← Bình Giảng White Magic – Quy Luật 10 Cõi Cảm Dục

Bảng luân xa mô tả con người đã được phối hợp — Astral Rule 20

Tóm lược chương

Thứ tự các chức năng trong bảng không phải một thang tuyến hay cơ quan đơn giản từ thấp lên cao. Tự khẳng định và sự phối hợp toàn bộ được liên hệ với đáy cột sống; tự biểu lộ với cổ họng; ngã thức với đầu; đời sống trí với ajna; đời sống cảm giác với tùng thái dương. Sự đảo vị trí giữa cơ quan sinh dục, tuyến thượng thận và những trung tâm tương ứng cho thấy cần đọc kỹ cả chức năng lẫn quan hệ, không suy diễn từ vị trí giải phẫu. Bảy trung tâm, các trung tâm phụ và nadis làm nền cho hệ thần kinh và các tuyến, đồng thời là môi trường dẫn nhiều loại năng lượng. Thể sinh lực không chỉ duy trì sinh học mà còn có thể chuyển tải năng lượng linh…


Astral Rule 20

Tóm Tắt

§ Bảng luân xa mô tả con người đã được phối hợp

Thứ tự các chức năng trong bảng không phải một thang tuyến hay cơ quan đơn giản từ thấp lên cao. Tự khẳng định và sự phối hợp toàn bộ được liên hệ với đáy cột sống; tự biểu lộ với cổ họng; ngã thức với đầu; đời sống trí với ajna; đời sống cảm giác với tùng thái dương. Sự đảo vị trí giữa cơ quan sinh dục, tuyến thượng thận và những trung tâm tương ứng cho thấy cần đọc kỹ cả chức năng lẫn quan hệ, không suy diễn từ vị trí giải phẫu.

§ Thể sinh lực và sự biểu lộ thiên tính

Bảy trung tâm, các trung tâm phụ và nadis làm nền cho hệ thần kinh và các tuyến, đồng thời là môi trường dẫn nhiều loại năng lượng. Thể sinh lực không chỉ duy trì sinh học mà còn có thể chuyển tải năng lượng linh hồn, Chân Thần và những ảnh hưởng cao hơn khi tiến hóa cho phép. Diễn tiến được đọc theo hướng từ duy trì giống loài, hoàn thành phàm ngã, sáng tạo của linh hồn đến biểu lộ thiên tính qua sự hợp nhất toàn bộ con người.

§ Kundalini ý chí và mục đích

Sự nâng năng lượng vật chất lên đầu được liên hệ với ý chí tinh thần và sự thành tựu ở lần điểm đạo thứ năm. Đáy cột sống được phân biệt với trung tâm đầu: một bên nhấn mạnh ý chí và sự phối hợp, bên kia gắn với mục đích và Chân Thần. Những liên hệ giữa atma, Chân Thần, ajna và các cấp ý chí được trình bày như những góc nhìn cần tiếp tục khảo sát, không như một công thức đơn tuyến.

§ Muốn biết dám và im lặng

Bốn mệnh đề huyền bí được diễn giải qua các trung tâm: muốn liên hệ đáy cột sống, biết liên hệ ajna, dám liên hệ tùng thái dương và im lặng liên hệ sự chuyển hóa sức sáng tạo xương cùng. “Để Mẹ biết Cha” được khảo sát như sự hợp nhất tinh thần và vật chất, với nhiều cách đọc qua đầu–ajna và Chân Thần–atma. Các liên hệ văn hóa giữa Ấn Độ, Hebrew, Kabbalah và những dấu hiệu chiêm tinh là phần suy luận mở rộng, không phải nền tảng bắt buộc cho mọi cách hiểu câu châm ngôn.

§ Sự dám làm dưới ánh sáng linh hồn

Ý chí Chân Thần, ý chí Tam Nguyên Tinh Thần và ý chí linh hồn được xem như những tác động khiến phàm ngã chấp nhận hướng cao hơn. Sự dám làm không chỉ là gan dạ thể chất mà có thể là từ bỏ cái ngã thấp và đồng nhất với những Sự Sống lớn hơn, như hình ảnh trong Agni Yoga. Giữ trí ổn định trong ánh sáng giúp tri thức linh hồn đi vào phàm ngã để hành động vượt qua nỗi sợ.

§ Chuyển hóa các trung tâm thấp

Im lặng của trung tâm xương cùng không được hiểu là phủ nhận mọi chức năng sinh sản, mà là thay sự thúc đẩy bản năng bằng sử dụng có ý thức theo ý chí và Thiên Cơ. Tùng thái dương thu gom mãnh lực thấp và, dưới xung lực linh hồn, chuyển chúng đến những nơi tiếp nhận cao hơn. Các suy đoán về trạng thái lưỡng tính thiêng liêng tương lai được giữ ở mức giả thuyết, không đồng nhất với một hiện tượng tính dục hiện tại.

§ Bốn trung tâm trọng yếu và các phương pháp theo Cung

Ajna cùng đáy cột sống, xương cùng và tùng thái dương được nhấn mạnh trong công việc của đệ tử: trung tâm chỉ đạo phối hợp các trung tâm còn chịu ảnh hưởng phàm ngã. Đáy cột sống còn gợi câu hỏi về vai trò Trái Đất trong sự phối hợp của Thái dương Thượng đế, nhưng tương ứng vũ trụ ấy vượt khả năng xác nhận hiện tại. Tính phức tạp của hệ thống tăng thêm vì mỗi Cung có cách tiếp cận riêng; học nhiều lần và liên kết các chỉ dẫn là điều kiện để ánh sáng hiểu biết xuất hiện.

Text 20 – Bài 20

[1] The above enumeration might therefore be arranged in the following order. The table gives man as he is intended to be and not as he now is in the course of his evolutionary progress.

[1] Vì vậy, phần liệt kê trên có thể được sắp xếp theo thứ tự sau đây. Bảng này trình bày con người như dự định phải trở thành, chứ không phải như hiện trạng của y trong tiến trình tiến hoá.

1. Tự khẳng định (phát triển trọn vẹn)

Tứ phân phối hợp

Trung tâm ở đáy cột sống

Tuyến thượng thận

Self-assertion (full development)

the coordinated quaternary

Centre at base of spine

Adrenals

2. Tự biểu hiện (công việc sáng tạo)

Não dưới

Trung tâm cổ họng

Tuyến giáp

Self-expression (creative work)

Lower brain

Throat centre

Thyroid

3. Sự sống tự ý thức (phàm ngã)

Não trên

Trung tâm đầu

Tuyến tùng

Self-conscious life (personality)

Upper Brain

Head centre

Pineal gland

4. Tự duy trì nòi giống

Cơ quan sinh dục

Trung tâm xương cùng

Các tuyến sinh dục

Self-perpetuation

Sex organs

Sacral centre

Sex glands

5. Sự sống trí tuệ

Hệ thần kinh não-tủy

Trung tâm ajna

Tuyến yên

Mental life

Cerebro-spinal system

Ajna centre

Pituitary

6. Sự sống cảm giác

Hệ thần kinh giao cảm

Tùng thái dương

Tuyến tụy

Sensory life

Sympathetic nervous system

Solar plexus

Pancreas

7. Sự sống tế bào

Dòng máu

Trung tâm tim

Tim

Cell life

Blood stream

Heart centre

Heart

[2] The eighth point, the vital life, functioning through the seven centres and a whole system of lesser chakras and the nadis (which underlie the nerves and are the cause of their existence as the centres are of [3] the glands) is the medium of many forces and energies—some purely physical, others related to the Anima Mundi, the World Soul, and others unknown as yet, because they will only make their presence felt later in the evolutionary programme. [4] They will then express divinity, the energy of the Father or the highest aspect.

[2] Điểm thứ tám, sự sống sinh lực, hoạt động qua bảy trung tâm cùng toàn bộ hệ thống các luân xa nhỏ và những đường dẫn sinh lực (nằm bên dưới các dây thần kinh và là nguyên nhân tồn tại của chúng, cũng như các trung tâm là nguyên nhân tồn tại của [3] các tuyến), là trung gian của nhiều mãnh lực và năng lượng—một số thuần tuý thuộc hồng trần, những loại khác liên hệ với Linh Hồn Thế Giới, và những loại khác nữa hiện vẫn chưa được biết đến, vì chỉ về sau trong chương trình tiến hoá, người ta mới cảm nhận được sự hiện diện của chúng. [4] Khi ấy, chúng sẽ biểu lộ thiên tính, năng lượng của Ngôi Cha hay phương diện cao nhất.

[5] It should be noted that the above tabulation pictures the second ray unfoldment, [6] and also that the self referred to is the self-realisation of the spiritual man. [7] The lowest aspect of the vital life of God is [8] the perpetuation of the species, and this is the result of the livingness of the incarnated Life; [9] and the next is simply expressive of the stage when the “I” consciousness is dominant and has reached its consummation in the completed personality. [10] Then comes the expression of the indwelling self, hidden by the personality, through its creative activity of a non-physical character. Finally, we [11] have the assertion or full manifestation of the divine nature. [12] This, curiously enough, can only occur when the lower spinal centre is aroused, when the energy of the material nature is carried by an act of the will up into Heaven, [13] and when therefore the entire nature—material, sensitive or psychic, and the existence aspect—are unified and realised. [14] Meditate upon these words, for they connote the consummation as far as humanity is concerned.

[5] Cần lưu ý rằng bảng trên mô tả sự khai mở của cung hai, [6] và cũng cần lưu ý rằng cái ngã được đề cập đến là sự tự chứng nghiệm của con người tinh thần. [7] Phương diện thấp nhất của sự sống sinh lực của Thượng đế là [8] sự duy trì nòi giống, và đây là kết quả của sức sống nơi Sự Sống đã nhập thể; [9] còn phương diện kế tiếp chỉ biểu lộ giai đoạn mà tâm thức “Tôi” chiếm ưu thế và đạt đến sự viên mãn trong phàm ngã hoàn chỉnh. [10] Tiếp đó là sự biểu lộ của bản ngã nội tại, vốn bị phàm ngã che khuất, thông qua hoạt động sáng tạo mang tính phi hồng trần của nó. Cuối cùng, chúng ta [11] có sự khẳng định hay biểu hiện trọn vẹn của bản chất thiêng liêng. [12] Điều khá lạ lùng là điều này chỉ có thể xảy ra khi trung tâm thấp nhất ở cột sống được khơi dậy, khi năng lượng của bản chất vật chất được đưa lên Thiên Giới bằng một hành động của ý chí, [13] và do đó khi toàn bộ bản chất—vật chất, cảm thụ hay thông linh, cùng phương diện hiện tồn—được hợp nhất và chứng nghiệm. [14] Hãy tham thiền về những lời này, vì chúng hàm chứa sự viên mãn xét trong phạm vi nhân loại.

