Trích nội dung chương
So, it's going to be potent on the physical plane as long as it's in the creator's thought and this represents, represents an earlier stage than one that follows release or severing of the creation from the creator. Vì vậy, nó sẽ có uy lực trên cõi hồng trần chừng nào nó còn ở trong tư tưởng của đấng sáng tạo, và điều này biểu thị một giai đoạn sớm hơn so với giai đoạn theo sau sự phóng thích hoặc cắt đứt sáng tạo khỏi đấng sáng tạo.
So, it's going to be potent on the physical plane as long as it's in the creator's thought and this represents, represents an earlier stage than one that follows release or severing of the creation from the creator.
Vì vậy, nó sẽ có uy lực trên cõi hồng trần chừng nào nó còn ở trong tư tưởng của đấng sáng tạo, và điều này biểu thị một giai đoạn sớm hơn so với giai đoạn theo sau sự phóng thích hoặc cắt đứt sáng tạo khỏi đấng sáng tạo.
[96] b. It “keeps its distance” occultly from its Creator. Many thought-forms remain futile as they are “too close” to their Creator.
[96] b. Nó “giữ khoảng cách” một cách huyền bí với Đấng Sáng Tạo của nó. Nhiều hình tư tưởng vẫn vô hiệu vì chúng “quá gần” Đấng Sáng Tạo của chúng.
And others cannot use such forms or interpret them. It's kind of interesting keeping up the analogy here or at least the example of Beethoven's fifth symphony. How many different conductors have their own method of interpreting that great symphony?
Và những người khác không thể sử dụng hay diễn giải các hình tướng như thế. Việc tiếp tục phép loại suy ở đây, hoặc ít nhất là ví dụ về bản giao hưởng số năm của Beethoven, khá thú vị. Bao nhiêu nhạc trưởng khác nhau có phương pháp riêng của họ để diễn giải bản giao hưởng vĩ đại ấy?
I sometimes think and I listen to maybe the inferior sound quality of a recording made in the 1950s but when I hear Toscanini conduct Beethoven's fifth symphony, I am excited as I am with no other interpreter and you hear all kinds of interpretations, all kinds of tempos and dynamics, the loud and soft and so forth. So, anyway, it keeps its distance from the creator occultly maybe or it should or the creator should make sure that it does and as I say not hold it too close otherwise he will suffocate. the analogy is there, you have a child but you bind the child.
Đôi khi tôi nghĩ, và tôi nghe có lẽ chất lượng âm thanh kém hơn của một bản ghi âm được thực hiện vào thập niên 1950, nhưng khi tôi nghe Toscanini chỉ huy bản giao hưởng số năm của Beethoven, tôi phấn khích theo cách mà không nhà diễn giải nào khác đem lại cho tôi; và các bạn nghe đủ mọi kiểu diễn giải, đủ mọi kiểu nhịp độ và cường độ, âm lớn và âm nhỏ, v.v. Dù sao, nó giữ khoảng cách với đấng sáng tạo một cách huyền bí, có lẽ vậy, hoặc nó nên như vậy, hoặc đấng sáng tạo nên bảo đảm rằng nó làm như vậy; và như tôi nói, không giữ nó quá gần, nếu không y sẽ làm nó ngạt thở. Phép loại suy ở đó: các bạn có một đứa trẻ, nhưng các bạn trói buộc đứa trẻ.
It's sort of a feminine analogy to your apron strings so the child is never free to go and be itself.
Đó phần nào là một phép loại suy nữ tính với dây tạp dề của các bạn, khiến đứa trẻ không bao giờ được tự do ra đi và là chính nó.
[97] c. It can be directed in any desired direction, and under the law of least resistance, can find its own place, thus performing its desired function and carrying out the purpose for which it was created.
