← Bình Giảng White Magic – Quy Luật 8 Cõi Cảm Dục

Tham gia vào việc lựa chọn nhập thế — Astral Rule 10

Tóm lược chương

Người chí nguyện dần có tiếng nói trong mục đích và điều kiện nhập thế, trong sự phối hợp với Thiên Thần của Hiện Diện. Việc đi vào các vùng tối của tồn tại hình tướng được nhìn như công việc cứu chuộc, đồng thời phải giữ khả năng rút về trung tâm của mình. Sự hiểu biết của linh hồn nhập thế vẫn chưa ngang với tầm nhìn của Thái dương Thiên Thần. Năng lượng có thể luân phiên tập trung vào thể xác, cảm xúc hoặc thể trí, tạo các thời kỳ ham muốn mạnh, thiếu sinh lực, hưng phấn, khô cạn hay chán học. Liszt và đời sống tu trì được dùng làm ví dụ về xu hướng lập lại cân bằng, còn người phụng sự cần chăm sóc thể xác để có thể tiếp tục công việc.…


Astral Rule 10

Tóm Tắt

§ Tham gia vào việc lựa chọn nhập thế

Người chí nguyện dần có tiếng nói trong mục đích và điều kiện nhập thế, trong sự phối hợp với Thiên Thần của Hiện Diện. Việc đi vào các vùng tối của tồn tại hình tướng được nhìn như công việc cứu chuộc, đồng thời phải giữ khả năng rút về trung tâm của mình. Sự hiểu biết của linh hồn nhập thế vẫn chưa ngang với tầm nhìn của Thái dương Thiên Thần.

§ Chăm sóc vận cụ và giữ khả năng đáp ứng

Năng lượng có thể luân phiên tập trung vào thể xác, cảm xúc hoặc thể trí, tạo các thời kỳ ham muốn mạnh, thiếu sinh lực, hưng phấn, khô cạn hay chán học. Liszt và đời sống tu trì được dùng làm ví dụ về xu hướng lập lại cân bằng, còn người phụng sự cần chăm sóc thể xác để có thể tiếp tục công việc. Thể cảm dục cũng không nên bị làm thành một vận cụ chết lặng: khả năng cảm thông của nghệ sĩ và trường hợp R.S.U. minh họa giá trị của sự đáp ứng đúng mức.

§ Tích lũy đồng hóa và định luật chu kỳ

Việc thu nhận liên tục mà không đồng hóa biến tri thức thành gánh nặng, cũng như chỉ rút lui mà không tiếp nhận thêm có thể làm trì trệ. Hiện hữu và hành động cần được đưa vào thế quân bình theo Định luật Chu Kỳ. Những so sánh giữa các thời lượng vũ trụ trong giáo lý và khoa học được giữ như suy xét của Thầy MDR, dẫn đến câu hỏi về sự hữu hạn của mọi thời lượng xác định trước thời gian tuyệt đối.

§ Không lấy trạng thái cảm xúc làm thước đo linh hồn

Dao động của cảm xúc không tự chứng minh phẩm tính hay địa vị của linh hồn. Người chí nguyện cần tập đứng trong sự sống tinh thần và phân biệt những biến động của hình tướng với tâm thức linh hồn. Bình giảng làm rõ rằng sự chú ý dao động ở đây chủ yếu liên quan đến linh hồn nhập thế, thay vì đồng nhất nó với linh hồn trên cõi riêng.

§ Quân bình năng động và thang máy tâm thức

Luân phiên là bước chuẩn bị cho quân bình năng động, trong đó tình thương, ý chí và đặc biệt trí thông minh phối hợp để giữ thăng bằng giữa những dòng chuyển động. Thiên Bình được dùng để giải thích sự quân bình ấy. Hình ảnh thang máy tâm thức chỉ khả năng thay đổi điểm tập trung và điểm tập trung nhất tâm theo công việc cần làm, đồng thời giữ sự hiện diện cao hơn khi phải xử lý thực tế hồng trần.

§ Phụng sự quyết định nơi tập trung

Điểm tập trung phải tùy nhu cầu phụng sự, thay vì tùy sở thích hay tâm trạng; một tình huống cần phản ứng tức thời không thể được đáp lại chỉ bằng suy tư trừu tượng. Con người chịu giới hạn để biết và phụng sự, được Thầy MDR mở rộng thành ý niệm hy sinh qua sự hữu hạn hóa. Việc truyền cảm hứng chạm đến trái tim được phân biệt với chỉ truyền ánh sáng, vì nó còn đánh thức ý chí và cảm thức về sự sống.

§ Mang tình thương và tư tưởng xuống thể dĩ thái

Sau khi xác nhận thiên tính, người phụng sự sử dụng các vận cụ để chuyển tư tưởng được soi sáng và dục vọng được thánh hóa thành năng lượng biểu hiện. Những liên hệ giữa Vũ Trụ Trí, thể cảm dục của các Đấng lớn hơn và sự tái tạo của Sao Kim là các suy xét trong bình giảng, với những cấp độ còn cần phân biệt. Mỗi đóng góp nhỏ cho Thiên Cơ vẫn có giá trị, và năng lực truyền dẫn của thể dĩ thái sẽ đặc biệt quan trọng trong thời đại mới.

