← Bình Giảng White Magic – Quy Luật 11 Cõi Cảm Dục

chapter 005 03

Trích nội dung chương

There are historical examples suggestive of this darker side of occultism. Houston Stewart Chamberlain, whose racial theories were later used to support Nazi ideology, was said to have been pursued by terrifying entities. Whether or not every detail of such reports is literally accurate, the occult principle is worth considering: sustained hatred and separative thinking may generate or attract forms which eventually dominate the thinker himself. Có những ví dụ lịch sử gợi đến mặt tối này của huyền bí học. Houston Stewart Chamberlain, người có những lý thuyết chủng tộc về sau được dùng để ủng hộ hệ tư tưởng Quốc xã, được cho là đã bị những…


There are historical examples suggestive of this darker side of occultism. Houston Stewart Chamberlain, whose racial theories were later used to support Nazi ideology, was said to have been pursued by terrifying entities. Whether or not every detail of such reports is literally accurate, the occult principle is worth considering: sustained hatred and separative thinking may generate or attract forms which eventually dominate the thinker himself.

Có những ví dụ lịch sử gợi đến mặt tối này của huyền bí học. Houston Stewart Chamberlain, người có những lý thuyết chủng tộc về sau được dùng để ủng hộ hệ tư tưởng Quốc xã, được cho là đã bị những thực thể đáng sợ truy đuổi. Dù mọi chi tiết của các tường thuật như vậy có chính xác theo nghĩa đen hay không, nguyên lý huyền bí này vẫn đáng xem xét: lòng thù hận dai dẳng và tư tưởng chia rẽ có thể tạo ra hoặc thu hút những hình tướng mà cuối cùng chi phối chính người tư tưởng.

This is very different from the sensational or morbid approach to occultism which concentrates almost entirely upon demons, obsession and psychic danger. The deeper occult path concerns identification with higher energies, contact with the soul and Triad, and eventually participation in the unfolding life of the Planetary Logos. Nevertheless, the subtle causal dangers are real and have to be understood.

Điều này rất khác với cách tiếp cận huyền bí học giật gân hoặc bệnh hoạn, gần như chỉ tập trung vào ma quỷ, sự ám ảnh và nguy hiểm thông linh. Con đường huyền bí sâu xa hơn liên quan đến sự đồng hoá với những năng lượng cao siêu, sự tiếp xúc với linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần, và cuối cùng là sự tham dự vào sự sống đang khai mở của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Tuy nhiên, những nguy hiểm nhân quả tinh tế là có thật và phải được thấu hiểu.

[76] Salvation from our Thought-forms

[76] Sự Cứu Thoát khỏi các Hình Tư Tưởng của Chúng Ta

[77] I speak now for aspirants, who, through concentration and meditation, are gaining power in thought. I speak for the thinkers of the world, who, through their one-pointed application and devotion to business, to science, to religion or to the varying modes of human activity have oriented the mind (not the emotions but the mentality) to some line of constant action which is necessarily a part of the divine activity in the large sense.

[77] Giờ đây Tôi nói với những người chí nguyện đang đạt được quyền năng trong tư tưởng nhờ sự tập trung và tham thiền. Tôi nói với các nhà tư tưởng của thế giới, những người nhờ sự chuyên tâm nhất tâm và lòng tận tụy đối với kinh doanh, khoa học, tôn giáo hoặc các phương thức hoạt động khác nhau của nhân loại, đã định hướng thể trí—không phải cảm xúc mà là trí năng—vào một đường lối hoạt động liên tục nào đó, vốn tất yếu là một phần của hoạt động thiêng liêng theo nghĩa rộng.

DK is therefore addressing the thinkers: aspirants who are gaining mental power through concentration and meditation, and also those who have developed one-pointed mental application through science, business, religion or other forms of human activity. The essential point is that the mentality, rather than merely the emotional nature, has become oriented toward a sustained line of action.

Vì vậy, Chân sư DK đang nói với các nhà tư tưởng: những người chí nguyện đang đạt được quyền năng trí tuệ qua sự tập trung và tham thiền, cùng những người đã phát triển sự chuyên tâm trí tuệ nhất tâm qua khoa học, kinh doanh, tôn giáo hoặc những hình thức hoạt động khác của con người. Điểm thiết yếu là trí năng, chứ không chỉ bản chất cảm xúc, đã được định hướng vào một đường lối hành động bền bỉ.

[78] It is right here, in the use of thought, that the difference between black and white magic can be seen.

[78] Chính ở đây, trong việc sử dụng tư tưởng, người ta có thể thấy sự khác biệt giữa hắc thuật và chánh thuật.

The decisive question is motive and direction. Toward what end is thought being used? Do our thoughts become benevolent entities serving the Plan, or malevolent entities energized by selfishness, hatred, ruthlessness and cruelty?

Vấn đề quyết định là động cơ và phương hướng. Tư tưởng được sử dụng nhằm mục đích gì? Các tư tưởng của chúng ta trở thành những thực thể thiện lành phụng sự Thiên Cơ, hay những thực thể ác hại được tiếp sinh lực bằng ích kỷ, thù hận, tàn nhẫn và độc ác?

[79] Selfishness, ruthlessness, hatred, and cruelty characterize the worker in mental substance whose motives are, for many lives,

[79] Tính ích kỷ, sự tàn nhẫn, lòng thù hận và tính hung ác là đặc điểm của người hoạt động trong chất liệu trí tuệ, người mà qua nhiều kiếp, động cơ

The emphasis upon “for many lives” is important. Such a condition does not arise suddenly. It develops through repeated choices and long-established habits of separative thought and desire.

Sự nhấn mạnh vào “trong nhiều kiếp sống” rất quan trọng. Một tình trạng như vậy không đột nhiên phát sinh. Nó phát triển qua những lựa chọn lặp đi lặp lại và các thói quen tư tưởng, dục vọng chia rẽ đã tồn tại lâu dài.

[80] centered around his own aggrandisement, focused on his personal acquisition of possessions,

[80] đều tập trung quanh việc đề cao chính mình, chú trọng vào việc cá nhân chiếm hữu của cải,

This recalls the Atlantean emphasis upon possession and luxury carried to excess. The motive is self-enlargement through acquisition and accumulation.

Điều này gợi nhớ sự nhấn mạnh của Atlantis vào việc chiếm hữu và sự xa hoa đến mức thái quá. Động cơ là mở rộng bản thân qua thu đoạt và tích lũy.

[81] and directed entirely to the attainment of his own pleasure and satisfaction, no matter what the cost to others. Such men are happily few, but the way to such a point of view is easy to achieve, and many need to guard themselves lest they tread unthinkingly the way towards materiality.

[81] và hoàn toàn hướng đến việc đạt được khoái lạc cùng sự thỏa mãn riêng, bất kể người khác phải trả giá thế nào. May thay, những người như thế rất ít; nhưng con đường dẫn đến quan điểm ấy lại dễ dàng bước vào, và nhiều người cần tự đề phòng để khỏi vô tình tiến trên con đường hướng đến chủ nghĩa vật chất.

This is the left-hand orientation in a very clear form. The individual uses mental power entirely for self-aggrandizement, possession and personal gratification, regardless of the suffering imposed upon others. Such extreme cases are fortunately few, but the road toward them is much easier to enter than we might suppose.

Đây là khuynh hướng tả đạo dưới một hình thức rất rõ ràng. Cá nhân sử dụng quyền năng trí tuệ hoàn toàn để đề cao bản thân, chiếm hữu và thỏa mãn cá nhân, bất kể đau khổ gây ra cho người khác. May thay, những trường hợp cực đoan như vậy rất ít, nhưng con đường dẫn đến đó dễ bước vào hơn nhiều so với điều chúng ta có thể nghĩ.

One does not necessarily decide consciously, “I will become a black magician.” The path can begin simply through repeatedly using increasing mental power for personal ends and failing to choose selflessness when the great spiritual testing comes. If, after the Second Initiation, one refuses the path of selflessness and instead strengthens identification with form and personality, one gradually moves toward imprisonment in materiality.

Người ta không nhất thiết phải chủ ý quyết định: “Tôi sẽ trở thành một nhà hắc thuật.” Con đường có thể bắt đầu đơn giản bằng việc liên tục sử dụng quyền năng trí tuệ ngày càng tăng cho các mục đích cá nhân và không chọn lòng vị tha khi cuộc thử thách tinh thần lớn lao đến. Nếu sau lần điểm đạo thứ hai, một người khước từ con đường vị tha và thay vào đó củng cố sự đồng hoá với hình tướng và phàm ngã, y dần tiến đến sự giam cầm trong tính vật chất.

That is why vigilance is so important. In the Aryan age we live within a highly mental and potentially materialistic civilization, and the concrete mind can become an extraordinarily efficient servant of separative desire. But as the higher mind, the soul and the Venusian quality become increasingly active, this danger can be reduced.

Đó là lý do sự cảnh giác vô cùng quan trọng. Trong thời đại Arya, chúng ta sống trong một nền văn minh có tính trí tuệ cao và tiềm ẩn tính duy vật, còn trí cụ thể có thể trở thành một tôi tớ cực kỳ hữu hiệu cho dục vọng chia rẽ. Nhưng khi thượng trí, linh hồn và phẩm tính Sao Kim ngày càng hoạt động, nguy cơ này có thể giảm bớt.

[82] A gradual and steady growth in group consciousness and responsibility, a submergence of the wishes of the [Page 482] personal self and the manifestation of a loving spirit characterize those who are oriented towards the life side of the divine whole.

[82] Sự tăng trưởng dần dần và ổn định về tâm thức và trách nhiệm tập thể, việc làm chìm khuất những mong muốn của phàm ngã, cùng sự biểu lộ của một tinh thần yêu thương là đặc điểm của những người định hướng về phương diện sự sống của tổng thể thiêng liêng.

Here DK gives the opposite orientation. Instead of self-aggrandizement there is growing group consciousness; instead of personal acquisition, group responsibility; instead of strengthening the demands of the little self, there is their progressive submergence; and instead of hatred or ruthlessness, there is the manifestation of a loving and unifying spirit.

Ở đây, Chân sư DK trình bày khuynh hướng đối lập. Thay vì đề cao bản thân, tâm thức tập thể tăng trưởng; thay vì thu đoạt cho cá nhân, có trách nhiệm tập thể; thay vì củng cố các đòi hỏi của phàm ngã nhỏ bé, có sự nhấn chìm dần dần những đòi hỏi ấy; và thay vì thù hận hay tàn nhẫn, có sự biểu lộ của một tinh thần bác ái và hợp nhất.

This essentially defines the distinction between the right-hand and left-hand paths. Most of us probably assume that we are treading the right-hand path, and perhaps we are. But until the great tests have actually been met, especially those associated with the Second Initiation and the desert experience, we do not fully know how we will respond when the personality is offered power, possession, prestige or satisfaction at the expense of the soul.

Về căn bản, điều này xác định sự phân biệt giữa chánh đạo và tả đạo. Hầu hết chúng ta có lẽ cho rằng mình đang bước trên chánh đạo, và có lẽ đúng vậy. Nhưng cho đến khi thật sự đối diện với những cuộc thử thách lớn lao, đặc biệt là những thử thách liên quan đến lần điểm đạo thứ hai và trải nghiệm sa mạc, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn biết mình sẽ đáp ứng ra sao khi phàm ngã được trao quyền lực, tài sản, thanh thế hoặc sự thỏa mãn với cái giá do linh hồn phải trả.

The occult path therefore requires continuous vigilance. Negative forces do not necessarily attack openly. Their method may be subtle, entering through some unrecognized desire, fear, pride or ambition. The danger is greatest when the aspirant does not even realize that a choice is being made.

Vì vậy, con đường huyền bí đòi hỏi sự cảnh giác liên tục. Các mãnh lực tiêu cực không nhất thiết công khai tấn công. Phương thức của chúng có thể tinh vi, xâm nhập qua một dục vọng, nỗi sợ hãi, lòng kiêu hãnh hoặc tham vọng nào đó chưa được nhận ra. Nguy hiểm lớn nhất khi người chí nguyện thậm chí không nhận ra rằng mình đang đưa ra một lựa chọn.

