Trích nội dung chương
[1] The various energies which play upon the human being and produce his unfoldment constitute his field of experience. [2] Those two words—unfoldment and experience—should ever be linked, for each produces the other. [3] As one is subjected to experience in the form world, a paralleling unfoldment of consciousness is carried forward. [4] As that unfoldment produces constant changes in realisation and a consequent constant reorientation to a new state of awareness, it necessarily leads to new experience—experience of fresh phenomena, of new states of being, and of dimensional conditions hitherto unknown. [5] Hence the frequent reaction of…
Text Webinar Program 42 – Rule 10.26
The Founding of the Hierarchy
[1] The various energies which play upon the human being and produce his unfoldment constitute his field of experience. [2] Those two words—unfoldment and experience—should ever be linked, for each produces the other. [3] As one is subjected to experience in the form world, a paralleling unfoldment of consciousness is carried forward. [4] As that unfoldment produces constant changes in realisation and a consequent constant reorientation to a new state of awareness, it necessarily leads to new experience—experience of fresh phenomena, of new states of being, and of dimensional conditions hitherto unknown. [5] Hence the frequent reaction of the disciple to the fact that for him, as yet, there is no point of peace. [6] Peace was the objective of the Atlantean aspirant. [7] Realisation is that of the Aryan disciple. [8] He can never be static; [9] he can never rest; [10] he is constantly adjusting himself to new conditions; constantly learning to function therein, and then subsequently finding them pass away to give place, in their turn, to new. [11] This goes on until the consciousness is stabilised in the Self, in the One. [12] Then the initiate [Page 375] knows himself to be the onlooking Unity watching the phenomenal phantasmagoria of life in form.
[1] Các năng lượng khác nhau tác động lên con người và tạo nên sự khai mở của y hợp thành trường kinh nghiệm của y. [2] Hai từ ấy—sự khai mở và kinh nghiệm—luôn phải được liên kết với nhau, vì mỗi bên tạo ra bên kia. [3] Khi một người chịu kinh nghiệm trong thế giới hình tướng, một sự khai mở tâm thức song hành cũng được tiến hành. [4] Khi sự khai mở ấy tạo ra những thay đổi liên tục trong sự chứng nghiệm và do đó là một sự tái định hướng không ngừng đối với một trạng thái nhận thức mới, nó tất yếu dẫn đến kinh nghiệm mới—kinh nghiệm về những hiện tượng mới mẻ, về những trạng thái hiện tồn mới, và về những điều kiện chiều kích trước đây chưa từng biết. [5] Do đó có phản ứng thường xuyên của đệ tử trước sự kiện rằng, đối với y, cho đến nay vẫn chưa có một điểm bình an nào. [6] Bình an là mục tiêu của người chí nguyện Atlantis. [7] Sự chứng nghiệm là mục tiêu của đệ tử Arya. [8] Y không bao giờ có thể tĩnh tại; [9] y không bao giờ có thể nghỉ ngơi; [10] y không ngừng tự điều chỉnh cho phù hợp với những điều kiện mới; không ngừng học cách hoạt động trong đó, rồi sau đó lại thấy chúng trôi qua để nhường chỗ, đến lượt chúng, cho những điều kiện mới. [11] Điều này tiếp diễn cho đến khi tâm thức được ổn định trong Bản Ngã, trong Đấng Duy Nhất. [12] Khi ấy, điểm đạo đồ [Page 375] biết mình là Hợp Nhất đang chứng kiến, quan sát ảo cảnh biến hóa của sự sống trong hình tướng.
