← Bình Giảng White Magic – Quy Luật 10 Cõi Cảm Dục

Text Webinar Program 41 – Rule 10.25

Trích nội dung chương

[1] When however we seek to live as souls, the contentment of the lower man is discounted and we find joy in our group relationships and in bringing about those conditions which lead to the better expression of the souls of those we contact. [2] This bringing of joy to others in order to produce conditions in which they may better express themselves may have a physical effect as we seek to better their material conditions, or an emotional effect as our presence brings to them peace and uplift, or an intellectual result as we stimulate them to clarity of thought and understanding. [3] But the effect upon ourselves is joy, for our action has…


Text Webinar Program 41 – Rule 10.25

[1] When however we seek to live as souls, the contentment of the lower man is discounted and we find joy in our group relationships and in bringing about those conditions which lead to the better expression of the souls of those we contact. [2] This bringing of joy to others in order to produce conditions in which they may better express themselves may have a physical effect as we seek to better their material conditions, or an emotional effect as our presence brings to them peace and uplift, or an intellectual result as we stimulate them to clarity of thought and understanding. [3] But the effect upon ourselves is joy, for our action has been selfless and non-acquisitive, and not dependent upon the aspirant’s circumstance or worldly state. [4] Much happiness is necessarily foregone when ill-health makes its pressure felt, as the environment is difficult and the “accumulated karma of many births” presses down, [5] or as the troubles of the family, nation or race weigh upon the sensitive personality. [6] The happiness of youth [7] or the self-centred contentment of the selfish insulated person (hiding himself behind the shield of his protective desires) must not be confounded with joy.

[1] Tuy nhiên, khi chúng ta tìm cách sống như những linh hồn, sự mãn nguyện của phàm nhân bị xem nhẹ, và chúng ta tìm thấy sự hoan hỉ trong các mối liên hệ nhóm của mình, cũng như trong việc tạo ra những điều kiện dẫn đến sự biểu lộ tốt đẹp hơn của linh hồn nơi những người mà chúng ta tiếp xúc. [2] Việc đem sự hoan hỉ đến cho người khác, nhằm tạo ra những điều kiện trong đó họ có thể biểu lộ chính mình tốt hơn, có thể tạo nên một ảnh hưởng hồng trần khi chúng ta tìm cách cải thiện các điều kiện vật chất của họ; hoặc một ảnh hưởng cảm xúc khi sự hiện diện của chúng ta đem đến cho họ sự bình an và nâng đỡ; hoặc một kết quả trí tuệ khi chúng ta kích thích họ đạt tới sự sáng tỏ trong tư tưởng và thấu hiểu. [3] Nhưng ảnh hưởng đối với chính chúng ta là sự hoan hỉ, vì hành động của chúng ta là vô ngã và không nhằm thu đoạt, cũng không tùy thuộc vào hoàn cảnh hay địa vị thế gian của người chí nguyện. [4] Nhiều hạnh phúc tất yếu phải bị từ bỏ khi bệnh tật gây áp lực, khi môi trường trở nên khó khăn và “nghiệp quả tích lũy của nhiều kiếp sinh” đè nặng xuống, [5] hoặc khi những khó khăn của gia đình, quốc gia hay nhân loại đè lên phàm ngã nhạy cảm. [6] Hạnh phúc của tuổi trẻ [7] hay sự mãn nguyện tập trung vào bản thân của kẻ ích kỷ tự cô lập, ẩn mình sau tấm khiên của những ham muốn tự vệ, không được lẫn lộn với sự hoan hỉ.

[8] It is a platitude as well as an occult paradox to say that in the midst of profound personality distress and unhappiness, the joy of the soul may be known and felt. [9] Such however is the case, and it is for this the student must aim. [10] Some people are happy because they shut their eyes to truth, or are self-hypnotised, hiding themselves within a shell of illusion. [11] But the aspirant has frequently reached the stage wherein his eyes are wide open; he has learnt to speak truth to himself, and has built up no separating wall between himself and [Page 371] others. He is awake and alive; he is sensitive and frequently suffering. He wonders why apparently what the world calls happiness and peace have left him, and asks what is to be the outcome.

