Trích nội dung chương
[40] The terms organic and inorganic are largely responsible for much of the confusion, [41] and the sharp differentiation existing in the minds of many people between body and spirit, between life and form, [42] have led to a refusal to admit the essential identity in nature of these two. [43] The world in which we live is regarded by the majority as really solid and tangible, yet possessing some mysterious power lying concealed within it which produces movement, activity and change. This is of course putting it crudely but it suffices to sum up the unintelligent attitude. [40] Các thuật ngữ hữu cơ và vô cơ chịu trách nhiệm phần lớn cho…
[40] The terms organic and inorganic are largely responsible for much of the confusion, [41] and the sharp differentiation existing in the minds of many people between body and spirit, between life and form, [42] have led to a refusal to admit the essential identity in nature of these two. [43] The world in which we live is regarded by the majority as really solid and tangible, yet possessing some mysterious power lying concealed within it which produces movement, activity and change. This is of course putting it crudely but it suffices to sum up the unintelligent attitude.
[40] Các thuật ngữ hữu cơ và vô cơ chịu trách nhiệm phần lớn cho nhiều sự rối rắm, [41] và sự biến phân sắc nét hiện hữu trong trí tuệ của nhiều người giữa thể và tinh thần, giữa sự sống và hình tướng, [42] đã dẫn đến việc từ chối thừa nhận sự đồng nhất cốt yếu trong bản chất của hai điều này. [43] Thế giới trong đó chúng ta sống được đa số xem là thực sự rắn chắc và hữu hình, nhưng lại sở hữu một quyền năng huyền bí nào đó nằm ẩn bên trong nó, tạo ra chuyển động, hoạt động và thay đổi. Dĩ nhiên, nói như vậy là thô sơ, nhưng đủ để tóm lược thái độ thiếu thông minh ấy.
[44] The orthodox scientist is largely occupied with structures, relationships, with the composition of form and with the activity produced by the component form parts and their interrelations and dependencies. The chemicals and elements and the functions and parts they play, and their mutual interactions as they compose all forms in all the kingdoms of nature are the subject of their investigation. The nature of the atom, of the molecule and the cell, their functions, the qualities of their force manifestations and the varying types of activity, the solving of the problem as to the character and nature of the energies—focalised or localised in the differing forms of the natural or material world—demand the consideration of the ablest minds in the world of thought. [45] Yet the questions—What is Life? What is Energy? or What is the process of Becoming and the nature of Being? remain unanswered. [46] The problem as to the why and the [Page 451] wherefore is regarded as fruitless and speculative, almost insoluble.
[44] Nhà khoa học chính thống phần lớn bận tâm đến các cấu trúc, các mối quan hệ, đến cấu tạo của hình tướng và đến hoạt động được tạo ra bởi các phần cấu thành hình tướng cùng những tương quan và lệ thuộc lẫn nhau của chúng. Các hóa chất và nguyên tố, các chức năng và vai trò mà chúng đảm nhiệm, cũng như những tương tác qua lại của chúng khi chúng cấu thành mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên, là đối tượng khảo sát của họ. Bản chất của nguyên tử, của phân tử và tế bào, các chức năng của chúng, các phẩm tính của những biểu hiện mãnh lực của chúng và các loại hoạt động khác nhau, việc giải quyết vấn đề về tính cách và bản chất của các năng lượng—được tập trung hay định vị trong các hình tướng khác nhau của thế giới tự nhiên hay vật chất—đòi hỏi sự xem xét của những trí tuệ lỗi lạc nhất trong thế giới tư tưởng. [45] Tuy nhiên, các câu hỏi: Sự Sống là gì? Năng Lượng là gì? hay tiến trình Trở Thành và bản chất của Bản Thể là gì? vẫn chưa được trả lời. [46] Vấn đề về lý do và [Page 451] nguyên nhân được xem là vô ích và suy đoán, hầu như không thể giải quyết.
[47] Nevertheless, to the pure reason and through the correct functioning of the intuition, these problems can be solved and these questions answered. [48] Their solution is one of the ordinary revelations and attainments of initiation. [49] The only true biologists are the initiates of the mysteries, for they have an understanding of life and its purpose and are so identified with the life principle that they think and speak in terms of energy and its effects, [50] and all their activities, in connection with the work of the planetary Hierarchy, are based on a few fundamental formulas which concern life as it makes itself felt through its three differentiations or aspects: —energy, force, matter.
[47] Tuy nhiên, đối với lý trí thuần khiết và qua sự vận hành đúng đắn của trực giác, các vấn đề này có thể được giải quyết và các câu hỏi này được trả lời. [48] Lời giải của chúng là một trong những mặc khải và thành tựu thông thường của điểm đạo. [49] Những nhà sinh học chân chính duy nhất là các điểm đạo đồ của các bí pháp, vì họ có sự thấu hiểu về sự sống và mục đích của nó, và đồng hóa với nguyên khí sự sống đến mức họ tư duy và nói bằng ngôn ngữ của năng lượng và các hiệu quả của nó; [50] và mọi hoạt động của họ, liên quan đến công việc của Thánh Đoàn hành tinh, đều dựa trên một vài công thức căn bản liên quan đến sự sống khi nó làm cho chính nó được cảm nhận qua ba biến phân hay phương diện của nó: —năng lượng, mãnh lực, vật chất.
