Trích nội dung chương
It's hard really to find it on the table of siddhis, on the table of powers, but Realization we can find. Thật khó tìm thấy điều ấy trên bảng các quyền năng siêu thường, trên bảng các năng lực, nhưng Chứng ngộ thì chúng ta có thể tìm thấy.
It's hard really to find it on the table of siddhis, on the table of powers, but Realization we can find.
Thật khó tìm thấy điều ấy trên bảng các quyền năng siêu thường, trên bảng các năng lực, nhưng Chứng ngộ thì chúng ta có thể tìm thấy.
[7] Realisation is that of the Aryan disciple.
[7] Sự chứng nghiệm là mục tiêu của đệ tử Arya.
Those who are simply looking for peace, even as every grave tells you—rest in peace—sounds very boring, doesn't it? Sounds like an impossible hell. You're really held when you are unable to move. It is sometimes when you want to get out of bed and it's time to get out of bed. And for some reason you delay and you're made to stay there. It's a very uncomfortable experience to be made to be without movement when everything within your mechanism requires movement. So, Peace was the objective of the Atlantean aspirant. Realization is that of the Aryan disciple. Note the contrast here between aspirant and disciple.
Những người chỉ tìm kiếm bình an, ngay cả như mọi nấm mồ đều nói với các bạn—hãy an nghỉ trong bình an—nghe thật nhàm chán, phải không? Nghe như một địa ngục bất khả. Các bạn thật sự bị cầm giữ khi không thể chuyển động. Đôi khi đó là lúc các bạn muốn ra khỏi giường và đã đến lúc phải ra khỏi giường. Nhưng vì lý do nào đó các bạn trì hoãn và bị buộc phải ở lại đó. Đó là một kinh nghiệm rất khó chịu: bị buộc phải bất động khi mọi thứ trong bộ máy của các bạn đều đòi hỏi chuyển động. Vì vậy, Bình an là mục tiêu của người chí nguyện Atlantis. Chứng ngộ là mục tiêu của đệ tử Arya. Hãy lưu ý sự tương phản ở đây giữa người chí nguyện và đệ tử.
[8] He can never be static;
[8] Y không bao giờ có thể tĩnh tại;
It's very linked to the planet Mercury.
Điều này liên hệ rất nhiều với hành tinh Sao Thủy.
[9] he can never rest;
[9] y không bao giờ có thể nghỉ ngơi;
That's perhaps why Master Morya tells us that rest is a change of labor.
Có lẽ đó là lý do Chân sư Morya nói với chúng ta rằng nghỉ ngơi là một sự thay đổi lao động.
[10] he is constantly adjusting himself to new conditions; constantly learning to function therein, and then subsequently finding them pass away to give place, in their turn, to new.
[10] y không ngừng tự điều chỉnh cho phù hợp với những điều kiện mới; không ngừng học cách hoạt động trong đó, rồi sau đó lại thấy chúng trôi qua để nhường chỗ, đến lượt chúng, cho những điều kiện mới.
[11] This goes on until the consciousness is stabilised in the Self, in the One.
[11] Điều này tiếp diễn cho đến khi tâm thức được ổn định trong Bản Ngã, trong Đấng Duy Nhất.
I would say that even then, ever new experiences, relatively ever new, lie before the initiate.
Tôi muốn nói rằng ngay cả khi ấy, những kinh nghiệm mãi mãi mới, tương đối mãi mãi mới, vẫn còn nằm trước mắt điểm đạo đồ.
[12] Then the initiate [Page 375] knows himself to be the onlooking Unity watching the phenomenal phantasmagoria of life in form.
[12] Khi ấy, điểm đạo đồ [Page 375] biết mình là Hợp Nhất đang chứng kiến, quan sát ảo cảnh biến hóa của sự sống trong hình tướng.
This is a great Realization. Maybe it dawns upon us every once in a while. We are the onlooking unity. We are that substratum that pervades all possible perceptions. And all that we observe is the phantasmagoria of life in form, as DK says elsewhere, including associated persons. All the persons we also watch are part of the phantasmagoria as well.
Đây là một Chứng ngộ vĩ đại. Có lẽ thỉnh thoảng nó ló rạng nơi chúng ta. Chúng ta là nhất thể đang quan sát. Chúng ta là nền tảng thấm nhuần mọi tri giác có thể có. Và tất cả những gì chúng ta quan sát là màn huyễn cảnh của sự sống trong hình tướng, như Chân sư DK nói ở nơi khác, bao gồm cả những người liên hệ. Tất cả những người mà chúng ta cũng quan sát đều là một phần của màn huyễn cảnh ấy.
