← Bình Giảng White Magic – Quy Luật 10 Cõi Cảm Dục

Webinar Program 31 – Rule 10.15

Tóm lược chương

Người chí nguyện được khuyên không nên kháng cự hay đẩy lùi các áp lực từ các nguồn cao hơn mà cần nỗ lực thiết lập liên kết trực tiếp giữa thể nguyên nhân và bộ não hồng trần để đạt được sự bức xạ linh hồn đều đặn. Việc này đòi hỏi sự quên mình đối với phàm ngã thấp kém đi kèm với sự tỉnh thức và ghi nhớ chân ngã tinh thần. Thầy MDR nhận xét rằng sự bức xạ này rất khó đạt được trong thực tế dù chúng ta hiểu rõ về mặt lý thuyết, đồng thời lưu ý rằng việc sử dụng phàm ngã một cách khéo léo như một công cụ phụng sự sẽ giúp chế ngự các đòi hỏi ích kỷ của nó. Thầy MDR cũng chia sẻ kỷ niệm tại một tu viện ở Na Uy để minh họa cho lý tưởng sống…


Webinar Program 31 – Rule 10.15

Tóm Tắt

Nỗ lực chỉnh hợp và bức xạ linh hồn

Người chí nguyện được khuyên không nên kháng cự hay đẩy lùi các áp lực từ các nguồn cao hơn mà cần nỗ lực thiết lập liên kết trực tiếp giữa thể nguyên nhân và bộ não hồng trần để đạt được sự bức xạ linh hồn đều đặn. Việc này đòi hỏi sự quên mình đối với phàm ngã thấp kém đi kèm với sự tỉnh thức và ghi nhớ chân ngã tinh thần. Thầy MDR nhận xét rằng sự bức xạ này rất khó đạt được trong thực tế dù chúng ta hiểu rõ về mặt lý thuyết, đồng thời lưu ý rằng việc sử dụng phàm ngã một cách khéo léo như một công cụ phụng sự sẽ giúp chế ngự các đòi hỏi ích kỷ của nó. Thầy MDR cũng chia sẻ kỷ niệm tại một tu viện ở Na Uy để minh họa cho lý tưởng sống hoàn toàn vì người khác của Đức Christ.

Trí thức thông thường và Định luật Tiết Kiệm lực

Người phụng sự đứng giữa sự hỗn loạn do Hắc đoàn gây ra và các chân sư cần sử dụng trí thức thông thường để định hình một cách tiếp cận thực tế, không phóng đại hay giảm thiểu các giá trị. Điều này đòi hỏi sự tuân thủ Định luật Tiết Kiệm lực thông qua việc phân biện các giá trị linh hồn cao cả để phân bổ năng lượng một cách khôn ngoan và loại bỏ sự nhiệt thành quá mức của cung sáu. Thầy MDR lưu ý rằng Đấng Chúa Tể Cung sáu vốn thiếu trí thức thông thường nên thế giới mới rơi vào tình trạng vô tổ chức, và tình hình sẽ được chấn chỉnh dưới sự quản lý của Đấng Chúa Tể Cung bảy. Thầy MDR cũng nhận xét rằng sự tinh thần đôi khi bị nhầm lẫn với tính dễ chịu, trong khi thực tế đôi khi đòi hỏi những hành động mạnh mẽ thuộc cung một để phá vỡ các điều kiện cũ kỹ.

Định luật Tuần hoàn và sự phục hồi năng lượng

Mọi hoạt động huấn luyện huyền môn đều mang tính chu kỳ với các giai đoạn hoạt động xen kẽ với giai đoạn hưu tịch tương đối để đồng hóa và ứng dụng đúng đắn năng lượng thiêng liêng. Việc tôn trọng nhịp điệu tuần hoàn này giúp ngăn ngừa sự kiệt sức và rối loạn cấu trúc của các hiện thể do bị quá kích thích. Thầy MDR nhận xét rằng ngay cả một người có sức chịu đựng phi thường như bà Alice Bailey cũng phải đối mặt với áp lực nặng nề khi làm việc cùng Chân sư Tây Tạng, buộc Ngài phải rất nhạy bén trong việc điều phối cường độ công việc của bà. Thầy MDR nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghỉ ngơi và thư giãn định kỳ theo lời khuyên của Chân sư DK nhằm mang lại hiệu quả phụng sự lâu dài.

Điều kiện tiếp xúc các dòng năng lượng cõi trí

Việc tiếp xúc với các luồng năng lượng từ chân ngã, nhóm chân ngã hoặc chân sư đòi hỏi những điều kiện chuẩn bị cụ thể trên cõi trí, vốn dễ bị lệch hướng nếu phàm ngã bị cuốn vào các công việc hồng trần hoặc sự hỗn loạn của trí cảm. Sự mệt mỏi thể xác và khả năng đồng hóa prana kém cũng làm giảm tần số rung động của các luân xa dĩ thái, khiến bộ não không thể ghi nhận các tiếp xúc tinh thần bên trong. Thầy MDR chia sẻ kinh nghiệm cá nhân rằng việc liên hệ các công việc hồng trần tẻ nhạt với bối cảnh vĩ đại của Thiên Cơ sẽ giúp người phụng sự tìm thấy niềm vui và sự nâng đỡ tinh thần. Thầy MDR giải thích thêm rằng khi các điều kiện hỗn loạn được dẹp yên, một chu kỳ tiếp nhận mới sẽ xuất hiện thông qua sự yên tĩnh của các hiện thể.

Sự phân rã của các hình tướng cũ và hai dòng tư tưởng thời đại

Nhân loại đang trải qua giai đoạn chuyển tiếp đầy hỗn loạn giữa hai kỷ nguyên với sự xung đột của ba loại lực từ những người bảo thủ bám giữ quá khứ, những nhà thần bí trí tuệ đang xây dựng tương lai và quần chúng đang sử dụng lực một cách mù quáng. Dòng tư tưởng thứ nhất bao gồm những người sùng tín bám lấy uy quyền tôn giáo ngoại tại, dẫn đến sự kết tinh và tự hủy diệt của các cấu trúc cũ. Thầy MDR nhận xét rằng các nhà thần bí thuộc nhóm này thường bị thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi tiềm ẩn về sự tuyệt chủng tâm thức, đồng thời đề xuất rằng họ cần chuyển dịch sang cung ba để phát triển lý trí nhằm giải quyết sự phức tạp của thời đại mới. Thầy MDR cũng liên hệ sự hủy hủy các vỏ bọc kết tinh này với những biến động của các cuộc chiến tranh trong thế kỷ hai mươi nhằm giải phóng các lực sống mới.

Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và khoa học tương lai

Dòng tư tưởng thứ hai đang trỗi dậy mạnh mẽ thông qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, tập hợp những nhà thần bí trí tuệ vượt lên trên mọi giáo điều tôn giáo để xây dựng một tôn giáo hoàn cầu dựa trên trải nghiệm trực tiếp về thiên tính. Cùng lúc đó, khoa học đang chuyển đổi để chứng minh các tiền đề của Minh Triết Ngàn Đời về bản chất năng lượng của nguyên tử và vai trò xây dựng hình tướng của linh hồn thông qua thể dĩ thái. Thầy MDR lấy tình bạn sâu sắc giữa Đạt Lai Lạt Ma và Giám mục Tutu làm biểu tượng sống động cho sự hợp nhất tinh thần vượt qua ranh giới quốc gia và kinh điển. Thầy MDR nhận định rằng trực giác chính là chìa khóa giúp các nhà khoa học vĩ đại như Albert Einstein hay Marie Curie chạm đến những khía cạnh chân lý chưa từng được khám phá để phục vụ nhân loại.

Sự hợp nhất giữa khoa học thực nghiệm và trực giác thần bí qua thuyết tương đối

Thuyết tương đối của Einstein là một minh chứng cho thấy sự thâm nhập vào cõi vô hình bằng trực giác thần bí trước khi được xác minh cụ thể bằng thực nghiệm. Thầy MDR lưu ý rằng Chân sư DK không tách biệt khoa học và thần bí học mà xem chúng là một thể thống nhất, trong đó trực giác của nhà khoa học đi trước và thực nghiệm cung năm cụ thể sẽ theo sau để chứng minh. Thầy MDR nhận xét rằng các nhà khoa học Đức thời đó coi thuyết tương đối là vô lý do trí tuệ cung năm quá cụ thể của họ không thể nắm bắt được tư tưởng trực giác tinh tế đến từ Sao Hải Vương. Bản thân Einstein khi được hỏi cũng khẳng định sự đúng đắn của lý thuyết ngay cả khi thực nghiệm của Eddington không thể thực hiện được do thời tiết.

Phát minh vĩ đại thứ nhất về việc giải phóng năng lượng nguyên tử

Chân sư DK tiên tri về ba phát minh lớn trong vòng hai thế hệ tới sẽ cách mạng hóa tư tưởng và đời sống nhân loại, bắt đầu bằng việc giải phóng năng lượng nguyên tử. Thầy MDR thảo luận về tính linh hoạt của yếu tố thời gian trong các tiên tri của Chân sư DK, nhấn mạnh rằng sự thành bại phụ thuộc vào phản hồi tự do ý chí của nhân loại chứ không có sự ấn định tuyệt đối. Thầy MDR bình luận rằng việc thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản đã giúp phá vỡ ảo lực dĩ thái hồng trần của quốc gia này và ngăn chặn những thảm họa tồi tệ hơn, đồng thời giải thích lý do Thánh đoàn phải hạn chế hoạt động của ashram cung năm từ năm 1950 đến 2000 để tri thức không vượt quá sự phát triển đạo đức. Phát minh này sẽ giải phóng nhân loại khỏi gánh nặng tiền bạc, đơn giản hóa nền văn minh và mở ra kỷ nguyên giáo dục mới tập trung vào phát triển tâm thức siêu phàm và văn hóa linh hồn.

Phát minh vĩ đại thứ hai về ánh sáng và màu sắc dẫn đến tầm nhìn dĩ thái

Nghiên cứu về tác động của màu sắc lên các giới tự nhiên sẽ giúp nhân loại phát triển tầm nhìn dĩ thái thông qua sự thích nghi sinh lý của mắt vật lý. Thầy MDR giải thích rằng tầm nhìn dĩ thái không phải là một năng lực thông linh mà là một sự chuyển biến về cơ thể học của mắt đã được nhạy cảm hóa để nhìn thấy thể dĩ thái bên trong. Khi ranh giới chủng tộc bị xóa bỏ nhờ việc nhận ra bản chất ánh sáng đồng nhất bên trong thể nguyên nhân của Hoa Sen Chân Ngã, nhân loại sẽ giao tiếp bằng ngôn ngữ cung năm của điện năng, hiệu điện thế và cường độ. Thầy MDR nhận định rằng việc nhìn thấy ánh sáng bên trong sẽ giúp tái lập sự cai trị của những người giác ngộ chân chính, chấm dứt sự thao túng của các nhà hắc thuật vốn có nguồn gốc từ sự suy đồi ham muốn thời Atlantis.

Phát minh vĩ đại thứ ba về âm thanh và sự kiểm soát hình tướng trong kỷ nguyên mới

Phát minh cuối cùng nằm trong lĩnh vực huyền thuật dựa trên việc nghiên cứu và ứng dụng sức mạnh của âm thanh để kiến tạo các hình tướng mới. Thầy MDR nhận xét rằng các kiến trúc đá khổng lồ không thể giải thích được thời cổ đại chính là kết quả của việc những người khổng lồ sử dụng quyền năng âm thanh để dịch chuyển và sắp đặt. Thầy MDR dự đoán rằng trong tương lai, việc giải phóng và kiểm soát năng lượng nguyên tử sẽ được thực hiện thông qua khoa học âm thanh này. Tiếng ồn hỗn tạp từ máy móc và phương tiện truyền thông hiện nay đang tác động mạnh mẽ lên cơ thể con người và khiến một số loài động thực vật biến mất, nhưng sự kết hợp giữa nguyên tử, màu sắc và âm thanh sẽ thiết lập kỷ nguyên mới của tình huynh đệ dưới sự ảnh hưởng của Sao Kim và Sao Thủy trong chòm sao Bảo Bình.

Text

[1] The effort on the part of all aspirants should not be to resist and repel the pressure or to fight and ward off. [2] Such a method centres the attention upon the not-self and leads to added chaos. The effort should be along the lines of an endeavour to make contact with the higher self, and keep it stable and steady, and to be in such direct alignment that the force and power of the soul may be poured upon and through the lower threefold nature. This pouring through will bring about a steady radiation which will affect the surroundings exactly in proportion to the extent of the inner contact, and in direct relation to the clarity of the channel linking the physical brain to the causal body. [3] The aspirant should also strive after that self-forgetfulness which merges itself in the good of those contacted. [4] This self-forgetfulness refers to the lower self. Self-recollectedness and self-forgetfulness should be companions.

[1] Nỗ lực của tất cả người chí nguyện không nên là chống lại và đẩy lùi áp lực, hay chiến đấu và ngăn chặn nó. [2] Phương pháp như thế tập trung sự chú ý vào phi-ngã và dẫn đến thêm hỗn loạn. Nỗ lực nên đi theo hướng cố gắng tiếp xúc với chân ngã, giữ cho sự tiếp xúc ấy ổn định và vững vàng, và ở trong một trạng thái chỉnh hợp trực tiếp đến mức mãnh lực và quyền năng của linh hồn có thể tuôn đổ xuống trên và xuyên qua bản chất tam phân thấp. Sự tuôn đổ xuyên qua này sẽ tạo nên một bức xạ ổn định, tác động đến môi trường chung quanh đúng theo mức độ tiếp xúc nội tâm, và trực tiếp tùy thuộc vào độ trong sáng của vận hà nối kết bộ não hồng trần với thể nguyên nhân. [3] Người chí nguyện cũng nên nỗ lực đạt đến sự quên mình, vốn hòa nhập vào lợi ích của những người mà y tiếp xúc. [4] Sự quên mình này chỉ sự quên đi phàm ngã. Sự nhớ về Chân Ngã và sự quên mình phải đi đôi với nhau.

[5] The man who aims at providing a point of contact, between conditions of chaos and Those Who work for constructive ends and order, should likewise use that most necessary factor of common-sense in all that he does. [6] This involves always obedience to the law of economy of force, due to discrimination, and a true sense of values. [7] Where these are present, time will be economised, strength will be husbanded, energy will be wisely distributed, excessive zeal will be eliminated, [8] and the Great Ones will be able to depend upon an aspirant’s sagacity and thus find a helper.