[83] It might be said that human beings fall into three main groups:

[83] Có thể nói rằng con người thuộc ba nhóm chính:

[84] 1. The vast majority, who are neither good nor bad, but simply unthinking and entirely submerged in the evolutionary tide,

[84] 1. Đại đa số không thiện cũng không ác, mà chỉ đơn giản là không suy nghĩ và hoàn toàn chìm trong dòng triều tiến hóa,

These people are largely non-causal in the occult sense because true causality requires thought. They are primarily swept along by the evolutionary current and by collective thought and desire.

Theo ý nghĩa huyền bí, những người này phần lớn không tạo nhân vì nhân quả đích thực đòi hỏi tư tưởng. Họ chủ yếu bị cuốn theo dòng tiến hoá cùng tư tưởng và dục vọng tập thể.

[85] and in the work of developing a true self consciousness, and the needed equipment.

[85] cũng như trong công việc phát triển ngã thức chân thực và những trang bị cần thiết.

This is essentially the stage of mass consciousness. Such people are not so much thinking as being thought by the mass thought-forms surrounding them. The Leonian point of self-conscious individuality has not yet emerged strongly enough for them to stand apart from collective mental and emotional currents.

Về căn bản, đây là giai đoạn tâm thức quần chúng. Những người như vậy không thật sự tư tưởng cho bằng bị các hình tư tưởng quần chúng bao quanh tư tưởng thay cho họ. Điểm ngã thức cá thể của Sư Tử chưa xuất hiện đủ mạnh để họ đứng tách khỏi những dòng chảy trí tuệ và cảm xúc tập thể.

[86] 2. A small, a very small number, who are definitely and consciously working on the side of materiality or (if you prefer so to express it) on the side of evil.

[86] 2. Một số ít, rất ít người, đang dứt khoát và có ý thức hoạt động về phía vật chất, hay nếu các bạn thích diễn đạt như vậy, về phía cái ác.

Here materiality is equated with evil in the specific occult sense of attachment to a condition which should have been outgrown. These individuals consciously work against the life side and deliberately strengthen separative form.

Ở đây, tính vật chất được đồng nhất với cái ác theo ý nghĩa huyền bí chuyên biệt là sự bám chấp vào một tình trạng lẽ ra đã phải được vượt qua. Những cá nhân này hữu thức hoạt động chống lại phương diện sự sống và chủ ý củng cố hình tướng chia rẽ.

[87] Potent are they on the physical plane, but their power is temporal and not eternal.

[87] Họ đầy quyền lực trên cõi hồng trần, nhưng quyền lực của họ chỉ nhất thời chứ không vĩnh cửu.

Their power may be considerable in the outer world, but it belongs to shorter cycles and cannot ultimately endure. It is rooted in form, and form is temporary.

Quyền lực của họ có thể đáng kể trong thế giới bên ngoài, nhưng nó thuộc về những chu kỳ ngắn hơn và rốt cuộc không thể trường tồn. Nó bắt nguồn từ hình tướng, mà hình tướng thì tạm thời.

[88] The law of the universe, which is the law of love, is eternally against them, and out of the seeming evil good will come.

[88] Định luật của vũ trụ, tức định luật tình thương, vĩnh viễn chống lại họ; và từ cái ác có vẻ hiển hiện, điều thiện sẽ xuất hiện.

The fundamental law of our system is Love, and therefore the long-term direction of evolution is against them. Sanat Kumara has the capacity to turn apparent evil toward eventual good. Such forces may temporarily oppose the Plan of the Planetary Logos, but they cannot finally defeat the deeper purpose of the larger Life within which they themselves exist.

Định luật nền tảng của hệ thống chúng ta là Tình thương, vì vậy chiều hướng tiến hoá lâu dài chống lại họ. Đức Sanat Kumara có khả năng chuyển cái ác biểu kiến thành điều thiện cuối cùng. Những mãnh lực như vậy có thể tạm thời chống lại Thiên Cơ của Đức Hành Tinh Thượng Đế, nhưng cuối cùng chúng không thể đánh bại mục đích sâu xa hơn của Sự Sống lớn lao mà trong đó chính chúng hiện tồn.

This does not mean that disciples should attempt personally to confront cosmic evil. DK indicates that the defeat of the deeper forces of evil upon our planet belongs primarily to Shamballa, and even there the task is formidable. Master Morya speaks vividly of the greater dangers confronting the higher workers while ordinary aspirants concern themselves with comparatively minor psychic difficulties.

Điều này không có nghĩa là các đệ tử nên đích thân tìm cách đối đầu với cái ác vũ trụ. Chân sư DK chỉ rõ rằng việc đánh bại những mãnh lực tà ác sâu xa hơn trên hành tinh chúng ta chủ yếu thuộc về Shamballa, và ngay cả ở đó, nhiệm vụ này cũng vô cùng gian nan. Chân sư Morya nói một cách sinh động về những nguy hiểm lớn hơn mà các người hoạt động cao cấp phải đối diện, trong khi những người chí nguyện bình thường bận tâm đến các khó khăn thông linh tương đối nhỏ.

There is also the question of free will. Evil cannot simply be eradicated by force without consequences for those who still have to learn through confronting and overcoming it. Master Morya says that the line separating good and evil is exceedingly sinuous, and that premature intervention could itself injure those who need the experience of choosing rightly.

Ngoài ra còn có vấn đề tự do ý chí. Không thể đơn giản dùng mãnh lực diệt trừ cái ác mà không gây hậu quả cho những người vẫn phải học hỏi bằng cách đối diện và chiến thắng nó. Chân sư Morya nói rằng đường phân cách thiện và ác cực kỳ quanh co, và sự can thiệp quá sớm tự nó có thể gây tổn hại cho những người cần trải nghiệm việc lựa chọn đúng đắn.

[89] 3. A goodly number who are the pioneers into the kingdom of the soul, who are the exponents of the new age ideas, and the custodians of that aspect of the Ageless Wisdom which is next to be revealed to mankind.

[89] 3. Một số lượng đáng kể là những người tiên phong tiến vào giới của linh hồn, những người trình bày các ý tưởng của kỷ nguyên mới và những người bảo tồn phương diện của Minh Triết Ngàn Đời sắp được mặc khải cho nhân loại.

Hopefully we can increasingly number ourselves among this group. These are the pioneers into the Fifth Kingdom, the carriers of new-age ideas and the custodians of that portion of the Ageless Wisdom which is next to become available to humanity.

Hy vọng rằng chúng ta có thể ngày càng kể mình vào nhóm này. Đây là những người tiên phong đi vào giới thứ năm, những người truyền tải các ý tưởng của kỷ nguyên mới và những người gìn giữ phần Minh Triết Ngàn Đời sắp được ban truyền cho nhân loại.

[90] This group is constituted of the unselfish and intelligent men and women in every field of human endeavor, of the aspirants and disciples, of the initiates who sound the note for the various groups and types, and of the Occult Hierarchy itself.

[90] Nhóm này gồm những người nam và nữ vô tư và thông tuệ trong mọi lĩnh vực nỗ lực của nhân loại, những người chí nguyện và đệ tử, những điểm đạo đồ xướng lên âm điệu cho các nhóm và loại khác nhau, cùng chính Thánh Đoàn Huyền Bí.

The group therefore extends from sincere and intelligent servers in every field, through aspirants and disciples, to initiates and ultimately the Occult Hierarchy itself. If we are genuine aspirants moving toward discipleship and initiation, we are already related to this larger field of spiritual influence.

Vì vậy, nhóm này trải dài từ những người phụng sự chân thành và thông tuệ trong mọi lĩnh vực, qua các người chí nguyện và đệ tử, đến các điểm đạo đồ và cuối cùng là chính Thánh Đoàn Huyền Bí. Nếu chúng ta là những người chí nguyện chân chính đang tiến đến địa vị đệ tử và điểm đạo, thì chúng ta đã có liên hệ với lĩnh vực ảnh hưởng tinh thần rộng lớn hơn này.

[91] The influence of this band of mystics and knowers

[91] Ảnh hưởng của đoàn thể gồm các nhà thần bí và thức giả này

This band is closely related to what we call the New Group of World Servers.

Đoàn này có liên hệ mật thiết với điều chúng ta gọi là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

[92] is exceedingly great and the opportunity to work in cooperation with it at this time is easier of attainment than at any other time in racial history.

[92] vô cùng lớn lao; và vào lúc này, cơ hội hợp tác với đoàn thể ấy dễ đạt được hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại.

What an opportunity this represents. It is therefore particularly sad when people put their hand to the plow and then turn back, abandoning the higher point of tension they had begun to establish. The possibility of cooperation with this spiritual group is more accessible now than at any previous time in racial history, but the opportunity has to be accepted and sustained.

Đây quả là một cơ hội lớn lao. Vì vậy, thật đặc biệt đáng buồn khi người ta đã đặt tay vào lưỡi cày rồi lại quay về, từ bỏ điểm tập trung nhất tâm cao hơn mà họ đã bắt đầu thiết lập. Khả năng hợp tác với nhóm tinh thần này hiện dễ tiếp cận hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây trong lịch sử nhân loại, nhưng cơ hội ấy phải được chấp nhận và duy trì.

So we might ask ourselves: Are we becoming genuinely unselfish and intelligent workers within our own field? Are we aspirants and disciples who sound a progressive and constructive note for the groups with which we are associated? Are we actually cooperating with the larger spiritual movement rather than merely studying it?

Vì vậy, chúng ta có thể tự hỏi: Chúng ta có đang trở thành những người hoạt động thật sự vị tha và thông tuệ trong lĩnh vực của mình không? Chúng ta có phải là những người chí nguyện và đệ tử xướng lên âm điệu tiến bộ và kiến tạo cho các nhóm mà mình liên kết không? Chúng ta có thật sự hợp tác với phong trào tinh thần rộng lớn hơn thay vì chỉ nghiên cứu nó không?

[93] The first group is unthinking; the two other groups are beginning to think and to employ the laws of thought. It is with the use of thought by the aspirant that I seek to deal.

[93] Nhóm thứ nhất không suy nghĩ; hai nhóm kia đang bắt đầu suy nghĩ và vận dụng các định luật tư tưởng. Tôi muốn bàn đến cách người chí nguyện sử dụng tư tưởng.

This returns us directly to the central theme. Both the white and black orientations involve developed thought. The decisive question is how that thought is used. The Fifteen Counsels or Simple Rules we have just studied are essentially instructions in how to clean the mental atmosphere and use thought in such a way that it serves the Divine Plan.

Điều này trực tiếp đưa chúng ta trở lại chủ đề trung tâm. Cả khuynh hướng chánh đạo lẫn hắc đạo đều liên quan đến tư tưởng đã phát triển. Vấn đề quyết định là tư tưởng ấy được sử dụng như thế nào. Mười Lăm Lời Khuyên hay các Quy Luật Đơn Giản mà chúng ta vừa nghiên cứu về căn bản là những chỉ dẫn về cách thanh lọc bầu không khí trí tuệ và sử dụng tư tưởng sao cho nó phụng sự Thiên Cơ.

[94] Much about thought will be found in A Treatise on Cosmic Fire [Page 483], but I intend to give some practical ideas and suggestions which will help the average aspirant to work as he should.

[94] Có thể tìm thấy nhiều điều về tư tưởng trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nhưng Tôi dự định đưa ra một số ý tưởng và gợi ý thực tiễn nhằm giúp người chí nguyện thông thường hoạt động như y nên làm.

Now DK moves from the vast theoretical treatment of thought in A Treatise on Cosmic Fire to practical instruction for the average aspirant.

Giờ đây, Chân sư DK chuyển từ phần trình bày lý thuyết rộng lớn về tư tưởng trong Luận về Lửa Vũ Trụ sang những chỉ dẫn thực tiễn dành cho người chí nguyện trung bình.

[95] Let us remember first of all that no aspirant, no matter how sincere and devoted, is free from faults.

[95] Trước hết, chúng ta hãy nhớ rằng không người chí nguyện nào, dù chân thành và sùng tín đến đâu, lại không có khuyết điểm.

This is important. The aspirant may be sincere, devoted and even well advanced compared with the average person, but perfection is still far away. The First Initiation is commencement, not completion. Many vestigial tendencies belonging to the old personality life remain and have to be worked out over a long period.