[13] He passes from one sense of unity to a sense of duality, and from thence again into a higher unity.
[13] Y đi từ một cảm thức hợp nhất sang một cảm thức nhị nguyên, rồi từ đó lại đi vào một hợp nhất cao hơn.
You can see that picture of the Kundalini rising. It seems to divide and come together and divide and come together, almost like a great series of rising figure eights. He passes from one state because we have to disrupt the unity for the sake of experiencing a still higher and more inclusive unity.
Các bạn có thể thấy hình ảnh Kundalini đi lên. Nó dường như phân đôi rồi hợp lại, phân đôi rồi hợp lại, gần giống như một chuỗi lớn các hình số tám đang vươn lên. Y chuyển từ một trạng thái, vì chúng ta phải phá vỡ nhất thể để có thể kinh nghiệm một nhất thể cao hơn và bao gồm hơn.
He passes from one sense of unity to a sense of duality as he's reaching towards this still higher state and then from thence again to a higher unity.
Y chuyển từ một ý thức về nhất thể sang một ý thức về nhị nguyên khi y vươn tới trạng thái còn cao hơn này, rồi từ đó lại đi vào một nhất thể cao hơn.
[14] First, the Self identifies itself with the form aspect to such an extent that all duality disappears in the illusion that the Self is the form.
[14] Trước hết, Bản Ngã đồng hoá với phương diện hình tướng đến mức mọi nhị nguyên đều biến mất trong ảo tưởng rằng Bản Ngã chính là hình tướng.
This is the first and lowest type of identification.
Đây là loại đồng hoá đầu tiên và thấp nhất.
[15] We have then the form constituting apparently all that there is.
[15] Khi ấy, dường như hình tướng cấu thành tất cả những gì hiện hữu.
And even some very intelligent people are caught in this type of identification. When individualization comes along, there is that sense of separation—Leo individualization, fifth ray, the Law of Cleavages, the separation of the observer from the observed. We have then the form constituting apparently all that there is.
Và ngay cả một số người rất thông minh cũng bị mắc kẹt trong loại đồng hoá này. Khi biệt ngã hóa xuất hiện, có ý thức phân ly ấy—biệt ngã hóa Sư Tử, cung năm, Định luật Phân Cách, sự tách rời của người quan sát khỏi cái được quan sát. Khi ấy chúng ta có hình tướng dường như cấu thành tất cả những gì hiện hữu.
[16] This is followed by the stage wherein the indwelling Self begins to be aware of Itself as well as of the form, and we talk then in terms of the higher and the lower self; we speak of the self and its sheaths, and of the self and the not-self.
[16] Tiếp theo là giai đoạn trong đó Bản Ngã nội tại bắt đầu nhận thức được chính Nó cũng như nhận thức được hình tướng, và khi ấy chúng ta nói theo nghĩa chân ngã và phàm ngã; chúng ta nói về ngã và các lớp vỏ của nó, về ngã và phi-ngã.
It's a fairly high state because people are already understanding then that they are not the material with which they identified themselves earlier. They are not that perception; they are the perceiver. The true self is not the perception—later it is, of course—but the perceiver. Later the perceiver and the perception are again one but in a different way.
Đây là một trạng thái khá cao, vì khi ấy con người đã bắt đầu thấu hiểu rằng họ không phải là chất liệu mà trước đó họ đã đồng hoá. Họ không phải là tri giác ấy; họ là người tri giác. Chân ngã không phải là tri giác—dĩ nhiên, về sau nó là như vậy—mà là người tri giác. Về sau, người tri giác và tri giác lại là một, nhưng theo một cách khác.
[17] This dualistic stage is that of the aspirant and of the disciple, up to the time of his training for the third initiation.
[17] Giai đoạn nhị nguyên này là giai đoạn của người chí nguyện và của đệ tử, cho đến thời điểm y được huấn luyện cho lần điểm đạo thứ ba.
This is partially training in Identification of the right kind. There's so much here about the progress of the states of awareness of the human being.
Đây một phần là sự huấn luyện trong Đồng hoá thuộc loại đúng đắn. Có rất nhiều điều ở đây về tiến trình các trạng thái nhận biết của con người.
[18] He begins with a knowledge that he is a spiritual entity confined in a form. His consciousness for a long period of time remains predominantly that of the form.
[18] Y khởi đầu với tri thức rằng y là một thực thể tinh thần bị giới hạn trong một hình tướng. Tâm thức của y trong một thời gian dài vẫn chủ yếu là tâm thức của hình tướng.
