Trích nội dung chương
Hi everybody and good afternoon. This is Michael. We are working on the A Treatise on White Magic video commentaries, and we're dealing with the Rules for Magic on the Astral Plane. We are in the 36th program of those particular rules, and we're working on Rule X, in which we are doing the 20th program. We're dealing now with what is called the fallacy of repudiation. I think it's related to the great heresy of separativeness. Xin chào mọi người và chúc buổi chiều tốt lành. Tôi là Michael. Chúng ta đang thực hiện loạt video bình giảng về Luận về Chánh Thuật, và đang bàn đến các Quy Luật Huyền Thuật trên Cõi Cảm Dục. Đây là chương trình thứ…
Commentary Program-36-Astral-Plane-Rule-X-10.20
Hi everybody and good afternoon. This is Michael. We are working on the A Treatise on White Magic video commentaries, and we're dealing with the Rules for Magic on the Astral Plane. We are in the 36th program of those particular rules, and we're working on Rule X, in which we are doing the 20th program. We're dealing now with what is called the fallacy of repudiation. I think it's related to the great heresy of separativeness.
Xin chào mọi người và chúc buổi chiều tốt lành. Tôi là Michael. Chúng ta đang thực hiện loạt video bình giảng về Luận về Chánh Thuật, và đang bàn đến các Quy Luật Huyền Thuật trên Cõi Cảm Dục. Đây là chương trình thứ 36 về các quy luật này, và chúng ta đang nghiên cứu Quy Luật X trong chương trình thứ 20. Hiện giờ, chúng ta đang bàn đến điều được gọi là ngụy biện của sự phủ nhận. Tôi nghĩ nó có liên quan đến Đại Tà thuyết về tính chia rẽ.
[1] Let us therefore study the types of mental energy with which the individual has to work and see how this great heresy of separateness and the “fallacy of repudiation”, as it is sometimes called, can be offset.
[1] Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu các loại năng lượng trí tuệ mà cá nhân phải vận dụng, và xem Đại Tà thuyết về sự phân ly cùng “ngụy biện của sự bác bỏ”, như đôi khi người ta gọi, có thể được hóa giải như thế nào.
I make a little emphasis there. Fallacy of repudiation. Well, under the Law of Repulse we will temporarily repudiate certain habits and tendencies within our nature which prevent soul realization, but ultimately we can repudiate nothing because, ultimately, as Being, we are all things.
Tôi nhấn mạnh một chút ở đây: ngụy biện của sự phủ nhận. Theo Định luật Đẩy Lùi, chúng ta sẽ tạm thời phủ nhận một số thói quen và khuynh hướng trong bản chất của mình vốn ngăn cản sự chứng nghiệm linh hồn; nhưng rốt cuộc, chúng ta không thể phủ nhận bất cứ điều gì, bởi xét như Bản Thể, chúng ta là vạn vật.
[2] One of the first things we have to remember as we consider these types of energy
[2] Khi xem xét các loại năng lượng này,
Mental energy we're considering now,
Hiện giờ, chúng ta đang xem xét năng lượng trí tuệ,
[3] is that their trend and work can be grasped more easily in a larger sense in relation to humanity than can their effects in an individual use of mental energy.
[3] một trong những điều đầu tiên chúng ta phải nhớ là có thể lĩnh hội khuynh hướng và hoạt động của chúng dễ dàng hơn theo nghĩa rộng trong mối liên hệ với nhân loại, so với những hiệu quả của chúng khi một cá nhân sử dụng năng lượng trí tuệ.
Let's see if we find that to be the case.
Hãy xem điều đó có đúng như vậy không.
[4] Only a few human beings are as yet consciously using this type of force and only a few can therefore understand what it really entails. Increasingly men will come, as units, into possession of their intellectual heritage but, numerically speaking, scarce one in ten thousand is utilising this inherent power and knowingly functioning in his mental body.
[4] Cho đến nay, chỉ một số ít người đang sử dụng loại mãnh lực này một cách có ý thức, và vì vậy chỉ một số ít người có thể thấu hiểu những gì nó thực sự bao hàm. Ngày càng có nhiều người, với tư cách là những đơn vị, sẽ sở hữu di sản trí tuệ của mình; nhưng xét về số lượng, chưa đến một người trong mười nghìn đang vận dụng quyền năng nội tại này và hoạt động một cách hữu thức trong thể trí của mình.