Điều này rất quan trọng. Người chí nguyện có thể chân thành, tận tụy và thậm chí tiến khá xa so với người bình thường, nhưng sự hoàn thiện vẫn còn xa. Lần điểm đạo thứ nhất là sự khởi đầu chứ không phải hoàn tất. Nhiều khuynh hướng tàn dư thuộc đời sống phàm ngã cũ vẫn còn và phải được giải quyết trong một thời gian dài.

Perfection itself is relative because perfection means completeness, and within manifestation what is finally complete? Even a great Being may be complete relative to a particular cycle or sphere yet remain infinitesimal compared with absolute Infinity. So the important thing is not to imagine that aspiration or initiation means immediate freedom from defect.

Bản thân sự hoàn thiện cũng có tính tương đối vì hoàn thiện có nghĩa là trọn vẹn, mà trong cõi biểu hiện, điều gì cuối cùng là trọn vẹn? Ngay cả một Đấng vĩ đại cũng có thể trọn vẹn so với một chu kỳ hoặc khối cầu cụ thể, nhưng vẫn vô cùng nhỏ bé so với Vô Cực tuyệt đối. Vì vậy, điều quan trọng là không tưởng rằng khát vọng hoặc điểm đạo đồng nghĩa với việc lập tức thoát khỏi mọi khuyết điểm.

[96] Were he free, he would be an adept.

[96] Nếu không có khuyết điểm, y đã là một chân sư.

If the aspirant were actually free from these faults, he would already be a Master.

Nếu người chí nguyện thật sự không còn những khuyết điểm này, y đã là một Chân sư.

[97] All aspirants are still selfish, still prone to temper and to irritability, still subject to depression and even at times to hatred

[97] Tất cả người chí nguyện vẫn còn ích kỷ, vẫn dễ nổi nóng và cáu kỉnh, vẫn chịu những cơn chán nản và đôi khi thậm chí cả lòng thù hận.

DK's estimate of the average aspirant is therefore quite unsentimental. Elsewhere, in Glamour: A World Problem, he uses even stronger language, speaking of the unrevealed stupidity, vileness, crass ignorance and self-interest which characterize the average aspirant. The point is not condemnation but realism: aspiration does not automatically eliminate the old astral and personality tendencies.

Vì vậy, nhận định của Chân sư DK về người chí nguyện trung bình hoàn toàn không đa cảm. Ở nơi khác, trong Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, Ngài còn dùng ngôn từ mạnh mẽ hơn, nói về sự ngu muội, đê tiện, vô minh thô thiển và tư lợi chưa hiển lộ vốn là đặc điểm của người chí nguyện trung bình. Chủ đích không phải là kết án mà là nhìn thẳng vào thực tế: khát vọng không tự động loại bỏ các khuynh hướng cảm dục và phàm ngã cũ.

Selfishness, temper, irritability, depression and even hatred indicate that the astral nature can still exercise considerable control.

Sự ích kỷ, nóng giận, cáu kỉnh, u uất và thậm chí thù hận cho thấy bản chất cảm dục vẫn có thể thực hiện quyền kiểm soát đáng kể.

[98] Oft that temper and hatred may be aroused by what we call just causes.

[98] Sự nóng giận và thù hận ấy thường có thể bị khơi dậy bởi những gì chúng ta gọi là các nguyên nhân chính đáng.

The apparent justification makes the problem subtler. There are things which genuinely seem worthy of anger, and one can readily rationalize the reaction because the cause itself appears righteous.

Sự biện minh biểu kiến khiến vấn đề trở nên tinh tế hơn. Có những điều thật sự có vẻ đáng nổi giận, và người ta có thể dễ dàng hợp lý hóa phản ứng ấy vì chính nguyên nhân dường như chính đáng.

[99] Injustice on the part of others, cruelty to human beings and to animals, and the hatreds and viciousness of their fellow men do arouse in them corresponding reactions, and cause them much suffering and delay.

[99] Sự bất công của người khác, sự tàn ác đối với con người và động vật, cùng lòng thù hận và sự độc ác của đồng loại quả thực khơi dậy nơi họ những phản ứng tương ứng, đồng thời gây cho họ nhiều đau khổ và trì hoãn.

Injustice, cruelty and viciousness naturally evoke strong responses in a sensitive aspirant. But the question remains whether the corresponding hatred or temper is spiritually justified simply because the outer cause is reprehensible. The reaction itself can still produce suffering and delay.

Sự bất công, tàn ác và độc ác tự nhiên gợi lên những phản ứng mạnh mẽ nơi một người chí nguyện nhạy cảm. Nhưng câu hỏi vẫn là liệu lòng thù hận hoặc sự nóng giận tương ứng có chính đáng về mặt tinh thần chỉ vì nguyên nhân bên ngoài đáng bị lên án hay không. Chính phản ứng ấy vẫn có thể tạo ra đau khổ và trì hoãn.

[100] One thing must ever be remembered. If an aspirant evokes hatred in an associate, if he arouses him to temper, and if he meets with dislike and antagonism, it is because he himself is not entirely harmless; there are still in him the seeds of trouble, for it is a law in nature that we get what we give, and produce reactions in line with our activity be it physical, emotional or mental.

[100] Có một điều phải luôn ghi nhớ. Nếu một người chí nguyện khơi dậy lòng thù hận nơi một cộng sự, nếu y khiến người ấy nổi nóng, và nếu y gặp phải sự chán ghét cùng thái độ đối kháng, thì đó là vì chính y chưa hoàn toàn vô tổn hại; trong y vẫn còn những mầm mống gây rắc rối, bởi một định luật trong tự nhiên quy định rằng chúng ta nhận lại những gì mình trao ra và tạo nên những phản ứng phù hợp với hoạt động của mình, dù đó là hoạt động thể xác, cảm xúc hay trí tuệ.

This is a very challenging statement and deserves close attention. If we consistently evoke hatred, temper, dislike or antagonism in others, DK says that we ourselves are not yet entirely harmless. There are still seeds within us which contribute to the reaction.

Đây là một phát biểu đầy thách thức và đáng được chú ý kỹ lưỡng. Nếu chúng ta liên tục khơi dậy lòng thù hận, sự nóng giận, ác cảm hoặc đối kháng nơi người khác, Chân sư DK nói rằng chính chúng ta vẫn chưa hoàn toàn vô tổn hại. Trong chúng ta vẫn còn những hạt giống góp phần tạo nên phản ứng ấy.

That does not mean every hostile response from another person can be mechanically blamed upon the aspirant. We immediately think of figures such as Jesus or the Christ, who certainly evoked hatred from people opposed to what They represented. So the law cannot be applied superficially. But for the average aspirant it is still a powerful diagnostic principle: observe what you habitually evoke in others and ask what in your own physical, emotional or mental activity may be contributing to that response.

Điều đó không có nghĩa là mọi phản ứng thù địch từ người khác đều có thể bị quy cho người chí nguyện một cách máy móc. Chúng ta lập tức nghĩ đến những nhân vật như Đức Jesus hay Đức Christ, những Đấng chắc chắn đã gợi lên lòng căm ghét nơi những người chống đối điều Các Ngài đại diện. Vì vậy, không thể áp dụng định luật này một cách hời hợt. Nhưng đối với người chí nguyện trung bình, đó vẫn là một nguyên lý chẩn đoán đầy hiệu lực: hãy quan sát điều các bạn thường xuyên gợi lên nơi người khác và tự hỏi điều gì trong hoạt động thể xác, cảm xúc hoặc trí tuệ của chính mình có thể đang góp phần tạo nên phản ứng ấy.

Our relationships can therefore become mirrors. Sometimes the reactions we evoke are surprising, but instead of immediately assuming that the entire problem belongs to the other person, we can ask whether some remaining harshness, pride, separateness, irritation or unconscious aggression within ourselves is helping to call forth the antagonism.

Do đó, các mối quan hệ của chúng ta có thể trở thành những tấm gương. Đôi khi những phản ứng chúng ta gợi lên thật đáng ngạc nhiên, nhưng thay vì lập tức cho rằng toàn bộ vấn đề thuộc về người kia, chúng ta có thể tự hỏi liệu sự khắc nghiệt, kiêu hãnh, chia rẽ, khó chịu hoặc hung hăng vô thức nào đó còn sót lại trong chính mình có đang góp phần khơi dậy sự đối kháng hay không.

That is part of learning harmlessness—not merely refraining from obvious injury, but becoming so purified in motive, feeling and thought that we increasingly cease to evoke destructive reactions in those around us.

Đó là một phần của việc học tính vô tổn hại—không chỉ kiềm chế không gây tổn thương rõ rệt, mà còn thanh luyện động cơ, cảm xúc và tư tưởng đến mức chúng ta ngày càng không còn gợi lên những phản ứng phá hoại nơi những người xung quanh.

[101] There are certain types of men who do not come under this category. When a man has reached a stage of high initiation, the case is different.

[101] Có một số loại người không thuộc phạm trù này. Khi một người đã đạt đến một giai đoạn điểm đạo cao, trường hợp sẽ khác.

That explains the apparent exception I was thinking about when considering Jesus and the Christ. A high initiate may evoke intense antagonism without that hostility indicating some corresponding defect or harmfulness within him.

Điều đó giải thích ngoại lệ biểu kiến mà tôi đã nghĩ đến khi xem xét Đức Jesus và Đức Christ. Một điểm đạo đồ cao cấp có thể gợi lên sự đối kháng mãnh liệt mà sự thù địch ấy không biểu thị một khuyết điểm hay tính gây hại tương ứng nào bên trong Ngài.

[102] The seed ideas he seeks to convey, the work he is empowered to do, the pioneering enterprise he is endeavoring to carry forward, may—and often do—call forth from those who sense not the beauty of his cause and the rightness of the truth he enunciates, a hatred and a fury which causes him much trouble and for which he is not personally responsible.

[102] Những ý tưởng hạt giống mà y tìm cách truyền đạt, công việc y được trao quyền thực hiện và sự nghiệp tiên phong y đang cố gắng xúc tiến có thể—và thường thực sự—khơi dậy lòng thù hận và cơn cuồng nộ nơi những người không cảm nhận được vẻ đẹp của chính nghĩa ấy cũng như tính đúng đắn của chân lý mà y tuyên thuyết; điều này gây cho y nhiều rắc rối nhưng bản thân y không phải chịu trách nhiệm.

All of us, at some stage, may have to experience something of this when we offer to the world the fruits of meditation, study and service, or what we have learned through closer association with the Hierarchy. The new idea can threaten the established personality life of those who are not ready to receive it.

Ở một giai đoạn nào đó, tất cả chúng ta đều có thể phải trải nghiệm phần nào điều này khi dâng hiến cho thế gian những thành quả của tham thiền, học hỏi và phụng sự, hoặc những gì chúng ta đã học được qua sự liên kết mật thiết hơn với Thánh Đoàn. Ý tưởng mới có thể đe dọa đời sống phàm ngã đã ổn định của những người chưa sẵn sàng tiếp nhận nó.

The scene of Jesus before the crowd is an obvious example. The people demand Barabbas rather than the high initiate. Why? Jesus represents something that calls them to examine themselves, to rise beyond their accustomed standards, and to recognize faults they may prefer not to see. Barabbas, by contrast, does not impose that spiritual demand. They can feel superior to him and therefore more comfortable within their existing self-estimation.

Cảnh Đức Jesus đứng trước đám đông là một ví dụ hiển nhiên. Dân chúng đòi Barabbas thay vì vị điểm đạo đồ cao cấp. Tại sao? Đức Jesus đại diện cho điều gì đó kêu gọi họ tự xem xét mình, vượt lên trên những tiêu chuẩn quen thuộc và nhận biết các lỗi lầm mà họ có thể không muốn nhìn thấy. Trái lại, Barabbas không đặt lên họ đòi hỏi tinh thần ấy. Họ có thể cảm thấy mình cao hơn ông và do đó thoải mái hơn trong sự tự đánh giá hiện có.

The high initiate can therefore become a focus for collective hostility precisely because the truth he represents disturbs entrenched forms. The antagonism is not necessarily evoked by personal defect in him; it may arise because the new spiritual impulse threatens the old order.