[5] Người nào nhắm tới việc tạo một điểm tiếp xúc giữa các tình trạng hỗn loạn và Những Đấng hoạt động cho các mục tiêu xây dựng và trật tự, cũng phải vận dụng yếu tố lẽ thường hết sức cần thiết ấy trong mọi việc y làm. [6] Điều này luôn bao hàm sự tuân phục định luật tiết kiệm mãnh lực, nhờ phân biện, và một ý thức đích thực về các giá trị. [7] Khi những điều này hiện diện, thời gian sẽ được tiết kiệm, sức mạnh sẽ được gìn giữ, năng lượng sẽ được phân phối một cách khôn ngoan, nhiệt tâm quá mức sẽ bị loại bỏ, [8] và Các Đấng Cao Cả sẽ có thể tin cậy vào sự sáng suốt của một người chí nguyện, nhờ đó tìm thấy một người trợ giúp.

[9] All occult training has in view the development of the aspirant so that he may indeed be a focal point of spiritual energy. [10] It should be remembered, however, that under the law, this training will be cyclic, and will have its ebb and flow, as all else in nature. [11] Times of activity succeed times of pralaya, [12] and periods of registered contact alternate with periods of apparent silence. [13] Note here the choice of words. This alternation is due to the imposition of the Law of Periodicity and if the student develops as desired, each pralayic period is succeeded by one of greater activity, and of more potent achievement. [14] Rhythm, ebb and flow, and the measured beat of the pulsating life are ever the law of the universe, [15] and in learning to respond to time vibration of the high Places this rhythmic periodicity must be borne in mind. [16] The same law governs a human being, a planet, a solar system—all centres or focal points of energy in some greater Life. If such work as you are doing is to succeed (and it is largely the work of developing the ability to touch certain currents on mental levels—currents which emanate from the higher self, from your egoic group, or from the Master) definite planned conditions must be provided. [17] Certain factors must be present. If they do not exist, [18] then the currents are (if I may so express it) deflected, and contact fails of accomplishment. If occupation with mundane affairs is necessitated—and such periods come in every life cycle—then the attention should be concentrated on these details, and the higher contact may be then temporarily unrealised. [19] Such attention to affairs on the physical plane is not necessarily loss of time, for it may be as much a part of the plan at that particular time as any other kind of service. [20] Full expression and consciousness on each and every plane is the objective, remembering that each plane with its varying states of consciousness is equally a part of the divine Life. [21] What is lacking as yet with the majority of aspirants is a synthetic consciousness and the capacity to hold and register continuity.

[9] Mọi huấn luyện huyền bí đều nhắm đến sự phát triển của người chí nguyện, để y thật sự có thể trở thành một tiêu điểm của năng lượng tinh thần. [10] Tuy nhiên, cần nhớ rằng theo định luật, sự huấn luyện này sẽ diễn ra theo chu kỳ, và sẽ có lúc lên lúc xuống, như mọi sự khác trong thiên nhiên. [11] Những thời kỳ hoạt động nối tiếp những thời kỳ Giai kỳ qui nguyên, [12] và các giai đoạn tiếp xúc được ghi nhận luân phiên với các giai đoạn im lặng biểu kiến. [13] Ở đây, hãy lưu ý cách lựa chọn từ ngữ. Sự luân phiên này là do tác động của Định luật Chu kỳ, và nếu đạo sinh phát triển như mong muốn, thì mỗi thời kỳ qui nguyên sẽ được tiếp nối bằng một thời kỳ hoạt động lớn hơn và thành tựu mạnh mẽ hơn. [14] Nhịp điệu, sự lên xuống, và nhịp đập điều hòa của sự sống đang rung động luôn luôn là định luật của vũ trụ, [15] và khi học cách đáp ứng với rung động thời gian của các Cõi Cao, cần ghi nhớ tính chu kỳ có nhịp điệu này. [16] Cùng một định luật ấy chi phối một con người, một hành tinh, một hệ mặt trời—tất cả đều là các trung tâm hay tiêu điểm của năng lượng trong một Sự Sống lớn lao hơn. Nếu loại công việc như các bạn đang làm muốn thành công, và phần lớn đó là công việc phát triển khả năng tiếp xúc với một số dòng lưu trên các cấp độ trí tuệ—những dòng lưu phát xuất từ chân ngã, từ nhóm chân ngã của các bạn, hoặc từ Chân sư—thì phải tạo lập những điều kiện rõ ràng và có hoạch định. [17] Một số yếu tố nhất định phải hiện diện. Nếu chúng không tồn tại, [18] thì các dòng lưu ấy, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, sẽ bị lệch hướng, và sự tiếp xúc không thể thành tựu. Nếu cần phải bận tâm đến các công việc đời thường—và những thời kỳ như thế xuất hiện trong mọi chu kỳ đời sống—thì sự chú tâm nên được tập trung vào các chi tiết ấy, và sự tiếp xúc cao hơn khi đó có thể tạm thời chưa được nhận biết. [19] Sự chú tâm như thế đến các công việc trên cõi hồng trần không nhất thiết là sự lãng phí thời gian, vì vào thời điểm đặc biệt ấy, nó có thể là một phần của Thiên Cơ không kém bất kỳ loại phụng sự nào khác. [20] Sự biểu hiện và tâm thức trọn vẹn trên từng cõi và mọi cõi là mục tiêu, cần nhớ rằng mỗi cõi, với các trạng thái tâm thức khác nhau của nó, đều là một phần ngang nhau của Sự Sống thiêng liêng. [21] Điều còn thiếu cho đến nay nơi đa số người chí nguyện là một tâm thức tổng hợp và năng lực duy trì cũng như ghi nhận tính liên tục.

[22] If emotional or mental chaos exists, then again the currents are deflected and the brain makes no record of that which may be inwardly seen and heard. [23] If fatigue is present and the physical body is in need of rest, then likewise the inner fails to be recorded. It is the centres in the etheric vehicle which are vitalised and become active in this work of contact and consequent transmission of energy; [24] if therefore the vitality is low and the pranic fluids are not assimilated, [25] then the whole vibratory contact is lowered and the centre fails to register vibration and response. [26] When again the stimulation is adequate and the other conditions are resolved into the necessary quietude, then again the currents may be encountered, response follows and a fresh cycle of receptivity eventuates. [27] I have entered thus into explanation as I have seen many questioning, and am anxious that the process followed may be somewhat clarified. [28] It is wise that all who work should have a clear understanding of that work and should—along lines so closely affecting their power to serve—be fully aware of each step taken.

[22] Nếu có sự hỗn loạn cảm xúc hoặc trí tuệ, thì một lần nữa các luồng bị lệch hướng và bộ não không ghi nhận được những gì có thể được thấy và nghe ở bên trong. [23] Nếu có sự mệt mỏi và thể xác cần được nghỉ ngơi, thì tương tự, điều bên trong cũng không được ghi nhận. Chính các trung tâm trong hiện thể dĩ thái được tiếp sinh lực và trở nên hoạt động trong công việc tiếp xúc này, cùng sự truyền dẫn năng lượng theo sau; [24] do đó, nếu sinh lực thấp và các lưu chất prana không được hấp thu, [25] thì toàn bộ sự tiếp xúc rung động bị hạ thấp, và trung tâm không ghi nhận được rung động cùng sự đáp ứng. [26] Khi sự kích thích lại đầy đủ và các điều kiện khác được đưa vào sự yên lặng cần thiết, thì các luồng có thể lại được tiếp nhận, sự đáp ứng theo sau, và một chu kỳ mới của tính tiếp nhận diễn ra. [27] Tôi đã đi vào phần giải thích như vậy vì tôi thấy nhiều người đang thắc mắc, và tôi thiết tha mong rằng tiến trình được theo có thể phần nào được làm sáng tỏ. [28] Điều khôn ngoan là tất cả những ai hoạt động đều nên có một sự thấu hiểu rõ ràng về công việc ấy, và—trong những đường hướng ảnh hưởng mật thiết đến năng lực phụng sự của họ—nên hoàn toàn ý thức về từng bước được thực hiện.

[29] As regards the problems occupying the attention of all of you who are living in this time of world unrest and upheaval, I have a word of cheer to give you. [30] Though, to you, the whole situation may have seemed clouded and the horizon darkened by storms, bear in mind that when the disturbance is general, as now, and the whole area involved, then the end is near. [31] In nature, a general electric storm serves to clear the atmosphere, and ushers in a period of sunshine and more grateful living conditions. [32] We have had the electrical storm of the world war, [33] and the period of gradual dispersion of the clouds has been with us, with the thunder rumbling round, and sudden sharp storms of wind and rain upsetting the hopefulness of those desiring sunshine. [34] Those who with patience carry on the work, who keep the inner calm and surety who lose sight of the foreground of personalities, and bear only in mind the formless forces that are at work through all forms and seasons, will see order brought out of chaos, construction out of past destruction and present adjustments; they will see the setting loose of fresh life forces, hitherto shut out by the crystallising shells built by man. [35] So hold the inner vision steadily and have that long patience which endures through the lesser cycle, because the key to the greater cycle has been held with firmness.

[29] Về những vấn đề đang chiếm sự chú ý của tất cả các bạn, những người đang sống trong thời kỳ bất ổn và biến động của thế giới này, tôi có một lời khích lệ dành cho các bạn. [30] Dù đối với các bạn, toàn bộ tình hình có thể dường như bị mây mù che phủ và chân trời tối sầm vì bão tố, hãy ghi nhớ rằng khi sự xáo trộn mang tính phổ quát, như hiện nay, và toàn bộ khu vực đều bị cuốn vào, thì hồi kết đã gần kề. [31] Trong thiên nhiên, một cơn bão điện rộng khắp có tác dụng thanh lọc bầu khí quyển, và mở đầu cho một thời kỳ nắng sáng cùng những điều kiện sống dễ chịu hơn. [32] Chúng ta đã trải qua cơn bão điện của cuộc chiến tranh thế giới, [33] và thời kỳ mây mù dần tan đã ở cùng chúng ta, với tiếng sấm vẫn ầm vang quanh đó, cùng những cơn gió và mưa bất chợt, dữ dội, làm chao đảo niềm hy vọng của những ai khao khát ánh nắng. [34] Những ai kiên nhẫn tiếp tục công việc, giữ được sự an tĩnh và niềm xác tín bên trong, không còn để mắt đến tiền cảnh của các phàm ngã, mà chỉ ghi nhớ những mãnh lực vô hình tướng đang hoạt động qua mọi hình tướng và mọi thời kỳ, sẽ thấy trật tự được đem ra từ hỗn loạn, sự kiến tạo nảy sinh từ những phá hủy đã qua và các điều chỉnh hiện tại; họ sẽ thấy sự phóng thích những mãnh lực sự sống mới mẻ, vốn cho đến nay bị ngăn lại bởi các lớp vỏ kết tinh do con người xây dựng. [35] Vì vậy, hãy giữ vững tầm nhìn bên trong và có sự kiên nhẫn lâu dài, bền bỉ qua chu kỳ nhỏ hơn, vì chìa khóa của chu kỳ lớn hơn đã được giữ vững.

[36] It might be of value to touch briefly upon certain main lines of thought which are emerging at the present time and which are the outgrowth of the past and the promise of the future.

[36] Có lẽ hữu ích khi đề cập ngắn gọn đến một vài đường hướng tư tưởng chính đang nổi lên vào lúc này, vốn là kết quả phát triển từ quá khứ và là lời hứa hẹn của tương lai.

[37] The thoughts of men have ever been religious. [38] There has never been a time when religion or the thoughts of men about God, about the infinite, and about the Life which has brought all into being has not been present. [39] Even the most ignorant of savage races have recognized a Power and have attempted to define their relationship to that Power in terms of fear, of sacrifice or of propitiation. [40] From the rudiments of nature worship, [41] from the fetichism and degraded idol worship of primitive man we have built up a structure of truth which though as yet imperfect and inadequate, does verily lay the foundation of the future Temple of Truth where the light of the Lord will be seen and which will prove adequate as an expression of Reality.

[37] Tư tưởng của con người bao giờ cũng mang tính tôn giáo. [38] Chưa từng có thời nào mà tôn giáo, hay tư tưởng của con người về Thượng đế, về cái vô hạn, và về Sự Sống đã đưa muôn vật vào hiện hữu, lại không hiện diện. [39] Ngay cả những nhân loại dã man và vô minh nhất cũng đã nhận biết một Quyền năng, và đã cố gắng xác định mối quan hệ của họ với Quyền năng ấy bằng sợ hãi, hiến tế hoặc cầu xin xoa dịu. [40] Từ những hình thức sơ khai của sự thờ phụng thiên nhiên, [41] từ bái vật giáo và sự thờ ngẫu tượng suy đồi của con người nguyên thủy, chúng ta đã xây dựng nên một cấu trúc chân lý; tuy cấu trúc ấy đến nay vẫn còn bất toàn và chưa đầy đủ, nhưng quả thật nó đặt nền tảng cho Đền Thờ Chân Lý tương lai, nơi ánh sáng của Chúa Tể sẽ được nhìn thấy và sẽ chứng tỏ là đủ đầy như một biểu hiện của Thực Tại.

[42] Out of the darkness of time there have emerged the great religions. These religions though diverse in their theologies and forms of worship, though characterized by distinctions of organization and ceremonial, and though differing in their methods of application of truth, are united in three basic aspects:

[42] Từ trong bóng tối của thời gian, các tôn giáo lớn đã xuất hiện. Những tôn giáo này, tuy đa dạng về thần học và hình thức thờ phụng, tuy được đặc trưng bởi những khác biệt về tổ chức và nghi lễ, và tuy khác nhau trong các phương pháp áp dụng chân lý, vẫn hợp nhất trong ba phương diện căn bản:

[43] 1. In their teaching as to the nature of God and of man.

[43] 1. Trong giáo huấn của họ về bản chất của Thượng đế và của con người.

[44] 2. In their symbolism.

[44] 2. Trong tính biểu tượng của chúng.

[45] 3. In certain fundamental doctrines.

[45] 3. Trong một số giáo lý căn bản.

[46] When men recognize this and succeed in isolating that inner significant structure of truth which is the same in all climes and in all races, then there will emerge the universal religion, the One Church, and that unified though not uniform approach to God, which will demonstrate the truth of St. Paul’s words “One Lord, one faith, one baptism, one God and Father of all, who is above all and through all and in you all.” [47] Theologies will disappear into the knowledge of God; doctrines and dogmas will no longer be regarded as necessary, for faith will be based on experience, and authority will give place to personal appreciation of Reality. [48] The power of the Church over the group [49] will be supplanted by the power of the awakened soul in men; [50] the age of miracles and the disputations as to the why and how of those miracles with the consequent scepticism or agnosticism will give way to the understanding of the laws of nature which control the superhuman realm and the supernatural stage of the evolutionary process. [51] Man will enter into his divine heritage and know himself as the Son of the Father, with all the divine characteristics, powers and capacities which are his because of his divine endowment. [52] But in the meantime what have we? [53] A breaking away from old established tradition, a revolt from authority, whether of the Church, of dogma, doctrine or theology; a tendency towards self-determination and an overthrowing of the old standards, and of old barriers of thought and the divisions existing between races and faiths.