Look what happened to me, and everything that happens to the body happens to me and not to an aspect of the not-self. It takes a little bit of an inner experience to dissociate the perceiver from the perceived.
Hãy xem chuyện gì đã xảy ra với tôi, và mọi điều xảy ra cho thể xác đều xảy ra với tôi, chứ không phải với một phương diện của phi-ngã. Cần một chút kinh nghiệm nội tâm để tách người tri giác khỏi cái được tri giác.
[19] Gradually this changes, —so gradually that the aspirant learns the lesson of endurance (even to the point of enduring the not-self!) until there comes a life of balance, wherein neither preponderates.
[19] Dần dần điều này thay đổi,—chậm đến mức người chí nguyện học bài học về sức chịu đựng, thậm chí đến mức chịu đựng cả phi-ngã, cho đến khi xuất hiện một đời sống quân bình, trong đó không bên nào chiếm ưu thế.
We might call this Libra and Leo and the reversal of the wheel.
Chúng ta có thể gọi đây là Thiên Bình và Sư Tử, cùng sự đảo chiều của bánh xe.
[20] This produces in the man a state of apparent negativity and inertia which may last for one life or two, and he seems to accomplish little in either direction.
[20] Điều này tạo ra trong con người một trạng thái dường như tiêu cực và trì trệ, có thể kéo dài trong một hoặc hai kiếp sống, và y dường như đạt được rất ít theo cả hai hướng.
That's the balancing process and we don't give ourselves entirely to the past which we have proven of lesser value nor to the future which we may be uncertain about or may fear.
Đó là tiến trình quân bình, và chúng ta không hoàn toàn phó mình cho quá khứ mà chúng ta đã chứng minh là có giá trị thấp hơn, cũng không hoàn toàn phó mình cho tương lai mà chúng ta có thể còn bất định hoặc sợ hãi.
[21] This is, for workers, a valuable hint in their dealings with people.
[21] Đối với những người hoạt động, đây là một gợi ý có giá trị trong cách họ tiếp xúc với con người.
DK gives so much that will help us help others along the spiritual path. The issue is: where are the people with whom we are working? And do we estimate rightly? As he says, the less developed will always overestimate and the more developed may underestimate.
Chân sư DK ban cho chúng ta rất nhiều điều có thể giúp chúng ta trợ giúp người khác trên con đường tinh thần. Vấn đề là: những người mà chúng ta đang làm việc cùng đang ở đâu? Và chúng ta có đánh giá đúng hay không? Như Ngài nói, người kém phát triển hơn sẽ luôn đánh giá quá cao, còn người phát triển hơn có thể đánh giá quá thấp.
[22] Then the point of balance changes, and the soul appears to dominate from the standpoint of influence, and the entire consciousness aspect begins to shift into the higher of the two aspects.
[22] Rồi điểm quân bình thay đổi, và linh hồn dường như bắt đầu chi phối theo quan điểm ảnh hưởng, còn toàn bộ phương diện tâm thức bắt đầu chuyển dịch vào phương diện cao hơn trong hai phương diện.
That's not what we want. The higher of the pairs of opposites begins to be encountered in that second grouping of petals in the Egoic Lotus. In the Hall of Ignorance there is nothing of the real opposite, no experience of the opposite within oneself, of God imminent within oneself.
Đó không phải là điều chúng ta muốn. Cặp đối cực cao hơn bắt đầu được gặp trong nhóm cánh hoa thứ hai của Hoa Sen Chân Ngã. Trong Phòng Vô Minh không có gì thuộc đối cực chân thực, không có kinh nghiệm về đối cực bên trong chính mình, về Thượng đế nội tại trong chính mình.
Some probably very intelligent people can still be working relatively within the Hall of Ignorance in terms of developing their mind, but they don't sense that higher power, that something else. To speak to them about it is to be misunderstood.
Một số người có lẽ rất thông minh vẫn có thể đang hoạt động tương đối trong Phòng Vô Minh về phương diện phát triển thể trí của họ, nhưng họ không cảm nhận quyền năng cao hơn ấy, điều gì đó khác. Nói với họ về điều ấy là sẽ bị hiểu lầm.
[23] Duality however, still persists, for the man is sometimes identified with his soul and sometimes with his form nature;
[23] Tuy nhiên, nhị nguyên vẫn còn tồn tại, vì con người khi thì đồng hoá với linh hồn của mình, khi thì đồng hoá với bản chất hình tướng của mình;
We might call this a kind of Lemurian-Geminian oscillation.