[15] The occult aphorism: “To will, to know, to dare, and to be silent”, has a special significance not hitherto revealed and at which it is only possible for me to hint. Those of you who have the inner knowledge will comprehend at once.

[15] Cách ngôn huyền bí: “Quyết chí, hiểu biết, dám làm và giữ im lặng”, có một thâm nghĩa đặc biệt cho đến nay chưa được tiết lộ, và Tôi chỉ có thể gợi ý về điều đó. Những ai trong các bạn có tri thức nội tại sẽ lĩnh hội ngay.

[16] To Will. These words relate to the ultimate achievement, when, by an act of the combined will of the soul and of the lower man, unification and realisation are brought about. It concerns the centre at the base of the spine.

[16] Quyết chí. Những lời này liên hệ đến thành tựu tối hậu, khi một hành động của ý chí kết hợp giữa linh hồn và phàm nhân đem lại sự hợp nhất và chứng nghiệm. Điều này liên quan đến trung tâm ở đáy cột sống.

[18] To Know. These words concern the Ajna centre, [19] the centre between the eyebrows. A hint lies in the words ‘Let the Mother know the Father’. It has relation to the marriage in the Heavens.

[18] Hiểu biết. Những lời này liên quan đến trung tâm ajna, [19] trung tâm giữa hai chân mày. Một gợi ý nằm trong lời “Hãy để Mẹ biết Cha”. Điều này liên hệ đến cuộc hôn phối trên Thiên Giới.

[20] To Dare. These words give the clue to the subordination of the personality, [21] and have a close connection with the solar plexus, [22] the great clearing house of desire and of the astral forces, and also the main centre of the transmutative work.

[20] Dám làm. Những lời này đưa ra manh mối về việc đặt phàm ngã vào vị trí phục tùng, [21] và có mối liên hệ mật thiết với tùng thái dương, [22] trạm thanh lọc lớn của dục vọng và các mãnh lực cảm dục, đồng thời cũng là trung tâm chính của công việc chuyển hoá.

[23] To Be Silent. This phrase relates to the transmutation of the lower creative energy into the higher creative life. The sacral centre has to relapse into silence.

[23] Giữ im lặng. Cụm từ này liên hệ đến sự chuyển hoá năng lượng sáng tạo thấp thành sự sống sáng tạo cao. Trung tâm xương cùng phải trở về trạng thái im lặng.

[24] It will be seen then that for the disciple the following centres are of paramount importance:

[24] Như vậy, có thể thấy rằng đối với đệ tử, các trung tâm sau đây có tầm quan trọng hàng đầu:

[25] 1. The ajna centre, through which the purified personality expresses itself.

[25] 1. Trung tâm ajna, qua đó phàm ngã đã thanh luyện biểu lộ.

[26] 2. The centre at the base of the spine, [27] which is the centre through which complete and utter control and coordination is achieved, through the arousing of the purifying agency of fire.

[26] 2. Trung tâm ở đáy cột sống, [27] là trung tâm mà qua đó sự kiểm soát và phối hợp hoàn toàn, triệt để được thành tựu, nhờ khơi dậy tác nhân thanh luyện là lửa.

[28] 3. The sacral centre, [29] wherein the basic force of our particular solar system, the force of attraction of form to form is transmuted, and the attractive force of the soul takes the place of the reproductive creative material activity.

[28] 3. Trung tâm xương cùng, [29] nơi mãnh lực cơ bản của hệ mặt trời riêng biệt của chúng ta, tức mãnh lực thu hút hình tướng với hình tướng, được chuyển hoá, và mãnh lực thu hút của linh hồn thay thế hoạt động sáng tạo vật chất nhằm sinh sản.

[30] 4. The solar plexus centre [31] which, situated in the centre of the body and being the organ of the astral body and of the lower psychism, [32] gathers together all lower forces and redirects them under the impulse of the soul to their higher repositories.

[30] 4. Trung tâm tùng thái dương [31] nằm ở giữa thân thể và là cơ quan của thể cảm dục cùng năng lực thông linh thấp, [32] quy tụ mọi mãnh lực thấp rồi, dưới xung lực của linh hồn, chuyển hướng chúng đến những nơi tiếp nhận cao hơn.

[33] I realise that the teaching given here is both deep and abstruse, but it is needed for the few, and their numbers will increase as time elapses.

[33] Tôi nhận ra rằng giáo huấn đưa ra ở đây vừa sâu xa vừa khó hiểu, nhưng một số ít người cần đến giáo huấn này, và số người ấy sẽ gia tăng theo thời gian.

[34] The complexity of the subject is also increased by the fact that each ray holds within its teaching a different approach and a different method for those souls who are found responsive to its peculiar impulse.

[34] Tính phức tạp của chủ đề còn tăng thêm do mỗi cung đều hàm chứa trong giáo huấn của mình một cách tiếp cận khác và một phương pháp khác dành cho những linh hồn đáp ứng với xung lực đặc thù của cung ấy.

Commentary Program 20 - Rule X - 10.4

Hello everybody, and we are beginning with the 20th program, I believe it is, dealing with the rules for the astral plane. We are roughly on page 285.

Xin chào tất cả các bạn. Chúng ta bắt đầu chương trình thứ 20, tôi tin là vậy, bàn về các quy luật dành cho cõi cảm dục. Chúng ta đang ở khoảng trang 285.

Now, what we've dealt with up to this time is the manifestation of the quaternary: the cell life, the sensory life, the mental life, and the vital life. But he says

Cho đến lúc này, chúng ta đã bàn về sự biểu hiện của bộ tứ: sự sống tế bào, sự sống cảm giác, sự sống trí tuệ và sự sống sinh lực. Nhưng Ngài nói:

there are other aspects of humanity which manifest through the objective form and which complete the entire man and make the seven of his manifold objective existence.

còn có những phương diện khác của nhân loại biểu hiện qua hình tướng khách quan, hoàn thiện con người toàn diện và tạo thành bảy phương diện trong sự hiện hữu khách quan đa dạng của con người.

So he adds self-consciousness, self-expression, self-perpetuation, and self-assertion, but they are not in order as he adds them.

Vì vậy, Ngài bổ sung ngã thức, sự tự biểu đạt, sự tự duy trì nòi giống và sự tự khẳng định, nhưng khi bổ sung, Ngài chưa sắp xếp chúng theo thứ tự.

So the next section, which begins here, puts them in order.

Phần tiếp theo, bắt đầu tại đây, sẽ sắp xếp chúng theo thứ tự.

[1] The above enumeration might therefore be arranged in the following order. The table gives man as he is intended to be, and not as he now is in the course of his evolutionary progress.

[1] Vì vậy, phần liệt kê trên có thể được sắp xếp theo thứ tự sau đây. Bảng này trình bày con người như dự định phải trở thành, chứ không phải như hiện trạng của y trong tiến trình tiến hoá.

Let's make a note of that and go through this a little bit as we begin our 20th program.

Chúng ta hãy ghi nhận điều đó và xem xét đôi chút khi bắt đầu chương trình thứ 20.

1. Tự khẳng định (phát triển trọn vẹn)

Tứ phân phối hợp

Trung tâm ở đáy cột sống

Tuyến thượng thận

Self-assertion (full development)

the coordinated quaternary

Centre at base of spine

Adrenals

2. Tự biểu hiện (công việc sáng tạo)

Não dưới

Trung tâm cổ họng

Tuyến giáp

Self-expression (creative work)

Lower brain

Throat centre

Thyroid

3. Sự sống tự ý thức (phàm ngã)

Não trên

Trung tâm đầu

Tuyến tùng

Self-conscious life (personality)

Upper Brain

Head centre

Pineal gland

4. Tự duy trì nòi giống

Cơ quan sinh dục

Trung tâm xương cùng

Các tuyến sinh dục

Self-perpetuation

Sex organs

Sacral centre

Sex glands

5. Sự sống trí tuệ

Hệ thần kinh não-tủy

Trung tâm ajna

Tuyến yên

Mental life

Cerebro-spinal system

Ajna centre

Pituitary

6. Sự sống cảm giác

Hệ thần kinh giao cảm

Tùng thái dương

Tuyến tụy

Sensory life

Sympathetic nervous system

Solar plexus

Pancreas

7. Sự sống tế bào

Dòng máu

Trung tâm tim

Tim

Cell life

Blood stream

Heart centre

Heart

So the first aspect of man, then, is self-assertion, and this is the full development, the coordinated quaternary — the entire personality of the three vehicles plus their union as the personality elemental. This is related to the center at the base of the spine and to the adrenal glands, and we realize that the center at the base of the spine corresponds to the fully developed will, just as the center at the top of the head corresponds to fully developed purpose. So interestingly, the center at the base of the spine is fully activated at the fifth initiation, and begins its real, noticeable, conscious activation at the third degree. Then comes self-expression, or creative work, and the lower brain is there involved. He's giving all the correspondences, the associated organs and systems in the physical body: the throat center, ruled by the third ray principally in the disciple — it is by Saturn now, and no longer by the Earth, and sometimes by Uranus — and the gland involved is the thyroid gland.

Vậy phương diện đầu tiên của con người là sự tự khẳng định, và đây là sự phát triển trọn vẹn, bộ tứ được phối hợp — toàn bộ phàm ngã gồm ba hiện thể cùng sự hợp nhất của chúng thành hành khí phàm ngã. Điều này liên quan đến trung tâm ở đáy cột sống và các tuyến thượng thận. Chúng ta nhận ra rằng trung tâm ở đáy cột sống tương ứng với ý chí phát triển trọn vẹn, cũng như trung tâm ở đỉnh đầu tương ứng với mục đích phát triển trọn vẹn. Điều thú vị là trung tâm ở đáy cột sống hoạt động hoàn toàn vào lần điểm đạo thứ năm, và bắt đầu thực sự hoạt động một cách rõ rệt, hữu thức ở bậc điểm đạo thứ ba. Tiếp đến là sự tự biểu đạt, hay công việc sáng tạo, có sự tham gia của phần dưới bộ não. Ngài đưa ra tất cả các tương ứng, những cơ quan và hệ thống liên đới trong thể xác: trung tâm cổ họng, chủ yếu do cung ba cai quản ở người đệ tử — hiện nay do Sao Thổ cai quản, không còn do Trái Đất, và đôi khi do Sao Thiên Vương — còn tuyến liên quan là tuyến giáp.

Then comes the self-conscious life, which is the life of the personality, and the upper brain is involved here, the head center, and the pineal gland — interestingly, so you kind of wonder whether these are in exact order, as the pineal gland is associated with the soul. Next comes self-perpetuation: the sex organs are involved and the sacral center. The sex glands are the glands involved, the gonads and the ovaries. Interestingly, he follows this with the mental life, and the sacral center is actually the seat of the mental elemental at first, and later its controlling center is, I suppose, the ajna center, or to some extent the throat center.

