← Bình Giảng White Magic – Quy Luật 10 Cõi Cảm Dục

Text Webinar Program 39 – Rule 10.23

Trích nội dung chương

[1] Remember always that in the vivification of a centre there is always a corresponding vitalisation of the analogous head centre, [2] till eventually the seven centres in the body and the seven centres in the head rotate in unison. [3] Remember also that just as the four minor rays pass into the three major rays, so the four minor centres carry on the correspondence and pass into pralaya, finding their focal point in the throat centre. [4] Thus you will have the three centres—head, heart and [5] throat—carrying the inner fire, with the three major head centres vibrating in unison also. [1] Hãy luôn nhớ rằng trong việc làm sống động một…


Text Webinar Program 39 – Rule 10.23

[1] Remember always that in the vivification of a centre there is always a corresponding vitalisation of the analogous head centre, [2] till eventually the seven centres in the body and the seven centres in the head rotate in unison. [3] Remember also that just as the four minor rays pass into the three major rays, so the four minor centres carry on the correspondence and pass into pralaya, finding their focal point in the throat centre. [4] Thus you will have the three centres—head, heart and [5] throat—carrying the inner fire, with the three major head centres vibrating in unison also.

[1] Hãy luôn nhớ rằng trong việc làm sống động một trung tâm, luôn có một sự tiếp sinh lực tương ứng nơi trung tâm đầu tương đồng, [2] cho đến cuối cùng bảy trung tâm trong thể xác và bảy trung tâm trong đầu cùng xoay chuyển trong sự hòa điệu. [3] Cũng hãy nhớ rằng, cũng như bốn cung thứ yếu đi vào ba cung chính, thì bốn trung tâm thứ yếu cũng tiếp tục sự tương ứng ấy và đi vào Giai kỳ qui nguyên, tìm thấy điểm tập trung của chúng nơi trung tâm cổ họng. [4] Như vậy, các bạn sẽ có ba trung tâm—đầu, tim và [5] cổ họng—mang lửa nội tại, đồng thời ba trung tâm chính trong đầu cũng rung động trong sự hòa điệu.

[6] I realise that this is all intricate and technical. [7] It has its place and value however, and much that here is communicated will find its usefulness when you are all passed over to the other side and a fresh band of aspirants will follow in your footsteps. [8] The training of the mental body has a value, and many evade such technicalities, hiding behind an emphasis upon the life side of truth, all due to an inherent mental laziness. [9] This that you now receive is but the A. B. C. of esotericism. [10] Waste not time however in too detailed deduction. All that is now possible is a broad general outline, [11] patient reserve, a willingness to recognise physical brain limitations and the accepting of an hypothesis. [12] Believe these hypotheses possible unless your intuition revolts or they are contradicted [Page 364] by past teaching given by other of the Lodge’s Messengers. [13] I do not dogmatise to you. [14] I only in these instructions give you certain information, —the correctness of which I leave the future to demonstrate. [15] I simply ask that you make record and in the coming years much that may now seem peculiar or mayhap even contradictory will be elucidated, slowly unravelled, and more easily comprehended. [16] A little knowledge leads to much confusion unless laid aside for future use when the years of instruction have increased the store.

[6] Tôi nhận ra rằng tất cả điều này đều phức tạp và kỹ thuật. [7] Tuy nhiên, nó có vị trí và giá trị của nó, và nhiều điều được truyền đạt ở đây sẽ tỏ ra hữu dụng khi tất cả các bạn đã đi sang phía bên kia và một đoàn người chí nguyện mới sẽ bước theo dấu chân các bạn. [8] Việc huấn luyện thể trí có giá trị, và nhiều người né tránh những điều kỹ thuật như thế, ẩn mình sau sự nhấn mạnh vào phương diện sự sống của chân lý; tất cả đều do một sự lười biếng trí tuệ cố hữu. [9] Những gì các bạn hiện đang nhận được chỉ là những điều vỡ lòng của huyền bí học. [10] Tuy nhiên, đừng lãng phí thời gian vào sự suy diễn quá chi tiết. Tất cả những gì hiện nay có thể làm chỉ là một phác họa tổng quát rộng rãi, [11] một sự dè dặt kiên nhẫn, một thiện chí nhận biết các giới hạn của bộ não hồng trần và sự chấp nhận một giả thuyết. [12] Hãy tin rằng những giả thuyết này có thể đúng, trừ khi trực giác của các bạn phản kháng hoặc chúng mâu thuẫn [Page 364] với giáo huấn trước đây do các Sứ giả khác của Thánh đoàn trao truyền. [13] Tôi không áp đặt giáo điều cho các bạn. [14] Trong các huấn thị này, tôi chỉ trao cho các bạn một số thông tin nhất định,—tính đúng đắn của chúng, tôi để tương lai chứng minh. [15] Tôi chỉ xin các bạn ghi chép lại, và trong những năm sắp tới, nhiều điều hiện nay có thể có vẻ kỳ lạ hoặc có lẽ thậm chí mâu thuẫn sẽ được làm sáng tỏ, được tháo gỡ từ từ, và được thấu hiểu dễ dàng hơn. [16] Một ít tri thức sẽ dẫn đến nhiều rối rắm, trừ khi nó được gác lại để dùng trong tương lai, khi những năm tháng huấn luyện đã làm tăng thêm kho tàng ấy.

