← Bình Giảng White Magic – Quy Luật 10 Cõi Cảm Dục

Text Webinar Program 40 – Rule 10.24

Trích nội dung chương

4. Then follows the work of conscious thought-form building, based upon these divine ideas, emanating as intuitions from the Universal Mind. This goes forward through meditation. 4. Rồi tiếp theo là công việc kiến tạo hình tư tưởng một cách có ý thức, dựa trên những ý tưởng thiêng liêng ấy, vốn xuất phát như các trực giác từ Vũ Trụ Trí. Điều này tiến hành qua tham thiền.


Text Webinar Program 40 – Rule 10.24

4. Then follows the work of conscious thought-form building, based upon these divine ideas, emanating as intuitions from the Universal Mind. This goes forward through meditation.

4. Rồi tiếp theo là công việc kiến tạo hình tư tưởng một cách có ý thức, dựa trên những ý tưởng thiêng liêng ấy, vốn xuất phát như các trực giác từ Vũ Trụ Trí. Điều này tiến hành qua tham thiền.

[1] Every true student knows that this involves concentration in order to focus or orient the lower mind to the higher. [2] Temporarily the normal thought-form building tendencies are inhibited. [3] Through meditation which is the mind’s power to hold itself in the light, [4] and in that light become aware of the plan, he learns to “bring through” the needed ideas. [5] Through contemplation he finds himself able to enter into that silence which will enable him to tap the divine mind, wrest God’s thought out of the divine consciousness and to know. [6] This is the work before each aspirant [7] and hence the necessity of his understanding the nature of his mental problem, [8] the tools with which he must perforce work, [9] and the use he must make of what he learns and gains through right use of the mental apparatus.

[1] Mọi đạo sinh chân chính đều biết rằng điều này đòi hỏi sự tập trung để quy tụ hay định hướng hạ trí về thượng trí. [2] Tạm thời, các khuynh hướng kiến tạo hình tư tưởng thông thường bị ức chế. [3] Nhờ tham thiền, tức quyền năng của thể trí giữ chính nó trong ánh sáng, [4] và trong ánh sáng ấy nhận biết Thiên Cơ, y học cách “truyền dẫn” những ý tưởng cần thiết. [5] Nhờ chiêm ngưỡng, y thấy mình có thể đi vào sự tĩnh lặng vốn sẽ giúp y tiếp xúc với trí thiêng liêng, giành lấy tư tưởng của Thượng đế từ tâm thức thiêng liêng và biết. [6] Đây là công việc đặt trước mỗi người chí nguyện, [7] và do đó có sự cần thiết y phải thấu hiểu bản chất vấn đề trí tuệ của mình, [8] các công cụ mà y buộc phải làm việc với, [9] và cách y phải sử dụng những gì mình học được và đạt được nhờ việc dùng đúng bộ máy trí tuệ.

[10] How is this to be done? How bring through and how build afterwards?

[10] Điều này phải được thực hiện như thế nào? Làm sao truyền dẫn, rồi sau đó làm sao kiến tạo?

[Page 367]

[Page 367]

[11] No matter how small or unimportant an individual thinker may be, yet in cooperation with his brethren, he wields a mighty force. [12] Only through the steady strong right thinking of the people and the understanding of the correct use of mental energy can progressive evolution go forward along the desired lines. [13] Right thinking depends upon many things, and it might be useful to state some of them very simply:

[11] Dù một nhà tư tưởng cá nhân có nhỏ bé hay không quan trọng đến đâu, song khi hợp tác với các huynh đệ của mình, y vận dụng một mãnh lực hùng mạnh. [12] Chỉ nhờ tư tưởng đúng đắn, kiên định và mạnh mẽ của con người, cùng sự thấu hiểu cách sử dụng đúng năng lượng trí tuệ, tiến hoá thăng thượng mới có thể tiến tới theo những đường hướng mong muốn. [13] Tư tưởng đúng đắn tùy thuộc vào nhiều điều, và có thể hữu ích nếu nêu ra một vài điều trong số đó thật giản dị:

[14] 1. An ability to sense the vision. That involves a capacity in a faint measure to realise the archetype on which the Lodge is endeavouring to fashion the race. [15] It involves cooperation in the work of the Manu, [16] and the development of abstract as well as synthetic thought, the flashing forth of the intuition. [17] The intuition wrests from the high places a touch of the ideal plan as it lies latent in the mind of the Logos. [18] As men develop this capacity, they will touch sources of power [19] that are not on mental levels at all but which constitute those from which the mental plane itself draws sustenance.

