Trích nội dung chương
[52] This covered a vast period of time, and though the Brotherhood made its headquarters at Shamballa and directed its activities from there, [53] it was found necessary during the first sub-race of the Atlantean Root Race to make certain efforts, if the evolution of the race was to proceed according to plan. [54] Students of these mysteries need to remember that though Shamballa is spoken of as existing in physical matter and as occupying a definite location in space, the physical matter referred to is etheric, the Lord of the World and His assistants of the higher degrees occupying bodies formed of etheric matter. [52] Điều này bao trùm…
[52] This covered a vast period of time, and though the Brotherhood made its headquarters at Shamballa and directed its activities from there, [53] it was found necessary during the first sub-race of the Atlantean Root Race to make certain efforts, if the evolution of the race was to proceed according to plan. [54] Students of these mysteries need to remember that though Shamballa is spoken of as existing in physical matter and as occupying a definite location in space, the physical matter referred to is etheric, the Lord of the World and His assistants of the higher degrees occupying bodies formed of etheric matter.
[52] Điều này bao trùm một thời kỳ rộng lớn, và mặc dù Huynh Đệ Đoàn đặt tổng hành dinh tại Shamballa và điều khiển các hoạt động của mình từ đó, [53] người ta thấy rằng trong giống dân phụ thứ nhất của Giống Dân Gốc Atlantis, cần phải thực hiện một số nỗ lực nhất định nếu sự tiến hóa của giống dân phải diễn tiến theo Thiên Cơ. [54] Các đạo sinh của những bí nhiệm này cần nhớ rằng, mặc dù Shamballa được nói đến như tồn tại trong vật chất hồng trần và chiếm một vị trí xác định trong không gian, vật chất hồng trần được nói tới là dĩ thái, còn Đức Chúa Tể Thế Giới và các phụ tá của Ngài thuộc những cấp độ cao hơn thì cư ngụ trong các thể được cấu tạo bằng chất liệu dĩ thái.
[55] 5. It was decided about seventeen million years ago (the coming of the Hierarchy and the founding of Shamballa being about eighteen and a half million years ago) [56] to have on the dense physical plane an organization and a headquarters for the mysteries, and to have a band of Adepts, and Chohans who would function in dense physical bodies and thus meet the need of the rapidly awakening humanity. [Page 379]
[55] 5. Khoảng mười bảy triệu năm trước, người ta đã quyết định, với sự xuất hiện của Thánh Đoàn và việc thiết lập Shamballa vào khoảng mười tám triệu rưỡi năm trước, [56] rằng cần có trên cõi hồng trần đậm đặc một tổ chức và một tổng hành dinh dành cho các bí nhiệm, cũng như một đoàn các Chân sư và Chohan sẽ hoạt động trong các thể xác hồng trần đậm đặc, và như vậy đáp ứng nhu cầu của nhân loại đang thức tỉnh nhanh chóng. [Page 379]
[57] 6. The first outpost for the Shamballa Fraternity [58] was the original temple of Ibez and it was located in the centre of South America, and one of its branches at a much later period was to be found in the ancient Maya institutions, and the basic worship of the Sun as the source of life in the hearts of all men. [59] A second branch was later established in Asia, and of this branch the Himalayan and southern Indian adepts are the representatives, though the work is materially changed. [60] At a later date than the present, discoveries will be made, revealing the reality of the old form of hierarchical work; [61] ancient records and monuments will be revealed, some above ground and many in subterranean fastnesses. [62] As the mysteries of Central Asia in the land stretching from Chaldea and Babylon through Turkestan to Manchuria, including the Gobi desert, are opened up, it is planned that much of the early history of the Ibezhan workers will be revealed.
