Tạng không đưa ra một quy tắc áp dụng cho mọi người, cũng như không ấn định cứng nhắc chế độ ăn uống. Khả năng sinh sản bằng tiếng nói thay cho phương thức hiện nay được nêu như một dự đoán về tương lai, không phải thực tế đã xác lập.
Ba nguồn nghiệp quả của đạo sinh
Nguy cơ trong tham thiền còn phát sinh từ nghiệp quả của đạo sinh, chia thành ba nhóm: nghiệp tạo trong đời hiện tại; di truyền dân tộc và loại thể xác; và liên hệ nhóm ở cõi hồng trần hoặc các cõi vi tế. Bình giảng lưu ý rằng nghiệp của một dân tộc, cộng đồng hay các nhóm chính trị, học thuật, tài chính có thể đặt cá nhân trước những điều cần xử lý, chứ không chỉ những hành động riêng trong đời này. Trước giai đoạn ấy, lời cầu nguyện thường còn tập trung vào việc xin lợi ích cho bản thân; từ Phòng Vô Minh qua Phòng Hiểu Biết đến Phòng Minh triết, sự chú tâm chuyển dần sang chân ngã và sự dung hợp hữu ích giữa mặt cao với vận cụ thấp.
Nghiệp quả và mục đích của Thái dương Thượng đế
Định nghĩa nghiệp quả chỉ là những biến cố không tránh được trong hiện tại hoặc tương lai bị xem là chưa đầy đủ. Theo đoạn giáo lý, Thái dương Thượng đế quy tụ chất liệu thích hợp để lập hệ mặt trời nhằm một mục tiêu cụ thể, với một rung động và những quy luật tương ứng; vòng-giới-hạn bao chứa toàn bộ tiến trình biểu hiện ấy. Mọi sự trong hệ cùng chịu nghiệp quả của sự hiện hữu tuần hoàn thất phân này, kể cả những nguyên nhân có trước hệ mặt trời hiện tại, đồng thời thuộc về một toàn thể lớn hơn do định luật vũ trụ chi phối. Sự cần thiết phải chọn mục tiêu xác định cũng được áp dụng vào đời người: không thể đồng thời hiện thực hóa mọi khả năng.
Âm điệu của hệ mặt trời và phạm vi biểu hiện
Bình giảng hình dung hệ mặt trời như một hiện tượng âm nhạc có nhịp điệu và chủ âm; khả năng chủ âm là nốt Sol được nêu như suy đoán, không phải dữ kiện chắc chắn. Phạm vi hệ mặt trời có thể rộng hơn các hành tinh quen thuộc, bao gồm tiểu hành tinh và những thiên thể ngoài quỹ đạo Sao Diêm Vương; các suy luận về tên gọi do chính các thực thể thiên thể gợi ra, hoặc về những hành tinh chưa được xác nhận, cũng được giữ ở mức giả thuyết. Việc mở rộng cách nhìn này minh họa khuynh hướng của trí cụ thể muốn giữ những giới hạn quen thuộc; trường hợp Giordano Bruno được dùng để cho thấy sự chống đối đối với một quan niệm vũ trụ rộng lớn hơn.
Chân ngã, Thái dương Thiên Thần và phàm ngã
Theo phép tương ứng của đoạn giáo lý, phàm ngã là hiện trường biểu hiện của chân ngã trong một đời, như hệ mặt trời là hiện trường biểu hiện của Thái dương Thượng đế. Một cách diễn giải được đề xuất là Thái dương Thiên Thần không nằm trọn trong thể nguyên nhân ở Cõi thượng trí: Hoa Sen Chân Ngã chỉ dung chứa một phần sự hiện diện của vị ấy, trong khi hoạt động của chân ngã còn liên hệ cấp độ Bồ đề. Vai trò bắt cầu của Thái dương Thiên Thần được liên hệ với những chức năng của một thể thượng trí mà con người chưa tự xây dựng đầy đủ; việc mở rộng phép tương ứng này lên Thái dương Thượng đế vẫn là suy đoán.
Mục tiêu của mỗi kiếp sống và sự từ bỏ vận cụ
Chân ngã tập hợp chất liệu, xây dựng một phàm ngã và hướng mỗi kiếp sống đến một kết quả nhất định, chứ không theo đuổi mọi mục tiêu cùng lúc. Kết quả ấy có thể là đức hạnh hình thành qua việc trả giá cho thói xấu, năng lực kinh doanh phát triển trong cảnh thiếu thốn, sự nhạy cảm trước đau khổ của động vật, lòng tận tụy vô tư khi chăm sóc người phụ thuộc, hoặc sự chuyển hoá ham muốn nhờ tham thiền. Khi Hoa Sen Chân Ngã đạt mức rung động cần thiết, vận cụ từng hữu ích có thể trở thành giới hạn phải từ bỏ; người thanh niên giàu có trong lời dạy của Đức Christ được dùng để minh họa sức nặng của sự chọn lựa ấy. Khả năng Jeanne d’Arc trải qua lần điểm đạo thứ tư khi chọn trung thành với sứ mệnh thay vì an toàn theo khuôn phép được nêu rõ như một giả thuyết.
Nhận ra mục tiêu của linh hồn và hành động sửa sai
Mục tiêu sâu xa đưa linh hồn đang nhập thể vào đời không thể được xác định trọn vẹn chỉ bằng sự tự vấn của phàm ngã; cần xem chủ đề xuyên suốt đời mình và điều mình thực sự có thể làm để giúp ích. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, việc chuyển từ âm nhạc và biểu diễn sang giảng dạy Minh Triết Ngàn Đời là sự nhận ra mục tiêu chi phối kiếp sống của mình; niềm thôi thúc mãnh liệt ấy cũng gợi khả năng từng bỏ lỡ hoặc cản trở công việc tương tự, nhưng đây là suy đoán về nghiệp quả. Những câu chuyện về sự chuộc lỗi và đổi hướng phụng sự nhấn mạnh hành động sửa sai thay cho tự ghét bỏ: khi nhận ra sai lầm, điều quan trọng là thay đổi cách làm và tiếp tục đóng góp cho Thiên Cơ.
Tham thiền không được thay thế bài học của kiếp sống
Theo đoạn giáo lý được trích, nếu việc rèn luyện năng lực tham thiền khiến đạo sinh bỏ lỡ phẩm tính mà linh hồn dự định xây dựng trong một kiếp sống, kết quả là thể nguyên nhân phát triển lệch và thời gian phải được dùng để sửa chữa về sau. Trường hợp được nêu là một người thiên về sùng tín, mộng tưởng và tham thiền thần bí, trong khi mục tiêu của kiếp sống lại là học khoa học, sự kiện cụ thể và cách áp dụng hiểu biết vào đời sống hồng trần. Suy luận trong phần bình giảng liên hệ nhu cầu này với cung năm: sự chính xác trong tư duy chưa nhất thiết đi cùng khả năng xử lý máy móc hay công việc thực hành thường ngày.
Bù đắp những năng lực còn thiếu
Việc quay về năng lực đã phát triển vì đó là con đường ít trở ngại nhất được so sánh với cách một người chỉ sử dụng chức năng vượt trội trong bốn chức năng của Carl Jung, thay vì rèn chức năng yếu. Những năng lực cần bù đắp có thể khác nhau ở từng người; sự chuyên môn hóa vẫn cần thiết, nhưng không nên trở thành lý do để mặc nhận một thiếu hụt đáng kể hoặc dùng câu “tôi vốn như vậy” che chở ảo cảm và ảo tưởng. Nếu bài học bị né tránh, một kiếp sống sau có thể đặt ra hoàn cảnh tương tự với vòng-giới-hạn chặt hơn. Giả thuyết được nêu là đôi khi một sự theo đuổi có vẻ quá mức lại nhằm nhanh chóng bù đắp phẩm tính còn thiếu, dù không thể vì thế mà xem mọi biểu hiện cực đoan là thích đáng.
Địa vị thích hợp của tham thiền huyền bí
Giáo lý phân biệt tham thiền thần bí với tham thiền huyền bí được thực hiện có phương pháp: loại thứ hai thích hợp khi thể nguyên nhân đã tương đối phát triển cân đối và đạo sinh gần cuối Phòng Hiểu Biết, chuẩn bị bước sang Phòng Minh triết qua lần điểm đạo thứ nhất. Tham thiền dùng để trốn khỏi nhiệm vụ của linh hồn có thể làm một rung động mạnh lên quá mức so với các rung động khác, khiến thể nguyên nhân phải được tái điều chỉnh trong những kiếp sau. Hình ảnh mỗi kiếp sống tạo nên một hình dạng hình học được dùng để diễn tả mục tiêu xây dựng sự cân đối, thay cho hình dạng lệch lạc.
Giới hạn sức khỏe và khả năng vượt khó
Theo lời cảnh báo được trích, bệnh rõ rệt, khiếm khuyết bẩm sinh hoặc sự yếu kém trí tuệ có thể khiến tham thiền không phải lựa chọn khôn ngoan vì nó có nguy cơ làm tình trạng nặng thêm. Điều này không phủ nhận khả năng phát triển bằng con đường khác: ví dụ về người bị liệt vẽ bằng chuyển động mắt, người vẽ bằng bàn chân trái trong phim My Left Foot và người mù có thính giác âm nhạc đặc biệt minh họa cách một giới hạn chặt có thể thúc đẩy năng lực còn khả dụng. Bài học được rút ra là cần đối diện điều kiện thực tế của mình, thay vì xem tham thiền như lối thoát khỏi phẩm tính phải rèn luyện.
Cá thể hóa việc chỉ định tham thiền
Hai yếu tố được giáo lý yêu cầu cân nhắc khi chỉ định một phương pháp tham thiền là đặc điểm giống dân phụ và loại cơ thể Đông phương hay Tây phương. Những khác biệt về khí chất, kể cả giữa các nhóm như Celt và Teuton, có thể khiến cùng một phương pháp làm ưu điểm tăng đến mức thành khuyết điểm hoặc khuếch đại nhược điểm sẵn có. Phần bình giảng lưu ý rằng kiến thức hiện nay chưa đủ để tự tin chỉ định sâu cho từng cá nhân như một huấn sư có khả năng nhận biết chính xác thể nguyên nhân; nguyên tắc trước hết là không gây tổn hại. Bài kiểm tra PIP được nhắc như một cách gợi ý các năng lực tương đối mạnh, yếu, chứ không thay thế sự nhận biết ấy.
Hai phương hướng tham thiền qua các thời kỳ
Trong giống dân gốc Atlantis, tham thiền đi từ cõi cảm dục lên cõi trực giác qua cõi phụ nguyên tử và phần lớn bỏ qua cõi trí; nguy cơ là kích thích quá mức thể cảm dục, tùng thái dương và các trung tâm thấp. Trong giống dân gốc Arya, phương hướng là đặt tâm thức trước hết ở Hạ trí, rồi ở thể nguyên nhân, để nối phần thấp với phần cao; những đợt soi sáng thoáng qua dần nhường chỗ cho sự chiếu rọi liên tục. Cách diễn giải trong phần bình giảng cho rằng dấu vết của phương pháp cảm xúc vẫn còn trong một số lối tham thiền thần bí hiện nay, trong khi tham thiền trí tuệ thực sự chưa phổ biến.
Nguy cơ của trí tuệ tách khỏi phần cao
Sự phát triển trí tuệ hiện nay mang theo nguy cơ ích kỷ, kiêu ngạo và quên mất phần cao mà phương pháp tham thiền đương thời phải hướng tới. Đặc biệt nguy hiểm là biến trí cụ thể thành một lĩnh vực biệt lập, cắt khỏi Thượng trí; vì thế phụng sự và sự vững vàng của trí tuệ được đặt làm điều kiện cho người tìm đường vào Huynh đệ Đoàn Chánh đạo. Trong phần liên hệ mang tính diễn giải, cuộc xung đột hiện thời được gắn với Hổ Cáp và Sao Thủy như một lựa chọn giữa trí cụ thể biệt lập với Trí trừu tượng và trực giác, thay vì xem những liên hệ chiêm tinh ấy là lời giải thích đã được xác lập cho mọi trường hợp.
