Trích nội dung chương
[77] I. Hãy xác định công thức sẽ giam giữ các sự sống bên trong bức tường bao quanh thành khối cầu. [78] All forms in nature, as we well know, are made up of [Page 454] myriads of tiny lives, holding a certain measure of awareness, of rhythm, and of coherency according to the force of the Law of Attraction, utilized by the builder of the form. [79] This is true both of the Macrocosm and of the infinite world of microcosmic lives, which are contained within the greater whole. Embryo solar systems, coming into being under the impulse of divine thought, are at first fluidic and nebulous, are shifting in outline and are held together loosely…
[77] I. Ascertain the formula which will confine the lives within the ensphering wall.
[77] I. Hãy xác định công thức sẽ giam giữ các sự sống bên trong bức tường bao quanh thành khối cầu.
[78] All forms in nature, as we well know, are made up of [Page 454] myriads of tiny lives, holding a certain measure of awareness, of rhythm, and of coherency according to the force of the Law of Attraction, utilized by the builder of the form. [79] This is true both of the Macrocosm and of the infinite world of microcosmic lives, which are contained within the greater whole. Embryo solar systems, coming into being under the impulse of divine thought, are at first fluidic and nebulous, are shifting in outline and are held together loosely by the central nucleus of energy—another way of expressing the embodied idea. [80] As time progresses, they pass on to other conditions, they take more definite form, [81] they enter into peculiar relations with allied and neighbouring forms, and adjust themselves to varying relations of an internal nature with those forms, which in the earlier stage was not possible. [82] Eventually we find a solar system such as ours and myriads of others—a solar system functioning as a sun with its revolving and rotating planets, preserving their differing orbits, holding their stated and relative positions, active as independent and inter-dependent organisms, and yet presenting, to the eye of the astronomer, a coherence, a unity and a structure that is unique in each case and yet which functions under cosmic law. [83] It measures up to some vast purpose, conceived and held steadily in the Universal Mind, which is in its turn an aspect of that group-conscious and self-conscious entity who is the author of its being and the creator of its form.
[78] Như chúng ta đều biết rõ, mọi hình tướng trong thiên nhiên đều được tạo thành từ [Page 454] vô số sự sống nhỏ bé, nắm giữ một mức độ nào đó của nhận thức, nhịp điệu và sự cố kết, tùy theo mãnh lực của Định luật Hấp Dẫn được đấng kiến tạo của hình tướng sử dụng. [79] Điều này đúng đối với cả Đại thiên địa lẫn thế giới vô tận của các sự sống tiểu thiên địa, vốn được chứa trong toàn thể lớn hơn. Các hệ mặt trời phôi thai, đi vào hiện tồn dưới xung động của tư tưởng thiêng liêng, lúc đầu thì linh động và mờ sương, đường nét thay đổi và được giữ kết hợp một cách lỏng lẻo bởi hạt nhân năng lượng trung tâm—một cách khác để diễn đạt ý tưởng được hiện thể hóa. [80] Khi thời gian tiến triển, chúng chuyển sang những tình trạng khác, mang hình tướng xác định hơn, [81] bước vào những quan hệ đặc thù với các hình tướng liên hệ và lân cận, và tự điều chỉnh với những quan hệ khác nhau có bản chất nội tại với các hình tướng ấy, điều mà ở giai đoạn trước là không thể. [82] Cuối cùng, chúng ta thấy một hệ mặt trời như hệ của chúng ta và vô số hệ khác—một hệ mặt trời vận hành như một mặt trời với các hành tinh của nó đang quay quanh và tự quay, duy trì các quỹ đạo khác nhau, giữ các vị trí xác định và tương đối của chúng, hoạt động như những cơ cấu độc lập và tương thuộc, nhưng đồng thời, đối với mắt của nhà thiên văn học, lại trình hiện một sự cố kết, một sự thống nhất và một cấu trúc độc nhất trong mỗi trường hợp, nhưng vẫn vận hành dưới định luật vũ trụ. [83] Nó đáp ứng một mục đích bao la nào đó, được thai nghén và giữ vững trong Vũ Trụ Trí, mà đến lượt nó là một phương diện của thực thể có tâm thức nhóm và ngã thức, Đấng là tác giả của bản thể nó và đấng tạo ra hình tướng của nó.
