Tóm lược chương
Quy luật X được áp dụng đồng thời vào việc linh hồn xây dựng và sử dụng phàm ngã, và việc đệ tử tổ chức hình thức phụng sự cho Thánh đoàn. Từ “linh hồn” cần được hiểu theo ngữ cảnh: linh hồn nhập thể, linh hồn trên cõi riêng, Thiên Thần của Hiện Diện hay Thái dương Thiên Thần không hoàn toàn đồng nhất. Sự tương tự giữa linh hồn với cá nhân và Thánh đoàn với nhân loại cho thấy cả hai đều sáng tạo theo định luật và nhận kích thích từ những trung tâm cao hơn. Các mãnh lực hồng trần gồm phẩm tính phát xạ của tế bào, sức hút giữa các cơ thể và sự đáp ứng với những nhịp điệu hài hòa của môi trường. Phản ứng dễ chịu hay bất hòa khi ở gần một người…
- Hai trường áp dụng Quy luật X
- Ba loại phát xạ của tế bào
- Chọn thành viên và phẩm tính của nhóm phụng sự
Astral Rule 19
Tóm Tắt
§ Hai trường áp dụng Quy luật X
Quy luật X được áp dụng đồng thời vào việc linh hồn xây dựng và sử dụng phàm ngã, và việc đệ tử tổ chức hình thức phụng sự cho Thánh đoàn. Từ “linh hồn” cần được hiểu theo ngữ cảnh: linh hồn nhập thể, linh hồn trên cõi riêng, Thiên Thần của Hiện Diện hay Thái dương Thiên Thần không hoàn toàn đồng nhất. Sự tương tự giữa linh hồn với cá nhân và Thánh đoàn với nhân loại cho thấy cả hai đều sáng tạo theo định luật và nhận kích thích từ những trung tâm cao hơn.
§ Ba loại phát xạ của tế bào
Các mãnh lực hồng trần gồm phẩm tính phát xạ của tế bào, sức hút giữa các cơ thể và sự đáp ứng với những nhịp điệu hài hòa của môi trường. Phản ứng dễ chịu hay bất hòa khi ở gần một người không nhất thiết đồng nghĩa với hấp dẫn tính dục; mức tinh luyện và sự tương hợp của các sự sống cấu thành cũng được xét đến. Giả thuyết về tần số chính xác đứng sau các phản ứng ấy được nêu như một hướng hiểu biết tương lai.
§ Chọn thành viên và phẩm tính của nhóm phụng sự
Người xây dựng nhóm cần hỏi các thành viên mang phẩm tính rung động nào, nhóm sẽ phát sức hút gì và có thể hòa hợp với những nhóm khác ra sao. Việc ghép người chỉ theo ý tưởng chung mà bỏ qua tính tương hợp có thể làm giảm khả năng phụng sự. Khi diễn giải sự phân loại các kiểu hình tướng trong giáo lý, Thầy MDR đặt nó trong tiến trình biến phân để phát triển phẩm tính rồi tiến đến tương tác thống nhất, không xem sự phân cách là mục đích cuối cùng.
§ Phát xạ và các tầng chất liệu
Sự phát xạ gợi câu hỏi một sự sống có thể phóng chiếu ảnh hưởng mà vẫn giữ tồn tại ở nguồn như thế nào, minh họa bằng một ngọn nến thắp những ngọn khác. Thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí đều được xem là chất liệu của phương diện hình tướng; “dĩ thái của không gian” vì vậy không chỉ giới hạn ở phần tinh hơn của cõi hồng trần. Mỗi tầng có thể làm nền cho tầng thô hơn trong một chuỗi quan hệ chất liệu.
§ Máu hệ thần kinh và các luân xa
Dòng máu phối hợp và tiếp sinh lực cho đời sống tế bào, được so với nhựa cây; hệ thần kinh giao cảm được liên hệ với đời sống cảm giác và tùng thái dương, còn hệ não tủy với chất liệu trí và ajna. Những tương ứng với tim, tuyến ức, tụy và tuyến yên được dùng để nối chức năng hữu hình với nguyên nhân bên trong. Đây là sự khảo sát giáo lý về cơ cấu con người, đòi hỏi học kỹ các quan hệ thay vì chỉ ghi nhớ tên tuyến và trung tâm.
§ Tám phương diện biểu hiện và ba chức năng của trung tâm
Bảng tương ứng đi từ đời sống tế bào, cảm giác, trí và sinh lực đến ngã thức, tự biểu lộ, duy trì giống loài và tự khẳng định. Sinh lực là một mục bao quát nên tám mục không đơn giản có nghĩa tám trung tâm tương đương; trung tâm đáy cột sống có hoạt động duy trì ban đầu và sự khai mở ý chí muộn hơn. Các luân xa tiếp sinh lực cho thể xác, phát triển ngã thức rồi truyền năng lượng tinh thần; ba giai đoạn ấy được gợi liên hệ với những lớp cấu trúc khác nhau của trung tâm.
§ Phối hợp bộ máy để truyền năng lượng cao hơn
Khi các hệ thần kinh, nội tiết và trung tâm hoạt động hài hòa, con người có thể truyền năng lượng tinh thần thay vì chỉ năng lượng cảm giác hay tâm thức. Vai trò của giới nhân loại đối với các giới thấp đòi hỏi làm chủ và tinh luyện bộ máy này. Các bảng trình bày con người như được dự định trở thành, nên cần phân biệt mô hình hoàn chỉnh với tình trạng còn phân tán của người đang tiến hóa.
Text 19 – Bài 19
[1] There are two connections in which this Rule Ten can be studied and thereby results of practical value can be achieved. [2] We can study it from the standpoint of the work which the soul does in relation to its instrument, the human being, and we can also study it from the standpoint of organisation work and of that form-building which the disciple does in relation to his service for the Hierarchy.
[1] Có thể nghiên cứu Quy luật Mười này trong hai mối liên hệ và qua đó đạt được những kết quả có giá trị thực tiễn. [2] Chúng ta có thể nghiên cứu quy luật này từ góc độ công việc mà linh hồn thực hiện đối với công cụ của mình là con người, và cũng có thể nghiên cứu từ góc độ công việc tổ chức cùng việc kiến tạo hình tướng mà người đệ tử thực hiện trong công cuộc phụng sự Thánh đoàn.
[3] Back of the outer form of a human being, responsible for its creation, its maintenance and its use, lies, we know, the soul. [4] Back of all activity for the furthering of human evolution as well as of other evolutionary processes stands the Hierarchy. [5] Both represent centres of energy; both work under Law creatively; both proceed from subjective activity to objective manifestation and both are responsive (in the great sequence of graded lives) to vitalisation and stimulation from higher centres of energy. [6] Some of the factors that the disciple has to learn to recognize as his particular series of lives unfolds falls into two main groups, each of them bringing his form aspect under seven types of energy, or influences.
[3] Như chúng ta biết, đằng sau hình tướng bên ngoài của một con người là linh hồn, chịu trách nhiệm tạo dựng, duy trì và sử dụng hình tướng ấy. [4] Đằng sau mọi hoạt động thúc đẩy sự tiến hoá của nhân loại cũng như các tiến trình tiến hoá khác là Thánh đoàn. [5] Cả hai đều là những trung tâm năng lượng; cả hai đều hoạt động sáng tạo theo Định luật; cả hai đều đi từ hoạt động chủ quan đến biểu hiện khách quan, và cả hai đều đáp ứng với sự tiếp sinh lực và kích thích từ những trung tâm năng lượng cao hơn trong chuỗi sự sống vĩ đại được phân cấp. [6] Một số yếu tố mà người đệ tử phải học cách nhận biết khi chuỗi kiếp sống riêng của mình khai mở thuộc về hai nhóm chính, mỗi nhóm đặt phương diện hình tướng của y dưới tác động của bảy loại năng lượng hay ảnh hưởng.
[7] There is first the group of forces which concerns purely the form side, [8] that are the work of the outer Builders, and which are the predominant factors right up to the stage of the Probationary Path. [9] These are the forces inherent in matter itself; they deal with the body nature and might be listed as follows:
[7] Trước hết là nhóm mãnh lực chỉ liên quan đến phương diện hình tướng, [8] vốn là công trình của các Đấng Kiến Tạo bên ngoài và là những yếu tố chi phối cho đến tận giai đoạn Con Đường Dự Bị. [9] Đây là những mãnh lực vốn có trong chính vật chất; chúng liên quan đến bản chất thân thể và có thể được liệt kê như sau:
[10] 1. Physical forces. These are due to the life of the cells which constitute the body. This cell life is responsive to the cell life of the environment. Never let it be forgotten that the occultist always sees the correlation between the factors in himself and the corresponding factors in his surroundings. [11] We live in a world of forms. [12] These forms are made up of lives and these lives have their own emanatory and contributory influence. They fall in their turn into three main groups:
[10] 1. Các mãnh lực hồng trần. Chúng bắt nguồn từ sự sống của các tế bào cấu thành thân thể. Sự sống tế bào này đáp ứng với sự sống tế bào của môi trường. Đừng bao giờ quên rằng nhà huyền bí học luôn thấy mối tương quan giữa các yếu tố trong chính mình với những yếu tố tương ứng trong môi trường xung quanh. [11] Chúng ta sống trong một thế giới hình tướng. [12] Những hình tướng này được cấu thành từ các sự sống, và các sự sống ấy có ảnh hưởng phát xạ và đóng góp riêng. Đến lượt chúng, các ảnh hưởng ấy chia thành ba nhóm chính:
[13] a. Those emanations, which issuing from the cells themselves and dependent upon their quality, produce a good or a bad effect, are coarsening or refining in their influence, and raise or lower the physical vibration of the united cell body. [14] Thus, as we well know, the physical effect of a coarse brutal animal natured man will be different to that of the refined beautifying results of contact with an older soul, functioning in a body, cultured, clean, disciplined and purified.
[13] a. Những phát xạ xuất phát từ chính các tế bào và tuỳ thuộc vào phẩm tính của chúng, tạo ra tác động tốt hoặc xấu, có ảnh hưởng làm thô trược hoặc tinh luyện, đồng thời nâng cao hoặc hạ thấp rung động hồng trần của toàn bộ thân thể do các tế bào hợp thành. [14] Vì vậy, như chúng ta biết rõ, tác động hồng trần của một người thô lỗ, tàn bạo, mang bản chất thú tính sẽ khác với những kết quả tinh luyện, làm tăng vẻ đẹp do tiếp xúc với một linh hồn từng trải hơn, đang hoạt động trong một thân thể có văn hoá, sạch sẽ, có kỷ luật và đã được thanh luyện.