[97] c. Nó có thể được hướng theo bất kỳ chiều hướng mong muốn nào, và theo định luật con đường ít trở ngại nhất, có thể tìm thấy vị trí riêng của mình, nhờ đó thực hiện chức năng mong muốn và hoàn thành mục đích vì đó nó đã được tạo ra.
So it will be vital on the physical form, on the physical plane as long as it can find its own place. It can be vital if it can find its own place.
Vậy nó sẽ sống động trên hình tướng hồng trần, trên cõi hồng trần, chừng nào nó có thể tìm thấy vị trí riêng của nó. Nó có thể sống động nếu nó có thể tìm thấy vị trí riêng của nó.
[98] The “formula” therefore might be regarded as the idea emanating from the divine Thinker; it might be defined as the dynamic purpose, the “thing” as the Thinker sees it and externalizes it in his mind, and visualizes it as the carrier of his intent. The mathematics which underlie the construction of a bridge, such as any of the great spans which signalize human achievement, convey [Page 456] naught to the uninitiated, but to those who know and understand, they are the bridge itself, reduced to its essential terms. They are the bridge in latency, and in these mathematical formulas lie hid the purpose, the quality and the form of the completed structure and its eventual usefulness. So it is with the concepts and the ideas which give birth to a thought-form.
[98] Vì vậy, “công thức” có thể được xem như ý tưởng xuất lộ từ Đấng Tư Tưởng thiêng liêng; nó có thể được định nghĩa như mục đích năng động, như “sự vật” mà Đấng Tư Tưởng thấy và ngoại hiện trong thể trí của Ngài, và hình dung như vật mang ý định của Ngài. Toán học nằm bên dưới việc xây dựng một cây cầu, như bất kỳ nhịp cầu vĩ đại nào đánh dấu thành tựu của con người, không truyền đạt [Page 456] gì cho người chưa được điểm đạo, nhưng đối với những ai biết và thấu hiểu, chúng chính là cây cầu, được quy giản thành các thuật ngữ cốt yếu của nó. Chúng là cây cầu trong trạng thái tiềm tàng, và trong các công thức toán học này ẩn giấu mục đích, phẩm tính và hình tướng của cấu trúc hoàn thành cùng tính hữu dụng cuối cùng của nó. Đối với các khái niệm và các ý tưởng sinh ra một hình tư tưởng cũng như vậy.
There is the formula underlying the evident form. These occult formulas exist on the archetypal plane. I think they are when we talk about the archetypes in the mind of God, mathematics has something big to play in the creation of an archetype.
Có công thức nằm dưới hình tướng hiển nhiên. Các công thức huyền bí này tồn tại trên cõi nguyên mẫu. Tôi nghĩ chúng là, khi chúng ta nói về các nguyên mẫu trong Trí của Thượng đế, toán học có vai trò lớn trong việc tạo ra một nguyên mẫu.
[99] These occult formulas exist on the archetypal plane which (for the aspirant) is the plane of the intuition, though in reality it is a state of consciousness far higher still.
[99] Các công thức huyền bí này hiện hữu trên cõi nguyên mẫu, mà đối với người chí nguyện là cõi của trực giác, dù trong thực tại đó còn là một trạng thái tâm thức cao hơn rất nhiều.
And we might say on the cosmic physical plane it is ultimately logoic.
Và chúng ta có thể nói rằng trên cõi hồng trần vũ trụ, cuối cùng nó thuộc về thượng đế.
[100] These formulas underlie a world of forms and must be contacted by those who are duly equipped to work under the Great Architect of the Universe.
[100] Các công thức này nằm bên dưới một thế giới hình tướng và phải được tiếp xúc bởi những ai được trang bị thích đáng để làm việc dưới quyền Kiến Trúc Sư Vĩ Đại của Vũ Trụ.
It's the name of the great third ray Lord in Shambhala.
Đó là danh xưng của Đấng Chúa Tể Cung ba vĩ đại ở Shamballa.
[101] There are, symbolically speaking, three great books of formulas.