[14] 1. Khả năng cảm nhận tầm nhìn. Điều đó bao hàm năng lực, dù còn mờ nhạt, để nhận biết nguyên mẫu mà Thánh đoàn đang cố gắng dùng để uốn nắn nhân loại. [15] Nó bao hàm sự hợp tác trong công việc của Đức Manu, [16] và sự phát triển tư tưởng trừu tượng cũng như tổng hợp, tức sự lóe sáng của trực giác. [17] Trực giác giành lấy từ những nơi cao một nét chạm của Thiên Cơ lý tưởng như nó còn tiềm tàng trong thể trí của Thượng đế. [18] Khi con người phát triển năng lực này, họ sẽ chạm đến các nguồn quyền năng [19] hoàn toàn không ở trên những cấp độ trí tuệ, nhưng lại là những nguồn mà chính cõi trí rút lấy dưỡng chất từ đó.

[20] 2. Then, having sensed the vision and glimpsed a fraction of the beauty (how little men see is astounding!) in your hands lies the opportunity to bring down to the mental plane as much of the plan as you possibly can. [21] Nebulous and faint at first is your grasp after it, yet it will begin to materialise. [22] Seldom at first will you find that you can contact it, for the vision comes through the medium of the causal body and few can hold that high consciousness for a long time. [23] But the struggle to apprehend will lead to results, and little by little the idea will seep through to the concrete levels of the mental plane. [24] Then it becomes a concrete thought, something that can be definitely visualised and appropriated as a basis for thought.

[20] 2. Rồi, sau khi đã cảm nhận tầm nhìn và thoáng thấy một phần vẻ đẹp của nó — con người thấy được ít ỏi đến mức đáng kinh ngạc! — cơ hội nằm trong tay các bạn để đưa xuống cõi trí nhiều phần của Thiên Cơ nhất có thể. [21] Ban đầu sự nắm bắt của các bạn về nó còn mơ hồ và yếu ớt, song nó sẽ bắt đầu hiện hình. [22] Lúc đầu, các bạn hiếm khi thấy mình có thể tiếp xúc với nó, vì tầm nhìn đến qua trung gian của thể nguyên nhân, và ít người có thể giữ tâm thức cao ấy trong một thời gian dài. [23] Nhưng nỗ lực lĩnh hội sẽ đưa đến kết quả, và từng chút một, ý tưởng sẽ thấm xuống các cấp độ cụ thể của cõi trí. [24] Khi ấy nó trở thành một tư tưởng cụ thể, một điều có thể được hình dung rõ ràng và được tiếp nhận làm nền tảng cho tư tưởng.

[25] 3. This accomplished, what comes next? [26] A period of gestation, a period wherein you build your thought-form of as much of the vision as you can bring through into [Page 368] your consciousness. [27] Slowly must this be done, for a stable vibration and a well built form is desired. Hurried work leads nowhere. [28] As you build there will gradually be sensed a longing, a desire [29] to see this vision brought to earth, and see it becoming known to others among the sons of men. [30] Then you vitalise the thoughtform with the power of your will, you seek to make it be; [31] the rhythm becomes heavier and slower, the material built into your form is necessarily coarser, and you find that your thought-form of the vision is clothed in matter of the mental and astral planes.

[25] 3. Khi điều này đã hoàn tất, điều gì sẽ đến tiếp theo? [26] Một thời kỳ thai nghén, một giai đoạn trong đó các bạn xây dựng hình tư tưởng của mình về phần tầm nhìn mà các bạn có thể truyền dẫn vào [Page 368] tâm thức của mình. [27] Việc này phải được thực hiện chậm rãi, vì điều được mong muốn là một rung động ổn định và một hình tướng được kiến tạo vững chắc. Công việc vội vã chẳng dẫn đến đâu. [28] Khi các bạn kiến tạo, dần dần sẽ cảm nhận được một niềm mong mỏi, một khát vọng [29] muốn thấy tầm nhìn này được đưa xuống trần gian, và thấy nó trở nên được biết đến với những người khác trong số những người con của nhân loại. [30] Khi ấy các bạn tiếp sinh lực cho hình tư tưởng bằng quyền năng của ý chí mình, các bạn tìm cách khiến nó hiện hữu; [31] nhịp điệu trở nên nặng hơn và chậm hơn, chất liệu được đưa vào hình tướng của các bạn tất yếu thô hơn, và các bạn nhận thấy hình tư tưởng của mình về tầm nhìn được khoác trong vật chất của cõi trí và cõi cảm dục.