[46] Khi con người nhận ra điều này và thành công trong việc tách riêng cấu trúc chân lý nội tại đầy thâm nghĩa, vốn như nhau trong mọi xứ sở và nơi mọi dân tộc, bấy giờ tôn giáo phổ quát, Giáo hội Duy Nhất, và cách tiếp cận Thượng đế thống nhất dù không đồng dạng sẽ xuất hiện; điều đó sẽ chứng minh chân lý trong lời của Thánh Phao-lô: “Một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thượng đế và Cha của tất cả, Đấng ở trên tất cả, xuyên qua tất cả và ở trong tất cả các bạn.” [47] Các nền thần học sẽ tan biến vào tri thức về Thượng đế; các giáo lý và tín điều sẽ không còn được xem là cần thiết, vì đức tin sẽ đặt nền trên kinh nghiệm, và thẩm quyền sẽ nhường chỗ cho sự nhận biết cá nhân về Thực Tại. [48] Quyền lực của Giáo hội trên tập thể [49] sẽ được thay thế bằng quyền năng của linh hồn đã thức tỉnh nơi con người; [50] thời đại của các phép lạ, cùng những tranh luận về lý do và cách thức của các phép lạ ấy, với hệ quả là chủ nghĩa hoài nghi hoặc bất khả tri, sẽ nhường chỗ cho sự thấu hiểu các định luật của tự nhiên vốn chi phối cõi giới siêu nhân loại và giai đoạn siêu nhiên của tiến trình tiến hoá. [51] Con người sẽ bước vào di sản thiêng liêng của mình và biết mình là Con của Cha, với mọi đặc tính, quyền năng và năng lực thiêng liêng vốn thuộc về y nhờ thiên ân thiêng liêng của mình. [52] Nhưng trong lúc này, chúng ta có gì? [53] Một sự tách rời khỏi truyền thống cũ đã được thiết lập, một cuộc phản kháng chống lại thẩm quyền, dù là của Giáo hội, của tín điều, giáo lý hay thần học; một khuynh hướng hướng tới quyền tự quyết và sự lật đổ các tiêu chuẩn cũ, các rào cản tư tưởng cũ, cùng những phân chia đang tồn tại giữa các dân tộc và các tín ngưỡng.

[54] Hence we are passing through an intermediate stage of chaos and of questioning, of rebellion and consequent apparent license. [55] The methods of science, —investigation and analysis, comparison and deduction, —are being applied to religious belief. [56] The history of religions, the foundations of doctrine, the origin of ideas and the growth of the God idea are being subjected to research and study. [57] This leads to much disputation; to the rejection of old established ideas as to God, the soul, man and his destiny. [58] Schools of thought have ever existed differing in their ideas and methods and the six Schools of Indian Philosophy have embodied in themselves practically all the basic speculations of man as to the why and wherefore of manifestation. [59] Little which is new has been added by the occident to these six speculative schools, though the western mind, with its genius for scientific techniques and method, has elaborated the ideas and differentiated the six theories into a multiplicity of lesser propositions. [60] Out of the medley of ideas, theories, speculations, religions, churches, cults, sects and organizations, two main lines of thought are emerging—one doomed eventually to die out, the other to strengthen and grow until it, in its turn, gives birth to that (for us) ultimate formulation of truth which will suffice for the next age and carry man to a high pinnacle of the Temple to the Mount of Initiation. [61] These two lines are:

[54] Do đó, chúng ta đang đi qua một giai đoạn trung gian của hỗn loạn và chất vấn, của phản kháng và sự phóng túng có vẻ bề ngoài kéo theo sau đó. [55] Các phương pháp của khoa học — khảo sát và phân tích, so sánh và suy luận — đang được áp dụng vào tín ngưỡng tôn giáo. [56] Lịch sử các tôn giáo, nền tảng của giáo lý, nguồn gốc của các ý tưởng và sự tăng trưởng của ý niệm về Thượng đế đang được đưa vào nghiên cứu và khảo sát. [57] Điều này dẫn đến nhiều tranh luận; đến sự bác bỏ những ý tưởng cũ đã được xác lập về Thượng đế, linh hồn, con người và định mệnh của y. [58] Các trường phái tư tưởng vốn luôn tồn tại, khác nhau về ý tưởng và phương pháp, và sáu Trường phái Triết học Ấn Độ hầu như đã hàm chứa trong chính mình tất cả những suy luận căn bản của con người về lý do và mục đích của sự biểu hiện. [59] Phương Tây đã thêm vào sáu trường phái suy luận này rất ít điều mới mẻ, dù trí tuệ phương Tây, với thiên tài về các kỹ thuật và phương pháp khoa học, đã triển khai các ý tưởng ấy và phân hóa sáu lý thuyết thành vô số mệnh đề nhỏ hơn. [60] Từ mớ hỗn hợp của các ý tưởng, lý thuyết, suy luận, tôn giáo, giáo hội, giáo phái, hệ phái và tổ chức, hai dòng tư tưởng chính đang nổi lên — một dòng rốt cuộc sẽ tàn lụi, dòng kia sẽ được củng cố và tăng trưởng cho đến khi, đến lượt nó, sản sinh ra sự phát biểu chân lý tối hậu đối với chúng ta, vốn sẽ đủ dùng cho thời đại kế tiếp và đưa con người lên một đỉnh cao của Đền Thờ, đến Núi Điểm Đạo. [61] Hai dòng ấy là:

[62] 1. Those who look back to the past, who hang on to the old ways, the ancient theologies, and the reactionary rejection methods of finding truth. These are the people who recognize authority, whether that of a prophet, a bible or a theology. [63] These are those who prefer obedience to imposed authority to the self-imposed guidance of an enlightened soul. [64] These are the followers of a Church and a government, who are distinguished by a pure devotion and love, but refuse recognition to the divine intelligence with which they are gifted. [65] Their devotion, their love of God, their strict but misguided conscience, their intolerance mark them out as devotees, but they are blinded by their own devotion and their growth is limited by their fanaticism. [66] They belong mostly to the older generation [67] and the hope for them lies in their devotion and the fact that evolution itself will carry them forward into the second group.

[62] 1. Những người ngoái nhìn về quá khứ, bám giữ các đường lối cũ, các nền thần học cổ xưa, và những phương pháp tìm chân lý bằng sự phủ nhận phản động. Đây là những người công nhận thẩm quyền, dù đó là thẩm quyền của một nhà tiên tri, một Kinh Thánh hay một nền thần học. [63] Đây là những người ưa thích sự vâng phục đối với thẩm quyền áp đặt hơn là sự hướng dẫn tự nguyện của một linh hồn đã giác ngộ. [64] Đây là những tín đồ của một Giáo hội và một chính quyền, nổi bật bởi lòng sùng tín và tình thương thuần khiết, nhưng lại khước từ việc công nhận trí tuệ thiêng liêng mà họ được ban cho. [65] Lòng sùng tín của họ, tình thương của họ đối với Thượng đế, lương tâm nghiêm khắc nhưng lầm lạc của họ, và sự cố chấp của họ khiến họ được nhận diện như những người sùng tín, nhưng họ bị chính lòng sùng tín của mình làm mù quáng, và sự tăng trưởng của họ bị giới hạn bởi chủ nghĩa cuồng tín của họ. [66] Phần lớn họ thuộc về thế hệ cũ, [67] và niềm hy vọng dành cho họ nằm trong chính lòng sùng tín của họ, cùng với sự kiện rằng bản thân tiến hoá sẽ đưa họ tiến tới nhóm thứ hai.

[68] To this first group is committed the work of crystallization which will result in the complete destruction of the old form; [69] to them is given the task of defining the old truths so that the mind of the race will be clarified, that non-essentials and essentials will be recognized for what they are, and fundamental ideas so contrasted with the formulation of dogmas that that which is basic will be seen and the secondary and unimportant beliefs therefore rejected, for only the basic and causative will be of value in the coming age.

[68] Nhóm thứ nhất này được giao phó công việc kết tinh, vốn sẽ dẫn đến sự hủy diệt hoàn toàn hình tướng cũ; [69] họ được trao nhiệm vụ xác định các chân lý cũ, để trí tuệ của nhân loại trở nên sáng tỏ, để những điều không thiết yếu và thiết yếu được nhận ra đúng như bản chất của chúng, và để các ý tưởng nền tảng được đặt trong sự tương phản rõ rệt với việc hình thành các giáo điều, đến mức điều căn bản sẽ được thấy rõ, còn những niềm tin thứ yếu và không quan trọng vì thế sẽ bị loại bỏ, bởi trong kỷ nguyên sắp đến, chỉ điều căn bản và có tính nguyên nhân mới có giá trị.

[70] 2. The second group is as yet a very small minority, but a steadily growing one. [71] It is that inner group of lovers of God, the intellectual mystics, the knowers of reality who belong to no one religion or organization, but who regard themselves as members of the Church universal and as “members one of another”. [72] They are gathered out of every nation, race and people; they are of every color and school of thought, yet they speak the same language, learn by the same symbols, tread the same path, have rejected the same non-essentials, [73] and have isolated the same body of essential beliefs. [74] They recognize each other; [75] they accord equal devotion to the spiritual leaders of all races, and use each other’s Bibles with equal freedom. [76] They form the subjective background of the new world; [77] they constitute the spiritual nucleus of the coming world religion; they are the unifying principle which will eventually save the world.

[70] 2. Nhóm thứ hai hiện vẫn là một thiểu số rất nhỏ, nhưng đang tăng trưởng đều đặn. [71] Đó là nhóm nội tại gồm những người yêu Thượng đế, các nhà thần bí trí thức, các thức giả của thực tại, những người không thuộc về một tôn giáo hay tổ chức nào, nhưng tự xem mình là thành viên của Giáo hội phổ quát và là “những chi thể của nhau”. [72] Họ được quy tụ từ mọi quốc gia, giống dân và dân tộc; họ thuộc mọi màu da và mọi trường phái tư tưởng, nhưng họ nói cùng một ngôn ngữ, học qua cùng những biểu tượng, bước trên cùng một con đường, đã loại bỏ cùng những điều không cốt yếu, [73] và đã cô lập cùng một khối những niềm tin thiết yếu. [74] Họ nhận ra nhau; [75] họ dành lòng sùng tín ngang nhau cho các nhà lãnh đạo tinh thần của mọi giống dân, và sử dụng các Thánh kinh của nhau với sự tự do ngang nhau. [76] Họ tạo thành hậu cảnh nội tại của thế giới mới; [77] họ cấu thành hạt nhân tinh thần của tôn giáo thế giới sắp đến; họ là nguyên khí hợp nhất cuối cùng sẽ cứu thế giới.

[78] In the past we have had world Saviours—Sons of God who have enunciated a world message and brought an increase of light to the peoples. Now, in the fullness of time, and through the work of evolution there is emerging a group who perhaps will bring salvation to the world, and who—embodying the group ideas and demonstrating the group nature, manifesting in a small way the true significance of the body of Christ, and giving to the world a picture of the true nature of a spiritual organism—will so stimulate and energize the thoughts and souls of men that the new age will be ushered in by an outpouring of the love, knowledge and harmony of God Himself.

[78] Trong quá khứ, chúng ta đã có những Đấng Cứu Thế của thế giới—những Người Con của Thượng đế đã công bố một thông điệp thế giới và đem lại sự gia tăng ánh sáng cho các dân tộc. Giờ đây, trong sự viên mãn của thời gian, và thông qua công cuộc tiến hoá, đang xuất hiện một nhóm có lẽ sẽ đem sự cứu rỗi đến cho thế giới; nhóm ấy—hiện thân cho các ý tưởng nhóm và biểu lộ bản chất nhóm, biểu hiện theo một cách nhỏ bé thâm nghĩa đích thực của thân thể Đức Christ, và trao cho thế giới một hình ảnh về bản chất chân thật của một cơ thể tinh thần—sẽ kích thích và tiếp sinh lực cho các tư tưởng và linh hồn của con người đến mức kỷ nguyên mới sẽ được mở màn bằng một lần tuôn đổ tình thương, tri thức và sự hài hoà của chính Thượng đế.

[79] Religions in the past have been founded by a great soul, by an Avatar, by an outstanding spiritual personality, [80] and the stamp of their lives and words and teaching has been set upon the race and has persisted for many centuries. [81] What will be the effect of the message of a group Avatar? [82] What will be the potency of the work of a group of knowers of God, enunciating truth and banded together subjectively in the great work of saving the world? [83] What will be the effect of the mission of a group of world Saviours, not as Christs, but all knowers of God in some degree, who supplement each other‘s efforts, reinforce each other’s message, and constitute an organism through which the spiritual energy and principle of spiritual life can make their presence felt in the world?

[79] Các tôn giáo trong quá khứ đã được lập nên bởi một linh hồn vĩ đại, bởi một Đấng Hoá Thân, bởi một phàm ngã tinh thần xuất chúng, [80] và dấu ấn của đời sống, lời nói và giáo huấn của các Ngài đã in lên nhân loại và tồn tại qua nhiều thế kỷ. [81] Hiệu quả của thông điệp từ một Đấng Hoá Thân tập thể sẽ là gì? [82] Quyền năng của công việc do một nhóm những thức giả về Thượng đế thực hiện sẽ là gì, khi họ tuyên bố chân lý và liên kết với nhau một cách nội tại trong công cuộc vĩ đại nhằm cứu rỗi thế giới? [83] Hiệu quả của sứ mệnh từ một nhóm các Đấng Cứu Thế của thế gian sẽ là gì — không phải như các Đức Christ, mà là tất cả những thức giả về Thượng đế ở một mức độ nào đó, những vị bổ sung cho nỗ lực của nhau, củng cố thông điệp của nhau, và tạo thành một cơ cấu mà qua đó năng lượng tinh thần và nguyên khí của đời sống tinh thần có thể khiến sự hiện diện của mình được cảm nhận trong thế giới?

[84] Such a body now exists with its members in every land. Relatively they are few and far between, but steadily their numbers are increasing and increasingly their message will be felt. [85] In them is rested a spirit of construction; [86] they are the builders of the new age; to them is given the work of preserving the spirit of truth, [87] and the reorganizing of the thoughts of men so that the racial mind is controlled and brought into that meditative and reflective condition which will permit it to recognize the next unfoldment of divinity.

[84] Một đoàn thể như thế hiện nay đang tồn tại, với các thành viên ở khắp mọi xứ sở. Tương đối mà nói, họ còn ít và thưa thớt, nhưng số lượng của họ đang gia tăng đều đặn, và thông điệp của họ sẽ ngày càng được cảm nhận rõ hơn. [85] Nơi họ an trú một tinh thần xây dựng; [86] họ là những người kiến tạo kỷ nguyên mới; họ được giao công việc gìn giữ tinh thần của chân lý, [87] và tái tổ chức các tư tưởng của con người, sao cho thể trí của nhân loại được kiểm soát và được đưa vào trạng thái tham thiền và suy tư, vốn sẽ cho phép nó nhận ra sự khai mở kế tiếp của thiên tính.