[15] b. Those emanations, of a purely physical kind which are responsible for that chemical affinity between one animal body and another which produces the coming together of the sexes. [16] It is an aspect of animal magnetism and is the response of the cells to the call of other cells, acting under the Law of Attraction and Repulsion. [17] It is shared by man with the animals, and is instinctive and free from all mental reactions.
[15] b. Những phát xạ thuần tuý hồng trần tạo nên ái lực hoá học giữa thân thể động vật này với thân thể động vật khác, dẫn đến sự kết hợp giữa hai giới tính. [16] Đây là một phương diện của từ điện động vật và là sự đáp ứng của các tế bào trước tiếng gọi của những tế bào khác, hoạt động theo Định luật Hút và Đẩy. [17] Con người có chung đặc tính này với các loài động vật; nó mang tính bản năng và không có bất kỳ phản ứng trí tuệ nào.
[18] c. Those forces or emanations, which are the response of the cells to harmonious rhythms and therefore dependent upon the cell having in itself something of that to which it responds. [19] These emanations are little understood as yet, but will increasingly come to the fore as the race progresses. This type of force is that mysterious something which enables the physical body to recognise as harmonious or congenial a physical surrounding or environment, for instance. [20] It is that undefinable reaction which results in two human beings (apart from all sex attraction, for people of the same sex experience it with each other) having a harmonious effect physically upon each other. [21] This is, on the outer plane, the esoteric basis for all group relation, and it is the understanding of these emanations that enables the isolation and segregation of races to be carried forward under the great evolutionary plan.
[18] c. Những mãnh lực hay phát xạ biểu thị sự đáp ứng của các tế bào với những nhịp điệu hài hoà, và do đó tuỳ thuộc vào việc tế bào có sẵn trong mình một phần của điều mà nó đáp ứng. [19] Hiện nay người ta còn hiểu rất ít về những phát xạ này, nhưng chúng sẽ ngày càng nổi bật khi nhân loại tiến bộ. Loại mãnh lực này là một điều gì đó huyền nhiệm, chẳng hạn cho phép thể xác nhận biết một khung cảnh hay môi trường hồng trần là hài hoà hoặc tương hợp. [20] Đó là phản ứng không thể định nghĩa khiến hai con người có tác động hài hoà lên nhau về mặt thể xác, hoàn toàn không liên quan đến sự hấp dẫn giới tính, vì những người cùng giới cũng trải nghiệm điều này với nhau. [21] Trên cõi bên ngoài, đây là cơ sở huyền bí của mọi mối quan hệ nhóm, và chính sự thấu hiểu những phát xạ này cho phép tiến hành việc cách ly và phân tách các giống dân theo kế hoạch tiến hoá vĩ đại.
[22] These three might be described as the quality of the cell forces operating entirely on the physical plane which produce a peculiar type of physical body, the magnetic attraction between two physical bodies, and the racial types. [23] These three factors guide the Manu of the race as He builds a new race and impresses the outer Builders with His ideas. [24] They also guide a Master of the Wisdom as He builds His physical body at will for the carrying forward of His work in any time or place. [25] These emanations should, in measure, be understood somewhat by all those engaged in forming organisations and groups for active service in the world. [26] What, should the disciple ask himself, should be the vibratory quality of the cells of that body, of the individuals who compose it? What should be the quality of its attractive force, and of the magnetic effect it is to have in the world? [27] What does the group possess through the medium of its corporate units which will put it en rapport with other groups and so make it harmonious in its relations with them? [28] These questions warrant careful attention and should be considered by all group builders.
[22] Có thể mô tả ba yếu tố này là phẩm tính của các mãnh lực tế bào hoạt động hoàn toàn trên cõi hồng trần để tạo ra một loại thể xác đặc thù, sức hút từ tính giữa hai thể xác, và các loại hình giống dân. [23] Ba yếu tố này hướng dẫn Đức Manu của giống dân khi Ngài xây dựng một giống dân mới và truyền các ý tưởng của Ngài đến các Đấng Kiến Tạo bên ngoài. [24] Chúng cũng hướng dẫn một Chân sư Minh Triết khi Ngài tuỳ ý kiến tạo thể xác của mình để tiến hành công việc vào bất kỳ thời gian hay địa điểm nào. [25] Tất cả những ai tham gia thành lập các tổ chức và các nhóm để tích cực phụng sự thế gian đều cần thấu hiểu phần nào những phát xạ này. [26] Người đệ tử nên tự hỏi: Phẩm tính rung động của các tế bào trong tập thể ấy, của những cá nhân cấu thành tập thể ấy, cần phải như thế nào? Phẩm tính của mãnh lực thu hút và của tác động từ tính mà tập thể ấy sẽ tạo ra trên thế gian cần phải như thế nào? [27] Thông qua các đơn vị thành viên, nhóm có được điều gì giúp nhóm hoà điệu với những nhóm khác và nhờ đó có những mối quan hệ hài hoà với họ? [28] Những câu hỏi này đáng được chú tâm cẩn thận và tất cả những người xây dựng nhóm đều nên suy xét.
[29] 2. Vital forces. [30] These are often regarded by the materialists as intangible and therefore not material at all. [31] But the occultist regards the etheric medium as a form or aspect of matter and as relatively tangible as the outer objective form. [32] To him the ether of space, which term necessarily includes the etheric form of all bodies, the astral or emotional sentient body and the mental body, constituted of mind-stuff, are all of them material and are the substance of the form side of life. [33] As the basis of correct understanding, it should be noted that the cell life to which we have above referred is coordinated, influenced and vitalised by the blood stream, that intricate system which interpenetrates every part of the body, is responsible for its welfare and demonstrates in a manner not yet truly comprehended the fact that the “blood is the life”. [34] The blood is an aspect of energy, as is the sap in the vegetable kingdom.
[29] 2. Các mãnh lực sinh lực. [30] Những người duy vật thường xem chúng là vô hình, không thể sờ chạm, và vì thế hoàn toàn không phải vật chất. [31] Nhưng nhà huyền bí học xem môi trường dĩ thái là một hình thức hay phương diện của vật chất, và tương đối hữu hình như hình tướng khách quan bên ngoài. [32] Đối với nhà huyền bí học, dĩ thái của không gian — thuật ngữ này tất yếu bao gồm hình tướng dĩ thái của mọi thân thể — cùng thể cảm dục hay thể cảm xúc có khả năng cảm nhận và thể trí cấu thành từ chất liệu trí tuệ, tất cả đều mang tính vật chất và là chất liệu của phương diện hình tướng của sự sống. [33] Để làm nền tảng cho sự thấu hiểu đúng đắn, cần lưu ý rằng dòng máu điều phối, tác động và tiếp sinh lực cho sự sống tế bào mà chúng ta đã đề cập ở trên; hệ thống phức tạp này thâm nhập mọi bộ phận của thân thể, chịu trách nhiệm về sự an lành của thân thể và chứng tỏ, theo một cách chưa thực sự được thấu hiểu, sự thật rằng “máu là sự sống”. [34] Máu là một phương diện của năng lượng, cũng như nhựa cây trong giới thực vật.
[35] The sympathetic nervous system, that marvellous apparatus of sensation, is closely related to the emotional or astral body. The contact is made via the solar plexus, just as the vitality, governing the quality of the blood stream, makes its contact via the heart. [36] In the heart is the centre of physical plane existence. [37] The cerebrospinal system works in close relation to the chitta or mind stuff. Therefore we have the following to consider:
[35] Hệ thần kinh giao cảm, bộ máy cảm giác kỳ diệu ấy, liên hệ mật thiết với thể cảm xúc hay thể cảm dục. Sự tiếp xúc diễn ra qua tùng thái dương, cũng như sinh lực chi phối phẩm tính của dòng máu tạo sự tiếp xúc qua tim. [36] Trong tim có trung tâm của sự tồn tại trên cõi hồng trần. [37] Hệ não tuỷ hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ với chất liệu trí tuệ. Vì vậy, chúng ta có những điều sau đây để xem xét:
1. Sự sống tế bào
Dòng máu
Trung tâm tim
Tuyến ức
Cell life
Blood stream
Heart centre
Thymus gland
2. Sự sống cảm giác
Hệ thần kinh giao cảm
Trung tâm tùng thái dương
Tuyến tụy
Sensory life
Sympathetic nervous system
Solar plexus centre
Pancreas
3. Sự sống trí tuệ
Hệ thần kinh não-tủy
Trung tâm ajna
Tuyến yên
Mental life
Cerebro-spinal system
Ajna centre
Pituitary body
4. Sự sống sinh lực
Bảy trung tâm
Lá lách
Vital life
Seven centres
Spleen
[38] This, as you see, governs the manifestations of the quaternary, but there are other aspects of humanity which manifest through the objective form and which complete the entire man and make the seven of his manifold objective existence.
[38] Như các bạn thấy, điều này chi phối những biểu hiện của bộ tứ, nhưng còn có những phương diện khác của con người biểu hiện qua hình tướng khách quan, hoàn thiện con người toàn diện và tạo thành bảy phương diện trong sự tồn tại khách quan đa dạng của y.
5. Tự ý thức
Não trên
Trung tâm đầu
Tuyến tùng
Self-conscious
upper brain
Head centre
Pineal gland
6. Tự biểu hiện
Não dưới
Trung tâm cổ họng
Tuyến giáp
Self-expression
lower brain
Throat centre
Thyroid
7. Tự duy trì nòi giống
Cơ quan sinh dục
Trung tâm xương cùng
Cơ quan sinh sản
Self-perpetuation
sex organs
Sacral centre
Reproductive organs
8. Tự khẳng định
Toàn bộ con người
Trung tâm ở đáy cột sống
Tuyến thượng thận
Self-assertion
entire man
Centre at base of spine
Adrenals
[39] You will notice that eight factors are here enumerated, and it is here that many of the schools go astray. The heading ‘vital life’ is a comprehensive one, but it must be remembered that it relates entirely to the physical vitalisation of man through the lowest aspect of the centres. [40] This vital life of the universe of matter enters into the human organism through the spleen.
[39] Các bạn sẽ nhận thấy ở đây có tám yếu tố được liệt kê, và chính tại điểm này nhiều trường phái đã đi sai đường. Đề mục ‘sự sống sinh lực’ có ý nghĩa bao quát, nhưng cần nhớ rằng nó hoàn toàn liên quan đến việc tiếp sinh lực hồng trần cho con người qua phương diện thấp nhất của các trung tâm. [40] Sự sống sinh lực này của vũ trụ vật chất đi vào cơ thể con người qua lá lách.
[41] The centres have three main functions: —
[41] Các trung tâm có ba chức năng chính: —
First, to vitalise the physical body.
Thứ nhất, tiếp sinh lực cho thể xác.
Second, to bring about the development of self-consciousness in man.
Thứ hai, làm phát triển ngã thức trong con người.
Third, to transmit spiritual energy and sweep the entire man into a state of spiritual being.