Tiếp đến là sự sống có ngã thức, tức sự sống của phàm ngã, và ở đây có sự tham gia của phần trên bộ não, trung tâm đầu và tuyến tùng. Điều thú vị là điều này khiến chúng ta phần nào tự hỏi liệu chúng có theo đúng thứ tự hay không, vì tuyến tùng liên hệ với linh hồn. Tiếp đến là sự tự duy trì nòi giống: có sự tham gia của các cơ quan sinh dục và trung tâm xương cùng. Các tuyến liên quan là tuyến sinh dục, tinh hoàn và buồng trứng. Điều thú vị là sau đó Ngài nói đến sự sống trí tuệ; thực ra, ban đầu trung tâm xương cùng là nơi ngự của hành khí trí tuệ, và về sau, tôi cho rằng trung tâm kiểm soát nó là trung tâm ajna, hoặc ở một mức độ nào đó là trung tâm cổ họng.

The mental life, and this is the cerebrospinal nervous system, which deals with voluntary actions — the will is involved, and one can consciously control within the cerebrospinal system. He calls it the ajna center as the controlling center, and the pituitary, we realize, is involved.

Sự sống trí tuệ tương ứng với hệ thần kinh não tuỷ, đảm trách những hành động chủ ý — có sự tham gia của ý chí, và người ta có thể kiểm soát hữu thức trong phạm vi hệ não tuỷ. Ngài gọi trung tâm kiểm soát là trung tâm ajna, và chúng ta nhận ra có sự tham gia của tuyến yên.

Then the sensory life, the sympathetic nervous system, and the solar plexus — the pancreas is involved here regarding the sympathetic nervous system. Let's just say it's part of the autonomic nervous system, the part of the vertebrate nervous system that innervates smooth and cardiac muscle and glandular tissue and governs involuntary actions, such as secretion and peristalsis, and that consists of the sympathetic and the parasympathetic nervous systems. They oftentimes contradict each other. The sympathetic nervous system is one of the two major divisions of the autonomic nervous system, the other being the parasympathetic.

Tiếp đến là sự sống cảm giác, hệ thần kinh giao cảm và tùng thái dương — ở đây tuyến tuỵ có liên quan đến hệ thần kinh giao cảm. Đây là một phần của hệ thần kinh tự chủ, phần thuộc hệ thần kinh động vật có xương sống chi phối cơ trơn, cơ tim và mô tuyến, điều khiển những hoạt động không chủ ý như sự tiết dịch và nhu động, và gồm hệ thần kinh giao cảm cùng hệ thần kinh đối giao cảm. Chúng thường tác động trái ngược nhau. Hệ thần kinh giao cảm là một trong hai phân hệ chính của hệ thần kinh tự chủ; phân hệ còn lại là hệ đối giao cảm.

The sympathetic nervous system's primary process is to stimulate the body's flight-or-fight response. It is, however, constantly active at a basic level to maintain homeostasis, homeodynamics. The sympathetic nervous system is described as complementary to the parasympathetic nervous system, which stimulates the body to, as it says here, feed and breed, and then rest and digest.

Chức năng chủ yếu của hệ thần kinh giao cảm là kích thích đáp ứng bỏ chạy hoặc chiến đấu của cơ thể. Tuy nhiên, nó liên tục hoạt động ở mức cơ bản để duy trì cân bằng nội môi, cân bằng động nội môi. Hệ thần kinh giao cảm được mô tả là bổ sung cho hệ thần kinh đối giao cảm, vốn kích thích cơ thể, như ở đây nói, ăn uống và sinh sản, rồi nghỉ ngơi và tiêu hoá.

As far as the cerebrospinal nervous system — the portion of the nervous system in vertebrates comprising the brain, cranial nerves, spinal cord, and spinal nerves — it is concerned with the transmission of impulses from sense organs to the voluntary muscles. So we see it's not subconscious, as is the autonomic nervous system; the will is involved, the voluntary muscles. We can, at will, move these muscles.

Còn hệ thần kinh não tuỷ — phần thuộc hệ thần kinh động vật có xương sống gồm bộ não, các dây thần kinh sọ, tuỷ sống và các dây thần kinh tuỷ — liên quan đến việc truyền xung động từ các cơ quan cảm giác đến các cơ vận động chủ ý. Như vậy, chúng ta thấy nó không hoạt động dưới ngưỡng ý thức như hệ thần kinh tự chủ; có sự tham gia của ý chí và các cơ vận động chủ ý. Chúng ta có thể vận động những cơ này theo ý muốn.

So: sensory life, the sympathetic nervous system, the solar plexus; and finally, the cell life — the bloodstream, the heart center is the center, and the organ is the heart, though not technically a gland. The thymus gland, I would suspect, is the gland to be looking at. All of this is quite technical, and is useful to us to a certain degree. So we have to read these two tabulations of eight.

Vậy: sự sống cảm giác, hệ thần kinh giao cảm, tùng thái dương; và cuối cùng là sự sống tế bào — dòng máu, trung tâm tương ứng là trung tâm tim, còn cơ quan là trái tim, dù xét về chuyên môn, tim không phải một tuyến. Tôi ngờ rằng tuyến ức mới là tuyến cần xem xét. Tất cả điều này khá chuyên môn và hữu ích cho chúng ta ở một mức độ nhất định. Vì vậy, chúng ta phải đọc hai bảng gồm tám mục này.

Here, for the cell life, the thymus gland is mentioned; for the vital life, it's included, but below the vital life it's not included — no, but it could be.

Ở đây, đối với sự sống tế bào, tuyến ức được nhắc đến; đối với sự sống sinh lực, tuyến này có được đưa vào, nhưng bên dưới sự sống sinh lực thì không — không, nhưng có thể đưa vào.

The eighth point, and he's discussing it now —

Điểm thứ tám, và giờ đây Ngài đang bàn về nó —

[2] the eighth point, the vital life, functioning through the seven centres and a whole system of lesser chakras and the nadis, which underlie the nerves and are the cause of their existence, as the centres are of the glands.

[2] Điểm thứ tám, sự sống sinh lực, hoạt động qua bảy trung tâm cùng toàn bộ hệ thống các luân xa nhỏ và những đường dẫn sinh lực (nằm bên dưới các dây thần kinh và là nguyên nhân tồn tại của chúng, cũng như các trung tâm là nguyên nhân tồn tại của

Note that the nadis are the cause of the nerves, as the centers are the cause, the substanding cause, of the glands.

Hãy lưu ý rằng các đường dẫn sinh lực là nguyên nhân của các dây thần kinh, cũng như các trung tâm là nguyên nhân, nguyên nhân nền tảng, của các tuyến.

So,

Vậy,

[3] the vital life is the medium of many forces and energies, some purely physical, others related to the Anima Mundi, the World Soul, and others unknown as yet, because they will only make their presence felt later in the evolutionary programme.

[3] các tuyến), là trung gian của nhiều mãnh lực và năng lượng—một số thuần tuý thuộc hồng trần, những loại khác liên hệ với Linh Hồn Thế Giới, và những loại khác nữa hiện vẫn chưa được biết đến, vì chỉ về sau trong chương trình tiến hoá, người ta mới cảm nhận được sự hiện diện của chúng.

This tells us that the vital body can carry all kinds of energies — that's the point.

Điều này cho chúng ta biết rằng thể sinh lực có thể chuyên chở đủ loại năng lượng — đó là điểm chính.

[4] They will then express divinity, the energy of the Father, or the highest aspect.

[4] Khi ấy, chúng sẽ biểu lộ thiên tính, năng lượng của Ngôi Cha hay phương diện cao nhất.

So we can expect that our vital life will carry the energy of the soul, and will also carry later the energy of the monad, and points beyond, I suppose. If a mayavirupa is created by a master, higher factors within the Planetary Logos will be expressed.

Vì vậy, chúng ta có thể trông đợi sự sống sinh lực của mình chuyên chở năng lượng linh hồn, và về sau cũng sẽ chuyên chở năng lượng chân thần, cùng những cấp cao hơn nữa, tôi cho là vậy. Nếu một Chân sư tạo ra một huyễn thân, những yếu tố cao hơn bên trong Hành Tinh Thượng đế sẽ biểu lộ.

So this is all a little bit intricate and quite medical, and we'd have to sort it out step by step, because it tells us this is man as he is intended to be. Supposedly we're moving down the scale somewhat, although it's hard to see self-perpetuation above the mental life.

Tất cả điều này hơi phức tạp và khá đậm tính y học; chúng ta phải làm sáng tỏ từng bước, vì ở đây trình bày con người theo trạng thái mà con người được định hướng trở thành. Có lẽ chúng ta đang phần nào đi xuống theo thang bậc, dù khó thấy vì sao sự tự duy trì nòi giống lại ở trên sự sống trí tuệ.

[5] It should be noted that the above tabulation pictures the second ray unfoldment

[5] Cần lưu ý rằng bảng trên mô tả sự khai mở của cung hai,

— I suppose what this means is the unfoldment according to consciousness —

— tôi cho rằng điều này có nghĩa là sự khai mở theo tâm thức —

[6] and also that the self referred to is the self-realisation of the spiritual man.

[6] và cũng cần lưu ý rằng cái ngã được đề cập đến là sự tự chứng nghiệm của con người tinh thần.

So let's look at that again: there's self-assertion, the assertion of the spiritual man; there's self-expression, the expression of the spiritual man; there is self-conscious life, although he does specify the personality; and when he talks about self-perpetuation, we realize that the self involved is not exactly the self which is the spiritual man. So he says the self referred to is the self-realization of the spiritual man, and I would say mostly.

Vậy chúng ta hãy xem lại: có sự tự khẳng định, tức sự khẳng định của con người tinh thần; có sự tự biểu đạt, tức sự biểu đạt của con người tinh thần; có sự sống có ngã thức, dù Ngài nói rõ đó là phàm ngã; và khi Ngài nói đến sự tự duy trì nòi giống, chúng ta nhận ra rằng cái ngã liên quan không hẳn là cái ngã vốn là con người tinh thần. Vì vậy, Ngài nói cái ngã được nói đến là sự tự chứng nghiệm của con người tinh thần, và tôi cho rằng phần lớn là như vậy.

[7] The lowest aspect of the vital life of God is the perpetuation of the species,

[7] Phương diện thấp nhất của sự sống sinh lực của Thượng đế là

and in our tabulation here it's not exactly listed at the bottom, but near the bottom.

và trong bảng ở đây, nó không hẳn nằm dưới cùng, mà gần dưới cùng.

[8] The perpetuation of the species — this is the result of the livingness of the incarnated Life.