[51] It should be noted here that only as a man understands himself can he arrive at an understanding of that which is the sum total that we call God. [52] This is a truism and an occult platitude, [53] but when acted upon leads to a revelation which makes the present “Unknown God” a recognised Reality. [54] Let me illustrate:
[51] Ở đây cần lưu ý rằng chỉ khi một người thấu hiểu chính mình, y mới có thể đi đến sự thấu hiểu cái tổng thể mà chúng ta gọi là Thượng đế. [52] Đây là một chân lý hiển nhiên và một lời nói quen thuộc trong huyền bí học, [53] nhưng khi được đem ra thực hành, nó dẫn đến một sự mặc khải khiến “Thượng đế Vô Danh” hiện nay trở thành một Thực Tại được nhận biết. [54] Hãy để tôi minh họa:
[55] Man knows himself to be a living being and calls death that mysterious process wherein that something, which he commonly designates as the breath of life, is withdrawn. On its withdrawal, the form disintegrates. The cohesive vitalising force is gone, and this produces that falling apart into its essential elements of that which has hitherto been regarded as the body.
[55] Con người biết mình là một sinh linh sống động và gọi cái chết là tiến trình huyền bí trong đó một điều gì đó, mà y thường gọi là hơi thở sự sống, được rút lui. Khi nó rút lui, hình tướng tan rã. Mãnh lực cố kết và tiếp sinh lực đã mất đi, và điều này tạo ra sự phân rã thành các nguyên tố cốt yếu của cái cho đến nay vẫn được xem là thể.
[56] This life principle, this basic essential of being and this mysterious elusive factor is the correspondence in man of that which we call spirit or life in the macrocosm. Just as the life in man holds together, animates, vitalises and drives into activity the form and so makes of him a living being, so the life of God—as the Christian calls it—performs the same purpose in the universe and produces [Page 452] that coherent, living, vital ensemble which we call a solar system.
[56] Nguyên khí sự sống này, yếu tố cốt yếu căn bản của hiện tồn và nhân tố huyền bí khó nắm bắt này, là sự tương ứng trong con người với điều mà chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống trong Đại thiên địa. Cũng như sự sống trong con người giữ cho hình tướng kết hợp, làm nó linh hoạt, tiếp sinh lực cho nó và thúc đẩy nó vào hoạt động, nhờ đó làm cho y thành một sinh linh sống động, thì sự sống của Thượng đế—như người Cơ Đốc gọi—cũng thực hiện cùng mục đích ấy trong vũ trụ và tạo ra [Page 452] toàn thể cố kết, sống động, đầy sinh lực mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời.
[57] This life principle in man manifests in a triple manner:
[57] Nguyên khí sự sống này trong con người biểu hiện theo cách tam phân:
[58] 1. As the directional will, purpose, basic incentive. This is the dynamic energy which sets the being functioning, brings him into existence, sets the term of his life, [59] carries him through the years, [60] long or short, and abstracts itself at the close of his life cycle. [61] This is the spirit in man, manifesting as the will to live, to be, to act, to pursue, to evolve. [62] In its lowest aspect this works through the mental body or nature, and in connection with the dense physical makes itself felt through the brain.
[58] 1. Như ý chí định hướng, mục đích, động cơ căn bản. Đây là năng lượng năng động đặt sinh linh vào hoạt động, đưa y vào hiện tồn, ấn định thời hạn đời sống của y, [59] mang y đi qua năm tháng, [60] dài hay ngắn, và tự rút lui vào cuối chu kỳ đời sống của y. [61] Đây là tinh thần trong con người, biểu hiện như ý chí sống, hiện tồn, hành động, theo đuổi, tiến hóa. [62] Trong phương diện thấp nhất, nó hoạt động qua thể trí hay bản chất trí tuệ, và trong liên hệ với thể xác đậm đặc, nó làm cho chính mình được cảm nhận qua bộ não.
[63] 2. As the coherent force. [64] It is that significant essential quality which makes each man different, [65] which produces that complex manifestation of moods, desires, qualities, complexes, inhibitions, feelings and characteristics which produce a man’s peculiar psychology. [66] This is the result of the interplay between the spirit or energy aspect, and the matter or body nature. [67] This is the distinctive subjective man, [67b] his colouring, or individual note; this it is which sets the rate of vibratory activity of his body, produces his particular type of form, is responsible for the condition and nature of his organs, his glands, and his outer aspect. This is the soul and—in its lowest aspect—it works through the emotional or astral nature and in connection with the dense physical, through the heart.