[13] He passes from one sense of unity to a sense of duality, and from thence again into a higher unity. [14] First, the Self identifies itself with the form aspect to such an extent that all duality disappears in the illusion that the Self is the form. [15] We have then the form constituting apparently all that there is. [16] This is followed by the stage wherein the indwelling Self begins to be aware of Itself as well as of the form, and we talk then in terms of the higher and the lower self; we speak of the self and its sheaths, and of the self and the not-self. [17] This dualistic stage is that of the aspirant and of the disciple, up to the time of his training for the third initiation. [18] He begins with a knowledge that he is a spiritual entity confined in a form. His consciousness for a long period of time remains predominantly that of the form. [19] Gradually this changes, —so gradually that the aspirant learns the lesson of endurance (even to the point of enduring the not-self!) until there comes a life of balance, wherein neither preponderates. [20] This produces in the man a state of apparent negativity and inertia which may last for one life or two, and he seems to accomplish little in either direction. [21] This is, for workers, a valuable hint in their dealings with people. [22] Then the point of balance changes, and the soul appears to dominate from the standpoint of influence, and the entire consciousness aspect begins to shift into the higher of the two aspects. [23] Duality however, still persists, for the man is sometimes identified with his soul and sometimes with his form nature; [24] this is the stage wherein so many most earnest disciples are at this time to be found. [25] Little by little however he becomes “absorbed” in the soul, [26] and thus comes en rapport with all aspects of the soul in all forms until the day dawns when he realises that there is nothing but soul and then the higher state of unity supervenes.
[13] Y đi từ một cảm thức hợp nhất sang một cảm thức nhị nguyên, rồi từ đó lại đi vào một hợp nhất cao hơn. [14] Trước hết, Bản Ngã đồng hoá với phương diện hình tướng đến mức mọi nhị nguyên đều biến mất trong ảo tưởng rằng Bản Ngã chính là hình tướng. [15] Khi ấy, dường như hình tướng cấu thành tất cả những gì hiện hữu. [16] Tiếp theo là giai đoạn trong đó Bản Ngã nội tại bắt đầu nhận thức được chính Nó cũng như nhận thức được hình tướng, và khi ấy chúng ta nói theo nghĩa chân ngã và phàm ngã; chúng ta nói về ngã và các lớp vỏ của nó, về ngã và phi-ngã. [17] Giai đoạn nhị nguyên này là giai đoạn của người chí nguyện và của đệ tử, cho đến thời điểm y được huấn luyện cho lần điểm đạo thứ ba. [18] Y khởi đầu với tri thức rằng y là một thực thể tinh thần bị giới hạn trong một hình tướng. Tâm thức của y trong một thời gian dài vẫn chủ yếu là tâm thức của hình tướng. [19] Dần dần điều này thay đổi,—chậm đến mức người chí nguyện học bài học về sức chịu đựng, thậm chí đến mức chịu đựng cả phi-ngã, cho đến khi xuất hiện một đời sống quân bình, trong đó không bên nào chiếm ưu thế. [20] Điều này tạo ra trong con người một trạng thái dường như tiêu cực và trì trệ, có thể kéo dài trong một hoặc hai kiếp sống, và y dường như đạt được rất ít theo cả hai hướng. [21] Đối với những người hoạt động, đây là một gợi ý có giá trị trong cách họ tiếp xúc với con người. [22] Rồi điểm quân bình thay đổi, và linh hồn dường như bắt đầu chi phối theo quan điểm ảnh hưởng, còn toàn bộ phương diện tâm thức bắt đầu chuyển dịch vào phương diện cao hơn trong hai phương diện. [23] Tuy nhiên, nhị nguyên vẫn còn tồn tại, vì con người khi thì đồng hoá với linh hồn của mình, khi thì đồng hoá với bản chất hình tướng của mình; [24] đây là giai đoạn mà vào lúc này rất nhiều đệ tử hết sức chân thành đang ở trong đó. [25] Tuy nhiên, từng chút một, y trở nên “được hấp thu” vào linh hồn, [26] và nhờ vậy đi vào tương giao với mọi phương diện của linh hồn trong mọi hình tướng, cho đến khi ngày bừng sáng mà y nhận ra rằng chẳng có gì ngoài linh hồn, và khi ấy trạng thái hợp nhất cao hơn xuất hiện.
[Page 376]
[Page 376]
[27] These points need consideration and are valuable, for there are schools of thought (such as the Vedanta and other mystical groups of thinkers) which emphasise the life aspect and appear to negate duality. [28] Other schools (such as the Theosophical, in spite of denial) teach the fact of the self and the not-self, and hence can be interpreted in terms of duality. Both are right and both need each other. [29] It should be remembered that in the process of manifestation we work from a relative unity, through duality, to another unity, in the following way:
[27] Những điểm này cần được suy xét và có giá trị, vì có những trường phái tư tưởng, chẳng hạn như Vedanta và các nhóm tư tưởng thần bí khác, nhấn mạnh phương diện sự sống và dường như phủ nhận nhị nguyên. [28] Những trường phái khác, chẳng hạn như Thông Thiên Học, bất chấp sự phủ nhận, giảng dạy sự kiện về ngã và phi-ngã, và do đó có thể được diễn giải theo nghĩa nhị nguyên. Cả hai đều đúng và cả hai đều cần đến nhau. [29] Cần nhớ rằng trong tiến trình biểu hiện, chúng ta vận hành từ một hợp nhất tương đối, xuyên qua nhị nguyên, đến một hợp nhất khác, theo cách sau đây:
[30] 1. The unity of form, wherein the self is identified apparently with the form, and is absorbed in form life.