§ Ba ý nghĩa của điểm trung gian

Với người dự bị, điểm trung gian được đặt ở cõi cảm dục; với đệ tử, ở cõi trí nơi linh hồn và hình tướng gặp nhau; với đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ, ở thể nguyên nhân. Bình giảng liên hệ chỗ tiếp xúc của đệ tử với cõi phụ thứ tư của cõi trí và đường phân cách giữa phần thấp với phần cao. Việc hình dung và tập giữ một điểm chú ý cao hơn có thể giúp tham thiền hiệu quả hơn, nhưng cần biết tương đối mình đang đứng ở đâu.

§ Ánh sáng trong đầu và trường phụng sự hữu thức

Tuyến tùng và tuyến yên được liên hệ với hai trung tâm trong đầu; quan hệ linh hồn–phàm ngã tạo trường từ tính được gọi là ánh sáng trong đầu. Điểm có tầm quan trọng sinh lực này được hiểu theo nghĩa dĩ thái, không thuần thuộc đất hay nước. Nó cung cấp một trường cho phụng sự hữu thức, kiểm soát có định hướng và sử dụng mãnh lực nhằm mục tiêu cụ thể.

Text 8-4

[1] He stands at the midway point and wants to control his own cycles, [2] the "ebb and flow" as he himself may determine it. [3] With conscious purpose he longs to walk in the dark places of incarnated existence [4] and with equally conscious purpose he seeks to withdraw [5] into his own centre. Hence he becomes an aspirant.

[1] Y đứng tại điểm ở giữa và muốn kiểm soát các chu kỳ của chính mình, [2] sự “triều xuống và triều lên” theo quyết định của chính y. [3] Với chủ đích hữu thức, y khao khát bước đi trong những chốn tối tăm của đời sống nhập thể, [4] và cũng với chủ đích hữu thức ấy, y tìm cách rút lui [5] vào trung tâm của chính mình. Vì thế, y trở thành một người chí nguyện.

[6] The life of the aspirant begins to repeat earlier cycles. He is assailed by a sudden stimulation of the physical nature and violently swept by ancient desires and lusts. [7] This may be succeeded by a cycle wherein the physical body is conscious of the flowing away from it of vital energy and is devitalised, because not the subject of attention. [8] This accounts for much of the sickness and lack of vitality of many of our most cherished servers. [9] The same process can affect the emotional body, and periods of exaltation and of highest aspiration alternate with periods of the deepest depression and lack of interest. [10] The flow may pass on to the mental body and produce a cycle of intense mental activity. Constant study, much thought, keen investigation and a steady intellectual urge will characterize the mind of the aspirant. [11] To this may succeed a cycle wherein all study is distasteful, and the mind seems to lie entirely fallow and inert. It is an effort to think, and the futility of phases of thought assail the mind. [12] The aspirant decides that to be is better far than to do. [13] "Can these dry bones live?" he asks, and has no desire to see them revitalised.

[6] Đời sống của người chí nguyện bắt đầu lặp lại những chu kỳ trước kia. Y bị một sự kích thích đột ngột của bản chất hồng trần tấn công và bị những dục vọng cùng ham muốn xác thịt xa xưa cuốn đi dữ dội. [7] Tiếp theo có thể là một chu kỳ trong đó thể xác cảm nhận sinh lực đang tuôn ra khỏi mình và trở nên suy kiệt vì không được chú ý đến. [8] Điều này giải thích phần lớn tình trạng đau ốm và thiếu sinh lực của nhiều người phụng sự mà chúng ta hết sức quý trọng. [9] Tiến trình tương tự có thể tác động đến thể cảm xúc, khiến những thời kỳ phấn chấn và khát vọng cao độ nhất luân phiên với những thời kỳ chán nản sâu sắc nhất và thiếu hứng thú. [10] Dòng chảy ấy có thể chuyển sang thể trí và tạo ra một chu kỳ hoạt động trí tuệ mãnh liệt. Việc học hỏi không ngừng, suy tư nhiều, tìm hiểu sắc bén và một thôi thúc trí tuệ bền bỉ sẽ là những đặc điểm của thể trí người chí nguyện. [11] Tiếp theo có thể là một chu kỳ trong đó mọi việc học hỏi đều trở nên chán ngán, và thể trí dường như hoàn toàn bị bỏ hoang, bất động. Suy nghĩ trở thành một nỗ lực, và cảm giác về sự vô ích của các giai đoạn tư duy xâm chiếm thể trí. [12] Người chí nguyện quyết định rằng hiện tồn tốt hơn hành động rất nhiều. [13] Y hỏi: “Những bộ xương khô này có thể sống lại chăng?”, và không hề muốn thấy chúng được tiếp sinh lực trở lại.

[14] All true seekers after truth are conscious of this unstable experience and frequently regard it as a sin or as a condition to be strenuously fought. [15] Then is the time to appreciate that "the midway spot which is neither dry nor wet must provide the standing place whereon his feet are set."