[8] sự duy trì nòi giống, và đây là kết quả của sức sống nơi Sự Sống đã nhập thể;

This is the real cause of self-perpetuation, and about this, and a kind of an eternal, immortal, living aspect that is carried in the sperm, Blavatsky deals in some of her writings.

Đây là nguyên nhân thực sự của sự tự duy trì nòi giống. Trong một số tác phẩm, Bà Blavatsky bàn về điều này, và về một phương diện sống động, vĩnh cửu, bất tử nào đó được chuyên chở trong tinh trùng.

[9] And the next is simply expressive of the stage when the "I" consciousness is dominant and has reached its consummation in the completed personality.

[9] còn phương diện kế tiếp chỉ biểu lộ giai đoạn mà tâm thức “Tôi” chiếm ưu thế và đạt đến sự viên mãn trong phàm ngã hoàn chỉnh.

This is the personality phase — the self-conscious life. Self-perpetuation, however, is listed below that particular category.

Đây là giai đoạn phàm ngã — sự sống có ngã thức. Tuy nhiên, sự tự duy trì nòi giống được liệt kê bên dưới phạm trù ấy.

[10] Then comes the expression of the indwelling self, hidden by the personality, through its creative activity of a non-physical character.

[10] Tiếp đó là sự biểu lộ của bản ngã nội tại, vốn bị phàm ngã che khuất, thông qua hoạt động sáng tạo mang tính phi hồng trần của nó. Cuối cùng, chúng ta

We might say this is the creative activity of the soul. Finally, at the top of the eight, we have

Chúng ta có thể nói đây là hoạt động sáng tạo của linh hồn. Cuối cùng, ở vị trí cao nhất trong tám mục, chúng ta có

[11] the assertion, or full manifestation, of the divine nature. This, curiously enough, can only occur

[11] có sự khẳng định hay biểu hiện trọn vẹn của bản chất thiêng liêng.

— and it is curious, because we consider the base of the spine as a relatively low center, though it is present and active, and necessarily sustaining, in the earlier parts of human evolution, when these divine manifestations through the mechanism are not at all possible. So

— và quả là kỳ lạ, vì chúng ta xem đáy cột sống là một trung tâm tương đối thấp, dù nó hiện diện, hoạt động và tất yếu duy trì sự sống trong những giai đoạn đầu của tiến hoá nhân loại, khi những biểu hiện thiêng liêng này qua bộ máy hoàn toàn chưa thể xảy ra. Vậy

[12] this curiously enough can only occur when the lower spinal centre is aroused, when the energy of the material nature is carried by an act of the will up into Heaven

[12] Điều khá lạ lùng là điều này chỉ có thể xảy ra khi trung tâm thấp nhất ở cột sống được khơi dậy, khi năng lượng của bản chất vật chất được đưa lên Thiên Giới bằng một hành động của ý chí,

— and you know what, we call this the rising of the kundalini at the fifth initiation, quite totally then up to the top of the head —

— và các bạn biết đấy, chúng ta gọi đây là sự dâng lên của luồng hoả xà vào lần điểm đạo thứ năm, khi ấy dâng hoàn toàn lên đến đỉnh đầu —

[13] and when therefore the entire nature, material, sensitive or psychic, and the existence aspect, are unified and realised.

[13] và do đó khi toàn bộ bản chất—vật chất, cảm thụ hay thông linh, cùng phương diện hiện tồn—được hợp nhất và chứng nghiệm.

So this is the consummation of the process.

Vậy đây là sự viên mãn của tiến trình.

[14] Meditate upon these words, for they connote the consummation as far as humanity is concerned.

[14] Hãy tham thiền về những lời này, vì chúng hàm chứa sự viên mãn xét trong phạm vi nhân loại.

One of the things that's interesting here in this second tabulation, where he talks about man as he should be, is that the factors relating to the self are the higher four, and the lower four seem to be more involved with the personality elementals: mental life, sensory life involving the solar plexus and the astral body, and cell life involving the physical body. As far as the vital body goes, it's not in the enumeration, but then he takes it up as pervading, in a way, the entirety, and offering the opportunity for greater aspects of divinity to permeate this particular system. He does begin to rise from the time he talks about it, from self-perpetuation upward to the self-conscious life, and the personality, in a way, is divine — it is an expression of the soul.

Một điều thú vị ở bảng thứ hai này, nơi Ngài nói về con người như con người phải trở thành, là những yếu tố liên quan đến cái ngã nằm trong bốn mục cao hơn, còn bốn mục thấp hơn dường như liên quan nhiều hơn đến các hành khí phàm ngã: sự sống trí tuệ, sự sống cảm giác liên quan đến tùng thái dương và thể cảm dục, cùng sự sống tế bào liên quan đến thể xác. Còn thể sinh lực không nằm trong danh mục, nhưng sau đó Ngài bàn đến nó như phần thấm khắp toàn bộ, theo một nghĩa nào đó, và tạo cơ hội cho những phương diện cao hơn của thiên tính thấm nhuần hệ thống này. Ngài thực sự bắt đầu đi lên từ lúc nói đến nó, từ sự tự duy trì nòi giống lên sự sống có ngã thức; và theo một nghĩa nào đó, phàm ngã là thiêng liêng — nó là một biểu lộ của linh hồn.

And then we have the self-expression rising, and that is a creative soul work. And finally, self-assertion, the will of the soul — the full development, the completely integrated personality coordinated with the soul, and the center at the base of the spine active, bringing about (maybe in a mayavirupa, but certainly from the time of the third degree) that integration of the personality, the soul, and even the spirit. So this has to be closely studied, because he's not exactly showing the glands in the order that you would expect to find them.

Rồi chúng ta có sự tự biểu đạt vươn lên, và đó là công việc sáng tạo của linh hồn. Cuối cùng là sự tự khẳng định, ý chí của linh hồn — sự phát triển trọn vẹn, phàm ngã tích hợp hoàn toàn được phối hợp với linh hồn, và trung tâm ở đáy cột sống hoạt động, tạo nên sự tích hợp phàm ngã, linh hồn và cả tinh thần nữa, có lẽ trong một huyễn thân, nhưng chắc chắn từ bậc điểm đạo thứ ba. Vì vậy, cần nghiên cứu kỹ điều này, bởi Ngài không hẳn trình bày các tuyến theo thứ tự mà các bạn dự kiến.

It's interesting, because the pineal gland is one of the highest, but then, as we ascend, it's followed by the thyroid gland and the throat center, which is not compared to the head center, an especially high center — it's tertiary. And then we start descending to the adrenals, which are connected with the base of the spine, in order for the entire coordination to occur. So this is intricate, I admit, and requires that we really go through it in a detailed manner.

Điều thú vị là tuyến tùng thuộc hàng cao nhất, nhưng khi chúng ta đi lên, sau nó lại là tuyến giáp và trung tâm cổ họng, vốn không phải một trung tâm đặc biệt cao nếu so với trung tâm đầu — nó thuộc bậc ba. Rồi chúng ta bắt đầu đi xuống các tuyến thượng thận, liên kết với đáy cột sống, để toàn bộ sự phối hợp có thể diễn ra. Tôi thừa nhận điều này phức tạp và đòi hỏi chúng ta thực sự xem xét tỉ mỉ.

This is just setting forth and trying to point out a few things. But eventually we should be the completely spiritual being, or spirit being, and we assert ourselves through the dominant will, eventually, of the monad. That is our full development. When the monad is involved, we can connect the center at the base of the spine quite completely with the great head center — now, that's the fifth initiation.

Ở đây tôi chỉ trình bày và cố gắng nêu ra vài điều. Nhưng cuối cùng, chúng ta phải trở thành một sinh linh hoàn toàn tinh thần, hay một sinh linh của tinh thần, và chúng ta tự khẳng định qua ý chí chủ đạo, cuối cùng là ý chí của chân thần. Đó là sự phát triển trọn vẹn của chúng ta. Khi có sự tham gia của chân thần, chúng ta có thể liên kết khá hoàn toàn trung tâm ở đáy cột sống với trung tâm đầu vĩ đại — đó là lần điểm đạo thứ năm.

But at the sixth initiation, to what extent is this enhanced? And at the seventh, even though we would be dealing largely at that point with mayavirupas. All right, now let's go on — it's a little bit different from the technicalities we've just been involved in.

Nhưng ở lần điểm đạo thứ sáu, điều này được tăng cường đến mức nào? Và ở lần thứ bảy nữa, dù đến lúc ấy, chúng ta chủ yếu sẽ bàn đến các huyễn thân. Bây giờ chúng ta hãy tiếp tục — phần này hơi khác những chi tiết chuyên môn vừa bàn.

DK advises us regarding these technicalities to meditate upon these words, for they connote the consummation as far as humanity is concerned. Now, this is interesting, because it is said in Rule Six of the Chohans — it is said in Rule Six — that they are no longer men as are the Masters.

Về những chi tiết chuyên môn này, Chân sư DK khuyên chúng ta tham thiền về những lời ấy, vì chúng hàm chứa sự viên mãn xét trong phạm vi nhân loại. Điều này thú vị, bởi trong Quy luật Sáu dành cho các Đấng Chohan — trong Quy luật Sáu có nói — Các Ngài không còn là con người như các Chân sư.

This is very interesting, because what we've been looking at is a kind of tabulation and enumeration which is a consummation for humanity, that is, for human beings. Maybe he considers chohans something a little different, higher than the human being. So I'm going to enlarge this little section so that it comes to our attention: they are no longer men as are the Masters. Good.

Điều này rất thú vị, vì những gì chúng ta đang xem xét là một dạng bảng biểu và danh mục thể hiện sự viên mãn của nhân loại, tức của con người. Có lẽ Ngài xem các Đấng Chohan là điều gì đó hơi khác, cao hơn con người. Vì vậy, tôi sẽ phóng to phần nhỏ này để chúng ta chú ý: Các Ngài không còn là con người như các Chân sư.

Now let's go on to a different sequence, which can be used in various ways.

Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang một chuỗi khác, có thể vận dụng theo nhiều cách.

[15] The occult aphorism: "To will, to know, to dare, and to be silent", has a special significance not hitherto revealed, and at which it is only possible for me to hint. Those of you who have the inner knowledge will comprehend at once.

[15] Cách ngôn huyền bí: “Quyết chí, hiểu biết, dám làm và giữ im lặng”, có một thâm nghĩa đặc biệt cho đến nay chưa được tiết lộ, và Tôi chỉ có thể gợi ý về điều đó. Những ai trong các bạn có tri thức nội tại sẽ lĩnh hội ngay.

[16] To Will. These words relate to the ultimate achievement, when, by an act of the combined will of the soul and of the lower man, unification and realisation are brought about. It concerns the centre at the base of the spine.