[88] Connected with these two groups, the reactionary doctrinaires and the subjective band of mystics, is the majority of the new generation of young people who are part of neither band and whose ideas are largely disorganized by the recognition of both. [89] This majority do not belong to the past and refuse to accept the authority of that past. [90] They do not belong to the inner group of Knowers who are working at the task of swinging the thoughts of men into right channels, for they have not reached as yet the point of knowledge. [91] They only recognize two things: their need for freedom, and an intense eagerness for knowledge. [92] They despise the tradition of the past; they reject the old formulations of truth; and because as yet they stand on no sure ground but are only in the position of seekers and enquirers, we have our present state of world upheaval, of apparent license and disruption. [93] It should not be forgotten that this world state is therefore the result of the clashing of the three types of force prevalent in the world of today.

[88] Liên hệ với hai nhóm này — các nhà giáo điều phản động và nhóm nội tại gồm các nhà thần bí — là đa số thế hệ trẻ mới, những người không thuộc về nhóm nào trong hai nhóm ấy, và các ý tưởng của họ phần lớn trở nên hỗn loạn do nhận biết cả hai. [89] Đa số này không thuộc về quá khứ và từ chối chấp nhận thẩm quyền của quá khứ ấy. [90] Họ cũng không thuộc về nhóm bên trong gồm các thức giả đang thực hiện nhiệm vụ đưa tư tưởng của con người vào những luồng đúng đắn, vì họ vẫn chưa đạt tới điểm tri thức. [91] Họ chỉ nhận ra hai điều: nhu cầu tự do của họ, và một lòng khao khát mãnh liệt đối với tri thức. [92] Họ khinh miệt truyền thống của quá khứ; họ bác bỏ những công thức cũ của chân lý; và vì cho đến nay họ vẫn chưa đứng trên nền tảng chắc chắn nào, mà chỉ ở vị thế của những người tìm kiếm và tra vấn, nên chúng ta có tình trạng hiện nay của biến động thế giới, của sự phóng túng và tan rã bề ngoài. [93] Không nên quên rằng tình trạng thế giới này, vì thế, là kết quả của sự va chạm giữa ba loại mãnh lực đang thịnh hành trong thế giới ngày nay.

[94] 1. That emanating from the holders with the old tradition, who, emphasizing the forms and the past produce the destruction of those forms.

[94] 1. Điều phát xuất từ những người nắm giữ truyền thống cũ, những người, khi nhấn mạnh vào các hình tướng và quá khứ, tạo nên sự hủy diệt của chính các hình tướng ấy.

[95] 2. That emanating from the inner group of mystics, who, under the guidance of the planetary Hierarchy are building the new form.

[95] 2. Điều phát xuất từ nhóm bên trong gồm các nhà thần bí, những người, dưới sự hướng dẫn của Thánh Đoàn hành tinh, đang kiến tạo hình tướng mới.

[96] 3. That emanating from the masses who belong to neither group and who are wielding force as yet blindly and often unwisely until such time comes when they recognize those constructive channels into which it can wisely be poured.

[96] 3. Mãnh lực phát xuất từ quần chúng, những người không thuộc về nhóm nào trong hai nhóm và hiện vẫn đang vận dụng mãnh lực một cách mù quáng, thường thiếu sáng suốt, cho đến khi thời điểm đến mà họ nhận ra những kênh mang tính xây dựng để mãnh lực ấy có thể tuôn đổ vào một cách khôn ngoan.

[97] Hence the problem of this transition period and hence the necessity for the giving out of teaching which will enable the seeking aspirant and enquirer to find himself. [98] Hence the need for the laws of the soul [99] and for the truth as to individual unfoldment to be made clear to those who, rejecting the old tradition, and refusing recognition to the mystic, yet seek to know themselves as liberated souls. [100] With that knowledge will come the steady growth of the Building Mystics, [101] for when a man has found his soul and recognizes its relationship to its mechanism of expression, the threefold lower man, he automatically passes into the consciousness of the subjective life, begins to work with cause and is no longer lost in the world of effects. [102] Then he finds himself standing shoulder to shoulder with the mystics and knowers of all time. [103] This is the trend of the religious impulse at this time and this is the glory of the coming age.

[97] Do đó có vấn đề của thời kỳ chuyển tiếp này, và do đó có sự cần thiết phải ban ra giáo huấn giúp người chí nguyện đang tìm kiếm và người tìm hiểu tìm thấy chính mình. [98] Do đó có nhu cầu về các định luật của linh hồn [99] và về việc làm sáng tỏ chân lý liên quan đến sự khai mở cá nhân cho những ai, tuy bác bỏ truyền thống cũ và từ chối công nhận nhà thần bí, vẫn tìm cách nhận biết chính mình như những linh hồn được giải thoát. [100] Cùng với tri thức ấy sẽ đến sự tăng trưởng đều đặn của các Nhà Thần Bí Kiến Tạo, [101] vì khi một người đã tìm thấy linh hồn của mình và nhận ra mối liên hệ của nó với bộ máy biểu hiện của nó, tức phàm nhân tam phân, y tự động bước vào tâm thức của đời sống chủ quan, bắt đầu làm việc với nguyên nhân và không còn lạc mất trong thế giới của các hệ quả. [102] Khi ấy y thấy mình đứng vai kề vai với các nhà thần bí và các thức giả của mọi thời đại. [103] Đây là khuynh hướng của xung lực tôn giáo vào lúc này, và đây là vinh quang của thời đại sắp đến.

[104] If it is true that there is being gathered together in the background of our present world-state a group of mystics who are distinguished by knowledge, vision, and a power to work on mental levels, unseen and unrecognized by men, it could also be noted that this band is not confined to the strictly religious types. [105] Men and women in every branch of human thought are found among this group including scientists and philosophers.

[104] Nếu đúng là đang có, ở hậu cảnh của tình trạng thế giới hiện nay của chúng ta, một nhóm các nhà thần bí được quy tụ lại, những người nổi bật bởi tri thức, tầm nhìn và năng lực hoạt động trên các cấp độ trí tuệ, dù không được con người nhìn thấy hay nhận biết, thì cũng có thể lưu ý rằng nhóm này không chỉ giới hạn trong các kiểu người thuần túy tôn giáo. [105] Trong nhóm này có những người nam và nữ thuộc mọi ngành tư tưởng của nhân loại, bao gồm các nhà khoa học và các triết gia.

[106] Like all else at this time, science itself is in process of transformation, and little as it is realized by many, their work with what they call matter, and their investigations of the atom are entering into a new field. [107] In this field the older techniques and mechanisms will gradually be discarded and a new approach and a different fundamental concept as to the nature of matter will mark the new age. [108] Within the next twenty-five years, [109] emerging out of the two seemingly different ideas as to the nature of the atom, a recognition of certain energy impulses will be seen and this will be based on the discovery of those energies which (playing on the atom and on atomic forms) produce the tangible concrete shapes to which we give names in the various kingdoms of nature. [110] The truth of certain basic premises of the Ageless Wisdom will be demonstrated, such as:

[106] Cũng như mọi điều khác vào lúc này, chính khoa học đang trong tiến trình chuyển đổi; và dù nhiều người ít nhận ra, công trình của họ với cái mà họ gọi là vật chất, cùng các nghiên cứu của họ về nguyên tử, đang bước vào một lĩnh vực mới. [107] Trong lĩnh vực này, các kỹ thuật và bộ máy cũ sẽ dần dần bị loại bỏ, và một cách tiếp cận mới cùng một quan niệm nền tảng khác về bản chất của vật chất sẽ đánh dấu thời đại mới. [108] Trong vòng hai mươi lăm năm tới, [109] phát sinh từ hai ý tưởng có vẻ khác nhau về bản chất của nguyên tử, người ta sẽ thấy xuất hiện sự nhận biết về một số xung lực năng lượng nhất định; và điều này sẽ dựa trên việc khám phá những năng lượng vốn, khi tác động lên nguyên tử và các hình tướng nguyên tử, tạo ra những hình dạng cụ thể hữu hình mà chúng ta đặt tên trong các giới khác nhau của thiên nhiên. [110] Chân lý của một số tiền đề căn bản trong Minh Triết Ngàn Đời sẽ được chứng minh, chẳng hạn như:

[111] 1. The soul is the form-building principle, producing attraction and cohesion.

[111] 1. Linh hồn là nguyên khí kiến tạo hình tướng, tạo ra sự hấp dẫn và cố kết.

[112] 2. This soul is an aspect or type of energy, distinguished from that of matter itself.

[112] 2. Linh hồn này là một phương diện hay một loại năng lượng, khác biệt với năng lượng của chính vật chất.

[113] 3. The atom has been recognized as an energy unit, but as yet the energy which sweeps atoms into aggregates which we call organisms and forms has not been isolated. [114] This the mystics in the scientific world will sense and work to demonstrate during the next generation. [115] It is this type of energy, the energy of the form building aspect of manifestation which is the source of all magical work; [116] and it is this energy in the various kingdoms of nature that produces form, shape, species, kind, type and the differentiations which mark and distinguish the myriad forms through which life itself manifests. [117] It is the quality of the energy which produces the quantity of forms; it is the light which causes the emergence into consciousness of the race of heterogeneous shapes which aggregates of atoms can assume.

[113] 3. Nguyên tử đã được nhìn nhận là một đơn vị năng lượng, nhưng cho đến nay năng lượng cuốn các nguyên tử vào những tập hợp mà chúng ta gọi là các sinh thể và hình tướng vẫn chưa được cô lập. [114] Điều này, các nhà thần bí trong giới khoa học sẽ cảm nhận và nỗ lực chứng minh trong thế hệ kế tiếp. [115] Chính loại năng lượng này, năng lượng của phương diện kiến tạo hình tướng trong sự biểu hiện, là nguồn gốc của mọi công việc huyền thuật; [116] và chính năng lượng này trong các giới khác nhau của thiên nhiên tạo ra hình tướng, hình dạng, loài, giống, loại và những biến phân đánh dấu và phân biệt muôn vàn hình tướng mà qua đó sự sống chính nó biểu hiện. [117] Chính phẩm tính của năng lượng tạo ra số lượng hình tướng; chính ánh sáng làm cho những hình dạng dị biệt mà các tập hợp nguyên tử có thể mang lấy xuất hiện trong tâm thức của nhân loại.

[118] 4. This type of energy which produces the shapes and forms and coherent organisms in all the kingdoms of nature is not the life principle. [119] The life principle will remain undiscovered and unrecognized until such time as the soul or qualifying principle, the builder of the forms [120] is studied, recognized and in its turn investigated.

[118] 4. Loại năng lượng này, vốn tạo ra các hình dạng, hình tướng và những cơ cấu hữu cơ cố kết trong mọi giới của thiên nhiên, không phải là nguyên khí sự sống. [119] Nguyên khí sự sống sẽ vẫn chưa được khám phá và chưa được nhận biết cho đến khi linh hồn, hay nguyên khí định tính, đấng kiến tạo các hình tướng [120], được nghiên cứu, nhận biết và đến lượt nó được khảo sát.

[121] 5. This is only possible as man steps forth into a fuller conscious possession of his divine heritage, and working as a soul and in control of his mechanism (physical, emotional, and mental) can work consciously en rapport with the soul in all forms.

[121] 5. Điều này chỉ có thể có khi con người tiến bước vào sự sở hữu hữu thức đầy đủ hơn đối với di sản thiêng liêng của y, và khi hoạt động như một linh hồn, kiểm soát bộ máy của y (hồng trần, cảm dục và trí tuệ), y có thể hoạt động một cách hữu thức trong mối giao cảm với linh hồn trong mọi hình tướng.

[122] This will be possible only as the race grasps the above hypothesis, and recognizes it as a possibility and seeks to demonstrate the fact of the soul-factor [123] lying back of its structure or body of manifestation, or equally, seeks to disprove it. [124] All great scientists and workers in the realm of objective nature have worked as souls, [125] and all the most amazing of the developments in the realm of physics and chemistry, as in other departments of human knowledge, have been made when the worker in any particular field has launched forth with faith in some hypothesis he has formed, and has investigated and progressed his work forward stage by stage until he has contacted an aspect of the truth hitherto unformulated by man. [126] Then, having through the use of his intuition entered into a new realm of thought, he takes the knowledge there discovered and formulates it in such way by theory, principle, experiment and mechanical contrivance that it becomes the possession of the group, and in due time is understood and utilized by the world. [127] But in its genesis it has been mystical work and based on a mystical intuition.

[122] Điều này chỉ có thể xảy ra khi nhân loại nắm bắt giả thuyết nêu trên, nhận ra nó như một khả năng và tìm cách chứng minh sự thật về yếu tố linh hồn [123] ẩn sau cấu trúc hay thể biểu hiện của mình, hoặc cũng tìm cách bác bỏ nó. [124] Tất cả các nhà khoa học vĩ đại và những người hoạt động trong lĩnh vực thiên nhiên khách quan đều đã làm việc như những linh hồn, [125] và mọi phát triển kỳ diệu nhất trong lĩnh vực vật lý và hóa học, cũng như trong các ngành tri thức nhân loại khác, đều đã được tạo nên khi người hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực chuyên biệt nào dấn bước với niềm tin vào một giả thuyết do y hình thành, rồi khảo sát và đưa công trình của mình tiến từng giai đoạn, cho đến khi y tiếp xúc được với một phương diện của chân lý mà trước đó con người chưa từng diễn đạt thành công thức. [126] Rồi, nhờ sử dụng trực giác để bước vào một lĩnh vực tư tưởng mới, y đem tri thức đã khám phá ở đó và diễn đạt nó qua lý thuyết, nguyên lý, thí nghiệm và thiết bị cơ học, đến mức nó trở thành sở hữu của tập thể, và đúng thời điểm sẽ được thế giới thấu hiểu và sử dụng. [127] Nhưng trong nguồn gốc phát sinh của nó, đó là công việc thần bí và được đặt nền trên một trực giác thần bí.

[128] It might be noted here that three great discoveries are imminent and during the next two generations will revolutionize modern thought and life.

[128] Cần lưu ý ở đây rằng ba khám phá lớn đang sắp xảy ra và trong hai thế hệ tới sẽ làm biến đổi tận gốc tư tưởng và đời sống hiện đại.

[129] One is already sensed and is the subject of experiment and investigation, the releasing of the energy of the atom. [130] This will completely change the economic and political situation in the world, for the latter is largely dependent upon the former. [131] Our mechanical civilization will be simplified, [132] and an era ushered in which will be free from the incubus of money (its possession and its non-possession), [133] and the human family will recognize universally its status as a bridging kingdom between the three lower kingdoms of nature and the fifth or spiritual kingdom. [134] There will be time and freedom for a soul culture which will supersede our modern methods of education, and the significance of soul powers and the development of the superhuman consciousness will engross the attention of educators and students everywhere.