Thứ ba, truyền năng lượng tinh thần và đưa toàn bộ con người vào một trạng thái hiện tồn tinh thần.
[42] The vitality aspect is shared by man with the animals and with all created forms, [43] and his capacity to move freely in a three dimensional world is the outstanding achievement of that aspect. [44] The self-consciousness aspect is the prerogative of the human family. When man has evolved, when all parts of his nervous system, his endocrine system, and his centres are coordinated and working in harmonious rhythm then the highest aspect (the spiritual) makes its presence felt. [45] The spiritual energy and not just the consciousness or sentient energy pours through Man, the instrument of divine Life, and the custodian of forces, to be held and used for the other and lower kingdoms in nature.
[42] Con người có chung phương diện sinh lực với các loài động vật và mọi hình tướng được tạo dựng, [43] và khả năng di chuyển tự do trong một thế giới ba chiều là thành tựu nổi bật của phương diện ấy. [44] Phương diện ngã thức là đặc quyền của gia đình nhân loại. Khi con người đã tiến hoá, khi mọi bộ phận của hệ thần kinh, hệ nội tiết và các trung tâm đều được điều phối và hoạt động trong nhịp điệu hài hoà, thì phương diện cao nhất — phương diện tinh thần — mới khiến con người cảm nhận được sự hiện diện của nó. [45] Năng lượng tinh thần, chứ không chỉ năng lượng tâm thức hay cảm nhận, tuôn đổ qua Con Người, công cụ của Sự sống thiêng liêng và là người gìn giữ các mãnh lực, để lưu giữ và sử dụng chúng cho những giới khác thấp hơn trong thiên nhiên.
Commentary 19 - Rule X - 10.3 – Bình giảng 19 - Quy luật X - 10.3
Good afternoon, everyone. I'm recording here from the Temple of Silence in Louma, Finland, near Helsinki. It's been a few days since I've been able to do these recordings, but I persist as best I can, and we are in that long and very voluminous Rule, Rule 10, in A Treatise on White Magic. We're on page 281, and we're beginning a new section, which relates to the centres, the energies, and the rays. All of this requires very careful and repeated study if we really want to know what we're doing and what we're supposed to absorb.
Chào buổi chiều, tất cả các bạn. Tôi đang ghi âm tại Đền Im Lặng ở Louma, Phần Lan, gần Helsinki. Đã vài ngày tôi không thể thực hiện những bản ghi âm này, nhưng tôi vẫn kiên trì hết sức có thể. Chúng ta đang nghiên cứu quy luật dài và rất phong phú ấy, Quy luật 10, trong Luận về Chánh Thuật. Chúng ta đang ở trang 281 và bắt đầu một phần mới liên quan đến các trung tâm, các năng lượng và các cung. Tất cả những điều này đòi hỏi sự nghiên cứu hết sức cẩn thận và lặp đi lặp lại, nếu chúng ta thực sự muốn biết mình đang làm gì và cần tiếp thu điều gì.
The day will come when the magical formulas will be given to us, and as DK says, if we do our study properly, we'll be in a good position at that time to benefit from the more practical occult knowledge which he will impart. So let us begin our work.
Sẽ đến ngày các công thức huyền thuật được trao cho chúng ta. Như Chân sư DK nói, nếu nghiên cứu đúng cách, khi ấy chúng ta sẽ có nền tảng thuận lợi để hưởng lợi từ kiến thức huyền bí thực hành hơn mà Ngài sẽ truyền đạt. Vậy chúng ta hãy bắt đầu công việc.
Basically, you know what we're doing, obviously — this is a study group. We are reading through the book, and all these books, as many as I can work with, line by line, word by word, with the hope of having the material which Master DK has given really sink into our understanding. It is not easy material. Many people prefer more personal material that seems to speak to them in a personal way, but the teaching of Master DK has been sanctioned by the Hierarchy, by his Master, Kuthumi, by the Christ, even by Sanat Kumara. It's been, so to speak, released to be given, within reason, of course, guarding the secrets that must be guarded. And we would be foolish, would we not, if we did not take advantage of this tremendous bestowal upon the consciousness of humanity?
Về cơ bản, các bạn biết rõ chúng ta đang làm gì — đây là một nhóm nghiên cứu. Chúng ta đọc xuyên suốt cuốn sách này, cùng tất cả những cuốn sách khác mà tôi có thể nghiên cứu, từng dòng, từng chữ, với hy vọng những tài liệu Chân sư DK đã trao thực sự thấm sâu vào sự thấu hiểu của chúng ta. Đây không phải là tài liệu dễ hiểu. Nhiều người thích tài liệu mang tính cá nhân hơn, dường như nói trực tiếp với họ theo cách riêng tư. Nhưng giáo huấn của Chân sư DK đã được Thánh đoàn, Chân sư của Ngài là Kuthumi, Đức Christ và cả Sanat Kumara chấp thuận. Có thể nói, giáo huấn ấy đã được cho phép công bố, tất nhiên trong giới hạn hợp lý, đồng thời bảo vệ những bí mật cần được bảo vệ. Chẳng phải chúng ta sẽ thật thiếu sáng suốt nếu không tận dụng món quà vô cùng lớn lao này dành cho tâm thức nhân loại sao?
[1] There are two connections in which Rule Ten can be studied and thereby results of practical value can be achieved.
[1] Có thể nghiên cứu Quy luật Mười này trong hai mối liên hệ và qua đó đạt được những kết quả có giá trị thực tiễn.
Let us never forget that this, compared to A Treatise on Cosmic Fire, is, in a way, a very practical book. It has a lot of seventh ray in it, and it's all about, ultimately, the control of the astral body — and who among us does not need to control that vehicle and fill it with the energy of love?
Chúng ta đừng bao giờ quên rằng, so với Luận về Lửa Vũ Trụ, theo một nghĩa nào đó, đây là một cuốn sách rất thực tiễn. Nó mang nhiều tính chất cung bảy, và xét cho cùng, toàn bộ cuốn sách nói về việc kiểm soát thể cảm dục — ai trong chúng ta lại không cần kiểm soát hiện thể ấy và làm cho nó tràn đầy năng lượng tình thương?
[2] We can study it from the standpoint of the work which the soul does in relation to its instrument, the human being, and we can also study it from the standpoint of organisation work, and of that form-building which the disciple does in relation to his service for the Hierarchy.
[2] Chúng ta có thể nghiên cứu quy luật này từ góc độ công việc mà linh hồn thực hiện đối với công cụ của mình là con người, và cũng có thể nghiên cứu từ góc độ công việc tổ chức cùng việc kiến tạo hình tướng mà người đệ tử thực hiện trong công cuộc phụng sự Thánh đoàn.
So, certainly, we have to deal with the issue of how these rules, this knowledge, will affect our instrument, the personality — considering us to be both the soul in incarnation and even the soul on its own plane, in a certain respect. And then, of course, there's the work in the world by means of which we serve the Creative Hierarchy.
Vì vậy, chắc chắn chúng ta phải bàn đến việc những quy luật này, kiến thức này, sẽ ảnh hưởng ra sao đến công cụ của chúng ta là phàm ngã — khi xem chúng ta vừa là linh hồn đang lâm phàm, vừa là linh hồn trên cõi riêng của nó, theo một phương diện nào đó. Và tất nhiên, còn có công việc trong thế gian, qua đó chúng ta phụng sự Huyền Giai Sáng Tạo.
[3] Back of the outer form of a human being, responsible for its creation, its maintenance and its use, lies, we know, the soul.
[3] Như chúng ta biết, đằng sau hình tướng bên ngoài của một con người là linh hồn, chịu trách nhiệm tạo dựng, duy trì và sử dụng hình tướng ấy.
And let us consider this to be the Solar Angel, Angel of the Presence — a great being relative to us, who was once a human being in a previous solar system. One day we will be of the status of such a being as a Solar Angel.
Chúng ta hãy xem đây là Thái dương Thiên Thần, Thiên Thần của Hiện Diện — một sinh mệnh vĩ đại so với chúng ta, từng là một con người trong một hệ mặt trời trước. Một ngày kia, chúng ta sẽ đạt địa vị của một sinh mệnh như Thái dương Thiên Thần.
[4] Back of all activity for the furthering of human evolution as well as of other evolutionary processes stands the Hierarchy.
[4] Đằng sau mọi hoạt động thúc đẩy sự tiến hoá của nhân loại cũng như các tiến trình tiến hoá khác là Thánh đoàn.
The Hierarchy is like the soul of humanity.
Thánh đoàn giống như linh hồn của nhân loại.
[5] Both represent centres of energy; both work under Law creatively; both proceed from subjective activity to objective manifestation and both are responsive (in the great sequence of graded lives) to vitalisation and stimulation from higher centres of energy.
[5] Cả hai đều là những trung tâm năng lượng; cả hai đều hoạt động sáng tạo theo Định luật; cả hai đều đi từ hoạt động chủ quan đến biểu hiện khách quan, và cả hai đều đáp ứng với sự tiếp sinh lực và kích thích từ những trung tâm năng lượng cao hơn trong chuỗi sự sống vĩ đại được phân cấp.
Even the Hierarchy is stimulated from above, and so is that being we call the soul — a very difficult, protean word, used in many different contexts. We just need to know the particular context in which the term 'soul' is being used: whether it's the soul in incarnation, the soul on its own plane, an aspect of the Solar Angel that we call the Angel of the Presence, the Solar Angel itself, or some still larger aspect of consciousness. There's a lot of difficulty dealing with the soul, and people get confused. I remember when I was first reading this book, long ago, I was always confused — are we talking about the human being, or are we talking about a higher being here? I hope I've straightened it out for myself, to a certain extent anyway. So yes: back of human evolution is the Hierarchy, and back of the evolution of the individual human being is the soul, or Solar Angel, or Angel of the Presence.
Ngay cả Thánh đoàn cũng nhận sự kích thích từ bên trên, và sinh mệnh mà chúng ta gọi là linh hồn cũng vậy — một từ rất khó, biến đổi đa dạng, được dùng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Chúng ta chỉ cần biết ngữ cảnh cụ thể mà thuật ngữ “linh hồn” đang được sử dụng: đó là linh hồn đang lâm phàm, linh hồn trên cõi riêng của nó, một phương diện của Thái dương Thiên Thần mà chúng ta gọi là Thiên Thần của Hiện Diện, chính Thái dương Thiên Thần, hay một phương diện tâm thức còn rộng lớn hơn nữa. Việc tìm hiểu linh hồn có nhiều khó khăn và khiến người ta bối rối. Tôi nhớ khi lần đầu đọc cuốn sách này, cách đây đã lâu, tôi luôn bối rối — ở đây chúng ta đang nói về con người hay một sinh mệnh cao hơn? Tôi hy vọng mình đã làm rõ được điều ấy, dù sao cũng đến một mức độ nào đó. Vậy đúng là: đằng sau sự tiến hoá của nhân loại là Thánh đoàn, còn đằng sau sự tiến hoá của từng con người là linh hồn, hay Thái dương Thiên Thần, hay Thiên Thần của Hiện Diện.