[14] Mọi người chân thành tìm kiếm chân lý đều nhận biết trải nghiệm bất ổn này và thường xem đó là một tội lỗi hoặc một tình trạng cần ra sức chống lại. [15] Khi ấy chính là lúc cần hiểu rõ rằng “Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp vị trí đứng mà trên đó y phải đặt bàn chân.”

[16] This is a symbolic way of saying that he needs to realize two things:

[16] Đây là cách nói mang tính biểu tượng rằng y cần nhận ra hai điều:

[17] 1. That states of feeling are quite immaterial and are no indication of the state of the soul. [18] The aspirant must centre himself in the soul consciousness, refuse to be influenced by the alternating conditions to which he seems subjected, [19] and simply "stand in spiritual being" and then "having done all, stand."

[17] 1. Các trạng thái cảm xúc hoàn toàn không quan trọng và không biểu thị trạng thái của linh hồn. [18] Người chí nguyện phải tập trung mình trong tâm thức linh hồn, không để những tình trạng luân phiên mà y dường như phải chịu chi phối ảnh hưởng đến mình, [19] và chỉ đơn giản “đứng vững trong bản thể tinh thần”, rồi “sau khi đã làm tất cả, hãy đứng vững”.

[20] 2. That the achievement of equilibrium is only possible where alternation has been the rule, and that the cyclic ebb and flow will continue just as long as the soul's attention fluctuates between one or other aspect of the form and the true spiritual man.

[20] 2. Chỉ có thể đạt được quân bình khi sự luân phiên đã là quy luật, và sự triều xuống, triều lên theo chu kỳ sẽ còn tiếp diễn chừng nào sự chú ý của linh hồn vẫn dao động giữa phương diện này hay phương diện khác của hình tướng và con người tinh thần đích thực.

[21] The ideal is to achieve such a condition of conscious control that at will a man may be focussed in his soul consciousness or focussed in his form aspect,—[22] each act of focussed attention being brought about through a realised and specific objective, necessitating such a focussing.

[21] Lý tưởng là đạt đến một trạng thái kiểm soát hữu thức sao cho con người có thể tùy ý tập trung trong tâm thức linh hồn hoặc trong phương diện hình tướng của mình,—[22] mỗi hành động tập trung chú ý đều xuất phát từ một mục tiêu cụ thể đã được nhận biết, đòi hỏi sự tập trung như thế.

[23] Later when the words of the great Christian teacher have significance, he [24] will be able to say "whether in the body or out of the body" is a matter of no moment. [25] The act of service to be rendered will determine the point where the self is concentrated, but it will be the same self, whether freed temporarily from the form consciousness or immersed in the form in order to function in different aspects of the divine whole. [26] The spiritual man seeks for the furthering of the plan and to identify himself with the divine mind in nature. [27] Withdrawing to the midway spot, he endeavours to realize his divinity [28] and then, having done so, he focusses himself in his mental form which puts him en rapport with the Universal Mind. [29] He endures limitation so that thereby he may know [30] and serve. [31] He seeks to reach the hearts of men and to carry to them "inspiration" from the depths of the heart of spiritual being. [32] Again he asserts the fact [33] of his divinity and then, [34] through a temporary identification with his body of sensory perception, of feeling, and of emotion, he finds himself at-one with the sensitive apparatus of divine manifestation which carries the love of God to all forms on the physical plane.

[23] Về sau, khi những lời của vị huấn sư Cơ Đốc giáo vĩ đại trở nên có thâm nghĩa, y [24] sẽ có thể nói rằng “dù ở trong thân thể hay ngoài thân thể” cũng chẳng có gì quan trọng. [25] Hành động phụng sự cần thực hiện sẽ quyết định điểm mà bản ngã tập trung, nhưng vẫn là cùng một bản ngã ấy, dù tạm thời thoát khỏi tâm thức hình tướng hay đắm mình trong hình tướng để hoạt động trong những phương diện khác nhau của toàn thể thiêng liêng. [26] Con người tinh thần tìm cách thúc đẩy Thiên Cơ và đồng hoá mình với trí tuệ thiêng liêng trong thiên nhiên. [27] Rút về nơi ở giữa, y cố gắng chứng nghiệm thiên tính của mình, [28] rồi sau khi đã làm được điều đó, y tập trung mình trong hình tướng trí tuệ của mình, nhờ đó thiết lập sự giao cảm với Vũ Trụ Trí. [29] Y chấp nhận giới hạn để nhờ đó có thể hiểu biết [30] và phụng sự. [31] Y tìm cách chạm đến trái tim con người và mang đến cho họ “cảm hứng” từ những chiều sâu trong trái tim của bản thể tinh thần. [32] Một lần nữa, y khẳng định thực tại [33] về thiên tính của mình, rồi [34] qua sự đồng hoá tạm thời với thể cảm nhận giác quan, cảm giác và cảm xúc của mình, y thấy mình hợp nhất với bộ máy cảm ứng của sự biểu hiện thiêng liêng, vốn mang tình thương của Thượng đế đến mọi hình tướng trên cõi hồng trần.