[8] Nói rằng giữa nỗi khốn khổ và bất hạnh sâu xa của phàm ngã, sự hoan hỉ của linh hồn vẫn có thể được nhận biết và cảm nhận, vừa là một điều sáo mòn vừa là một nghịch lý huyền bí. [9] Tuy nhiên, sự thật là như vậy, và đó là điều đạo sinh phải hướng tới. [10] Một số người hạnh phúc vì họ nhắm mắt trước chân lý, hoặc tự thôi miên mình, ẩn mình trong một lớp vỏ ảo tưởng. [11] Nhưng người chí nguyện thường đã đạt tới giai đoạn trong đó mắt y mở rộng; y đã học cách nói sự thật với chính mình, và không dựng lên bức tường chia cách nào giữa chính mình và [Page 371] người khác. Y tỉnh thức và sống động; y nhạy cảm và thường đau khổ. Y tự hỏi vì sao điều mà thế gian gọi là hạnh phúc và bình an dường như đã rời bỏ y, và hỏi kết quả sẽ là gì.

[12] We who watch and guide on the inner side, [13] watch with loving care all of you who struggle in the thick of the fray. [14] We are like the General Headquarters Staff who follow the course of the battle from a secure eminence. [15] In our security lies your ultimate success, for we hold in our hands the solution of many problems, and apply that solution when the battle goes contrary. [16] One thing always would I have you remember. It is of vital importance. It is this statement, that in the destruction of the form lies hid the secret of all evolution. [17] Think not this is truism. You will see it in constant application and need to be prepared for its demonstration. [18] The Masters utilize the form to the uttermost; [19] They seek to work through it, imprisoning the life in confining walls for just as long as the purpose is served and the race instructed through that form. [20] Then the time comes that the form no longer serves the purpose intended, when the structure atrophies, crystallises and becomes easily destructible. [21] Its destruction then becomes the matter of greatest concern and usefulness, and it goes, whilst a new form takes its place. [22] Watch and see if this be not so. [23] Always the building of the form, always its utilisation for as long as possible, [24] always the destruction of the form when it hinders and cramps the expanding light, always then the rapid reconstruction of a new form. [25] Such has been the method since the commencement of the aeon.

[12] Chúng tôi, những Đấng quan sát và hướng dẫn ở phía nội giới, [13] quan sát với sự chăm sóc đầy tình thương tất cả các bạn, những người đang đấu tranh giữa nơi giao tranh ác liệt. [14] Chúng tôi giống như Ban Tham mưu Bộ Tổng chỉ huy, theo dõi diễn tiến của trận chiến từ một điểm cao an toàn. [15] Chính trong sự an toàn của chúng tôi có thành công tối hậu của các bạn, vì chúng tôi nắm trong tay lời giải cho nhiều vấn đề, và áp dụng lời giải ấy khi trận chiến diễn biến bất lợi. [16] Tôi luôn muốn các bạn ghi nhớ một điều. Điều ấy có tầm quan trọng thiết yếu. Đó là lời khẳng định này: trong sự hủy diệt hình tướng, bí mật của mọi tiến hoá được ẩn giấu. [17] Đừng nghĩ đây là một chân lý hiển nhiên sáo rỗng. Các bạn sẽ thấy nó được áp dụng thường xuyên và cần chuẩn bị cho sự chứng minh của nó. [18] Các Chân sư sử dụng hình tướng đến mức tối đa; [19] Các Ngài tìm cách làm việc thông qua nó, giam giữ sự sống trong những bức tường hạn hẹp đúng chừng nào mục đích còn được phục vụ và nhân loại còn được giáo huấn qua hình tướng ấy. [20] Rồi đến lúc hình tướng không còn phục vụ mục đích đã định, khi cấu trúc teo lại, kết tinh và trở nên dễ bị phá hủy. [21] Khi ấy, sự hủy diệt của nó trở thành vấn đề có tầm quan trọng và hữu ích lớn lao nhất, và nó biến mất, trong khi một hình tướng mới thay thế vị trí của nó. [22] Hãy quan sát và xem có phải điều này không đúng như vậy chăng. [23] Luôn luôn là việc xây dựng hình tướng, luôn luôn là việc sử dụng nó lâu nhất có thể, [24] luôn luôn là sự hủy diệt hình tướng khi nó cản trở và bó hẹp ánh sáng đang mở rộng, và rồi luôn luôn là sự tái kiến tạo nhanh chóng một hình tướng mới. [25] Đó đã là phương pháp từ lúc khởi đầu của đại chu kỳ này.