Vì vậy, vị điểm đạo đồ cao cấp có thể trở thành tiêu điểm của sự thù địch tập thể chính vì chân lý Ngài đại diện làm xáo động những hình tướng đã ăn sâu. Sự đối kháng không nhất thiết do khuyết điểm cá nhân nơi Ngài gợi lên; nó có thể phát sinh vì xung lực tinh thần mới đe dọa trật tự cũ.

[103] This antagonism comes from the reactionaries and the devotees of the race and it should be remembered that it is largely impersonal even though focused on him as the representative of an idea.

[103] Sự đối kháng này xuất phát từ những kẻ phản động và những người sùng tín nhân loại; cần nhớ rằng phần lớn nó mang tính phi cá nhân, dù tập trung vào y với tư cách người đại diện cho một ý tưởng.

We are living through a major transitional period, and periods of transition naturally produce reaction. Old forms are threatened, new possibilities are emerging, and those strongly attached to former ways may respond with considerable fury.

Chúng ta đang sống qua một thời kỳ chuyển tiếp lớn, và các thời kỳ chuyển tiếp tự nhiên tạo ra phản ứng. Những hình tướng cũ bị đe dọa, các khả năng mới đang xuất hiện, và những người gắn bó sâu sắc với đường lối trước kia có thể phản ứng với cơn cuồng nộ đáng kể.

One naturally wonders what will happen when the Christ reappears. Those aligned with separative forces will certainly oppose Him, but even some who outwardly claim devotion to Christ may reject Him if the actual reappearance does not conform to their inherited expectations. Many will accept, but deeply fundamentalist and reactionary types may cling so strongly to the forms of an earlier age that they fail to recognize the very Being they profess to await.

Người ta tự nhiên tự hỏi điều gì sẽ xảy ra khi Đức Christ tái lâm. Những người chỉnh hợp với các mãnh lực chia rẽ chắc chắn sẽ chống đối Ngài, nhưng ngay cả một số người bề ngoài tuyên xưng lòng sùng tín đối với Đức Christ cũng có thể khước từ Ngài nếu sự tái lâm thực sự không phù hợp với những kỳ vọng thừa hưởng của họ. Nhiều người sẽ tiếp nhận, nhưng những kiểu người cực đoan giáo điều và phản động có thể bám chặt vào các hình tướng của một thời đại trước đến mức không nhận ra chính Đấng mà họ tuyên bố đang mong đợi.

We already see something of this attitude in warnings against “New Age” teachings or against anyone who speaks of “the Christ” rather than simply “Christ,” as though that terminology alone were evidence of a false Christ. The attachment is really to a familiar theological form, and anything which threatens that form is immediately treated with suspicion.

Chúng ta đã thấy phần nào thái độ này trong những lời cảnh báo chống lại các giáo lý “Kỷ Nguyên Mới” hoặc chống lại bất kỳ ai nói “Đức Christ” thay vì chỉ nói “Christ”, như thể chỉ riêng thuật ngữ ấy đã là bằng chứng về một Christ giả. Sự gắn bó thực ra hướng đến một hình thức thần học quen thuộc, và bất cứ điều gì đe dọa hình thức ấy đều lập tức bị nghi ngờ.

So the hatred directed toward a high initiate is often impersonal in origin. It is focused upon him because he stands as the representative of an idea, a new dispensation or a higher standard which challenges the old forms.

Vì vậy, lòng căm ghét hướng đến một điểm đạo đồ cao cấp thường có nguồn gốc phi cá nhân. Nó tập trung vào Ngài vì Ngài đứng với tư cách đại diện cho một ý tưởng, một thiên kỳ mới hoặc một tiêu chuẩn cao hơn đang thách thức các hình tướng cũ.

[104] But with these high souls I deal not, but with students of the Ageless Wisdom who are learning not only that they seldom think, but that when they do they are oft thinking [Page 484] wrongly, for they are forced into a thought activity by reactions which have their seat in their lower nature, and are based on selfishness and lack of love.

[104] Nhưng Tôi không đề cập đến những linh hồn cao cả này, mà đề cập đến các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời, những người đang học biết rằng họ không những hiếm khi suy nghĩ, mà khi suy nghĩ, họ thường suy nghĩ sai lầm, bởi các phản ứng bắt nguồn từ bản chất thấp của họ và dựa trên sự ích kỷ cùng tình trạng thiếu bác ái đã thúc đẩy họ bước vào hoạt động tư tưởng.

This brings the discussion back to us—to students of the Ageless Wisdom rather than to high initiates. The earlier principle concerning what we evoke in others applies primarily at our level. We are still learning to think, and even when we do think, much of what passes for thought is actually mental activity forced into motion by reactions originating in the lower nature.

Điều này đưa cuộc thảo luận trở lại với chúng ta—các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời chứ không phải những điểm đạo đồ cao cấp. Nguyên lý trước đây về những gì chúng ta gợi lên nơi người khác chủ yếu áp dụng ở cấp độ của chúng ta. Chúng ta vẫn đang học cách suy nghĩ, và ngay cả khi thực sự suy nghĩ, phần lớn điều được xem là tư tưởng thực ra là hoạt động trí tuệ bị các phản ứng bắt nguồn từ bản chất thấp thúc đẩy.

The astral body reacts, the personality feels threatened, selfishness or lack of love is activated, and then the mind is recruited to justify, elaborate and defend the reaction. That is not true independent thinking; it is the mind serving the emotional and personal nature.

Thể cảm dục phản ứng, phàm ngã cảm thấy bị đe dọa, tính ích kỷ hoặc sự thiếu tình thương được kích hoạt, rồi thể trí được huy động để biện minh, triển khai và bảo vệ phản ứng ấy. Đó không phải là tư duy độc lập chân chính; đó là thể trí phục vụ bản chất cảm xúc và cá nhân.

So DK's earlier statement now becomes much clearer. If an ordinary aspirant repeatedly evokes dislike, anger or antagonism in those relatively close to his own evolutionary level, he should examine himself carefully for the remaining seeds of harmfulness. But the same interpretation cannot automatically be applied to a high initiate whose very task is to present a truth or spiritual impulse which reactionary forces inevitably resist.

Vì vậy, phát biểu trước đây của Chân sư DK giờ đây trở nên rõ ràng hơn nhiều. Nếu một người chí nguyện bình thường liên tục gợi lên sự không ưa, giận dữ hoặc đối kháng nơi những người tương đối gần với trình độ tiến hóa của mình, y nên cẩn thận xem xét bản thân để tìm những hạt giống còn sót lại của tính gây hại. Nhưng không thể tự động áp dụng cùng cách diễn giải ấy cho một điểm đạo đồ cao cấp, vì chính nhiệm vụ của Ngài là trình bày một chân lý hoặc xung lực tinh thần mà các mãnh lực phản động tất yếu chống lại.

The distinction is therefore between antagonism evoked by our own unresolved personality tendencies and antagonism evoked because someone stands impersonally for a higher idea. The first demands self-examination and greater harmlessness; the second may simply be part of the cost of pioneering spiritual work.

Do đó, cần phân biệt giữa sự đối kháng do những khuynh hướng phàm ngã chưa được giải quyết của chính chúng ta gợi lên và sự đối kháng nảy sinh vì một người đại diện một cách phi cá nhân cho một ý tưởng cao siêu hơn. Trường hợp thứ nhất đòi hỏi sự tự xem xét và tính vô tổn hại lớn hơn; trường hợp thứ hai có thể chỉ là một phần của cái giá phải trả cho công việc tinh thần tiên phong.

[105] There are three lessons which every aspirant needs to learn:

[105] Có ba bài học mà mọi người chí nguyện đều cần học:

DK is dealing here with aspirants at our level and with what we evoke in others, what we stimulate in them, and how our thought activity affects both ourselves and those around us. A disciple encountering someone at a lesser stage of development may certainly disturb that person's established condition, but that is not necessarily the same as evoking hatred or antagonism through personal harmfulness.

Ở đây Chân sư DK đề cập đến những người chí nguyện ở cấp độ của chúng ta, đến những gì chúng ta gợi lên và kích thích nơi người khác, cũng như cách hoạt động tư tưởng của chúng ta ảnh hưởng đến cả chính mình lẫn những người xung quanh. Một đệ tử gặp người ở giai đoạn phát triển thấp hơn chắc chắn có thể làm xáo động trạng thái đã ổn định của người ấy, nhưng điều đó không nhất thiết giống với việc gợi lên lòng căm ghét hoặc sự đối kháng qua tính gây hại cá nhân.

[106] First, that every thought-form which he builds is built under the impulse of some emotion or of some desire; in rarer cases it may be built in the light of illumination and embody, therefore, some intuition. But with the majority, the motivating impulse which sweeps the mind-stuff into activity is an emotional one, or a potent desire, either good or bad, either selfish or unselfish.

[106] Thứ nhất, mọi hình tư tưởng do y kiến tạo đều được kiến tạo dưới xung lực của một cảm xúc hoặc một dục vọng nào đó; trong những trường hợp hiếm hơn, nó có thể được kiến tạo trong ánh sáng của sự soi sáng và do đó thể hiện một trực giác nào đó. Nhưng đối với đa số, xung lực thúc đẩy cuốn chất liệu trí tuệ vào hoạt động là một cảm xúc hoặc một dục vọng mạnh mẽ, dù tốt hay xấu, ích kỷ hay vô kỷ.

For most people, desire lies at the root of thought-form building. Emotion or desire impels the mind into activity and gives the thought-form its initial motive force. We can test this in ourselves very directly. Think of something we have recently written, said or deliberately formulated in thought, and ask: What desire was behind it? Why did I want to create that thought-form?

Đối với đa số mọi người, dục vọng nằm ở căn nguyên của việc kiến tạo hình tư tưởng. Cảm xúc hoặc dục vọng thúc đẩy thể trí hoạt động và trao cho hình tư tưởng động lực ban đầu. Chúng ta có thể trực tiếp kiểm chứng điều này nơi chính mình. Hãy nghĩ đến điều gì đó gần đây chúng ta đã viết, nói hoặc cố ý hình thành trong tư tưởng, rồi tự hỏi: Dục vọng nào ẩn sau nó? Tại sao tôi muốn tạo ra hình tư tưởng ấy?

The desire may be selfish, but it may also be entirely constructive. There can be a genuine desire to help someone, to clarify a teaching, or to bring into manifestation something that belongs to the Plan. But even then, desire is still supplying the immediate impulse. Much rarer is the case in which pure intuition impresses the mind and then has to be clothed in mental matter. That is a very different and more advanced creative process.

Dục vọng có thể ích kỷ, nhưng cũng có thể hoàn toàn mang tính xây dựng. Có thể có một mong muốn chân thành nhằm giúp đỡ ai đó, làm sáng tỏ một giáo lý hoặc đưa vào biểu hiện điều gì đó thuộc về Thiên Cơ. Nhưng ngay cả khi ấy, dục vọng vẫn cung cấp xung lực trực tiếp. Hiếm hơn nhiều là trường hợp trực giác thuần khiết gây ấn tượng lên thể trí rồi phải được khoác bằng chất liệu trí tuệ. Đó là một tiến trình sáng tạo rất khác và cao cấp hơn.

[107] Secondly, it should be borne in mind that the thoughtform so constructed will either remain in his own aura, or will find its way to a sensed objective.

[107] Thứ hai, cần ghi nhớ rằng hình tư tưởng được kiến tạo như thế hoặc sẽ lưu lại trong hào quang của chính y, hoặc sẽ tìm đường đến một mục tiêu mà y cảm nhận được.

So the thought-form has two broad possibilities: it remains within the creator's aura, or it leaves that aura and moves toward some individual or group objective.

Vì vậy, hình tư tưởng có hai khả năng chính: nó ở lại trong hào quang của người sáng tạo, hoặc rời khỏi hào quang ấy và tiến về một mục tiêu cá nhân hay tập thể nào đó.

[108] In the first case, it will form part of a dense wall of such thoughtforms which entirely surround him or constitute his mental aura, and will grow in strength as he pays it attention until it is so large that it will shut out reality from him, or it will be so dynamic and potent that he will become the victim of that which he built.

