Tóm lược chương
Agnisuryans của cõi cảm dục là đối tượng con người cần học điều ngự; không nên đồng nhất thành tựu ấy với việc làm chủ các cấp tương ứng trên cõi bồ đề. Agnichaitans, Agnisuryans và Agnishvattas được liên hệ với những cặp cấp độ khác nhau của hệ thống. Ngay cả Chân sư cũng chưa làm chủ mọi quyền năng trên các dĩ thái vũ trụ, và những khoảng trống trong bảng quyền năng gợi các khả năng vượt quá sự hiểu biết hiện nay. Dục vọng ích kỷ có vai trò ban đầu trong việc hình thành cái ngã cá biệt, nhưng trở thành mất cân đối khi trí thông minh phát triển mà tình thương không theo kịp. Người chí nguyện từ chối bị nó giam giữ bằng một hành vi ý chí…
- Các hệ thiên thần và phạm vi làm chủ
- Dục vọng ích kỷ và sự tái đồng nhất
- Sợ hãi bản năng và sức khuếch đại của thể trí
Astral Rule 8
Tóm Tắt
§ Các hệ thiên thần và phạm vi làm chủ
Agnisuryans của cõi cảm dục là đối tượng con người cần học điều ngự; không nên đồng nhất thành tựu ấy với việc làm chủ các cấp tương ứng trên cõi bồ đề. Agnichaitans, Agnisuryans và Agnishvattas được liên hệ với những cặp cấp độ khác nhau của hệ thống. Ngay cả Chân sư cũng chưa làm chủ mọi quyền năng trên các dĩ thái vũ trụ, và những khoảng trống trong bảng quyền năng gợi các khả năng vượt quá sự hiểu biết hiện nay.
§ Dục vọng ích kỷ và sự tái đồng nhất
Dục vọng ích kỷ có vai trò ban đầu trong việc hình thành cái ngã cá biệt, nhưng trở thành mất cân đối khi trí thông minh phát triển mà tình thương không theo kịp. Người chí nguyện từ chối bị nó giam giữ bằng một hành vi ý chí, được liên hệ với Định luật Đẩy Lùi và năng lượng Hổ Cáp. Thay đổi điều mình nhận là bản thân sẽ làm thay đổi đối tượng mà tính ích kỷ bảo vệ; sự tái lâm của Đức Christ được liên hệ với việc tăng sức mạnh của tình thương.
§ Sợ hãi bản năng và sức khuếch đại của thể trí
Sợ hãi ban đầu có thể bảo vệ hình tướng, nhưng khi kéo dài nó làm con người co rút trước cả ánh sáng, tình thương và những cơ hội tăng trưởng. Trí nhớ về đau đớn và khả năng tưởng tượng tương lai làm nỗi sợ lớn hơn phản ứng tức thời của con vật. Các liên hệ với Bose, phản ứng của kim loại, Sao Hỏa và hai vệ tinh được dùng để mở rộng suy xét về gốc rễ của phản ứng này.
§ Can đảm và tình thương trong cuộc cứu hộ
Cuộc giải cứu các thiếu niên trong hang động Thái Lan được trình bày như ví dụ về sự phối hợp giữa can đảm tập trung của Cung một và tình thương bao gồm của Cung hai. Lời cầu nguyện, ánh sáng và sự trợ giúp của thiên thần thuộc trải nghiệm và cách nhìn của Thầy MDR về sự kiện. Hai tuyến năng lượng cần nhau: một bên cung cấp sự tập trung, bên kia cung cấp khả năng bao gồm.
§ Kinh nghiệm bất tử và sự tháo bỏ các bức màn
Niềm xác tín về bất tử cần kinh nghiệm về sự phân ly giữa bản thân và vận cụ, thay vì chỉ chấp nhận một lý thuyết. Thầy MDR kể trải nghiệm riêng bên ngoài thể xác và liên hệ khả năng ra vào vận cụ với Sao Hải Vương, cánh hoa thứ sáu và những dạng đồng tử có ý thức hoặc vô thức. Cảnh người tử tù thử chạm vào ngọn nến minh họa cách tâm trí dựng trước đau đớn; sự đồng nhất với thực thể bất tử được đề xuất như một hướng vượt sợ hãi.
§ Kẻ Chận Ngõ trên ba Cung
Sợ hãi đặc biệt được liên hệ với Cung hai, tham vọng và quyền lực với Cung một, còn thành tựu trí tuệ phục vụ mục tiêu ích kỷ với Cung ba. Sự kết tinh của thể trí có thể ngăn con người trao quyền cho một năng lực cao hơn và biến tri thức thành công cụ của phàm ngã. Các liên hệ giữa Cung trạng thái, Cung thuộc tính và những định luật vũ trụ được đề xuất như các hướng đối trị, trong khi những luận giải về Hắc Đoàn và thái dương hệ trước vẫn thuộc phần bình giảng.
§ Chân lý thực hành và sự lặp lại hữu thức
Chỉ nói rằng sợ hãi là ảo tưởng chưa đủ giúp người đang hoảng sợ; cần tái đồng nhất qua kinh nghiệm và phân biệt thực tại với những dự cảm chưa từng thành sự thật. Việc tham thiền về chân lý và sử dụng mantram để thực tại chi phối tư tưởng được nhấn mạnh như phương tiện thực hành. Lặp lại phải đi cùng chú ý đến ý nghĩa, lương tri và sự từ chối tiếp sức cho nỗi sợ; những giới hạn trong dự đoán chiêm tinh của chính Thầy MDR minh họa việc không nên phóng đại sự hiểu biết của mình.
§ Tin cậy và bước tiến bằng ý chí
Nỗi lo về tuổi già, sinh kế hoặc phát biểu trước người khác được đặt cạnh niềm tin vào nguồn trợ giúp nội tâm và kinh nghiệm phụng sự. Những lời diễn ý từ Kinh Thánh nhấn mạnh việc hướng đến công việc cần làm thay vì bị tê liệt vì thiếu bảo đảm cá nhân. Sợ hãi có thể làm chậm một bước tiến quan trọng sang kiếp khác, nên sau khi nhận rõ bước đúng, người chí nguyện cần đánh thức ý chí để thực hiện.
§ Ba cách giam giữ linh hồn nhập thế
Người thất bại trước Kẻ Chận Ngõ có thể trở thành kẻ hủy hoại, mê hoặc hoặc thao túng linh hồn, tương ứng với ba Cung chính; chữ “có thể” vẫn để ngỏ khả năng quay lại. Hình ảnh Busiris, những tuyên bố phép lạ và giai thoại về sự giàu có minh họa việc giữ người học lệ thuộc hay che lấp chân lý. Quyền lực chính trị, tôn giáo, tâm lý, nghệ thuật và thương mại có thể trở thành phương tiện giam giữ, nhưng sự giam giữ chỉ áp dụng cho linh hồn nhập thế, không phải linh hồn trên cõi riêng của nó.
Text
[1] Speaking symbolically the substance of the astral plane is animated by three types of divine force, which, when brought together, produce the great Illusion. [2] These are:
[1] Nói theo nghĩa biểu tượng, ba loại mãnh lực thiêng liêng làm sinh động chất liệu của cõi cảm dục; khi kết hợp lại, chúng tạo ra Đại Ảo Tưởng. [2] Đó là:
[3] First, the force of selfish desire. [4] This involutionary energy plays a big part in bringing about evolution, for selfishness is the nursery of infant souls. [5] Hence the aspirant refuses to be held by it.
[3] Thứ nhất, mãnh lực của dục vọng ích kỷ. [4] Năng lượng giáng hạ tiến hoá này giữ vai trò lớn trong việc thúc đẩy tiến hoá, vì tính ích kỷ là vườn ươm của những linh hồn non trẻ. [5] Vì vậy, người chí nguyện không chịu để nó cầm giữ mình.
[6] Second, the force of fear. [7] This is the product of ignorance, and in its initial stages it is not the product of wrong thinking. [8] It is basically instinctual and is found dominating in the non-mental animal kingdom as well as in the human kingdom. [9] But in the human, its power is increased potently [10] through the powers of the mind, [11] and through memory of past pain and grievance and through anticipation of those we foresee, [12] the power of fear is enormously aggravated by the thought-form we ourselves have built of our own individual fears and phobias. [13] This thought form grows in power as we pay attention to it, for “energy follows thought” till we become dominated by it. [14] Second ray people [15] are peculiarly a prey to this. [16] For the majority of them it constitutes the “dweller on the threshold”, just as ambition and love of power, backed by frantic desire and unscrupulousness [17] form the “Dweller” for the first ray types. [18] The crystallized thought form of intellectual achievement for selfish ends, and the use of knowledge for personality objectives stand before the portal of the path in the case of the third ray person, and unless broken up and destroyed will dominate him and turn him into a black magician.
[6] Thứ hai, mãnh lực của sự sợ hãi. [7] Đây là sản phẩm của vô minh, và trong những giai đoạn ban đầu, nó không phải là sản phẩm của tư duy sai lầm. [8] Về cơ bản, nó thuộc bản năng và chi phối cả giới động vật chưa có trí tuệ lẫn giới nhân loại. [9] Nhưng ở con người, sức mạnh của nó gia tăng mãnh liệt [10] nhờ các quyền năng của thể trí, [11] qua ký ức về những đau đớn và tổn thương trong quá khứ, cũng như qua việc đón đợi những điều mà chúng ta thấy trước; [12] hình tư tưởng do chính chúng ta xây dựng từ những nỗi sợ hãi và ám ảnh riêng của mình khiến sức mạnh của sự sợ hãi tăng lên ghê gớm. [13] Hình tư tưởng này càng mạnh lên khi chúng ta chú ý đến nó, vì “năng lượng đi theo tư tưởng”, cho đến khi chúng ta bị nó chi phối. [14] Những người cung hai [15] đặc biệt dễ trở thành nạn nhân của điều này. [16] Với đa số họ, nó tạo thành “Kẻ Chận Ngõ”, cũng như tham vọng và lòng ham mê quyền lực, được tiếp sức bằng dục vọng điên cuồng và sự bất chấp lương tâm, [17] tạo thành “Kẻ Chận Ngõ” đối với những người cung một. [18] Với người cung ba, hình tư tưởng đã kết tinh về thành tựu trí tuệ nhằm những mục đích ích kỷ, cùng việc sử dụng tri thức cho các mục tiêu của phàm ngã, đứng trước cổng vào Đường Đạo; nếu không bị phá vỡ và tiêu diệt, nó sẽ chi phối y và biến y thành một nhà hắc thuật.