Khí chất Đông phương và Tây phương
Giáo lý ví Đông phương với trái tim, nguồn nhiệt và sinh lực, còn Tây phương với bộ não có chức năng tổ chức, định hướng và tích lũy sự kiện. Đông phương được mô tả là thiên về triết học, tư duy trừu tượng, nếp sống theo khuôn phép và hoạt động của trung tâm tim; Tây phương thiên về thực tiễn, kinh doanh, quyết định nhanh, trí cụ thể và hoạt động của trung tâm đầu cùng trung tâm cổ họng. Phần bình giảng gợi liên hệ giữa những nét Tây phương với các cung một, ba, năm và bảy, nhưng cũng lưu ý sự di chuyển dân cư, công nghiệp hóa ở Trung Quốc và Ấn Độ, cùng các cung được gán cho hai khu vực khiến mọi phân loại đơn giản đều cần thận trọng.
Bù trừ Đông–Tây trong thực hành
Theo đoạn giáo lý, người Đông phương đưa tâm thức lên đầu qua tham thiền chuyên cần, mantram, sự tĩnh cư và việc tuân theo hình thức thực hành trong thời gian dài. Người Tây phương trước hết cần đưa tâm thức về tim, dùng nhiều hình thức tập thể hơn và tìm được trung tâm của mình ngay giữa công việc, thành phố cùng đời sống đông đúc. Cách diễn giải được đề xuất là việc huyền bí học lan sang Tây phương có thể giúp bù cho xu hướng quá cụ thể, trong khi hoạt động công nghiệp ở Đông phương có thể tăng năng lực thực hành; chỉ định tham thiền không nên tiếp tục khuếch đại điều đã quá nổi trội ở mỗi bên.
Khả năng làm việc giữa đời sống náo động
Mozart và Schubert từng ghi nhạc trên khăn ăn giữa quán xá, còn Beethoven mang sổ phác thảo khi đi trong rừng Vienna để giữ lại giai điệu vừa xuất hiện; trái lại, Puccini cần sự yên tĩnh tuyệt đối và thường viết lúc nửa đêm. Những ví dụ ấy gợi ra khả năng tập trung ngay giữa hoạt động thường ngày, một năng lực quan trọng khi Thánh Đoàn ngoại hiện và công việc không còn chỉ diễn ra trong các nơi ẩn cư yên tĩnh. Các chân sư phương Đông có thể phải thích nghi với sự náo nhiệt của phương Tây, dù Chân sư DK cũng dự báo việc đi lại trong kỷ nguyên mới sẽ yên tĩnh hơn.
Phương Đông, phương Tây và sự quân bình
Theo đoạn giáo lý được bình giải, người phương Tây dùng các hình thức tập thể để đạt mục tiêu; trung tâm tim thức tỉnh biểu lộ qua phụng sự, vì thế phương Tây chú trọng tham thiền nơi tim và đời sống phụng sự. Cách đối chiếu trong phần bình giảng đặt Đức Phật, với Chân Thần cung ba và định hướng trí tuệ, bên cạnh Đức Christ, Đấng đem định hướng nơi tim đến trước hết cho cộng đồng Do Thái thiên về trí tuệ. Sự phát triển trí tuệ ở phương Đông và ảnh hưởng từ Đức Christ ở phương Tây cho thấy hai định hướng có thể bổ sung cho nhau; sự giao thoa ấy cũng có thể diễn ra trong từng cá nhân, không phụ thuộc hoàn toàn vào nơi sinh ở kiếp hiện tại.
Phương pháp tham thiền tùy người, mục tiêu vẫn thống nhất
Chân sư DK lưu ý rằng phép tham thiền giúp một người phương Đông phát triển có thể gây nguy hiểm cho người phương Tây, và điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Hình thức thực hành có thể dành cho cá nhân hoặc tập thể, mantram có thể được xướng riêng hoặc theo nhóm, và các trung tâm được chú ý cũng có thể khác nhau; mục tiêu chung vẫn là đạt sự quân bình, không củng cố quá mức điều đã phát triển mà bỏ quên nhu cầu thực sự. Việc chọn phương pháp còn tùy cá nhân, dân tộc và hoàn cảnh; những người hướng dẫn trên các cõi bên trong vẫn dẫn tất cả đến cùng Phòng Minh triết và Cửa Điểm Đạo. Phần bình giảng nhận xét rằng hiện nay con người chưa đủ sáng suốt để biết chắc nên chỉ định phương pháp nào cho từng trường hợp.
Hiện diện từ xa và Định luật Tiết Kiệm
Việc đi lại bị hạn chế trong đại dịch gợi ra khả năng phát triển hình thức hiện diện từ xa ngày càng chân thực, thay vì luôn phải di chuyển thể xác. Theo một suy luận được đề xuất, cách làm ấy tiết kiệm thời gian, năng lượng và tiền bạc, nên có thể phù hợp với Định luật Tiết Kiệm. Đây là một hướng thích nghi được nêu ra, không phải phương pháp tham thiền đã được Chân sư DK ấn định.
Cung bảy và cơ hội của phương Tây
Chân sư DK cảnh báo nguy cơ khi người phương Tây áp dụng những quy tắc vốn thích hợp cho người phương Đông, đồng thời cho biết Cung bảy của Định luật Nghi lễ hay Trật tự đang lên sẽ đem đến cho phương Tây các định luật mantram, phương pháp mantram và hình thức nghi lễ mà phương Đông đã có từ lâu. Nếu được nắm bắt đúng, xung lực này có thể đưa người phương Tây đến dưới chân Đức Chúa Tể Thế Giới. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, phương Đông đang nuôi dưỡng đời sống tinh thần phương Tây, còn khả năng thực hành và biểu hiện đã phát triển ở phương Tây có thể giúp phương Đông; các quốc gia và cá nhân đều nắm giữ những phần cần thiết cho sự quân bình chung.
Cơ sở lý giải và sự thận trọng trên đường tu
Thư Về Tham thiền Huyền môn cung cấp cơ sở lý giải cho các thực hành, điều đặc biệt quan trọng với người phương Tây muốn hiểu mục đích trước khi thực hiện, thay vì chỉ dựa vào lòng tin. Phần bình giảng đối chiếu thái độ ấy với khuynh hướng của một số người muốn được dẫn dắt, dễ gán phẩm tính cao cả cả cho người rõ ràng không xứng đáng; khuynh hướng đi theo uy quyền này được liên hệ với cung sáu và cần dần nhường chỗ cho khả năng tự định hướng. Những phần tiếp theo của sách còn bàn đến nhiều nguy cơ, kể cả sự ám nhập; một giả thuyết trong phần bình giảng liên hệ các hiện tượng ám nhập khởi phát từ thập niên 1920 với những nguyên nhân về sau dẫn đến Thế chiến thứ hai.
Text LOM 27 – Văn bản LOM 27
[1] It is our task now to deal briefly with the dangers that attend the practice of meditation as they manifest in the physical body. These dangers—like so much else in the Logoic scheme— [2] assume a three-fold nature, attacking [Page 102] three departments of the physical body. They show themselves:
[1] Giờ đây, nhiệm vụ của chúng ta là bàn vắn tắt về những nguy hiểm đi kèm việc thực hành tham thiền khi chúng biểu hiện trong thể xác. Những nguy hiểm này—cũng như rất nhiều điều khác trong hệ hành tinh của Thượng đế— [2] mang bản chất tam phân, tấn công [Page 102] ba bộ phận của thể xác. Chúng biểu lộ:
[3] a—In the brain.
[3] a—Trong bộ não.
[4] b—In the nervous system.
[4] b—Trong hệ thần kinh.
[5] c—In the sex organs.
[5] c—Trong các cơ quan sinh dục.
[6] It is needless to point out now the reason why I dealt first with the dangers of the mental and emotional bodies. It was necessary so to do, for many of the perils besetting the dense vehicle find their commencement on the subtler planes, and are only the outer manifestations of inner evils.
[6] Lúc này không cần chỉ ra lý do vì sao Tôi đã bàn trước tiên về những nguy hiểm đối với thể trí và thể cảm dục. Làm như vậy là cần thiết, vì nhiều hiểm họa đe dọa hiện thể đậm đặc khởi nguồn trên các cõi tinh tế hơn, và chỉ là những biểu hiện bên ngoài của các điều tai hại bên trong.
[7] Each human being enters into life equipped with a physical and etheric body of certain constituents, those constituents being the product of a previous incarnation; they are virtually the body, reproduced exactly, that the man finally left behind him when death severed him from physical plane existence. [8] The task ahead of everybody is to take that body, realize its defects and requirements, and then deliberately set in and build a new body that may prove more adequate to the need of the inner spirit. This is a task of large dimensions and involves time, stern discipline, self-denial and judgment.
[7] Mỗi con người bước vào cuộc sống với một thể xác và một thể dĩ thái có những thành phần nhất định, những thành phần ấy là sản phẩm của một kiếp nhập thể trước; về thực chất, chúng là thân thể được tái tạo chính xác mà con người cuối cùng đã bỏ lại khi cái chết tách y khỏi sự hiện tồn trên cõi hồng trần. [8] Nhiệm vụ trước mắt của mỗi người là tiếp nhận thân thể ấy, nhận ra những khiếm khuyết và nhu cầu của nó, rồi chủ động bắt tay xây dựng một thân thể mới có thể đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của tinh thần bên trong. Đây là một nhiệm vụ lớn lao, đòi hỏi thời gian, kỷ luật nghiêm ngặt, sự tự tiết chế và khả năng phán đoán.
[9] The man who undertakes the practice of occult meditation literally “plays with fire.” I wish you to emphasize this statement for it embodies a truth little realized. “Playing with fire” is an old truth that has lost its significance through flippant repetition, yet it is absolutely and entirely correct, and is not a symbolic teaching but a plain statement of fact. [10] Fire forms the basis of all— [11] the Self is fire, [12] the intellect is a phase of fire, [13] and latent in the microcosmic physical vehicles lies hid a veritable fire that can either be a destructive force, burning the tissue of the body and stimulating centers of an undesirable character, [14] or be a vivifying factor, acting as a [Page 103] stimulating and awakening agent. When directed along certain prepared channels, this fire may act as a purifier and the great connector between the lower and the Higher Self.
[9] Người thực hành tham thiền huyền môn thực sự đang “đùa với lửa”. Tôi muốn các bạn nhấn mạnh lời này, vì nó chứa đựng một chân lý ít người nhận ra. “Đùa với lửa” là một chân lý lâu đời đã mất đi thâm nghĩa do bị lặp lại một cách hời hợt, nhưng nó hoàn toàn đúng, và không phải một lời dạy mang tính biểu tượng mà là một phát biểu thẳng thắn về sự thật. [10] Lửa là nền tảng của tất cả— [11] Bản Ngã là lửa, [12] trí năng là một dạng của lửa, [13] và ẩn tiềm trong các hiện thể hồng trần của tiểu thiên địa là một ngọn lửa thực sự, có thể trở thành một mãnh lực hủy diệt, thiêu đốt mô của thân thể và kích thích những trung tâm có tính chất không mong muốn, [14] hoặc trở thành một yếu tố tiếp sinh lực, đóng vai trò một tác nhân [Page 103] kích thích và đánh thức. Khi được dẫn theo những đường dẫn đã chuẩn bị sẵn, ngọn lửa này có thể hoạt động như một tác nhân thanh lọc và là mối nối vĩ đại giữa phàm ngã và chân ngã.