[101] Nói theo biểu tượng, có ba quyển sách công thức lớn.
Goodness He's giving us some of the truths having to do with the higher creativity.
Trời ơi, Ngài đang ban cho chúng ta một vài chân lý liên quan đến sự sáng tạo cao siêu.
[102] Note the words “symbolically speaking”, and forget them not.
[102] Hãy lưu ý các từ “nói theo biểu tượng”, và đừng quên chúng.
Because we're not necessarily talking about tomes that we can open but aggregations of formulas which are found together and which have a certain similarity.
Bởi vì chúng ta không nhất thiết đang nói về những pho sách mà chúng ta có thể mở ra, mà là các tập hợp công thức được tìm thấy cùng nhau và có một sự tương đồng nhất định.
[103] There is first the Book of Life, read and eventually mastered by initiates of all degrees. There is the Book of Divine Wisdom, read by aspirants of all degrees, sometimes called the Book of Knowing Experience, and there is the Book of Forms which is compulsory reading for all in whom the intelligence is awakening to functioning activity.
[103] Trước hết có Sách Sự Sống, được các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ đọc và cuối cùng làm chủ. Có Sách Minh Triết Thiêng Liêng, được các người chí nguyện thuộc mọi cấp độ đọc, đôi khi được gọi là Sách Kinh Nghiệm Hiểu Biết, và có Sách Hình Tướng, là sách đọc bắt buộc cho tất cả những ai nơi đó trí thông minh đang thức tỉnh để hoạt động.
[104] It is with the Book of Forms that we are now concerned.
[104] Chính Sách Hình Tướng là điều chúng ta đang quan tâm hiện nay.
It's early on early man primitive man contacts the forms and learns from them.
Ở giai đoạn rất sớm, con người sơ khai, con người nguyên thủy, tiếp xúc với các hình tướng và học từ chúng.
It is with the book of forms that we are now concerned.
Chính quyển sách hình tướng là điều chúng ta đang quan tâm hiện nay.
And I think these books are also referenced in Esoteric Astrology, but here, maybe a little more is said, and if we combine what is said there with what is said here, we'll have an idea of these symbolic collections of formulas. There is first the Book of Life, read and eventually mastered by initiates of all degrees. It will consist of the true energy formulation which creates ultimately the form. There is the Book of Wisdom, read by all aspirants. How shall these formulas be applied wisely and in line with the plan? So, the Book of Divine Wisdom, read by aspirants of all degrees.
Và tôi nghĩ các quyển sách này cũng được tham chiếu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, nhưng ở đây có lẽ có nói thêm một chút; và nếu chúng ta kết hợp những gì được nói ở đó với những gì được nói ở đây, chúng ta sẽ có một ý niệm về các bộ sưu tập công thức mang tính biểu tượng này. Trước hết có Quyển Sách Sự Sống, được các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ đọc và cuối cùng làm chủ. Nó sẽ gồm sự hình thành năng lượng chân thực, điều cuối cùng tạo ra hình tướng. Có Quyển Sách Minh Triết, được mọi người chí nguyện đọc. Các công thức này phải được áp dụng một cách minh triết và phù hợp với Thiên Cơ như thế nào? Vậy, Quyển Sách Minh Triết Thiêng Liêng, được các người chí nguyện thuộc mọi cấp độ đọc.
It's connected with the second aspect of divinity, sometimes called the Book of Knowing Experience. We gather, we harvest wisdom from the attempt to apply what we think we know. And then the Book of Forms, we run into the forms and we cannot escape them, and it's compulsory reading for all of us. Just because we want certain forms to change or go away or be modified, it will not be possible, just because we want it to be so.