[16] Quyết chí. Những lời này liên hệ đến thành tựu tối hậu, khi một hành động của ý chí kết hợp giữa linh hồn và phàm nhân đem lại sự hợp nhất và chứng nghiệm. Điều này liên quan đến trung tâm ở đáy cột sống.

This ultimately will concern — and this is why he's mentioning it in relation to the consummation of which he speaks immediately above — the consummation for humanity, which does not include the Chohan, who is certainly no longer a member of the human kingdom. He's a member of the kingdom of souls; in fact, he is a member of the planetary lives.

Rốt cuộc, điều này sẽ liên quan đến sự viên mãn của nhân loại — và đó là lý do Ngài nhắc đến nó trong mối liên hệ với sự viên mãn vừa nói ngay phía trên — không bao gồm Đấng Chohan, vì Ngài chắc chắn không còn là thành viên của giới nhân loại. Ngài là thành viên của giới linh hồn; thực ra, Ngài thuộc Các Sự Sống Hành tinh.

So this ultimately will concern the fifth initiation. To Will — now, there's more to it than just the will of the soul, and we'll discuss that in a minute. He's relating these to the different chakras, and as said, the base-of-spine center relates to the will, whereas the great head center relates to purpose. And interestingly, Atma is will, and is the fifth plane from below, and purpose is discovered through the monad, which resides in its vehicle on the sixth subplane from below.

Vậy rốt cuộc, điều này sẽ liên quan đến lần điểm đạo thứ năm. Dùng Ý Chí — ở đây không chỉ có ý chí của linh hồn, và lát nữa chúng ta sẽ bàn về điều đó. Ngài liên hệ những điều này với các luân xa khác nhau; như đã nói, trung tâm đáy cột sống liên quan đến ý chí, còn trung tâm đầu vĩ đại liên quan đến mục đích. Điều thú vị là atma chính là ý chí, và là cõi thứ năm tính từ dưới lên; còn mục đích được khám phá qua chân thần, vốn ngự trong hiện thể của mình trên cõi phụ thứ sáu tính từ dưới lên.

So here, the will, the spiritual will, resides through Atma. Of course, it really gets it from the monad, but we can speak of the will on the atmic plane and in relation to the master. When it comes to purpose, the idea is that aligning the highest head center and the base of the spine involves these two planes: purpose resides with the monad on the sixth subplane from below, or the second from above, and must relate to Atma, which relates to the center at the base of the spine, the third from above, or the fifth from below.

Vậy ở đây, ý chí, ý chí tinh thần, hiện diện qua atma. Dĩ nhiên, thực sự ý chí ấy bắt nguồn từ chân thần, nhưng chúng ta có thể nói về ý chí trên cõi atma và trong mối liên hệ với Chân sư. Về mục đích, ý tưởng ở đây là việc chỉnh hợp trung tâm đầu cao nhất với đáy cột sống có liên quan đến hai cõi này: mục đích ngự nơi chân thần trên cõi phụ thứ sáu từ dưới lên, hay thứ hai từ trên xuống, và phải liên hệ với atma, vốn liên quan đến trung tâm ở đáy cột sống, ở cõi thứ ba từ trên xuống, hay thứ năm từ dưới lên.

And remember, we're dealing with the material aspect of man when we deal with the kundalini — it's the complete rising of the kundalini through the direction of the spiritual, or atmic, will. And he has told us also that the ajna center is involved in this. Interestingly, the ajna center usually carries a very strong fifth ray, and also first ray — of course, it's a center looked at variously, which carries all the rays, especially if we consider the ajna center of the astral vehicle. All the rays are found manifesting through the ajna center. So this atmic development relates to the base of the spine, and the understanding of purpose through the monad relates to the highest head center.

Hãy nhớ rằng khi bàn về luồng hoả xà, chúng ta đang bàn về phương diện vật chất của con người — đó là sự dâng lên trọn vẹn của luồng hoả xà dưới sự chỉ đạo của ý chí tinh thần, hay ý chí atma. Ngài cũng đã cho chúng ta biết rằng trung tâm ajna có tham gia vào việc này. Điều thú vị là trung tâm ajna thường chuyên chở cung năm rất mạnh, và cả cung một nữa — dĩ nhiên, trung tâm này được xem xét theo nhiều cách, và chuyên chở tất cả các cung, nhất là nếu chúng ta xét trung tâm ajna của hiện thể cảm dục. Tất cả các cung đều biểu hiện qua trung tâm ajna. Vậy sự phát triển atma này liên quan đến đáy cột sống, còn sự thấu hiểu mục đích qua chân thần liên quan đến trung tâm đầu cao nhất.

So, to will — is it simply the will of the soul, or is the will of the monad also involved? This is something we have to consider.

Vậy dùng ý chí — đó chỉ là ý chí của linh hồn, hay có cả ý chí của chân thần tham gia? Đây là điều chúng ta phải xem xét.

[18] To Know. These words concern the ajna center.

[18] Hiểu biết. Những lời này liên quan đến trung tâm ajna,

It's interesting that the faculty of all knowledge is found upon the atmic plane, on its third sub-level.

Điều thú vị là năng lực toàn tri nằm trên cõi atma, ở cõi phụ thứ ba của cõi này.

[19] the centre between the eyebrows. A hint lies in the words, "Let the Mother know the Father." It has relation to the marriage in the Heavens.

[19] trung tâm giữa hai chân mày. Một gợi ý nằm trong lời “Hãy để Mẹ biết Cha”. Điều này liên hệ đến cuộc hôn phối trên Thiên Giới.

So in one sense we are speaking of the marriage of Vulcan with Venus, and of the head center with the ajna center.

Vậy theo một nghĩa, chúng ta đang nói về cuộc hôn phối giữa Vulcan và Sao Kim, giữa trung tâm đầu và trung tâm ajna.

Let's say that Atma is the height of the brahmic aspect — the lower five planes of the cosmic physical plane, the normal systemic planes. So let the monad unite with the brahmic aspect headed by Atma. This is another way of looking at the idea of "let the Father know the Mother," because interestingly enough, Brahma, though a male deity, is often associated with the third aspect, which can be considered feminine from a certain point of view.

Atma là đỉnh cao của phương diện Brahma — năm cõi thấp của cõi hồng trần vũ trụ, những cõi thông thường thuộc hệ mặt trời. Vậy hãy để chân thần hợp nhất với phương diện Brahma do atma đứng đầu. Đây là một cách nhìn khác về ý tưởng “hãy để Cha biết Mẹ”, vì điều khá thú vị là Brahma, dù là một nam thần, thường gắn với phương diện thứ ba, vốn có thể được xem là nữ tính từ một góc nhìn nhất định.

In the Kabbalah, it is also so — it's not called Brahma, it's called Bina, but it's pretty close, isn't it? When you think about the Sanskrit way of considering this, and then also the Hebrew way, it looks like maybe the Hebrew is derived somewhat from the Sanskrit. We are told in the doctrine that Abraham and his group originated in India and wandered from India, and that he was not a brahman, because the privative "a" is there — Abram, not a brahman.

Trong giáo lý huyền bí Do Thái cũng vậy — không gọi là Brahma mà là Bina, nhưng khá gần nhau, phải không? Khi suy ngẫm về cách nhìn nhận điều này trong truyền thống Phạn ngữ, rồi cả truyền thống Do Thái, dường như truyền thống Do Thái có phần bắt nguồn từ truyền thống Phạn ngữ. Giáo lý cho chúng ta biết rằng Abraham và nhóm của ông có nguồn gốc ở Ấn Độ và đã rời Ấn Độ đi lưu lạc, và ông không phải người thuộc đẳng cấp tư tế, vì có tiền tố phủ định “a” — Abram, không phải người thuộc đẳng cấp tư tế.

So the Hebrew group wandered from India. It's not too surprising, then, to think of the Kabbalah as somewhat derivative from the Sanskrit knowledge derived in India. Of course, from another perspective, it is said that the Old Testament is the summation of the wisdom of the previous solar system. So did that exist in India? Maybe. The personality sign of India is Capricorn — I don't know if it's always been that, because those signs can change, but it's got an Aries soul and Capricorn personality, and down the ages it's been a battlefield, with Mars exalted in Capricorn.

Vậy nhóm người Do Thái đã rời Ấn Độ đi lưu lạc. Do đó, không quá ngạc nhiên khi nghĩ rằng giáo lý huyền bí Do Thái phần nào phát sinh từ tri thức Phạn ngữ ở Ấn Độ. Dĩ nhiên, từ một góc nhìn khác, người ta nói Cựu Ước là sự tổng kết minh triết của hệ mặt trời trước. Vậy minh triết ấy đã hiện hữu ở Ấn Độ chăng? Có lẽ. Dấu hiệu phàm ngã của Ấn Độ là Ma Kết — tôi không biết có phải luôn như vậy hay không, vì các dấu hiệu ấy có thể thay đổi, nhưng Ấn Độ có linh hồn Bạch Dương và phàm ngã Ma Kết, và qua các thời đại, nơi đây đã là một chiến trường, với Sao Hỏa được tôn vinh trong Ma Kết.

So it makes you think that Capricorn has been there for quite a while. In any case, Capricorn is definitely associated with the Hebrew group — Capricorn and Virgo — and with the third ray very prominently, and thus with the previous solar system, even though the rays of India are given as one and four. Interestingly, the first ray associates keenly with Aries, as the major ray coming through Aries, but the third ray, which is so prominent for the Hebrews, is found in Capricorn, but not in the soul ray or the personality ray of India, which is the fourth ray. So the fourth ray is not associated with Capricorn, whereas the rays of the Hebrews, one and three, are much associated with Capricorn. A little bit of a digression.

Điều đó khiến chúng ta nghĩ rằng Ma Kết đã hiện diện ở đó khá lâu. Dù sao, Ma Kết chắc chắn liên hệ với nhóm người Do Thái — Ma Kết và Xử Nữ — và rất nổi bật với cung ba, do đó với hệ mặt trời trước, dù các cung của Ấn Độ được nêu là một và bốn. Điều thú vị là cung một liên hệ mật thiết với Bạch Dương, là cung chính truyền qua Bạch Dương, nhưng cung ba, vốn rất nổi bật đối với người Do Thái, lại hiện diện trong Ma Kết, chứ không trong cung linh hồn hay cung phàm ngã của Ấn Độ, vốn là cung bốn. Vậy cung bốn không gắn với Ma Kết, trong khi các cung của người Do Thái, một và ba, lại liên hệ rất nhiều với Ma Kết. Hơi lạc đề một chút.

Will we ever get through this? To will, to know, to dare, and to be silent.

Liệu chúng ta có bao giờ đi hết phần này không? Dùng ý chí, biết, dám và im lặng.

To Know. These words concern the Ajna Centre,

Biết. Những lời này liên quan đến Trung Tâm Ajna,

From one respect, humanity is the Ajna Center within a larger solar system, and certainly the New Group of World Servers, as a subset within humanity, occupies the Ajna Center of Sanat Kumara.