The entirety of the Solar Angel, its full energy component, cannot be incarnated on the higher plane — it is a being much greater than that, which has already apparently journeyed via the cosmic astral plane to the star Sirius for education. So it is not possible to incarnate it fully, but it is possible to include a fragment of itself, so to speak, within the human being — a projection of itself within that vehicle upon the higher mental plane which we call the Egoic Lotus or causal body.
Toàn bộ Thái dương Thiên Thần, toàn bộ năng lượng của Ngài, không thể nhập thể trên cõi cao ấy — Ngài là một sinh mệnh vĩ đại hơn thế nhiều, dường như đã từng đi qua cõi cảm dục vũ trụ đến sao Sirius để học hỏi. Vì vậy, không thể để Ngài nhập thể hoàn toàn, nhưng có thể đưa một mảnh của Ngài, có thể nói như vậy, vào trong con người — một sự phóng chiếu của Ngài vào hiện thể trên cõi thượng trí mà chúng ta gọi là Hoa Sen Chân Ngã hay thể nguyên nhân.
[6] Some of the factors that the disciple has to learn to recognize as his particular series of lives unfolds falls into two main groups, each of them bringing his form aspect under seven types of energy, or influences.
[6] Một số yếu tố mà người đệ tử phải học cách nhận biết khi chuỗi kiếp sống riêng của mình khai mở thuộc về hai nhóm chính, mỗi nhóm đặt phương diện hình tướng của y dưới tác động của bảy loại năng lượng hay ảnh hưởng.
And of course, we do recognize here the seven rays. At least those seven — there are a number of septenates, but they are all ultimately controlled by an ultimate universal septenate, which we might call, I don't know, seven universal rays. They are certainly greater beings and emanations than what we call the seven rays from our local constellation, the Great Bear.
Tất nhiên, ở đây chúng ta nhận ra bảy cung. Ít nhất là bảy cung ấy — có nhiều bộ bảy, nhưng xét cho cùng, tất cả đều chịu sự kiểm soát của một bộ bảy vũ trụ tối hậu mà chúng ta có thể gọi là — tôi cũng không biết nữa — bảy cung vũ trụ. Chắc chắn đó là những sinh mệnh và những phát xạ vĩ đại hơn cái mà chúng ta gọi là bảy cung đến từ chòm sao lân cận của chúng ta, Đại Hùng.
[7] There is first the group of forces which concerns purely the form side,
[7] Trước hết là nhóm mãnh lực chỉ liên quan đến phương diện hình tướng,
— I'm remembering now these forty-nines: forty-nine having to do with form, forty-nine having to do with soul or consciousness, and forty-nine having to do with spirit — the Spirits of Darkness, I think they're called, because, in a way, spirit is so inaccessible, even though so obvious to those who can somehow register it.
— giờ tôi đang nhớ đến những nhóm bốn mươi chín này: bốn mươi chín liên quan đến hình tướng, bốn mươi chín liên quan đến linh hồn hay tâm thức, và bốn mươi chín liên quan đến tinh thần — tôi nghĩ người ta gọi đó là các Tinh Thần Bóng Tối, bởi theo một nghĩa nào đó, tinh thần rất khó tiếp cận, dù lại hết sức hiển nhiên với những ai bằng cách nào đó có thể ghi nhận nó.
[8] that are the work of the outer Builders, and which are the predominant factors right up to the stage of the Probationary Path.
[8] vốn là công trình của các Đấng Kiến Tạo bên ngoài và là những yếu tố chi phối cho đến tận giai đoạn Con Đường Dự Bị.
So on this Path of Probation, we begin to concern ourselves with the truly subjective factor.
Vì vậy, trên Con Đường Dự Bị này, chúng ta bắt đầu quan tâm đến yếu tố thực sự chủ quan.
[9] These are the forces inherent in matter itself; they deal with the body nature and might be listed as follows:
[9] Đây là những mãnh lực vốn có trong chính vật chất; chúng liên quan đến bản chất thân thể và có thể được liệt kê như sau:
The outer builders are responsible for these forces — let's just get that established.
Các đấng kiến tạo bên ngoài chịu trách nhiệm về những mãnh lực này — chúng ta hãy xác định rõ điều đó.
[10] 1. Physical forces. These are due to the life of the cells which constitute the body. This cell life is responsive to the cell life of the environment. Never let it be forgotten that the occultist always sees the correlation between the factors in himself and the corresponding factors in his surroundings.
[10] 1. Các mãnh lực hồng trần. Chúng bắt nguồn từ sự sống của các tế bào cấu thành thân thể. Sự sống tế bào này đáp ứng với sự sống tế bào của môi trường. Đừng bao giờ quên rằng nhà huyền bí học luôn thấy mối tương quan giữa các yếu tố trong chính mình với những yếu tố tương ứng trong môi trường xung quanh.
And I think we should note that — the great Law of Analogy, or the more related but more detailed law of correspondences, is operating in the life of the Occultist.
Tôi nghĩ chúng ta nên lưu ý điều ấy — định luật tương đồng vĩ đại, hay định luật tương ứng gần gũi với nó nhưng chi tiết hơn, đang vận hành trong đời sống của nhà huyền bí học.
[11] We live in a world of forms.
[11] Chúng ta sống trong một thế giới hình tướng.
At least on the cosmic physical plane we do — and in a way the whole universe is a form; I'm talking about the subjective aspects of it as well.
Ít nhất trên cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta sống như vậy — và theo một nghĩa nào đó, toàn thể vũ trụ là một hình tướng; tôi cũng đang nói đến các phương diện chủ quan của nó.
[12] These forms are made up of lives and these lives have their own emanatory and contributory influence. They fall in their turn into three main groups:
[12] Những hình tướng này được cấu thành từ các sự sống, và các sự sống ấy có ảnh hưởng phát xạ và đóng góp riêng. Đến lượt chúng, các ảnh hưởng ấy chia thành ba nhóm chính:
So he's getting quite detailed here regarding the physical forces.
Ở đây, Ngài đang đi khá sâu vào chi tiết về các mãnh lực hồng trần.
[13] a. Those emanations, which issuing from the cells themselves and dependent upon their quality, produce a good or a bad effect, are coarsening or refining in their influence, and raise or lower the physical vibration of the united cell body.
[13] a. Những phát xạ xuất phát từ chính các tế bào và tuỳ thuộc vào phẩm tính của chúng, tạo ra tác động tốt hoặc xấu, có ảnh hưởng làm thô trược hoặc tinh luyện, đồng thời nâng cao hoặc hạ thấp rung động hồng trần của toàn bộ thân thể do các tế bào hợp thành.
Let's just call these cell emanations.
Chúng ta hãy gọi đây là những phát xạ tế bào.
[14] Thus, as we well know, the physical effect of a coarse brutal animal natured man will be different to that of the refined beautifying results of contact with an older soul, functioning in a body, cultured, clean, disciplined and purified.
[14] Vì vậy, như chúng ta biết rõ, tác động hồng trần của một người thô lỗ, tàn bạo, mang bản chất thú tính sẽ khác với những kết quả tinh luyện, làm tăng vẻ đẹp do tiếp xúc với một linh hồn từng trải hơn, đang hoạt động trong một thân thể có văn hoá, sạch sẽ, có kỷ luật và đã được thanh luyện.
And let us say here we are reminded of the great range of development of the human being.
Ở đây, chúng ta được nhắc nhớ về phạm vi phát triển vô cùng rộng lớn của con người.
[15] b. Those emanations, of a purely physical kind which are responsible for that chemical affinity between one animal body and another which produces the coming together of the sexes.
[15] b. Những phát xạ thuần tuý hồng trần tạo nên ái lực hoá học giữa thân thể động vật này với thân thể động vật khác, dẫn đến sự kết hợp giữa hai giới tính.
Maybe we could call this, in a way, animal magnetism.
Có lẽ, theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể gọi đây là từ điện động vật.
[16] It is an aspect of animal magnetism and is the response of the cells to the call of other cells, acting under the Law of Attraction and Repulsion.
[16] Đây là một phương diện của từ điện động vật và là sự đáp ứng của các tế bào trước tiếng gọi của những tế bào khác, hoạt động theo Định luật Hút và Đẩy.
Sometimes it's simply called the Law of Attraction, but I think maybe a more complete name is Attraction and Repulsion.
Đôi khi người ta chỉ gọi là Định luật Hấp Dẫn, nhưng tôi nghĩ có lẽ tên đầy đủ hơn là Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.
[17] It is shared by man with the animals, and is instinctive and free from all mental reactions.
[17] Con người có chung đặc tính này với các loài động vật; nó mang tính bản năng và không có bất kỳ phản ứng trí tuệ nào.
So one might attribute his or her attraction to another to this type of emanation, about which there is rarely any real knowledge.
Vì vậy, người ta có thể quy sự thu hút của mình đối với người khác cho loại phát xạ này, điều mà hiếm khi chúng ta thực sự hiểu biết.
[18] c. Those forces or emanations, which are the response of the cells to harmonious rhythms and therefore dependent upon the cell having in itself something of that to which it responds.
[18] c. Những mãnh lực hay phát xạ biểu thị sự đáp ứng của các tế bào với những nhịp điệu hài hoà, và do đó tuỳ thuộc vào việc tế bào có sẵn trong mình một phần của điều mà nó đáp ứng.
I suppose this requires the refinement of the cell.
Tôi cho rằng điều này đòi hỏi sự tinh luyện tế bào.
[19] These emanations are little understood as yet, but will increasingly come to the fore as the race progresses. This type of force is that mysterious something which enables the physical body to recognise as harmonious or congenial a physical surrounding or environment, for instance.
[19] Hiện nay người ta còn hiểu rất ít về những phát xạ này, nhưng chúng sẽ ngày càng nổi bật khi nhân loại tiến bộ. Loại mãnh lực này là một điều gì đó huyền nhiệm, chẳng hạn cho phép thể xác nhận biết một khung cảnh hay môi trường hồng trần là hài hoà hoặc tương hợp.
A subtle something, and DK calls it mysterious. So it's a response — let's just say — to harmony or dissonance in the environment.
Một điều gì đó tinh tế, và Chân sư DK gọi nó là huyền nhiệm. Vậy đó là sự đáp ứng với tính hài hoà hay bất hoà trong môi trường.
[20] It is that undefinable reaction which results in two human beings (apart from all sex attraction, for people of the same sex experience it with each other) having a harmonious effect physically upon each other.