Nó được nối kết với phương diện thứ hai của thiên tính, đôi khi được gọi là Quyển Sách Kinh Nghiệm Hiểu Biết. Chúng ta thu góp, chúng ta gặt hái minh triết từ nỗ lực áp dụng điều chúng ta nghĩ là mình biết. Và rồi Quyển Sách Hình Tướng; chúng ta đụng phải các hình tướng và không thể thoát khỏi chúng, và đó là tài liệu đọc bắt buộc đối với tất cả chúng ta. Chỉ vì chúng ta muốn những hình tướng nhất định thay đổi, biến mất hoặc được sửa đổi, điều đó sẽ không thể xảy ra chỉ vì chúng ta muốn nó như vậy.
[105] Patanjali speaks in one place of the “rain-cloud of knowable things” of which the soul is consciously aware. The aspirant, weary of the eternal round of his own futile and unimportant thoughts, seeks to tap the resources of this “rain cloud” and so precipitate upon the earth some of the thoughts of God. He seeks to work so that he can further the manifestation of the ideas of the Creator. To do this he has to fulfill certain initial requirements, which might be briefly stated as follows:
[105] Ở một chỗ, Patanjali nói về “đám mây mưa của những điều khả tri” mà linh hồn có ý thức nhận biết. Người chí nguyện, mệt mỏi với vòng quay vĩnh viễn của những tư tưởng vô ích và không quan trọng của chính mình, tìm cách khai thông các nguồn lực của “đám mây mưa” này và nhờ vậy ngưng tụ xuống Trái Đất một số tư tưởng của Thượng đế. Y tìm cách làm việc để có thể xúc tiến sự biểu hiện các ý tưởng của Đấng Sáng Tạo. Để làm điều này, y phải hoàn thành một số yêu cầu sơ khởi, có thể được phát biểu vắn tắt như sau:
If we want to precipitate the Divine Plan by working with the “rain-cloud of knowable things,” what must the Creator do? Certain initial requirements must be fulfilled, with further requirements being added as the work progresses.
Nếu chúng ta muốn ngưng tụ Thiên Cơ bằng cách làm việc với “đám mây mưa của những điều khả tri”, Đấng Sáng Tạo phải làm gì? Một số yêu cầu ban đầu phải được hoàn thành, với các yêu cầu tiếp theo được thêm vào khi công việc tiến triển.
[106] 1. Know the true meaning of meditation.
[106] 1. Biết ý nghĩa chân thật của tham thiền.
[107] 2. Align with facility the soul, the mind and the brain.
[107] 2. Chỉnh hợp một cách dễ dàng linh hồn, thể trí và bộ não.
[108] 3. Contemplate, or function as the soul on its own plane. It then becomes possible for the soul to act [Page 457] as the intermediary between the plane of divine ideas and the mental plane.
[108] 3. Chiêm ngưỡng, hay vận hành như linh hồn trên cõi riêng của nó. Khi ấy linh hồn có thể hoạt động [Page 457] như trung gian giữa cõi của các ý tưởng thiêng liêng và cõi trí.
The soul must therefore focus on its own plane and serve as the intermediary between the plane of divine ideas and the mental plane. Initially, this may involve the higher mental plane. More profoundly, the plane of the Solar Angel is at least the buddhic plane—the plane of wisdom—and its range of focus may extend much higher, even to the cosmic astral plane.
Do đó, linh hồn phải tập trung trên cõi riêng của nó và phụng sự như trung gian giữa cõi của các ý tưởng thiêng liêng và cõi trí. Ban đầu, điều này có thể liên quan đến Cõi thượng trí. Sâu xa hơn, cõi của Thái dương Thiên Thần ít nhất là cõi Bồ đề—cõi của minh triết—và phạm vi tập trung của nó có thể vươn cao hơn nhiều, thậm chí đến cõi cảm dục vũ trụ.
[109] You see how this matter of participation in the divine creative process works out as the objective of all true meditation work?
[109] Các bạn có thấy vấn đề tham dự vào tiến trình sáng tạo thiêng liêng này thể hiện như mục tiêu của mọi công việc tham thiền chân chính như thế nào không?