[17] To return to our theme: —The heart centre in man opens the door into what is called “the heart of the Sun.” [18] The throat centre opens the way into full understanding of the path of the physical Sun [19] and all true astrologers must eventually have that centre functioning. [20] The head centre opens the way to the central spiritual Sun, each passing, via the planetary correspondence, to one of the cosmic planes.

[17] Trở lại chủ đề của chúng ta:—Trung tâm tim nơi con người mở cánh cửa vào điều được gọi là “trái tim của Mặt Trời.” [18] Trung tâm cổ họng mở con đường đưa đến sự thấu hiểu trọn vẹn về con đường của Mặt Trời hồng trần, [19] và cuối cùng mọi nhà chiêm tinh chân chính đều phải có trung tâm ấy hoạt động. [20] Trung tâm đầu mở con đường đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mỗi trung tâm đi qua sự tương ứng hành tinh để đến một trong các cõi vũ trụ.

[21] Thus we have a summation of technicalities, and of facts, which are (under the Law of Analogy) of purely academic interest and no more. [22] Even those of us who are initiate know practically nothing of the cosmic planes beyond the cosmic physical. [23] Our consciousness is only beginning to be solar, [24] and we are labouring in our small measure to overcome those planetary limitations which hold us back from solar knowledge and life. [25] For aspirants who have not even a knowledge of what planetary consciousness signifies, the above information has only one value and that is, that it emphasises the synthetic nature of the great plan and the fact that the smallest unit is an integral part of the whole. [26] It enforces the idea that energy is a life fluid circulating throughout the entire body of the Logos, and vivifying therefore even the tiniest atom in that whole. [27] It is valuable to endeavour to grasp the picture and to vision the wonder of what is transpiring. [28] It is waste of time, nevertheless, to [Page 365] ponder upon the cosmic astral plane, for instance, when even the plane of the ego (the fifth subplane of the cosmic physical plane, counting from above downwards) is as yet inaccessible to the average man and is the goal for all his aspiration and meditation.

[21] Như vậy, chúng ta có một sự tổng kết các điểm kỹ thuật và các sự kiện, vốn—dưới Định luật Tương đồng—chỉ có giá trị học thuật thuần túy, không hơn. [22] Ngay cả những người trong chúng tôi là điểm đạo đồ cũng hầu như không biết gì về các cõi vũ trụ vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ. [23] Tâm thức của chúng tôi chỉ mới bắt đầu mang tính thái dương, [24] và trong mức độ nhỏ bé của mình, chúng tôi đang nỗ lực vượt qua những giới hạn hành tinh vốn kìm giữ chúng tôi khỏi tri thức và sự sống thái dương. [25] Đối với những người chí nguyện thậm chí chưa có tri thức về ý nghĩa của tâm thức hành tinh, thông tin trên chỉ có một giá trị, đó là nó nhấn mạnh bản chất tổng hợp của Thiên Cơ vĩ đại và sự kiện rằng đơn vị nhỏ bé nhất là một phần không thể tách rời của toàn thể. [26] Nó củng cố ý tưởng rằng năng lượng là một lưu chất sự sống lưu chuyển khắp toàn bộ thể của Thượng đế, và do đó tiếp sinh lực ngay cả cho nguyên tử nhỏ bé nhất trong toàn thể ấy. [27] Nỗ lực nắm bắt bức tranh ấy và hình dung sự kỳ diệu của những gì đang diễn ra là điều có giá trị. [28] Tuy nhiên, thật lãng phí thời gian khi [Page 365] suy tưởng về cõi cảm dục vũ trụ, chẳng hạn, trong khi ngay cả cõi của chân ngã—cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ, tính từ trên xuống dưới—đến nay vẫn còn bất khả tiếp cận đối với người bình thường và là mục tiêu của toàn bộ khát vọng cùng tham thiền của y.

[29] For man, therefore, the Universal Mind can best be grasped as it expresses itself through what we call the concrete mind, the abstract mind, and the intuition or pure reason.

[29] Vì vậy, đối với con người, Vũ Trụ Trí có thể được nắm bắt rõ nhất khi nó biểu lộ qua điều chúng ta gọi là trí cụ thể, trí trừu tượng, và trực giác hay lý trí thuần khiết.