[20] Đó là phản ứng không thể định nghĩa khiến hai con người có tác động hài hoà lên nhau về mặt thể xác, hoàn toàn không liên quan đến sự hấp dẫn giới tính, vì những người cùng giới cũng trải nghiệm điều này với nhau.
You know — good to be with you, so relaxing, so affirming, all that kind of thing. There are people in whose presence we desire to be, just because of how it feels, and others in whose presence perhaps we are on edge, or uncomfortable somehow.
Các bạn biết đấy — ở bên bạn thật dễ chịu, thật thư thái, thật được khích lệ, những điều như vậy. Có những người mà chúng ta muốn ở gần chỉ vì cảm giác khi ở bên họ; còn khi ở gần những người khác, có lẽ chúng ta lại căng thẳng hay khó chịu theo một cách nào đó.
[21] This is, on the outer plane, the esoteric basis for all group relation, and it is the understanding of these emanations that enables the isolation and segregation of races to be carried forward under the great evolutionary plan.
[21] Trên cõi bên ngoài, đây là cơ sở huyền bí của mọi mối quan hệ nhóm, và chính sự thấu hiểu những phát xạ này cho phép tiến hành việc cách ly và phân tách các giống dân theo kế hoạch tiến hoá vĩ đại.
And, you know, the colloquial phrase — birds of a feather flock together. So this is a kind of apportionment of types, a kind of segregation of types. It's interesting, because there have to be types — according to the way qualities are arranged and divided from each other, there must be formal types which reflect those qualities, and each of those qualities and combinations of qualities will have, in the mind of whatever greater creator there is, some particular function. So the idea of segregation for development is important — otherwise you have just some sort of mixture of types, and the true quality may not have a chance to be built, or to emerge, and will therefore fail in expressing its particular function within a whole. We have nations segregated by ray types, perhaps races segregated that way. There's a lot of typing, or qualification, going on in creation, and we have to find the reason behind this apparent segregation, leading later to the appropriate unity of interaction.
Có câu nói quen thuộc: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Vậy đây là một kiểu phân chia các loại, một kiểu phân tách các loại. Điều này thú vị, vì phải có những loại khác nhau — theo cách các phẩm tính được sắp xếp và phân chia với nhau, phải có những loại hình tướng phản ánh các phẩm tính ấy; và mỗi phẩm tính, mỗi tổ hợp phẩm tính, trong trí tuệ của bất kỳ đấng sáng tạo vĩ đại hơn nào, đều sẽ có một chức năng cụ thể. Vì vậy, ý tưởng phân tách để phát triển rất quan trọng — nếu không, chúng ta chỉ có một kiểu pha trộn các loại, và phẩm tính đích thực có thể không có cơ hội hình thành hoặc xuất hiện, do đó không thể biểu đạt chức năng riêng của nó trong một tổng thể. Các quốc gia được phân chia theo loại cung, và có lẽ các giống dân cũng được phân chia theo cách ấy. Trong sự sáng tạo đang diễn ra rất nhiều sự phân loại hay xác định phẩm tính, và chúng ta phải tìm ra lý do đằng sau sự phân tách có vẻ bề ngoài này, vốn về sau dẫn đến sự hợp nhất thích hợp trong tương tác.
[22] These three might be described as the quality of the cell forces operating entirely on the physical plane which produce a peculiar type of physical body, the magnetic attraction between two physical bodies, and the racial types.
[22] Có thể mô tả ba yếu tố này là phẩm tính của các mãnh lực tế bào hoạt động hoàn toàn trên cõi hồng trần để tạo ra một loại thể xác đặc thù, sức hút từ tính giữa hai thể xác, và các loại hình giống dân.
Well, there he sums it up very well. It's interesting to think that there are different qualities which distinguish the cells of one individual from another — I guess as we get more into the micro study of the cell, this may emerge, the reason for it may emerge, but it's probably all directed from higher levels, which at present are not being studied. These three might be described as the quality of the cell forces — producing a peculiar type of physical body in terms of its range of refinement, let's say, maybe a general ray type; the magnetic attraction between two physical bodies, mostly unconscious, he tells us; and the racial types, which do have to be properly differentiated — let's call it that way, since the word 'segregation' has such a bad connotation now. We're talking about the differentiation for development of the various racial types; The Secret Doctrine deals with this somewhat.
Ở đây, Ngài tổng kết rất rõ. Thật thú vị khi nghĩ rằng có những phẩm tính khác nhau phân biệt tế bào của người này với người khác — tôi đoán khi chúng ta đi sâu hơn vào nghiên cứu vi mô tế bào, điều này có thể xuất hiện, lý do của nó có thể xuất hiện, nhưng có lẽ tất cả đều được chỉ đạo từ những cấp độ cao hơn mà hiện nay người ta chưa nghiên cứu. Có thể mô tả ba điều này là phẩm tính của các mãnh lực tế bào — tạo ra một loại thể xác đặc thù xét về mức độ tinh luyện của nó, có lẽ là một loại cung tổng quát; sự hấp dẫn từ tính giữa hai thể xác, phần lớn là vô thức, như Ngài cho chúng ta biết; và các loại hình giống dân, thực sự cần được biến phân đúng cách — chúng ta hãy gọi như thế, vì từ “phân tách” hiện nay mang hàm nghĩa rất tiêu cực. Chúng ta đang nói đến sự biến phân nhằm phát triển các loại hình giống dân khác nhau; Giáo Lý Bí Nhiệm có bàn đến điều này phần nào.
[23] These three factors guide the Manu of the race as He builds a new race and impresses the outer Builders with His ideas.
[23] Ba yếu tố này hướng dẫn Đức Manu của giống dân khi Ngài xây dựng một giống dân mới và truyền các ý tưởng của Ngài đến các Đấng Kiến Tạo bên ngoài.
Interesting that the first-ray department is really responsible for building the concrete vehicle in which all of the principles, including the spiritual principles, are contained, and a Master takes this into consideration as well, apparently.
Thật thú vị khi ban cung một thực sự chịu trách nhiệm xây dựng hiện thể cụ thể chứa đựng tất cả các nguyên khí, kể cả các nguyên khí tinh thần; và dường như một Chân sư cũng xét đến điều này.
[24] They also guide a Master of the Wisdom as He builds His physical body at will for the carrying forward of His work in any time or place.
[24] Chúng cũng hướng dẫn một Chân sư Minh Triết khi Ngài tuỳ ý kiến tạo thể xác của mình để tiến hành công việc vào bất kỳ thời gian hay địa điểm nào.
So these three types of emanations guide the building of the mayavirupa — interesting.
Vậy ba loại phát xạ này hướng dẫn việc xây dựng thể ảo hoá — thật thú vị.
[25] These emanations should, in measure, be understood somewhat by all those engaged in forming organisations and groups for active service in the world.
[25] Tất cả những ai tham gia thành lập các tổ chức và các nhóm để tích cực phụng sự thế gian đều cần thấu hiểu phần nào những phát xạ này.
Are we throwing together, as DK has once said, those who do not suit each other at all? The second and fourth ray types have a really good idea of how this work may go — maybe the seventh ray type too — but sometimes he seems to accuse the third ray type of a type of selection which is inappropriate. Of course, it can also later be very appropriate; but the throwing together of those who really don't belong — does he tell us about what makes a good host or hostess, knowing whom to seat near whom at the table? You cannot throw together the crude with the refined, unless for particular, distinct purposes.
Liệu chúng ta có đang gom chung những người hoàn toàn không hợp nhau, như Chân sư DK từng nói? Những người cung hai và cung bốn có hiểu biết rất tốt về cách tiến hành công việc này — có lẽ người cung bảy cũng vậy — nhưng đôi khi Ngài dường như phê phán người cung ba vì một kiểu lựa chọn không thích hợp. Tất nhiên, về sau kiểu lựa chọn ấy cũng có thể rất thích hợp; nhưng việc gom chung những người thực sự không thuộc về nhau — chẳng phải Ngài có nói với chúng ta về điều làm nên một chủ nhà giỏi, biết nên xếp ai ngồi gần ai trên bàn ăn sao? Không thể gom người thô trược với người tinh tế lại với nhau, trừ khi vì những mục đích cụ thể, riêng biệt.
[26] What, should the disciple ask himself, should be the vibratory quality of the cells of that body, of the individuals who compose it? What should be the quality of its attractive force, and of the magnetic effect it is to have in the world?
[26] Người đệ tử nên tự hỏi: Phẩm tính rung động của các tế bào trong tập thể ấy, của những cá nhân cấu thành tập thể ấy, cần phải như thế nào? Phẩm tính của mãnh lực thu hút và của tác động từ tính mà tập thể ấy sẽ tạo ra trên thế gian cần phải như thế nào?
So this is the more astral component, but as it affects the cells.
Vậy đây là thành phần thiên về cảm dục hơn, nhưng xét theo tác động của nó lên các tế bào.
[27] What does the group possess through the medium of its corporate units which will put it en rapport with other groups and so make it harmonious in its relations with them?
[27] Thông qua các đơn vị thành viên, nhóm có được điều gì giúp nhóm hoà điệu với những nhóm khác và nhờ đó có những mối quan hệ hài hoà với họ?
And so many groups are separative — what of a group's potential for harmony with other groups?
Có quá nhiều nhóm mang tính chia rẽ — vậy tiềm năng hài hoà của một nhóm với các nhóm khác thì sao?
[28] These questions warrant careful attention and should be considered by all group builders.
[28] Những câu hỏi này đáng được chú tâm cẩn thận và tất cả những người xây dựng nhóm đều nên suy xét.
Well, you see, these are largely physical forces. Even when I said the word 'astral' — that's the sort of qualitative area in our body, or in our personality, that has the attractive and repulsive factor operating strongly, but even on the strictly physical level that attraction and repulsion does operate. And probably, behind it all, it's mathematical — one day we will know the exact frequencies that control the way these emanations work. What frequencies make a crude or a refined cell? What frequencies, in combination, attract or repel? What frequencies tell us that there is harmony to be achieved in a particular environment rather than dissonance? It's all very micro, in a certain way. For us, we simply have to be aware that such effects are in operation — these things are happening, and whether we know it or not — mostly we don't — we just know the result.
Các bạn thấy đấy, phần lớn đây là những mãnh lực hồng trần. Ngay cả khi tôi dùng từ “cảm dục” — đó là lĩnh vực phẩm tính trong cơ thể hay phàm ngã chúng ta, nơi yếu tố hấp dẫn và đẩy lùi hoạt động mạnh mẽ — thì ngay trên cấp độ thuần tuý hồng trần, sự hấp dẫn và đẩy lùi ấy vẫn vận hành. Có lẽ đằng sau tất cả là toán học — một ngày kia, chúng ta sẽ biết chính xác những tần số kiểm soát cách các phát xạ này hoạt động. Những tần số nào làm cho tế bào thô trược hay tinh tế? Những tần số nào khi kết hợp sẽ hấp dẫn hay đẩy lùi? Những tần số nào cho chúng ta biết rằng trong một môi trường cụ thể có thể đạt được sự hài hoà thay vì bất hoà? Theo một nghĩa nào đó, tất cả đều rất vi mô. Với chúng ta, chỉ cần nhận biết rằng những tác động như thế đang vận hành — những điều này đang xảy ra, và dù biết hay không — phần lớn là không — chúng ta chỉ biết kết quả.