[84] This one intelligent Life may be posited as creating in his meditation (or its, if you prefer, for what do words matter when all is futile to express reality as it is!) [85] and consequently in his reflective mind, that which we call a thought-form. This thought-form has four main characteristics:
[84] Có thể giả định rằng Sự Sống thông tuệ duy nhất này tạo ra trong tham thiền của Ngài, hay của nó nếu các bạn thích, vì lời nói có nghĩa gì khi mọi lời đều bất lực trong việc diễn đạt thực tại như nó là, [85] và do đó trong thể trí phản tư của Ngài, điều mà chúng ta gọi là một hình tư tưởng. Hình tư tưởng này có bốn đặc tính chính:
[86] 1. It is brought into being through the conscious use of the Law of Attraction. [Page 455]
[86] 1. Nó được đưa vào hiện tồn qua việc sử dụng có ý thức Định luật Hấp Dẫn. [Page 455]
[87] 2. It is formed of an infinite number of living entities who are attracted by the mind of the divine Creator and thus enter into relation with each other.
[87] 2. Nó được tạo thành từ một số lượng vô tận các thực thể sống động, được thể trí của Đấng Sáng Tạo thiêng liêng thu hút và nhờ vậy đi vào quan hệ với nhau.
[88] 3. The form is the externalization of something that its Creator has:
[88] 3. Hình tướng là sự ngoại hiện của một điều mà Đấng Sáng Tạo của nó đã:
[89] a. Visualized.
[89] a. Hình dung.
[90] b. Built intelligently and “coloured” or “qualified”, so as to meet the purpose for which it was intended.
[90] b. Xây dựng một cách thông minh và “tô màu” hay “quy định phẩm tính”, để đáp ứng mục đích đã định cho nó.
[91] c. Vitalized by the potency of his desire and the strength of his living thought.
[91] c. Tiếp sinh lực bằng quyền năng của dục vọng Ngài và sức mạnh của tư tưởng sống động của Ngài.
[92] d. Held in shape as long as it is needed in order to perform its specific work.
[92] d. Giữ nó trong hình dạng chừng nào còn cần thiết để nó thực hiện công việc chuyên biệt của mình.
[93] e. Connected to himself by a magnetic thread—the thread of his living purpose and the strength of his dominant will.
[93] e. Nối kết nó với chính Ngài bằng một sợi dây từ tính—sợi dây của mục đích sống động của Ngài và sức mạnh của ý chí chi phối của Ngài.
[94] 4. This interior purpose, which has clothed itself in mental, astral and vital substance, is potent on the physical plane just as long as:
[94] 4. Mục đích nội tại này, vốn đã tự khoác lấy chất liệu trí tuệ, cảm dục và sinh lực, có quyền năng trên cõi hồng trần chừng nào:
[95] a. It remains consciously in its Creator’s thought.
[95] a. Nó còn ở trong tư tưởng có ý thức của Đấng Sáng Tạo của nó.
[96] b. It “keeps its distance” occultly from its Creator. Many thought-forms remain futile as they are “too close” to their Creator.
[96] b. Nó “giữ khoảng cách” một cách huyền bí với Đấng Sáng Tạo của nó. Nhiều hình tư tưởng vẫn vô hiệu vì chúng “quá gần” Đấng Sáng Tạo của chúng.
[97] c. It can be directed in any desired direction, and under the law of least resistance, can find its own place, thus performing its desired function and carrying out the purpose for which it was created.
[97] c. Nó có thể được hướng theo bất kỳ chiều hướng mong muốn nào, và theo định luật con đường ít trở ngại nhất, có thể tìm thấy vị trí riêng của mình, nhờ đó thực hiện chức năng mong muốn và hoàn thành mục đích vì đó nó đã được tạo ra.