Theo một phương diện, nhân loại là Trung Tâm Ajna trong một hệ mặt trời lớn hơn, và chắc chắn Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, với tư cách một tập hợp con trong nhân loại, giữ vị trí Trung Tâm Ajna của Sanat Kumara.

The centre between the eyebrows— the hint lies in the words, let the mother know the father. It's an integration between the spirit aspect and the matter aspect, and the son will be produced. It has relation to the marriage in the heavens. There are various ways of interpreting it, and I'm trying to offer some of these.

Trung tâm giữa hai chân mày— có một gợi ý trong những lời: hãy để mẹ biết cha. Đây là sự tích hợp giữa phương diện tinh thần và phương diện vật chất, và người con sẽ ra đời. Điều này liên quan đến cuộc hôn phối trên Thiên Giới. Có nhiều cách diễn giải, và tôi đang cố gắng đưa ra một vài cách trong số đó.

[20] To Dare. These words give the clue to the subordination of the personality

[20] Dám làm. Những lời này đưa ra manh mối về việc đặt phàm ngã vào vị trí phục tùng,

— I suppose by the will of the soul, and especially if the higher will is added, is also involved.

— tôi cho rằng dưới ý chí của linh hồn, và nhất là nếu ý chí cao hơn được bổ sung thì ý chí ấy cũng tham gia.

[21] and have a close connection with the solar plexus,

[21] và có mối liên hệ mật thiết với tùng thái dương,

ruled by Mars, a planet of daring, certainly.

do Sao Hỏa cai quản, chắc chắn là một hành tinh của sự dám làm.

[22] the great clearinghouse of desire and of the astral forces, and also the main centre of the transmutative work,

[22] trạm thanh lọc lớn của dục vọng và các mãnh lực cảm dục, đồng thời cũng là trung tâm chính của công việc chuyển hoá.

and I would add here, through aspiration — he tells us that aspiration is not simply an emotional attitude, it is a scientific means of elevation.

và ở đây tôi muốn bổ sung: qua khát vọng — Ngài cho chúng ta biết khát vọng không chỉ là một thái độ cảm xúc, mà là một phương tiện nâng cao mang tính khoa học.

And then,

Và rồi,

[23] To be silent. This phrase relates to the transmutation of the lower creative energy into the higher creative life. The sacral centre has to relapse into silence.

[23] Giữ im lặng. Cụm từ này liên hệ đến sự chuyển hoá năng lượng sáng tạo thấp thành sự sống sáng tạo cao. Trung tâm xương cùng phải trở về trạng thái im lặng.

This is a new type of interpretation for this sequence, and basically the lower elementals display occult obedience and silence in the face of higher will and knowledge.

Đây là một kiểu diễn giải mới cho chuỗi này, và về căn bản, các hành khí thấp biểu lộ sự tuân phục huyền bí cùng sự im lặng trước ý chí và tri thức cao hơn.

[24] It will be seen that for the disciple the following centres are of paramount importance.

[24] Như vậy, có thể thấy rằng đối với đệ tử, các trung tâm sau đây có tầm quan trọng hàng đầu:

Now let's just review a little bit what we've done. To Will: he talks about the will of the soul, and if all of us could indeed conform to the will of the soul, we would be much more in alignment with our higher principles. But there's more to it, because to will can eventually extend from the spirit life, or the Monadic life, from the will of the Triad, the spiritual will, and even from the will of the monad, which carries purpose.

Bây giờ chúng ta hãy ôn lại đôi chút những gì đã làm. Dùng Ý Chí: Ngài nói đến ý chí của linh hồn, và nếu tất cả chúng ta thực sự có thể tuân theo ý chí của linh hồn, chúng ta sẽ chỉnh hợp hơn nhiều với các nguyên khí cao hơn của mình. Nhưng không chỉ có thế, vì rốt cuộc việc dùng ý chí có thể vươn ra từ sự sống tinh thần, hay sự sống chân thần, từ ý chí của Tam nguyên tinh thần, ý chí tinh thần, và thậm chí từ ý chí của chân thần, vốn chuyên chở mục đích.

Now, to know — what faculty within us, what vehicle, which one of the three periodical vehicles is involved there? Is this really a personality factor? Does this involve the higher mind, perhaps? If it does, it involves the soul — the soul is the Knower. The soul is the representative of the consciousness aspect. So from a certain point of view we can see that will represents the monad, and an aspect of the Triad, and to know represents an aspect of the Triad and what we usually call the soul consciousness in the causal body — that's where the real knowing takes place.

Còn biết — năng lực nào bên trong chúng ta, hiện thể nào, hiện thể nào trong ba hiện thể có tính chu kỳ tham gia vào đây? Đây có thực sự là một yếu tố phàm ngã không? Có lẽ điều này liên quan đến thượng trí chăng? Nếu có, thì nó liên quan đến linh hồn — linh hồn là thức giả. Linh hồn là đại diện của phương diện tâm thức. Vì vậy, từ một góc nhìn nhất định, chúng ta có thể thấy ý chí đại diện cho chân thần và một phương diện của Tam nguyên tinh thần, còn biết đại diện cho một phương diện của Tam nguyên tinh thần và điều chúng ta thường gọi là tâm thức linh hồn trong thể nguyên nhân — đó là nơi sự biết thực sự diễn ra.

Now, when the mind is held steady in the light through meditation, that knowing can enter the personality consciousness, and then, with the soul-infused mind within the personality, the entire personality can be impelled or compelled to dare — to subordinate its usual fears to the higher destiny, which must be achieved as one passes through the usual fear.

Khi thể trí được giữ vững trong ánh sáng qua tham thiền, sự biết ấy có thể đi vào tâm thức phàm ngã; rồi với thể trí được linh hồn thấm nhuần bên trong phàm ngã, toàn bộ phàm ngã có thể được thúc đẩy hoặc buộc phải dám — đặt những nỗi sợ thông thường của nó dưới vận mệnh cao hơn, vốn phải được thành tựu khi người ta vượt qua nỗi sợ thông thường.

So: to will, to know, to dare — because we now have the will of the monad and its extension, the will of the Triad and its extension, and the will of the soul active. Under three types of will, the personality is impelled to acquiesce and to dare: the will of the monad, the will of the Triad through the spiritual will, and the will of the soul within the Egoic Lotus, the causal body. These types of will force the personality to succumb to higher directives.

Vậy: dùng ý chí, biết, dám — vì giờ đây chúng ta có ý chí của chân thần cùng phần mở rộng của nó, ý chí của Tam nguyên tinh thần cùng phần mở rộng của nó, và ý chí của linh hồn đang hoạt động. Dưới ba loại ý chí, phàm ngã được thúc đẩy thuận theo và dám: ý chí của chân thần, ý chí của Tam nguyên tinh thần qua ý chí tinh thần, và ý chí của linh hồn bên trong Hoa Sen Chân Ngã, thể nguyên nhân. Những loại ý chí này buộc phàm ngã quy phục các chỉ thị cao hơn.

Eventually, I suppose there are acts of daring that come out of the personality itself. The kind of daring we're talking about is perhaps more found in the Agni Yoga book, where Master Morya gives a short section he calls the book of daring. That book of daring ends with an act of identification — I'll paraphrase, because I can't remember exactly, but the least of these saluted the shining stars and said, "Hail, brothers." A great act of identification, right? And then, in this salutation of daring, his ego vanished. So I suppose one of the most daring things we can do, rather than the normal daring-do on the physical plane, is to relinquish our lower ego and identify with the greater lives, and ultimately with the Greater Life.

Cuối cùng, tôi cho rằng có những hành động dám làm xuất phát từ chính phàm ngã. Kiểu dám làm chúng ta đang nói đến có lẽ được thấy rõ hơn trong sách Yoga Lửa, nơi Chân sư Morya dành một phần ngắn mà Ngài gọi là sách về sự dám làm. Sách ấy kết thúc bằng một hành động đồng hoá — tôi sẽ diễn ý, vì không nhớ chính xác, nhưng người nhỏ bé nhất trong số họ chào những ngôi sao rực sáng và nói: “Kính chào các huynh đệ.” Một hành động đồng hoá vĩ đại, phải không? Và rồi, trong lời chào dũng cảm ấy, phàm ngã của người ấy tan biến. Vì vậy, tôi cho rằng một trong những điều táo bạo nhất chúng ta có thể làm, thay vì những hành động gan dạ thông thường trên cõi hồng trần, là từ bỏ phàm ngã của mình và đồng hoá với những sự sống lớn hơn, và cuối cùng với Sự sống Vĩ Đại.

And then, finally, to be silent looks like it concerns the chakras within the personality mechanism, especially the sacral center, where, as has been said, we cease reproducing our own kind and begin to reproduce ourselves. There's an occult significance to that, although he says even the Masters do on occasion marry and have children. So it has a lot to do with the sacral center being used deliberately, according to the will and the plan and design, rather than impulsively and instinctively.

Và cuối cùng, im lặng dường như liên quan đến các luân xa bên trong bộ máy phàm ngã, nhất là trung tâm xương cùng, nơi, như đã nói, chúng ta ngừng sinh sản những cá thể cùng loài và bắt đầu tái tạo chính mình. Điều đó có một thâm nghĩa huyền bí, dù Ngài nói rằng ngay cả các Chân sư đôi khi cũng kết hôn và có con. Vì vậy, điều này liên quan rất nhiều đến việc sử dụng trung tâm xương cùng một cách có chủ đích, theo ý chí, Thiên Cơ và thiết kế, thay vì theo xung động và bản năng.

So: to will, monad; to know, soul; to dare, personality, or the acquiescence of the personality in the face of the higher types of will; and to be silent, the ordinarily instinctual tendencies of the lower personality and its chakra system, especially the sacral center, which he considers a temporary evocation and not really part of the system. I suppose the sacral center might disappear if the separation of the sexes were to return to its unified condition, and one day we will be the divine hermaphrodite, just as our Planetary Logos is.

Vậy: dùng ý chí, chân thần; biết, linh hồn; dám, phàm ngã, hay sự thuận theo của phàm ngã trước các loại ý chí cao hơn; và im lặng, những khuynh hướng vốn mang tính bản năng của phàm ngã thấp cùng hệ thống luân xa của nó, nhất là trung tâm xương cùng, mà Ngài xem là một sự gợi lên tạm thời, không thực sự thuộc hệ thống. Tôi cho rằng trung tâm xương cùng có thể biến mất nếu sự phân chia giới tính trở về trạng thái hợp nhất, và một ngày nào đó chúng ta sẽ là sinh linh lưỡng tính thiêng liêng, cũng như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

Hermaphroditism was an early state, and then came the Lemurian separation of the sexes and the experience with all manner of polarity, so that we become adjudicators between the pairs of opposites. And eventually, as we ascend in our spiritual status, we will become again spiritually hermaphroditic, which is oftentimes misinterpreted as a tendency towards homosexuality. I don't think it is that at all — it's something quite higher, and both of the sexes are somehow included within a unity that is the Planetary Logos. I don't know where this divine hermaphroditism begins again. We have been told that the Planetary Logos is the divine hermaphrodite, but maybe it begins even earlier.