[19] You oft have been told that fear is an illusion. Yet this statement does not help. [20] It is a generalisation that one can admit, yet which remains profoundly difficult to apply individually. [21] The fears to which aspirants are subject (note the mode of wording this) [22] are seldom of a selfish nature except insofar as suffering has caused them to recoil from a further continuation of untoward happenings. [23] Their fears [24] are wrapt in seeming love around their loved ones. [25] Yet should each disciple ask himself a most practical question: How many of the torturing hours have been expended on realities and on tangible happenings, and how many on illusory premonitions and on doubts and questionings, based on that which has never happened? [26] I would like to point out to my brothers that they need to do two things: To meditate on truth in daily life, using the concept of truth practised and lived by as their seed thought in meditation; to this end I would suggest that they memorise and use at all times when swept by illusory fears and needless foreboding the following formula or prayer:
[19] Các bạn thường được bảo rằng sợ hãi là một ảo tưởng. Tuy nhiên, lời khẳng định này không giúp ích gì. [20] Đó là một sự khái quát mà người ta có thể thừa nhận, nhưng vẫn vô cùng khó áp dụng cho từng cá nhân. [21] Những nỗi sợ hãi mà người chí nguyện phải chịu sự chi phối (hãy lưu ý cách diễn đạt này) [22] hiếm khi mang bản chất ích kỷ, trừ khi đau khổ đã khiến họ chùn bước trước khả năng những sự việc bất lợi tiếp tục xảy ra. [23] Những nỗi sợ hãi của họ [24] bao bọc người thân trong một tình thương có vẻ là chân thật. [25] Tuy nhiên, mỗi đệ tử nên tự hỏi một câu hết sức thực tế: Trong những giờ phút dằn vặt ấy, bao nhiêu thời gian đã dành cho thực tại và những sự việc cụ thể, và bao nhiêu đã dành cho những linh cảm hão huyền, những hoài nghi và tự vấn dựa trên điều chưa từng xảy ra? [26] Tôi muốn chỉ ra cho các huynh đệ của Tôi rằng họ cần làm hai điều: Tham thiền về chân lý trong đời sống hằng ngày, dùng khái niệm chân lý được thực hành và lấy làm phương châm sống làm tư tưởng hạt giống trong tham thiền; nhằm mục đích này, Tôi đề nghị họ ghi nhớ và sử dụng công thức hay lời cầu nguyện sau đây mỗi khi bị những nỗi sợ hãi hão huyền và những dự cảm bất an không cần thiết cuốn đi:
[27] “Let reality govern my every thought, and truth be the master of my life.”
[27] “Nguyện thực tại cai quản mọi tư tưởng của tôi, và chân lý làm chủ cuộc đời tôi.”
[28] Let each say this to himself as constantly as need requires, [29] forcing his mind to focus attention upon the significance of these spoken words.
[28] Mỗi người hãy tự nhủ lời này thường xuyên theo mức cần thiết, [29] buộc thể trí tập trung chú ý vào thâm nghĩa của những lời đã thốt ra.
[30] I would suggest also sound common sense [31] and the cultivation of an attitude of mind which refuses to permit time for illusory fears to grow.
[30] Tôi cũng đề nghị vận dụng lẽ thường sáng suốt [31] và vun bồi một thái độ trí tuệ không cho những nỗi sợ hãi hão huyền có thời gian phát triển.
[32] Fear is the main obstacle frequently to a very vital step forward which could be taken in this life, but may have to be delayed to another if due opportunity is not taken and the will nature powerfully excited.
[32] Sợ hãi thường là trở ngại chính đối với một bước tiến hết sức quan trọng mà người ta có thể thực hiện trong kiếp này, nhưng có thể phải trì hoãn sang kiếp khác nếu không nắm lấy cơ hội thích hợp và khơi dậy mạnh mẽ bản chất ý chí.
[33] The first ray aspirant [34] who fails to overcome his Dweller may become a “destroyer of souls”, [35] as it is called, and be condemned [36] (until he learns his lesson) to work in the forces of matter, and with the forms which hold all souls in prison. [37] This is the occult significance of the misunderstood words, death and destruction. Of this type, the Devil is the great prototype.
[33] Người chí nguyện cung một [34] không vượt qua được Kẻ Chận Ngõ của mình có thể trở thành một “kẻ hủy diệt linh hồn”, [35] như người ta gọi, và phải chịu cảnh [36] (cho đến khi học được bài học của mình) hoạt động trong các mãnh lực của vật chất và với những hình tướng giam cầm mọi linh hồn. [37] Đây là thâm nghĩa huyền bí của những từ thường bị hiểu sai: cái chết và sự hủy diệt. Quỷ Vương là nguyên mẫu lớn của loại này.
[38] The second ray aspirant who builds his Dweller and permits its steady and increasing control becomes a “deluder of souls”. [39] He is the true Anti-Christ, and through false teaching and the working of so-called miracles, [40] through hypnotism and mass suggestion he draws a veil over the world and forces men to walk in the great illusion. [41] It is interesting to note that the work of the Devil, the imprisoner of souls, is beginning to lose its power, for the race is on the verge of understanding that true death is immersion in form, and that matter is but a part of the divine whole. [42] The thought form of this “Dweller on the Threshold” which humanity has built for millions of years is on the verge of destruction. [43] But the work of Anti-Christ is only rising now to its height, and the delusion of riches, [44] of possession, of false teaching will increasingly hold sway but the term of the delusion will be shorter than the term of destruction, for all these factors function under their own cycles and have their own ebb and flow.
[38] Người chí nguyện cung hai xây dựng Kẻ Chận Ngõ của mình và để nó kiểm soát đều đặn, ngày càng mạnh mẽ, sẽ trở thành một “kẻ mê hoặc linh hồn”. [39] Y là kẻ Phản Christ thực sự, và qua giáo lý sai lạc cùng việc thực hiện những điều gọi là phép lạ, [40] qua thôi miên và ám thị quần chúng, y phủ một bức màn lên thế giới và buộc con người bước đi trong đại ảo tưởng. [41] Điều đáng chú ý là công việc của Quỷ Vương, kẻ giam cầm linh hồn, đang bắt đầu mất đi sức mạnh, vì nhân loại sắp thấu hiểu rằng cái chết thực sự là sự chìm đắm trong hình tướng, và vật chất chỉ là một phần của toàn thể thiêng liêng. [42] Hình tư tưởng về “Kẻ Chận Ngõ” này, mà nhân loại đã xây dựng suốt hàng triệu năm, đang đứng trước sự hủy diệt. [43] Nhưng công việc của kẻ Phản Christ chỉ mới đang vươn tới đỉnh cao, và sự mê lầm về giàu sang, [44] về sở hữu, về giáo lý sai lạc sẽ ngày càng ngự trị; tuy nhiên, thời kỳ mê lầm sẽ ngắn hơn thời kỳ hủy diệt, vì tất cả những yếu tố này đều vận hành theo chu kỳ riêng và có những đợt thăng trầm riêng.
[45] The third ray person who also fails to shatter his "Dweller" [46] becomes what is called a "manipulator of souls" and uses the mind to destroy the real and to put a veil between the man and reality. [47] It must be remembered that none of these names and these activities refer to the soul on its own plane but only to human souls in incarnation on the physical plane. This must be stressed, for on its own plane the souls of all men stand free from illusion, and neither can be destroyed, deluded nor manipulated. [48] It is only "the souls in prison" who are subject to the activities of the forces of evil and only for a term.
[45] Người cung ba cũng không phá tan được “Kẻ Chận Ngõ” của mình [46] sẽ trở thành điều được gọi là một “kẻ thao túng linh hồn”, và sử dụng thể trí để hủy diệt cái thực, đặt một bức màn giữa con người và thực tại. [47] Cần nhớ rằng không danh xưng hay hoạt động nào trong số này liên quan đến linh hồn trên cõi riêng của nó, mà chỉ liên quan đến những linh hồn con người đang lâm phàm trên cõi hồng trần. Phải nhấn mạnh điều này, vì trên cõi riêng của mình, linh hồn của mọi người đều thoát khỏi ảo tưởng, không thể bị hủy diệt, mê hoặc hay thao túng. [48] Chỉ những “linh hồn trong ngục tù” mới chịu tác động từ hoạt động của các mãnh lực tà ác, và cũng chỉ trong một thời kỳ.
[49] The first group works through governments, through politics, and the interplay between nations and is relatively small in number. [
[49] Nhóm thứ nhất hoạt động thông qua các chính phủ, qua chính trị và sự tương tác giữa các quốc gia, và có số lượng tương đối ít. [
[50] The second ray group who delude and deceive, work through religious agencies, through mass psychology, and the misuse and misapplication of devotion and of the arts. [51] They are largest in number. The third group work primarily through commercial relations in the business world, and through the use of money, the concretisation of prana or universal energy, and the outer symbol of the universal flux and flow. These thoughts are suggestive but not vital, dealing as they do with the cosmic tendencies.
[50] Nhóm cung hai, những kẻ mê hoặc và lừa dối, hoạt động thông qua các tổ chức tôn giáo, qua tâm lý quần chúng, cùng việc lạm dụng và vận dụng sai lòng sùng tín và nghệ thuật. [51] Họ có số lượng đông nhất. Nhóm thứ ba hoạt động chủ yếu qua các quan hệ thương mại trong giới kinh doanh, và qua việc sử dụng tiền bạc, vốn là sự cụ thể hóa của prana hay năng lượng vũ trụ, và là biểu tượng bên ngoài của dòng luân chuyển và tuôn chảy vũ trụ. Những tư tưởng này mang tính gợi mở nhưng không thiết yếu, vì chúng đề cập đến các khuynh hướng vũ trụ.
Commentary 8-2
Hello friends, I'm beginning now with A Treatise on White Magic video commentary for the eighth rule. This is our second program for the eighth rule, so I'm calling it 8.2, and I had made a mistake before I told you I was going on to program 9, but somehow had skipped program 7 in the numbering.
Xin chào các bạn, giờ đây tôi bắt đầu phần bình giảng bằng video về Luận về Chánh Thuật cho quy luật thứ tám. Đây là chương trình thứ hai về quy luật thứ tám, nên tôi gọi là 8.2. Trước đó tôi đã nhầm khi nói với các bạn rằng tôi sẽ chuyển sang chương trình 9, vì không hiểu sao tôi đã bỏ qua chương trình 7 khi đánh số.
All right, well, we're talking about the subjugation of the Agni-Suryans of the astral plane. We don't, as normal human beings who are not masters, subjugate the Agni-Suryans of the Buddhic plane. Agni-Chaitans are existing etheric physically and atmically, Agni-Suryans astrally and Buddhically, and Agni-Shvattas on the mental plane lower and higher, though the ones we normally deal with are considered to be on the higher planes and are related closely to the Solar Angels.
Chúng ta đang nói về việc chế ngự các Agni-Suryan của cõi cảm dục. Là những con người bình thường, chưa phải Chân sư, chúng ta không chế ngự các Agni-Suryan của cõi Bồ đề. Các Agni-Chaitan hiện hữu trên cấp độ dĩ thái hồng trần và atma; các Agni-Suryan trên cấp độ cảm dục và Bồ đề; còn các Agni-Shvatta trên cõi hạ trí và thượng trí, mặc dù những vị mà chúng ta thường đề cập đến được xem là ở trên các cõi cao và có quan hệ mật thiết với các Thái dương Thiên Thần.