That's a very low percentage. Of course, as I say, this was written, well, not quite 100 years ago, but that is a low percentage. The great majority, we find, is functioning in that state of mind-feeling, a feeling mind we call kama-manas.
Đó là một tỉ lệ rất thấp. Dĩ nhiên, như tôi đã nói, điều này được viết cách đây chưa đầy 100 năm, nhưng đó vẫn là một tỉ lệ thấp. Chúng ta nhận thấy đại đa số đang hoạt động trong trạng thái trí-cảm ấy, tức một thể trí cảm xúc mà chúng ta gọi là kama-manas.
So what are we looking at here? The types of mental energy with which the individual has to work. So let's remind ourselves of this by enlarging it a bit and putting it in a different color.
Vậy chúng ta đang xem xét điều gì ở đây? Những loại năng lượng trí tuệ mà cá nhân phải vận dụng. Chúng ta hãy tự nhắc lại điều này bằng cách phóng lớn nó lên một chút và đặt nó trong một màu khác.
The types of mental energy with which an individual has to work, and then the study of the fallacy of repudiation. And I think we are certainly, in all manners of racial and religious and ideological prejudice, suffering from the fallacy of repudiation.
Những loại năng lượng trí tuệ mà một cá nhân phải vận dụng, rồi đến việc nghiên cứu ngụy biện của sự phủ nhận. Và tôi nghĩ rằng trong mọi hình thức thành kiến về chủng tộc, tôn giáo và hệ tư tưởng, chắc chắn chúng ta đang chịu tác động của ngụy biện này.
[5] When however we look at humanity as a whole and cast our eyes back over the past racial development, we can see how mental energy has had a most definite effect and has produced outstanding results.
[5] Tuy nhiên, khi nhìn vào toàn thể nhân loại và nhìn lại sự phát triển của nhân loại trong quá khứ, chúng ta có thể thấy năng lượng trí tuệ đã tạo ra một ảnh hưởng hết sức rõ rệt và đem lại những kết quả nổi bật như thế nào.
Here, I think, it's a question of studying perhaps the history of ideas coming in with various civilizations and the various ages and the subcategories of those ages, and how ideas have conditioned cultures and civilizations.
Ở đây, tôi nghĩ có lẽ vấn đề là nghiên cứu lịch sử của các ý tưởng xuất hiện cùng nhiều nền văn minh và nhiều thời đại khác nhau, cũng như các phân kỳ của những thời đại ấy, và xem các ý tưởng đã định hình những nền văn hóa và văn minh như thế nào.
[6] The use of two factors differentiates man from the animal, whether he uses them consciously or unconsciously. Both are latent in the animal but man is the only entity in the three worlds who can consciously reap benefit from them.
[6] Việc sử dụng hai yếu tố phân biệt con người với loài vật, dù y sử dụng chúng một cách có ý thức hay vô thức. Cả hai đều tiềm ẩn trong loài vật, nhưng con người là thực thể duy nhất trong ba cõi giới có thể chủ động thu lợi từ chúng.
Now, there are other worlds, and there are worlds of superhuman evolution. So, as usual, a little problem there. In the worlds of superhuman evolution, many beings can consciously reap the benefit of mental activity and higher activities.
Có những cõi giới khác và những cõi giới của tiến hoá siêu nhân loại. Vì vậy, như thường lệ, ở đây có một vấn đề nhỏ. Trong các cõi giới của tiến hoá siêu nhân loại, nhiều Sinh Mệnh có thể hữu thức thu lợi ích từ hoạt động trí tuệ và các hoạt động cao hơn.
[7] One of these factors is pain, and the other is the faculty of discrimination.
[7] Một trong hai yếu tố này là đau đớn, và yếu tố kia là năng lực phân biện.
This is very interesting, because both of them can be related to the fourth ray—and maybe, well, to the fourth ray for sure—and, in the case of discrimination, to the fourth subplane of the mental plane. So these two factors are related to the fourth ray and to the fourth subplane of the mental plane, whereon we find that particular power that we call discrimination. It's the plane bordering on the plane of higher mind.