[129] Một điều đã được cảm nhận và đang là đối tượng của thử nghiệm và khảo cứu: sự giải phóng năng lượng của nguyên tử. [130] Điều này sẽ làm thay đổi hoàn toàn tình hình kinh tế và chính trị trên thế giới, vì tình hình chính trị phần lớn lệ thuộc vào tình hình kinh tế. [131] Nền văn minh cơ giới của chúng ta sẽ trở nên giản dị hơn, [132] và một kỷ nguyên sẽ mở ra, thoát khỏi gánh nặng ám ảnh của tiền bạc, dù là việc sở hữu hay không sở hữu nó, [133] và gia đình nhân loại sẽ nhận biết một cách phổ quát địa vị của mình như một giới bắt cầu giữa ba giới thấp của thiên nhiên và giới thứ năm, hay giới tinh thần. [134] Khi ấy sẽ có thời gian và tự do cho một nền văn hóa linh hồn, vốn sẽ thay thế các phương pháp giáo dục hiện đại của chúng ta; và thâm nghĩa của các quyền năng linh hồn cùng sự phát triển tâm thức siêu nhân sẽ thu hút trọn sự chú ý của các nhà giáo dục và đạo sinh ở khắp nơi.

[135] A second discovery will grow out of the present investigations as to light and color. [136] The effect of color on people, animals and units in the vegetable kingdom will be studied and the result of those studies will be the development of etheric vision or the power to see the next grade of matter with the strictly physical eye. [137] Increasingly will people think and talk in terms of light, and the effect of the coming developments in this department of human thought will be triple.

[135] Một khám phá thứ hai sẽ nảy sinh từ những nghiên cứu hiện nay về ánh sáng và màu sắc. [136] Ảnh hưởng của màu sắc lên con người, loài vật và các đơn vị trong giới thực vật sẽ được nghiên cứu, và kết quả của những nghiên cứu ấy sẽ là sự phát triển thị giác dĩ thái, hay quyền năng thấy được cấp độ kế tiếp của vật chất bằng con mắt thuần hồng trần. [137] Càng ngày, con người sẽ suy nghĩ và nói năng theo những khái niệm về ánh sáng, và ảnh hưởng của các phát triển sắp đến trong lĩnh vực tư tưởng nhân loại này sẽ có tính tam phân.

[138] a. People will possess etheric vision.

[138] a. Con người sẽ có thị giác dĩ thái.

[139] b. The vital or etheric body, lying as the inner structure of the outer forms, will be seen and noted and studied in all kingdoms of nature.

[139] b. Thể sinh lực hay thể dĩ thái, vốn là cấu trúc bên trong của các hình tướng bên ngoài, sẽ được thấy, ghi nhận và nghiên cứu trong mọi giới của thiên nhiên.

[140] c. This will break down all barriers of race and all distinctions of color; the essential brotherhood of man will be established. [141] We shall see each other and all forms of divine manifestation as light units of varying degrees of brightness and shall talk and think increasingly in terms of electricity, of voltage, of intensity and of power. [142] The age and status of men, in regard to the ladder of evolution, will be noted and become objectively apparent, [143] the relative capacities of old souls, and young souls will be recognized, thereby re-establishing on earth the rule of the enlightened.

[140] c. Điều này sẽ phá vỡ mọi rào cản chủng tộc và mọi phân biệt về màu da; tình huynh đệ thiết yếu của con người sẽ được thiết lập. [141] Chúng ta sẽ nhìn thấy nhau và mọi hình tướng của biểu hiện thiêng liêng như những đơn vị ánh sáng với các mức độ sáng chói khác nhau, và sẽ ngày càng nói và suy nghĩ theo các phạm trù điện lực, điện áp, cường độ và quyền năng. [142] Tuổi đời và địa vị của con người, xét theo nấc thang tiến hoá, sẽ được ghi nhận và trở nên hiển nhiên một cách khách quan; [143] các năng lực tương đối của những linh hồn già và những linh hồn trẻ sẽ được nhận biết, nhờ đó tái lập trên Trái Đất sự cai quản của những người đã giác ngộ.

[144] Note here, that these developments will be the work of the scientists of the next two generations and the result of their efforts. [145] Their work [146] with the atom of substance, and their investigations in the realm of electricity, of light and of power, must inevitably demonstrate the relation between forms, which is another term for brotherhood, and the fact of the soul, the inner light and radiance of all forms.

[144] Hãy lưu ý ở đây rằng những phát triển này sẽ là công trình của các nhà khoa học thuộc hai thế hệ kế tiếp và là kết quả của những nỗ lực của họ. [145] Công trình của họ [146] với nguyên tử chất liệu, cùng những khảo cứu của họ trong lĩnh vực điện, ánh sáng và quyền năng, tất yếu phải chứng minh mối liên hệ giữa các hình tướng, vốn là một thuật ngữ khác để chỉ tình huynh đệ, và sự thật về linh hồn, ánh sáng nội tại cùng sự rạng chiếu bên trong của mọi hình tướng.

[147] The third development, which will be the last probably to take place, will be more strictly in the realm of what the occultists call magic. [148] It will grow out of the study of sound and the effect of sound and will put into man’s hands a tremendous instrument in the world of creation. [149] Through the use of sound the scientist of the future will bring about his results; through sound, a new field of discovery will open up; the sound which every form in all kingdoms of nature gives forth will be studied and known and changes will be brought about and new forms developed through its medium. [150] One hint only may I give here and that is, that the release of energy in the atom is linked to this new coming science of sound.

[147] Sự phát triển thứ ba, có lẽ sẽ là điều cuối cùng diễn ra, sẽ thuộc nghiêm ngặt hơn vào lĩnh vực mà các nhà huyền bí học gọi là huyền thuật. [148] Nó sẽ nảy sinh từ việc nghiên cứu âm thanh và tác động của âm thanh, và sẽ đặt vào tay con người một công cụ phi thường trong thế giới sáng tạo. [149] Nhờ việc sử dụng âm thanh, nhà khoa học tương lai sẽ tạo ra các kết quả của mình; nhờ âm thanh, một lĩnh vực khám phá mới sẽ mở ra; âm thanh mà mọi hình tướng trong tất cả các giới của thiên nhiên phát ra sẽ được nghiên cứu và nhận biết, và những biến đổi sẽ được tạo ra, những hình tướng mới sẽ được phát triển thông qua phương tiện ấy. [150] Ở đây, tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý, đó là sự giải phóng năng lượng trong nguyên tử có liên hệ với khoa học mới sắp đến này về âm thanh.

[151] The significance of what has happened in the world during the last century in the realm of sound is not appreciated yet nor understood. Terrific effects are however being produced by the unbelievably increased noise and sound emanating from the planet at this time. [152] The roar of machinery, the rumble of the transportation mechanisms in all parts of the world—trains, vessels and airplanes—the focussing of the sounds of men in such congested areas as the great cities, and, at this time, the universal use of the radio bringing musical sounds into every home and into street life are producing effects upon the bodies of men and upon all forms of life everywhere which will become apparent only as time elapses. [153] Some forms of life in the animal kingdom, but primarily in the vegetable kingdom, will disappear and the response of the human mechanism to this world of sound, uproar and music in which it will increasingly find itself will be most interesting.

[151] Người ta vẫn chưa đánh giá đúng cũng chưa thấu hiểu thâm nghĩa của những gì đã xảy ra trên thế giới trong thế kỷ qua trong lĩnh vực âm thanh. Tuy nhiên, những tác động ghê gớm đang được tạo ra bởi tiếng ồn và âm thanh gia tăng đến mức khó tin, phát ra từ hành tinh vào lúc này. [152] Tiếng gầm của máy móc, tiếng ầm ì của các phương tiện giao thông ở mọi nơi trên thế giới — tàu hỏa, tàu thủy và máy bay — sự tập trung các âm thanh của con người trong những khu vực đông đúc như các thành phố lớn, và vào lúc này, việc sử dụng máy thu thanh khắp nơi, đưa âm thanh âm nhạc vào mọi gia đình và vào đời sống đường phố, đang tạo ra những tác động lên các thể của con người và lên mọi hình tướng sự sống ở khắp nơi; những tác động ấy sẽ chỉ trở nên rõ ràng khi thời gian trôi qua. [153] Một số hình tướng sự sống trong giới động vật, nhưng chủ yếu trong giới thực vật, sẽ biến mất; và sự đáp ứng của bộ máy con người đối với thế giới của âm thanh, tiếng huyên náo và âm nhạc này — trong đó y sẽ ngày càng thấy mình hiện diện — sẽ là điều hết sức thú vị.

[154] These three developments will usher in the new age, will produce in this transition period the needed changes, and will inaugurate a new era wherein brotherhood will be the keynote, for it will be a demonstrated fact in nature. [155] It will be an age wherein men will walk in the light, for it will be a world of recognized inner radiance, wherein the work of the world will be carried forward through the medium of sound, and eventually through the use of words of power and the work of the trained magician. These trained workers in substance, understanding the nature of matter, seeing always in terms of light and comprehending the purpose of sound will bring about those structural changes and those material transformations which will establish a civilization adequate for the work of the coming race. This work will be that of the conscious unification of the soul and its vehicle of manifestation. Those cultural methods also which will take the undeveloped of the race and carry them forward to a better manifestation, and a truer expression of themselves will be established and this it is the privilege of the coming generation of scientific investigators to bring about.

[154] Ba sự phát triển này sẽ mở ra kỷ nguyên mới, sẽ tạo nên trong giai đoạn chuyển tiếp này những thay đổi cần thiết, và sẽ khai mở một thời đại mới, trong đó tình huynh đệ sẽ là chủ âm, vì nó sẽ là một sự kiện được chứng minh trong tự nhiên. [155] Đó sẽ là một thời đại trong đó con người sẽ bước đi trong ánh sáng, vì đó sẽ là một thế giới của ánh rạng rỡ bên trong đã được nhận biết, trong đó công việc của thế gian sẽ được tiến hành nhờ trung gian của âm thanh, và cuối cùng thông qua việc sử dụng những Quyền năng từ cùng công việc của nhà huyền thuật được huấn luyện. Những người hoạt động được huấn luyện này trong chất liệu, thấu hiểu bản chất của vật chất, luôn nhìn theo ánh sáng và lĩnh hội mục đích của âm thanh, sẽ tạo nên những thay đổi về cấu trúc và những chuyển hoá vật chất vốn sẽ thiết lập một nền văn minh thích hợp cho công việc của nhân loại sắp đến. Công việc này sẽ là sự hợp nhất có ý thức giữa linh hồn và hiện thể biểu hiện của nó. Những phương pháp văn hoá ấy cũng sẽ được thiết lập, vốn sẽ tiếp nhận những người chưa phát triển trong nhân loại và đưa họ tiến tới một sự biểu hiện tốt đẹp hơn, một sự diễn đạt chân thực hơn về chính họ; và chính thế hệ sắp đến của các nhà khảo cứu khoa học có đặc quyền đem điều này thành tựu.

Commentary 31 Astral Plane Rule X-10.15

Hello everybody. We are continuing now with the section on the rules for magic on the astral plane from A Treatise on White Magic. We're on the 31st program and we're on the 15th program for Rule 10. DK is beginning to offer us some advice and we will see how that goes.

Chào tất cả các bạn. Chúng ta tiếp tục phần các quy luật về huyền thuật trên cõi cảm dục trong Luận về Chánh Thuật. Đây là chương trình thứ 31, và là chương trình thứ 15 về Quy luật 10. Chân sư DK đang bắt đầu đưa ra cho chúng ta một vài lời khuyên, và chúng ta sẽ xem điều đó diễn tiến ra sao.

[1] The effort on the part of all aspirants should not be to resist and repel the pressure or to fight and ward off.

[1] Nỗ lực của tất cả người chí nguyện không nên là chống lại và đẩy lùi áp lực, hay chiến đấu và ngăn chặn nó.

The pressure coming from higher and better sources, but they are experienced dissonantly by the present organization of the personality. It's the same thing when a more advanced disciple steps into the life of an average person or an aspirant, or when a master steps into the life of a disciple or lower initiate, there always will be a disturbance.

Áp lực đến từ những nguồn cao hơn và tốt đẹp hơn, nhưng phàm ngã với cơ cấu hiện tại lại trải nghiệm chúng một cách bất hòa. Điều này cũng giống như khi một đệ tử tiến hóa hơn bước vào đời sống của một người bình thường hay một người chí nguyện, hoặc khi một Chân sư bước vào đời sống của một đệ tử hay một điểm đạo đồ cấp thấp, luôn luôn sẽ có một sự xáo trộn.

[2] Such a method centres the attention upon the not-self and leads to added chaos. The effort should be along the lines of an endeavour to make contact with the higher self, and keep it stable and steady, and to be in such direct alignment that the force and power of the soul may be poured upon and through the lower threefold nature. This pouring through will bring about a steady radiation which will affect the surroundings exactly in proportion to the extent of the inner contact, and in direct relation to the clarity of the channel linking the physical brain to the causal body.

[2] Phương pháp như thế tập trung sự chú ý vào phi-ngã và dẫn đến thêm hỗn loạn. Nỗ lực nên đi theo hướng cố gắng tiếp xúc với chân ngã, giữ cho sự tiếp xúc ấy ổn định và vững vàng, và ở trong một trạng thái chỉnh hợp trực tiếp đến mức mãnh lực và quyền năng của linh hồn có thể tuôn đổ xuống trên và xuyên qua bản chất tam phân thấp. Sự tuôn đổ xuyên qua này sẽ tạo nên một bức xạ ổn định, tác động đến môi trường chung quanh đúng theo mức độ tiếp xúc nội tâm, và trực tiếp tùy thuộc vào độ trong sáng của vận hà nối kết bộ não hồng trần với thể nguyên nhân.

This is what we're after: steady soul radiation—something difficult to achieve, something that we understand theoretically, but to make it real is another matter. This alignment, this direct relation of the causal body with the physical brain, is what is required.

Đây là điều chúng ta nhắm đến: bức xạ linh hồn đều đặn—một điều khó đạt được, một điều chúng ta hiểu về mặt lý thuyết, nhưng làm cho nó thành hiện thực lại là chuyện khác. Sự chỉnh hợp này, mối liên hệ trực tiếp này giữa thể nguyên nhân và bộ não hồng trần, là điều cần thiết.

[3] The aspirant should also strive after that self-forgetfulness which merges itself in the good of those contacted.

[3] Người chí nguyện cũng nên nỗ lực đạt đến sự quên mình, vốn hòa nhập vào lợi ích của những người mà y tiếp xúc.

When contacting others, how many think this way? What is one who is for others? What is the good for you?

Khi tiếp xúc với người khác, có bao nhiêu người nghĩ theo cách này? Một người sống vì người khác là gì? Điều thiện dành cho các bạn là gì?

I was in a convent in a far northern city called Tromsø, Norway, and the motto was something like Totus Tuus—"Entirely for you, all for you”. This was the motto of the nuns who were there in that place. I went for the music usually, the vespers, the evening prayers which were presented in a kind of Gregorian chant. Very beautiful. But anyway, the whole idea: the Christ is the man for others, the one for others.