[63] 2. Như mãnh lực cố kết. [64] Chính phẩm tính cốt yếu đầy thâm nghĩa ấy làm cho mỗi người khác biệt, [65] tạo ra biểu hiện phức tạp của các tâm trạng, dục vọng, phẩm tính, mặc cảm, ức chế, cảm xúc và đặc tính, vốn tạo nên tâm lý riêng biệt của một người. [66] Đây là kết quả của sự tương tác giữa phương diện tinh thần hay năng lượng, và bản chất vật chất hay thể. [67] Đây là con người chủ quan đặc thù, [67b] sắc thái của y, hay âm điệu cá nhân của y; chính điều này ấn định tốc độ hoạt động rung động của thể y, tạo ra loại hình tướng riêng của y, chịu trách nhiệm về tình trạng và bản chất của các cơ quan, các tuyến, và phương diện bên ngoài của y. Đây là linh hồn và—trong phương diện thấp nhất của nó—nó hoạt động qua bản chất cảm xúc hay cảm dục, và trong liên hệ với thể xác đậm đặc, qua trái tim.
[68] 3. As the activity of the atoms and cells of which the physical body is composed. [69] It is the sum total of those little lives of which the human organs, comprising the entire man are composed. These have a life of their own and a consciousness which is strictly individual and identified. [70] This aspect of the life principle works through [Page 453] the etheric or vital body and in connection with the solid mechanism of the tangible form through the spleen.
[68] 3. Như hoạt động của các nguyên tử và tế bào cấu thành thể xác. [69] Nó là tổng thể của những sự sống nhỏ bé mà các cơ quan con người, hợp thành toàn thể con người, được cấu tạo từ đó. Chúng có một sự sống riêng và một tâm thức hoàn toàn cá biệt và được đồng hóa. [70] Phương diện này của nguyên khí sự sống hoạt động qua [Page 453] thể dĩ thái hay thể sinh lực, và trong liên hệ với bộ máy rắn chắc của hình tướng hữu hình, qua lá lách.
[71] It is not, of course, possible to give the mantric words and phrases which are mentioned in Rule XI. They would be profoundly incomprehensible to all but the initiate, and therefore need not engross our attention. It should be noted that much in these Instructions is in advance of modern thought and both these Instructions and the Treatise on Cosmic Fire will only be fully understood towards the end of this century.
[71] Dĩ nhiên, không thể đưa ra các linh từ và cụm từ mantram được đề cập trong Quy Luật XI. Chúng sẽ hoàn toàn không thể hiểu nổi đối với tất cả, ngoại trừ điểm đạo đồ, và vì vậy không cần chiếm giữ sự chú ý của chúng ta. Cần lưu ý rằng nhiều điều trong các Huấn Thị này đi trước tư tưởng hiện đại, và cả các Huấn Thị này lẫn Luận về Lửa Vũ Trụ sẽ chỉ được thấu hiểu đầy đủ vào cuối thế kỷ này.
[72] Let us consider this rule sentence by sentence, and arrive at that one of the interpretations which is the easiest for the average aspirant. [73] All these rules can be read from the standpoint of intelligent man, and will mean but little; they can be read from the standpoint of the aspirant, and will then convey certain practical ideas which are susceptible of daily application and can be wrought out in the crucible of life experience. [74] They will achieve meaning as the aspirant learns to handle energies, to work in mental matter and to cooperate creatively with the Purpose underlying the evolutionary plan. From the angle of vision of the disciple, these Rules carry certain potent instructions and will lead him to an understanding of the process of the creative work in nature, which is necessarily sealed to the mind of the aspirant. [75] As to the comprehension of the initiate, these words convey definite commands which only his illumined intuition can rightly interpret. [76] With the higher grades of intelligences we need not concern ourselves. We will consider this Rule therefore solely from the angle of vision of the average aspirant, leaving other interpretations to those individuals who have the internal equipment which will enable them to understand.
[72] Chúng ta hãy xem xét quy luật này từng câu một, và đi đến một trong các cách diễn giải dễ dàng nhất cho người chí nguyện trung bình. [73] Tất cả các quy luật này có thể được đọc từ lập trường của con người thông minh, và khi ấy sẽ chỉ có rất ít ý nghĩa; chúng có thể được đọc từ lập trường của người chí nguyện, và khi ấy sẽ truyền đạt một số ý tưởng thực tiễn có thể được áp dụng hằng ngày và được rèn luyện trong lò luyện của kinh nghiệm sống. [74] Chúng sẽ đạt được ý nghĩa khi người chí nguyện học cách xử lý các năng lượng, làm việc trong vật chất trí tuệ và hợp tác một cách sáng tạo với Mục Đích nằm bên dưới Thiên Cơ tiến hóa. Từ góc nhìn của đệ tử, các Quy Luật này mang những huấn thị mạnh mẽ nhất định và sẽ dẫn y đến sự thấu hiểu tiến trình của công việc sáng tạo trong thiên nhiên, điều tất yếu còn bị niêm kín đối với thể trí của người chí nguyện. [75] Đối với sự lĩnh hội của điểm đạo đồ, những lời này truyền đạt các mệnh lệnh xác định mà chỉ trực giác được soi sáng của y mới có thể diễn giải đúng. [76] Với các cấp độ trí tuệ cao hơn, chúng ta không cần bận tâm. Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét Quy Luật này chỉ từ góc nhìn của người chí nguyện trung bình, để các cách diễn giải khác cho những cá nhân có trang bị nội tâm giúp họ có thể thấu hiểu.