[26] In the infancy of the race the forms endured for a long time. [27] Evolution moved more slowly, but now on the upward trend of all things, the form has but short duration. [28] It lives vitally for a brief period; it moves with rapidity and then is succeeded by another form. This [Page 372] rapidity will increase not decrease as the consciousness or inner expansion of the life of the race vibrates ever to a faster and lighter rate of rhythm.

[26] Trong thời thơ ấu của nhân loại, các hình tướng tồn tại rất lâu. [27] Tiến hoá chuyển động chậm hơn, nhưng nay, trên chiều hướng thăng thượng của vạn vật, hình tướng chỉ có thời gian tồn tại ngắn. [28] Nó sống động mạnh mẽ trong một giai đoạn ngắn; nó chuyển động nhanh chóng rồi được kế tục bởi một hình tướng khác. Tốc độ [Page 372] này sẽ gia tăng chứ không giảm bớt, khi tâm thức hay sự mở rộng nội tâm của sự sống nhân loại rung động theo một nhịp điệu ngày càng nhanh hơn và nhẹ hơn.

[29] It is necessary likewise that you arrive at the realization that one of the principal objects of endeavor at the present time on the part of those whom you call the Elder Brothers of the race, is to stimulate, purify and coordinate the etheric body. [30] This etheric body is not only the transmitter of prana but is the medium for all the energies which we are considering. [31] Its importance also lies in other directions:

[29] Cũng cần thiết để các bạn đạt tới nhận biết rằng một trong những mục tiêu chính yếu của nỗ lực hiện nay, từ phía những Đấng mà các bạn gọi là các Huynh Trưởng của nhân loại, là kích thích, thanh lọc và phối hợp thể dĩ thái. [30] Thể dĩ thái này không chỉ là bộ truyền dẫn prana, mà còn là phương tiện trung gian cho tất cả các năng lượng mà chúng ta đang xem xét. [31] Tầm quan trọng của nó còn nằm ở những phương diện khác:

[32] a. Being of physical plane matter, literally, etheric consciousness is the next step ahead for the race. [33] This will demonstrate at first as the ability to see etherically and to cognize etheric matter.

[32] a. Vì theo nghĩa đen, nó thuộc vật chất cõi hồng trần, nên tâm thức dĩ thái là bước kế tiếp trước mắt của nhân loại. [33] Điều này ban đầu sẽ biểu lộ như khả năng thấy bằng dĩ thái và nhận biết vật chất dĩ thái.

[34] b. It is the field of exploration immediately ahead of the modern scientist. [35] In ten years time, many medical practitioners will be recognizing it as a fact of nature.

[34] b. Nó là lĩnh vực khảo sát ngay trước mắt nhà khoa học hiện đại. [35] Trong vòng mười năm, nhiều nhà hành nghề y sẽ nhận ra nó như một sự kiện của tự nhiên.

[36] c. Most of the diseases that the physical body suffers from at present have their roots in the etheric body. There are few, if any, purely physical diseases. Disease has its source in astral and etheric conditions.

[36] c. Phần lớn các bệnh tật mà thể xác hiện nay mắc phải đều có gốc rễ trong thể dĩ thái. Có rất ít, nếu có, những bệnh thuần túy hồng trần. Bệnh tật có nguồn gốc trong các tình trạng cảm dục và dĩ thái.