[15] In meditation the student seeks to contact the divine flame that is his Higher Self, and to put himself likewise en rapport with the fire of the mental plane. [16] When meditation is forced, or is pursued too violently, [17] before the alignment between the higher and lower bodies via the emotional is completed, [18] this fire may act on the fire latent at the base of the spine (that fire called kundalini) and may cause it to circulate too early. [19] This will produce disruption and destruction instead of vivification and stimulation of the higher centers. [20] There is a proper geometrical spiralling which this fire should follow, dependent upon the ray of the student and the key of the vibration of his higher centers. [21] This fire should only be permitted to circulate under the direct instruction of the Master and consciously distributed by the student himself, following the specific oral instructions of the teacher. [22] Sometimes the fire may be aroused and spiral with correctness without the student knowing what is occurring on the physical plane; but on the inner planes he knows and has but failed to bring the knowledge through to the physical plane consciousness.
[15] Trong tham thiền, đạo sinh tìm cách tiếp xúc với ngọn lửa thiêng liêng vốn là chân ngã của y, đồng thời đặt mình vào sự giao cảm với lửa của cõi trí. [16] Khi tham thiền bị cưỡng ép hoặc được thực hành quá mãnh liệt, [17] trước khi hoàn tất sự chỉnh hợp giữa các thể cao và thấp qua thể cảm dục, [18] ngọn lửa này có thể tác động lên ngọn lửa tiềm ẩn ở đáy cột sống (ngọn lửa gọi là kundalini) và khiến nó lưu chuyển quá sớm. [19] Điều này sẽ gây rối loạn và hủy hoại thay vì tiếp sinh lực và kích thích các trung tâm cao hơn. [20] Có một đường xoắn ốc đúng theo hình học mà ngọn lửa này phải tuân theo, tùy thuộc vào cung của đạo sinh và âm chủ của rung động nơi các trung tâm cao của y. [21] Chỉ nên cho phép ngọn lửa này lưu chuyển dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Chân sư, và chính đạo sinh phải phân phối nó một cách có ý thức, theo những chỉ dẫn truyền khẩu cụ thể của huấn sư. [22] Đôi khi ngọn lửa có thể được khơi dậy và chuyển động xoắn ốc đúng cách mà đạo sinh không biết điều gì đang xảy ra trên cõi hồng trần; nhưng trên các cõi bên trong, y biết và chỉ chưa đưa được sự hiểu biết ấy vào tâm thức cõi hồng trần.
[23] Let us take up for a moment the three dangers that principally beset the physical vehicles. I would like to point out that I deal with the trouble in its extreme, and that there are many intermediate stages of risk and trouble that attack the unwary student.
[23] Chúng ta hãy dành một chút thời gian xem xét ba nguy hiểm chủ yếu đe dọa các hiện thể hồng trần. Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi đang bàn về vấn đề ở mức cực đoan, và có nhiều mức độ rủi ro cùng rối loạn trung gian tấn công đạo sinh thiếu thận trọng.
Dangers to the physical brain. – Những nguy hiểm đối với bộ não hồng trần.
[24] The brain suffers principally in two ways:—
[24] Bộ não chịu tổn hại chủ yếu theo hai cách:—
[25] From congestion, [26] causing a [27] suffusion of the blood [Page 104] vessels and a consequent strain upon the delicate brain tissue. [28] This may result in permanent injury, and may even cause imbecility. [29] It shows in the initial stages as numbness and fatigue, [30] and if the student persists in meditation when these conditions are sensed the result will be serious. At all times a student should guard against continuing his meditation when any fatigue is felt, and should stop at the first indications of trouble. [31] All these dangers can be guarded against by the use of common-sense, and by remembering that the body must ever be trained gradually and be built slowly. [32] In the scheme of the Great Ones, hurry has no place.
[25] Do sung huyết, [26] gây [27] ứ đầy máu trong các [Page 104] mạch máu và do đó gây áp lực lên mô não mỏng manh. [28] Điều này có thể dẫn đến tổn thương vĩnh viễn, thậm chí gây suy giảm trí năng nghiêm trọng. [29] Trong giai đoạn đầu, nó biểu hiện bằng cảm giác tê dại và mệt mỏi, [30] và nếu đạo sinh vẫn kiên trì tham thiền khi cảm thấy những tình trạng này thì hậu quả sẽ nghiêm trọng. Đạo sinh phải luôn tránh tiếp tục tham thiền khi cảm thấy bất kỳ sự mệt mỏi nào, và phải dừng lại ngay khi có dấu hiệu rối loạn đầu tiên. [31] Có thể phòng tránh tất cả những nguy hiểm này bằng lẽ thường, và bằng cách nhớ rằng thân thể luôn phải được rèn luyện dần dần và xây dựng chậm rãi. [32] Trong kế hoạch của Các Đấng Cao Cả, không có chỗ cho sự vội vàng.
[33] From insanity. This evil has often been seen in earnest students who persist in unwise pressure or seek unguardedly to arouse the sacred fire through breathing exercises and similar practices; [34] they pay the price of their rashness [35] through the loss of their reason. [36] The fire does not proceed in due geometrical form, the necessary triangles are not made, [37] and the electrical fluid [38] rushes with ever increasing speed and heat upwards, [39] and literally burns away all or part of the brain tissue, thus bringing about insanity and sometimes death.
[33] Do loạn trí. Tai hại này thường thấy ở những đạo sinh nhiệt thành cứ tiếp tục ép mình một cách thiếu sáng suốt, hoặc thiếu thận trọng tìm cách khơi dậy ngọn lửa thiêng liêng bằng các bài tập thở và những thực hành tương tự; [34] họ trả giá cho sự hấp tấp của mình [35] bằng việc mất trí. [36] Ngọn lửa không vận hành theo hình tướng hình học đúng đắn, các tam giác cần thiết không hình thành, [37] và lưu chất điện [38] lao lên với tốc độ và sức nóng ngày càng tăng, [39] thực sự thiêu hủy toàn bộ hoặc một phần mô não, do đó gây loạn trí và đôi khi gây tử vong.
[40] When these things are more widely comprehended and openly acknowledged, [41] doctors and brain specialists will study with greater care and accuracy the electrical condition of the spinal column, and correlate its condition with that of the brain. Good results will thus be achieved.
[40] Khi những điều này được thấu hiểu rộng rãi hơn và công khai thừa nhận, [41] các bác sĩ và chuyên gia về não sẽ nghiên cứu tình trạng điện của cột sống cẩn thận và chính xác hơn, đồng thời đối chiếu tình trạng ấy với tình trạng của bộ não. Nhờ đó sẽ đạt được những kết quả tốt.
Dangers to the nervous system. – Những nguy hiểm đối với hệ thần kinh.
[42] The troubles connected with the nervous system are more frequent than those attacking the brain, such as insanity and disruption of the brain tissue. [43] Almost all who undertake meditation are conscious of an effect in [Page 105] the nervous system; sometimes it takes the form of sleeplessness, of excitability, of a strained energy and restlessness that permit of no relaxation; [44] of an irritability [45] that has been foreign perhaps to the disposition until meditation was pursued; [46] of a nervous reaction—such as a twitching of the limbs, the fingers or the eyes—of depression or a lowering of the vitality, and of many individual modes of showing tension and nervousness, differing according to nature and temperament. [47] This display of nervousness may be either severe or slight, but I seek earnestly to point out it is quite needless, provided the student adheres to the rules of common-sense, that he studies wisely his own temperament, and that he does not blindly proceed with forms and methods but insists on knowing the raison d'etre of instituted action. [48] If occult students [49] disciplined the life more wisely, if they studied the food problem more carefully, if they took the needed hours of sleep with more determination, [50] and if they worked with cautious slowness and not so much from impulse (no matter how high the aspiration) greater results would be seen and the Great Ones would have more efficient helpers in the work of serving the world.
[42] Những rối loạn liên quan đến hệ thần kinh thường gặp hơn những rối loạn tấn công bộ não, như loạn trí và tổn hại mô não. [43] Hầu như tất cả những người thực hành tham thiền đều nhận biết một tác động trong [Page 105] hệ thần kinh; đôi khi nó biểu hiện dưới dạng mất ngủ, dễ kích động, trạng thái năng lượng căng thẳng và bồn chồn không cho phép thư giãn; [44] sự dễ cáu gắt [45] có lẽ vốn xa lạ với tính khí trước khi thực hành tham thiền; [46] phản ứng thần kinh—như co giật ở chân tay, ngón tay hoặc mắt—sự trầm uất hoặc suy giảm sinh lực, cùng nhiều cách biểu hiện căng thẳng và bất an thần kinh riêng biệt, khác nhau tùy theo bản chất và khí chất. [47] Những biểu hiện bất an thần kinh này có thể nặng hoặc nhẹ, nhưng Tôi tha thiết muốn chỉ ra rằng chúng hoàn toàn không cần xảy ra, miễn là đạo sinh tuân theo các quy luật của lẽ thường, sáng suốt nghiên cứu khí chất của chính mình, không mù quáng thực hành các hình thức và phương pháp mà nhất quyết tìm hiểu lý do của những hành động đã quy định. [48] Nếu các đạo sinh huyền môn [49] đưa đời sống vào kỷ luật một cách sáng suốt hơn, nghiên cứu vấn đề ăn uống cẩn thận hơn, kiên quyết hơn trong việc ngủ đủ số giờ cần thiết, [50] và làm việc chậm rãi, thận trọng thay vì quá nhiều theo sự thôi thúc nhất thời (dù khát vọng cao đến đâu), thì sẽ thấy những kết quả lớn hơn, và Các Đấng Cao Cả sẽ có những người trợ giúp hữu hiệu hơn trong công việc phụng sự thế gian.
[51] It is not my purpose in these letters to take up specifically the diseases of the brain and of the nervous system. I only desire to give general indications and warnings and (for your encouragement) to point out that later when the wise Teachers move among men and openly teach in specific schools, many forms of brain trouble and of nervous complaints will be cured through meditation wisely adjusted to the individual need. [52] Proper meditations will be set to stimulate quiescent centers, to turn the inner fire to proper channels, to distribute the divine heat in equable arrangement, to build in tissue [53] [Page 106] and to heal. The time for this is not yet, though it lies not so far ahead as you might imagine.
[51] Trong những bức thư này, Tôi không có ý định bàn cụ thể về các bệnh của bộ não và hệ thần kinh. Tôi chỉ muốn đưa ra những chỉ dẫn và cảnh báo chung, đồng thời (để khích lệ các bạn) chỉ ra rằng về sau, khi các huấn sư minh triết đi lại giữa nhân loại và công khai giảng dạy trong những trường chuyên biệt, nhiều dạng rối loạn não và bệnh thần kinh sẽ được chữa lành qua tham thiền được điều chỉnh sáng suốt theo nhu cầu cá nhân. [52] Những bài tham thiền thích hợp sẽ được quy định để kích thích các trung tâm đang tĩnh tại, hướng ngọn lửa bên trong vào những đường dẫn đúng đắn, phân phối sức nóng thiêng liêng một cách đồng đều, xây dựng mô [53] [Page 106] và chữa lành. Thời điểm ấy chưa đến, dù không xa như các bạn có thể tưởng.
Dangers to the sex organs. – Những nguy hiểm đối với các cơ quan sinh dục.
[54] The danger of the over-stimulation of these organs is well recognized theoretically, and I do not purpose to enlarge on it greatly today. I but seek to point out that this danger is very real. The reason is that in the overstimulation of these centers the inner fire is but following the line of least resistance, owing to the polarization of the race as a whole. [55] The work, therefore, that the student has to do is twofold:—
[54] Về lý thuyết, nguy hiểm do kích thích quá mức các cơ quan này đã được nhận biết rõ, và hôm nay Tôi không định bàn sâu về điều đó. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng nguy hiểm này rất thực. Lý do là khi các trung tâm này bị kích thích quá mức, ngọn lửa bên trong chỉ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất, do sự phân cực của toàn thể nhân loại. [55] Vì vậy, công việc đạo sinh phải làm mang tính nhị phân:—
[56] a—He has to withdraw his consciousness from those centers; this is no easy task for it means working against the results of age-long development.
[56] a—Y phải rút tâm thức khỏi những trung tâm ấy; đây không phải nhiệm vụ dễ dàng, vì nó có nghĩa là đi ngược lại những kết quả của quá trình phát triển qua bao thời đại.