[32] 4. Happy the disciple who can bring the vision nearer still to humanity, and work it into existence on the physical plane. [33] Remember this, that the materialisation of any aspect of the vision on the physical plane is never the work of one man. [34] Only when it has been sensed by the many, only when they have worked at its material form can their united efforts draw it into outer manifestation. [35] Thus you see the value of educating public opinion; it brings the many helpers to the aid of the few visionaries. [36] Always the Law holds good;—in descent, differentiation. [37] The two or three sense the plan intuitively; [38] then the rhythm they set up with their thought sweeps the mental plane matter into activity; thinkers seize hold of the idea. This is a hard thing to learn and difficult to do but the reward is great.

[32] 4. Hạnh phúc thay người đệ tử có thể đưa tầm nhìn đến gần nhân loại hơn nữa, và tác thành nó vào sự hiện hữu trên cõi hồng trần. [33] Hãy nhớ điều này: sự hiện hình của bất kỳ phương diện nào của tầm nhìn trên cõi hồng trần không bao giờ là công việc của một người. [34] Chỉ khi nhiều người đã cảm nhận được nó, chỉ khi họ đã lao tác cho hình tướng vật chất của nó, thì những nỗ lực hợp nhất của họ mới có thể kéo nó vào sự biểu hiện bên ngoài. [35] Như vậy, các bạn thấy giá trị của việc giáo dục dư luận công chúng; điều đó đưa nhiều người trợ giúp đến hỗ trợ cho một số ít những người có tầm nhìn. [36] Định luật luôn luôn đúng;—trong sự giáng hạ, có sự biến phân. [37] Hai hoặc ba người cảm nhận Thiên Cơ bằng trực giác; [38] rồi nhịp điệu mà họ thiết lập bằng tư tưởng của mình cuốn chất liệu cõi trí vào hoạt động; các nhà tư tưởng nắm bắt ý tưởng ấy. Đây là điều khó học và khó làm, nhưng phần thưởng thì lớn lao.

[39] To those who wrestle, strive, and hold on, [40] the joy is doubled when the materialisation comes. [41] The joy of contrast will be yours, for knowing the past of darkness you will revel in the light of fruition; [42] the joy of tried and tested companionship will be yours, for years will have proved to you who are your chosen associates, and in community of suffering will come the strengthened link; [43] the joy of peace after victory will be yours, [44] for to the tired warrior the fruits of achievement and rest are doubly sweet; the joy of participation in the Masters’ [Page 369] plan will be yours, and all is well that associates you closely with Them; the joy of having [45] helped to solace a needy world, of having brought light to darkened souls, of having healed in some measure the open sore of the world’s distress, will be yours, and in the consciousness of days well spent, and in the gratitude of salvaged souls, comes the deepest joy of all, —the joy a Master knows when He is instrumental in lifting a brother up a little higher on the ladder. [46] This is the joy that is set before you all—and not so very far ahead it lies. [47] So work, not for joy but towards it; not for reward, but from the inner need to help; not for gratitude, but from the urge that comes from having seen the vision and realisation of the part you have to play in bringing that vision down to earth.