[108] Trong trường hợp thứ nhất, nó sẽ trở thành một phần của bức tường đậm đặc gồm những hình tư tưởng như thế bao quanh hoàn toàn y hoặc cấu thành hào quang trí tuệ của y; nó sẽ ngày càng mạnh lên khi y dành sự chú ý cho nó, cho đến khi lớn đến mức che khuất thực tại khỏi y, hoặc trở nên năng động và mạnh mẽ đến mức y trở thành nạn nhân của chính điều mình đã kiến tạo.

This is a serious danger. Thought-forms retained within the aura can become vampiric, inhibiting and even oppressive. If the mental aura becomes crowded with accumulated forms, it is rather like living within a poisonous atmosphere in which one can no longer breathe the true air of life. Reality is obscured because consciousness is continually encountering its own constructions instead of what actually is.

Đây là một mối nguy nghiêm trọng. Những hình tư tưởng bị giữ lại trong hào quang có thể trở nên hút sinh lực, gây ức chế và thậm chí áp chế. Nếu hào quang trí tuệ trở nên chật kín các hình tướng tích tụ, điều đó giống như sống trong một bầu khí độc hại, nơi người ta không còn có thể hít thở không khí chân thật của sự sống. Thực tại bị che khuất vì tâm thức liên tục gặp phải những cấu tạo của chính mình thay vì điều thực sự hiện hữu.

Attention feeds these forms. The more we dwell upon them, repeat them, emotionally energize them and return to them, the stronger they become. Eventually they may dominate the very thinker who created them.

Sự chú ý nuôi dưỡng các hình tướng này. Chúng ta càng nghiền ngẫm, lặp lại, truyền năng lượng cảm xúc và quay về với chúng, chúng càng trở nên mạnh mẽ. Cuối cùng, chúng có thể chi phối chính người tư tưởng đã tạo ra chúng.

[109] The thought-form will be more powerful than its creator, so that he becomes obsessed by his own ideas, and driven by his own creation.

[109] Hình tư tưởng sẽ mạnh hơn người tạo ra nó, khiến y bị ám ảnh bởi những ý tưởng của chính mình và bị tạo vật của chính mình thúc đẩy.

We have all seen something of this. A person may become so possessed by an idea that discretion disappears; he simply has to express it, repeat it and impose it upon every conversation. The idea may originally have been good and even spiritually motivated, but if the thinker loses mastery over it, the form begins to drive him rather than serve him.

Tất cả chúng ta đều từng thấy phần nào điều này. Một người có thể bị một ý tưởng chiếm hữu đến mức mất hết óc phân biện; y buộc phải diễn đạt, lặp lại và áp đặt nó vào mọi cuộc trò chuyện. Ban đầu ý tưởng ấy có thể tốt đẹp và thậm chí được thúc đẩy về mặt tinh thần, nhưng nếu người tư tưởng mất quyền làm chủ nó, hình tướng sẽ bắt đầu điều khiển y thay vì phụng sự y.

I once encountered something of this in the home of Manly P. Hall. He was a remarkable scholar who did enormous work in presenting ancient wisdom, and his wife was intensely devoted to Master R. One could sense the tremendous power of the thought-forms surrounding that devotion, but they were expressed with such force that the speaker seemed almost unable not to speak of them. The distinction here is important: even a high or constructive idea can become problematic when the creator no longer governs the form through discrimination and proportion.

Tôi từng gặp một trường hợp như thế tại nhà của Manly P. Hall. Ông là một học giả xuất sắc, đã thực hiện công việc lớn lao trong việc trình bày minh triết cổ xưa, còn vợ ông hết sức sùng tín Chân sư R. Người ta có thể cảm nhận quyền năng to lớn của những hình tư tưởng bao quanh lòng sùng tín ấy, nhưng chúng được biểu đạt với mãnh lực đến mức người nói dường như gần như không thể không nói về chúng. Sự phân biệt ở đây rất quan trọng: ngay cả một ý tưởng cao siêu hoặc mang tính xây dựng cũng có thể trở thành vấn đề khi người sáng tạo không còn cai quản hình tướng bằng sự phân biện và Ý thức về tỉ lệ.

[110] In the second case,

[110] Trong trường hợp thứ hai,

—the thought-form leaves the personal aura and moves toward its sensed objective—

—hình tư tưởng rời khỏi hào quang cá nhân và tiến về mục tiêu đã được cảm nhận—

[111] his thought-form will find its way into the mental aura of another human being, or into some group.

[111] hình tư tưởng của y sẽ tìm đường vào hào quang trí tuệ của một người khác hoặc của một nhóm nào đó.

Now a different danger appears: the possibility of imposing one mind upon another. DK states elsewhere that no one has the right to sway a brother's mind. White Magic never sanctions the compulsion of another person's will or the forcing of one's mental formulations into another's consciousness.

Giờ đây xuất hiện một mối nguy khác: khả năng áp đặt thể trí này lên thể trí khác. Ở nơi khác, Chân sư DK tuyên bố rằng không ai có quyền chi phối thể trí của một huynh đệ. Chánh Thuật không bao giờ chuẩn thuận việc cưỡng ép ý chí của người khác hoặc buộc những cấu thức trí tuệ của mình xâm nhập tâm thức người ấy.

This is especially important for students of esotericism because enthusiasm for a teaching can easily become proselytizing. I have had to moderate this tendency in myself. There was a time when I thought, “This is such a wonderful teaching—everybody should have it.” But people are at different stages of development and need different things.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với các đạo sinh huyền bí học, vì lòng nhiệt thành đối với một giáo lý có thể dễ dàng biến thành việc cưỡng cầu cải đạo. Tôi đã phải điều chỉnh khuynh hướng này nơi chính mình. Có thời gian tôi từng nghĩ: “Đây là một giáo lý tuyệt vời đến mức mọi người đều nên có nó.” Nhưng con người ở những giai đoạn phát triển khác nhau và cần những điều khác nhau.

Someone may be deeply helped by a book or teaching which, from a more advanced occult standpoint, we can see is incomplete. It would be wrong simply to take that away and insist that the person immediately study The Secret Doctrine, DK's works, or some more advanced presentation. If their present approach is genuinely helping them take a constructive step, that step has to be respected.

Một người có thể nhận được sự trợ giúp sâu sắc từ một cuốn sách hoặc giáo lý mà theo quan điểm huyền bí học cao cấp hơn, chúng ta thấy là chưa hoàn chỉnh. Sẽ là sai lầm nếu chỉ đơn giản lấy điều đó khỏi họ và khăng khăng rằng người ấy phải lập tức nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, các tác phẩm của Chân sư DK hoặc một sự trình bày cao cấp hơn. Nếu cách tiếp cận hiện tại thực sự giúp họ thực hiện một bước đi xây dựng, thì bước đi ấy phải được tôn trọng.

Master Morya gives the principle very clearly: if you are going to destroy a temple, you had better have another temple ready to build in its place. If we remove an idea, belief or structure which has supported someone, without offering something adequate to replace it, we may leave that person disoriented and more vulnerable than before.

Chân sư Morya trình bày nguyên lý này rất rõ ràng: nếu các bạn định phá hủy một ngôi đền, tốt hơn hết hãy chuẩn bị sẵn một ngôi đền khác để xây lên thay thế. Nếu chúng ta loại bỏ một ý tưởng, niềm tin hoặc cấu trúc từng nâng đỡ ai đó mà không đưa ra điều thích hợp để thay thế, chúng ta có thể khiến người ấy mất phương hướng và dễ tổn thương hơn trước.

So we do not compel. We do not sway another's mind simply because we think we possess a fuller truth. We offer what we can, illuminate what we can, and leave the other person's freedom intact.

Vì vậy, chúng ta không cưỡng ép. Chúng ta không chi phối thể trí của người khác chỉ vì nghĩ rằng mình sở hữu một chân lý đầy đủ hơn. Chúng ta trao tặng những gì có thể, soi sáng những gì có thể và giữ nguyên tự do của người kia.

[112] You have here the seeds of evil magical work and the imposition of a powerful mind upon a weaker.

[112] Ở đây có những mầm mống của hoạt động huyền thuật tà ác và sự áp đặt của một thể trí mạnh lên một thể trí yếu hơn.

This is precisely where evil magical work can begin: not necessarily with spectacular occult practices, but with the deliberate or unconscious imposition of a stronger mental force upon someone less able to resist it.

Đây chính là nơi công việc huyền thuật tà ác có thể bắt đầu: không nhất thiết bằng những thực hành huyền bí ngoạn mục, mà bằng sự áp đặt có chủ ý hoặc vô thức một mãnh lực trí tuệ mạnh hơn lên người ít có khả năng chống lại nó.

We also have to be discriminating about what we ourselves receive. Not every thought-form directed toward us or toward our group should automatically be admitted. Even a well-intentioned thought may be inappropriate to our work or development. Just as we do not indiscriminately admit every physical organism into the body, we do not have to admit every mental influence into our aura.

Chúng ta cũng phải phân biện về những gì chính mình tiếp nhận. Không phải mọi hình tư tưởng hướng đến chúng ta hoặc nhóm của chúng ta đều nên tự động được thâu nhận. Ngay cả một tư tưởng có thiện ý cũng có thể không thích hợp với công việc hoặc sự phát triển của chúng ta. Cũng như chúng ta không tiếp nhận bừa bãi mọi sinh vật hồng trần vào cơ thể, chúng ta không cần tiếp nhận mọi ảnh hưởng trí tuệ vào hào quang của mình.

[113] If it finds its way into some group, analogous impulsive forms (found within the group aura) will coalesce with it, having the same vibratory rate or measure. Then the same thing will take place in the group aura as has taken place within the individual ring-pass-not, —the group will have around it an inhibiting wall of thought-forms, or it will be obsessed by some idea.

[113] Nếu tìm đường vào một nhóm nào đó, những hình tướng xung động tương đồng trong hào quang nhóm sẽ kết hợp với nó vì có cùng nhịp độ hoặc mức độ rung động. Khi ấy, điều đã xảy ra trong vòng-giới-hạn của cá nhân cũng sẽ xảy ra trong hào quang nhóm—quanh nhóm sẽ có một bức tường ngăn trở bằng các hình tư tưởng, hoặc nhóm sẽ bị một ý tưởng nào đó ám ảnh.

The same mechanism therefore operates collectively. A thought-form entering a group attracts similar forms already present in the group aura. Because they share a vibratory rate, they coalesce and reinforce one another.

Do đó, cùng một cơ chế cũng vận hành trong tập thể. Một hình tư tưởng đi vào một nhóm sẽ thu hút những hình tướng tương tự vốn hiện diện trong hào quang nhóm. Vì có cùng nhịp độ rung động, chúng kết tụ và củng cố lẫn nhau.

Eventually the group can become surrounded by a wall of its own ideas, unable to receive anything outside them, or it can become obsessed by one dominant conception. The members then reinforce one another continually until the idea is no longer being examined at all; it simply governs the group.

Cuối cùng, nhóm có thể bị bao quanh bởi bức tường gồm chính các ý tưởng của mình, không thể tiếp nhận bất cứ điều gì bên ngoài chúng, hoặc có thể bị ám ảnh bởi một quan niệm thống trị. Khi ấy, các thành viên liên tục củng cố lẫn nhau cho đến khi ý tưởng không còn được xem xét nữa; nó đơn giản cai quản cả nhóm.

[114] Here we have the clue to all sectarianism, to all fanaticism, and to some forms of insanity, both group and individual.

[114] Ở đây chúng ta có chìa khóa giải thích mọi chủ nghĩa bè phái, mọi sự cuồng tín và một số dạng điên loạn, cả ở nhóm lẫn cá nhân.

This gives us a very clear occult interpretation of sectarianism and fanaticism. The problem is not merely that someone has a strong belief. The problem is that the thought-form has become so dominant that it shuts out reality, blocks further light, and begins to use the thinker or the group as its instrument.

Điều này đem lại cho chúng ta một cách diễn giải huyền bí rất rõ ràng về chủ nghĩa bè phái và sự cuồng tín. Vấn đề không chỉ là một người có niềm tin mạnh mẽ. Vấn đề là hình tư tưởng đã trở nên thống trị đến mức che khuất thực tại, ngăn chặn ánh sáng tiếp theo và bắt đầu sử dụng người tư tưởng hoặc nhóm làm công cụ của nó.