[35] Again he seeks to aid in the materialising of the divine plan on the physical plane. [36] He knows that all forms are the product of energy rightly used and directed. [37] With full knowledge of his divine Sonship [38] and a potent mind realisation of all that that term conveys, [39] he focusses his forces in the vital body and becomes a focal point for the transmission of divine energy and hence a builder in union with the building energies of the Cosmos. He carries the energy of illumined thought and sanctified desire down into the body of ether, [40] and so works with intelligent devotion.

[35] Một lần nữa, y tìm cách hỗ trợ việc hiện hình Thiên Cơ trên cõi hồng trần. [36] Y biết rằng mọi hình tướng đều là sản phẩm của năng lượng được sử dụng và định hướng đúng đắn. [37] Với sự hiểu biết đầy đủ rằng mình là Con của Thượng đế [38] và sự nhận biết mạnh mẽ trong thể trí về tất cả những gì danh xưng ấy hàm chứa, [39] y tập trung các mãnh lực của mình trong thể sinh lực và trở thành một tiêu điểm truyền dẫn năng lượng thiêng liêng, do đó trở thành một đấng kiến tạo hợp nhất với các năng lượng kiến tạo của Vũ Trụ. Y đưa năng lượng của tư tưởng được soi sáng và dục vọng được thánh hoá xuống thể dĩ thái, [40] và nhờ vậy hoạt động với lòng sùng tín sáng suốt.

[41] You ask for a clearer definition of the "midway" spot.

[41] Các bạn yêu cầu một định nghĩa rõ ràng hơn về nơi “ở giữa”.

[42] For the probationer it is the emotional plane, the Kurukshetra, or the plane of illusion, where land (physical nature) and water (emotional nature) meet.

[42] Đối với người dự bị, đó là cõi cảm xúc, chiến trường nội tâm, hay cõi ảo tưởng, nơi đất (bản chất hồng trần) và nước (bản chất cảm xúc) gặp nhau.

[43] For the disciple it is the mental plane where form and soul make contact [44] and the great transition becomes possible. [45] For the advanced disciple and the initiate, the midway spot is the causal body, the karana sarira, the spiritual body of the soul, standing as the intermediary between Spirit and matter, Life and form, the monad and the personality.

[43] Đối với đệ tử, đó là cõi trí, nơi hình tướng và linh hồn tiếp xúc [44] và cuộc chuyển tiếp lớn trở nên khả thi. [45] Đối với đệ tử tiến xa và điểm đạo đồ, nơi ở giữa là thể nguyên nhân, tức nhân thể, thể tinh thần của linh hồn, giữ vai trò trung gian giữa Tinh thần và vật chất, Sự sống và hình tướng, chân thần và phàm ngã.

[46] This can also be discussed and understood in terms of the centres.

[46] Cũng có thể bàn đến và thấu hiểu điều này theo các trung tâm.

[47] As every student knows, there are two centres in the head. One centre is between the eyebrows and has the pituitary body as its objective manifestation. The other is in the region at the top of the head and has the pineal gland as its concrete aspect. The pure mystic [48] has his consciousness centred in the top of the head, almost entirely in the etheric body. The advanced worldly man is centred in the pituitary region. When, through occult unfoldment and esoteric knowledge, the relation between the personality and the soul is established there is a midway spot in the centre of the head in the magnetic field which is called the "light in the head", [49] and it is here that the aspirant takes his stand. This is the spot of vital import. [50] It is neither land or physical, nor water or emotional. It might be regarded as the vital or etheric body which has become the field of conscious service, of directed control, and of force utilisation towards specific ends.

[47] Như mọi đạo sinh đều biết, có hai trung tâm trong đầu. Một trung tâm nằm giữa hai chân mày và có tuyến yên làm biểu hiện khách quan. Trung tâm kia nằm ở vùng đỉnh đầu và có tuyến tùng làm phương diện cụ thể. Nhà thần bí thuần tuý [48] tập trung tâm thức ở đỉnh đầu, gần như hoàn toàn trong thể dĩ thái. Người thế gian tiến bộ tập trung ở vùng tuyến yên. Khi sự khai mở huyền bí và tri thức nội môn thiết lập mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn, thì có một nơi ở giữa tại trung tâm đầu, trong từ trường được gọi là “ánh sáng trong đầu”, [49] và chính tại đây người chí nguyện đứng vững. Đây là nơi có tầm quan trọng thiết yếu. [50] Nơi ấy không phải đất hay hồng trần, cũng không phải nước hay cảm xúc. Có thể xem đó là thể sinh lực hay thể dĩ thái đã trở thành trường phụng sự hữu thức, kiểm soát có định hướng và sử dụng mãnh lực nhằm những mục đích cụ thể.

Commentary 8.4

Well, good afternoon, everybody, and welcome. This is Michael and we have our tenth program here dealing with the rules for the astral plane. We are on rule eight and this is the fourth program for rule eight, as indicated by the number 8.4. Now we have completed some nine programs related to the astral plane rules. I hope you can pick these up on YouTube and when it comes to the first set of rules for the mental plane and the introduction, before that if you go to Makara [https://makara.us] you will find that 50 programs are there and plenty to think about with respect to A Treatise on White Magic.