Tôi đã từng ở trong một tu viện tại một thành phố rất xa về phía bắc, gọi là Tromso, Na Uy, và châm ngôn ở đó đại khái là “Hoàn toàn cho bạn, tất cả vì bạn”. Đây là châm ngôn của các nữ tu ở nơi ấy. Tôi thường đến đó vì âm nhạc, các buổi kinh chiều, những lời cầu nguyện buổi tối được trình bày theo một kiểu bình ca nhà thờ. Rất đẹp. Toàn bộ ý tưởng là: Đức Christ là con người vì kẻ khác, Đấng sống cho kẻ khác.

[4] This self-forgetfulness refers to the lower self. Self-recollectedness and self-forgetfulness should be companions.

[4] Sự quên mình này chỉ sự quên phàm ngã. Sự nhớ về Chân Ngã và sự quên mình phải đi đôi với nhau.

This is so important because along with self-forgetfulness there is a definite self-remembrance, which relates to the higher self. A self-recollectedness and even at the beginning of white magic we get the idea of gathering the forces. We have to always realize what identity we have, even as we are overlooking and not paying a whole lot of attention to the demands of the personality. We can use the personality skillfully as an instrument, but personality demands for their own sake—these we tend to ignore if we can.

Điều này rất quan trọng, bởi vì cùng với sự quên mình có một sự tự nhớ mình rõ rệt, liên quan đến chân ngã. Một sự tự thu hồi tâm thức về mình; và ngay từ đầu của Chánh Thuật, chúng ta đã có ý tưởng về việc quy tụ các mãnh lực. Chúng ta phải luôn nhận ra mình có bản sắc nào, ngay cả khi chúng ta bỏ qua và không quá chú ý đến những đòi hỏi của phàm ngã. Chúng ta có thể dùng phàm ngã một cách khéo léo như một khí cụ, nhưng những đòi hỏi của phàm ngã vì chính chúng—nếu có thể, chúng ta có khuynh hướng phớt lờ chúng.

[5] The man who aims at providing a point of contact, between conditions of chaos and Those Who work for constructive ends and order, should likewise use that most necessary factor of common-sense in all that he does.

[5] Người nào nhắm tới việc tạo một điểm tiếp xúc giữa các tình trạng hỗn loạn và Những Đấng hoạt động cho các mục tiêu xây dựng và trật tự, cũng phải vận dụng yếu tố lẽ thường hết sức cần thiết ấy trong mọi việc y làm.

DK tells us that the Sixth Ray Lord is rather devoid of common sense, and hence the disorganized state of the world. All this will straighten out under the Seventh Ray Lord, I gather. But the Sixth Ray Lord monads, he tells us, don't get along so well with the Seventh Ray Lord monads. That's considered from a very high point of view.

Chân sư DK nói với chúng ta rằng Đấng Chúa Tể Cung sáu khá thiếu lẽ thường, và do đó thế giới ở trong tình trạng vô tổ chức. Tôi hiểu rằng tất cả điều này sẽ được chỉnh đốn dưới Đấng Chúa Tể Cung bảy. Nhưng Ngài nói với chúng ta rằng các chân thần thuộc Đấng Chúa Tể Cung sáu không hòa hợp lắm với các chân thần thuộc Đấng Chúa Tể Cung bảy. Điều đó được xét từ một quan điểm rất cao.

Midway we stand between the chaos and the masters behind the warriors twixt the light and dark blazes the light of hierarchy.

Ở giữa chúng ta đứng, giữa hỗn loạn và các Chân sư, phía sau những chiến sĩ giữa ánh sáng và bóng tối, ánh sáng của Thánh đoàn bừng cháy.

The dark is the chaos, and to a great extent the Black Lodge works through the induction of chaos, which always confuses people and makes their activity ineffective. This is all part of DK's advice. He's offering us suggestions. “I'm making certain suggestions,” he says, “to be followed by you or not as deemed wise. We must remember that every aspirant is a focal point of energy and should be, in his place, a conscious focal point. In the midst of the whirl and storm he should make his presence felt. The Law of action and re-action works here, and often the Great Ones (foreseeing the need of just such points of inner contact in periods of world unrest, such as the present) gather into certain localities those who are aspirants to service”.

Bóng tối là hỗn loạn, và ở một mức độ lớn, Hắc đoàn hoạt động thông qua việc gây nên hỗn loạn, điều luôn làm con người bối rối và khiến hoạt động của họ trở nên kém hiệu quả. Tất cả điều này là một phần trong lời khuyên của Chân sư DK. Ngài đang đưa ra cho chúng ta những gợi ý. “Tôi đang đưa ra một số gợi ý,” Ngài nói, “để các bạn làm theo hay không, tùy như các bạn xét là khôn ngoan. Chúng ta phải nhớ rằng mỗi người chí nguyện là một điểm tập trung của năng lượng, và trong vị trí của mình, y nên là một điểm tập trung có ý thức. Giữa cơn xoáy và bão tố, y nên làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận. Định luật hành động và phản ứng vận hành ở đây, và thường thì Các Đấng Cao Cả, khi tiên liệu nhu cầu về chính những điểm tiếp xúc nội tâm như thế trong các thời kỳ bất ổn của thế giới như hiện nay, quy tụ vào một số địa phương nhất định những người chí nguyện phụng sự”.

In the New York area, which is a major center, Alice Bailey was holding meetings every month at the time of the full moon, more or less as I understand it. People are positioned with an important plan-related end in view.

Tại khu vực Nữu Ước, một trung tâm lớn, Bà Alice Bailey lúc ấy tổ chức các buổi họp hằng tháng vào kỳ trăng tròn, đại khái theo như tôi hiểu. Con người được đặt vào vị trí với một mục đích quan trọng liên quan đến Thiên Cơ.

They act as a balance and aid the general plan, and at the same time they themselves learn much needed lessons.

Họ hoạt động như một sự cân bằng và trợ giúp Thiên Cơ chung, đồng thời chính họ học được những bài học rất cần thiết.

Common sense—that is the sixth sense—it synthesizes all the other senses. But it generally implies in our language a level head, a realistic approach to life on the physical plane and on other planes, and wild exaggerations and minimizations do not occur.

Lẽ thường—đó là giác quan thứ sáu—nó tổng hợp tất cả các giác quan khác. Nhưng trong ngôn ngữ của chúng ta, nó thường hàm ý một cái đầu tỉnh táo, một cách tiếp cận thực tế đối với đời sống trên cõi hồng trần và trên các cõi khác, và không có những sự phóng đại hay xem nhẹ quá mức.

[6] This involves always obedience to the law of economy of force, due to discrimination, and a true sense of values.

[6] Điều này luôn bao hàm sự tuân phục định luật tiết kiệm mãnh lực, nhờ phân biện, và một ý thức đích thực về các giá trị.

The idea is not to waste, and this is discrimination. We must have discrimination according to the higher values, which in this case, of course, are soul values. Do we live according to soul values? Sometimes one has to be a little bit tough, a little harsh on circumstances that do not give way easily to sweet reason. Jesus threw the money changers out of the temple, and there are many ways in which a high soul sometimes has to act with force, with strength, with the First Ray, and in ways that do not look so pleasant. Sometimes we confuse spirituality with pleasantness, and it isn't so, because pleasantness so often simply preserves an inadequate condition instead of disrupting it according to the demands of a higher archetype.

Ý tưởng là không lãng phí, và đây là phân biện. Chúng ta phải có phân biện theo những giá trị cao hơn, trong trường hợp này, dĩ nhiên, là các giá trị của linh hồn. Chúng ta có sống theo các giá trị của linh hồn không? Đôi khi người ta phải hơi cứng rắn, hơi nghiêm khắc đối với những hoàn cảnh không dễ dàng nhường bước trước lý trí dịu dàng. Đức Jesus đã đuổi những người đổi tiền ra khỏi đền thờ, và có nhiều cách trong đó một linh hồn cao đôi khi phải hành động bằng mãnh lực, bằng sức mạnh, bằng cung một, và theo những cách trông không dễ chịu lắm. Đôi khi chúng ta lẫn lộn tinh thần với sự dễ chịu, nhưng không phải vậy, bởi vì sự dễ chịu thường chỉ duy trì một tình trạng không thích đáng thay vì phá vỡ nó theo các đòi hỏi của một nguyên mẫu cao hơn.

[7] Where these are present, time will be economised, strength will be husbanded, energy will be wisely distributed, excessive zeal will be eliminated,

[7] Khi những điều này hiện diện, thời gian sẽ được tiết kiệm, sức mạnh sẽ được gìn giữ, năng lượng sẽ được phân phối một cách khôn ngoan, nhiệt tâm quá mức sẽ bị loại bỏ,

That's the tempering of the sixth ray.

Đó là sự điều hòa cung sáu.

[8] and the Great Ones will be able to depend upon an aspirant’s sagacity and thus find a helper.

[8] và Các Đấng Cao Cả sẽ có thể tin cậy vào sự sáng suốt của một người chí nguyện, nhờ đó tìm thấy một người trợ giúp.

Sagacity — sage wisdom, that's the idea behind it. How does Master DK describe common sense? And here we have it. This involves always obedience to the Law of Economy. It's the third ray law, but it's the builder of the foundation — everything is based upon it. The old saying “waste not, want not” — if you waste it, it just won't be there. What you need will not be there when the presence of that which you need counts the most.

Sự minh triết thực tiễn—minh triết của bậc hiền triết, đó là ý tưởng phía sau từ này. Chân sư DK mô tả lẽ thường như thế nào? Ở đây chúng ta có điều đó. Điều này luôn bao hàm sự tuân phục Định luật Tiết Kiệm. Đó là định luật cung ba, nhưng nó là đấng kiến tạo nền tảng—mọi sự đều đặt trên nó. Câu nói xưa “không lãng phí thì không thiếu thốn”—nếu các bạn lãng phí nó, nó sẽ không còn ở đó. Điều các bạn cần sẽ không có mặt khi sự hiện diện của điều các bạn cần là quan trọng nhất.

Obedience to the Law of Economy of force is due to discrimination between what is of the soul and what is of the personality, and a true sense of value — spiritual values — based upon what the soul seeks to accomplish, what the Plan seeks to accomplish.

Sự tuân phục Định luật Tiết Kiệm mãnh lực là do phân biện giữa điều thuộc về linh hồn và điều thuộc về phàm ngã, và do một ý thức chân thật về giá trị—các giá trị tinh thần—dựa trên điều linh hồn tìm cách hoàn thành, điều Thiên Cơ tìm cách hoàn thành.

Where these are present: time will be economized. No great dilation of time. Time is very important. Master Morya said that if someone wastes your time, it's murder; if you waste your own time, it's suicide. Those are pretty strong words.

Khi những điều này hiện diện: thời gian sẽ được tiết kiệm. Không có sự kéo dài thời gian quá mức. Thời gian rất quan trọng. Chân sư Morya nói rằng nếu ai đó lãng phí thời gian của các bạn thì đó là sát nhân; nếu các bạn lãng phí thời gian của chính mình thì đó là tự sát. Những lời ấy khá mạnh.

Strength will be husbanded — will be guarded. Energy will be wisely distributed — not scattered all over the place. It's a danger under the Aquarian energy, this scattering of energy. And excessive zeal — the ray of undue emphasis — will be eliminated. Or at least the excesses of the sixth ray will be eliminated. The Great Ones will find someone there that can really be counted upon and can be deemed a helper.

Sức mạnh sẽ được gìn giữ—sẽ được bảo vệ. Năng lượng sẽ được phân phối một cách khôn ngoan—không bị rải rác khắp nơi. Dưới năng lượng Bảo Bình, sự phân tán năng lượng này là một mối nguy. Và lòng nhiệt thành quá mức—cung của sự nhấn mạnh thái quá—sẽ bị loại bỏ. Hoặc ít nhất những thái quá của cung sáu sẽ bị loại bỏ. Các Đấng Cao Cả sẽ tìm thấy ở đó một người thật sự có thể được trông cậy và có thể được xem là một người trợ giúp.

[9] All occult training has in view the development of the aspirant so that he may indeed be a focal point of spiritual energy.

[9] Mọi huấn luyện huyền bí đều nhắm đến sự phát triển của người chí nguyện, để y thật sự có thể trở thành một tiêu điểm của năng lượng tinh thần.

Instead of an obstructive unit of personal force.

Thay vì là một đơn vị cản trở của mãnh lực cá nhân.

[10] It should be remembered, however, that under the law, this training will be cyclic, and will have its ebb and flow, as all else in nature.

[10] Tuy nhiên, cần nhớ rằng theo định luật, sự huấn luyện này sẽ diễn ra theo chu kỳ, và sẽ có lúc lên lúc xuống, như mọi sự khác trong thiên nhiên.

So that there may be assimilation and right application.

Để có thể có sự đồng hóa và áp dụng đúng đắn.

[11] Times of activity succeed times of pralaya,

[11] Những thời kỳ hoạt động nối tiếp những thời kỳ Giai kỳ qui nguyên,

relative pralaya

pralaya tương đối

[12] and periods of registered contact alternate with periods of apparent silence.

[12] và các giai đoạn tiếp xúc được ghi nhận luân phiên với các giai đoạn im lặng biểu kiến.

Apparent silence, because there's still a supervision. This avoids what we call burnout. I'm sure we've all had that experience of overstimulation, and eventually it creates a certain condition of disorganization in the vehicle. And then you have to regather the organization, you have to rest, so that the elements of the vehicle are ready to respond instead of being greatly fatigued by excessive contact.

Dường như im lặng, bởi vì vẫn có sự giám sát. Điều này tránh cái chúng ta gọi là kiệt sức. Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều từng có kinh nghiệm bị kích thích quá mức, và cuối cùng điều đó tạo nên một tình trạng vô tổ chức nào đó trong hiện thể. Rồi các bạn phải quy tụ lại cơ cấu, phải nghỉ ngơi, để các yếu tố của hiện thể sẵn sàng đáp ứng thay vì bị quá mệt mỏi do tiếp xúc quá mức.

[13] Note here the choice of words. This alternation is due to the imposition of the Law of Periodicity and if the student develops as desired, each pralayic period is succeeded by one of greater activity, and of more potent achievement.

[13] Ở đây, hãy lưu ý cách lựa chọn từ ngữ. Sự luân phiên này là do tác động của Định luật Chu kỳ, và nếu đạo sinh phát triển như mong muốn, thì mỗi thời kỳ qui nguyên sẽ được tiếp nối bằng một thời kỳ hoạt động lớn hơn và thành tựu mạnh mẽ hơn.

That's the second fundamental of what we call the principles of the Secret Doctrine. The second law is the Law of Periodicity. The imposition of the Law of Periodicity — and if the student develops as desired, each pralayic period is succeeded by one of greater activity and of more potent achievement.