We therefore do not want thought to run us. We want to remain the chooser and arbiter of thought, admitting and sustaining those forms which accord with the higher Purpose to which we have consciously aligned ourselves.

Vì vậy, chúng ta không muốn tư tưởng điều khiển mình. Chúng ta muốn duy trì vai trò người lựa chọn và phán định tư tưởng, chỉ tiếp nhận và duy trì những hình tướng phù hợp với Thiên Ý cao siêu mà chúng ta đã hữu thức chỉnh hợp.

[115] Thirdly, the creator of the thought-form (in this case an aspirant) remains responsible.

[115] Thứ ba, người tạo ra hình tư tưởng—trong trường hợp này là một người chí nguyện—vẫn phải chịu trách nhiệm.

This is the essential karmic principle.

Đây là nguyên lý nghiệp quả cốt yếu.

[116] The form remains linked to him by his living purpose and therefore the karma of the results, and the ultimate work of destroying that which he has built must be his.

[116] Hình tướng vẫn liên kết với y bởi mục đích sống động của y; do đó, nghiệp quả của các kết quả và công việc tối hậu nhằm phá hủy điều y đã kiến tạo phải thuộc về y.

The thought-form remains linked to its creator through the living purpose which brought it into existence. The creator therefore remains responsible for its effects and, when its usefulness is over, for its eventual dissolution.

Hình tư tưởng vẫn liên kết với người sáng tạo qua chủ đích sống động đã đưa nó vào hiện tồn. Do đó, người sáng tạo vẫn chịu trách nhiệm về các tác động của nó và, khi tính hữu dụng của nó chấm dứt, về sự làm tiêu tan cuối cùng của nó.

A constructive creation may continue to work beneficently long after the creator has left physical incarnation. Beethoven's music, for example, continues to affect human consciousness profoundly. The form carries the purpose of the creator and continues its work. But even beneficent forms belong to cycles, and ultimately the lives incorporated within them must be released.

Một tạo vật mang tính xây dựng có thể tiếp tục hoạt động thiện lành rất lâu sau khi người sáng tạo rời khỏi kiếp nhập thể hồng trần. Chẳng hạn, âm nhạc của Beethoven vẫn tiếp tục ảnh hưởng sâu sắc đến tâm thức nhân loại. Hình tướng mang theo chủ đích của người sáng tạo và tiếp tục công việc của nó. Nhưng ngay cả những hình tướng thiện lành cũng thuộc về các chu kỳ, và cuối cùng những sự sống được kết hợp trong chúng phải được giải phóng.

[117] This is true of every embodied idea, the good as well as the bad.

[117] Điều này đúng với mọi ý tưởng được thể hiện, cả tốt lẫn xấu.

So the principle does not apply only to destructive creations.

Vì vậy, nguyên lý này không chỉ áp dụng cho những tạo vật phá hoại.

[118] The creator of all of them is responsible for the work of his creation.

[118] Người tạo ra tất cả chúng phải chịu trách nhiệm về hoạt động của tạo vật mình.

That is a universal principle: the creator is responsible for the work of his creation. It raises profound questions when we think about great works of art, religious institutions, philosophies and civilizations. Do all such forms eventually have to be dismantled by, or under the responsibility of, the consciousness that originally gave them life? Presumably the precise process varies, but the underlying responsibility remains.

Đó là một nguyên lý phổ quát: người sáng tạo chịu trách nhiệm về công việc của tạo vật mình. Nó làm nảy sinh những câu hỏi sâu sắc khi chúng ta nghĩ đến các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, những tổ chức tôn giáo, các nền triết học và văn minh. Cuối cùng, phải chăng mọi hình tướng như thế đều cần được tháo dỡ bởi tâm thức vốn ban sự sống cho chúng lúc ban đầu, hoặc dưới trách nhiệm của tâm thức ấy? Có lẽ tiến trình chính xác thay đổi tùy trường hợp, nhưng trách nhiệm nền tảng vẫn còn.

DK himself says elsewhere that he has imprisoned many elemental lives within the forms created through his writings and will eventually have to liberate them. So even a Master is not exempt from this principle.

Ở nơi khác, chính Chân sư DK nói rằng Ngài đã giam giữ nhiều sự sống hành khí trong những hình tướng được tạo ra qua các tác phẩm của Ngài và cuối cùng sẽ phải giải phóng chúng. Vì vậy, ngay cả một Chân sư cũng không được miễn khỏi nguyên lý này.

[119] The Master Jesus, for instance, has still to deal with the thought-forms which we call the Christian Church, and has much to do.

[119] Chẳng hạn, Chân sư Jesus vẫn phải xử lý những hình tư tưởng mà chúng ta gọi là Giáo hội Cơ Đốc và còn nhiều việc phải làm.

The Christian Church is an immense thought-form which has undergone enormous development and distortion over two thousand years. One can imagine the suffering involved in seeing an idea for which one has served as a conduit transformed into something quite different from its original intention.

Giáo hội Cơ Đốc là một hình tư tưởng khổng lồ đã trải qua sự phát triển và biến dạng vô cùng lớn trong hai nghìn năm. Người ta có thể hình dung nỗi đau liên quan đến việc chứng kiến một ý tưởng mà mình từng làm trung gian truyền dẫn bị chuyển đổi thành điều hoàn toàn khác với ý định ban đầu.

Master Morya asks, in effect, which is worse: to be burned at the stake or to see a great idea which one has helped transmit distorted almost beyond recognition? Physical suffering can sometimes be mitigated, but the distortion of a spiritual idea may endure for centuries and affect millions.

Về thực chất, Chân sư Morya đặt câu hỏi điều nào tệ hơn: bị thiêu trên giàn hỏa hay chứng kiến một ý tưởng vĩ đại mà mình đã góp phần truyền đạt bị bóp méo gần như không còn nhận ra? Đôi khi đau đớn thể xác có thể được giảm nhẹ, nhưng sự xuyên tạc một ý tưởng tinh thần có thể kéo dài nhiều thế kỷ và ảnh hưởng đến hàng triệu người.

The teaching of love associated with the Christ has often been distorted through sectarianism, coercion, institutional power and materialism. In some modern forms of prosperity religion, wealth itself becomes evidence of divine favor, almost reversing the emphasis of the original teaching. One has only to remember the widow who gave her last mite to see how far such interpretations can move from the original spiritual value.

Giáo lý về tình thương gắn liền với Đức Christ thường bị xuyên tạc qua chủ nghĩa bè phái, sự cưỡng ép, quyền lực tổ chức và chủ nghĩa duy vật. Trong một số hình thức tôn giáo thịnh vượng hiện đại, chính sự giàu có trở thành bằng chứng về ân huệ thiêng liêng, gần như đảo ngược trọng tâm của giáo lý nguyên thủy. Chỉ cần nhớ đến người góa phụ đã hiến đồng tiền cuối cùng của mình là có thể thấy những cách diễn giải như thế đã xa rời giá trị tinh thần ban đầu đến mức nào.

[120] The Christ and the Buddha have still some consummating work to carry through, though not so much with the forms which embody Their enunciated principles, as with the souls who have evolved through the application of those principles.

[120] Đức Christ và Đức Phật vẫn còn một số công việc hoàn tất phải thực hiện, tuy không liên quan nhiều đến những hình tướng thể hiện các nguyên lý mà Các Ngài đã tuyên thuyết, cho bằng đến những linh hồn đã tiến hóa nhờ áp dụng các nguyên lý ấy.

So the Christ and the Buddha still have consummating work connected with the great religious movements associated with Them, but the emphasis is increasingly upon the souls who have evolved through those teachings rather than simply upon the external institutions.

Vì vậy, Đức Christ và Đức Phật vẫn còn công việc hoàn tất liên quan đến các phong trào tôn giáo lớn gắn với Các Ngài, nhưng trọng tâm ngày càng đặt vào những linh hồn đã tiến hóa qua các giáo lý ấy hơn là chỉ vào những tổ chức bên ngoài.

Buddhism too can become dogmatic, just as Christianity has. Any teaching can crystallize into forms which eventually constrain the very consciousness they were originally meant to liberate. The greater Teachers therefore continue to work with the evolving souls who have used those principles and may now need help moving beyond the limitations of their inherited interpretations.

Phật giáo cũng có thể trở nên giáo điều, giống như Cơ Đốc giáo. Bất kỳ giáo lý nào cũng có thể kết tinh thành những hình tướng cuối cùng kìm hãm chính tâm thức mà ban đầu chúng được định để giải phóng. Vì vậy, các Huấn sư vĩ đại tiếp tục làm việc với những linh hồn đang tiến hóa vốn đã sử dụng các nguyên lý ấy và giờ đây có thể cần được giúp đỡ để vượt khỏi những giới hạn của các cách diễn giải thừa hưởng.

[121] With the aspirant, however, who is still learning to think, the problem is different.

[121] Tuy nhiên, đối với người chí nguyện vẫn đang học cách suy nghĩ, vấn đề lại khác.

This is worth emphasizing: DK regards the aspirant as still learning to think. We may consider ourselves students of profound occult philosophy, but from the standpoint of the Hierarchy our mental development is still elementary.

Điều này đáng được nhấn mạnh: Chân sư DK xem người chí nguyện là người vẫn đang học cách suy nghĩ. Chúng ta có thể xem mình là đạo sinh của triết học huyền bí sâu sắc, nhưng theo quan điểm của Thánh Đoàn, sự phát triển trí tuệ của chúng ta vẫn còn sơ đẳng.

[122] He is still prone to use thought matter to embody his mistaken apprehension of the real ideas;

[122] Y vẫn dễ sử dụng chất liệu tư tưởng để thể hiện sự lĩnh hội sai lầm của mình về các ý tưởng chân thực;

This is one of the most obvious dangers. We receive a genuine idea imperfectly, interpret it incorrectly, and then build a powerful thought-form around the misunderstanding. The more energy we put into it, the more difficult the later correction becomes.

Đây là một trong những mối nguy rõ ràng nhất. Chúng ta tiếp nhận một ý tưởng chân chính một cách bất toàn, diễn giải nó sai lầm rồi xây dựng một hình tư tưởng mạnh mẽ quanh sự hiểu lầm ấy. Chúng ta càng đặt nhiều năng lượng vào đó, việc sửa chữa về sau càng trở nên khó khăn.

[123] he is still apt to express his likes and dislikes through the power of thought; he is still inclined to use the mind stuff to make possible his personality desires. To this every sincere aspirant will bear witness.

[123] y vẫn dễ biểu lộ những điều mình ưa thích và chán ghét qua quyền năng tư tưởng; y vẫn có khuynh hướng sử dụng chất liệu trí tuệ để thực hiện những dục vọng của phàm ngã. Mọi người chí nguyện chân thành đều sẽ làm chứng cho điều này.

The aspirant still uses thought to reinforce personal likes and dislikes and to engineer circumstances which will satisfy personality desire. Any sincere aspirant who examines himself honestly will recognize something of this.

Người chí nguyện vẫn dùng tư tưởng để củng cố những điều cá nhân ưa thích và không ưa thích, cũng như để sắp đặt các hoàn cảnh nhằm thỏa mãn dục vọng phàm ngã. Bất kỳ người chí nguyện chân thành nào trung thực xem xét bản thân đều sẽ nhận ra phần nào điều này.

The power of thought therefore has to be consecrated to worthwhile ends aligned with the Plan, rather than used simply to rationalize emotional reactions, strengthen preferences or arrange the fulfillment of personal objectives.

Do đó, quyền năng của tư tưởng phải được thánh hiến cho những mục tiêu xứng đáng, chỉnh hợp với Thiên Cơ, thay vì chỉ được dùng để hợp lý hóa các phản ứng cảm xúc, củng cố sở thích hoặc sắp đặt việc hoàn thành những mục tiêu cá nhân.

[124] Much concern is being felt among many of you as to the guarding of thoughts and the protection of formulated ideas. Some thoughts are ideas, clothed in mental matter and keep their habitat on the plane of thought matter.

[124] Nhiều người trong các bạn đang hết sức quan tâm đến việc canh giữ tư tưởng và bảo vệ các ý tưởng đã được định hình. Một số tư tưởng là những ý tưởng khoác chất liệu trí tuệ và cư ngụ trên cõi chất liệu tư tưởng.