Xin chào tất cả các bạn, chúc các bạn một buổi chiều tốt lành và hoan nghênh các bạn. Tôi là Michael, và đây là chương trình thứ mười của chúng ta bàn về các quy luật dành cho cõi cảm dục. Chúng ta đang nghiên cứu quy luật tám, và đây là chương trình thứ tư về quy luật tám, như con số 8.4 cho biết. Đến nay, chúng ta đã hoàn tất khoảng chín chương trình liên quan đến các quy luật dành cho cõi cảm dục. Tôi hy vọng các bạn có thể tìm xem những chương trình này trên YouTube. Còn về bộ quy luật đầu tiên dành cho cõi trí và phần dẫn nhập trước đó, nếu truy cập Makara [https://makara.us], các bạn sẽ tìm thấy 50 chương trình cùng rất nhiều điều đáng suy ngẫm về Luận về Chánh Thuật.

Now we've been looking at the kind of energies which permeate the astral plane pretty much before it is redeemed, the selfish energies, selfish desire, the energy of fear, and then the sexual energy, and I suppose we can rank them in terms of first, second, and third rays.

Chúng ta đã xem xét những loại năng lượng thấm khắp cõi cảm dục, phần lớn là trước khi cõi này được cứu chuộc: những năng lượng ích kỷ, dục vọng ích kỷ, năng lượng sợ hãi, rồi năng lượng tính dục. Tôi cho rằng chúng ta có thể xếp chúng tương ứng với cung một, cung hai và cung ba.

So, we learned just before we went into the section we're dealing with now the improvement of the aspirant and how he no longer will tolerate being swept out into incarnation without his participation, without his knowledge, just blindly undergoing incarnation as has been the case in the earlier times.

Ngay trước khi bước vào phần hiện đang bàn đến, chúng ta đã tìm hiểu sự tiến bộ của người chí nguyện và cách y không còn chấp nhận bị cuốn vào lâm phàm mà không có sự tham gia, không hay biết gì, chỉ mù quáng trải qua lâm phàm như trong những thời kỳ trước.

[1] He stands at the midway point and wants to control his own cycles

[1] Y đứng tại điểm ở giữa và muốn kiểm soát các chu kỳ của chính mình,

He now has a greater say within the consciousness that is found within the causal body.

Giờ đây, y có tiếng nói lớn hơn trong tâm thức hiện diện bên trong thể nguyên nhân.

[2] the "ebb and flow" as he himself may determine it.

[2] sự “triều xuống và triều lên” theo quyết định của chính y.

So, he is involved, I suppose, with the councels of the Angel of the Presence, and these consciousnesses are blended, and the kind of incarnation that he is to take and the purpose of it is determined with his participation, which is not the case in the earlier days.

Vì vậy, tôi cho rằng y được tham dự vào những cuộc bàn định của Thiên Thần của Hiện Diện; những tâm thức này hòa quyện, và loại kiếp lâm phàm mà y sẽ nhận lấy cùng mục đích của nó được quyết định với sự tham gia của y, điều không xảy ra trong những thời kỳ trước.

[3] With conscious purpose he longs to walk in the dark places of incarnated existence

[3] Với chủ đích hữu thức, y khao khát bước đi trong những chốn tối tăm của đời sống nhập thể,

Because he is of a redemptive mind at this point

Bởi lúc này, y có tâm hướng cứu chuộc.

[4] and with equally conscious purpose he seeks to withdraw into his own centre.

[4] và cũng với chủ đích hữu thức ấy, y tìm cách rút lui

He knows he has to work on the outer planes, those are the dark places of dense material form, and within those dark places there are still darker places. And as he becomes more fit for service, he will experience those darker places and seek, as the Christ did and in his own little way, he will harrow Hell, as it has been called, or attempt to practice redemption for those who are trapped in limited consciousness and in the types of activity which do not correspond to the Divine Plan.

Y biết mình phải làm việc trên các cõi bên ngoài; đó là những nơi tối tăm của hình tướng vật chất đậm đặc, và trong những nơi tối tăm ấy còn có những nơi tối tăm hơn nữa. Khi trở nên thích hợp hơn cho việc phụng sự, y sẽ trải nghiệm những nơi tối tăm hơn ấy và, theo cách nhỏ bé của riêng mình, tìm cách làm như Đức Christ đã làm: xuống giải thoát những linh hồn nơi Địa Ngục, như người ta vẫn gọi, hoặc cố gắng thực hành việc cứu chuộc những ai đang mắc kẹt trong tâm thức hạn hẹp và trong những loại hoạt động không phù hợp với Thiên Cơ.

[5] Hence, he becomes an aspirant.

[5] vào trung tâm của chính mình. Vì thế, y trở thành một người chí nguyện.

He is deliberately choosing his incarnations, no doubt with the kind of wisdom of the Solar Angel, Angel of the Presence. But he sees behind and he sees ahead, at least a little bit, and probably the Solar Angel sees farther in retrogression and farther ahead because his wisdom is not yet that of the Solar Angel.