[57] b—He has to direct the attention of the creative impulse to the mental plane. [58] In so doing, if successful, he will turn the activity of the divine fire to the throat center and its corresponding head center, [60] instead of to the lower organs of generation. [61] Therefore, it will be apparent to you why—unless a man is very advanced—it is not wise to spend much time in meditation during the earlier years. [62] There was wisdom in the old Brahmanical rule that a man must give his early years to household endeavor, and only when he had fulfilled his function as a man [63] could he go on to the life of the devotee. This was the rule for the average. [64] With advanced egos, pupils and disciples, it is not so, and each must then work out his own individual problem.
[57] b—Y phải hướng sự chú ý của xung lực sáng tạo lên cõi trí. [58] Khi làm như vậy, nếu thành công, y sẽ chuyển hoạt động của ngọn lửa thiêng liêng lên trung tâm cổ họng và trung tâm đầu tương ứng, [60] thay vì hướng đến các cơ quan sinh sản thấp hơn. [61] Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ vì sao—trừ khi một người đã tiến hóa rất cao—việc dành nhiều thời gian tham thiền trong những năm đầu đời là không sáng suốt. [62] Quy luật Bà-la-môn cổ xưa chứa đựng minh triết khi yêu cầu một người dành những năm đầu đời cho bổn phận gia đình, và chỉ sau khi hoàn thành chức năng làm người của mình [63] mới có thể bước vào đời sống của người sùng tín. Đây là quy luật dành cho người trung bình. [64] Với những chân ngã tiến hóa cao, môn sinh và đệ tử thì không như vậy, và mỗi người khi ấy phải tự giải quyết vấn đề riêng của mình.
JULY 29, 1920.
NGÀY 29 THÁNG 7 NĂM 1920.
2 - Dangers arising from the Karma of the student. – 2 - Những nguy hiểm phát sinh từ nghiệp quả của đạo sinh.
These as you know may he grouped under three heads, as follows: [Page 107]
Như các bạn biết, những nguy hiểm này có thể được chia thành ba nhóm như sau: [Page 107]
[65] l—Those incidental to the karma of his present life.
[65] 1—Những nguy hiểm gắn với nghiệp quả của đời sống hiện tại của y.
[66] 2—Those based on his national heredity and his type of body.
[66] 2—Những nguy hiểm dựa trên di truyền dân tộc và loại thân thể của y.
[67] 3—Those attendant on his group affiliations, whether on the physical plane and so exoteric, or on the subtle planes and so esoteric.
[67] 3—Những nguy hiểm đi kèm các mối liên kết nhóm của y, dù trên cõi hồng trần và do đó thuộc ngoại môn, hay trên các cõi tinh tế và do đó thuộc nội môn.
[68] Just what do you mean by the “karma of the student?” We use words lightly, [69] and I presume that the thoughtless reply would be that the student's karma is the inevitable happenings of the present or the future that he cannot evade. This is somewhat right, but is only one aspect of the whole. Let us look at the matter first in a large manner, for oft in the just apprehension of big outlines comes comprehension of the small.
[68] Các bạn thực sự muốn nói gì khi nói đến “nghiệp quả của đạo sinh”? Chúng ta dùng từ một cách hời hợt, [69] và Tôi cho rằng câu trả lời thiếu suy xét sẽ là: nghiệp quả của đạo sinh là những sự việc tất yếu trong hiện tại hoặc tương lai mà y không thể tránh. Điều này đúng phần nào, nhưng chỉ là một phương diện của toàn thể. Trước hết, chúng ta hãy nhìn vấn đề trên bình diện rộng, vì thường chính nhờ nắm bắt đúng những đường nét lớn mà ta thấu hiểu những điều nhỏ.
[70] When our Logos founded the solar system He drew within the circle of manifestation matter sufficient for His project, and material adequate for the object He had in view. [71] He had not all possible objects in view for this one solar system: [72] he had some specific aim that necessitated some specific vibration and required therefore certain differentiated material. [73] This circle that we term the systemic or solar “ring-pass-not” bounds all that transpires within our system, and contains within its bounds our dual manifestation. [74] All within that ring vibrates to a certain key-measure, [75] and conforms to certain rules with the aim in view of the achievement of a particular goal, and the attainment of a certain end, known in its entirety only to the Logos Himself. [76] All within that circle is subject to specific rules and governed by a certain key measure, and might be regarded as being subject to the karma of that sevenfold periodic existence, and [77] actuated by causes dating back prior to the ringing of that circle, thus linking our system to its forerunner [78] and affiliating it with that which will come [Page 108] after. [79] Not an isolated unit are we, but part of a greater whole, governed in our totality by cosmic law [80] and working out (as a whole) certain definite aims.
[70] Khi Thượng đế của chúng ta thiết lập hệ mặt trời, Ngài thu vào vòng tròn biểu hiện lượng vật chất đủ cho dự định của Ngài, và chất liệu phù hợp với mục tiêu Ngài nhắm tới. [71] Ngài không nhắm đến mọi mục tiêu khả dĩ cho hệ mặt trời này: [72] Ngài có một mục đích cụ thể, đòi hỏi một rung động cụ thể và do đó cần những chất liệu đã biến phân nhất định. [73] Vòng tròn mà chúng ta gọi là “vòng-giới-hạn” của hệ thống hay của hệ mặt trời này bao quanh tất cả những gì diễn ra trong hệ thống của chúng ta, và chứa trong ranh giới của nó sự biểu hiện kép của chúng ta. [74] Tất cả những gì trong vòng ấy đều rung động theo một âm nhịp nhất định, [75] và tuân theo những quy luật nhất định nhằm đạt một mục tiêu riêng biệt và một kết quả nhất định mà chỉ chính Thượng đế mới biết trọn vẹn. [76] Tất cả những gì trong vòng tròn ấy đều chịu những quy luật cụ thể và sự chi phối của một âm nhịp nhất định; có thể xem chúng là chịu nghiệp quả của sự hiện tồn thất phân theo chu kỳ ấy, và [77] chịu tác động của những nguyên nhân có từ trước khi vòng tròn ấy được vạch ra, qua đó liên kết hệ thống của chúng ta với hệ thống tiền thân [78] và gắn kết nó với hệ thống sẽ xuất hiện [Page 108] sau này. [79] Chúng ta không phải một đơn vị biệt lập, mà là một phần của toàn thể lớn hơn, toàn bộ chúng ta chịu sự chi phối của định luật vũ trụ [80] và cùng nhau thực hiện những mục đích xác định.
Microcosmic purpose. – Mục đích của tiểu thiên địa.
[81] So it is with the Microcosm. The Ego on his own plane [82] and on a tiny scale, repeats the action of the Logos. [83] For certain ends [84] he builds a certain form; he gathers certain material, and aims at a definite consummation that shall be the result of that gathered material vibrating to a certain measure, [85] governed in one specific life by certain rules and aiming at some one particular object,—not all possible objects.
[81] Tiểu thiên địa cũng vậy. Chân ngã trên cõi riêng của mình [82] và trên một quy mô rất nhỏ, lặp lại hành động của Thượng đế. [83] Vì những mục tiêu nhất định, [84] y xây dựng một hình tướng nhất định; y tập hợp những chất liệu nhất định và nhắm đến một sự thành tựu xác định, vốn là kết quả của việc chất liệu đã tập hợp ấy rung động theo một nhịp nhất định, [85] chịu sự chi phối của những quy luật nhất định trong một đời sống cụ thể và hướng đến một mục tiêu riêng biệt,—không phải mọi mục tiêu khả dĩ.
[86] Each Personality is to the Ego what the solar system is to the Logos. [87] It is his field of manifestation [88] and the method whereby he attains a demonstrable object. [89] That aim may be the acquirement of virtue by paying the price of vice; [90] it may be the attainment of business acumen by the struggle to provide the necessities of life; [91] it may be the development of sensitiveness by the revealing cruelties of nature; [92] it may be the building in of unselfish devotion by the appeal of needy dependents; [93] or it may be the transmutation of desire by the method of meditation on the path. [94] It is for each soul to find out. [95] What I want to impress upon you [96] is the fact that there is a certain danger incident to this very factor. If, for instance, in the acquirement of the mental capacity to meditate, the student misses the very thing he came into the physical body to acquire, the result is not so much a gain as an unequal development and a temporary loss of time.
[86] Mỗi phàm ngã đối với Chân ngã cũng như hệ mặt trời đối với Thượng đế. [87] Đó là trường biểu hiện của y [88] và là phương pháp qua đó y đạt được một mục tiêu có thể biểu lộ rõ ràng. [89] Mục đích ấy có thể là đạt được đức hạnh bằng cách trả giá cho thói xấu; [90] có thể là đạt được sự nhạy bén trong kinh doanh qua cuộc đấu tranh để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống; [91] có thể là phát triển sự nhạy cảm qua những khắc nghiệt của tự nhiên đem lại nhận thức; [92] có thể là xây dựng lòng sùng tín vô vị kỷ qua lời kêu gọi của những người phụ thuộc đang thiếu thốn; [93] hoặc có thể là chuyển hóa dục vọng bằng phương pháp tham thiền trên đường đạo. [94] Mỗi linh hồn phải tự tìm ra điều đó. [95] Điều Tôi muốn khắc sâu nơi các bạn [96] là sự thật rằng chính yếu tố này đi kèm một nguy hiểm nhất định. Chẳng hạn, nếu trong quá trình đạt được năng lực trí tuệ để tham thiền, đạo sinh bỏ lỡ chính điều y đã nhập vào thể xác để đạt được, thì kết quả không hẳn là một lợi ích mà là sự phát triển không đồng đều và sự mất thời gian tạm thời.
[97] Let us be specific and illustrate:— [98] An Ego has formed his three-fold body of manifestation and set his ring-pass-not with the purpose in view of building into his [Page 109] causal body the faculty of “mental apprehension of the basic facts of life.” [99] The object of that one incarnation is to develop the mental capacity of the student; to teach him concrete facts and science and thus to enlarge the content of his mental body, with a view to future work. He may be over-developed on the heart side, too much of the devotee; he may have spent many lives in dreaming dreams and in seeing visions and in mystic meditation. [100] To be practical, full of common sense, to know the curriculum of the Hall of Learning and to apply practically the knowledge learnt on the physical plane is his great need. [101] Yet, even though his ring-pass-not seems to proscribe [102] and limit his inherent tendencies, and even though the stage is set so that it would seem he must learn the lessons of practical living in the world, he learns not, but follows what is to him the line of least resistance. [103] He dreams his dreams, and stays aloof from world affairs; he does not fulfil the desire of the Ego, but misses opportunity; he suffers much, and in the next life is necessitated a similar staging and a stronger urge, and a closer ring-pass-not [104] until he complies with the will of his Ego.
[97] Chúng ta hãy nói cụ thể và minh họa:— [98] Một Chân ngã đã tạo thành thân thể biểu hiện tam phân của mình và thiết lập vòng-giới-hạn, nhằm xây dựng trong [Page 109] thể nguyên nhân năng lực “nắm bắt bằng trí tuệ những sự thật cơ bản của cuộc sống”. [99] Mục tiêu của kiếp nhập thể ấy là phát triển năng lực trí tuệ của đạo sinh; dạy y những sự thật cụ thể và khoa học, qua đó mở rộng nội dung của thể trí để chuẩn bị cho công việc tương lai. Y có thể đã phát triển quá mức về phương diện trái tim, quá thiên về sùng tín; y có thể đã trải qua nhiều kiếp mơ mộng, thấy linh ảnh và tham thiền thần bí. [100] Sống thực tế, đầy lẽ thường, hiểu chương trình học của Phòng Học Tập và ứng dụng thực tiễn kiến thức đã học trên cõi hồng trần là nhu cầu lớn của y. [101] Tuy nhiên, dù vòng-giới-hạn của y dường như ngăn cấm [102] và hạn chế những khuynh hướng cố hữu của y, và dù hoàn cảnh đã được bố trí khiến dường như y phải học những bài học về đời sống thực tế trong thế gian, y vẫn không học mà đi theo điều đối với y là con đường ít trở ngại nhất. [103] Y mơ những giấc mơ của mình và đứng ngoài những việc thế gian; y không thực hiện mong muốn của Chân ngã mà bỏ lỡ cơ hội; y chịu nhiều đau khổ, và trong kiếp sau cần một sự bố trí tương tự, một sự thôi thúc mạnh hơn, cùng một vòng-giới-hạn chặt hơn [104] cho đến khi y tuân theo ý chí của Chân ngã mình.