So anyway, they constitute the astral body and are the living substance of the astral plane, and he learns to function as an adept on that plane and to pierce through its illusion and see life true. This is what lies before us.
Các vị ấy cấu thành thể cảm dục và là chất liệu sống của cõi cảm dục, và y học cách hoạt động như một chân sư trên cõi ấy, xuyên thấu ảo tưởng của nó và thấy sự sống đúng như thực. Đây là điều đang chờ đợi chúng ta.
Remember that one of our masters, or our masters in general, are masters in relation to the lower 18 subplanes and perhaps the lower 21, but they are not yet masters in the cosmic etheric level. They have not risen to all that is possible on those levels.
Hãy nhớ rằng một trong các Chân sư của chúng ta, hay các Chân sư nói chung, là những bậc làm chủ mười tám cõi phụ thấp, và có lẽ cả hai mươi mốt cõi phụ thấp, nhưng Các Ngài chưa làm chủ cấp độ dĩ thái vũ trụ. Các Ngài chưa vươn tới tất cả những gì có thể đạt được trên các cấp độ ấy.
As a matter of fact, if we were to look at this diagram that Keith provided us with, we see that the two higher subplanes on both the Buddhic and Atmic planes are not associated with any particular powers because the powers could not be understood, they pertain to powers higher than those that a master can achieve. Chohans or Chohans of the seventh degree can achieve such power.
Thật vậy, nếu nhìn vào sơ đồ mà Keith cung cấp cho chúng ta, ta thấy hai cõi phụ cao nhất trên cả cõi Bồ đề lẫn cõi atma đều không gắn với quyền năng cụ thể nào, bởi người ta không thể thấu hiểu những quyền năng ấy; chúng thuộc về những quyền năng cao hơn những gì một Chân sư có thể đạt được. Các Chohan, hay các Chohan bậc bảy, có thể đạt được quyền năng như vậy.
So, there's no mastery of the complete cosmic subplanes such as Atmic or Buddhic, and that is, we say simply, a master of the 5th degree. All right.
Vì thế, một Chân sư bậc năm, như chúng ta thường gọi đơn giản như vậy, chưa làm chủ trọn vẹn các cõi phụ vũ trụ như atma hay Bồ đề.
So, let's see, we have here:
Hãy xem, ở đây chúng ta có:
[1] Speaking symbolically the substance of the astral plane is animated by three types of divine force, which, when brought together, produce the great Illusion.
[1] Nói theo nghĩa biểu tượng, ba loại mãnh lực thiêng liêng làm sinh động chất liệu của cõi cảm dục; khi kết hợp lại, chúng tạo ra Đại Ảo Tưởng.
Illusion of the astral plane but not the Great Illusion in the largest possible sense, which says that any finitude is an illusion. Well, we can debate that at another time.
Đây là ảo tưởng của cõi cảm dục, chứ không phải Đại Ảo Tưởng theo nghĩa rộng nhất có thể, theo đó bất cứ điều gì hữu hạn cũng đều là ảo tưởng. Chúng ta có thể tranh luận về điều ấy vào dịp khác.
[2] These are:
[2] Đó là:
[3] First, the force of selfish desire.
[3] Thứ nhất, mãnh lực của dục vọng ích kỷ.
The world is rampant with it now, and millions upon millions are affected by it.
Hiện nay nó đang hoành hành khắp thế giới, ảnh hưởng đến hàng triệu triệu người.
[4] This involutionary energy plays a big part in bringing about evolution, for selfishness is the nursery of infant souls.
[4] Năng lượng giáng hạ tiến hoá này giữ vai trò lớn trong việc thúc đẩy tiến hoá, vì tính ích kỷ là vườn ươm của những linh hồn non trẻ.
At least, it builds up the individualized self, which is necessary. There are people who are not yet at the stage where they can be truly selfish in a threatening sense, hurting others.
Ít nhất, nó xây dựng bản ngã đã biệt ngã hóa, và điều đó là cần thiết. Có những người chưa đạt đến giai đoạn có thể thật sự ích kỷ đến mức đe dọa, gây tổn thương cho người khác.
[5] Hence the aspirant refuses to be held by it.
[5] Vì vậy, người chí nguyện không chịu để nó cầm giữ mình.
Note, the act of Will here, related to the Law of Repulse, which is the fourth law of the soul and has a lot to do with the Scorpio and the power of dispersion and scattering and detachment and refusal to be associated with. It's an aspect of the Law of Love eventually, we are told, but nevertheless we do reject it. It's a rejecting energy but remember that the selfishness—I mean when we're looking at peoples, ‘Oh my goodness this is such a selfish act.’
Hãy lưu ý hành động của Ý chí ở đây, liên quan đến Định luật Đẩy Lùi, là định luật thứ tư của linh hồn, có liên hệ mật thiết với Hổ Cáp và quyền năng phân tán, tản mác, tách rời và từ chối liên kết. Chúng ta được cho biết rằng cuối cùng đây là một phương diện của Định luật Bác ái, nhưng dù vậy chúng ta vẫn khước từ nó. Đó là một năng lượng khước từ, nhưng hãy nhớ về tính ích kỷ—ý tôi là khi nhìn người khác, chúng ta nói: “Ôi, hành động này thật ích kỷ.”
The selfishness is the nursery of infant souls
Tính ích kỷ là vườn ươm của những linh hồn sơ sinh
Of infant souls in incarnation. The word infant is used not even the word little ones or young people, considering the gradual growth of the soul, but when we see people who obviously have developed other faculties to a great extent and are quite intelligent and are therefore both intelligent and selfish, we know something is out of balance, because the love aspect has not kept pace with the intelligence aspect and that's really something that has to be corrected here on our planet, and the reappearance of the Christ and the emergence of the planetary soul on the second ray will really help with that.
Của những linh hồn sơ sinh đang lâm phàm. Từ sơ sinh được dùng, chứ thậm chí không phải từ trẻ nhỏ hay người trẻ, khi xét đến sự trưởng thành dần dần của linh hồn. Nhưng khi thấy những người rõ ràng đã phát triển rất cao các năng lực khác, khá thông minh, và do đó vừa thông minh vừa ích kỷ, chúng ta biết rằng có điều gì đó mất cân bằng, vì phương diện bác ái chưa theo kịp phương diện trí tuệ. Đó thật sự là điều cần phải sửa chữa trên hành tinh chúng ta, và sự tái lâm của Đức Christ cùng sự xuất hiện của linh hồn hành tinh trên cung hai sẽ thật sự giúp ích cho điều ấy.
So, first, we're talking about on the astral plane, the force of selfish desire, and if we could only changed the sense of identity, but it takes some degree of sophisticated thinking and feeling and perception, then we could at least modify the selfishness because one is only selfish about something that one considers to be oneself, and if we change the idea of what our self is, and changed the experience of what our self is, then we will attack and we will change the tendency to selfishness.
Vậy trước tiên, chúng ta đang nói về mãnh lực của dục vọng ích kỷ trên cõi cảm dục. Giá như chúng ta có thể thay đổi ý thức về bản sắc của mình—nhưng điều đó đòi hỏi tư duy, cảm xúc và tri giác tinh tế ở một mức độ nào đó—thì ít nhất chúng ta có thể điều chỉnh tính ích kỷ, bởi người ta chỉ ích kỷ về điều mình xem là chính mình. Nếu thay đổi ý tưởng về bản ngã của chúng ta là gì, và thay đổi trải nghiệm về bản ngã ấy, thì chúng ta sẽ tác động vào và thay đổi khuynh hướng ích kỷ.
Now, the next thing. We find three types of divine force, by the way, he calls them all divine, interesting, but it must be necessary because he calls them all divine
Bây giờ đến điều tiếp theo. Chúng ta thấy có ba loại mãnh lực thiêng liêng; nhân đây, Ngài gọi tất cả chúng là thiêng liêng. Thật thú vị, nhưng hẳn điều đó phải cần thiết, vì Ngài gọi tất cả chúng là thiêng liêng.
[6] Second, the force of fear.
[6] Thứ hai, mãnh lực của sự sợ hãi.
Now this is a highly undesirable lunar factor and it's built into matter itself, but perhaps necessary at first to preserve the form so that it doesn't become sort of a tasty dish for its enemy. The fear is a kind of a recoiling in the face of that which is perceived as threatening. Some of it is threatening and will preserve the form, but if sustained over long, it's recoiling in front of that which would advance growth as if it were something to be feared, hiding from the light, as it were, running away from the light, running away from love, running away from the divine will, the rabbit, or what are they called? Lepus, the hare, the first decanate of Gemini. It's sometimes said about Gemini, that it produces the coward, someone who is yellow, which is the color of that particular sign of the zodiac, or at least one of the important colors.
Đây là một yếu tố thái âm hết sức không mong muốn, vốn có sẵn trong chính vật chất, nhưng có lẽ ban đầu nó cần thiết để bảo toàn hình tướng, giúp hình tướng không trở thành một món ăn ngon cho kẻ thù. Sợ hãi là một kiểu co rúm trước điều được cảm nhận là mối đe dọa. Có những điều thật sự đe dọa, và nỗi sợ sẽ giúp bảo toàn hình tướng; nhưng nếu kéo dài quá lâu, nó trở thành sự co rúm trước điều có thể thúc đẩy tăng trưởng, như thể đó là điều đáng sợ—có thể nói là trốn ánh sáng, chạy trốn ánh sáng, chạy trốn tình thương, chạy trốn ý chí thiêng liêng. Con thỏ, hay gọi là gì nhỉ? Lepus, chòm Thỏ Rừng, thập độ thứ nhất của Song Tử. Đôi khi người ta nói Song Tử tạo ra kẻ hèn nhát, người “vàng nhát”—màu vàng là màu của dấu hiệu hoàng đạo ấy, hay ít nhất là một trong những màu quan trọng.
But of course, this is just a general statement. Other aspects of Gemini involve, finally Sirius itself as the ruler, Canis Major, as the ruler of the third decanate.
Nhưng dĩ nhiên đây chỉ là một nhận định khái quát. Những phương diện khác của Song Tử cuối cùng liên quan đến chính Sirius trong vai trò chủ tinh, chòm Đại Khuyển, chủ tinh của thập độ thứ ba.
So, anyway, the force of fear on the astral plane,
Vậy, mãnh lực của sợ hãi trên cõi cảm dục,
[7] This is the product of ignorance, and in its initial stages it is not the product of wrong thinking.
[7] Đây là sản phẩm của vô minh, và trong những giai đoạn ban đầu, nó không phải là sản phẩm của tư duy sai lầm.