Y chủ tâm lựa chọn những kiếp lâm phàm của mình, chắc chắn với sự trợ giúp từ minh triết của Thái dương Thiên Thần, Thiên Thần của Hiện Diện. Nhưng y nhìn được về phía sau và phía trước, ít nhất cũng một chút; có lẽ Thái dương Thiên Thần nhìn xa hơn vào quá khứ và tương lai, vì minh triết của y chưa bằng minh triết của Thái dương Thiên Thần.

Now, we get into today's work.

Bây giờ, chúng ta đi vào công việc hôm nay.

[6] The life of the aspirant begins to repeat earlier cycles. He is assailed by a sudden stimulation of the physical nature and violently swept by ancient desires and lusts.

[6] Đời sống của người chí nguyện bắt đầu lặp lại những chu kỳ trước kia. Y bị một sự kích thích đột ngột của bản chất hồng trần tấn công và bị những dục vọng cùng ham muốn xác thịt xa xưa cuốn đi dữ dội.

I mean these do not entirely go away. It's a question of how he responds to them, that's the question.

Ý tôi là những điều này không hoàn toàn biến mất. Vấn đề là y đáp ứng với chúng như thế nào; đó mới là vấn đề.

[7] This may be succeeded by a cycle wherein the physical body is conscious of the flowing away from it of vital energy and is devitalised, because not the subject of attention.

[7] Tiếp theo có thể là một chu kỳ trong đó thể xác cảm nhận sinh lực đang tuôn ra khỏi mình và trở nên suy kiệt vì không được chú ý đến.

Now, we're talking about the different kinds of incarnations and their alternation for the sake of achieving balance. Of course within a particular incarnation the same kind of sweeping into the material desire and a withdrawal from material desire can occur and does occur. You see this in the kind of example where people who have led a very licentious life withdraw later in their life perhaps into a more monastic setting where those kinds of outer activities really receive no energy.

Ở đây, chúng ta đang nói về những loại kiếp lâm phàm khác nhau và sự luân phiên của chúng nhằm đạt đến cân bằng. Dĩ nhiên, ngay trong một kiếp lâm phàm cụ thể, cũng có thể xảy ra và thực sự xảy ra sự cuốn vào dục vọng vật chất rồi rút khỏi dục vọng vật chất ấy. Các bạn thấy điều này qua những người từng sống hết sức phóng túng, rồi vào cuối đời lại rút lui, có lẽ vào một môi trường tu viện, nơi những loại hoạt động bên ngoài ấy thực sự không còn nhận được năng lượng.

I'm thinking about the great pianist, Franz Liszt, maybe the greatest pianist of the 19th century, and he was also notably a romantic figure and the partner of many ladies later in his life. He withdrew into the monastic setting probably to establish balance. Interestingly enough he was a Libra, speaking of balance, and he had Leo rising.

Tôi đang nghĩ đến nghệ sĩ dương cầm vĩ đại Franz Liszt, có lẽ là nghệ sĩ dương cầm vĩ đại nhất thế kỷ 19. Ông cũng nổi tiếng là một nhân vật lãng mạn và từng là người tình của nhiều phụ nữ. Về cuối đời, ông rút vào môi trường tu viện, có lẽ để thiết lập sự cân bằng. Khá thú vị là, nói về cân bằng, ông thuộc dấu hiệu Thiên Bình và có Sư Tử mọc.

This going forth more in the extroverted manner and withdrawing in the introverted manner; this accounts, especially this withdrawal, from the outer scene.

Sự hướng ra ngoài theo lối hướng ngoại và sự rút vào trong theo lối hướng nội này—đặc biệt là sự rút lui khỏi khung cảnh bên ngoài—giải thích điều sau đây.

[8] This accounts for much of the sickness and lack of vitality of many of our most cherished servers.

[8] Điều này giải thích phần lớn tình trạng đau ốm và thiếu sinh lực của nhiều người phụng sự mà chúng ta hết sức quý trọng.

I guess we really do have to keep the balance, don't we, if we want to be really useful to the Hierarchy? Even though, the outer plane and maybe physical things are not of the greatest interest to us, and mental and emotional, psychological things, spiritual things, are of greater interest, the vitality of the physical body is paramount if we're going to be part of the externalization effort and part of manifesting the Divine Plan.

Tôi nghĩ chúng ta thực sự phải giữ cân bằng, phải không, nếu muốn thật sự hữu ích cho Thánh đoàn? Dù cõi bên ngoài và có lẽ những điều thuộc hồng trần không phải là mối quan tâm lớn nhất của chúng ta, còn những điều thuộc trí tuệ, cảm xúc, tâm lý và tinh thần lại được quan tâm hơn, sinh lực của thể xác vẫn có tầm quan trọng hàng đầu nếu chúng ta muốn góp phần vào nỗ lực ngoại hiện và biểu hiện Thiên Cơ.

There's a consciousness of energy flowing away from the physical body and a devitalization of the physical body, possibly because it just isn't an object of care or attention. But if we don't concentrate on something it withers. Energy follows thoughts and the energy necessary to sustain the physical body follows the thought about how to do so, some attention at least.