Điều này rất thú vị, bởi cả hai đều có thể liên hệ với cung bốn, và chắc chắn là với cung bốn; còn trong trường hợp phân biện, nó liên hệ với cõi phụ thứ tư của cõi trí. Vì vậy, hai yếu tố này liên quan đến cung bốn và cõi phụ thứ tư của cõi trí, nơi chúng ta tìm thấy quyền năng đặc thù được gọi là sự phân biện. Đó là cõi phụ giáp với cõi thượng trí.
[8] Through the means of pain and a subsequent process of analysis, of relation plus memory and visualisation, man has learnt what to avoid and what to cultivate.
[8] Nhờ đau đớn cùng tiến trình phân tích tiếp theo, sự liên hệ cộng với ký ức và sự hình dung, con người đã học được điều gì cần tránh và điều gì cần vun bồi.
We might almost call this the guiding power of pain. Well, what to avoid: when we, as a child, touch something hot, touch the hot stove, burn our tongue or something on hot liquid, we learn to avoid that kind of relation, that kind of contact. We remember it, and we also see other factors which are related to it, and maybe don't have to go through the same experience but can generalize from the earlier experience.
Chúng ta hầu như có thể gọi đây là quyền năng dẫn dắt của đau đớn. Về điều cần tránh: khi còn nhỏ, chúng ta chạm vào một vật nóng, chạm vào bếp lò nóng, làm bỏng lưỡi vì chất lỏng nóng hoặc điều gì tương tự, chúng ta học cách tránh loại quan hệ hay tiếp xúc ấy. Chúng ta ghi nhớ nó, đồng thời nhận thấy những yếu tố khác có liên quan; và có lẽ không cần trải qua cùng một kinh nghiệm, chúng ta vẫn có thể khái quát hóa từ kinh nghiệm trước đó.
[9] This works in the realm of physical plane happenings and of sensory experience.
[9] Điều này diễn ra trong lĩnh vực các sự kiện trên cõi hồng trần và kinh nghiệm giác quan.
There are also other and more subtle kinds of pain, and similarly, we learn to avoid and cultivate less painful approaches.
Cũng có những loại đau đớn khác tinh tế hơn, và tương tự như vậy, chúng ta học cách tránh đau đớn và vun bồi những phương thức ít đau đớn hơn.
[10] Through discrimination as to ideas and as to thought currents, man has learnt to decide upon what to base his activities in all departments [Page 358] of human affairs, even though he has but an imperfect grasp as to the true nature of ideas and his application of the truths sensed is quite imperfect.
[10] Nhờ phân biện các ý tưởng và các dòng tư tưởng, con người đã học cách quyết định đâu là nền tảng cho các hoạt động của mình trong mọi lĩnh vực [Page 358] của những công việc nhân loại, mặc dù y chỉ hiểu chưa đầy đủ về bản chất thực sự của các ý tưởng và áp dụng những chân lý mà mình cảm nhận được một cách khá bất toàn.
But we generalize: what is good or bad, what is worth pursuing and what is not. So this discrimination, again, is another way of guiding our progress on the path of life. Choice is involved, and Libra, and Mercury, and of course Saturn, the planet of choice.
Nhưng chúng ta khái quát hóa: điều gì tốt hay xấu, điều gì đáng theo đuổi và điều gì không đáng. Vì vậy, một lần nữa, sự phân biện này là một cách khác để dẫn dắt bước tiến của chúng ta trên đường đời. Ở đây có sự lựa chọn, Thiên Bình, Sao Thủy và dĩ nhiên Sao Thổ, hành tinh của sự lựa chọn.
So we have here discrimination, and we have here pain. This seems a particular way of learning on our planet, of purifying pain and releasing sorrow—of releasing sorrow and purifying pain. But he tells us in Esoteric Psychology I that the fourth ray can lead to very rapid progress or, equally, to a man becoming a ne'er-do-well. Whatever he touches, he doesn't do well.
Vậy ở đây, chúng ta có sự phân biện và đau đớn. Đây dường như là một phương pháp học tập đặc thù trên hành tinh của chúng ta: thanh luyện đau đớn và giải thoát nỗi buồn, tức giải thoát nỗi buồn và thanh luyện đau đớn. Nhưng trong quyển I của Tâm Lý Học Nội Môn, Ngài cho chúng ta biết rằng cung bốn có thể dẫn đến sự tiến bộ rất nhanh, hoặc cũng có thể khiến một người trở thành kẻ vô tích sự. Bất cứ điều gì y chạm đến, y đều không làm tốt.