Lưỡng tính là một trạng thái ban đầu, rồi đến sự phân chia giới tính thời Lemuria và trải nghiệm đủ mọi dạng phân cực, để chúng ta trở thành những người phân xử giữa các cặp đối cực. Và cuối cùng, khi nâng cao địa vị tinh thần, chúng ta sẽ lại trở nên lưỡng tính về tinh thần, điều thường bị hiểu sai thành khuynh hướng đồng tính luyến ái. Tôi hoàn toàn không nghĩ như vậy — đó là điều cao hơn hẳn, và cả hai giới tính bằng cách nào đó đều được bao gồm trong một sự hợp nhất là Hành Tinh Thượng đế. Tôi không biết trạng thái lưỡng tính thiêng liêng này bắt đầu trở lại ở đâu. Chúng ta đã được cho biết Hành Tinh Thượng đế là sinh linh lưỡng tính thiêng liêng, nhưng có lẽ trạng thái ấy bắt đầu còn sớm hơn.

So let's go on a bit. This is a foundational book, and yet very demanding if we really think carefully about what is being said. I guess the important thing for all of us is to somehow exert the soul will, to fill the mind with light so that there is soul knowledge, and under that knowledge to dare to do that which aligns us with the Divine Plan and purpose, and then for the instinctual and inhibitory or interfering elements of the personality to be subdued, so they do not interfere with the higher process which is meant to work out through them. They are commanded by the will and by intelligence and by love, and not simply by instinctual promptings. One just has to respect Master DK and his knowledge here as one tries to understand these chakras from a deeper point of view.

Vậy chúng ta hãy tiếp tục một chút. Đây là một cuốn sách nền tảng, nhưng cũng rất đòi hỏi nếu chúng ta thực sự suy nghĩ kỹ về những điều được nói đến. Tôi nghĩ điều quan trọng đối với tất cả chúng ta là bằng cách nào đó vận dụng ý chí linh hồn, làm đầy thể trí bằng ánh sáng để có tri thức linh hồn, và dưới sự dẫn dắt của tri thức ấy, dám làm điều chỉnh hợp chúng ta với Thiên Cơ và mục đích thiêng liêng; rồi chế ngự các yếu tố bản năng, kìm hãm hay gây nhiễu của phàm ngã, để chúng không cản trở tiến trình cao hơn vốn phải được thực hiện qua chúng. Chúng chịu sự chỉ huy của ý chí, trí thông tuệ và tình thương, chứ không chỉ của những thôi thúc bản năng. Khi cố gắng thấu hiểu các luân xa này từ một góc nhìn sâu hơn, chúng ta không thể không kính trọng Chân sư DK và tri thức của Ngài ở đây.

It will be seen then that for the disciple the following centres are of paramount importance.

Vậy có thể thấy rằng đối với người đệ tử, các trung tâm sau đây có tầm quan trọng hàng đầu.

[25] 1. The ajna centre, through which the purified personality expresses itself

[25] 1. Trung tâm ajna, qua đó phàm ngã đã thanh luyện biểu lộ.

— this is a synthesis of Brahma, of the lower aspects of, let's say, the third aspect of divinity. All right, so the following centers are of paramount importance.

— đây là sự tổng hợp của Brahma, của các phương diện thấp thuộc phương diện thứ ba của thiên tính. Vậy các trung tâm sau đây có tầm quan trọng hàng đầu.

Let's see if the heart center is somehow listed — I haven't gone down there to see. I would expect it would have to be, but let's just see. To will, to know, to dare, and to be silent — I just want to emphasize that, enlarge it, highlight it.

Hãy xem trung tâm tim có được liệt kê ở đâu đó không — tôi chưa xem xuống phần ấy. Tôi nghĩ hẳn phải có, nhưng chúng ta cứ xem. Dùng ý chí, biết, dám và im lặng — tôi chỉ muốn nhấn mạnh, phóng to và tô sáng điều đó.

So the ajna center — remember, the ajna center came in under knowing. And really, if we look at the human mind, especially the developed human mind, it is not only the throat center, but the ajna center as well, which must be involved to complete that knowing. It's all very Mercurian: the throat center involves very much the third ray, the ajna center first involves the fifth ray, then comes the fourth ray. Those three rays are Mercurian rays — the third ray, ultimate monad, I think; the fourth ray, soul; the fifth ray, sub-monad. The third ray, ultimate monad, and the fourth ray, soul, of Mercury.

Vậy trung tâm ajna — hãy nhớ rằng trung tâm ajna được nêu dưới mục biết. Và thực sự, nếu xem xét thể trí con người, nhất là thể trí đã phát triển, thì không chỉ trung tâm cổ họng mà cả trung tâm ajna cũng phải tham gia để hoàn thiện sự biết ấy. Tất cả đều mang đậm tính Sao Thủy: trung tâm cổ họng liên quan rất nhiều đến cung ba, trung tâm ajna trước hết liên quan đến cung năm, rồi đến cung bốn. Ba cung ấy là các cung của Sao Thủy — cung ba, chân thần tối hậu, tôi nghĩ vậy; cung bốn, linh hồn; cung năm, chân thần phụ. Cung ba, chân thần tối hậu, và cung bốn, linh hồn, của Sao Thủy.

So I want to put here a note to check the rays of Mercury, the preeminent planet of the mind. Now, Venus is the planet of love very much, but it does get involved in fusing love and mind. It seems that I always have to go backwards a bit, like the crab.

Vì vậy, tôi muốn ghi chú ở đây để kiểm tra các cung của Sao Thủy, hành tinh ưu việt của trí tuệ. Sao Kim là hành tinh mang đậm tính tình thương, nhưng cũng tham gia dung hợp tình thương và trí tuệ. Dường như tôi luôn phải lùi lại một chút, như con cua.

[26] 2. The centre of the base of the spine.

[26] 2. Trung tâm ở đáy cột sống,

[27] which is the centre through which complete and utter control and coordination is achieved, through the arousing of the purifying agency of fire.

[27] là trung tâm mà qua đó sự kiểm soát và phối hợp hoàn toàn, triệt để được thành tựu, nhờ khơi dậy tác nhân thanh luyện là lửa.

This is Kundalini dynamics, but it's amazing, isn't it? You would think the finality would have to be the highest head center. I think the highest center is involved very much, preliminarily, at the fifth degree, but at the sixth and seventh also.

Đây là động lực học của luồng Hoả Xà, nhưng thật đáng kinh ngạc, phải không? Người ta hẳn nghĩ đích đến cuối cùng phải là trung tâm đầu cao nhất. Tôi nghĩ trung tâm cao nhất tham gia rất nhiều, một cách sơ bộ, ở bậc điểm đạo thứ năm, nhưng cũng ở bậc thứ sáu và thứ bảy nữa.

So there is a still higher synthesis, but at least at mastership, at the fifth initiation, we're dealing with the center at the base of the spine. You might not think that is the way it is, but it turns out to be, and that has tremendous implications for the Earth, our Planetary Logos, and this Earth scheme, which is the center-of-base-of-spine for the Solar Logos. And it's almost like, if this is the case for the human being to achieve mastership, then we know that our Solar Logos is not yet a cosmic master — not even a cosmic initiate of the third degree. Can it be that our particular Planetary Logos, appearing now and appearing in the next solar system, will somehow be very active and involved in helping to create the cosmic mastership of our Solar Logos? Well, those are words, and I don't think we can know what they mean, but it does tell us something about the status of our Solar Logos at present — that it is not yet a sacred Solar Logos, whereas Sirius is.

Vậy còn có một sự tổng hợp cao hơn nữa, nhưng ít nhất ở địa vị Chân sư, vào lần điểm đạo thứ năm, chúng ta đang bàn đến trung tâm ở đáy cột sống. Các bạn có thể không nghĩ là như vậy, nhưng thực tế lại thế; và điều đó có những hàm ý hết sức lớn lao đối với Trái Đất, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và hệ hành tinh Trái Đất này, vốn là trung tâm đáy cột sống của Thái dương Thượng đế. Gần như là, nếu con người đạt địa vị Chân sư theo cách này, thì chúng ta biết Thái dương Thượng đế của mình chưa phải một Chân sư vũ trụ — thậm chí chưa phải một điểm đạo đồ vũ trụ bậc ba. Liệu Hành Tinh Thượng đế đặc thù của chúng ta, đang xuất hiện lúc này và sẽ xuất hiện trong hệ mặt trời kế tiếp, bằng cách nào đó sẽ hoạt động rất tích cực, tham gia giúp Thái dương Thượng đế của chúng ta đạt địa vị Chân sư vũ trụ chăng? Đó là những lời nói, và tôi không nghĩ chúng ta có thể biết chúng hàm ý gì, nhưng chúng cho chúng ta biết đôi điều về địa vị hiện nay của Thái dương Thượng đế — rằng Ngài chưa phải một Thái dương Thượng đế thiêng liêng, trong khi Sirius thì đã là như vậy.

[28] The sacral centre.

[28] 3. Trung tâm xương cùng,

Now, sometimes he does not emphasize the sacral center at all, but at least we're talking here about the disciple, maybe not the initiate — there might be different centers for the initiate.

Đôi khi Ngài hoàn toàn không nhấn mạnh trung tâm xương cùng, nhưng ít nhất ở đây chúng ta đang nói về người đệ tử, có lẽ không phải điểm đạo đồ — đối với điểm đạo đồ có thể là những trung tâm khác.

[29] Wherein the basic force of our particular solar system, the force of attraction of form to form, is transmuted, and the attractive force of the soul takes the place of the reproductive, creative, material activity.

[29] nơi mãnh lực cơ bản của hệ mặt trời riêng biệt của chúng ta, tức mãnh lực thu hút hình tướng với hình tướng, được chuyển hoá, và mãnh lực thu hút của linh hồn thay thế hoạt động sáng tạo vật chất nhằm sinh sản.

And the question is, does this latter type of attractive force actually work through the sacral center, or is a higher center, like the heart center, involved?

Và câu hỏi là: loại mãnh lực thu hút sau này có thực sự hoạt động qua trung tâm xương cùng không, hay có sự tham gia của một trung tâm cao hơn, như trung tâm tim?