[37] d. The secret of safe and sane clairvoyance and clairaudience depends upon the purification of the etheric vehicle.

[37] d. Bí mật của thông nhãn và thông nhĩ an toàn, lành mạnh tùy thuộc vào sự thanh lọc hiện thể dĩ thái.

[38] e. The etheric emanations of people can be great contaminators. In the purification, therefore, of this body lies the secret of a sweeter and saner humanity.

[38] e. Các phát xạ dĩ thái của con người có thể là những tác nhân gây ô nhiễm mạnh mẽ. Vì vậy, chính trong sự thanh lọc thể này có bí mật của một nhân loại dịu hòa hơn và lành mạnh hơn.

[39] Hence, the importance of the etheric. There are many other reasons which will later be emphasized. In beginning to form your ideas on the subject, however, it is the part of wisdom to adhere to wide generalities until the whole matter has taken clear shape in your mind.

[39] Do đó, thể dĩ thái có tầm quan trọng. Có nhiều lý do khác sẽ được nhấn mạnh về sau. Tuy nhiên, khi bắt đầu hình thành các ý tưởng của các bạn về chủ đề này, điều khôn ngoan là bám vào những khái quát rộng, cho đến khi toàn bộ vấn đề đã định hình rõ ràng trong trí bạn.

[40] Work on the etheric body, however, from the standpoint of the Hierarchy is not confined only to the bodies of men. It is a planetary process. [41] The etheric body of [Page 373] the earth itself is being subjected to a definite stimulation. [42] The spirit of the earth, [43] that mysterious entity—not the planetary Logos—is being vivified in a new sense and in his vivification many interesting developments eventuate. [44] In three ways this is being attempted:

[40] Tuy nhiên, xét từ lập trường của Thánh Đoàn, công việc đối với thể dĩ thái không chỉ giới hạn trong các thể của con người. Đó là một tiến trình hành tinh. [41] Thể dĩ thái của [Page 373] chính Trái Đất đang chịu một sự kích thích rõ rệt. [42] Tinh linh địa cầu, [43] thực thể huyền bí ấy — không phải Hành Tinh Thượng đế — đang được tiếp sinh lực theo một ý nghĩa mới, và trong sự tiếp sinh lực của thực thể ấy, nhiều phát triển thú vị xảy ra. [44] Điều này đang được thực hiện theo ba cách:

[45] 1. By an increased rate of vibration of the etheric atoms, caused by the coming in of the ceremonial ray. [46] This must not be pictured as a sudden and violent change. From the standpoint of the human student the rate of increase is apparently so slow and gradual as to be inappreciable. [47] Nevertheless, the stimulation exists, and in the course of centuries will be recognized.

[45] 1. Bằng một tốc độ rung động gia tăng của các nguyên tử dĩ thái, do sự nhập lưu của cung nghi lễ gây nên. [46] Điều này không nên được hình dung như một thay đổi đột ngột và dữ dội. Từ lập trường của đạo sinh là con người, tốc độ gia tăng dường như chậm rãi và tuần tự đến mức không thể nhận thấy. [47] Tuy nhiên, sự kích thích vẫn hiện hữu, và theo dòng các thế kỷ, nó sẽ được nhận ra.

[48] 2. By the play of certain astral forces on the etheric body that leads to slow but definite changes in the internal structure of the atom, the coming into consciousness of another of the spirillae and a general tightening up of the whole cosmos of the atom.

[48] 2. Bằng sự tác động của một số mãnh lực cảm dục lên thể dĩ thái, dẫn đến những thay đổi chậm rãi nhưng rõ rệt trong cấu trúc nội tại của nguyên tử, sự thức tỉnh trong tâm thức của một loa tuyến khác, và sự siết chặt tổng quát của toàn bộ tiểu vũ trụ nguyên tử.