[30] The concrete mind is the form building faculty. Thoughts are things. [31] The abstract mind is the pattern building faculty, [32] or the mind which works with the blue prints upon which the forms are modelled. [33] The intuition or pure reason is the faculty which enables man to enter into contact with the Universal Mind and grasp the plan synthetically, to seize upon divine Ideas or isolate some fundamental and pure truth.

[30] Trí cụ thể là năng lực kiến tạo hình tướng. Tư tưởng là những thực thể. [31] Trí trừu tượng là năng lực kiến tạo mô hình, [32] hay là thể trí làm việc với các bản thiết kế mà theo đó các hình tướng được tạo mẫu. [33] Trực giác hay lý trí thuần khiết là năng lực giúp con người đi vào tiếp xúc với Vũ Trụ Trí và nắm bắt Thiên Cơ một cách tổng hợp, nắm lấy các Ý Tưởng thiêng liêng hoặc tách ra một chân lý căn bản và tinh thuần nào đó.

[34] The goal of all the work of an aspirant is to understand those aspects of the mind with which he has to learn to work. His work therefore might be summed up as follows:

[34] Mục tiêu của toàn bộ công việc của một người chí nguyện là thấu hiểu những phương diện của trí tuệ mà y phải học cách vận dụng. Vì vậy, công việc của y có thể được tóm lược như sau:

[35] 1. He has to learn to think; [36] to discover that he has an apparatus which is called the mind and to uncover its faculties and powers. [37] These have been well analysed for us in the first two books of the Yoga Sutras of Patanjali.

[35] 1. Y phải học cách suy nghĩ; [36] khám phá rằng y có một bộ máy được gọi là thể trí, và khai mở các năng lực cùng quyền năng của nó. [37] Những điều này đã được phân tích kỹ lưỡng cho chúng ta trong hai quyển đầu của Kinh Du-già của Patanjali.

[38] 2. He has to learn next to get back of his thought processes and form building propensities and discover the ideas which underlie the divine thought-form, the world process, and so learn to work in collaboration with the plan and subordinate his own thought-form building to these ideas. [39] He has to learn to penetrate into the world of these divine ideas [40] and to study the “pattern of things in the Heavens” as it is called in the Bible. [41] He [Page 366] must begin to work with the blue prints upon which all that is, is modelled and moulded. [42] He becomes then a student-symbolist, and from being an idolater [43] he becomes a divine idealist. [44] I use these words in their true sense and connotation.

[38] 2. Kế đến, y phải học cách đi ra phía sau các tiến trình tư tưởng và các khuynh hướng kiến tạo hình tướng của mình, rồi khám phá những ý tưởng nằm bên dưới hình tư tưởng thiêng liêng, tiến trình thế giới, và nhờ vậy học cách làm việc trong sự cộng tác với Thiên Cơ, đồng thời đặt việc kiến tạo hình tư tưởng của chính mình dưới sự chi phối của các ý tưởng ấy. [39] Y phải học cách thâm nhập vào thế giới của những ý tưởng thiêng liêng này [40] và nghiên cứu “khuôn mẫu của muôn vật trên các tầng trời,” như cách gọi trong Kinh Thánh. [41] Y [Page 366] phải bắt đầu làm việc với các bản thiết kế mà theo đó tất cả những gì hiện hữu được tạo mẫu và uốn nắn. [42] Bấy giờ y trở thành một đạo sinh-biểu tượng gia, và từ một người thờ ngẫu tượng, [43] y trở thành một nhà lý tưởng thiêng liêng. [44] Tôi dùng những từ này theo ý nghĩa và hàm nghĩa đích thực của chúng.

[45] 3. From that developed idealism, he must progress [46] even deeper still, until he enters the realm of pure intuition. [47] He can then tap truth at its source. [48] He enters into the mind of God Himself. [49] He intuits as well as idealises and is sensitive to divine thoughts. [50] They fertilise his mind. He calls these intuitions later, as he works them out, ideas or ideals, and bases all his work and conduct of affairs upon them.

[45] 3. Từ chủ nghĩa lý tưởng đã phát triển ấy, y phải tiến [46] sâu hơn nữa, cho đến khi y bước vào lĩnh vực của trực giác thuần khiết. [47] Khi đó y có thể chạm đến chân lý ngay tại cội nguồn của nó. [48] Y đi vào Trí của chính Thượng đế. [49] Y trực nhận cũng như lý tưởng hóa, và trở nên nhạy bén với các tư tưởng thiêng liêng. [50] Những tư tưởng ấy làm phong nhiêu thể trí của y. Về sau, khi triển khai chúng, y gọi những trực nhận này là các ý tưởng hay lý tưởng, và đặt nền tảng cho toàn bộ công việc cùng cách điều hành sự vụ của mình trên chúng.