[105] For such an one, meditation helps not, but mainly hinders. [106] As before I have said, meditation (to be wisely undertaken) is for those who have reached a point in evolution where the rounding out of the causal body is somewhat matured and where the student is in one of the final grades in the Hall of Learning. [107] You need to remember that I refer not here to the mystic meditation but to the scientifically occult meditation. [108] The dangers are, therefore, practically those of wasted time, of an intensification of a vibration out of ill proportion to the key of the other vibrations, and of an unequal rounding out and a lop-sided building that will necessitate reconstructing in other lives. [Page 110]
[105] Đối với người như vậy, tham thiền không giúp ích mà chủ yếu gây trở ngại. [106] Như Tôi đã nói trước đây, tham thiền (để thực hành một cách sáng suốt) dành cho những người đã đạt đến một điểm trong tiến hóa nơi sự hoàn thiện thể nguyên nhân đã phần nào chín muồi, và đạo sinh đang ở một trong những cấp học cuối tại Phòng Học Tập. [107] Các bạn cần nhớ rằng ở đây Tôi không nói đến tham thiền thần bí mà nói đến tham thiền huyền môn có tính khoa học. [108] Vì vậy, những nguy hiểm thực tế là lãng phí thời gian, tăng cường một rung động mất cân đối với âm chủ của các rung động khác, cùng sự hoàn thiện không đồng đều và sự xây dựng lệch lạc sẽ đòi hỏi phải tái thiết trong những kiếp khác. [Page 110]
[108b] JULY 30, 1920.
[108b] NGÀY 30 THÁNG 7 NĂM 1920.
[108c] Dangers based on national heredity and type of body.
[108c] Những nguy hiểm dựa trên di truyền dân tộc và loại thân thể.
July 30th, 1920. 9 pm.
Ngày 30 tháng 7 năm 1920. 9 giờ tối.
It is late, brother of mine, to be doing the work but the exigences of the hour demand a measured haste, so we will take advantage of the quiet and silence to continue the instructions on the dangers to be guarded against in meditation; our topic being the dangers incident to a man's heredity and type of body.
Huynh đệ của tôi, đã muộn để làm công việc này, nhưng những đòi hỏi cấp bách của thời điểm buộc chúng ta phải khẩn trương một cách chừng mực, nên chúng ta sẽ tận dụng sự yên tĩnh và im lặng để tiếp tục những huấn thị về các nguy hiểm cần đề phòng trong tham thiền; chủ đề của chúng ta là những nguy hiểm gắn với di truyền và loại thân thể của một người.
[109] …As you may well imagine it is not my purpose to enlarge upon the dangers incidental to a defective body, save in general terms to lay down the ruling that where there is definite disease, congenital trouble or mental weakness of any kind, meditation is not the part of discretion, but may serve but to intensify the trouble. [110] I wish specifically to point out for the guidance of future students and as a prophetic statement, that in days to come when the science of meditation is more comprehended, two factors will be wisely weighed and considered before assigning a meditation. These factors are:
[109] …Như các bạn có thể hình dung, Tôi không có ý định bàn sâu về những nguy hiểm gắn với một thân thể khiếm khuyết, ngoài việc nêu quy định chung rằng khi có bệnh rõ rệt, rối loạn bẩm sinh hoặc bất kỳ dạng suy yếu trí tuệ nào, tham thiền không phải lựa chọn thận trọng mà có thể chỉ làm vấn đề trầm trọng thêm. [110] Tôi đặc biệt muốn chỉ ra, để hướng dẫn các đạo sinh tương lai và như một lời tiên báo, rằng trong những ngày sắp tới, khi khoa học tham thiền được thấu hiểu hơn, hai yếu tố sẽ được cân nhắc và xem xét sáng suốt trước khi giao một bài tham thiền. Những yếu tố ấy là:
[112] a—The man's subrace characteristics.
[112] a—Những đặc điểm giống dân phụ của người ấy.
[113] b—His type of body, whether it is oriental or occidental.
[113] b—Loại thân thể của y, thuộc phương Đông hay phương Tây.
[114] In this way, certain disasters will be avoided and certain troubles obviated that are now found in a more or less degree in every occult group.
[114] Bằng cách này, sẽ tránh được những tai họa và ngăn ngừa những rối loạn hiện có ở mức độ ít nhiều trong mọi nhóm huyền môn.
[115] It is generally recognized that each race has for its predominant feature some one outstanding quality of the emotional body. This is the general rule. [116] In contrasting the Italian and the Teutonic racial differences, those differences are summed up in our minds in terms of the emotional body. [117] We think of the Italian as fiery, romantic, unstable and brilliant; [118] we think of the Teuton as phlegmatic, matter-of-fact, sentimental and stolidly, logically clever. [119] It will, therefore, be apparent to you that these different temperaments carry with them their own dangers, and that in the unwise pursuit of unsuitable meditations, virtues could be emphasized till they approximated vices, temperamental weaknesses could be intensified till they became menaces, and consequently [Page 111] lack of balance would result [120] instead of that attainment of equilibrium and that fine rounding out of the causal body which is one of the aims in view. [121] When, therefore, the wise Teacher [122] moves among men and Himself apportions meditation, these racial differences will be weighed and their inherent defects will be offset and not intensified. Over-development and disproportionate attainment will be obviated by the equalizing effects of occult meditation. [122b] Hence, brother of old, it will be realised by you how wise have been the leaders in our inner school. The meditation laid out there for the graded students is not as yet the truly occult and scientific one, but it aims primarily at the stabilising of the mental body, at its even development, and above all at the building in of the higher virtues. The basis is being laid for future work, and that is all. The time for the next step approaches.
[115] Người ta thường thừa nhận rằng mỗi dân tộc có một phẩm tính nổi bật nào đó của thể cảm dục làm đặc điểm chủ đạo. Đây là quy luật chung. [116] Khi đối chiếu những khác biệt dân tộc giữa người Ý và người German, trong trí chúng ta, những khác biệt ấy được tóm lược theo thể cảm dục. [117] Chúng ta nghĩ người Ý nồng nhiệt, lãng mạn, thiếu ổn định và tài hoa; [118] chúng ta nghĩ người German điềm đạm, thực tế, đa cảm và thông minh theo lối trầm tĩnh, hợp lý. [119] Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những khí chất khác nhau này mang theo những nguy hiểm riêng, và khi thiếu sáng suốt thực hành những bài tham thiền không phù hợp, các đức tính có thể được nhấn mạnh đến mức gần thành thói xấu, những nhược điểm khí chất có thể gia tăng đến mức trở thành mối đe dọa, và do đó [Page 111] sẽ dẫn đến mất cân bằng [120] thay vì đạt được sự quân bình và sự hoàn thiện tốt đẹp của thể nguyên nhân, vốn là một trong những mục đích nhắm tới. [121] Vì vậy, khi huấn sư minh triết [122] đi lại giữa nhân loại và chính Ngài phân định bài tham thiền, những khác biệt dân tộc này sẽ được cân nhắc, và những khiếm khuyết cố hữu sẽ được hóa giải chứ không bị tăng cường. Các tác động quân bình của tham thiền huyền môn sẽ ngăn ngừa sự phát triển quá mức và sự thành tựu mất cân đối. [122b] Do đó, Huynh Đệ của Ngày Xưa, huynh đệ sẽ nhận ra những vị lãnh đạo trong trường nội môn của chúng ta đã khôn ngoan biết bao. Bài thiền được quy định ở đó cho các đạo sinh phân theo cấp bậc chưa phải là bài thiền thực sự huyền bí và khoa học, mà chủ yếu nhằm ổn định thể trí, giúp nó phát triển đồng đều, và trên hết là bồi đắp những đức hạnh cao hơn. Nền tảng đang được đặt cho công việc tương lai, và chỉ có vậy. Thời điểm cho bước tiếp theo đang đến gần.
[123] Meditation as followed now and as followed in Atlantean days differs fundamentally. [124] In the fourth root race an effort was made to facilitate attainment via the atomic subplane, from the emotional plane to the intuitional, to the practical exclusion of the mental. It followed the line of the emotions and had a definite effect on the emotional body. It worked upwards from the emotional instead of, as now, working on mental levels and from those levels making the effort to control the two lower. [125] In the Aryan root-race, the attempt is being made to bridge the gap between the higher and the lower and, by centering the consciousness in the lower mind and later in the causal, [126] to tap the higher until the downflow from that higher will be continuous. With most of the advanced students at present all that is felt is occasional rushes of illumination, but later will be felt a steady irradiation. [127] Both methods carry their own dangers. [128] In Atlantean days, meditation tended to overstimulation of the emotions and although men touched great heights, yet they also touched great depths. Sex magic was unbelievably rampant. The solar plexus was apt to be over vivified, the triangles were not correctly followed, [129] and the lower centers were caught in the reaction of the fire with dire results.
[123] Tham thiền như hiện nay được thực hành khác căn bản với tham thiền thời Atlantis. [124] Trong giống dân gốc thứ tư, người ta đã nỗ lực tạo thuận lợi cho sự thành tựu qua cõi phụ nguyên tử, từ cõi cảm dục đến cõi trực giác, gần như bỏ qua cõi trí. Phương pháp ấy đi theo con đường cảm xúc và có tác động rõ rệt lên thể cảm dục. Nó hoạt động hướng lên từ thể cảm dục, thay vì như hiện nay hoạt động trên các cấp độ trí tuệ rồi từ đó nỗ lực kiểm soát hai cấp độ thấp hơn. [125] Trong giống dân gốc Arya, người ta đang nỗ lực bắt cầu qua khoảng cách giữa phần cao và phần thấp, và bằng cách tập trung tâm thức trong Hạ trí rồi về sau trong thể nguyên nhân, [126] tiếp cận phần cao cho đến khi dòng tuôn xuống từ phần cao ấy trở nên liên tục. Với phần lớn đạo sinh tiến bộ hiện nay, tất cả những gì họ cảm nhận chỉ là những đợt soi sáng bất chợt, nhưng về sau họ sẽ cảm nhận một sự tỏa sáng ổn định. [127] Cả hai phương pháp đều mang những nguy hiểm riêng. [128] Vào thời Atlantis, tham thiền có khuynh hướng kích thích cảm xúc quá mức, và dù con người đạt những đỉnh cao lớn lao, họ cũng chạm những vực sâu ghê gớm. Huyền thuật tính dục lan tràn đến mức khó tin. Tùng thái dương dễ được tiếp sinh lực quá mức, các tam giác không được tuân theo đúng cách, [129] và những trung tâm thấp bị cuốn vào phản ứng của lửa với những hậu quả khủng khiếp.
[130] The dangers now are different. The development of [Page 112] mind carries with it the dangers of selfishness, of pride, of blind forgetfulness of the higher that it is the aim of the present method to offset. If the adepts of the dark path attained great powers in Atlantean days they are still more dangerous now. Their control is much more widespread. Hence the emphasis laid on service, and on the steadying of the mind as an essential in the man who seeks to progress and to become a member of the Brotherhood of Light.
[130] Những nguy hiểm hiện nay khác đi. Sự phát triển của [Page 112] trí tuệ mang theo những nguy hiểm của tính ích kỷ, lòng kiêu hãnh và sự quên lãng mù quáng đối với phần cao—những điều mà phương pháp hiện tại nhằm hóa giải. Nếu các chân sư của con đường bóng tối đã đạt quyền năng lớn vào thời Atlantis, thì nay họ còn nguy hiểm hơn. Sự kiểm soát của họ rộng hơn nhiều. Vì thế, phụng sự được nhấn mạnh, và việc làm cho thể trí vững vàng được xem là điều thiết yếu đối với người muốn tiến bộ và trở thành thành viên của Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng.