Đó là nguyên lý nền tảng thứ hai trong những điều chúng ta gọi là các nguyên lý của Giáo Lý Bí Nhiệm. Định luật thứ hai là Định luật Chu Kỳ. Sự áp đặt của Định luật Chu Kỳ—và nếu đạo sinh phát triển như mong muốn, mỗi thời kỳ pralaya sẽ được tiếp nối bởi một thời kỳ hoạt động lớn hơn và thành tựu mạnh mẽ hơn.

The factor of rest, the need for regrouping, the need for rejuvenation — regeneration — is always needed after you subject any system to a lot of rigor and demand. There are moments to rest. Master DK advised his students: “Don't work all the time. Take the necessary periods of leisure, because in the long run it's going to do better for you.”

Yếu tố nghỉ ngơi, nhu cầu tái quy tụ, nhu cầu phục hồi sinh lực—tái sinh—luôn cần thiết sau khi các bạn đặt bất kỳ hệ thống nào dưới nhiều sự nghiêm khắc và đòi hỏi. Có những lúc phải nghỉ. Chân sư DK khuyên các đạo sinh của Ngài: “Đừng làm việc suốt. Hãy có những thời kỳ nhàn rỗi cần thiết, bởi vì về lâu dài điều đó sẽ tốt hơn cho các bạn.”

[14] Rhythm, ebb and flow, and the measured beat of the pulsating life are ever the law of the universe,

[14] Nhịp điệu, sự lên xuống, và nhịp đập điều hòa của sự sống đang rung động luôn luôn là định luật của vũ trụ,

And even at the very height of the universe — the great breath — at the height of the universe, whatever height means.

Và ngay cả ở chính đỉnh cao của vũ trụ—hơi thở vĩ đại—ở đỉnh cao của vũ trụ, bất kể “đỉnh cao” có nghĩa là gì.

[15] and in learning to respond to time vibration of the high Places this rhythmic periodicity must be borne in mind.

[15] và khi học cách đáp ứng với rung động thời gian của các Cõi Cao, cần ghi nhớ tính chu kỳ có nhịp điệu này.

Rhythmic periodicity — we awaken, we sleep. Hopefully there's some rhythm in it all, some regularity in it all, so that we do not live a disrupted and chaotic life. Sometimes when subjected to these higher forces the lower forces do become disturbed and overstimulated. A nice pulsating beat — the measured beat of a pulsating life — but we find that that desirable condition is not existing; rather there is disturbance.

Tính chu kỳ nhịp nhàng—chúng ta thức, chúng ta ngủ. Hy vọng có một nhịp điệu nào đó trong tất cả, một sự đều đặn nào đó trong tất cả, để chúng ta không sống một đời sống bị đứt đoạn và hỗn loạn. Đôi khi, khi chịu tác động của các mãnh lực cao hơn này, các mãnh lực thấp hơn trở nên xáo trộn và bị kích thích quá mức. Một nhịp đập rung động đẹp đẽ—nhịp đập có chừng mực của một sự sống đang rung động—nhưng chúng ta thấy rằng tình trạng đáng mong muốn ấy không hiện hữu; trái lại, có sự xáo trộn.

Alice Bailey slept two or three hours a night — so the story goes. She was subjected to tremendous pressure. What a weight of responsibility. When Master DK was ready, she had better be ready, and it wasn't always the case, unfortunately. There was no way with a human being that it actually could be the case. So He had to be very aware that she was an instrument, and had to be very savvy about when and to what extent that instrument could be used — when enough was enough, how far you could drive the instrument before there were negative repercussions.

Người ta kể rằng Bà Alice Bailey chỉ ngủ hai hoặc ba giờ mỗi đêm. Bà chịu áp lực khủng khiếp. Một gánh nặng trách nhiệm biết bao. Khi Chân sư DK sẵn sàng, tốt nhất là bà cũng phải sẵn sàng, nhưng đáng tiếc, điều đó không phải lúc nào cũng xảy ra. Với một con người, thật ra không có cách nào để điều đó luôn xảy ra. Vì vậy Ngài phải hết sức ý thức rằng bà là một khí cụ, và phải rất khôn ngoan về thời điểm cũng như mức độ mà khí cụ ấy có thể được sử dụng—khi nào là đủ, có thể thúc đẩy khí cụ đến đâu trước khi có những hậu quả tiêu cực.

In learning to respond to the time vibration of the high places, the rhythmic periodicity must be borne in mind. When we consider how we shall spend time in our life — or time vibration of the high places. This may be one of those difficult transfers from the book itself where some word is left out, but we get the idea. You can search it out right before page 324.

Trong khi học cách đáp ứng với rung động thời gian của các nơi cao, tính chu kỳ nhịp nhàng phải được ghi nhớ. Khi chúng ta xem xét cách mình sẽ sử dụng thời gian trong đời sống—hay rung động thời gian của các nơi cao. Đây có thể là một trong những chỗ chuyển khó từ chính quyển sách, nơi có lẽ một từ nào đó bị bỏ sót, nhưng chúng ta hiểu ý. Các bạn có thể tra ngay trước trang 324.

[16] The same law governs a human being, a planet, a solar system—all centres or focal points of energy in some greater Life. If such work as you are doing is to succeed (and it is largely the work of developing the ability to touch certain currents on mental levels—currents which emanate from the higher self, from your egoic group, or from the Master) definite planned conditions must be provided.

[16] Cùng một định luật ấy chi phối một con người, một hành tinh, một hệ mặt trời—tất cả đều là các trung tâm hay tiêu điểm của năng lượng trong một Sự Sống lớn lao hơn. Nếu loại công việc như các bạn đang làm muốn thành công, và phần lớn đó là công việc phát triển khả năng tiếp xúc với một số dòng lưu trên các cấp độ trí tuệ—những dòng lưu phát xuất từ chân ngã, từ nhóm chân ngã của các bạn, hoặc từ Chân sư—thì phải tạo lập những điều kiện rõ ràng và có hoạch định.

He's giving us advice regarding our success and how we can use time and periods wisely under the Law of Periodicity.

Ngài đang cho chúng ta lời khuyên liên quan đến sự thành công của chúng ta và cách chúng ta có thể sử dụng thời gian cùng các thời kỳ một cách khôn ngoan dưới Định luật Chu Kỳ.

[17] Certain factors must be present. If they do not exist,

[17] Một số yếu tố nhất định phải hiện diện. Nếu chúng không tồn tại,

It's interesting that we have to touch certain currents on the mental level from the higher self, egoic group, or the Master. Since the ashrams had moved by this time, there are also lower triadal currents as well, intuitional currents, buddhic currents, and so forth. But we are talking about the higher mental plane to a great extent here.

Điều thú vị là chúng ta phải chạm đến một số dòng lưu chuyển nhất định trên cấp độ trí tuệ từ chân ngã, nhóm chân ngã, hoặc Chân sư. Vì vào thời điểm này các ashram đã chuyển dịch, cũng có những dòng lưu chuyển thấp hơn của Tam Nguyên Tinh Thần, những dòng trực giác, những dòng Bồ đề, v.v. Nhưng ở đây, phần lớn chúng ta đang nói về Cõi thượng trí.

Definite plan conditions must be provided. Certain factors must be present. If they do not exist,

Những điều kiện nhất định đã được hoạch định phải được cung cấp. Một số yếu tố nhất định phải hiện diện. Nếu chúng không tồn tại,

[18] then the currents are (if I may so express it) deflected, and contact fails of accomplishment. If occupation with mundane affairs is necessitated—and such periods come in every life cycle—then the attention should be concentrated on these details, and the higher contact may be then temporarily unrealised.

[18] thì các dòng lưu ấy, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, sẽ bị lệch hướng, và sự tiếp xúc không thể thành tựu. Nếu cần phải bận tâm đến các công việc đời thường—và những thời kỳ như thế xuất hiện trong mọi chu kỳ đời sống—thì sự chú tâm nên được tập trung vào các chi tiết ấy, và sự tiếp xúc cao hơn khi đó có thể tạm thời chưa được nhận biết.

Master DK could not work with AAB when she was under the influence of too much concrete manas — He had to wait for another time, as she would not be able to receive properly. When we're dealing with concrete matters, we really pay attention to them and don't distract ourselves with hope for higher contacts when our attention has to be given to the matters immediately at hand.

Chân sư DK không thể làm việc với Bà AAB khi bà chịu ảnh hưởng của quá nhiều manas cụ thể—Ngài phải chờ một thời điểm khác, vì bà sẽ không thể tiếp nhận đúng đắn. Khi chúng ta xử lý các vấn đề cụ thể, chúng ta thật sự chú ý đến chúng và không làm mình xao lãng bằng hy vọng về những tiếp xúc cao hơn khi sự chú ý của chúng ta phải dành cho những vấn đề ngay trước mắt.

[19] Such attention to affairs on the physical plane is not necessarily loss of time, for it may be as much a part of the plan at that particular time as any other kind of service.

[19] Sự chú tâm như thế đến các công việc trên cõi hồng trần không nhất thiết là sự lãng phí thời gian, vì vào thời điểm đặc biệt ấy, nó có thể là một phần của Thiên Cơ không kém bất kỳ loại phụng sự nào khác.

In a way, there is no high or low, but only life in all its vibrations, to be handled correctly.

Theo một cách nào đó, không có cao hay thấp, mà chỉ có sự sống trong mọi rung động của nó, cần được xử lý đúng đắn.

Sometimes it's difficult. I remember the story — you're building a cathedral and people have some humble task. Maybe they're just moving rocks from one place to another, or bricks, or stones, or something of that nature. One person could be exhausted and asked, “What are you doing?” — “I'm just carrying stones from place to place.” Another person doing the same thing would be asked, “What are you doing?” — “I'm building a cathedral to the glory of God.” It all depends on the context in which you understand your task.

Đôi khi điều đó khó. Tôi nhớ một câu chuyện—các bạn đang xây một thánh đường và người ta có những công việc khiêm tốn. Có lẽ họ chỉ chuyển đá từ nơi này sang nơi khác, hoặc gạch, hoặc đá tảng, hay điều gì đó tương tự. Một người có thể kiệt sức và được hỏi: “Anh đang làm gì?”—“Tôi chỉ đang khuân đá từ nơi này sang nơi khác.” Một người khác làm cùng việc ấy được hỏi: “Anh đang làm gì?”—“Tôi đang xây một thánh đường để tôn vinh Thượng đế.” Tất cả tùy thuộc vào bối cảnh trong đó các bạn hiểu nhiệm vụ của mình.

As a person myself, I'll give an example — I don't have a whole lot of earth signs in my horoscope, maybe just one, Venus in Taurus. It's led to a musical life and that kind of thing, and maybe not too fit to do things on the physical plane. But I try to tell myself, when I'm engaged in mundane activities, “What's it all for, really?” The task itself seems boring, but that just shows that there's something to be learned. I try to think of the larger context, because then it gives greater upliftment and joy in dealing with mundane things. If you're washing the dishes, you're preserving the cleanliness which is next to godliness. There are all these different ways of interpreting what we're doing. Many of us may not want to do the karmic task immediately at hand because it seems so mundane — it doesn't seem to lead anywhere. But it's all in the attitude; that's what leads somewhere.

Lấy chính tôi làm ví dụ—tôi không có nhiều dấu hiệu hành thổ trong lá số chiêm tinh của mình, có lẽ chỉ một, Sao Kim ở Kim Ngưu. Điều đó đã dẫn đến một đời sống âm nhạc và những điều tương tự, và có lẽ không mấy thích hợp để làm những việc trên cõi hồng trần. Nhưng khi tôi tham gia vào các hoạt động thế gian, tôi cố tự nhủ: “Rốt cuộc tất cả là để làm gì?” Bản thân công việc có vẻ nhàm chán, nhưng điều đó chỉ cho thấy có điều gì đó cần học. Tôi cố nghĩ đến bối cảnh rộng lớn hơn, bởi vì khi đó nó đem lại sự nâng đỡ và sự hoan hỉ lớn hơn trong việc xử lý các điều thế gian. Nếu các bạn rửa chén, các bạn đang giữ gìn sự sạch sẽ, vốn gần với tính thiêng liêng. Có tất cả những cách khác nhau này để diễn giải điều chúng ta đang làm. Nhiều người trong chúng ta có thể không muốn làm nhiệm vụ nghiệp quả ngay trước mắt vì nó có vẻ quá thế tục—dường như nó chẳng dẫn đến đâu. Nhưng tất cả nằm ở thái độ; chính điều đó mới dẫn đến một nơi nào đó.

[20] Full expression and consciousness on each and every plane is the objective, remembering that each plane with its varying states of consciousness is equally a part of the divine Life.

[20] Sự biểu hiện và tâm thức trọn vẹn trên từng cõi và mọi cõi là mục tiêu, cần nhớ rằng mỗi cõi, với các trạng thái tâm thức khác nhau của nó, đều là một phần ngang nhau của Sự Sống thiêng liêng.

Yes, exactly. Easily said — and then to be lived is another matter. But at least we understand what the idea is. Whether we're working in the area of low vibration or high vibration, we're working, and it's all equally divine — and it's all one substance in various degrees of externalization and projection from Being. It's all one thing.

Đúng vậy, chính xác. Nói thì dễ—nhưng sống được như vậy lại là chuyện khác. Tuy nhiên ít nhất chúng ta hiểu ý tưởng là gì. Dù chúng ta đang làm việc trong vùng rung động thấp hay rung động cao, chúng ta đang làm việc, và tất cả đều thiêng liêng như nhau—và tất cả là một chất liệu duy nhất trong những mức độ ngoại hiện và phóng chiếu khác nhau từ Bản Thể. Tất cả là một điều duy nhất.

We need to remind ourselves of these things lest we become selfish and only do preferred things — things which our personality prefers.

Chúng ta cần nhắc nhở mình về những điều này, kẻo chúng ta trở nên ích kỷ và chỉ làm những điều mình ưa thích—những điều phàm ngã của chúng ta ưa thích.

[21] What is lacking as yet with the majority of aspirants is a synthetic consciousness and the capacity to hold and register continuity.

[21] Điều còn thiếu cho đến nay nơi đa số người chí nguyện là một tâm thức tổng hợp và năng lực duy trì cũng như ghi nhận tính liên tục.

The realization of continuity of being in all circumstances. We have to continuously train ourselves — submit to the training of the Solar Angel. We have to reinterpret all we do in terms of the Plan and the larger context, and see how whatever we may karmically be compelled to do may actually be part of the Plan itself.

Sự nhận ra tính liên tục của bản thể trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta phải liên tục rèn luyện mình—tuân phục sự huấn luyện của Thái dương Thiên Thần. Chúng ta phải diễn giải lại mọi điều mình làm theo Thiên Cơ và theo bối cảnh rộng lớn hơn, và thấy rằng bất cứ điều gì chúng ta có thể bị nghiệp quả buộc phải làm thật ra có thể là một phần của chính Thiên Cơ.