[57] 6. Tiền đồn đầu tiên của Huynh Đệ Đoàn Shamballa [58] là ngôi đền nguyên thủy Ibez, và nó tọa lạc ở trung tâm Nam Mỹ; một trong các chi nhánh của nó vào một thời kỳ muộn hơn nhiều có thể được tìm thấy trong các định chế Maya cổ đại, cùng với sự tôn thờ căn bản Mặt Trời như nguồn sự sống trong tâm mọi con người. [59] Một chi nhánh thứ hai về sau được thiết lập tại châu Á, và các Chân sư vùng Himalaya cùng miền nam Ấn Độ là những đại diện của chi nhánh này, mặc dù công việc đã thay đổi rất nhiều về mặt vật chất. [60] Vào một thời điểm muộn hơn hiện nay, sẽ có những khám phá được thực hiện, mặc khải thực tại của hình thức công việc Thánh Đoàn thời xưa; [61] các ghi chép và di tích cổ sẽ được phát lộ, một số ở trên mặt đất và nhiều cái trong các cứ điểm ngầm dưới đất. [62] Khi các bí nhiệm của Trung Á, trong vùng đất trải dài từ Chaldea và Babylon qua Turkestan đến Manchuria, bao gồm sa mạc Gobi, được khai mở, Thiên Cơ dự liệu rằng phần lớn lịch sử sơ khai của những người hoạt động Ibez sẽ được mặc khải.
[63] We might here note the fact that the word Ibez is literally in the nature of an acrostic veiling the true name of the planetary Logos of the earth, one of Whose principles is working in Sanat Kumara, making Him thus a direct incarnation of the planetary Logos and an expression of His divine consciousness. [64] These four letters are the first letters of the real names of the four Avatars on the four globes of our earth chain who have embodied four of the divine principles. [65] The letters I B E Z are not the true Sensar letters, [66] if such an inaccurate expression can be used of an ideographic language, but are simply a Europeanized distortion. [67] The true meaning is only conveyed at the fourth initiation [68] when the nature of the planetary Logos is revealed and His four Avatars are definitely contacted through the direct mediatory work of Sanat Kumara.
[63] Ở đây chúng ta có thể ghi nhận sự kiện rằng danh xưng Ibez, theo nghĩa đen, có bản chất như một dạng chữ đầu, che giấu chân danh của Hành Tinh Thượng đế của địa cầu, một trong các nguyên khí của Ngài đang hoạt động trong Đức Sanat Kumara, nhờ vậy khiến Ngài là một sự lâm phàm trực tiếp của Hành Tinh Thượng đế và là một biểu hiện của tâm thức thiêng liêng của Ngài. [64] Bốn chữ cái này là những chữ đầu của chân danh bốn Đấng Hoá Thân trên bốn bầu hành tinh thuộc Dãy Địa Cầu của chúng ta, các Đấng đã hiện thân bốn nguyên khí thiêng liêng. [65] Các chữ cái I B E Z không phải là những chữ Sensar đích thực, [66] nếu có thể dùng một cách diễn đạt thiếu chính xác như vậy đối với một ngôn ngữ biểu ý, mà chỉ là một sự bóp méo theo kiểu Âu châu. [67] Ý nghĩa đích thực chỉ được truyền đạt vào lần điểm đạo thứ tư, [68] khi bản chất của Hành Tinh Thượng đế được mặc khải và bốn Đấng Hoá Thân của Ngài được tiếp xúc rõ rệt thông qua công việc trung gian trực tiếp của Đức Sanat Kumara.
[69] 7. A word now as regards the work of the Ibezhan adepts and Their mysteries; it is necessary here to point [Page 380] out that the whole trend of Their work was in a way different and necessarily so, to that of the adepts at this time. [70] Their objective was to stimulate mysticism and the stimulating of the kingdom of God within the human atom. [71] The nature of Their work is most difficult for the average man of this time to comprehend, owing to the different state of his consciousness. [72] The Ibezhan adepts had to deal with a humanity which was in its infancy, whose polarization was most unstable, and whose coordination was very imperfect. [73] There was very little mentality to be found and men were practically altogether astral; [74] they functioned even more consciously on the astral plane than on the physical, [75] and it was part of the work of these early adepts, working under instruction from Shamballa to develop the energy centres of the human unit, stimulate the brain and make him fully self-conscious on the physical plane. [76] Their objective was to bring about a realization of the kingdom of God within, and little attention was paid (in Their training of Their disciples) to the bringing about of the realization of God in nature or in other units. [77] It was necessary in those days to employ methods more definitely physical than are permissible now, [78] and these methods of physical stimulation were employed and the laws of energy as they work through the various centres were taught until the time came when another big change was made in the hierarchical methods, and the door from the animal kingdom into the human was closed and the door of initiation was opened. [79] It was felt at that time that man was then self-centered enough [80] and individualized enough to permit of a drastic change in method and practice. All this took a vast period of time and it is the remnants of the earlier Temple practices which have come down to us in degraded phallic teaching, in Tantrik magic and the practices of Hatha Yogis. [81] The infant humanity of Lemurian and early Atlantean days had to be taught what they [Page 381] were by means of symbols and methods which to us would be crude, impossible and of a nature which the race should have transcended for many millions of years.