[30] 1. Sự hợp nhất của hình tướng, trong đó dường như ngã đồng hoá với hình tướng và bị hấp thu vào đời sống hình tướng.
[31] 2. Duality, with a fluctuating shift backward and forward between the self and the form, the focus of consciousness being sometimes in one and sometimes in the other.
[31] 2. Nhị nguyên, với sự chuyển dịch dao động qua lại giữa ngã và hình tướng, tiêu điểm của tâm thức khi thì ở một bên, khi thì ở bên kia.
[32] 3. The unity of the soul, wherein naught but soul is seen to exist, [33] and only being is registered in consciousness.
[32] 3. Sự hợp nhất của linh hồn, trong đó chẳng có gì ngoài linh hồn được thấy là hiện hữu, [33] và chỉ có sự hiện tồn được ghi nhận trong tâm thức.
[34] Thus it will be found that both schools are right, and that the dualistic concept is a step upon the way to essential union with the One Life.
[34] Như vậy, người ta sẽ thấy rằng cả hai trường phái đều đúng, và quan niệm nhị nguyên là một bước trên con đường đi tới sự hợp nhất cốt yếu với Sự Sống Duy Nhất.
[35] It should be remembered that just as the battle ground (the kurukshetra) for the aspirant or probationer is the astral plane, so the battle ground for the disciple is the mental plane. There is his kurukshetra. The aspirant has to learn to control his emotional psychic nature through right control of the mind, and this Krishna seeks to emphasise as he trains Arjuna to take the next step towards right vision. The disciple has to carry forward this mental attention, and, through right use of the mind, achieve a higher realisation, and bring into active use a still higher factor, —that of the intuition.
[35] Cần nhớ rằng, cũng như chiến trường dành cho người chí nguyện hay người dự bị là cõi cảm dục, thì chiến trường dành cho đệ tử là cõi trí. Ở đó là chiến trường của y. Người chí nguyện phải học cách kiểm soát bản chất cảm xúc-thông linh của mình thông qua sự kiểm soát đúng đắn của thể trí, và đây là điều Krishna tìm cách nhấn mạnh khi ngài huấn luyện Arjuna bước tiếp bước kế tiếp hướng tới tầm nhìn đúng đắn. Đệ tử phải tiếp tục sự chú tâm trí tuệ này, và thông qua việc sử dụng đúng đắn thể trí, đạt được một sự chứng nghiệm cao hơn, đồng thời đưa vào vận dụng tích cực một yếu tố còn cao hơn nữa,—đó là trực giác.
[36] In himself, the aspirant repeats the racial unfoldment, [Page 377] and re-enacts the racial drama; and to comprehend this certain facts about that drama and the work of the Hierarchy should be grasped and I here enumerate them:
[36] Trong chính mình, người chí nguyện lặp lại sự khai mở của giống dân, [Page 377] và diễn lại vở kịch của giống dân; và để thấu hiểu điều này, cần nắm vững một số sự kiện về vở kịch ấy và công việc của Thánh Đoàn, mà tôi liệt kê ở đây:
[37] 1. The movement for the spreading of the Secret Doctrine is eighteen million years old.
[37] 1. Phong trào truyền bá Giáo Lý Bí Nhiệm đã có từ mười tám triệu năm trước.
[38] 2. Only four of the original Instigators still remain with us. The work (impulsive and controlling) lies now in the hands of three groups of lives, if it may be so expressed:
[38] 2. Chỉ còn bốn trong số các Đấng Khởi Xướng nguyên thủy vẫn ở lại với chúng ta. Công việc, vừa thúc đẩy vừa kiểm soát, hiện nay nằm trong tay ba nhóm sự sống, nếu có thể diễn đạt như vậy:
[39] a. In the hands of those of our Earth Humanity who have equipped themselves so as to serve.