Right now, I'm supposed to be walking the cats. I've chosen instead to make this program, and told myself, “I'll walk the cats right after I finish this program.” Maybe a wiser thing would have been to walk the cats immediately, because the rain may come now. If I don't walk them, they're not as healthy. If I let them go without walking, they will escape, and there will be general grief and sadness, and they may never come back. All kinds of consequences arise from our decisions.

Ngay lúc này, lẽ ra tôi phải đi dắt mèo đi dạo. Thay vào đó, tôi đã chọn làm chương trình này, và tự nhủ: “Tôi sẽ dắt mèo đi dạo ngay sau khi hoàn tất chương trình này.” Có lẽ điều khôn ngoan hơn là dắt mèo đi dạo ngay lập tức, vì bây giờ trời có thể mưa. Nếu tôi không dắt chúng đi, chúng sẽ không khỏe mạnh bằng. Nếu tôi để chúng không được đi dạo, chúng sẽ trốn thoát, rồi sẽ có nỗi buồn và sự phiền muộn chung, và chúng có thể không bao giờ trở lại. Mọi loại hệ quả phát sinh từ các quyết định của chúng ta.

[22] If emotional or mental chaos exists, then again the currents are deflected and the brain makes no record of that which may be inwardly seen and heard.

[22] Nếu có sự hỗn loạn cảm xúc hoặc trí tuệ, thì một lần nữa các luồng bị lệch hướng và bộ não không ghi nhận được những gì có thể được thấy và nghe ở bên trong.

Conditions which are mental and emotional can prevent brain registration of that which must eventually be registered. This is all just common sense, isn't it? Maybe A Treatise on Cosmic Fire is common sense to the higher initiate, but this is common sense to us — trying to make us really fit instruments for the reception of many energies which are attempting to pass through, and which could profitably be utilized, but which are not, because of our condition.

Những tình trạng thuộc trí tuệ và cảm xúc có thể ngăn cản bộ não ghi nhận điều cuối cùng phải được ghi nhận. Tất cả điều này chỉ là lẽ thường, phải không? Có lẽ Luận về Lửa Vũ Trụ là lẽ thường đối với điểm đạo đồ cao cấp, nhưng đây là lẽ thường đối với chúng ta—cố gắng làm cho chúng ta thật sự trở thành những khí cụ thích hợp để tiếp nhận nhiều năng lượng đang cố đi xuyên qua, và có thể được sử dụng hữu ích, nhưng lại không được sử dụng vì tình trạng của chúng ta.

The difference between condition and an archetype: condition is Saturnian — it's how things are in actuality. The archetype is how things should be. There are always these energies trying to rearrange conditions into a more ideal relationship — more Uranian. That's really the relationship between Uranus and Saturn. Although Saturn is much more, Uranus can and does arrange things in ultimate archetypal relationship.

Sự khác biệt giữa tình trạng và nguyên mẫu: tình trạng mang tính Thổ Tinh—đó là sự vật đang thật sự như thế nào. Nguyên mẫu là sự vật nên như thế nào. Luôn có những năng lượng đang cố sắp xếp lại các tình trạng vào một mối liên hệ lý tưởng hơn—mang tính Thiên Vương Tinh hơn. Đó thật sự là mối quan hệ giữa Sao Thiên Vương và Thổ Tinh. Dù Thổ Tinh còn là nhiều điều hơn thế, Sao Thiên Vương có thể và thật sự sắp xếp các sự vật vào mối liên hệ nguyên mẫu tối hậu.

Whether that's on the Monadic plane or even from the point of view of a higher archetype within the Sea of Fire — there's great geometry, DK tells us, in the Sea of Fire. He describes Shamballa; the highest part of Shamballa is in the Sea of Fire, and it's not just chaos — it's something very beautiful, which sets the archetype for all other archetypes, and finally for the straightening out of conditions.

Dù điều đó ở trên cõi chân thần, hay thậm chí từ quan điểm của một nguyên mẫu cao hơn trong Biển Lửa—Chân sư DK nói với chúng ta rằng trong Biển Lửa có hình học vĩ đại. Ngài mô tả Shamballa; phần cao nhất của Shamballa ở trong Biển Lửa, và đó không chỉ là hỗn loạn—đó là một điều rất đẹp, đặt ra nguyên mẫu cho mọi nguyên mẫu khác, và cuối cùng cho việc chỉnh đốn các tình trạng.

[23] If fatigue is present and the physical body is in need of rest, then likewise the inner fails to be recorded. It is the centres in the etheric vehicle which are vitalised and become active in this work of contact and consequent transmission of energy;

[23] Nếu có sự mệt mỏi và thể xác cần được nghỉ ngơi, thì tương tự, điều bên trong cũng không được ghi nhận. Chính các trung tâm trong hiện thể dĩ thái được tiếp sinh lực và trở nên hoạt động trong công việc tiếp xúc này, cùng sự truyền dẫn năng lượng theo sau;

We're talking about the activation of the centers for the sake of a very living response to the Divine Plan. We all know those moments of fatigue when you just can't do a thing — you know what you should do, and you want to do it, but the physical body is just not responding. We have to treat our mechanism with common sense. Maybe people who have a lot of Earth signs are better at that — more realistic about that. Sometimes you have to drive the vehicle beyond its normal possibilities in emergencies. But other times, in the interest of success over the long haul, you treat it with respect to the Law of Periodicity — and just in general with respect.

Chúng ta đang nói về sự hoạt hóa các trung tâm nhằm tạo ra một đáp ứng rất sống động đối với Thiên Cơ. Tất cả chúng ta đều biết những khoảnh khắc mệt mỏi khi các bạn không thể làm được điều gì—các bạn biết mình nên làm gì, và các bạn muốn làm điều đó, nhưng thể xác chỉ không đáp ứng. Chúng ta phải đối xử với bộ máy của mình bằng lẽ thường. Có lẽ những người có nhiều dấu hiệu hành thổ làm điều đó tốt hơn—thực tế hơn về điều đó. Đôi khi trong những tình huống khẩn cấp, các bạn phải thúc đẩy hiện thể vượt quá những khả năng bình thường của nó. Nhưng vào những lúc khác, vì sự thành công lâu dài, các bạn đối xử với nó trong sự tôn trọng Định luật Chu Kỳ—và nói chung là với sự tôn trọng.

Become active in this work and consequent transmission of energy.

Trở nên hoạt động trong công việc này và sự truyền dẫn năng lượng tiếp theo.

[24] if therefore the vitality is low and the pranic fluids are not assimilated,

[24] do đó, nếu sinh lực thấp và các lưu chất prana không được hấp thu,

Because they can be present without being assimilated.

Bởi vì chúng có thể hiện diện mà không được đồng hóa.

[25] then the whole vibratory contact is lowered and the centre fails to register vibration and response.

[25] thì toàn bộ sự tiếp xúc rung động bị hạ thấp, và trung tâm không ghi nhận được rung động cùng sự đáp ứng.

DK sometimes talks about — “mayhap our vibration is a bit lower at times than it should be.” He talks about that.

Chân sư DK đôi khi nói rằng—“có lẽ rung động của chúng ta đôi lúc hơi thấp hơn mức cần thiết.” Ngài nói về điều đó.

[26] When again the stimulation is adequate and the other conditions are resolved into the necessary quietude, then again the currents may be encountered, response follows and a fresh cycle of receptivity eventuates.

[26] Khi sự kích thích lại đầy đủ và các điều kiện khác được đưa vào sự yên lặng cần thiết, thì các luồng có thể lại được tiếp nhận, sự đáp ứng theo sau, và một chu kỳ mới của tính tiếp nhận diễn ra.

We need adequate stimulation and non-interference by noisy energies — the opposite of quietude — which deflect.

Chúng ta cần sự kích thích đầy đủ và sự không can thiệp của các năng lượng ồn ào—đối nghịch với sự tĩnh lặng—vốn làm lệch hướng.

[27] I have entered thus into explanation as I have seen many questioning, and am anxious that the process followed may be somewhat clarified.

[27] Tôi đã đi vào phần giải thích như vậy vì tôi thấy nhiều người đang thắc mắc, và tôi thiết tha mong rằng tiến trình được theo có thể phần nào được làm sáng tỏ.

Even anxious, says the Master. He says, “I beg of you, do this.” He's anxious. “I fear that you may...” These are terms of speech, and we don't know really what His inner state of consciousness is, but He does use those human words, and He says — “Except for my higher powers, I'm just like you.”

Ngay cả thiết tha, Chân sư nói vậy. Ngài nói: “Tôi khẩn cầu các bạn, hãy làm điều này.” Ngài thiết tha. “Tôi e rằng các bạn có thể...” Đây là những cách nói, và chúng ta thật sự không biết trạng thái tâm thức bên trong của Ngài là gì, nhưng Ngài quả có dùng những từ ngữ nhân loại ấy, và Ngài nói—“Ngoại trừ các quyền năng cao hơn của Tôi, Tôi cũng giống như các bạn.”

I am anxious that the process followed may be somewhat clarified.

Tôi thiết tha mong rằng tiến trình được theo có thể phần nào được làm sáng tỏ.

[28] It is wise that all who work should have a clear understanding [Page 325] of that work and should—along lines so closely affecting their power to serve—be fully aware of each step taken.

[28] Điều khôn ngoan là tất cả những ai hoạt động đều nên có một sự thấu hiểu rõ ràng về công việc ấy, và—trong những đường hướng ảnh hưởng mật thiết đến năng lực phụng sự của họ—nên hoàn toàn ý thức về từng bước được thực hiện.

Clear consciousness is needed, and liberation step by step. He wants to make a Master of us. We become masters by mastering our circumstances. There are clear methods of doing so, if we would just be really present in our mind and act consciously — and not be subject to maybe the lower meaning of maya, which is sort of thoughtless action involving emotions which are out of control.

Cần có tâm thức rõ ràng, và sự giải thoát từng bước một. Ngài muốn làm cho chúng ta thành Chân sư. Chúng ta trở thành những bậc làm chủ bằng cách làm chủ hoàn cảnh của mình. Có những phương pháp rõ ràng để làm như vậy, nếu chúng ta chỉ cần thật sự hiện diện trong thể trí và hành động có ý thức—và không chịu lệ thuộc vào ý nghĩa thấp hơn của maya, tức là một loại hành động thiếu suy nghĩ có liên quan đến những cảm xúc mất kiểm soát.

If we would just not go for the exaggerations but see things truly and proportionally, we would overcome glamour. If we would just not see things in such a fragmentary manner but see them as related — and ultimately as one thing — we would overcome illusion, dispelling it.

Nếu chúng ta chỉ cần không chạy theo những phóng đại, mà thấy các sự vật đúng như thật và theo đúng tỉ lệ, chúng ta sẽ vượt qua ảo cảm. Nếu chúng ta chỉ cần không nhìn các sự vật theo cách quá rời rạc, mà thấy chúng như có liên hệ—và sau cùng như một điều duy nhất—chúng ta sẽ vượt qua ảo tưởng, làm tan biến nó.

He's giving us some advice here. And of course, it's up to us. What does he say? “You'll make use of it, or you won't.” Isn't that what he says — up here, somewhere up here?

Ở đây Ngài đang cho chúng ta một vài lời khuyên. Và dĩ nhiên, điều đó tùy thuộc vào chúng ta. Ngài nói gì? “Các bạn sẽ dùng nó, hoặc các bạn sẽ không dùng.” Chẳng phải Ngài nói vậy sao—ở trên đây, đâu đó trên đây?

Therein lies, for all aspirants at this time, the peculiar effort of the coming days. And I would, for your guidance, make certain suggestions, to be followed by you or not, as deemed wise.

Chính trong đó có, đối với mọi người chí nguyện vào lúc này, nỗ lực đặc biệt của những ngày sắp đến. Và để hướng dẫn các bạn, Tôi muốn đưa ra một số gợi ý, để các bạn làm theo hay không, tùy như xét là khôn ngoan.

This is not so much the first-ray attitude of forcing compliance, I suppose. I remember some work — maybe a book which had Master Morya's influence in it, called Leaves of Morya's Garden. I'm not sure — was it written by Nicholas Roerich? Was it written by Helena Roerich? I don't know, I didn't ask Daniel Entin when he was alive. But somebody knows. In that book, Morya was saying — or someone who was writing as if they were Morya was saying — “When I say jump, jump. When I say move, move. When I say get out of the way, get out of the way. Just obey my command.” Well, maybe the secondary attitude is a little different, as we can see. We make use of it or not, accordingly — according to our wisdom and judgment.

Tôi cho rằng đây không hẳn là thái độ cung một của việc cưỡng ép tuân phục. Tôi nhớ một tác phẩm nào đó—có lẽ một quyển sách có ảnh hưởng của Chân sư Morya trong đó, gọi là Những Chiếc Lá trong Vườn của Morya. Tôi không chắc—nó được viết bởi Nicholas Roerich chăng? Hay bởi Helena Roerich? Tôi không biết, tôi đã không hỏi Daniel Entin khi ông còn sống. Nhưng có người biết. Trong quyển sách ấy, Morya đang nói—hoặc một người nào đó viết như thể họ là Morya đang nói—“Khi Tôi bảo nhảy, hãy nhảy. Khi Tôi bảo di chuyển, hãy di chuyển. Khi Tôi bảo tránh đường, hãy tránh đường. Chỉ cần tuân lệnh Tôi.” Có lẽ thái độ thứ yếu hơi khác, như chúng ta có thể thấy. Chúng ta dùng nó hay không, tùy theo đó—tùy theo minh triết và sự phán đoán của chúng ta.

[29] As regards the problems occupying the attention of all of you who are living in this time of world unrest and upheaval, I have a word of cheer to give you.

[29] Về những vấn đề đang chiếm sự chú ý của tất cả các bạn, những người đang sống trong thời kỳ bất ổn và biến động của thế giới này, tôi có một lời khích lệ dành cho các bạn.

This is before the Second World War broke out — it was in that period between the first and second world war, and in that period, in the Agni Yoga books, there was a great deal of writing about the attacks of the Black Lodge, and the epidemic of obsession, and the drawing closer of the dark extinguishers, and all that. It all did happen. And those inner occult powers — I'm sure — were effective in conditioning human feeling and kama-manasic response in such a way that the war did precipitate.

Đây là trước khi Thế chiến thứ Hai bùng nổ—đó là trong giai đoạn giữa Thế chiến thứ Nhất và Thế chiến thứ Hai, và trong giai đoạn ấy, trong các sách Agni Yoga, có rất nhiều điều được viết về các cuộc tấn công của Hắc đoàn, về dịch ám ảnh, về sự tiến gần của những kẻ dập tắt bóng tối, và tất cả những điều đó. Tất cả đã thật sự xảy ra. Và tôi chắc rằng những quyền năng huyền bí bên trong ấy đã hữu hiệu trong việc tác động lên cảm xúc nhân loại và đáp ứng trí-cảm theo cách khiến chiến tranh ngưng tụ.