Commentary Program-39-Astral-Plane-Rule-X-10.23

Hello friends, we are continuing now with our video commentaries for A Treatise on White Magic, Rules for the astral plane. We are beginning on page 363, looks like. I don't know where we left off before, maybe 350. Yeah, we left off at that point.

Các bạn thân mến, chúng ta tiếp tục các bài bình giảng video về Luận về Chánh Thuật, các Quy Luật dành cho cõi cảm dục. Có lẽ chúng ta bắt đầu ở trang 363. Tôi không biết trước đây chúng ta dừng ở đâu, có lẽ trang 350. Đúng vậy, chúng ta đã dừng ở điểm đó.

This is commentary number 39 and commentary number 23 when it comes to that mammoth rule 10. Just a little overlap here:

Đây là bài bình giảng số 39, và là bài bình giảng số 23 khi đề cập đến quy luật 10 đồ sộ ấy. Ở đây có một chút phần chồng lấn:

[1] Remember always that in the vivification of a centre there is always a corresponding vitalisation of the analogous head centre,

[1] Hãy luôn nhớ rằng trong việc làm sống động một trung tâm, luôn có một sự tiếp sinh lực tương ứng nơi trung tâm đầu tương đồng,

The seven of them ruled by Vulcan, just the way the One About Whom Naught May Be Said—the Tibetan tells us that the seven major stars of the Great Bear are the Rulers of the seven head centers for that Being.

Cả bảy trung tâm ấy do Vulcan cai quản, cũng giống như Đấng Bất Khả Tư Nghị—Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng bảy ngôi sao chính của Đại Hùng Tinh là các chủ tinh của bảy trung tâm đầu đối với Hữu Thể ấy.

[2] till eventually the seven centres in the body and the seven centres in the head rotate in unison.

[2] cho đến cuối cùng bảy trung tâm trong thể xác và bảy trung tâm trong đầu cùng xoay chuyển trong sự hòa điệu.

One of the rules tells us about that, and I think it's one of the 14 Rules for disciples. Yeah, “They rotate in unison”, I showed you page 170 in A Treatise on Cosmic Fire where these seven head centers are mentioned as an important focus for the advancing man, the man of the third initiation and beyond.

Một trong các quy luật nói với chúng ta về điều đó, và tôi nghĩ đó là một trong 14 Quy Luật dành cho đệ tử. “Chúng xoay đồng nhịp”; tôi đã chỉ cho các bạn trang 170 trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nơi bảy trung tâm đầu này được nhắc đến như một tiêu điểm quan trọng đối với con người đang tiến tới, con người của lần điểm đạo thứ ba và cao hơn.

[3] Remember also that just as the four minor rays pass into the three major rays, so the four minor centres carry on the correspondence and pass into pralaya, finding their focal point in the throat centre.

[3] Cũng hãy nhớ rằng, cũng như bốn cung thứ yếu đi vào ba cung chính, thì bốn trung tâm thứ yếu cũng tiếp tục sự tương ứng ấy và đi vào Giai kỳ qui nguyên, tìm thấy điểm tập trung của chúng nơi trung tâm cổ họng.

Are we including the heart center as a minor center? That is an interesting thought. Or are we including, the spleen as a minor center along with the solar plexus, sacral center, and base of the spine center?

Chúng ta có kể trung tâm tim như một trung tâm phụ không? Đó là một ý tưởng thú vị. Hay chúng ta kể luân xa lá lách như một trung tâm phụ cùng với tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm đáy cột sống?

[4] Thus you will have the three centres—head, heart and

[4] Như vậy, các bạn sẽ có ba trung tâm—đầu, tim và

Which are the foci of the three major types of monad: first, second, and third ray,

vốn là các tiêu điểm của ba loại chân thần chính: cung một, cung hai và cung ba,

[5] throat—carrying the inner fire, with the three major head centres vibrating in unison also.

[5] cổ họng—mang lửa nội tại, đồng thời ba trung tâm chính trong đầu cũng rung động trong sự hòa điệu.

The three major head centers—are these one of the seven? Or are we considering the entire center at the top of the head, the crown chakra, the ajna center, and the Alta major center? Anyway, the seven above and seven below—maybe I can find that quickly, possibly. Yes, here it is. It is Rule Eight for Applicants.

Ba trung tâm đầu chính—đây có phải là một trong bảy trung tâm không? Hay chúng ta đang xét toàn bộ trung tâm ở đỉnh đầu, luân xa vương miện, trung tâm ajna và trung tâm alta major? Dù sao, bảy ở trên và bảy ở dưới—có lẽ tôi có thể tìm nhanh được. Đúng, đây rồi. Đó là Quy Luật Tám dành cho các Ứng viên.