[98] The “formula” therefore might be regarded as the idea emanating from the divine Thinker; it might be defined as the dynamic purpose, the “thing” as the Thinker sees it and externalizes it in his mind, and visualizes it as the carrier of his intent. The mathematics which underlie the construction of a bridge, such as any of the great spans which signalize human achievement, convey [Page 456] naught to the uninitiated, but to those who know and understand, they are the bridge itself, reduced to its essential terms. They are the bridge in latency, and in these mathematical formulas lie hid the purpose, the quality and the form of the completed structure and its eventual usefulness. So it is with the concepts and the ideas which give birth to a thought-form. [99] These occult formulas exist on the archetypal plane which (for the aspirant) is the plane of the intuition, though in reality it is a state of consciousness far higher still. [100] These formulas underlie a world of forms and must be contacted by those who are duly equipped to work under the Great Architect of the Universe. [101] There are, symbolically speaking, three great books of formulas. [102] Note the words “symbolically speaking”, and forget them not. [103] There is first the Book of Life, read and eventually mastered by initiates of all degrees. There is the Book of Divine Wisdom, read by aspirants of all degrees, sometimes called the Book of Knowing Experience, and there is the Book of Forms which is compulsory reading for all in whom the intelligence is awakening to functioning activity. [104] It is with the Book of Forms that we are now concerned.
[98] Vì vậy, “công thức” có thể được xem như ý tưởng xuất lộ từ Đấng Tư Tưởng thiêng liêng; nó có thể được định nghĩa như mục đích năng động, như “sự vật” mà Đấng Tư Tưởng thấy và ngoại hiện trong thể trí của Ngài, và hình dung như vật mang ý định của Ngài. Toán học nằm bên dưới việc xây dựng một cây cầu, như bất kỳ nhịp cầu vĩ đại nào đánh dấu thành tựu của con người, không truyền đạt [Page 456] gì cho người chưa được điểm đạo, nhưng đối với những ai biết và thấu hiểu, chúng chính là cây cầu, được quy giản thành các thuật ngữ cốt yếu của nó. Chúng là cây cầu trong trạng thái tiềm tàng, và trong các công thức toán học này ẩn giấu mục đích, phẩm tính và hình tướng của cấu trúc hoàn thành cùng tính hữu dụng cuối cùng của nó. Đối với các khái niệm và các ý tưởng sinh ra một hình tư tưởng cũng như vậy. [99] Các công thức huyền bí này hiện hữu trên cõi nguyên mẫu, mà đối với người chí nguyện là cõi của trực giác, dù trong thực tại đó còn là một trạng thái tâm thức cao hơn rất nhiều. [100] Các công thức này nằm bên dưới một thế giới hình tướng và phải được tiếp xúc bởi những ai được trang bị thích đáng để làm việc dưới quyền Kiến Trúc Sư Vĩ Đại của Vũ Trụ. [101] Nói theo biểu tượng, có ba quyển sách công thức lớn. [102] Hãy lưu ý các từ “nói theo biểu tượng”, và đừng quên chúng. [103] Trước hết có Sách Sự Sống, được các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ đọc và cuối cùng làm chủ. Có Sách Minh Triết Thiêng Liêng, được các người chí nguyện thuộc mọi cấp độ đọc, đôi khi được gọi là Sách Kinh Nghiệm Hiểu Biết, và có Sách Hình Tướng, là sách đọc bắt buộc cho tất cả những ai nơi đó trí thông minh đang thức tỉnh để hoạt động. [104] Chính Sách Hình Tướng là điều chúng ta đang quan tâm hiện nay.