Anyway, this is the product of ignorance built into the lower kingdoms, and perhaps even the mineral kingdom, dealing with the reaction that certain elements and metals have to their environment.
Đây là sản phẩm của vô minh vốn có trong các giới thấp, và có lẽ ngay cả giới kim thạch, xét đến phản ứng của một số nguyên tố và kim loại đối với môi trường.
I mean, it would be a foundational type of withdrawal. I think there was a chemist physicist by the name of Bose, an Indian man, and he dealt with fatigue in metals and maybe with other reactions within the supposedly inanimate mineral kingdom.
Ý tôi là đó có thể là một kiểu co rút ở mức nền tảng. Tôi nghĩ có một nhà hóa học, vật lý học tên là Bose, một người Ấn Độ, nghiên cứu sự mỏi của kim loại và có lẽ cả những phản ứng khác trong giới kim thạch vốn được cho là vô tri.
Anyway, it's not the product of wrong thinking, because it's built into kingdoms where there is no thinking, such as we know it. There may be a reaction in consciousness, but not thinking as we know it.
Dù sao, nó không phải là sản phẩm của tư duy sai lầm, bởi nó vốn có trong những giới không có tư duy như chúng ta biết. Có thể có phản ứng trong tâm thức, nhưng không phải tư duy như chúng ta biết.
[8] It is basically instinctual and is found dominating in the non-mental animal kingdom as well as in the human kingdom.
[8] Về cơ bản, nó thuộc bản năng và chi phối cả giới động vật chưa có trí tuệ lẫn giới nhân loại.
Mars is involved there, with its two satellites. There's a problem between the Lord of that third kingdom and the Lord of our fourth kingdom. Two satellites of Mars, Deimos and Phobos. I think they mean something like fear and terror. Let's kind of check that out, see what we've got here, Deimos and Phobos, and their meanings.
Sao Hỏa có liên quan ở đây, cùng hai vệ tinh của nó. Có một vấn đề giữa Chúa Tể của giới thứ ba ấy và Chúa Tể của giới thứ tư chúng ta. Hai vệ tinh của Sao Hỏa là Deimos và Phobos. Tôi nghĩ chúng có nghĩa đại loại là sợ hãi và kinh hoàng. Chúng ta hãy kiểm tra một chút, xem có gì ở đây về Deimos và Phobos cùng ý nghĩa của chúng.
There's two moons, Phobos and Deimos. Phobos, fear, and Deimos, panic, were named after the horses that pulled the chariot of the Greek war god Aris, the counterpart to the Roman god Mars.
Có hai mặt trăng, Phobos và Deimos. Phobos, sợ hãi, và Deimos, hoảng loạn, được đặt theo tên những con ngựa kéo chiến xa của thần chiến tranh Hy Lạp Aris, đối phần của thần Mars trong thần thoại La Mã.
So, let's call it fear and panic. So, Deimos is panic, and this Phobos, as in phobia, is fear.
Vậy hãy gọi là sợ hãi và hoảng loạn. Deimos là hoảng loạn, còn Phobos, như trong từ chỉ chứng ám sợ, là sợ hãi.
I'm thinking about those, we can't help but mention certain things that are happening at the time we do this. I'm thinking about those boys in the cave in Thailand, and they were attended to by their coach, who turned out to be a kind of a former or Buddhist monk who had practiced meditation, and his meditations led them into a state of calmness. And if they had panicked on the way out, or panicked while there, who knows what might have happened. Some terrible things, but it's a great example of how the world can mobilize itself. And it's a first-ray, second-ray thing, the second-ray types prayed and prayed. I was among them, so were my friends. We just prayed, sending in the angels and the light and all that, and no doubt it helped create a reasonable atmosphere in which the bravery, amazing bravery of those first-ray SEALs and divers could be properly applied. What an execution. I just stand in amazement about it. But, we really do need these opposites, opposite lines, the first-ray line, the second-ray line, but we need them together. They are, in a way, the great opposites, and they each have what the other needs. The first-ray type has centralization, and the second-ray type needs it. The second-ray type has inclusion, and the first-ray type needs it.
Tôi đang nghĩ về những điều ấy; chúng ta không thể không nhắc đến một số việc đang diễn ra vào lúc thực hiện chương trình này. Tôi đang nghĩ đến những cậu bé trong hang ở Thái Lan, được huấn luyện viên chăm sóc. Hóa ra anh ấy từng là một tu sĩ Phật giáo đã thực hành tham thiền, và những bài thiền của anh đã đưa các em vào trạng thái bình tĩnh. Nếu các em hoảng loạn trên đường ra, hoặc hoảng loạn khi còn ở đó, ai biết điều gì có thể xảy ra. Có thể là những điều khủng khiếp, nhưng đây là một ví dụ tuyệt vời về cách thế giới có thể tự huy động. Đây là sự kết hợp cung một và cung hai; những người cung hai không ngừng cầu nguyện. Tôi cũng ở trong số đó, các bạn tôi cũng vậy. Chúng tôi cứ cầu nguyện, gửi đến các thiên thần, ánh sáng và tất cả những điều ấy; chắc chắn việc đó đã giúp tạo ra một bầu không khí thích hợp để lòng dũng cảm, lòng dũng cảm phi thường của những lính đặc nhiệm hải quân và thợ lặn cung một có thể phát huy đúng cách. Thật là một cuộc thực hiện tuyệt vời. Tôi vô cùng kinh ngạc trước điều đó. Nhưng chúng ta thật sự cần những đối cực này, những tuyến đối lập: tuyến cung một và tuyến cung hai, và chúng ta cần chúng cùng nhau. Theo một nghĩa nào đó, chúng là những đối cực lớn, và mỗi bên đều có điều mà bên kia cần. Người cung một có sự quy tụ vào trung tâm, và người cung hai cần điều ấy. Người cung hai có tính bao gồm, và người cung một cần điều ấy.
[9] But in the human, its power is increased potently
[9] Nhưng ở con người, sức mạnh của nó gia tăng mãnh liệt
This power of fear,
Sức mạnh này của sợ hãi,
[10] through the powers of the mind,
[10] nhờ các quyền năng của thể trí,
Which can stage all kinds of unpleasant scenarios
Vốn có thể dựng lên đủ loại kịch bản khó chịu,
[11] and through memory of past pain and grievance and through anticipation of those we foresee
[11] qua ký ức về những đau đớn và tổn thương trong quá khứ, cũng như qua việc đón đợi những điều mà chúng ta thấy trước;
Or imagine
Hoặc tưởng tượng,
[12] the power of fear is enormously aggravated by the thought-form we ourselves have built of our own individual fears and phobias.
[12] hình tư tưởng do chính chúng ta xây dựng từ những nỗi sợ hãi và ám ảnh riêng của mình khiến sức mạnh của sự sợ hãi tăng lên ghê gớm.
Well, I'm sure we all have that kind of experience, building up what we may encounter, and maybe even exaggerating the past, and then imagining that if that past were repeated, it would be even more terrible. But there again, identifying with the immortality of ourselves, identifying as an immortal God, and somehow proving that to ourselves, is of the utmost importance.
Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều từng trải nghiệm việc ấy: dựng lên những điều mình có thể gặp, thậm chí có lẽ còn phóng đại quá khứ, rồi tưởng tượng rằng nếu quá khứ ấy lặp lại thì sẽ còn khủng khiếp hơn. Nhưng một lần nữa, đồng hoá với sự bất tử của chính mình, đồng hoá mình là một Thượng đế bất tử, và bằng cách nào đó chứng minh điều ấy cho chính mình, là điều quan trọng tột bậc.
In my own case, I remember when I discovered that the inner vehicles and the outer form were separable, and I found myself alive, awake, attentive, away from the body, what's going on here. So, I took some walks and looked at my non-self in the mirror, nothing there really, but I knew I was separable. I knew I was separable from the vehicle with which no doubt I had identified as a child and as a young person for many years.
Trong trường hợp của tôi, tôi nhớ khi khám phá ra rằng các hiện thể bên trong và hình tướng bên ngoài có thể tách rời nhau, tôi thấy mình vẫn sống, tỉnh thức, chú tâm, ở ngoài thân thể—chuyện gì đang xảy ra đây? Tôi đi lại một chút và nhìn vào gương để tìm cái không phải bản ngã của mình; thật sự không có gì ở đó, nhưng tôi biết mình có thể tách rời. Tôi biết mình có thể tách khỏi hiện thể mà hẳn tôi đã đồng hoá mình với nó suốt nhiều năm, từ thuở nhỏ đến thời thanh niên.
We have to have the experience of the immortal, the separability of the immortal factor, and more and more will be taught how to do that. There'll be the recalling of past lives, and we'll be taught how to do that, hopefully we can stand what we see and apply it in a constructive manner.
Chúng ta phải trải nghiệm sự bất tử, khả năng tách rời của yếu tố bất tử ấy, và ngày càng nhiều người sẽ được dạy cách làm điều đó. Sẽ có việc nhớ lại các kiếp trước, và chúng ta sẽ được dạy cách thực hiện; hy vọng chúng ta có thể chịu đựng những gì mình thấy và vận dụng chúng theo cách xây dựng.
But, the assurance of immortality is based on certain experiences, not just the theory, and not just because someone tells you you are immortal, you are not your body, you are something else. We have to shed these vestures, one by one. These are veils, and we have to penetrate beyond these veils. We use them, but we penetrate into a reality beyond them, till we find ourselves perhaps within the Augoeides itself, within the soul body, and maybe within other vehicles which have been organized and coordinated on the Buddhic plane once the egoic lotus is no more. So, experience is the key. So, anyway this thought form that we run over and over again.
Nhưng sự xác tín về tính bất tử dựa trên những trải nghiệm nhất định, chứ không chỉ trên lý thuyết, cũng không chỉ vì ai đó nói với các bạn rằng các bạn bất tử, các bạn không phải thân thể mình, mà là một điều khác. Chúng ta phải trút bỏ những lớp áo này, từng lớp một. Đó là những bức màn, và chúng ta phải xuyên qua chúng. Chúng ta sử dụng chúng, nhưng thâm nhập vào một thực tại vượt ngoài chúng, cho đến khi có lẽ thấy mình ở trong chính Augoeides, trong thể linh hồn, và có thể trong những hiện thể khác đã được tổ chức và phối hợp trên cõi Bồ đề khi hoa sen chân ngã không còn nữa. Vì vậy, trải nghiệm là chìa khóa. Dù sao, hình tư tưởng này cứ được chúng ta lặp đi lặp lại.
I remember I saw a film, it was about the days of Bloody Mary in England, when Catholicism was being threatened by the new Protestantism, and so they were burning every kind of Protestant they could find, especially the ones that wanted the Bible and other materials translated into English. And here was a man that was brave enough to speak out a version of the Bible, or some verses in English in the middle of a church service, and of course he was captured and condemned to death, and I saw him sort of in his room before his execution, and he had a flame in front of him, a candle, he was going to be burned alive. And he tried to get near the candle and touch the candle, of course, it was a horrifying experience because he realized the pain that was involved, but we anticipate these things, we anticipate future pain.