[132] The matter I now seek to give some instruction upon is one of very real importance to all earnest students at this time. The orient is to the evolving race of men what the heart is to the human body; [133] it is the source of light, of life, of heat, and of vitality. [134] The occident is to the race what the brain or mental activity is to the body,—the directing organizing factor, the instrument of the lower mind, the accumulator of facts. [135] The difference in the entire, “make-up” (as you term it) of the oriental and of the European or American is so great and so well recognized that it is mayhap needless for me to dwell upon it.
[132] Vấn đề mà giờ đây Tôi muốn đưa ra một vài chỉ dẫn có tầm quan trọng rất thực đối với tất cả đạo sinh nhiệt thành lúc này. Phương Đông đối với nhân loại đang tiến hóa cũng như trái tim đối với thân thể con người; [133] đó là nguồn ánh sáng, sự sống, sức nóng và sinh lực. [134] Phương Tây đối với nhân loại cũng như bộ não hoặc hoạt động trí tuệ đối với thân thể,—yếu tố chỉ đạo và tổ chức, công cụ của Hạ trí, nơi tích lũy các sự thật. [135] Sự khác biệt trong toàn bộ “cấu tạo” (như các bạn gọi) giữa người phương Đông và người châu Âu hay châu Mỹ lớn đến mức và được nhận biết rõ đến mức có lẽ Tôi không cần bàn lâu về điều đó.
[136] The oriental is philosophical, naturally dreamy, trained through centuries to think in abstract terms, [137] fond of obstruse dialectics, temperamentally lethargic, and climatically slow. [138] Ages of metaphysical thinking, of vegetarian living, of climatic inertia and of a rigid adherence to forms and to the strictest rules of living [139] have produced a product the exact opposite of his occidental brother.
[136] Người phương Đông thiên về triết học, vốn hay mơ mộng, được rèn luyện qua nhiều thế kỷ để suy nghĩ bằng những khái niệm trừu tượng, [137] thích biện chứng khó hiểu, có khí chất uể oải và chậm chạp do khí hậu. [138] Nhiều thời đại tư duy siêu hình, sống chay, trì trệ do khí hậu và tuân thủ cứng nhắc các hình thức cùng những quy luật sinh hoạt nghiêm ngặt nhất [139] đã tạo ra một con người hoàn toàn đối lập với huynh đệ phương Tây của y.
[140] The occidental is practical, businesslike, [141] dynamic, [142] quick in action, [143] a slave to organization (which is after all but another form of ceremonial), [144] actuated by a very concrete mind, [145] acquisitive, [146] critical, [147] and at his best when affairs move quickly and rapid mental decision is required. [148] He detests abstract thought yet appreciates it when apprehended, and when he can make those thoughts [Page 113] facts on the physical plane. [149] He uses his head more than his heart center, and his throat center is apt to be vitalized. [150] The oriental uses his heart center more than the head and necessarily the corresponding head centers. [151] The center at the top of the spine at the base of the skull functions more actively than the throat.
[140] Người phương Tây thực tế, tháo vát, [141] năng động, [142] hành động nhanh, [143] lệ thuộc vào tổ chức (xét cho cùng cũng chỉ là một hình thức khác của nghi lễ), [144] chịu sự thúc đẩy của một trí cụ thể rất mạnh, [145] ham thu nhận, [146] hay phê phán, [147] và phát huy tốt nhất khi công việc diễn biến nhanh và đòi hỏi quyết định trí tuệ mau lẹ. [148] Y ghét tư tưởng trừu tượng nhưng lại trân trọng khi nắm bắt được nó, và khi có thể biến những tư tưởng ấy [Page 113] thành sự thật trên cõi hồng trần. [149] Y sử dụng đầu nhiều hơn trung tâm tim, và trung tâm cổ họng của y dễ được tiếp sinh lực. [150] Người phương Đông sử dụng trung tâm tim nhiều hơn đầu, và tất nhiên cả những trung tâm đầu tương ứng. [151] Trung tâm ở đỉnh cột sống, tại đáy hộp sọ, hoạt động tích cực hơn trung tâm cổ họng.
[152] The oriental progresses by the withdrawing of the center of consciousness to the head through strenuous meditation. That is the center that he needs to master, he learns by the wise use of mantrams, [153] by retiring into seclusion, by isolation and by the careful following of specific forms for many hours each day for many days.
[152] Người phương Đông tiến bộ bằng cách rút trung tâm tâm thức lên đầu qua tham thiền chuyên cần. Đó là trung tâm y cần làm chủ; y học qua việc sử dụng sáng suốt các mantram, [153] qua việc lui về nơi thanh vắng, sống biệt lập và cẩn thận tuân theo những hình thức cụ thể nhiều giờ mỗi ngày trong nhiều ngày.
[154] The occidental has in view the withdrawal of his consciousness to the heart at first, for already he works so much with the head centers. [155] He works more by the use of collective forms and not individual mantrams; [156] he does not work so much in isolation as his oriental brother, but has to find his center of consciousness even in the noise and whirl of business life and in the throngs of great cities. He [157] employs collective forms for the attainment of his ends, and the awakening of the heart center shows itself in service. [158] Hence the emphasis laid in the Occident on the heart meditation and the subsequent life of service.
[154] Người phương Tây trước tiên nhắm đến việc rút tâm thức về tim, vì y đã hoạt động quá nhiều với các trung tâm đầu. [155] Y hoạt động nhiều hơn qua việc sử dụng những hình thức tập thể thay vì các mantram cá nhân; [156] y không làm việc biệt lập nhiều như huynh đệ phương Đông, mà phải tìm ra trung tâm tâm thức của mình ngay giữa tiếng ồn và vòng xoáy của đời sống kinh doanh, giữa đám đông ở những thành phố lớn. Y [157] sử dụng những hình thức tập thể để đạt các mục tiêu của mình, và sự thức tỉnh của trung tâm tim biểu lộ trong phụng sự. [158] Vì thế, phương Tây nhấn mạnh tham thiền về tim và đời sống phụng sự tiếp theo.
[159] You will see, therefore, that when the real occult work is begun, the method may differ—and will necessarily differ—in the east and in the west, but the goal will be the same. [160] It must be borne in mind, for instance, that a meditation that would aid the development of an oriental, might bring danger and disaster to his western brother. The reverse would also be the case. But always the goal will be the same. [161] Forms may be individual or collective, mantrams may be chanted by units or by groups, different centers may be the object of specialized attention, yet [Page 114] the results will be identical. [163] Danger arises when the occidental bases his endeavor on rules that suffice for the oriental, as AB has at times been so wisely pointed out. In the wisdom of the Great Ones this danger is being offset. Different methods for different races, diverse forms for those of various nationalities, [164] but the same wise guides on the inner planes, the same great Hall of Wisdom, the same Gate of Initiation, admitting all into the inner sanctuary.... lie ahead of all.
[159] Vì vậy, các bạn sẽ thấy rằng khi công việc huyền môn thực sự bắt đầu, phương pháp có thể khác nhau—và tất yếu sẽ khác nhau—giữa phương Đông và phương Tây, nhưng mục tiêu vẫn như nhau. [160] Chẳng hạn, cần ghi nhớ rằng một bài tham thiền giúp người phương Đông phát triển có thể mang nguy hiểm và tai họa đến cho huynh đệ phương Tây. Điều ngược lại cũng đúng. Nhưng mục tiêu luôn như nhau. [161] Các hình thức có thể là cá nhân hoặc tập thể, các mantram có thể do từng người hoặc nhóm xướng tụng, những trung tâm khác nhau có thể là đối tượng được chú ý đặc biệt, nhưng [Page 114] kết quả sẽ giống nhau. [163] Nguy hiểm phát sinh khi người phương Tây đặt nỗ lực của mình trên những quy luật phù hợp với người phương Đông, như AB đôi khi đã được chỉ ra rất sáng suốt. Trong minh triết của Các Đấng Cao Cả, nguy hiểm này đang được hóa giải. Những phương pháp khác nhau dành cho các dân tộc khác nhau, những hình thức đa dạng dành cho người thuộc những quốc gia khác nhau, [164] nhưng vẫn cùng những vị hướng dẫn minh triết trên các cõi bên trong, cùng Phòng Minh triết vĩ đại, cùng Cổng Điểm Đạo đón nhận tất cả vào thánh điện bên trong.... đang ở phía trước mọi người.
[165] In concluding this subject, I seek to give a hint:—The seventh Ray of Ceremonial Law or Order (the ray now coming into power) provides for the occidental what has long been the privilege of the oriental. [166] Great is the day of opportunity, and in the sweeping onward of this seventh force comes the needed impetus that may—if rightly grasped—drive to the Feet of the Lord of the World the dweller in the occident.
[165] Để kết thúc chủ đề này, Tôi muốn đưa ra một gợi ý:—Cung bảy của Định luật Nghi lễ hay Trật tự (cung hiện đang đi vào quyền lực) mang đến cho người phương Tây điều từ lâu đã là đặc quyền của người phương Đông. [166] Ngày cơ hội thật lớn lao, và trong đà tiến mạnh mẽ của mãnh lực thứ bảy này xuất hiện sự thúc đẩy cần thiết có thể—nếu được nắm bắt đúng—đưa người sống ở phương Tây đến dưới Chân Đức Chúa Tể Thế Giới.
Thư Về Tham thiền Huyền môn Chương trình 27
Well, hello everybody, and we're continuing here with program 27. We're on page 102, right in there, for Letters on Occult Meditation, and we're dealing with a lengthy chapter called The Dangers of Meditation.
Xin chào tất cả các bạn, chúng ta tiếp tục với chương trình 27. Chúng ta đang ở trang 102 của Thư Về Tham thiền Huyền môn, và đang bàn đến một chương dài mang tên Những Nguy Hiểm của Tham Thiền.
[1] It is our task now to deal briefly with the dangers that attend the practice of meditation as they manifest in the physical body. These dangers—like so much else in the Logoic scheme—
[1] Giờ đây, nhiệm vụ của chúng ta là bàn vắn tắt về những nguy hiểm đi kèm việc thực hành tham thiền khi chúng biểu hiện trong thể xác. Những nguy hiểm này—cũng như rất nhiều điều khác trong hệ hành tinh của Thượng đế—
and I suppose this means the scheme which our Solar Logos represents within a Cosmic Logos,
và Tôi cho rằng điều này hàm ý hệ hành tinh mà Thái dương Thượng đế của chúng ta đại diện bên trong một Thượng đế Vũ Trụ,
[2] assume a three-fold nature, attacking three departments of the physical body. They show themselves:
[2] mang bản chất tam phân, tấn công [Page 102] ba bộ phận của thể xác. Chúng biểu lộ:
[3] a—In the brain.
[3] a—Trong bộ não.
[4] b—In the nervous system.
[4] b—Trong hệ thần kinh.
[5] c—In the sex organs.
[5] c—Trong các cơ quan sinh dục.
Right, okay, and apparently when we're talking about the Logoic scheme, it's not just the scheme of the planetary Logos, though I think that would be the first consideration, but obviously meditation is going on in the different planetary schemes, and taken together, they represent a kind of Logoic scheme. As I said before, the planetary schemes are like chains in the greater Logoic scheme of our Solar Logos, and so it goes with other planets that may be involved in relation to the different stars in the seven solar systems, of which ours is one.
Dường như khi nói về hệ hành tinh của Thượng đế, chúng ta không chỉ nói đến hệ hành tinh của Đức Hành Tinh Thượng Đế, dù Tôi nghĩ đó là điều cần xét đến trước tiên; nhưng hiển nhiên việc tham thiền đang diễn ra trong các hệ hành tinh khác nhau, và xét chung lại, chúng đại diện cho một dạng hệ hành tinh của Thượng đế. Như Tôi đã nói trước đây, các hệ hành tinh giống như những dãy trong hệ hành tinh lớn hơn của Thái dương Thượng đế của chúng ta; điều này cũng đúng với các hành tinh khác có thể tham gia vào mối liên hệ với những ngôi sao khác nhau trong bảy hệ mặt trời, mà hệ mặt trời của chúng ta là một trong số đó.