The purpose of meditation, then, is to become spiritually and divinely creative in accordance with the Divine Plan. This leads to another requirement:
Vậy, mục đích của tham thiền là trở nên sáng tạo về mặt tinh thần và thiêng liêng phù hợp với Thiên Cơ. Điều này dẫn đến một yêu cầu khác:
[110] 4. Register the idea, received by the soul intuitively, and recognize the form which it should take. These last seven words are of vital importance.
[110] 4. Ghi nhận ý tưởng do linh hồn tiếp nhận bằng trực giác, và nhận ra hình tướng mà nó phải mang lấy. Bảy từ cuối này có tầm quan trọng thiết yếu.
We may register an idea correctly and yet allow it to descend into illusion by clothing it in an unsuitable form. A valuable idea may consequently become ineffective or unrecognizable. What could have been a beneficial presence among human beings may instead be ignored because people cannot recognize, understand, or relate to it.
Chúng ta có thể ghi nhận một ý tưởng một cách đúng đắn, nhưng vẫn để nó rơi vào ảo tưởng bằng cách khoác cho nó một hình tướng không phù hợp. Do đó, một ý tưởng có giá trị có thể trở nên vô hiệu hoặc không thể nhận ra. Điều lẽ ra đã có thể là một sự hiện diện có lợi giữa con người thì thay vào đó có thể bị phớt lờ vì người ta không thể nhận ra, thấu hiểu hoặc liên hệ với nó.
[111] 5. Reduce the vague and misty idea to its essentials, discarding all vain imaginings and the formulations of the lower mind, so equipping oneself to leap readily into activity, and, through steadfastness in contemplation, receive accurately the vision of the inner structure, or of the subjective skeleton, if I may so term it, of the form which is to be.
[111] 5. Quy giản ý tưởng mơ hồ và mờ sương thành những yếu tố cốt yếu của nó, loại bỏ mọi tưởng tượng phù phiếm và các tạo lập của hạ trí, nhờ đó trang bị cho bản thân để dễ dàng nhảy vào hoạt động, và, qua sự kiên định trong chiêm ngưỡng, tiếp nhận chính xác linh ảnh về cấu trúc bên trong, hay nếu tôi có thể gọi như vậy, về bộ khung chủ quan của hình tướng sẽ thành hình.
This is what we might call the reception of the blueprint. The passage clarifies how the creator manifests an idea: one must understand the true meaning of meditation, align the soul, mind, and brain, contemplate, register the impression, and recognize the form the idea should take.
Đây là điều chúng ta có thể gọi là sự tiếp nhận bản thiết kế. Đoạn văn làm rõ cách đấng sáng tạo biểu hiện một ý tưởng: người ta phải thấu hiểu ý nghĩa chân thực của tham thiền, chỉnh hợp linh hồn, thể trí và bộ não, chiêm ngưỡng, ghi nhận ấn tượng, và nhận ra hình tướng mà ý tưởng nên khoác lấy.
The true White Magician, being an initiate of the third degree, can function as the soul on its own plane—not merely within the concrete mind as a receiver of soul impression. The essential actions are to align, contemplate, register, recognize, and reduce. The improper clothing of a good idea is one of the principal causes of illusion. Once the idea has been reduced to its essential structure, the blueprint becomes discernible.
Nhà huyền thuật chánh đạo chân chính, vốn là một điểm đạo đồ bậc ba, có thể vận hành như linh hồn trên cõi riêng của nó—không chỉ trong trí cụ thể như một bộ tiếp nhận ấn tượng của linh hồn. Các hành động cốt yếu là chỉnh hợp, chiêm ngưỡng, ghi nhận, nhận ra và quy giản. Việc khoác cho một ý tưởng tốt một lớp áo không thích hợp là một trong những nguyên nhân chính của ảo tưởng. Một khi ý tưởng đã được quy giản vào cấu trúc cốt yếu của nó, bản thiết kế trở nên có thể phân biện được.