Tôi nhớ đã xem một bộ phim về thời Mary Khát Máu ở Anh, khi Công giáo đang bị đạo Tin Lành mới hình thành đe dọa, nên họ thiêu sống bất kỳ tín đồ Tin Lành nào có thể tìm được, nhất là những người muốn dịch Kinh Thánh và các tài liệu khác sang tiếng Anh. Có một người đủ can đảm đọc thành tiếng một bản Kinh Thánh, hay vài câu bằng tiếng Anh giữa buổi lễ nhà thờ; dĩ nhiên ông bị bắt và kết án tử hình. Tôi thấy ông trong phòng trước giờ hành quyết, trước mặt là một ngọn lửa, một cây nến; ông sắp bị thiêu sống. Ông thử đến gần cây nến và chạm vào nó. Dĩ nhiên đó là một trải nghiệm kinh hoàng, vì ông nhận ra nỗi đau liên quan. Nhưng chúng ta dự liệu những điều này, dự liệu nỗi đau tương lai.
If only we could have a catalog of memories about how many times we have seen the dissolution of the body and awakened from that dissolution quite intact and very much ourselves and so forth. But we need to have that kind of flexibility and mobility in and out of the body. Maybe that's somewhat achieved, I don't know, sometimes in relation to the sixth petal, which is a Piscean petal, a Neptunian petal, a Virgoan petal, Neptune is involved. Neptune rules this coming and going in and out of the body, which is why it is the planet of mediums. The medium opens the body to the incoming entity and steps aside. This is either good or bad, depending on whether it's conscious more under Virgo or unconscious under Pisces and Cancer, the Tibetan informs us. But that particular petal, the sixth petal, is obviously associated with Virgo too, so conscious mediship may be possible.
Giá như chúng ta có một danh mục ký ức về biết bao lần đã chứng kiến thân thể tan rã rồi tỉnh dậy sau sự tan rã ấy, vẫn nguyên vẹn và hoàn toàn là chính mình. Nhưng chúng ta cần sự linh hoạt và khả năng ra vào thân thể như vậy. Có lẽ điều đó phần nào đạt được, tôi không biết, đôi khi liên quan đến cánh hoa thứ sáu, một cánh hoa mang tính Song Ngư, Sao Hải Vương và Xử Nữ; Sao Hải Vương có liên quan. Sao Hải Vương cai quản việc ra vào thân thể này, nên đó là hành tinh của các đồng tử. Đồng tử mở thân thể cho thực thể đi vào rồi lui sang bên. Chân sư Tây Tạng cho biết điều này tốt hay xấu tùy thuộc nó diễn ra có ý thức, thiên về Xử Nữ, hay vô thức, dưới Song Ngư và Cự Giải. Nhưng cánh hoa đặc biệt ấy, cánh hoa thứ sáu, hiển nhiên cũng gắn với Xử Nữ, nên việc làm đồng tử có ý thức có thể là điều khả thi.
Anyway a little digression there.
Đó là một chút lạc đề.
Fear in the human being is not just an unconscious thing suddenly rising, as when maybe an antelope is being chased by a lion or something in that moment, or suddenly a crocodile is springing out of the water and grabbing hold, but it's anticipated, it's built up over hours and days and weeks and years.
Sợ hãi ở con người không chỉ là một điều vô thức bất ngờ trỗi dậy, chẳng hạn khi một con linh dương đang bị sư tử đuổi trong khoảnh khắc ấy, hoặc một con cá sấu bất ngờ phóng khỏi mặt nước và ngoạm lấy; mà nó được dự liệu, được bồi đắp qua hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần, hàng năm.
[13] This thought form grows in power as we pay attention to it, for "energy follows thought" till we become dominated by it.
[13] Hình tư tưởng này càng mạnh lên khi chúng ta chú ý đến nó, vì “năng lượng đi theo tư tưởng”, cho đến khi chúng ta bị nó chi phối.
Here that is the saying a coward dies a thousand times before his death, the hero dies but once, and the hero is not going to ruminate over a very unpleasant possibly unpleasant rending process.
Ở đây có câu nói kẻ hèn nhát chết ngàn lần trước khi chết, người anh hùng chỉ chết một lần, và người anh hùng sẽ không nghiền ngẫm mãi về một tiến trình xé lìa rất khó chịu, hay có thể khó chịu.
[14] Second ray people
[14] Những người cung hai
And this is something I've always remembered, and something I've applied to myself and other second-ray types,
Đây là điều tôi luôn ghi nhớ và đã áp dụng cho bản thân cùng những người cung hai khác,
[15] are peculiarly a prey to this.
[15] đặc biệt dễ trở thành nạn nhân của điều này.
Prone to fear, the glamour of fear.
Dễ sợ hãi, dễ mắc ảo cảm sợ hãi.
If we go here to Glamour A World Problem page 123, a little far into it, and maybe we'll find it the glamour self-pity, the glamour of fear based on undue sensitivity, and also on attachment to that which one is definitely going to leave behind in the rendering process.
Nếu mở Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới ở trang 123, vào sâu hơn một chút, có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy ảo cảm tự thương hại, ảo cảm sợ hãi dựa trên sự nhạy cảm quá mức, và cả sự quyến luyến với điều mà người ta chắc chắn sẽ bỏ lại trong tiến trình xé lìa.
The Buddha was a great second ray type in His soul, and who knows where else, and He dealt with this issue of detachment. When we're truly detached from that which we had identified ourselves with, and detached because of our experience, then the fear will begin to subside.
Đức Phật là một bậc cung hai vĩ đại xét về linh hồn của Ngài, và ai biết còn ở những phương diện nào khác; Ngài đã giải quyết vấn đề tách rời này. Khi thật sự tách rời khỏi điều mà trước kia chúng ta đã đồng hoá mình với nó, và sự tách rời ấy đến từ trải nghiệm, thì sợ hãi sẽ bắt đầu lắng xuống.
So, anyway, second ray people are peculiarly prone to this glamour of fear, so search yourself, and see if it's an issue for you. I know it has been an issue for me in various ways, and maybe some kind of final fear is the fear of the annihilation of being, or annihilation of consciousness, or something of that nature, but we have to prove that these factors do not really exist.
Vậy, người cung hai đặc biệt dễ mắc ảo cảm sợ hãi này, nên hãy tự xét mình xem đây có phải vấn đề của các bạn không. Tôi biết nó từng là vấn đề của tôi theo nhiều cách; có lẽ một dạng sợ hãi cuối cùng là nỗi sợ sự hiện tồn bị hủy diệt, hay tâm thức bị hủy diệt, hoặc điều gì tương tự. Nhưng chúng ta phải chứng minh rằng những điều ấy không thật sự tồn tại.
[16] For the majority of them it constitutes the "Dweller on the Threshold", just as ambition and love of power, backed by frantic desire and unscrupulousness
[16] Với đa số họ, nó tạo thành “Kẻ Chận Ngõ”, cũng như tham vọng và lòng ham mê quyền lực, được tiếp sức bằng dục vọng điên cuồng và sự bất chấp lương tâm,
You almost think about frantic desire as sixth ray and unscrupulousness third ray, but you see it in the first-ray type,
Các bạn gần như nghĩ dục vọng điên cuồng thuộc cung sáu, còn sự bất chấp đạo lý thuộc cung ba, nhưng các bạn lại thấy chúng ở người cung một,
[17] form the "Dweller" for the first ray types.
[17] tạo thành “Kẻ Chận Ngõ” đối với những người cung một.
So this really useful. Maybe He's going to tell us a bit about the customary, the usual dweller on the threshold for the various types, and maybe if we get a handle on what our whatever it is, and what sort of prevents us from taking the steps through the portal which waits, we'll know more about which ray that is operative in this type of prevention.
Điều này thật sự hữu ích. Có lẽ Ngài sẽ cho chúng ta biết đôi chút về Kẻ Chận Ngõ thông thường của từng loại người; và nếu nắm được điều ấy ở mình là gì, điều gì ngăn chúng ta bước qua cánh cổng đang chờ đợi, thì có lẽ chúng ta sẽ biết thêm cung nào đang hoạt động trong kiểu ngăn trở này.
[18] The crystallized thought form of intellectual achievement for selfish ends, and the use of knowledge for personality objectives stand before the portal of the path in the case of the third ray person, and unless broken up and destroyed will dominate him and turn him into a black magician.
[18] Với người cung ba, hình tư tưởng đã kết tinh về thành tựu trí tuệ nhằm những mục đích ích kỷ, cùng việc sử dụng tri thức cho các mục tiêu của phàm ngã, đứng trước cổng vào Đường Đạo; nếu không bị phá vỡ và tiêu diệt, nó sẽ chi phối y và biến y thành một nhà hắc thuật.
Well, he depends upon his mind, and he trusts perhaps only his mind, and he's not willing to surrender the use of that faculty in an almost obsessive way, in the trust that something better may come along, and something better that will allow him to use his intellectual development even more successfully, but this time for an unselfish purpose.
Y dựa vào thể trí, có lẽ chỉ tin vào thể trí của mình, và không sẵn lòng từ bỏ cách sử dụng năng lực ấy gần như đầy ám ảnh, để tin rằng một điều tốt đẹp hơn có thể đến—một điều cho phép y sử dụng sự phát triển trí tuệ của mình còn thành công hơn nữa, nhưng lần này vì một mục đích vô vị kỷ.
The crystallized thought-form
Hình tư tưởng kết tinh
I mean, we can probably put the first and seventh ray here together a little bit, second and the sixth, and the third and the fifth, because these rays of attributes are more concrete expressions of the first three rays of aspect.
Ý tôi là ở đây có lẽ chúng ta có thể phần nào ghép cung một với cung bảy, cung hai với cung sáu, cung ba với cung năm, bởi các cung thuộc tính này là những biểu hiện cụ thể hơn của ba cung trạng thái đầu tiên.
The crystallized thought form of intellectual achievement for selfish ends,
Hình tư tưởng kết tinh của thành tựu trí tuệ vì những mục đích ích kỷ,
I remember in a debate recently someone was accused of evading taxes, and his answer was, “Well, that means I'm really smart”. I thought to myself, Oh, there's a tremendous third ray blindness operating,
Tôi nhớ trong một cuộc tranh luận gần đây, có người bị cáo buộc trốn thuế, và ông ta trả lời: “Điều đó có nghĩa là tôi thật sự thông minh.” Tôi thầm nghĩ: “Ồ, một sự mù quáng cung ba ghê gớm đang hoạt động”,
and the use of knowledge for personality objectives
cùng việc sử dụng tri thức cho các mục tiêu phàm ngã
Because we identify as a personality,
Vì chúng ta đồng hoá mình là một phàm ngã,
stand before the portal of the path in the case of the third-ray person,
đứng trước cánh cổng của đường đạo đối với người cung ba,
Remember when we use the word person, we're not just talking about personality. That's probably pretty much the soul and eventually even the monad, and unless broken up law of disintegration third law
Hãy nhớ khi dùng từ con người, chúng ta không chỉ nói về phàm ngã. Có lẽ phần lớn đó là linh hồn và cuối cùng thậm chí là chân thần; và nếu không bị phá vỡ—định luật tan rã, định luật thứ ba—
unless broken up
nếu không bị phá vỡ
The Law of Disintegration, the third Law.