But for practical purposes, right down to Earth, now we're speaking about our scheme, our chain, Earth chain, our globe, Earth globe.
Nhưng xét về mặt thực tiễn, trở về ngay với Trái Đất, giờ đây chúng ta đang nói về hệ hành tinh của chúng ta, dãy của chúng ta, Dãy Địa Cầu, bầu hành tinh của chúng ta, bầu hành tinh Trái Đất.
[6] It is needless to point out now the reason why I dealt first with the dangers of the mental and emotional bodies. It was necessary so to do, for many of the perils besetting the dense vehicle find their commencement on the subtler planes, and are only the outer manifestations of inner evils.
[6] Lúc này không cần chỉ ra lý do vì sao Tôi đã bàn trước tiên về những nguy hiểm đối với thể trí và thể cảm dục. Làm như vậy là cần thiết, vì nhiều hiểm họa đe dọa hiện thể đậm đặc khởi nguồn trên các cõi tinh tế hơn, và chỉ là những biểu hiện bên ngoài của các điều tai hại bên trong.
This is an esoteric principle. We recognize undesirable conditions in the physical body have their antecedents in the subtle bodies, and especially in terms of the need for healing in the etheric body and in the astral body. Maybe some, for some people, and not as many, in the mental body.
Đây là một nguyên khí huyền bí. Chúng ta nhận biết rằng những tình trạng không mong muốn trong thể xác có tiền căn trong các thể tinh tế, đặc biệt xét về nhu cầu chữa lành trong thể dĩ thái và thể cảm dục. Có lẽ ở một số người, một phần cũng nằm trong thể trí, nhưng không nhiều bằng.
[7] Each human being enters into life equipped with a physical and etheric body of certain constituents, those constituents being the product of a previous incarnation; they are virtually the body, reproduced exactly, that the man finally left behind him when death severed him from physical plane existence.
[7] Mỗi con người bước vào cuộc sống với một thể xác và một thể dĩ thái có những thành phần nhất định, những thành phần ấy là sản phẩm của một kiếp nhập thể trước; về thực chất, chúng là thân thể được tái tạo chính xác mà con người cuối cùng đã bỏ lại khi cái chết tách y khỏi sự hiện tồn trên cõi hồng trần.
The, the Plutonic shears, Pluto cuts the threads, severs the threads which bind the two opposing lives together.
Chiếc kéo của Sao Diêm Vương—Sao Diêm Vương cắt các sợi dây, chặt đứt những sợi dây gắn kết hai sự sống đối nghịch.
So, it's pretty much a replication, isn't it? What we leave behind at death, we bring in at our next birth, our next incarnation. That being the case, we can look at our childhood and pretty well assess the condition in which the etheric body existed at the point of death, and that can be, I think maybe for some, a sobering experience.
Vậy gần như đó là một bản sao, phải không? Những gì chúng ta bỏ lại khi chết, chúng ta mang theo vào lần sinh kế tiếp, kiếp sống kế tiếp. Nếu đúng như vậy, chúng ta có thể nhìn lại thời thơ ấu và đánh giá khá chính xác tình trạng của thể dĩ thái vào thời điểm chết; và tôi nghĩ, với một số người, đó có thể là một trải nghiệm khiến họ tỉnh ngộ.
A physical and etheric body of certain constituents, those constituents being the product of a previous incarnation. He says a previous. Now, does that mean that we're not talking about the product of the previous incarnation? They are virtually or pretty close to being the body reproduced exactly that the man left behind him.
Một thể xác và một thể dĩ thái có những thành phần nhất định, những thành phần ấy là sản phẩm của một kiếp sống trước. Ngài nói “một kiếp sống trước”. Vậy điều đó có nghĩa là chúng ta không nói đến sản phẩm của kiếp sống ngay trước đó sao? Về thực chất, hoặc gần như vậy, chúng là thân thể được tái tạo y hệt thân thể mà con người đã bỏ lại.
Well, obviously, we have to be speaking of the etheric body around which the dense physical matter as a kind of congestion aggregates when death severed him from the physical plane existence. We can judge perhaps the significance of our progress when we look or try to get an idea of the condition of the etheric, especially the etheric body at a later time in our incarnation.
Hiển nhiên, chúng ta phải đang nói đến thể dĩ thái, quanh đó vật chất hồng trần đậm đặc tụ lại như một dạng ứ đọng, khi cái chết tách y khỏi sự hiện tồn trên cõi hồng trần. Có lẽ chúng ta có thể đánh giá thâm nghĩa của sự tiến bộ của mình khi quan sát, hoặc cố hình dung tình trạng dĩ thái, đặc biệt là thể dĩ thái, vào một thời điểm muộn hơn trong kiếp sống.
[8] The task ahead of everybody is to take that body, realise its defects and requirements, and then deliberately set in and build a new body that may prove more adequate to the need of the inner spirit. This is a task of large dimensions and involves time, stern discipline, self-denial and judgment.
[8] Nhiệm vụ trước mắt của mỗi người là tiếp nhận thân thể ấy, nhận ra những khiếm khuyết và nhu cầu của nó, rồi chủ động bắt tay xây dựng một thân thể mới có thể đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của tinh thần bên trong. Đây là một nhiệm vụ lớn lao, đòi hỏi thời gian, kỷ luật nghiêm ngặt, sự tự tiết chế và khả năng phán đoán.
Well, no easy task to improve the condition of the etheric physical body, and this is the task.
Cải thiện tình trạng của thể xác và thể dĩ thái không phải là nhiệm vụ dễ dàng, và đó chính là nhiệm vụ này.
I guess we can assess, again, we have to make these assessments, how well we have done and by doing what to improve the condition of the body in which we were, with which we were born in this particular incarnation. Of course, the body will fade away, and its strength will go, and it will essentially begin to fall apart. But the etheric aspect of it will register the beneficial changes we have been able to induce.
Tôi nghĩ chúng ta có thể đánh giá lại—chúng ta phải thực hiện những đánh giá ấy—mình đã làm tốt đến đâu, và đã làm gì để cải thiện tình trạng của thân thể mà chúng ta mang khi sinh ra trong kiếp sống cụ thể này. Dĩ nhiên, thân thể sẽ suy tàn, sức mạnh của nó sẽ mất đi, và về cơ bản nó sẽ bắt đầu tan rã. Nhưng phương diện dĩ thái của nó sẽ ghi nhận những thay đổi có lợi mà chúng ta đã tạo ra được.
This is going to become easier and easier in a seventh ray age where the laws of health are better known, and where the ray prevalent during the age reinforces the etheric vehicle.
Điều này sẽ ngày càng dễ dàng hơn trong một thời đại cung bảy, khi các định luật về sức khỏe được biết rõ hơn, và khi cung thịnh hành trong thời đại ấy củng cố hiện thể dĩ thái.
[9] The man who undertakes the practice of occult meditation literally “plays with fire.” I wish you to emphasise this statement for it embodies a truth little realised. “Playing with fire” is an old truth that has lost its significance through flippant repetition, yet it is absolutely and entirely correct, and is not a symbolic teaching but a plain statement of fact.
[9] Người thực hành tham thiền huyền môn thực sự đang “đùa với lửa”. Tôi muốn các bạn nhấn mạnh lời này, vì nó chứa đựng một chân lý ít người nhận ra. “Đùa với lửa” là một chân lý lâu đời đã mất đi thâm nghĩa do bị lặp lại một cách hời hợt, nhưng nó hoàn toàn đúng, và không phải một lời dạy mang tính biểu tượng mà là một phát biểu thẳng thắn về sự thật.
Okay, again, it seems necessary to, the idea of playing, well, maybe there's a kind of intelligent play, and that's what we're seeking to demonstrate. We cannot help but play with fire.
Một lần nữa, dường như cần phải xét đến ý tưởng về việc chơi; có lẽ có một kiểu chơi thông minh, và đó là điều chúng ta đang tìm cách thể hiện. Chúng ta không thể không chơi với lửa.
Now, how does he, fire has so many definitions. In any case, can it be said that we cannot afford to be flippant in our attitude towards the fire of the meditative process?
Vậy Ngài nói thế nào—lửa có rất nhiều định nghĩa. Dù sao đi nữa, có thể nói rằng chúng ta không được phép có thái độ hời hợt đối với lửa của tiến trình tham thiền hay không?
[10] Fire forms the basis of all—
[10] Lửa là nền tảng của tất cả—
Fire and light, I suppose.
Tôi nghĩ là lửa và ánh sáng.
To the Kabbalists, the universe was condensed light. Maybe to the esotericists of the modern age, maybe fire is the condensation, or the universe is the condensation of fire. The universe has either condensed light or condensed fire.
Đối với các nhà huyền học theo truyền thống mật truyền Do Thái, vũ trụ là ánh sáng ngưng tụ. Có lẽ đối với các nhà bí truyền học thời hiện đại, lửa là sự ngưng tụ—hay vũ trụ là sự ngưng tụ của lửa. Vũ trụ có ánh sáng ngưng tụ hoặc lửa ngưng tụ.
Maybe hard to imagine.
Có lẽ khó hình dung.
[11] the Self is fire,
[11] Bản Ngã là lửa,
One could ponder on that a long time.
Người ta có thể suy ngẫm về điều ấy rất lâu.
[12] the intellect is a phase of fire,
[12] trí năng là một dạng của lửa,
That, I think, is more approachable. All of the movements of intellect, the different faculties of intellect, they are this substance in motion, fire in motion, and a specific kind of a preordained motion.
Tôi nghĩ điều đó dễ tiếp cận hơn. Mọi vận động của trí năng, các năng lực khác nhau của trí năng, đều là chất liệu này đang vận động, là lửa đang vận động, và là một kiểu vận động cụ thể đã được định trước.
The self is fire. That's the one that... Then, we would have to ask, can fire be equivalent to being? That's something we can ask. We put up a question, and we hope that the response will come.
Chân ngã là lửa. Đó là điều mà… Khi ấy, chúng ta phải hỏi: liệu lửa có thể tương đương với bản thể không? Đó là điều chúng ta có thể hỏi. Chúng ta nêu một câu hỏi và hy vọng sẽ có lời đáp ứng.
The intellect is a phase of fire, probably related to the third aspect, and basically fire by friction,
Trí năng là một dạng của lửa, có lẽ liên quan đến phương diện thứ ba, và về cơ bản là Lửa ma sát,
[13] and latent in the microcosmic physical vehicles lies hid a veritable fire that can either be a destructive force, burning the tissue of the body and stimulating centres of an undesirable character,
[13] và ẩn tiềm trong các hiện thể hồng trần của tiểu thiên địa là một ngọn lửa thực sự, có thể trở thành một mãnh lực hủy diệt, thiêu đốt mô của thân thể và kích thích những trung tâm có tính chất không mong muốn,
and I think we talk here Kundalini,
và tôi nghĩ ở đây chúng ta đang nói đến lửa xà,
[14] or be a vivifying factor, acting as a stimulating and awakening agent. When directed along certain prepared channels, this fire may act as a purifier and the great connector between the lower and the Higher
[14] hoặc trở thành một yếu tố tiếp sinh lực, đóng vai trò một tác nhân [Page 103] kích thích và đánh thức. Khi được dẫn theo những đường dẫn đã chuẩn bị sẵn, ngọn lửa này có thể hoạt động như một tác nhân thanh lọc và là mối nối vĩ đại giữa phàm ngã và chân ngã.
When we think of our different important planetary centers, Shambhala is the most fiery, we might say, and expresses electric fire, and maybe Kundalini has a connection with that fire of Shambhala, but it's sort of the first aspect of the third aspect of fire.