So all of this, again, we're talking about physical forces, their qualities, and their relations to other physical forces and to the environment in general — all of this is about emanations. The whole study of emanation was undertaken by the Buddhist scholars, and I think by the Gnostics, and I find that without a study of emanation a real understanding of universal process is not possible — at least an accurate one, in my view; I find the study of emanation to be indispensable. How does a candle light other candles and still remain itself? We might say that this is a symbol of the process — a going forth while remaining. A prodigal son goes forth, but another aspect of the monad remains at home. How is that possible? We attempt to divine how that may be the case.
Một lần nữa, tất cả những điều này — chúng ta đang nói về các mãnh lực hồng trần, phẩm tính của chúng, quan hệ của chúng với các mãnh lực hồng trần khác và với môi trường nói chung — đều liên quan đến các phát xạ. Các học giả Phật giáo đã nghiên cứu toàn bộ vấn đề phát xạ, và tôi nghĩ các nhà Ngộ đạo cũng vậy. Tôi nhận thấy rằng nếu không nghiên cứu phát xạ thì không thể thực sự thấu hiểu tiến trình vũ trụ — ít nhất, theo tôi, không thể thấu hiểu chính xác; tôi thấy việc nghiên cứu phát xạ là không thể thiếu. Làm sao một ngọn nến thắp sáng những ngọn nến khác mà vẫn là chính nó? Chúng ta có thể nói đây là biểu tượng của tiến trình ấy — đi ra mà vẫn ở lại. Người con hoang đàng ra đi, nhưng một phương diện khác của chân thần vẫn ở nhà. Làm sao điều đó có thể xảy ra? Chúng ta cố gắng trực nhận xem điều ấy có thể diễn ra như thế nào.
[29] 2. Vital forces.
[29] 2. Các mãnh lực sinh lực.
Now we're into the vital body.
Giờ chúng ta bước vào thể sinh lực.
[30] These are often regarded by the materialists as intangible and therefore not material at all.
[30] Những người duy vật thường xem chúng là vô hình, không thể sờ chạm, và vì thế hoàn toàn không phải vật chất.
But remember, of course, it's all part of the physical systemic plane — vital forces are, in fact, physical, at least to the Occultist.
Nhưng tất nhiên, hãy nhớ rằng tất cả đều thuộc cõi hồng trần của hệ mặt trời — các mãnh lực sinh lực thực sự thuộc hồng trần, ít nhất đối với nhà huyền bí học.
[31] But the occultist regards the etheric medium as a form or aspect of matter and as relatively tangible as the outer objective form.
[31] Nhưng nhà huyền bí học xem môi trường dĩ thái là một hình thức hay phương diện của vật chất, và tương đối hữu hình như hình tướng khách quan bên ngoài.
And now we enter the subject of what we might call substantiality — matter of a more refined kind can be substantial to matter of a more gross kind. Finally, there is only one substanding something in all of cosmos, and even when cosmos does not exist.
Giờ đây, chúng ta đi vào chủ đề có thể gọi là tính chất nền tảng của chất liệu — vật chất tinh tế hơn có thể làm chất liệu nền tảng cho vật chất thô hơn. Rốt cuộc, chỉ có một cái gì đó làm nền tảng cho toàn thể vũ trụ, và ngay cả khi vũ trụ không tồn tại.
[32] To him the ether of space, which term necessarily includes the etheric form of all bodies, the astral or emotional sentient body and the mental body, constituted of mind-stuff, are all of them material and are the substance of the form side of life.
[32] Đối với nhà huyền bí học, dĩ thái của không gian — thuật ngữ này tất yếu bao gồm hình tướng dĩ thái của mọi thân thể — cùng thể cảm dục hay thể cảm xúc có khả năng cảm nhận và thể trí cấu thành từ chất liệu trí tuệ, tất cả đều mang tính vật chất và là chất liệu của phương diện hình tướng của sự sống.
This is so important — I'm going to include here something which is usually beyond the designation of the ethers of space; let's call this an enlargement of the meaning of the ethers of space. We've been talking about the waters of space, the ethers of space, even before, and we've recognized that this term 'ether' is fairly inclusive and does not simply mean the refined part of the dense systemic plane. So all of these — astral matter, mental matter, higher mental — are substantial to each other in turn: astral substantial to etheric-physical matter, mental substantial for the astral, and the higher mental to the lower mental, and on it goes in this ladder of substantiality.
Điều này hết sức quan trọng — ở đây tôi sẽ đưa vào một điều thường vượt ngoài phạm vi gọi là các dĩ thái của không gian; hãy gọi đó là sự mở rộng ý nghĩa của các dĩ thái của không gian. Trước đây, chúng ta đã nói về nước của không gian, các dĩ thái của không gian, và đã nhận ra thuật ngữ “dĩ thái” có phạm vi bao gồm khá rộng, không chỉ có nghĩa là phần tinh tế của cõi đậm đặc trong hệ mặt trời. Vì vậy, tất cả những thứ này — vật chất cảm dục, vật chất trí tuệ, thượng trí — lần lượt làm chất liệu nền tảng cho nhau: cảm dục làm nền tảng cho vật chất dĩ thái–hồng trần, trí tuệ làm nền tảng cho cảm dục, thượng trí làm nền tảng cho hạ trí, và cứ tiếp tục như thế trên bậc thang chất liệu nền tảng này.
[33] As the basis of correct understanding, it should be noted that the cell life to which we have above referred is coordinated, influenced and vitalised by the blood stream, that intricate system which interpenetrates every part of the body, is responsible for its welfare and demonstrates in a manner not yet truly comprehended the fact that the “blood is the life”.
[33] Để làm nền tảng cho sự thấu hiểu đúng đắn, cần lưu ý rằng dòng máu điều phối, tác động và tiếp sinh lực cho sự sống tế bào mà chúng ta đã đề cập ở trên; hệ thống phức tạp này thâm nhập mọi bộ phận của thân thể, chịu trách nhiệm về sự an lành của thân thể và chứng tỏ, theo một cách chưa thực sự được thấu hiểu, sự thật rằng “máu là sự sống”.
This is enlarged upon in Esoteric Healing — there are essences involved here, the heart is involved, a certain essence being carried.
Điều này được trình bày sâu rộng hơn trong Trị Liệu Huyền Môn — ở đây có các tinh chất tham gia, có trái tim tham gia, và một tinh chất nào đó đang được vận chuyển.
[34] The blood is an aspect of energy, as is the sap in the vegetable kingdom.
[34] Máu là một phương diện của năng lượng, cũng như nhựa cây trong giới thực vật.
And let's just say here we have an important analogy. I try to use a kind of adaptation of the Law of Fixation to fix these statements in my mind, so that they will be there when they need to be more deeply understood and correlated with others of his statements, until, under the influence of pure reason, we begin to see the whole picture. And of course, in a way, the bloodstream is underlaid by the system of nadis, and there have to be very intricate systems in all of the substanding vehicles. I suppose here we're looking at a little gesture towards the future of medicine — in Esoteric Healing we certainly have that strongly developed, though it was written quite a few years after this.
Ở đây, chúng ta có một phép tương đồng quan trọng. Tôi cố vận dụng một dạng điều chỉnh của Định luật Cố Định để khắc sâu những phát biểu này vào thể trí, để chúng có sẵn khi cần được thấu hiểu sâu hơn và liên hệ với những phát biểu khác của Ngài, cho đến khi, dưới ảnh hưởng của lý trí thuần tuý, chúng ta bắt đầu thấy toàn cảnh. Tất nhiên, theo một nghĩa nào đó, hệ thống kinh mạch dĩ thái làm nền tảng cho dòng máu, và hẳn phải có những hệ thống rất phức tạp trong tất cả các hiện thể làm nền tảng. Tôi cho rằng ở đây chúng ta đang thấy một gợi mở nhỏ hướng đến tương lai của y học — trong Trị Liệu Huyền Môn, điều ấy chắc chắn được triển khai sâu rộng, dù cuốn sách đó được viết sau cuốn này khá nhiều năm.
[35] The sympathetic nervous system, that marvellous apparatus of sensation, is closely related to the emotional or astral body. The contact is made via the solar plexus, just as the vitality, governing the quality of the blood stream, makes its contact via the heart.
[35] Hệ thần kinh giao cảm, bộ máy cảm giác kỳ diệu ấy, liên hệ mật thiết với thể cảm xúc hay thể cảm dục. Sự tiếp xúc diễn ra qua tùng thái dương, cũng như sinh lực chi phối phẩm tính của dòng máu tạo sự tiếp xúc qua tim.
Here's a man who has studied the whole thing from the inside out, really.
Đây thực sự là một người đã nghiên cứu toàn bộ vấn đề từ trong ra ngoài.
[36] In the heart is the centre of physical plane existence.
[36] Trong tim có trung tâm của sự tồn tại trên cõi hồng trần.
Now, that's an amazing statement, very simply put — but without it there would be no physical plane existence. It's the vitalising centre of physical plane existence, and without that heartbeat, the inner vehicles, the inner aspects, will ascend and remove themselves from the voluntary confinement that they have undertaken in the external form.
Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc, được diễn đạt rất đơn giản — nhưng không có tim thì sẽ không có sự tồn tại trên cõi hồng trần. Đó là trung tâm tiếp sinh lực cho sự tồn tại trên cõi hồng trần, và khi không còn nhịp tim ấy, các hiện thể bên trong, các phương diện bên trong, sẽ thăng lên và rút khỏi sự giam hãm tự nguyện mà chúng đã chấp nhận trong hình tướng bên ngoài.
[37] The cerebrospinal system works in close relation to the chitta or mind-stuff.
[37] Hệ não tuỷ hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ với chất liệu trí tuệ. Vì vậy, chúng ta có những điều sau đây để xem xét:
So here we have a good tabulation of the different systems and the glands or centres associated with them. Regarding the cell life, the bloodstream is the centre of its existence, and the heart centre is the animator; the gland associated is the thymus gland — interestingly, more highly developed in children than in adults, unless the adult has undertaken spiritual training. Regarding sensory life, we have the sympathetic nervous system — he's differentiating this, of course, from the cerebrospinal system — the chakra involved is the solar plexus, and the gland is the pancreas. You kind of wonder, when there are diseases of the various glands, such as pancreatic cancer, quite a deadly and rapidly moving disease, what is malfunctioning with regard to the sympathetic nervous system and the solar plexus centre.