Định luật Tan Rã, định luật thứ ba.
and destroyed will dominate him and turn him into a black magician.
và hủy diệt, nó sẽ chi phối y và biến y thành một nhà hắc thuật.
Now, the great majority of black magicians come from a previous solar system, and are third ray monads, and interestingly, first ray souls. They're are the Destroyer in terms of their souls. So, the sub-ray of the third ray monad is the first ray. We have some groups that have the first ray soul, and maybe a third ray personality, whenever you combine those two rays without the ray of love wisdom, you have a real potential problem.
Đại đa số các nhà hắc thuật đến từ một hệ mặt trời trước, có chân thần cung ba và, điều thú vị là, linh hồn cung một. Xét về linh hồn, họ là Đấng Hủy Diệt. Vì vậy, cung phụ của chân thần cung ba ấy là cung một. Chúng ta có một số nhóm có linh hồn cung một và có lẽ phàm ngã cung ba; bất cứ khi nào kết hợp hai cung ấy mà không có cung bác ái–minh triết, các bạn đều có một vấn đề tiềm tàng thật sự.
But anyway, they come from a system in which the third ray was developed, in which they developed their intellectual achievements that they don't want to relinquish because they're attached to them, and therefore attached to a great material deva, who eventually conquers them entirely, and so it captivates them that they have to start all over in another solar system,
Dù sao, họ đến từ một hệ mà cung ba đã phát triển, nơi họ đã phát triển những thành tựu trí tuệ mà họ không muốn từ bỏ vì quyến luyến chúng, và do đó quyến luyến một thiên thần vật chất vĩ đại, vị cuối cùng hoàn toàn chinh phục họ. Vị ấy giam giữ họ đến mức họ phải bắt đầu lại từ đầu trong một hệ mặt trời khác,
We're told there's no permanent failure because we are the One and Only Non-Failure, but in terms of our illusory projections into the great Maha Maya, which the universe is. There are the failures in illusory time and space. There is no other thing except illusory time and space, time and space are not real per se, so these have to be broken up under the Law of Disintegration maybe.
Chúng ta được cho biết không có thất bại vĩnh viễn, vì chúng ta là Đấng Duy Nhất Không Bao Giờ Thất Bại; nhưng xét về những phóng chiếu ảo tưởng của chúng ta vào Đại Ảo Lực, tức vũ trụ, thì có những thất bại trong thời gian và không gian ảo tưởng. Không có gì khác ngoài thời gian và không gian ảo tưởng; chính thời gian và không gian không có thực, nên có lẽ những điều này phải bị phá vỡ theo Định luật Tan Rã.
So I've said before, if we give into our Dwellers, first ray types, the Destroyer of Souls, and maybe the Law of Synthesis will help; Second ray type,s the Deluder of Souls, and maybe the Law of Attraction and Repulsion will help; and third ray types, the Manipulator of Souls, and maybe the Law of Well-Presented Attributes, you might say, that's one way of doing it, or the Law of Economy in some way, aligned with the objectives of the Plan, selflessly aligned, will help.
Như tôi đã nói trước đây, nếu chúng ta đầu hàng những Kẻ Chận Ngõ của mình: với người cung một, đó là Kẻ Hủy Diệt Linh Hồn, và có lẽ Định luật Tổng Hợp sẽ giúp ích; với người cung hai, đó là Kẻ Mê Hoặc Linh Hồn, và có lẽ Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi sẽ giúp ích; với người cung ba, đó là Kẻ Thao Túng Linh Hồn, và có lẽ có thể gọi là Định luật về Các Thuộc Tính Được Biểu Đạt Đúng Đắn—đó là một cách diễn đạt—hoặc Định luật Tiết Kiệm, theo cách nào đó chỉnh hợp với những mục tiêu của Thiên Cơ, chỉnh hợp một cách vô vị kỷ, sẽ giúp ích.
There are remedies for every disease, and all of these things are diseases when they don't go along with the Divine Plan. There are ways of getting through and beyond them.
Mỗi căn bệnh đều có phương thuốc, và tất cả những điều này đều là bệnh khi chúng không thuận theo Thiên Cơ. Có những cách để vượt qua và đi xa hơn chúng.
[19] You oft have been told that fear is an illusion. Yet this statement does not help.
[19] Các bạn thường được bảo rằng sợ hãi là một ảo tưởng. Tuy nhiên, lời khẳng định này không giúp ích gì.
It's so true. Oh well, you don't really have anything to be afraid of, and yet the person is in panic, and the words do not help.
Điều đó thật đúng. “Ồ, bạn thật sự chẳng có gì phải sợ cả”, nhưng người ấy vẫn hoảng loạn, và lời nói chẳng giúp ích gì.
[20] It is a generalisation that one can admit, yet which remains profoundly difficult to apply individually.
[20] Đó là một sự khái quát mà người ta có thể thừa nhận, nhưng vẫn vô cùng khó áp dụng cho từng cá nhân.
I would say only, at least in my case, I understand it, re-identification will work. Re-identification. In other words, what we thought we were, we are not, and we have to know through experience, re-identification.
Tôi chỉ muốn nói rằng, ít nhất trong trường hợp của tôi, theo cách tôi hiểu, việc xác lập lại sự đồng hoá sẽ có hiệu quả. Xác lập lại sự đồng hoá. Nói cách khác, chúng ta không phải là điều mình từng nghĩ mình là, và chúng ta phải biết điều ấy qua trải nghiệm—xác lập lại sự đồng hoá.
[21] The fears to which aspirants are subject (note the mode of wording this)
[21] Những nỗi sợ hãi mà người chí nguyện phải chịu sự chi phối (hãy lưu ý cách diễn đạt này)
Because the aspirant is subjugated by the fear,
Vì người chí nguyện bị nỗi sợ chế ngự,
[22] are seldom of a selfish nature except insofar as suffering has caused them to recoil from a further continuation of untoward happenings.
[22] hiếm khi mang bản chất ích kỷ, trừ khi đau khổ đã khiến họ chùn bước trước khả năng những sự việc bất lợi tiếp tục xảy ra.
Well, we put our hand to the plow, as it says in the Bible, and then we turn back, and we're not worthy to enter the kingdom of heaven. We stop making our directed efforts, and therefore do not build up the vibratory qualifications to enter the kingdom of heaven.
Như Kinh Thánh nói, chúng ta đã đặt tay vào cày mà còn quay lại phía sau, nên không xứng đáng bước vào Thiên Quốc. Chúng ta ngừng những nỗ lực có định hướng của mình, và do đó không xây dựng những phẩm chất rung động cần thiết để bước vào Thiên Quốc.
[23] Their fears
[23] Những nỗi sợ hãi của họ
Aspirants’ fears. Maybe we can identify that because we're all aspirants here. We wouldn't be reading Master DK so carefully if we were not aspirants,
Những nỗi sợ của người chí nguyện. Có lẽ chúng ta có thể nhận ra điều ấy vì tất cả chúng ta ở đây đều là người chí nguyện. Nếu không phải người chí nguyện, chúng ta đã chẳng đọc Chân sư DK kỹ lưỡng đến vậy,
[24] are wrapt in seeming love around their loved ones.
[24] bao bọc người thân trong một tình thương có vẻ là chân thật.
Notice how he gives the qualifier there, he calls it seeming love of their loved ones. DK's been through all of this. We're told the Masters have been through it all, and they have the perspective of what it is we face on the continuing path.
Hãy lưu ý cách Ngài đưa ra sự phân định ở đây: Ngài gọi đó là tình thương có vẻ là thật dành cho những người thân yêu của họ. Chân sư DK đã trải qua tất cả những điều này. Chúng ta được cho biết các Chân sư đã trải qua tất cả, và Các Ngài có tầm nhìn về những gì chúng ta phải đối diện trên đường đạo đang tiếp diễn.
[25] Yet should each disciple ask himself a most practical question: How many of the torturing hours have been expended on realities and on tangible happenings, and how many on illusory premonitions and on doubts and questionings, based on that which has never happened?
[25] Tuy nhiên, mỗi đệ tử nên tự hỏi một câu hết sức thực tế: Trong những giờ phút dằn vặt ấy, bao nhiêu thời gian đã dành cho thực tại và những sự việc cụ thể, và bao nhiêu đã dành cho những linh cảm hão huyền, những hoài nghi và tự vấn dựa trên điều chưa từng xảy ra?
I mean, we go back and we examine what some of our fears have been, and has there been any tangibility to them at all? Has it been even worth the effort of all the torturous thinking and doubting and recoiling and quaking and all these things?
Ý tôi là chúng ta nhìn lại và xem xét một số nỗi sợ của mình: chúng có chút thực chất hữu hình nào không? Liệu chúng có đáng để bỏ ra ngần ấy công sức cho những suy nghĩ dằn vặt, nghi ngờ, co rúm, run rẩy và tất cả những điều ấy không?
I'm trying to think in my own life, as an astrologer, I could pretty predict the time of death, although there are so many variables involved there. And I might have seen, Oh, look at this, look at this time. This is a very heavy time. Well, it was heavy, but it turned out to be heavy in a different way. Or this time, when things are really threatening to the bodily form, turned out that what was really threatening to the bodily form came through at a time where much less was indicated. And so, I kept it in the back of my mind as I approached these times and got through them with minimal distress, only to find that later, I was completely surprised and overtaken by some disastrous effects that were not, in my view, particularly indicated.
Tôi đang thử nghĩ về cuộc đời mình: với tư cách nhà chiêm tinh, tôi có thể dự đoán khá chính xác thời điểm chết, mặc dù có rất nhiều biến số liên quan. Có thể tôi đã thấy: “Ồ, nhìn này, nhìn thời điểm này xem. Đây là một thời điểm rất nặng nề.” Quả thật nó nặng nề, nhưng hóa ra theo một cách khác. Hoặc thời điểm tưởng chừng có những điều thật sự đe dọa thân thể, thì hóa ra điều thật sự đe dọa thân thể lại xảy đến vào lúc các chỉ dấu ít hơn nhiều. Vì vậy, khi đến gần những thời điểm ấy, tôi vẫn ghi nhớ chúng trong tâm trí và vượt qua với rất ít khổ sở, rồi về sau lại hoàn toàn bất ngờ, bị những tác động tai hại ập đến mà theo tôi, các chỉ dấu không đặc biệt cho thấy.