[39] Đối với những ai vật lộn, phấn đấu và kiên trì, [40] sự hoan hỉ sẽ được nhân đôi khi sự hiện hình đến. [41] Sự hoan hỉ của tương phản sẽ thuộc về các bạn, vì khi biết quá khứ của bóng tối, các bạn sẽ hân hoan trong ánh sáng của thành tựu; [42] sự hoan hỉ của tình đồng hành đã được thử thách và kiểm chứng sẽ thuộc về các bạn, vì năm tháng sẽ chứng minh cho các bạn biết ai là những cộng sự được chọn của mình, và trong cộng đồng của khổ đau, mối dây liên kết sẽ được củng cố; [43] sự hoan hỉ của bình an sau chiến thắng sẽ thuộc về các bạn, [44] vì đối với chiến sĩ mệt mỏi, hoa trái của thành tựu và nghỉ ngơi ngọt ngào gấp đôi; sự hoan hỉ của việc tham dự vào Thiên Cơ của các Chân sư [Page 369] sẽ thuộc về các bạn, và mọi điều gắn kết các bạn mật thiết với Các Ngài đều là tốt đẹp; sự hoan hỉ vì đã [45] góp phần an ủi một thế giới thiếu thốn, vì đã đem ánh sáng đến cho những linh hồn tối tăm, vì đã chữa lành phần nào vết thương hở của nỗi thống khổ thế gian, sẽ thuộc về các bạn; và trong tâm thức về những ngày đã được dùng tốt, cùng trong lòng biết ơn của những linh hồn được cứu vớt, sự hoan hỉ sâu xa nhất trong tất cả sẽ đến — sự hoan hỉ mà một Chân sư biết khi Ngài là khí cụ nâng một huynh đệ lên cao hơn một chút trên chiếc thang. [46] Đây là sự hoan hỉ được đặt trước tất cả các bạn — và nó không nằm quá xa phía trước. [47] Vậy hãy làm việc, không phải vì sự hoan hỉ mà hướng tới nó; không vì phần thưởng, mà từ nhu cầu bên trong muốn giúp đỡ; không vì lòng biết ơn, mà từ thôi thúc phát sinh do đã thấy tầm nhìn và nhận biết phần việc các bạn phải đảm nhận trong việc đưa tầm nhìn ấy xuống trần gian.

[48] It is helpful to differentiate between happiness, joy and bliss:

[48] Phân biệt giữa hạnh phúc, sự hoan hỉ và chí phúc là điều hữu ích:

[49] First, happiness, which has its seat in the emotions, and is a personality reaction.

[49] Thứ nhất, hạnh phúc, vốn có chỗ trú trong các cảm xúc và là một phản ứng của phàm ngã.

[50] Second, joy, which is a quality of the soul and is realised in the mind, when alignment takes place.

[50] Thứ hai, sự hoan hỉ, vốn là một phẩm tính của linh hồn và được nhận biết trong thể trí khi sự chỉnh hợp diễn ra.

[51] Third, bliss, which is the nature of the Spirit and about which speculation is fruitless until the soul realises its oneness with the Father. [52] This realisation follows upon an earlier stage wherein the personal self is at-oned with the soul. [53] Therefore speculation and analysis as to the nature of bliss is profitless to the average man whose metaphors and terminologies must perforce be personal and related to the world of the senses. Does the aspirant refer to his happiness or joy? [54] If he refers to the latter it must come as the effect of group consciousness, of group solidarity, of oneness with all beings, and may not be interpreted in terms of happiness after all. [55] Happiness comes when the personality is meeting with those conditions which satisfy it in one part or other of its lower nature; [56] it comes when there is a sense of physical [Page 370] well being, of contentment with one’s environment or surrounding personalities, or of satisfaction with one’s mental opportunities and contacts. Happiness is the goal of the separated self.

[51] Thứ ba, chí phúc, vốn là bản chất của Tinh thần, và mọi suy đoán về nó đều vô ích cho đến khi linh hồn nhận biết sự hợp nhất của mình với Cha. [52] Sự nhận biết này theo sau một giai đoạn trước đó, trong đó bản ngã cá nhân được hợp nhất với linh hồn. [53] Vì vậy, sự suy đoán và phân tích về bản chất của chí phúc là vô ích đối với người bình thường, người mà các ẩn dụ và thuật ngữ của y tất yếu phải mang tính cá nhân và liên hệ với thế giới của giác quan. Người chí nguyện đang nói đến hạnh phúc hay sự hoan hỉ của mình? [54] Nếu y nói đến điều sau, thì nó phải đến như hiệu quả của tâm thức nhóm, của sự đoàn kết nhóm, của sự hợp nhất với mọi hữu thể, và rốt cuộc không thể diễn giải nó theo các thuật ngữ của hạnh phúc. [55] Hạnh phúc đến khi phàm ngã gặp những điều kiện làm nó thỏa mãn ở phần này hay phần khác của bản chất thấp nơi nó; [56] nó đến khi có cảm thức về sự an ổn hồng trần [Page 370], về sự mãn nguyện với môi trường hay với các phàm ngã chung quanh, hoặc về sự thỏa mãn với các cơ hội và tiếp xúc trí tuệ của mình. Hạnh phúc là mục tiêu của cái ngã tách biệt.