[49] 3. By the use on the inner planes by the Mahachohan of one of the powerful talismans of the seventh ray.

[49] 3. Bằng việc Đức Mahachohan sử dụng trên các cõi nội giới một trong những linh phù đầy quyền năng của cung bảy.

[50] The spirit of the earth, it might be noted, is of slow and gradual arousing. He is on the involutionary arc and passes on to the evolutionary in some dim and distant future. [51] Therefore, he will not carry us with him. [52] He but serves our purpose now, [53] offering us a home within his body, yet remaining dissociated from us. [54] The devas of the ethers from this very stimulation are consequently hastening forward in evolution and approximating also nearer to their ideal.

[50] Cần lưu ý rằng tinh linh địa cầu đang thức tỉnh chậm rãi và tuần tự. Thực thể ấy ở trên cung giáng hạ tiến hoá và sẽ chuyển sang cung thăng thượng tiến hoá trong một tương lai mờ xa. [51] Vì vậy, thực thể ấy sẽ không mang chúng ta đi theo mình. [52] Hiện nay, thực thể ấy chỉ phục vụ mục đích của chúng ta, [53] ban cho chúng ta một mái nhà trong thân thể của mình, nhưng vẫn tách biệt khỏi chúng ta. [54] Do chính sự kích thích này, các thiên thần của những tầng dĩ thái đang được thúc đẩy nhanh hơn trong tiến hoá, và cũng tiến gần hơn đến lý tưởng của các vị ấy.

[55] In all I have said anent the etheric body of men, anent the planet, anent the spirit of the earth, the crux of the whole situation lies in the fact that the five rays at this time have the seventh ray as their predominating ray. [56] The seventh ray is the ray that controls the etheric and the devas of the ethers. [57] It controls the seventh sub-plane of all planes [58] but it dominates at this time the seventh sub-plane of the physical plane. [59] Being in the fourth [Page 374] round also, [60] when a ray comes into definite incarnation, it not only controls on planes of the same number but has a special influence on the fourth sub-plane. [61] Note how this works at this time in the three worlds:

[55] Trong tất cả những gì tôi đã nói về thể dĩ thái của con người, về hành tinh, về tinh linh địa cầu, điểm mấu chốt của toàn bộ tình thế nằm ở sự kiện rằng năm cung vào lúc này lấy cung bảy làm cung chi phối của chúng. [56] Cung bảy là cung cai quản dĩ thái và các thiên thần của những tầng dĩ thái. [57] Nó cai quản cõi phụ thứ bảy của mọi cõi, [58] nhưng vào lúc này nó chi phối cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần. [59] Vì chúng ta cũng đang ở cuộc tuần hoàn thứ tư, [Page 374] [60] nên khi một cung nhập thể rõ rệt, nó không chỉ cai quản trên các cõi có cùng số, mà còn có một ảnh hưởng đặc biệt trên cõi phụ thứ tư. [61] Hãy lưu ý cách điều này vận hành vào lúc này trong ba cõi giới:

[62] 1. The fourth ether, the lowest of the ethers, is to be the next physical plane of consciousness. [63] Etheric matter is even now becoming visible to some, and will be entirely visible at the end of this century to many.

[62] 1. Dĩ thái thứ tư, tầng thấp nhất trong các tầng dĩ thái, sẽ là cõi hồng trần kế tiếp của tâm thức. [63] Vật chất dĩ thái ngay lúc này đã trở nên hữu hình đối với một số người, và đến cuối thế kỷ này sẽ hoàn toàn hữu hình đối với nhiều người.

[64] 2. The fourth sub-plane of the astral holds the majority of men when they pass over and consequently much work on the greatest number can therefore be accomplished.

[64] 2. Cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục giữ phần lớn con người khi họ qua đời, và do đó, nhiều công việc đối với số đông nhất có thể được thực hiện.

[65] 3. The fourth mental sub-plane is the plane of devachan.

[65] 3. Cõi phụ thứ tư của cõi trí là cõi thiên đường.