So there's a lot about astrology I don't know, or maybe we don't know, and a lot about the destiny of the soul and incarnation as managed by the overshadowing Angel of the presence, Solar Angel. There's a lot we don't know.
Vậy có rất nhiều điều về chiêm tinh học mà tôi không biết, hoặc có lẽ chúng ta không biết; và rất nhiều điều về vận mệnh của linh hồn cùng sự lâm phàm do Thiên Thần của Hiện Diện, Thái dương Thiên Thần đang phủ bóng, điều hành. Có rất nhiều điều chúng ta không biết.
[26] I would like to point out to my brothers that they need to do two things: To meditate on truth in daily life, using the concept of truth practised and lived by as their seed thought in meditation; to this end I would suggest that they memorise and use at all times when swept by illusory fears and needless foreboding the following formula or prayer:
[26] Tôi muốn chỉ ra cho các huynh đệ của Tôi rằng họ cần làm hai điều: Tham thiền về chân lý trong đời sống hằng ngày, dùng khái niệm chân lý được thực hành và lấy làm phương châm sống làm tư tưởng hạt giống trong tham thiền; nhằm mục đích này, Tôi đề nghị họ ghi nhớ và sử dụng công thức hay lời cầu nguyện sau đây mỗi khi bị những nỗi sợ hãi hão huyền và những dự cảm bất an không cần thiết cuốn đi:
You've got to admit this is a practical and wonderful book which guides us, certainly. So, anyway, meditate on truth in daily life, using the concept of truth practiced and lived by as their seed thought in meditation. Then use this mantra:
Các bạn phải thừa nhận rằng đây là một cuốn sách thực tế và tuyệt vời, chắc chắn có thể hướng dẫn chúng ta. Vậy, hãy tham thiền về chân lý trong đời sống hằng ngày, dùng khái niệm về chân lý được thực hành và sống theo làm tư tưởng hạt giống trong tham thiền. Rồi sử dụng mantram này:
[27] "Let reality govern my every thought, and truth be the master of my life."
[27] “Nguyện thực tại cai quản mọi tư tưởng của tôi, và chân lý làm chủ cuộc đời tôi.”
If we're brave enough to deal with that:
Nếu chúng ta đủ can đảm đối diện với điều ấy:
let reality govern my every thought and truth be the Master of my life,
cầu cho thực tại chi phối mọi tư tưởng của tôi, và chân lý làm chủ cuộc đời tôi,
And then we'll really be able to begin discriminating between what is a needless, illusory anticipation which may never come to pass, just based on vain imaginings and what is real or real in a relative sense. I have to say there's nothing real but the Absolute, but real in a relative sense within the universe.
Khi ấy chúng ta mới thật sự có thể bắt đầu phân biện giữa sự dự liệu ảo tưởng, không cần thiết, có thể chẳng bao giờ xảy ra, chỉ dựa trên những tưởng tượng hão huyền, với điều có thực, hay có thực theo nghĩa tương đối. Tôi phải nói rằng không có gì có thực ngoài Cái Tuyệt Đối; ở đây là có thực theo nghĩa tương đối trong vũ trụ.
[28] Let each say this to himself as constantly as need requires,
[28] Mỗi người hãy tự nhủ lời này thường xuyên theo mức cần thiết,
So, here we learn something about the value of repetition. I will say, if you have a good mantra and repeat it three times, it seems to be what Master Morya would have us do, and that three-time repetition drives it home. Three is the charm,
Ở đây chúng ta học được điều gì đó về giá trị của sự lặp lại. Tôi muốn nói rằng nếu các bạn có một mantram tốt và lặp lại ba lần—dường như đó là điều Chân sư Morya muốn chúng ta làm—thì sự lặp lại ba lần ấy khiến nó thấm sâu. Ba lần là linh nghiệm,
[29] forcing his mind to focus attention upon the significance of these spoken words.
[29] buộc thể trí tập trung chú ý vào thâm nghĩa của những lời đã thốt ra.
Because you know how it is, we can just repeat something and it has no value. And Master Morya tells us that if we take vitamins with consciousness, they're worth so much more. So, we try to do what we do with consciousness and not just mindlessly like an automaton.
Vì các bạn biết đấy, chúng ta có thể chỉ lặp lại một điều gì đó mà chẳng có giá trị gì. Chân sư Morya cho biết nếu uống vitamin với tâm thức chú ý, chúng sẽ có giá trị hơn nhiều. Vì vậy, chúng ta cố gắng làm những gì mình làm với tâm thức chú ý, chứ không chỉ vô tâm như một cỗ máy.
[30] I would suggest also sound common sense
[30] Tôi cũng đề nghị vận dụng lẽ thường sáng suốt
He tells us sixth ray types do not have this. —I'm always trying to cultivate it—having been on that ray for so long. Sixth ray types do not have common sense in general, even though in a way the sixth phase of meditation is the common sense, or the cultivation of common sense.
Ngài cho biết những người cung sáu không có điều này. Tôi luôn cố gắng trau dồi nó, vì đã ở trên cung ấy quá lâu. Nhìn chung, người cung sáu không có óc xét đoán thực tế, mặc dù theo một nghĩa nào đó, giai đoạn thứ sáu của tham thiền là óc xét đoán thực tế, hay sự trau dồi óc xét đoán thực tế.
How does it go? It's a sense. It's the sixth sense. We usually think of the sixth sense as psychic, but it's really the seventh sense, which is the esoteric sense, and the synthesizing sense is the common sense that synthesizes—hearing, touch, sight, taste, smell, and synthesizing common sense.
Điều đó được diễn đạt thế nào nhỉ? Đó là một giác quan. Là giác quan thứ sáu. Chúng ta thường nghĩ giác quan thứ sáu là thông linh, nhưng thật ra đó là giác quan thứ bảy, giác quan huyền bí; còn giác quan tổng hợp là óc xét đoán thực tế, tổng hợp thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác—và óc xét đoán thực tế mang tính tổng hợp.
[31] and the cultivation of an attitude of mind which refuses to permit time for illusory fears to grow.
[31] và vun bồi một thái độ trí tuệ không cho những nỗi sợ hãi hão huyền có thời gian phát triển.
So, do not give these fears time and attention, but of course at first try to identify them as really or truly illusory.
Vì vậy, đừng dành thời gian và sự chú ý cho những nỗi sợ này; nhưng dĩ nhiên trước hết hãy cố gắng nhận diện chúng thật sự là ảo tưởng.
I'm thinking about, some people that have a worry about how they will live, support themselves in their old age. The governments are getting more and more stingy with respect to what they will provide for people as they enter retirement and later retirement. And there's a fear, what will happen to me? And the trust factor is not there.
Tôi đang nghĩ đến một số người lo lắng không biết sẽ sống ra sao, tự nuôi mình thế nào khi tuổi già. Các chính phủ ngày càng dè sẻn hơn về những gì họ cung cấp cho người dân khi mới nghỉ hưu và vào những năm sau đó. Và có nỗi sợ: điều gì sẽ xảy đến với tôi? Yếu tố tin cậy không hiện diện.
Of course, I think I have that, but if I've been burned enough, maybe I wouldn't have it. But the idea that God or the Inner Reality will provide, that our inner Immortality of Being will provide, is a sound one. I mean, think Jesus said, or was it the Christ? You never know exactly who's talking there, but it sounds like the Christ, that do not worry about these things that you need. Your Father in heaven knows you have need of these things. And do not worry about speaking the truth of the teaching, the words will come to you. Of course, I'm just paraphrasing, but these were not necessarily educated human beings and they had to deliver the good news to many. They were worried, “What shall I say, Lord?” And He said, “Do not worry, the words will come to you”. I've seen that, people have a fear of speaking, fear to be judged as stupid or whatever. And lo and behold, that in the moment, fine words and fine thoughts come to them under the stimulation of service. So, we don't have to be afraid of those things.
Dĩ nhiên, tôi nghĩ mình có sự tin cậy ấy, nhưng nếu đã chịu đủ nhiều tổn thương thì có lẽ tôi sẽ không còn. Tuy nhiên, ý tưởng rằng Thượng đế hay Thực Tại Bên Trong sẽ chu cấp, rằng Sự Hiện Tồn Bất Tử bên trong chúng ta sẽ chu cấp, là một ý tưởng vững chắc. Tôi nghĩ Đức Jesus đã nói—hay đó là Đức Christ? Không bao giờ biết chính xác ai đang nói ở đó, nhưng nghe có vẻ là Đức Christ—rằng đừng lo lắng về những thứ các ngươi cần. Cha các ngươi trên trời biết các ngươi cần những thứ ấy. Và đừng lo lắng về việc nói lên chân lý của giáo huấn, lời nói sẽ đến với các ngươi. Dĩ nhiên tôi chỉ đang diễn ý, nhưng những người này không nhất thiết là người có học, và họ phải truyền tin mừng cho nhiều người. Họ lo lắng: “Lạy Chúa, con sẽ nói gì?” Ngài đáp: “Đừng lo, lời nói sẽ đến với các ngươi.” Tôi đã thấy điều đó: người ta sợ nói, sợ bị đánh giá là ngu ngốc hay thế nào đó. Nhưng lạ thay, ngay lúc ấy, dưới sự thúc đẩy của việc phụng sự, những lời hay và ý đẹp đến với họ. Vì vậy, chúng ta không cần sợ những điều ấy.
Câu nói của Đức Christ được nhắc đến trong Ma-thi-ơ 6:25-34,: "Vậy nên Ta phán cùng các ngươi rằng: Đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống, cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc. Sự sống há chẳng quí1 trọng hơn đồ ăn sao, thân thể há chẳng quí trọng hơn2 đồ mặc sao? Hãy xem loài chim trời: Chẳng có gieo, gặt, cũng chẳng có thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó. Các ngươi há chẳng3 quí trọng hơn loài chim sao? Vả lại, có ai trong các ngươi lo lắng mà làm cho đời mình dài thêm một khắc không? Vậy, sao các ngươi lại lo đồ mặc? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thể nào: Chẳng làm khó nhọc, cũng chẳng kéo sợi; song Ta phán cùng các ngươi, dẫu vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc đẹp bằng một hoa ấy. Vậy, nếu Đức Chúa Trời mặc áo cho cỏ ngoài đồng, là cỏ hôm nay còn sống, ngày mai bỏ vào lò, thì Ngài chẳng mặc cho các ngươi lại là bao, hỡi kẻ ít đức tin? Vậy, đừng lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì? Uống gì? Mặc gì? Vì mọi điều đó, các dân ngoại vẫn thường tìm kiếm. Cha các ngươi trên trời vốn biết các ngươi cần dùng mọi điều đó rồi. Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.4 Vậy, đừng lo lắng chi về ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy."