[39] a. Trong tay những vị thuộc Nhân Loại Địa Cầu của chúng ta, những người đã tự trang bị để có thể phụng sự.
[40] b. In the hands of certain Existences who have come into our earth scheme of evolution from other planetary schemes.
[40] b. Trong tay một số Hữu Thể đã đi vào hệ tiến hóa địa cầu của chúng ta từ các hệ hành tinh khác.
[41] c. In the hands of a large number of devas of superhuman evolution.
[41] c. Trong tay một số lượng lớn các thiên thần thuộc tiến hóa siêu nhân loại.
[42] These in their aggregate, form the occult Hierarchy of the planet, working in three main divisions, and in seven groups as outlined in many Theosophical books and summarized in Initiation, Human and Solar.
[42] Tổng hợp lại, các vị này tạo thành Thánh Đoàn huyền bí của hành tinh, hoạt động trong ba phân bộ chính và trong bảy nhóm, như đã được phác họa trong nhiều sách Thông Thiên Học và được tóm lược trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương.
[43] 3. In the very early stages, this Hierarchy was called by various names; among others it was called the Temple of Ibez.
[43] 3. Trong những giai đoạn rất sơ khai, Thánh Đoàn này được gọi bằng nhiều tên khác nhau; trong số đó, Thánh Đoàn được gọi là Đền Ibez.
[44] 4. Let us consider the founding of the Temple of Ibez. To do this it will be necessary to consider the period of the coming of the White Brotherhood to earth [45] and the immediate problem before Them; this will involve the recognition of certain facts that have never been adequately considered. It is an acknowledged fact in occultism that for our earth humanity the advent of the occult Hierarchy was epochal; it brought about two things:
[44] 4. Chúng ta hãy xem xét việc thiết lập Đền Ibez. Để làm điều này, cần xem xét thời kỳ Huynh đệ Đoàn Chánh đạo đến với địa cầu [45] và vấn đề cấp bách đặt trước Các Ngài; điều này sẽ bao hàm việc nhận ra một số sự kiện chưa từng được xem xét đầy đủ. Trong huyền bí học, một sự kiện đã được thừa nhận là đối với nhân loại địa cầu của chúng ta, sự xuất hiện của Thánh Đoàn huyền bí là một biến cố mở thời đại; nó đã mang lại hai điều:
[46] The definite crystallization of that group soul which is now called thefourth or human kingdom. [Page 378]
[46] Sự kết tinh rõ rệt của hồn nhóm hiện nay được gọi là giới thứ tư hay giới nhân loại. [Page 378]
[47] The arousing of manas or mind in animal man in a triple way.
[47] Việc khơi dậy manas hay trí tuệ nơi người thú theo một cách tam phân.
[48] a. By the direct incarnation of certain members of the White Brotherhood, in which way They brought in the new and necessary factors by transmission to their children.
[48] a. Bằng sự lâm phàm trực tiếp của một số thành viên thuộc Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, qua cách đó Các Ngài đưa vào những yếu tố mới và cần thiết bằng sự truyền dẫn cho con cái của Các Ngài.
[49] b. By the definite implantation of what is called in the occult Scriptures “the spark of mind” in animal man. [50] This is simply a pictorial way of picturing the creation, by a direct act, of the necessary mental unit or mental apparatus of thought, within the causal or spiritual body.
[49] b. Bằng việc cấy đặt rõ rệt điều được gọi trong Kinh điển huyền bí là “tia lửa của trí tuệ” nơi người thú. [50] Đây chỉ là một cách diễn tả bằng hình ảnh về sự sáng tạo, bằng một hành động trực tiếp, đơn vị hạ trí hay bộ máy trí tuệ cần thiết của tư tưởng, bên trong thể nguyên nhân hay thể tinh thần.
[51] c. By the gradual stimulation of the mental faculty in animal man, and the steady vitalisation of the latent germ of mind until it flowered forth as manifested mind.
[51] c. Bằng sự kích thích dần dần năng lực trí tuệ nơi người thú, và sự tiếp sinh lực đều đặn cho mầm trí tuệ tiềm ẩn cho đến khi nó nở hoa thành trí tuệ đã biểu hiện.