Ở đây, chúng ta có một bảng phân loại hữu ích về các hệ thống khác nhau cùng những tuyến hay trung tâm liên quan đến chúng. Đối với sự sống tế bào, dòng máu là trung tâm tồn tại của nó, còn trung tâm tim là yếu tố truyền sinh khí; tuyến liên quan là tuyến ức — điều thú vị là tuyến này phát triển cao hơn ở trẻ em so với người lớn, trừ khi người lớn đã trải qua sự rèn luyện tinh thần. Đối với đời sống cảm giác, chúng ta có hệ thần kinh giao cảm — tất nhiên, Ngài đang phân biệt hệ này với hệ não tuỷ — luân xa liên quan là tùng thái dương, còn tuyến là tuyến tuỵ. Người ta không khỏi tự hỏi, khi các tuyến khác nhau mắc bệnh, chẳng hạn ung thư tuyến tuỵ, một căn bệnh khá nguy hiểm và tiến triển nhanh, điều gì đang hoạt động sai lệch trong hệ thần kinh giao cảm và trung tâm tùng thái dương.
Regarding the mental life, it's the cerebrospinal system — the system which includes the will, volition. Interesting that the ajna centre should be the controlling factor, not just the creative throat centre, but the directing ajna centre; the pituitary body is involved. And as regards the vital life as a whole, it's all seven centres and the spleen. So, to sum up this tabulation: cell life — bloodstream — heart centre — thymus; sensory life — sympathetic nervous system — solar plexus — pancreas; mental life — cerebrospinal system — ajna centre — pituitary; and vital life as a whole — the seven centres and the spleen. These are the important systems in the personality of man: the cell life, that is the physical body; the astral sensitive body; the mental vehicle — each with its different associated factors and centres.
Đối với đời sống trí tuệ, đó là hệ não tuỷ — hệ thống bao gồm ý chí, ý muốn có chủ đích. Thật thú vị khi trung tâm ajna là yếu tố kiểm soát, không chỉ trung tâm cổ họng sáng tạo mà là trung tâm ajna chỉ đạo; tuyến yên có liên quan ở đây. Còn đối với toàn bộ đời sống sinh lực, đó là cả bảy trung tâm và lá lách. Vậy, để tổng kết bảng phân loại này: sự sống tế bào — dòng máu — trung tâm tim — tuyến ức; đời sống cảm giác — hệ thần kinh giao cảm — tùng thái dương — tuyến tuỵ; đời sống trí tuệ — hệ não tuỷ — trung tâm ajna — tuyến yên; và toàn bộ đời sống sinh lực — bảy trung tâm và lá lách. Đây là những hệ thống quan trọng trong phàm ngã con người: sự sống tế bào, tức thể xác; thể cảm dục nhạy cảm; hiện thể trí tuệ — mỗi hệ thống có những yếu tố và trung tâm liên quan khác nhau.
[38] This, as you see, governs the manifestations of the quaternary, but there are other aspects of humanity which manifest through the objective form and which complete the entire man and make the seven of his manifold objective existence.
[38] Như các bạn thấy, điều này chi phối những biểu hiện của bộ tứ, nhưng còn có những phương diện khác của con người biểu hiện qua hình tướng khách quan, hoàn thiện con người toàn diện và tạo thành bảy phương diện trong sự tồn tại khách quan đa dạng của y.
We have to remember, because we are in the fourth round, forms tend to appear in groups of four — he deals with that at some point. But now we're going to deal with the higher aspects of man.
Chúng ta phải nhớ rằng, vì đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ tư, các hình tướng có xu hướng xuất hiện thành những nhóm bốn — Ngài có bàn đến điều đó ở một chỗ nào đấy. Nhưng giờ đây chúng ta sẽ bàn đến các phương diện cao hơn của con người.
This is very interesting — let's just look here and try to become aware of these different systems, how they work, what they rule, what their associations are. We go on and deal with self-consciousness: the upper brain, the head centre is involved, and the pineal gland — I guess we call this soul consciousness, and the beginning of soul consciousness has to do simply with being self-aware. Then there's self-expression, having to do with the lower brain — the throat centre is involved, and the gland is the thyroid gland; with this we are familiar. Number seven, self-perpetuation — the sex organs; I guess every form somehow seeks to perpetuate itself, it seems to be built in — the sacral centre is involved, with the reproductive organs. And then this will-factor, called self-assertion here, involves the entire man, and that semi-latent centre at the base of the spine is involved. It does keep us in incarnation, of course, but its true development comes later, and the assertion of the will can go through many stages, including the assertion of a higher type of will. The adrenal glands, atop the kidneys, are involved as representatives, in the glandular world, of the centre at the base of the spine — which is interesting, a little higher in a way than the sacral centre. There's a reversal: the organs representing the sacral centre are below that centre, while the organs representing the centre at the base of the spine are above that centre. That crossing has got to be significant.
Điều này rất thú vị — chúng ta hãy nhìn vào đây và cố nhận biết những hệ thống khác nhau này, cách chúng hoạt động, những gì chúng cai quản và những mối liên hệ của chúng. Tiếp theo, chúng ta bàn đến ngã thức: phần trên của bộ não, trung tâm đầu và tuyến tùng có liên quan — tôi đoán chúng ta gọi đây là tâm thức linh hồn, và khởi đầu của tâm thức linh hồn chỉ đơn giản liên quan đến việc tự nhận biết mình. Rồi đến sự tự biểu đạt, liên quan đến phần dưới của bộ não — trung tâm cổ họng có liên quan, và tuyến là tuyến giáp; chúng ta đã quen thuộc với điều này. Số bảy, sự tự duy trì nòi giống — các cơ quan sinh dục; tôi đoán mọi hình tướng đều tìm cách tự duy trì bằng cách nào đó, dường như điều ấy đã được cài sẵn — trung tâm xương cùng có liên quan, cùng các cơ quan sinh sản. Rồi yếu tố ý chí này, ở đây gọi là sự tự khẳng định, liên quan đến toàn bộ con người và trung tâm nửa tiềm ẩn ở đáy cột sống. Tất nhiên, nó giữ chúng ta trong trạng thái lâm phàm, nhưng sự phát triển thực sự của nó đến về sau; và sự khẳng định ý chí có thể trải qua nhiều giai đoạn, kể cả sự khẳng định một loại ý chí cao hơn. Các tuyến thượng thận, nằm trên thận, có liên quan với tư cách là những đại diện trong thế giới tuyến của trung tâm ở đáy cột sống — điều thú vị là, theo một nghĩa nào đó, chúng nằm cao hơn trung tâm xương cùng một chút. Có một sự đảo ngược: các cơ quan đại diện cho trung tâm xương cùng nằm dưới trung tâm ấy, còn các cơ quan đại diện cho trung tâm ở đáy cột sống lại nằm trên trung tâm ấy. Sự giao chéo này hẳn phải có ý nghĩa.
[39] You will notice that eight factors are here enumerated, and it is here that many of the schools go astray. The heading ‘vital life’ is a comprehensive one, but it must be remembered that it relates entirely to the physical vitalisation of man through the lowest aspect of the centres.
[39] Các bạn sẽ nhận thấy ở đây có tám yếu tố được liệt kê, và chính tại điểm này nhiều trường phái đã đi sai đường. Đề mục ‘sự sống sinh lực’ có ý nghĩa bao quát, nhưng cần nhớ rằng nó hoàn toàn liên quan đến việc tiếp sinh lực hồng trần cho con người qua phương diện thấp nhất của các trung tâm.
Hint, hint — the chakras, like any worlds, have lower and higher aspects. So it's the lowest aspect of the centres that is responsible here for the physical vitalisation. I think all centres are at least threefold, and one moves toward the jewel. You can look at this as a flower — I was just looking at a sunflower in the garden; there's the whole stalk, the support, the petals, and then the seeds — there's always a kind of threefoldness in these plant structures.
Đây là một gợi ý đáng lưu tâm — các luân xa, cũng như mọi thế giới, đều có những phương diện thấp và cao. Vì vậy, chính phương diện thấp nhất của các trung tâm chịu trách nhiệm tiếp sinh lực hồng trần ở đây. Tôi nghĩ mọi trung tâm ít nhất đều có cấu trúc tam phân, và người ta tiến dần về phía bảo ngọc. Các bạn có thể nhìn điều này như một bông hoa — tôi vừa ngắm một bông hướng dương trong vườn; có toàn bộ thân cây nâng đỡ, các cánh hoa, rồi đến hạt — luôn có một kiểu cấu trúc tam phân trong những cấu trúc thực vật này.
[40] This vital life of the universe of matter enters into the human organism through the spleen.
[40] Sự sống sinh lực này của vũ trụ vật chất đi vào cơ thể con người qua lá lách.
I suppose this is more solar prana than planetary prana, which is involved with the pores — I'm no expert in these matters, but I seem to remember that's the case, and that there's a difference in how they are processed.
Tôi cho rằng đây thiên về sinh khí mặt trời hơn là sinh khí hành tinh, vốn liên quan đến các lỗ chân lông — tôi không phải chuyên gia về những vấn đề này, nhưng tôi nhớ dường như là như vậy, và có sự khác biệt trong cách xử lý hai loại sinh khí ấy.
So we've had some very technical information here — the assignment of the different factors within the body to different functions and psychological states, in correlation with different chakras: the cell life, the sensory life, the mental life, the vital life as a whole. It's interesting that the vital life should be considered the fourth, in a way — it keeps everything going. And then we seem to go into more psychological factors related to consciousness and its expression: self-consciousness, self-expression; then self-perpetuation, which seems a lesser, not so much a conscious function but a very instinctual one; and self-assertion, which becomes more and more willful and less and less instinctual. We can see the different glands that are involved. This in itself requires a lot of study, clearly, but at least the tabulation is here, and to it we can refer. This vital life of the universe of matter enters into the human organism through the spleen, and of course the splenic centre is involved, with its six petals.
Vậy ở đây chúng ta đã có một số thông tin rất chuyên môn — sự phân định những yếu tố khác nhau trong cơ thể theo các chức năng và trạng thái tâm lý khác nhau, trong mối tương quan với các luân xa khác nhau: sự sống tế bào, đời sống cảm giác, đời sống trí tuệ, toàn bộ đời sống sinh lực. Thật thú vị khi đời sống sinh lực được xem là yếu tố thứ tư, theo một nghĩa nào đó — nó duy trì mọi thứ hoạt động. Rồi dường như chúng ta chuyển sang những yếu tố mang tính tâm lý hơn, liên quan đến tâm thức và sự biểu đạt của nó: ngã thức, sự tự biểu đạt; rồi đến sự tự duy trì nòi giống, dường như là một chức năng thấp hơn, không hẳn có ý thức mà mang tính bản năng rất mạnh; và sự tự khẳng định, ngày càng mang tính ý chí và ngày càng ít mang tính bản năng. Chúng ta có thể thấy các tuyến khác nhau liên quan đến những điều này. Rõ ràng, riêng điều này cũng đòi hỏi nghiên cứu nhiều, nhưng ít nhất bảng phân loại đã có ở đây để chúng ta tham khảo. Đời sống sinh lực này của vũ trụ vật chất đi vào cơ thể con người qua lá lách, và tất nhiên trung tâm lá lách với sáu cánh hoa có liên quan.