Có sự nhận biết rằng năng lượng đang rời khỏi thể xác và thể xác đang suy kiệt sinh lực, có thể vì nó không còn là đối tượng được chăm sóc hay chú ý. Nhưng nếu chúng ta không tập trung vào một điều gì, điều ấy sẽ héo mòn. Năng lượng đi theo tư tưởng, và năng lượng cần thiết để duy trì thể xác đi theo tư tưởng về cách duy trì nó—ít nhất cũng cần có chút chú ý.

[9] The same process can affect the emotional body, and periods of exaltation and of highest aspiration alternate with periods of the deepest depression and lack of interest.

[9] Tiến trình tương tự có thể tác động đến thể cảm xúc, khiến những thời kỳ phấn chấn và khát vọng cao độ nhất luân phiên với những thời kỳ chán nản sâu sắc nhất và thiếu hứng thú.

Lack of interest in emotional things, and let's just say, this can happen within an incarnation or between or among a series of incarnations. So, track your own life experience as far as the periods of outgoing and energetic involvement in outer desires and desires for different types of activity and manifestation upon the physical plane and maybe the more contemplative tendencies.

Thiếu hứng thú với những điều thuộc cảm xúc; và điều này có thể xảy ra trong một kiếp lâm phàm, giữa hai kiếp hoặc trong một loạt kiếp lâm phàm. Vì vậy, hãy theo dõi trải nghiệm đời sống của chính các bạn: những thời kỳ hướng ra ngoài, hăng hái tham gia vào các dục vọng bên ngoài, mong muốn những loại hoạt động và biểu hiện khác nhau trên cõi hồng trần, rồi có lẽ cả những khuynh hướng chiêm ngưỡng nhiều hơn.

I suppose the astrology will enter into this too, because people with not many earth signs, or none at all, may— depending upon the ray, of course—may not be interested in the outer realm of the senses. But DK says, in general for the aspirants, there is less interest in the outer type of life and more in the meditative contemplative life. But one must keep the balance, otherwise serious problems can arise. It does no good to be a valued and cherished worker if you just sort of die of lack of vitality.

Tôi cho rằng chiêm tinh học cũng có vai trò ở đây, vì những người có ít hoặc hoàn toàn không có dấu hiệu hành thổ có thể—dĩ nhiên còn tùy vào cung—không quan tâm đến lĩnh vực bên ngoài của các giác quan. Nhưng Chân sư DK nói rằng, nhìn chung, người chí nguyện ít quan tâm đến đời sống bên ngoài hơn, và quan tâm nhiều hơn đến đời sống tham thiền, chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, người ta phải giữ cân bằng, nếu không những vấn đề nghiêm trọng có thể phát sinh. Là một người hoạt động được quý trọng và trân quý cũng chẳng ích gì nếu các bạn lại chết vì thiếu sinh lực.

So, with the emotional body too, it's not necessarily meant to be a poor dead thing. Artists have considerable responsiveness, and they can pick up the changes of mood and orientation in people around them. That's good because they can establish a rapport with people, whereas if you have just a sort of a dead, lifeless emotional body, it sort of cuts you off from others.

Với thể cảm xúc cũng vậy, nó không nhất thiết phải là một thứ tội nghiệp, chết lặng. Các nghệ sĩ có khả năng đáp ứng đáng kể; họ có thể cảm nhận những thay đổi về tâm trạng và định hướng nơi những người xung quanh. Điều ấy tốt, vì họ có thể thiết lập sự đồng cảm với mọi người; trái lại, nếu các bạn chỉ có một thể cảm xúc chết lặng, thiếu sức sống, nó sẽ phần nào ngăn cách các bạn với người khác.

One of the disciples, RSU, had a ray one astral body. She was, I think, afraid of emotion; maybe DK hinted at that. She had a strong love nature, but the suppression of astral interactivity, responsiveness, left her with a lonely and isolated position and astral body. So,

Một đệ tử, RSU, có thể cảm dục cung một. Tôi nghĩ bà sợ cảm xúc; có lẽ Chân sư DK đã ám chỉ điều ấy. Bà có bản chất giàu tình thương, nhưng việc kìm nén sự tương tác và khả năng đáp ứng cảm dục khiến bà rơi vào tình trạng cô đơn, biệt lập, với một thể cảm dục cũng như vậy. Cho nên,

periods of deepest depression and lack of interest

những thời kỳ trầm uất sâu sắc nhất và thiếu hứng thú

And again, the hill and valley experience of Aquarius relates to this, as He describes in Esoteric Astrology. Sometimes you're walking on the hill, and God is in heaven, and all is right with world, and other times you inevitably descend.

Một lần nữa, trải nghiệm đồi cao và thung lũng của Bảo Bình có liên quan đến điều này, như Ngài mô tả trong Chiêm Tinh Học Nội Môn. Có lúc các bạn đang đi trên đồi cao, Thượng đế ngự trên trời và mọi sự trên đời đều tốt đẹp; những lúc khác, các bạn tất yếu phải đi xuống.