Now DK begins differentiating various kinds of thought which may require different kinds of protection. Some are essentially ideas clothed in mental matter and remain primarily upon the mental plane.

Giờ đây Chân sư DK bắt đầu phân biệt nhiều loại tư tưởng có thể cần những phương thức bảo vệ khác nhau. Một số về bản chất là các ý tưởng được khoác bằng chất liệu trí tuệ và chủ yếu lưu lại trên cõi trí.

[125] Such are the abstract conceptions and the scarcely sensed facts of the inner occult or mystic life that pass through the mind of the thinker. They are not so difficult to guard, for their vibrations are so high and light that few people have the power to clothe them adequately in mental matter, and those few are so very scarce that the risk of such statements being unwisely promulgated is not very great.

[125] Đó là những quan niệm trừu tượng và những sự kiện chỉ được cảm nhận mơ hồ thuộc đời sống huyền bí hoặc thần bí bên trong, vốn đi qua thể trí của người suy tưởng. Chúng không quá khó bảo vệ, bởi rung động của chúng cao và nhẹ đến mức rất ít người có khả năng khoác chất liệu trí tuệ thích hợp cho chúng; mà những người ít ỏi ấy lại vô cùng hiếm, nên nguy cơ các phát biểu như thế bị truyền bá thiếu khôn ngoan không lớn lắm.

These are high abstract conceptions and faintly sensed facts of the inner occult or mystic life. Perhaps an intuition from the buddhic level has begun to receive its first clothing in abstract mental matter. Such impressions are relatively easy to guard simply because very few people can receive or formulate them adequately.

Đây là những quan niệm trừu tượng cao siêu và những sự thật được cảm nhận mơ hồ của đời sống huyền bí hoặc thần bí bên trong. Có lẽ một trực giác từ cấp độ Bồ đề đã bắt đầu nhận lớp áo đầu tiên bằng chất liệu trí trừu tượng. Những ấn tượng như thế tương đối dễ bảo vệ, đơn giản vì rất ít người có thể tiếp nhận hoặc hình thành chúng một cách thích hợp.

Their vibratory rate is so high and subtle that most people pass them by without recognizing what they contain. Therefore the danger of their being indiscriminately spread is comparatively small.

Nhịp độ rung động của chúng cao và tinh tế đến mức đa số mọi người đi ngang qua mà không nhận ra chúng chứa đựng điều gì. Vì vậy, nguy cơ chúng bị truyền bá bừa bãi tương đối nhỏ.

[126] Then there are the communications involved in occult teaching. The circle of those who apprehend them is widening somewhat and these thought-forms frequently [Page 486] take to themselves astral matter from the desire in the heart of the student to verify, corroborate, and share with the group whose knowledge is as vital as his.

[126] Kế đó là những thông tin truyền đạt liên quan đến giáo huấn huyền môn. Phạm vi những người lĩnh hội chúng đang phần nào mở rộng, và các hình tư tưởng này thường thu hút chất liệu cảm dục vào mình do dục vọng trong tâm đạo sinh muốn kiểm chứng, xác nhận và chia sẻ với nhóm có tri thức thiết yếu đối với y.

This is the next stage. Occult teachings are increasingly comprehensible to a wider circle, and therefore these thought-forms are more easily brought toward manifestation. The student's desire to verify, corroborate and share them causes astral matter to adhere to the mental nucleus.

Đây là giai đoạn kế tiếp. Các giáo lý huyền bí ngày càng trở nên dễ lĩnh hội đối với một phạm vi rộng hơn, và do đó những hình tư tưởng này dễ được đưa đến gần sự biểu hiện hơn. Dục vọng của đạo sinh muốn kiểm chứng, xác nhận và chia sẻ chúng khiến chất liệu cảm dục bám vào hạt nhân trí tuệ.

Once desire enters, the thought-form becomes more substantial and moves further along the path toward precipitation. The desire to communicate with like-minded people is itself one of the forces which gives the thought-form a denser vehicle.

Một khi dục vọng xen vào, hình tư tưởng trở nên có thực chất hơn và tiến xa hơn trên con đường hướng đến sự ngưng tụ. Chính mong muốn giao tiếp với những người đồng quan điểm là một trong các mãnh lực trao cho hình tư tưởng một vận cụ đậm đặc hơn.

[127] Sometimes this is possible, and sometimes not.

[127] Đôi khi điều này có thể thực hiện, đôi khi không.

Sometimes the information may rightly be shared; sometimes it should not.

Đôi khi thông tin có thể được chia sẻ một cách chính đáng; đôi khi không nên chia sẻ.

[128] If prohibited what is the method of protection then?

[128] Nếu bị cấm, vậy phương pháp bảo vệ là gì?

If the thought is not to be communicated or telepathically spread, how is it protected?

Nếu không được truyền đạt hoặc phổ biến bằng viễn cảm, tư tưởng ấy được bảo vệ như thế nào?

[129] Largely a refusing to allow the matter of the astral plane to adhere to the mental thought-form. Fight the matter out on the desire level, and inhibit that type of matter from formulating. Where no desire to speak exists, and where the striving is to prevent the gathering of the material around the nucleus, another thought-form is built up, one that intervenes and protects.

[129] Phần lớn là từ chối không cho chất liệu của cõi cảm dục bám vào hình tư tưởng trí tuệ. Hãy xử lý vấn đề ở cấp độ dục vọng và ngăn loại chất liệu ấy thành hình. Khi không có dục vọng nói ra và khi nỗ lực nhằm ngăn chất liệu tụ tập quanh hạt nhân, một hình tư tưởng khác sẽ được kiến tạo để can thiệp và bảo vệ.

This is a definite occult technique. If we do not want a thought-form to move toward externalization, we prevent astral matter from adhering to it. The decisive struggle therefore takes place at the level of desire.

Đây là một kỹ thuật huyền bí rõ ràng. Nếu không muốn một hình tư tưởng tiến đến sự ngoại hiện, chúng ta ngăn chất liệu cảm dục bám vào nó. Vì vậy, cuộc đấu tranh quyết định diễn ra trên cấp độ dục vọng.

We have to remove the desire to speak. If there is no emotional urge to tell others, verify the experience publicly, gain recognition for possessing the knowledge, or share it merely because sharing feels satisfying, then the thought-form cannot easily gather the astral substance required for further precipitation.

Chúng ta phải loại bỏ dục vọng muốn nói. Nếu không có thôi thúc cảm xúc muốn kể cho người khác, công khai kiểm chứng trải nghiệm, đạt được sự công nhận vì sở hữu tri thức, hoặc chia sẻ chỉ vì việc chia sẻ đem lại thỏa mãn, thì hình tư tưởng không thể dễ dàng thu thập chất liệu cảm dục cần thiết cho sự ngưng tụ tiếp theo.

At the same time, the deliberate intention to protect the information builds another thought-form around it—an intervening protective form. So secrecy in the occult sense is not merely the physical act of keeping one's mouth closed. It is the absence of the desire to externalize, combined with a conscious protective intention which prevents the original thought-form from acquiring the substance needed to move outward.

Đồng thời, ý định có chủ đích nhằm bảo vệ thông tin sẽ xây dựng một hình tư tưởng khác quanh nó—một hình tướng bảo vệ có tác dụng xen vào. Vì vậy, sự giữ kín theo nghĩa huyền bí không chỉ là hành động thể xác khép miệng. Đó là sự vắng mặt của dục vọng ngoại hiện, kết hợp với một ý định bảo vệ hữu thức nhằm ngăn hình tư tưởng ban đầu thu nhận chất liệu cần thiết để tiến ra bên ngoài.

This is therefore the first broad type: very high abstract impressions which largely protect themselves because few can receive them; the second consists of occult communications which can increasingly be apprehended and therefore may require deliberate protection through control of desire. DK is now preparing to describe a third and much more prevalent type of thought-form—the one which causes the greatest difficulty.

Do đó, đây là loại khái quát thứ nhất: những ấn tượng trừu tượng rất cao phần lớn tự bảo vệ vì ít người có thể tiếp nhận chúng; loại thứ hai gồm những thông tin huyền bí ngày càng có thể được lĩnh hội và vì thế có thể cần được bảo vệ có chủ ý qua việc kiểm soát dục vọng. Giờ đây Chân sư DK đang chuẩn bị mô tả loại hình tư tưởng thứ ba, phổ biến hơn nhiều—loại gây ra khó khăn lớn nhất.

[130] Still another type of thought-form comes forth, —the most prevalent and the one that causes the most trouble.

[130] Còn một loại hình tư tưởng khác xuất hiện—loại phổ biến nhất và gây nhiều rắc rối nhất.

Apparently DK considered the students' concern about guarding thought to be quite legitimate, especially because this third type of thought-form is far more common and much easier to transmit than the higher occult impressions he has just discussed.

Dường như Chân sư DK xem mối quan tâm của các đạo sinh về việc canh giữ tư tưởng là hoàn toàn chính đáng, đặc biệt vì loại hình tư tưởng thứ ba này phổ biến hơn nhiều và dễ truyền đi hơn hẳn những ấn tượng huyền bí cao siêu mà Ngài vừa thảo luận.

[131] These are the facts of information, the detailed material, the news (if so you like to call it), the basis of what may degenerate into gossip, that concerns either your work, administrative or otherwise, and that which concerns other people.

[131] Đó là các dữ kiện thông tin, tài liệu chi tiết, tin tức—nếu các bạn muốn gọi như thế—và nền tảng của những gì có thể thoái hóa thành chuyện đàm tiếu, liên quan đến công việc hành chính hay công việc khác của các bạn, cũng như những gì liên quan đến người khác.

This is information arising on a much lower level and therefore easily accessible: administrative facts, details of work, news about other people, and all the material which can so readily degenerate into gossip. In the groups of nine, for example, DK specifically did not want people outside the groups to know who had been selected. Yet such information could easily leak out, perhaps even through an unconscious desire for recognition: “I am in this group; you are not.” So the problem here is not an abstract occult truth but ordinary physical-plane information which has become mentally and astrally charged.

Đây là thông tin phát sinh ở cấp độ thấp hơn nhiều và do đó dễ tiếp cận: các sự kiện hành chính, chi tiết công việc, tin tức về người khác và mọi tài liệu rất dễ suy thoái thành chuyện ngồi lê đôi mách. Chẳng hạn, trong các nhóm chín người, Chân sư DK đặc biệt không muốn những người bên ngoài biết ai đã được chọn. Tuy vậy, thông tin ấy có thể dễ dàng rò rỉ, có lẽ ngay cả qua một dục vọng vô thức muốn được công nhận: “Tôi ở trong nhóm này; bạn thì không.” Vì vậy, vấn đề ở đây không phải một chân lý huyền bí trừu tượng, mà là thông tin thông thường trên cõi hồng trần đã được tích điện về mặt trí tuệ và cảm dục.

[132] How shall you prevent your mind from transmitting to another facts such as these? These are facts that have their origination in physical plane occurrence, and therein lies the difficulty.

[132] Làm thế nào các bạn ngăn thể trí mình truyền những dữ kiện như thế cho người khác? Đây là những dữ kiện bắt nguồn từ sự việc xảy ra trên cõi hồng trần, và chính trong đó có khó khăn.

This is precisely the difficulty. A physical-plane fact is already concrete. It has happened, people may know about it, and it can easily become the nucleus of thought, desire and speech. The student therefore has to learn how not to transmit it, even mentally, when there is no legitimate reason for it to spread.

Đây chính là khó khăn. Một sự kiện ở cõi hồng trần vốn đã cụ thể. Nó đã xảy ra, người ta có thể biết đến nó, và nó có thể dễ dàng trở thành hạt nhân của tư tưởng, dục vọng và lời nói. Vì vậy, đạo sinh phải học cách không truyền nó đi, ngay cả bằng trí tuệ, khi không có lý do chính đáng để nó lan rộng.

[133] The inner facts of the occult life, and those that originate on the mental plane are not so difficult to hide. They do not come your way till your vibrations are keyed high enough for them,

[133] Những sự kiện bên trong của đời sống huyền môn và những sự kiện bắt nguồn trên cõi trí không quá khó che giấu. Chúng không đến với các bạn cho đến khi rung động của các bạn được nâng lên đủ cao để tiếp nhận chúng,

[134] and as a rule, when that is so, character of sufficient stability and wisdom ges alongside.