Khi nghĩ đến các trung tâm hành tinh quan trọng khác nhau, chúng ta có thể nói Shambhala mang tính lửa mạnh nhất và biểu lộ Lửa Điện. Có lẽ lửa xà có liên hệ với ngọn lửa ấy của Shambhala, nhưng nó phần nào là phương diện thứ nhất của phương diện thứ ba của lửa.
The fire at the base of the spine, a hidden within the physical vehicles, a dragon, in a way, waiting to arise, be awakened properly, and vivify the various centers and areas of the physical body, and make it subject to the reception of the higher energies in the right way. So, for myself, I keep on thinking about the different kinds of fire, how to visualize them, and I compare fire to being, and I wonder which is more tangible. In my mind, I compare fire to being, and I tend to say that being is the basis of all.
Lửa ở đáy cột sống, ẩn trong các hiện thể hồng trần, theo một nghĩa nào đó là một con rồng đang chờ trỗi dậy, chờ được đánh thức đúng cách, để tiếp sinh lực cho các trung tâm và vùng khác nhau của thể xác, khiến thể xác có thể tiếp nhận các năng lượng cao hơn một cách đúng đắn. Vì vậy, riêng tôi vẫn không ngừng nghĩ về các loại lửa khác nhau, về cách hình dung chúng; tôi so sánh lửa với bản thể và tự hỏi cái nào hữu hình hơn. Trong trí tuệ mình, tôi so sánh lửa với bản thể và có khuynh hướng nói rằng bản thể là nền tảng của tất cả.
Is being fire? Well, I still think of being as the most subtle form of reality, and fire, in a way, immediately derivative of being, or derivative from being, whichever preposition should be used. From Shambhala comes purification, destruction, and organization. Fire can accomplish all three.
Bản thể có phải là lửa không? Tôi vẫn nghĩ bản thể là dạng tinh tế nhất của thực tại, còn lửa, theo một nghĩa nào đó, trực tiếp phát sinh từ bản thể, hay là dẫn xuất của bản thể, tùy nên dùng giới từ nào. Từ Shambhala xuất phát sự thanh lọc, hủy diệt và tổ chức. Lửa có thể thực hiện cả ba.
The sort of second aspect of fire has to do with purification, refinement, a casting out of the impure and a taking in of the more pure. The first ray aspect of it, the first aspect of fire, can yield destruction, and does so, even as we see externalized in war, where kind of an essential fire by friction is directed destructively. And organization represents the third aspect of fire.
Phương diện thứ hai của lửa phần nào liên quan đến sự thanh lọc, tinh luyện, loại bỏ những gì không tinh khiết và tiếp nhận những gì tinh khiết hơn. Phương diện cung một của nó, phương diện thứ nhất của lửa, có thể đem lại sự hủy diệt và thực sự làm như vậy, như chúng ta thấy ngoại hiện trong chiến tranh, nơi một dạng Lửa ma sát căn bản được hướng vào mục đích hủy diệt. Còn sự tổ chức đại diện cho phương diện thứ ba của lửa.
And our particular system, our body, and other personality vehicles have to be purified. The obstructions have to be destroyed. The dross has to be ejected.
Và hệ thống riêng của chúng ta, thân thể của chúng ta cùng các hiện thể khác của phàm ngã đều phải được thanh lọc. Những chướng ngại phải bị phá hủy. Cặn bã phải bị loại bỏ.
We can no longer tolerate carrying within the body that which serves only to prevent access of fire to the places that require it. And then, as well, kundalini is connected with a certain type of etheric organization, and a certain organized vivification, which, if not followed according to monadic ray, will lead to, again, to destruction. Destruction.
Chúng ta không còn có thể chấp nhận mang trong thân thể những gì chỉ có tác dụng ngăn lửa tiếp cận các nơi cần đến nó. Đồng thời, lửa xà cũng liên quan đến một kiểu tổ chức dĩ thái nhất định và một sự tiếp sinh lực có tổ chức nhất định; nếu không tuân theo cung chân thần, điều này sẽ lại dẫn đến hủy diệt. Hủy diệt.
So organization prevents, right organization, prevents destruction of an inimical kind. There is also wise destruction. Well, on the path of initiation, linking the highest and the lowest, and involving rays one and seven, we will learn more about the fires, and how they can be wisely directed and modulated according to the condition of the etheric physical vehicle.
Vì vậy, sự tổ chức—sự tổ chức đúng đắn—ngăn chặn kiểu hủy diệt có hại. Cũng có sự hủy diệt minh triết. Trên Con Đường Điểm Đạo, nối liền cái cao nhất với cái thấp nhất và liên quan đến cung một và cung bảy, chúng ta sẽ học thêm về các ngọn lửa, về cách hướng dẫn và điều chỉnh chúng một cách minh triết tùy theo tình trạng của hiện thể hồng trần và dĩ thái.
We have to be able to assess how much fire the vehicle can take, even if the vivification is accomplished in the proper order. I think we see, how very detailed is this science of meditation, filled with rules which must be observed if disaster is to be avoided.
Chúng ta phải có khả năng đánh giá hiện thể có thể chịu được bao nhiêu lửa, ngay cả khi việc tiếp sinh lực diễn ra đúng trình tự. Tôi nghĩ chúng ta thấy khoa học tham thiền này chi tiết đến mức nào, đầy những quy luật phải tuân thủ nếu muốn tránh tai họa.
[15] In meditation the student seeks to contact the divine flame that is his Higher Self, and to put himself likewise en rapport with the fire of the mental plane.
[15] Trong tham thiền, đạo sinh tìm cách tiếp xúc với ngọn lửa thiêng liêng vốn là chân ngã của y, đồng thời đặt mình vào sự giao cảm với lửa của cõi trí.
Let's just say that we are dealing here with, let's say, the higher self, or highest self, is really, for practical purposes, the monad. And also, solar fire must be accessed. So both electric fire and solar fire are accessed in true meditation.
Ở đây chúng ta đang đề cập đến chân ngã, hay bản ngã cao nhất, mà xét về mục đích thực hành thì thực sự là chân thần. Đồng thời, cũng phải tiếp cận Lửa Thái dương. Vì vậy, trong tham thiền chân chính, người ta tiếp cận cả Lửa Điện lẫn Lửa Thái dương.
[16] When meditation is forced, or is pursued too violently,
[16] Khi tham thiền bị cưỡng ép hoặc được thực hành quá mãnh liệt,
and this of course means giving in to the push of Mars,
và dĩ nhiên điều này có nghĩa là nhượng bộ sức thúc đẩy của Sao Hỏa,
[17] before the alignment between the higher and lower bodies via the emotional is completed,
[17] trước khi hoàn tất sự chỉnh hợp giữa các thể cao và thấp qua thể cảm dục,
the emotional body, no that's etheric body, emotional body being most often out of alignment,
thể cảm xúc—không, đó là thể dĩ thái—thể cảm xúc thường là thể lệch khỏi sự chỉnh hợp nhất,
[18] this fire may act on the fire latent at the base of the spine (that fire called kundalini) and may cause it to circulate too early.
[18] ngọn lửa này có thể tác động lên ngọn lửa tiềm ẩn ở đáy cột sống (ngọn lửa gọi là kundalini) và khiến nó lưu chuyển quá sớm.
well we've heard about this so much, before the way is cleared. So instead of forcing against formidable obstacles, it's better to do the clearing, and to see to the alignment, so that the passage, the way of passage is ready when the, well, the uncontainable, or not easily contained fire begins to rise.
Chúng ta đã nghe rất nhiều về điều này, khi đường dẫn còn chưa được khai thông. Vì vậy, thay vì cưỡng ép vượt qua những chướng ngại ghê gớm, tốt hơn nên khai thông và bảo đảm sự chỉnh hợp, để lối đi đã sẵn sàng khi ngọn lửa không thể kiềm giữ, hoặc không dễ kiềm giữ, bắt đầu dâng lên.
So the divine flame of the monad carried into lower vehicles, and showing in the triad, and in the egoic lotus, is contacted. But we must not, in the cause of ambition, push too hard, lest we be overcome by that which should otherwise purify, vivify, organize, enliven, and render us receptive to the energies of plan and purpose. So the fire we're talking about here, which is really in a way a higher fire applied to the lower vehicles that are arousing a lower fire, that fire may act through will on the fire latent at the base of the spine, that fire called kundalini, and may cause it to circulate too early.
Như vậy, người ta tiếp xúc với ngọn lửa thiêng liêng của chân thần, được đưa vào các hiện thể thấp hơn và biểu hiện trong Tam nguyên tinh thần cùng Hoa Sen Chân Ngã. Nhưng chúng ta không được thúc ép quá mức vì tham vọng, kẻo bị áp đảo bởi chính điều lẽ ra sẽ thanh lọc, tiếp sinh lực, tổ chức, làm chúng ta sống động và có khả năng tiếp nhận các năng lượng của Thiên Cơ và thiên ý. Vì vậy, ngọn lửa chúng ta đang nói đến ở đây, theo một nghĩa nào đó, thực sự là một ngọn lửa cao hơn tác động vào các hiện thể thấp đang khơi dậy một ngọn lửa thấp hơn; thông qua ý chí, lửa ấy có thể tác động lên ngọn lửa tiềm ẩn ở đáy cột sống, ngọn lửa gọi là lửa xà, và khiến nó lưu chuyển quá sớm.
I wonder if there's a way to subdue ambition, and fill a person with confidence that the good work will be established if they make haste slowly and wisely.
Tôi tự hỏi liệu có cách nào chế ngự tham vọng và khiến một người tràn đầy tin tưởng rằng công việc tốt đẹp sẽ thành tựu nếu họ tiến nhanh bằng những bước chậm rãi và minh triết.
[19] This will produce disruption and destruction instead of vivification and stimulation of the higher centres.
[19] Điều này sẽ gây rối loạn và hủy hoại thay vì tiếp sinh lực và kích thích các trung tâm cao hơn.
Well, many times we are told of these things, and one of the most cogent tellings happens in this book.
Chúng ta đã nhiều lần được chỉ dạy về những điều này, và một trong những lời trình bày thuyết phục nhất nằm trong cuốn sách này.
[20] There is a proper geometrical spiralling which this fire should follow, dependent upon the ray of the student and the key of the vibration of his higher centres.
[20] Có một đường xoắn ốc đúng theo hình học mà ngọn lửa này phải tuân theo, tùy thuộc vào cung của đạo sinh và âm chủ của rung động nơi các trung tâm cao của y.
So we have the geometrical spiraling depends on which visual numerals are involved. Ray, color, key, vibration, all those things that only those who can view the etheric body directly, and the causal body of which the etheric is a reflection, can handle, or can advise regarding which advice is possible.
Vậy đường xoắn ốc hình học phụ thuộc vào những con số biểu kiến nào có liên quan. Cung, màu sắc, cung bậc, rung động—tất cả những điều ấy chỉ những người có thể trực tiếp quan sát thể dĩ thái, và thể nguyên nhân mà thể dĩ thái là sự phản chiếu, mới có thể xử lý hoặc đưa ra lời khuyên trong những trường hợp có thể khuyên bảo.
[21] This fire should only be permitted to circulate under the direct instruction of the Master and consciously distributed by the student himself, following the specific oral instructions of the teacher.
[21] Chỉ nên cho phép ngọn lửa này lưu chuyển dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Chân sư, và chính đạo sinh phải phân phối nó một cách có ý thức, theo những chỉ dẫn truyền khẩu cụ thể của huấn sư.
Well, there's much less possibility of incorrect spread of this teaching, which may be very individual, and applied directly to the student, but will often be ambitiously applied to the reader. With the oral tradition, the recipient can simply hold silence.
Như vậy, khả năng giáo huấn này bị truyền bá sai lệch sẽ ít hơn nhiều. Giáo huấn ấy có thể rất riêng biệt và áp dụng trực tiếp cho đạo sinh, nhưng người đọc thường sẽ áp dụng nó với tham vọng. Với truyền thống khẩu truyền, người tiếp nhận có thể đơn giản giữ im lặng.