Because, if you think about it, the sacral center has six petals — the two units attracted to each other each have six petals. Six and six is twelve; twelve is the number of petals of the heart center. And two twelves is twenty-four, the number of Shambhala. Well, the esoteric numerology gets interesting, but sometimes he dismisses the sacral center as of real importance, and other times, as in this particular case, he says for the disciple we are basically transmuting earlier solar-system tendencies — the previous solar system was very material and personal, in the sense that the lower elemental lives were the major factor, and perhaps soul development was not as promoted as it is now.

Bởi nếu suy nghĩ về điều đó, trung tâm xương cùng có sáu cánh hoa — hai đơn vị thu hút lẫn nhau, mỗi đơn vị đều có sáu cánh hoa. Sáu cộng sáu là mười hai; mười hai là số cánh hoa của trung tâm tim. Và hai lần mười hai là hai mươi bốn, con số của Shambhala. Số học nội môn trở nên thú vị, nhưng đôi khi Ngài gạt trung tâm xương cùng sang một bên như không có tầm quan trọng thực sự; những lúc khác, như trong trường hợp này, Ngài nói rằng đối với người đệ tử, về căn bản chúng ta đang chuyển hoá những khuynh hướng của hệ mặt trời trước — hệ mặt trời trước mang nặng tính vật chất và cá nhân, theo nghĩa các sự sống hành khí thấp là yếu tố chủ yếu, và có lẽ sự phát triển linh hồn chưa được thúc đẩy như hiện nay.

Now let's see if there's more that's of importance to us.

Bây giờ hãy xem còn điều gì quan trọng với chúng ta nữa không.

[30] The solar plexus centre,

[30] 4. Trung tâm tùng thái dương

— I guess we're getting all the lower centers, aren't we? Base of the spine, sacral, solar plexus, and ajna.

— tôi nghĩ chúng ta đang có đủ các trung tâm thấp, phải không? Đáy cột sống, xương cùng, tùng thái dương và ajna.

[31] which, situated in the centre of the body, and being the organ of the astral body and of the lower psychism,

[31] nằm ở giữa thân thể và là cơ quan của thể cảm dục cùng năng lực thông linh thấp,

— and let's just say the ajna center of the higher psychism —

— còn trung tâm ajna là cơ quan của năng lực thông linh cao —

[32] gathers together all the lower forces and redirects them under the impulse of the soul to their higher repositories.

[32] quy tụ mọi mãnh lực thấp rồi, dưới xung lực của linh hồn, chuyển hướng chúng đến những nơi tiếp nhận cao hơn.

This is very important in all such transferences of energy from the lower center to the higher: the soul is involved.

Điều này rất quan trọng trong mọi sự chuyển dịch năng lượng như thế từ trung tâm thấp lên trung tâm cao: linh hồn có tham gia.

So what do we have so far? We have the ajna center, the directing center; we have the three centers which control the personality — the center at the base of the spine, the sacral center, and the solar plexus center — and these lower centers, and their director, apply to discipleship. Once we become the true initiate, I don't know what creative discipleship he's talking about, but maybe it extends even to probationary initiation, the first and second initiations. There's a lot to be mastered, a lot to be transferred.

Vậy đến đây chúng ta có những gì? Chúng ta có trung tâm ajna, trung tâm chỉ đạo; chúng ta có ba trung tâm kiểm soát phàm ngã — trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương — và các trung tâm thấp này, cùng trung tâm chỉ đạo chúng, có liên quan đến địa vị đệ tử. Một khi chúng ta trở thành điểm đạo đồ đích thực, tôi không biết Ngài đang nói đến địa vị đệ tử sáng tạo nào, nhưng có lẽ nó còn bao gồm cả điểm đạo dự bị, tức lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Có rất nhiều điều cần làm chủ, rất nhiều điều cần chuyển dịch.

Now, DK is telling us here — what a book!

Ở đây, Chân sư DK đang nói với chúng ta — thật là một cuốn sách phi thường!

[33] I realise that the teaching given here is both deep and abstruse, but it is needed for the few, and their numbers will increase as time elapses.

[33] Tôi nhận ra rằng giáo huấn đưa ra ở đây vừa sâu xa vừa khó hiểu, nhưng một số ít người cần đến giáo huấn này, và số người ấy sẽ gia tăng theo thời gian.

[34] The complexity of the subject is also increased by the fact that each ray holds within its teaching a different approach and a different method for those souls who are found responsive to its peculiar impulse.

[34] Tính phức tạp của chủ đề còn tăng thêm do mỗi cung đều hàm chứa trong giáo huấn của mình một cách tiếp cận khác và một phương pháp khác dành cho những linh hồn đáp ứng với xung lực đặc thù của cung ấy.

Well, we can be grateful — later, in Esoteric Psychology especially, two ray methods are given, with older commentary expressing the ray methods. And this book is written earlier than those presentations.

Chúng ta có thể biết ơn — về sau, đặc biệt trong Tâm Lý Học Nội Môn, hai phương pháp cung được trình bày, cùng với phần cổ luận diễn đạt các phương pháp cung ấy. Còn cuốn sách này được viết trước những phần trình bày đó.

So I think for our next program we'll be going on and looking at the seven keys for the seven ray methods, and some wonderful statements there worth memorizing. I once did, but, you know, use it or lose it — if you don't refresh it, apply it, it doesn't hold, but maybe it comes back sooner. That would be the hope.

Vì vậy, tôi nghĩ trong chương trình tiếp theo, chúng ta sẽ tiếp tục xem xét bảy chìa khóa cho bảy phương pháp cung, cùng một số phát biểu tuyệt vời rất đáng ghi nhớ. Tôi từng học thuộc chúng, nhưng như các bạn biết, không dùng thì sẽ quên — nếu không ôn lại và áp dụng, chúng sẽ không lưu lại, nhưng có lẽ sẽ nhớ lại nhanh hơn. Đó là điều chúng ta có thể hy vọng.

All right, so let's go up here to where we began, with beginnings and ends. And this is the end of number 20, I guess. DK does acknowledge the abstruseness of this material, and how, in a way, very learned we have to be, or become, in order to really appreciate what's going on here. So this is 10.4, and we're dealing with, from 285 to — to what? To 288.

Vậy hãy trở lên chỗ chúng ta đã bắt đầu, với phần mở đầu và kết thúc. Và tôi đoán đây là phần kết của số 20. Chân sư DK quả có thừa nhận tính khó hiểu của tài liệu này, và rằng, theo một nghĩa nào đó, chúng ta phải có, hoặc phải đạt được, kiến thức rất uyên bác mới thực sự lĩnh hội được những gì đang diễn ra ở đây. Vậy đây là 10.4, và chúng ta đang bàn từ trang 285 đến — đến đâu? Đến trang 288.

Not a whole lot of ground covered, but then some things are difficult. And whatever day this may be — August 12th, Blavatsky's birthday today — worth considering, right? We have to be grateful that she was such a strong Leo as she was. And we're working from 288 onward into, you know, whatever — we only go a few pages at a time.

Chúng ta chưa đi được bao xa, nhưng quả có những điều khó. Và dù hôm nay là ngày nào — hôm nay là ngày 12 tháng 8, sinh nhật Bà Blavatsky — cũng đáng suy ngẫm, phải không? Chúng ta phải biết ơn vì Bà là một người thuộc dấu hiệu Sư Tử mạnh mẽ đến thế. Và chúng ta sẽ tiếp tục từ trang 288 trở đi — đến đâu thì chưa biết — mỗi lần chúng ta chỉ đi qua vài trang.

So, friends, like any of us, I always feel inadequate when facing this material. I make of it the best that I can, given the knowledge I have, and as they say, at my present level of ignorance, I do what I can with it. The idea is to work a lot with Mercury, and link up the various items of information so that they begin to make more sense and begin to approach that condition of realization we call pure reason.

Thưa các bạn, cũng như bất kỳ ai trong chúng ta, tôi luôn cảm thấy mình chưa đủ năng lực khi đối diện với tài liệu này. Với kiến thức mình có, tôi cố gắng tìm hiểu hết sức có thể, và như người ta thường nói, ở mức độ vô minh hiện tại của mình, tôi làm những gì có thể với tài liệu ấy. Ý tưởng ở đây là làm việc thật nhiều với Sao Thủy và liên kết các thông tin khác nhau, để chúng bắt đầu trở nên có ý nghĩa hơn và bắt đầu tiến gần đến trạng thái chứng nghiệm mà chúng ta gọi là lý trí thuần khiết.

We're not there yet — it's a buddhic thing, and probably it doesn't really kick into real usefulness until after the third degree, and really more at the fourth degree and beyond. We have to make our way toward it. And the way to do that is to study as carefully as we can the factual knowledge given by Master DK, and to link up these items of factuality with each other. The light that could break forth will not for us, because we cannot yet make all the links that would be evident to the Master — but we do something, at least.

Chúng ta chưa đạt đến đó — điều ấy thuộc về Bồ đề, và có lẽ nó chưa thực sự phát huy tính hữu dụng cho đến sau cấp điểm đạo thứ ba, và thực sự rõ hơn ở cấp thứ tư trở lên. Chúng ta phải từng bước tiến đến đó. Và cách thực hiện là nghiên cứu cẩn thận hết sức có thể những tri thức thực tế mà Chân sư DK ban cho, rồi liên kết những dữ kiện ấy với nhau. Ánh sáng có thể bừng lên ấy sẽ chưa bừng lên đối với chúng ta, vì chúng ta chưa thể tạo lập mọi mối liên kết vốn hiển nhiên đối với Chân sư — nhưng ít nhất chúng ta cũng làm được điều gì đó.

So that's it for the moment. We'll be back, hopefully, carrying on in this — what, easy book? Foundational, fundamental book. He's thinking ahead for those of us who can understand, and who will need these kinds of presentations. If we think that simply by listening to this, or reading it through once, we're going to get it, we are sadly mistaken. But at least we are understanding more and more, step by step, and we understand that the elevation of the forces is what is required if we are to have the elevation of consciousness and the elevation of ability, coming under the Divine Will.

Vậy tạm thời đến đây là hết. Hy vọng chúng ta sẽ trở lại, tiếp tục với cuốn sách này — gọi là gì nhỉ, một cuốn sách dễ hiểu chăng? Một cuốn sách nền tảng, căn bản. Ngài đang nghĩ xa về sau cho những người trong chúng ta có thể thấu hiểu và sẽ cần những cách trình bày như thế này. Nếu nghĩ rằng chỉ cần nghe hoặc đọc qua một lần là sẽ nắm được, thì chúng ta đã lầm to. Nhưng ít nhất chúng ta đang từng bước thấu hiểu ngày càng nhiều hơn, và chúng ta hiểu rằng việc nâng cao các mãnh lực là điều cần thiết nếu muốn nâng cao tâm thức và năng lực, để chịu sự dẫn dắt của Ý Chí thiêng liêng.

See you soon.

Hẹn sớm gặp lại các bạn.