[134] và theo thông lệ, khi điều ấy xảy ra, tính cách đủ vững vàng và minh triết cũng phát triển song hành.

Higher occult facts tend to protect themselves. They are not normally registered until the consciousness has reached a sufficiently high vibration, and by that time there is usually a corresponding development of character, stability and discrimination. The student then knows more naturally what may be spoken of, to whom, and under what circumstances.

Các sự kiện huyền bí cao siêu có khuynh hướng tự bảo vệ. Bình thường, tâm thức không ghi nhận chúng cho đến khi đạt tới rung động đủ cao, và vào lúc ấy thường cũng có sự phát triển tương ứng về tính cách, sự ổn định và khả năng phân biện. Khi đó, đạo sinh tự nhiên biết rõ hơn điều gì có thể được nói ra, nói với ai và trong hoàn cảnh nào.

[135] But it is not thus with a physical plane fact.

[135] Nhưng sự kiện thuộc cõi hồng trần thì không như thế.

A physical-plane fact requires no special elevation of consciousness. Anyone may hear it, repeat it, emotionally color it and pass it on.

Một sự kiện ở cõi hồng trần không đòi hỏi sự nâng cao tâm thức đặc biệt nào. Bất cứ ai cũng có thể nghe thấy, lặp lại, nhuộm màu cảm xúc cho nó và truyền nó đi.

[136] What must be done?

[136] Phải làm gì?

[137] The other thoughts descend from above; these latter work upwards from the physical plane and are increased in vitality by the knowledge of the many, often of the many unwise.

[137] Những tư tưởng kia giáng xuống từ bên trên; còn những tư tưởng sau này vận hành hướng lên từ cõi hồng trần và được gia tăng sinh lực bởi sự hiểu biết của nhiều người, thường là nhiều người thiếu khôn ngoan.

This gives us the fundamental distinction. The higher thought begins above and descends toward expression. The physical-plane fact begins below and works upward into astral and mental substance. Moreover, it becomes stronger as more people know it, especially when the people involved are undiscriminating and repeatedly feed it with attention, emotion and speech.

Điều này cho chúng ta sự phân biệt căn bản. Tư tưởng cao siêu bắt đầu ở bên trên và giáng xuống để biểu hiện. Sự kiện ở cõi hồng trần bắt đầu từ bên dưới và vận hành hướng lên vào chất liệu cảm dục và trí tuệ. Hơn nữa, nó trở nên mạnh hơn khi càng nhiều người biết đến, đặc biệt khi những người liên quan thiếu khả năng phân biện và liên tục nuôi dưỡng nó bằng sự chú ý, cảm xúc và lời nói.

[138] One kind starts nebulously on the mental plane,

[138] Một loại khởi đầu mơ hồ trên cõi trí,

Perhaps as the first faint clothing of an idea or abstract impression—

Có lẽ như lớp áo mờ nhạt đầu tiên của một ý tưởng hay một ấn tượng trừu tượng—

[139] and only the higher type of mind can formulate it, and clothe it with matter in geometrical precision, and such a mind usually has the wisdom that refuses to clothe it in astral plane matter.

[139] và chỉ loại thể trí cao mới có thể định hình nó và khoác chất liệu cho nó với độ chính xác hình học; một thể trí như thế thường có đủ minh triết để từ chối khoác chất liệu cõi cảm dục cho nó.

The higher impression begins almost nebulously and requires a developed mind to formulate it accurately and give it geometrically precise mental form. Such a mind usually possesses enough wisdom not to add astral substance unnecessarily—not to become emotionally excited about it, not to develop the urge to talk about it, and not to push it prematurely toward manifestation.

Ấn tượng cao siêu khởi đầu gần như mơ hồ và đòi hỏi một thể trí phát triển để định hình nó chính xác, đồng thời ban cho nó hình tướng trí tuệ chính xác về mặt hình học. Một thể trí như thế thường có đủ minh triết để không thêm chất liệu cảm dục một cách không cần thiết—không trở nên kích động về mặt cảm xúc, không phát triển thôi thúc muốn nói về nó và không thúc đẩy nó biểu hiện quá sớm.

[140] Not so with the physical plane fact. It [Page 487] is a vital entity, robed in material of the astral plane and the mental plane when first you meet and contact it.

[140] Sự kiện thuộc cõi hồng trần thì không như vậy. Khi các bạn lần đầu gặp gỡ và tiếp xúc với nó, nó là một thực thể sống động khoác chất liệu của cõi cảm dục và cõi trí.

By the time a physical-plane fact reaches us, it is already a living thought-form clothed in both astral and mental substance. Someone has thought about it, felt something about it and transmitted it. We therefore do not encounter a neutral datum; we encounter an energized entity which can easily be further vitalized by our own attention and emotion.

Khi một sự kiện ở cõi hồng trần đến với chúng ta, nó đã là một hình tư tưởng sống động, khoác cả chất liệu cảm dục lẫn trí tuệ. Một người nào đó đã suy nghĩ về nó, cảm nhận điều gì đó về nó và truyền nó đi. Vì vậy, chúng ta không gặp một dữ kiện trung tính; chúng ta gặp một thực thể đã được truyền năng lượng, có thể dễ dàng được tiếp sinh lực thêm bởi sự chú ý và cảm xúc của chính chúng ta.

[141] Will you vitalize it, or will you arrest it? Arrest it by a rush and wave of love for the party implicated, that envelops the thought-form and sends it back to the originator, borne on the wings of a surge of astral plane matter, strong enough to sweep through and around, mayhap disintegrating, but most certainly returning it harmlessly to the sender.

[141] Các bạn sẽ tiếp thêm sinh lực cho nó hay sẽ chặn đứng nó? Hãy chặn đứng nó bằng một luồng trào dâng và làn sóng bác ái dành cho người liên quan; làn sóng ấy bao bọc hình tư tưởng rồi đưa nó trở lại người khởi phát, mang trên đôi cánh của một đợt dâng trào chất liệu cõi cảm dục đủ mạnh để quét xuyên qua và bao quanh nó, có lẽ làm nó tan rã, nhưng chắc chắn đưa nó trở lại người gửi một cách vô hại.

This is a definite occult technique. The first question is whether we are going to vitalize the thought-form by interest, emotion and repetition, or arrest it. If it concerns another person and should not be propagated, DK says to generate a powerful wave of love for the person involved. That love envelops the incoming form and carries it back toward its originator, perhaps disintegrating it on the way, but at the very least neutralizing its harmful charge so that it returns harmlessly.

Đây là một kỹ thuật huyền bí xác định. Câu hỏi đầu tiên là liệu chúng ta sẽ tiếp sinh lực cho hình tư tưởng bằng sự quan tâm, cảm xúc và việc lặp lại, hay sẽ chặn đứng nó. Nếu nó liên quan đến người khác và không nên được truyền bá, Chân sư DK bảo chúng ta tạo ra một làn sóng tình thương mạnh mẽ dành cho người liên quan. Tình thương ấy bao bọc hình tướng đang đến và đưa nó trở về người khởi tạo, có lẽ làm nó tan rã trên đường đi, nhưng ít nhất cũng hóa giải điện tích có hại của nó để nó trở về một cách vô hại.

The important point is that we do not fight the thought-form with irritation, fear or counter-hostility, because that would simply give it more astral energy. We oppose it with a stronger and qualitatively different force: love.

Điểm quan trọng là chúng ta không chống lại hình tư tưởng bằng sự bực tức, sợ hãi hay thái độ thù địch đáp trả, bởi điều đó chỉ đơn giản cung cấp cho nó thêm năng lượng cảm dục. Chúng ta đối kháng với nó bằng một mãnh lực mạnh hơn và khác biệt về phẩm tính: tình thương.

[142] Perhaps it is an evil piece of information, a lie or item of gossip. Devitalize it by love, break it in pieces by the power of a counter thought-form of peace and harmony.

[142] Có lẽ đó là một thông tin xấu xa, một lời nói dối hoặc một mẩu chuyện đàm tiếu. Hãy làm nó mất sinh lực bằng bác ái và phá vỡ nó bằng quyền năng của một hình tư tưởng đối nghịch về hòa bình và hài hòa.

If the information is false, malicious or merely gossip, the method is clear: do not repeat it, do not emotionally feed it, and do not allow it to establish itself in the aura. Devitalize it through love and oppose its disintegrative vibration with a deliberately constructed thought-form of peace and harmony.

Nếu thông tin ấy sai trái, ác ý hay chỉ là chuyện đàm tiếu, phương pháp rất rõ ràng: không lặp lại nó, không nuôi dưỡng nó bằng cảm xúc và không cho phép nó xác lập trong hào quang. Hãy làm nó mất sinh lực qua tình thương và đối kháng rung động gây tan rã của nó bằng một hình tư tưởng hòa bình và hòa hợp được chủ ý kiến tạo.

This is more than simply “thinking positively.” DK is describing the conscious substitution of one organized mental-emotional form for another. The destructive form is deprived of nourishment, while a counter-form of harmony is created strongly enough to break its coherence.

Điều này không chỉ đơn giản là “suy nghĩ tích cực”. Chân sư DK đang mô tả sự thay thế hữu thức một hình tướng trí tuệ-cảm xúc có tổ chức bằng một hình tướng khác. Hình tướng phá hoại bị tước mất nguồn nuôi dưỡng, trong khi một hình tướng đối nghịch về hòa hợp được tạo ra đủ mạnh để phá vỡ sự cố kết của nó.

[143] Or again, it may be true, some sad or evil occurrence or deed of some mistaken brother. What then is there to do? Truth cannot be devitalized or disintegrated. The Law of Absorption will aid you here.

[143] Hoặc nữa, nó có thể là sự thật—một sự việc hay hành động đáng buồn hoặc xấu xa của một huynh đệ lầm lạc nào đó. Vậy phải làm gì? Không thể làm chân lý mất sinh lực hoặc tan rã. Định luật Hấp Thụ sẽ trợ giúp các bạn ở đây.

The case is different when the information is true. We cannot ethically or occultly destroy truth merely because it is painful, embarrassing or damaging to someone's reputation. Nor should we pretend that the event did not happen. So another law has to be used.

Trường hợp sẽ khác khi thông tin ấy là sự thật. Về mặt đạo đức hay huyền bí, chúng ta không thể hủy diệt sự thật chỉ vì nó đau đớn, gây bối rối hoặc làm tổn hại danh tiếng của ai đó. Chúng ta cũng không nên giả vờ rằng biến cố ấy chưa từng xảy ra. Vì vậy, phải vận dụng một định luật khác.

[144] Into your heart you absorb the thought-form you encounter and there transmute it by the alchemy of love. Let me be practical and illustrate, for the matter is of importance.

[144] Các bạn hấp thụ hình tư tưởng mình gặp vào tâm mình và chuyển hóa nó tại đó bằng thuật luyện kim của bác ái. Hãy để Tôi trình bày thực tế và minh họa, bởi vấn đề này rất quan trọng.

This is the Law of Absorption. Instead of passing the true but painful thought-form onward, we absorb it into the heart and transmute its emotional quality through love. The fact remains true, but the poison associated with condemnation, gossip, hostility or sensationalism is removed.

Đây là Định luật Hấp Thu. Thay vì truyền tiếp hình tư tưởng chân thật nhưng đau đớn, chúng ta hấp thu nó vào trái tim và chuyển hóa phẩm tính cảm xúc của nó qua tình thương. Sự kiện vẫn là sự thật, nhưng chất độc gắn với sự kết án, đàm tiếu, thù địch hay giật gân đã được loại bỏ.

This is a very different response from either denial or dissemination. We neither falsify the fact nor strengthen its destructive circulation. We take it into a center capable of loving understanding and change the quality of the energy attached to it.

Đây là một cách đáp ứng rất khác với cả phủ nhận lẫn truyền bá. Chúng ta không xuyên tạc sự kiện, cũng không củng cố sự lưu truyền phá hoại của nó. Chúng ta đưa nó vào một trung tâm có khả năng thấu hiểu bằng tình thương và thay đổi phẩm tính của năng lượng gắn với nó.