[41] The centres have three main functions: first, to vitalise the physical body; second, to bring about the development of self-consciousness in man; third, to transmit spiritual energy and sweep the entire man into a state of spiritual being.
[41] Các trung tâm có ba chức năng chính: —
So the first is maybe the lowest aspect of the centres; the second correlates to the petals of the centres; and all the centres coordinate with each other, and the jewels, as we call them, align and coordinate — every centre has its jewel, its will-related aspect at the very centre of the centre. This also tells us about the three phases of development through which all of us pass: we will pass through a strictly physical, personal stage; we will pass through a stage in which the enhancement of consciousness is the major factor; and then, finally, a stage in which we understand the nature of will and how it relates to being — let's call that the third stage, although being is in a way distinct from either will, love-consciousness, or the outer type of expression in intelligence. If one were loaded with the fifth ray it would be very helpful, wouldn't it?
Vậy chức năng thứ nhất có lẽ thuộc phương diện thấp nhất của các trung tâm; chức năng thứ hai tương ứng với các cánh hoa của các trung tâm; và tất cả các trung tâm phối hợp với nhau, còn những bảo ngọc, như chúng ta gọi, thì chỉnh hợp và phối hợp — mỗi trung tâm có bảo ngọc của nó, phương diện liên quan đến ý chí nằm ngay chính giữa trung tâm. Điều này cũng cho chúng ta biết về ba giai đoạn phát triển mà tất cả chúng ta đều trải qua: chúng ta sẽ đi qua một giai đoạn thuần tuý hồng trần, cá nhân; một giai đoạn mà sự nâng cao tâm thức là yếu tố chủ yếu; và cuối cùng, một giai đoạn mà chúng ta thấu hiểu bản chất của ý chí và mối liên hệ của nó với Bản Thể — hãy gọi đó là giai đoạn thứ ba, dù theo một nghĩa nào đó, Bản Thể khác biệt với cả ý chí, tình thương–tâm thức, lẫn kiểu biểu đạt bên ngoài qua trí thông minh. Nếu có thật nhiều năng lượng cung năm thì sẽ rất hữu ích, phải không?
[42] The vitality aspect is shared by man with the animals and with all created forms
[42] Con người có chung phương diện sinh lực với các loài động vật và mọi hình tướng được tạo dựng,
— and let's just say even forms of the mineral kingdom, so it seems —
— và dường như cả những hình tướng của giới kim thạch nữa —
[43] and his capacity to move freely in a three dimensional world is the outstanding achievement of that aspect.
[43] và khả năng di chuyển tự do trong một thế giới ba chiều là thành tựu nổi bật của phương diện ấy.
This movement is related to the third ray, which, as we learn — I think it's page 506 or 507 of The Rays and the Initiations — moves from here to there.
Sự chuyển động này liên quan đến cung ba, vốn, như chúng ta học được — tôi nghĩ ở trang 506 hay 507 của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo — di chuyển từ đây đến đó.
[44] The self-consciousness aspect is the prerogative of the human family. When man has evolved, when all parts of his nervous system, his endocrine system, and his centres are coordinated and working in harmonious rhythm then the highest aspect (the spiritual) makes its presence felt.
[44] Phương diện ngã thức là đặc quyền của gia đình nhân loại. Khi con người đã tiến hoá, khi mọi bộ phận của hệ thần kinh, hệ nội tiết và các trung tâm đều được điều phối và hoạt động trong nhịp điệu hài hoà, thì phương diện cao nhất — phương diện tinh thần — mới khiến con người cảm nhận được sự hiện diện của nó.
Well, that's what we're working on now, isn't it — this is the focus for students of spirituality.
Đó chính là điều hiện nay chúng ta đang nỗ lực thực hiện, phải không — đây là trọng tâm của những người nghiên cứu đời sống tinh thần.
[45] The spiritual energy and not just the consciousness or sentient energy pours through Man, the instrument of divine Life, and the custodian of forces, to be held and used for the other and lower kingdoms in nature.
[45] Năng lượng tinh thần, chứ không chỉ năng lượng tâm thức hay cảm nhận, tuôn đổ qua Con Người, công cụ của Sự sống thiêng liêng và là người gìn giữ các mãnh lực, để lưu giữ và sử dụng chúng cho những giới khác thấp hơn trong thiên nhiên.
So here we have, we might say, the true function of the human kingdom, in relation to the lower kingdoms. We have to become master of all these apparatus with which we are endowed, and not yet are we that — we're not yet the knowing masters of all of these systems within us, which, when correlated, make us a true arhat, or eventually a Master of the Wisdom. Some very factual, fifth-ray kind of material is needed as we attempt to really understand our place and our function.
Có thể nói, ở đây chúng ta có chức năng đích thực của giới nhân loại trong mối quan hệ với các giới thấp hơn. Chúng ta phải trở thành người làm chủ tất cả những bộ máy mình được ban cho, nhưng hiện nay vẫn chưa như vậy — chúng ta chưa phải những người chủ hiểu biết của tất cả các hệ thống bên trong mình; khi được phối hợp, những hệ thống ấy làm cho chúng ta trở thành một vị La Hán đích thực, hay cuối cùng là một Chân sư Minh Triết. Chúng ta cần những tài liệu rất thực chứng, mang tính cung năm, khi cố gắng thực sự thấu hiểu vị trí và chức năng của mình.
The above enumeration might therefore be arranged in the following order. The table gives man as he is intended to be and not as he now is in the course of his evolutionary progress.
Vì vậy, danh mục trên có thể được sắp xếp theo thứ tự sau. Bảng này trình bày con người như y được định hướng trở thành, chứ không phải như y hiện nay trong tiến trình tiến hoá.
So indeed, as we were going through it, we realized that there was a kind of arrangement of factors which was not exactly sequential, and sometimes the high seemed lower than the low, and so forth — but now he's going to correct that in our minds, and we will be able to understand the sequence, which will certainly help. And even if we're not surgeons, or somehow physicians who deal as specialists with these factors, we have to understand their particular, or at least their general, function within our system, and get our system properly trained, properly refined, properly correlated, made into a wholeness. And most of us are quite disintegrated when it comes to that, at the present time.
Quả thật, khi đi qua danh mục ấy, chúng ta nhận ra có một cách sắp xếp các yếu tố không hoàn toàn theo trình tự, và đôi khi cái cao dường như thấp hơn cái thấp, vân vân — nhưng giờ đây Ngài sẽ điều chỉnh điều đó trong thể trí chúng ta, và chúng ta sẽ có thể thấu hiểu trình tự, điều chắc chắn sẽ hữu ích. Ngay cả khi không phải bác sĩ phẫu thuật hay bác sĩ chuyên khoa xử lý những yếu tố này, chúng ta vẫn phải thấu hiểu chức năng cụ thể, hoặc ít nhất là chức năng tổng quát của chúng trong hệ thống của mình, đồng thời rèn luyện hệ thống ấy đúng cách, tinh luyện đúng cách, phối hợp đúng cách, làm cho nó thành một tổng thể trọn vẹn. Hiện nay, xét về điều đó, phần lớn chúng ta vẫn khá rời rạc.
Now, I see that I'm closing in on the one-hour mark. I wish I could make it exact, but things come up, and I think I'm also working during a Mercury retrograde period here. So, this is the end of our commentary on A Treatise on White Magic, Rules for White Magic, Program 19 — this is 10.3, the third program on Rule Ten, and we have gotten as far as page 285 — really 281 to 285, just four pages done. This is the 11th of August. I've been a little under the weather here, but hopefully it's all clearing up now. My hope is that we'll continue with Program 20, which will be 10.4, beginning with page 285. We'll get together on these matters shortly and try to use our fifth ray, whatever we have of it, to pinpoint the particular factors with which we are dealing, their structure, their function, their relations with other such factors, and their general place within the whole.
Giờ tôi thấy mình đang gần đến mốc một giờ. Tôi ước có thể căn cho thật chính xác, nhưng nhiều việc phát sinh, và tôi nghĩ mình cũng đang làm việc trong một giai đoạn Sao Thuỷ nghịch hành. Vậy đây là phần kết thúc bài bình giảng của chúng ta về Luận về Chánh Thuật, Các Quy Luật Chánh Thuật, Chương trình 19 — đây là 10.3, chương trình thứ ba về Quy luật Mười, và chúng ta đã đến trang 285 — thực ra là từ trang 281 đến 285, chỉ hoàn thành bốn trang. Hôm nay là ngày 11 tháng 8. Tôi có hơi không khoẻ, nhưng hy vọng giờ mọi thứ đang khá lên. Tôi hy vọng chúng ta sẽ tiếp tục với Chương trình 20, tức 10.4, bắt đầu từ trang 285. Chúng ta sẽ sớm cùng nhau trở lại những vấn đề này và cố sử dụng năng lượng cung năm của mình, dù có bao nhiêu đi nữa, để xác định chính xác những yếu tố cụ thể đang nghiên cứu, cấu trúc, chức năng, các mối quan hệ của chúng với những yếu tố tương tự, và vị trí tổng quát của chúng trong toàn thể.
Okay, friends, onward we move. I feel such a compulsion to continue with this, no matter what our friend Saturn throws in my direction. And I'd like, if I could, to be able to make commentaries on many of the books of The Tibetan — of course, he said it a hundred times better, but there may be ways in which I can help us correlate what he said with other things he has said, and thereby, through that correlation, new light may flash forth. See you later now.
Các bạn thân mến, chúng ta tiếp tục tiến lên. Tôi cảm thấy một sự thôi thúc mạnh mẽ phải tiếp tục công việc này, bất kể người bạn Sao Thổ của chúng ta đưa điều gì đến với tôi. Nếu có thể, tôi muốn bình giảng nhiều cuốn sách của Chân sư Tây Tạng — tất nhiên, Ngài đã diễn đạt hay hơn gấp trăm lần, nhưng có thể có những cách mà tôi giúp chúng ta liên hệ điều Ngài đã nói với những điều khác Ngài từng nói, và nhờ mối liên hệ ấy, ánh sáng mới có thể loé lên. Hẹn gặp lại các bạn.