Of course, we can't overcome all of our fears at once. Some of our fears that we overcome because we have been desensitized to those fears through successful experience. Oh, I've lived through that and I know there's nothing all that terrible to be afraid of. I've managed, you can manage, based on experience. And others may remain, other fears may remain, but they too will be eliminated. It's been said, is it Morya, those are great books, and he says that the Black Lodge considers it a very bad sign when they find a truly fearless disciple of the White Lodge. I paraphrase, of course, but it's a bad sign when you don't fear because the other side, the counterforce, the Lords of Form, they really depend on that fear to keep you all penned up in your lower consciousness.
Dĩ nhiên, chúng ta không thể khắc phục mọi nỗi sợ cùng một lúc. Có những nỗi sợ chúng ta vượt qua được vì trải nghiệm thành công đã khiến mình không còn quá nhạy cảm với chúng. “Ồ, tôi đã sống qua chuyện đó, và biết chẳng có gì khủng khiếp đến thế để phải sợ. Tôi đã xoay xở được, các bạn cũng có thể xoay xở được”, dựa trên trải nghiệm. Những nỗi sợ khác có thể vẫn còn, nhưng rồi chúng cũng sẽ bị loại bỏ. Người ta đã nói—có phải Chân sư Morya không, đó là những cuốn sách tuyệt vời—Ngài nói rằng Hắc đoàn xem đó là một dấu hiệu rất xấu khi tìm thấy một đệ tử thật sự vô úy của Thánh đoàn. Dĩ nhiên tôi đang diễn ý, nhưng khi các bạn không sợ thì đó là một dấu hiệu xấu đối với họ, vì phía bên kia, phản lực, các Chúa Tể của Hình Tướng, thật sự dựa vào nỗi sợ ấy để giam giữ các bạn trong tâm thức thấp của mình.
[32] Fear is the main obstacle frequently to a very vital step forward which could be taken in this life, but may have to be delayed to another if due opportunity is not taken and the will nature powerfully excited.
[32] Sợ hãi thường là trở ngại chính đối với một bước tiến hết sức quan trọng mà người ta có thể thực hiện trong kiếp này, nhưng có thể phải trì hoãn sang kiếp khác nếu không nắm lấy cơ hội thích hợp và khơi dậy mạnh mẽ bản chất ý chí.
Because, sometimes we just have to step through and you get tired of all the trembling and you just say, “Look, I'm going to do this, here we go, and don't give it much thought and just step into it”.
Bởi đôi khi chúng ta chỉ cần bước qua; các bạn mệt mỏi với mọi sự run rẩy và chỉ nói: “Này, tôi sẽ làm điều này, bắt đầu thôi”, không suy nghĩ quá nhiều mà cứ bước vào.
So, is there something looming ahead that we know would be really profitable to our spiritual life? And yet, we're afraid to take that step. Everybody has to meditate upon it. And many, many different kinds of fears might come up. But always, if the next step is identified, what a shame it would be not to exert oneself in that direction and not to excite the will nature to the point where the necessary step can be taken.
Vậy có điều gì đang hiện ra phía trước mà chúng ta biết sẽ thật sự có lợi cho đời sống tinh thần của mình không? Thế nhưng chúng ta lại sợ bước đi ấy. Mỗi người phải tham thiền về điều đó. Rất nhiều loại sợ hãi khác nhau có thể xuất hiện. Nhưng nếu đã xác định được bước tiếp theo, thì thật đáng tiếc biết bao nếu không nỗ lực theo hướng ấy, không khơi dậy bản chất ý chí đến mức có thể thực hiện bước đi cần thiết.
And here's, something I've been saying all along,
Và đây là điều tôi vẫn nói từ đầu đến giờ,
[33] The first ray aspirant
[33] Người chí nguyện cung một
Namely we're talking about the soul type, I think,
Cụ thể là chúng ta đang nói về loại cung linh hồn, tôi nghĩ vậy,
[34] who fails to overcome his Dweller may become a “destroyer of souls”
[34] không vượt qua được Kẻ Chận Ngõ của mình có thể trở thành một “kẻ hủy diệt linh hồn”,
Notice may. Just because you go down the left-hand pathway, it doesn't mean you're necessarily going to become the black magician solidly in the black lodge. You may turn back. You may, you have the chance to turn back to the good way.
Hãy chú ý từ có thể. Chỉ vì đi theo tả đạo không có nghĩa là nhất thiết sẽ trở thành một nhà hắc thuật có vị trí vững chắc trong Hắc đoàn. Người ta có thể quay lại. Người ta có cơ hội trở về con đường thiện.
The first ray aspirant who fails to overcome his Dweller may become a "destroyer of souls",
Người chí nguyện cung một không vượt qua được Kẻ Chận Ngõ của mình có thể trở thành một “kẻ hủy diệt linh hồn”,
[35] as it is called, and be condemned
[35] như người ta gọi, và phải chịu cảnh
Self-condemned really
Thực ra là tự kết án mình
[36] (until He learns his lesson) to work in the forces of matter, and with the forms which hold all souls in prison.
[36] (cho đến khi học được bài học của mình) hoạt động trong các mãnh lực của vật chất và với những hình tướng giam cầm mọi linh hồn.
But interestingly enough, first-ray types really do work with the vehicles and strengthening those vehicles.
Nhưng điều khá thú vị là những người thuộc cung một thực sự làm việc với các hiện thể và củng cố những hiện thể ấy.
[37] This is the occult significance of the misunderstood words, death and destruction. Of this type, the Devil is the great prototype.
[37] Đây là thâm nghĩa huyền bí của những từ thường bị hiểu sai: cái chết và sự hủy diệt. Quỷ Vương là nguyên mẫu lớn của loại này.
Whatever that devil is. Sometimes I've associated the devil with the idea of the mentality, of the devil pride. The world, the flesh, and the devils with that natural sequence that we're faced with puts the devil on the mental side, but one can understand that we may be condemned to work things out in a very low field until we, the Dweller, have acquiesced to Krishna, the soul, acquiesced to our higher self and to the Christ within us.
Dù ác quỷ ấy là gì đi nữa. Đôi khi tôi liên hệ ác quỷ với ý tưởng về trí tuệ, về lòng kiêu hãnh của ác quỷ. Thế gian, xác thịt và các ác quỷ — trình tự tự nhiên ấy mà chúng ta đối diện đặt ác quỷ về phía trí tuệ; nhưng có thể hiểu rằng chúng ta có thể bị kết án phải giải quyết mọi việc trong một lĩnh vực rất thấp, cho đến khi chúng ta, tức Kẻ Chận Ngõ, thuận phục Krishna, tức linh hồn, thuận phục chân ngã và Đức Christ bên trong chúng ta.
So these are important ideas, and I don't think we're, coming in contact with such people. Although Master DK says that the Black Lodge wars militantly against the progress of the aspirant, warring militantly.
Đây là những ý tưởng quan trọng, và tôi không nghĩ chúng ta đang tiếp xúc với những người như thế. Tuy nhiên, Chân sư DK nói rằng Hắc đoàn chiến đấu quyết liệt chống lại sự tiến bộ của người chí nguyện — chiến đấu quyết liệt.
“Warring militantly”, Let's just see if I can find those words. Here it is:
“Chiến đấu quyết liệt”, để xem tôi có tìm được những từ ấy không. Đây rồi:
“Occult attacks and occult powers, warring militantly against the aspirant will occur; they may make their power felt in one or other of the vehicles and—in rare cases—where the aspirant is important enough, on all at once. Sometimes they will be attacks directed against the individual worker, sometimes against groups of workers”.
“Những cuộc tấn công huyền bí và những quyền năng huyền bí chiến đấu quyết liệt chống lại người chí nguyện sẽ xảy ra; chúng có thể khiến người ấy cảm nhận quyền năng của chúng trong hiện thể này hay hiện thể khác và — trong những trường hợp hiếm hoi — khi người chí nguyện đủ quan trọng, trong tất cả các hiện thể cùng một lúc. Đôi khi đó là những cuộc tấn công nhắm vào cá nhân người hoạt động, đôi khi nhắm vào các nhóm người hoạt động”.
So this is page 346 and 347 in this same book, which is very practical about the kinds of things we face. Yes, there is a militant warring going on within the inner worlds against those who seek the light, but at the same time, DK has warned us against thinking we're too important, and that really Shambhala has to deal with a lot of the evil that we mistakenly think we're being subjected to.
Đoạn này ở trang 346 và 347 trong cùng cuốn sách này, vốn đề cập rất thiết thực đến những điều chúng ta phải đối diện. Đúng vậy, trong các thế giới bên trong đang diễn ra một cuộc chiến quyết liệt chống lại những người tìm kiếm ánh sáng; nhưng đồng thời, Chân sư DK đã cảnh báo chúng ta đừng nghĩ mình quá quan trọng, và thực ra Shambhala phải xử lý phần lớn những điều ác mà chúng ta lầm tưởng mình đang phải chịu.
[38] The second ray aspirant who builds his Dweller and permits,
[38] Người chí nguyện cung hai xây dựng Kẻ Chận Ngõ của mình và để nó kiểm soát đều đặn, ngày càng mạnh mẽ, sẽ trở thành một “kẻ mê hoặc linh hồn”.
Now notice, it is the building ray, right? This second ray is the building ray, and up here [the first ray], we talk about the overcoming, the conquering. It's put in terms of a battle. Who's the victor, when we're talking about the first ray, but with the second ray, we're talking about building something up
Bây giờ hãy chú ý, đây là cung kiến tạo, phải không? Cung hai này là cung kiến tạo, còn ở trên [cung một], chúng ta nói về việc vượt qua, chinh phục. Điều đó được diễn tả bằng ngôn ngữ chiến trận. Ai là người chiến thắng, khi chúng ta nói về cung một; nhưng với cung hai, chúng ta đang nói về việc xây dựng một điều gì đó
its increasing control becomes the Deluder of souls,
sự kiểm soát của nó ngày càng gia tăng, sẽ trở thành Kẻ Mê Hoặc linh hồn,
Misleading others who trust. And of this, think about that labor of Hercules, the Gemini labor, think about Bucyrus and that teacher, Bucyrus, who said, “Look, without me, you can't make any progress”. It's the standard bit where you try to keep your students dependent upon you instead of having them become independent agents of their own progress.
Dẫn lầm những người tin tưởng mình. Về điều này, hãy nghĩ đến kỳ công ấy của Hercules, kỳ công Song Tử; hãy nghĩ đến Bucyrus và vị huấn sư Bucyrus ấy, người đã nói: “Này, không có ta, ngươi không thể tiến bộ chút nào”. Đó là cách làm quen thuộc khi người ta cố giữ các môn sinh lệ thuộc vào mình, thay vì để họ trở thành những người chủ động độc lập trong sự tiến bộ của chính họ.