[69] 7. Bây giờ xin nói đôi lời về công việc của các Chân sư Ibez và các bí nhiệm của Các Ngài; ở đây cần chỉ ra [Page 380] rằng toàn bộ khuynh hướng công việc của Các Ngài, theo một cách nào đó, khác với khuynh hướng của các Chân sư hiện nay, và điều đó là tất yếu. [70] Mục tiêu của Các Ngài là kích thích Thần bí học và khơi dậy Thiên Giới bên trong nguyên tử nhân loại. [71] Bản chất công việc của Các Ngài là điều hết sức khó thấu hiểu đối với con người trung bình thời nay, do trạng thái tâm thức khác biệt của y. [72] Các Chân sư Ibez phải đề cập đến một nhân loại còn ở thời thơ ấu, có sự phân cực hết sức bất ổn, và sự phối hợp còn rất bất toàn. [73] Có rất ít trí tuệ được tìm thấy, và con người hầu như hoàn toàn là cảm dục; [74] họ thậm chí hoạt động một cách hữu thức trên cõi cảm dục còn nhiều hơn trên cõi hồng trần, [75] và một phần công việc của các Chân sư sơ khai này, hoạt động dưới sự chỉ dẫn của Shamballa, là phát triển các trung tâm năng lượng của đơn vị nhân loại, kích thích bộ não và làm cho y hoàn toàn có ngã thức trên cõi hồng trần. [76] Mục tiêu của Các Ngài là tạo ra sự nhận biết về Thiên Giới bên trong, và trong việc huấn luyện các đệ tử của Các Ngài, rất ít chú ý được dành cho việc tạo ra sự nhận biết về Thượng đế trong thiên nhiên hay trong các đơn vị khác. [77] Vào những ngày ấy, cần sử dụng những phương pháp có tính hồng trần rõ rệt hơn những gì hiện nay được phép, [78] và các phương pháp kích thích hồng trần này đã được sử dụng, còn các định luật năng lượng khi chúng hoạt động qua các trung tâm khác nhau đã được giảng dạy, cho đến khi đến lúc một thay đổi lớn khác được thực hiện trong các phương pháp của Thánh Đoàn, và cánh cửa từ giới động vật vào giới nhân loại được đóng lại, còn cánh cửa điểm đạo được mở ra. [79] Vào thời điểm ấy, người ta cảm thấy rằng con người khi đó đã đủ tập trung vào bản thân [80] và đủ biệt ngã hóa để cho phép một sự thay đổi mạnh mẽ trong phương pháp và thực hành. Tất cả điều này diễn ra trong một thời kỳ rộng lớn, và chính những tàn dư của các thực hành Đền thờ sơ khai đã truyền xuống đến chúng ta dưới dạng giáo huấn sinh thực khí suy đồi, trong huyền thuật Mật giáo và trong các thực hành của những hành giả Yoga thể lực. [81] Nhân loại ấu thơ của thời Lemuria và đầu Atlantis phải được dạy cho biết họ [Page 381] là gì bằng những biểu tượng và phương pháp mà đối với chúng ta sẽ là thô sơ, không thể chấp nhận, và thuộc loại mà nhân loại lẽ ra đã phải vượt qua từ nhiều triệu năm trước.
Commentary Program-42-Astral-Plane-Rule-X-10.26
We are continuing with video commentary for A Treatise on White Magic, the rules for the astral plane. We're on page 374 and we're starting a very interesting section. It's called The Founding of the Hierarchy. This is where all of that information on the Temple of Ibez comes from. Let's take a close look at this.