Chúng ta có thể gọi đây là một dạng dao động Lemuria-Song Tử.
[24] this is the stage wherein so many most earnest disciples are at this time to be found.
[24] đây là giai đoạn mà vào lúc này rất nhiều đệ tử hết sức chân thành đang ở trong đó.
Sometimes identified with the personality, sometimes with something higher.
Đôi khi đồng hoá với phàm ngã, đôi khi với một điều gì cao hơn.
Probably very rarely does one perceive the great unity or the great oneness, the all-pervading oneness, if I can say perceived through infuseption—a word I've coined to reveal the identification of oneself with the being from which all things have come. The beingness from which all things have come, which is all things.
Có lẽ rất hiếm khi một người tri giác được nhất thể vĩ đại hay sự duy nhất vĩ đại, sự duy nhất thấm nhuần tất cả, nếu tôi có thể nói là được tri giác qua sự thấm nhập cảm nhận—một từ tôi đặt ra để biểu thị sự đồng hoá của bản thân với bản thể từ đó mọi sự đã phát sinh. Bản thể tính từ đó mọi sự đã phát sinh, và chính nó là mọi sự.
[25] Little by little however he becomes “absorbed” in the soul,
[25] Tuy nhiên, từng chút một, y trở nên “được hấp thu” vào linh hồn,
It's a kind of alchemical Venusian activity,
Đó là một loại hoạt động luyện kim thuộc Sao Kim,
[26] and thus comes en rapport with all aspects of the soul in all forms until the day dawns when he realises that there is nothing but soul and then the higher state of unity supervenes.
[26] và nhờ vậy đi vào tương giao với mọi phương diện của linh hồn trong mọi hình tướng, cho đến khi ngày bừng sáng mà y nhận ra rằng chẳng có gì ngoài linh hồn, và khi ấy trạng thái hợp nhất cao hơn xuất hiện.
We might say in a way nothing but consciousness, and even more, being. It's not my soul and thy soul anymore. We no longer use that thought. There is one Identity. Every once in a while, subtly, it may come upon us. What induces it is hard to say, but if we do get the trigger of what induces it, we'll be way ahead and we'll be able to produce this for ourselves at will.
Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói không có gì ngoài tâm thức, và còn hơn thế nữa, là bản thể. Không còn là linh hồn của tôi và linh hồn của anh nữa. Chúng ta không còn dùng tư tưởng ấy. Có một Bản Sắc duy nhất. Thỉnh thoảng, một cách tinh tế, nó có thể đến với chúng ta. Điều gì gây nên nó thì khó nói, nhưng nếu chúng ta tìm được tác nhân kích hoạt điều gây nên nó, chúng ta sẽ tiến rất xa và có thể tự mình tạo ra điều này theo ý chí.
[27] These points need consideration and are valuable, for there are schools of thought (such as the Vedanta and other mystical groups of thinkers) which emphasise the life aspect and appear to negate duality.
[27] Những điểm này cần được suy xét và có giá trị, vì có những trường phái tư tưởng, chẳng hạn như Vedanta và các nhóm tư tưởng thần bí khác, nhấn mạnh phương diện sự sống và dường như phủ nhận nhị nguyên.
It's pretty much the Aries-Capricorn quality of India and its First Ray soul, with emphasis upon the life and not upon diversity. There's always going to be those schools which emphasize one or the other rather than a balanced point of view.
Đó khá nhiều là phẩm tính Bạch Dương-Ma Kết của Ấn Độ và linh hồn cung một của nước ấy, với sự nhấn mạnh vào sự sống chứ không vào tính đa dạng. Sẽ luôn có những trường phái nhấn mạnh điều này hoặc điều kia thay vì một quan điểm quân bình.
[28] Other schools (such as the Theosophical, in spite of denial) teach the fact of the self and the not-self, and hence can be interpreted in terms of duality. Both are right and both need each other.
[28] Những trường phái khác, chẳng hạn như Thông Thiên Học, bất chấp sự phủ nhận, giảng dạy sự kiện về ngã và phi-ngã, và do đó có thể được diễn giải theo nghĩa nhị nguyên. Cả hai đều đúng và cả hai đều cần đến nhau.
This teaching is perhaps a necessary stage to help people in the act of discrimination.
Giáo huấn này có lẽ là một giai đoạn cần thiết để giúp con người trong hành vi phân biện.
Both are right and both need each other.
Cả hai đều đúng và cả hai đều cần nhau.