[105] Patanjali speaks in one place of the “rain-cloud of knowable things” of which the soul is consciously aware. The aspirant, weary of the eternal round of his own futile and unimportant thoughts, seeks to tap the resources of this “rain cloud” and so precipitate upon the earth some of the thoughts of God. He seeks to work so that he can further the manifestation of the ideas of the Creator. To do this he has to fulfill certain initial requirements, which might be briefly stated as follows:
[105] Ở một chỗ, Patanjali nói về “đám mây mưa của những điều khả tri” mà linh hồn có ý thức nhận biết. Người chí nguyện, mệt mỏi với vòng quay vĩnh viễn của những tư tưởng vô ích và không quan trọng của chính mình, tìm cách khai thông các nguồn lực của “đám mây mưa” này và nhờ vậy ngưng tụ xuống Trái Đất một số tư tưởng của Thượng đế. Y tìm cách làm việc để có thể xúc tiến sự biểu hiện các ý tưởng của Đấng Sáng Tạo. Để làm điều này, y phải hoàn thành một số yêu cầu sơ khởi, có thể được phát biểu vắn tắt như sau:
[106] 1. Know the true meaning of meditation.
[106] 1. Biết ý nghĩa chân thật của tham thiền.
[107] 2. Align with facility the soul, the mind and the brain.
[107] 2. Chỉnh hợp một cách dễ dàng linh hồn, thể trí và bộ não.
[108] 3. Contemplate, or function as the soul on its own plane. It then becomes possible for the soul to act [Page 457] as the intermediary between the plane of divine ideas and the mental plane. [109] You see how this matter of participation in the divine creative process works out as the objective of all true meditation work?
[108] 3. Chiêm ngưỡng, hay vận hành như linh hồn trên cõi riêng của nó. Khi ấy linh hồn có thể hoạt động [Page 457] như trung gian giữa cõi của các ý tưởng thiêng liêng và cõi trí. [109] Các bạn có thấy vấn đề tham dự vào tiến trình sáng tạo thiêng liêng này thể hiện như mục tiêu của mọi công việc tham thiền chân chính như thế nào không?
[110] 4. Register the idea, received by the soul intuitively, and recognize the form which it should take. These last seven words are of vital importance.
[110] 4. Ghi nhận ý tưởng do linh hồn tiếp nhận bằng trực giác, và nhận ra hình tướng mà nó phải mang lấy. Bảy từ cuối này có tầm quan trọng thiết yếu.
[111] 5. Reduce the vague and misty idea to its essentials, discarding all vain imaginings and the formulations of the lower mind, so equipping oneself to leap readily into activity, and, through steadfastness in contemplation, receive accurately the vision of the inner structure, or of the subjective skeleton, if I may so term it, of the form which is to be.
[111] 5. Quy giản ý tưởng mơ hồ và mờ sương thành những yếu tố cốt yếu của nó, loại bỏ mọi tưởng tượng phù phiếm và các tạo lập của hạ trí, nhờ đó trang bị cho bản thân để dễ dàng nhảy vào hoạt động, và, qua sự kiên định trong chiêm ngưỡng, tiếp nhận chính xác linh ảnh về cấu trúc bên trong, hay nếu tôi có thể gọi như vậy, về bộ khung chủ quan của hình tướng sẽ thành hình.
[112] 6. This, as recorded consciously by the soul upon the mind, is as consciously registered by the mind, held steady in the light, and might be regarded as the reduction of the formula to the blue print. [113] It is not the formula itself, but the secondary process. [114] According to the strength, the simplicity and the clarity of the embodiment of the formula in a simple outlined structure, so will be the finally furnished building and the consequent form, which will confine within the periphery of the outer form itself the lives used in its construction.
[112] 6. Điều này, khi được linh hồn ghi lại một cách có ý thức trên thể trí, cũng được thể trí ghi nhận một cách có ý thức, được giữ vững trong ánh sáng, và có thể được xem như việc quy giản công thức thành bản thiết kế. [113] Nó không phải là chính công thức, mà là tiến trình thứ yếu. [114] Tùy theo sức mạnh, sự giản dị và sự sáng rõ của việc hiện thể hóa công thức trong một cấu trúc phác thảo đơn giản, tòa nhà sau cùng được hoàn thiện và hình tướng hệ quả cũng sẽ như vậy; hình tướng ấy sẽ giam giữ bên trong chu vi của chính hình tướng bên ngoài các sự sống được dùng trong việc kiến tạo nó.