Chúng ta tiếp tục phần bình giảng bằng video cho Luận về Chánh Thuật, các quy luật dành cho cõi cảm dục. Chúng ta đang ở trang 374 và bắt đầu một phần rất thú vị. Phần này được gọi là Sự Thành Lập Thánh Đoàn. Đây là nơi phát xuất toàn bộ thông tin về Đền Ibez. Chúng ta hãy xem xét kỹ phần này.
[1] The various energies which play upon the human being and produce his unfoldment constitute his field of experience.
[1] Các năng lượng khác nhau tác động lên con người và tạo nên sự khai mở của y hợp thành trường kinh nghiệm của y.
The more energy is detected, the wider the field, obviously.
Hiển nhiên, càng phát hiện nhiều năng lượng thì trường ấy càng rộng.
[2] Those two words—unfoldment and experience—should ever be linked, for each produces the other.
[2] Hai từ ấy—sự khai mở và kinh nghiệm—luôn phải được liên kết với nhau, vì mỗi bên tạo ra bên kia.
We can know many things mentally or at least have a good theory going. But have we experienced and have we unfolded? That's the question.
Chúng ta có thể biết nhiều điều bằng trí tuệ, hoặc ít nhất có một lý thuyết khá tốt. Nhưng chúng ta đã trải nghiệm và đã khai mở chưa? Đó là câu hỏi.
[3] As one is subjected to experience in the form world, a paralleling unfoldment of consciousness is carried forward.
[3] Khi một người chịu kinh nghiệm trong thế giới hình tướng, một sự khai mở tâm thức song hành cũng được tiến hành.
Of course, the unfoldment of consciousness will produce experience. The two feed into each other.
Dĩ nhiên, sự khai mở tâm thức sẽ tạo ra kinh nghiệm. Hai điều này nuôi dưỡng lẫn nhau.
[4] As that unfoldment produces constant changes in realisation and a consequent constant reorientation to a new state of awareness, it necessarily leads to new experience—experience of fresh phenomena, of new states of being, and of dimensional conditions hitherto unknown.
[4] Khi sự khai mở ấy tạo ra những thay đổi liên tục trong sự chứng nghiệm và do đó là một sự tái định hướng không ngừng đối với một trạng thái nhận thức mới, nó tất yếu dẫn đến kinh nghiệm mới—kinh nghiệm về những hiện tượng mới mẻ, về những trạng thái hiện tồn mới, và về những điều kiện chiều kích trước đây chưa từng biết.
That's the story of it all. The two feed into each other and create the possibility of greatly expanded living and heightened livingness in new arenas of potential awareness and a greater sense of one's identity or the realization that one's identity is much greater than one may have suspected.
Đó là toàn bộ câu chuyện. Hai điều này nuôi dưỡng lẫn nhau và tạo nên khả năng sống được mở rộng rất lớn, sức sống được nâng cao trong những lĩnh vực mới của khả năng nhận biết, cùng một ý thức lớn hơn về bản sắc của mình, hoặc sự chứng ngộ rằng bản sắc của mình lớn lao hơn nhiều so với điều người ta từng nghi ngờ.
[5] Hence the frequent reaction of the disciple to the fact that for him, as yet, there is no point of peace.
[5] Do đó có phản ứng thường xuyên của đệ tử trước sự kiện rằng, đối với y, cho đến nay vẫn chưa có một điểm bình an nào.
We move on and on to find new experiences which, when found, indicate new unfoldments when the experiences are stabilized. That's the thing—you might have some flash, a good experience, an interesting experience, but is it reproducible at will? That is the issue. I'm running into all of these familiar statements in the Tibetan's work.
Chúng ta cứ tiến tới mãi để tìm những kinh nghiệm mới; khi được tìm thấy, nếu các kinh nghiệm ấy được ổn định, chúng cho thấy những sự khai mở mới. Vấn đề là như vậy—các bạn có thể có một tia lóe sáng, một kinh nghiệm tốt, một kinh nghiệm thú vị, nhưng nó có thể được tái tạo theo ý chí hay không? Đó mới là vấn đề. Tôi đang gặp lại tất cả những phát biểu quen thuộc này trong công trình của Chân sư Tây Tạng.
[6] Peace was the objective of the Atlantean aspirant.
[6] Bình an là mục tiêu của người chí nguyện Atlantis.