[10] The flow may pass on to the mental body and produce a cycle of intense mental activity. Constant study, much thought, keen investigation and a steady intellectual urge will characterize the mind of the aspirant.

[10] Dòng chảy ấy có thể chuyển sang thể trí và tạo ra một chu kỳ hoạt động trí tuệ mãnh liệt. Việc học hỏi không ngừng, suy tư nhiều, tìm hiểu sắc bén và một thôi thúc trí tuệ bền bỉ sẽ là những đặc điểm của thể trí người chí nguyện.

Remember, all true aspirants have taken the first initiation, and we can be considered aspirants even until we become initiates. And even then, in a way, we are aspirants.

Hãy nhớ, mọi người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, và chúng ta có thể được xem là người chí nguyện cho đến khi trở thành điểm đạo đồ. Ngay cả khi ấy, theo một nghĩa nào đó, chúng ta vẫn là người chí nguyện.

[11] To this may succeed a cycle wherein all study is distasteful, and the mind seems to lie entirely fallow and inert. It is an effort to think, and the futility of phases of thought assail the mind.

[11] Tiếp theo có thể là một chu kỳ trong đó mọi việc học hỏi đều trở nên chán ngán, và thể trí dường như hoàn toàn bị bỏ hoang, bất động. Suy nghĩ trở thành một nỗ lực, và cảm giác về sự vô ích của các giai đoạn tư duy xâm chiếm thể trí.

Why bother? What can it possibly do?

Bận tâm làm gì? Nó có thể mang lại điều gì chứ?

[12] The aspirant decides that to be is better far than to do.

[12] Người chí nguyện quyết định rằng hiện tồn tốt hơn hành động rất nhiều.

I, being strongly on the third ray … do-be-do-be-do, and I have gone through this kind of thing, and right now I'm working on Being and trying to balance it with Doing. Maybe you can assess your own life and see how you're doing here. How are you being or who you're being?

Tôi chịu ảnh hưởng mạnh của cung ba… làm–hiện tồn–làm–hiện tồn–làm; tôi cũng đã trải qua điều này, và ngay lúc này tôi đang rèn luyện sự Hiện Tồn, cố gắng cân bằng nó với Hành Động. Có lẽ các bạn có thể đánh giá đời mình để xem mình đang thế nào về phương diện này. Các bạn đang hiện tồn như thế nào, hay đang là ai?

[13] "Can these dry bones live?" he asks, and has no desire to see them revitalised.

[13] Y hỏi: “Những bộ xương khô này có thể sống lại chăng?”, và không hề muốn thấy chúng được tiếp sinh lực trở lại.

Because anything that study might reveal begins to look paltry compared to Being, which contains it all really. Out of Being all possibility arises.

Bởi bất cứ điều gì việc học hỏi có thể tiết lộ đều bắt đầu trở nên nhỏ bé so với Bản Thể, vốn thực sự bao hàm tất cả. Từ Bản Thể, mọi khả năng phát sinh.

So, there's this always duality and oscillation, and the opposites prevail and alternatively, who's to say that one's better than the other? We need periods of assimilation, and we need periods of acquisition. We need both periods of assimilation and acquisition. And if it's just stuffing, stuffing, stuffing, you're going to get fat in the head, and you'll be carrying the unassimilated library on your back, the camel and the donkey. And we, unfortunately, probably will be the donkey carrying a load that would be better suited for the camel, as Morya warns us.

Vì vậy, luôn có tính nhị nguyên và sự dao động này; các mặt đối lập luân phiên chiếm ưu thế, và ai có thể nói mặt này tốt hơn mặt kia? Chúng ta cần những thời kỳ đồng hóa và những thời kỳ thu nhận. Chúng ta cần cả hai. Nếu chỉ nhồi nhét, nhồi nhét, nhồi nhét, đầu óc các bạn sẽ phát phì, và các bạn sẽ cõng trên lưng cả một thư viện chưa được đồng hóa—chuyện con lạc đà và con lừa. Đáng tiếc, có lẽ chúng ta sẽ là con lừa mang gánh nặng phù hợp với lạc đà hơn, như Chân sư Morya cảnh báo.

So, the Law of Periodicity must be obeyed, the second fundamental of the Secret Doctrine must be obeyed. Well we can't help it, it's the law, it's a fundamental. We will obey it, the question is do we do it properly and wisely, and does it work to our advantage? Or do we just keep stuffing when we should be assimilating and do we continue to hesitate when it comes to plunging in for the acquisition of more and necessary material?

Vì vậy, phải tuân theo Định luật Chu Kỳ, phải tuân theo định đề căn bản thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng ta không thể làm khác được: đó là định luật, là một nguyên lý căn bản. Chúng ta sẽ tuân theo nó; vấn đề là chúng ta có làm điều ấy đúng đắn, sáng suốt và có lợi cho mình hay không. Hay chúng ta cứ nhồi nhét khi lẽ ra phải đồng hóa, và cứ do dự khi cần lao vào thu nhận thêm tài liệu cần thiết?

When you think what we are, the tiniest unit here. Well, there are tinier units than we are, but compared to the vastness of the universe, we are indeed tiny. And you think about that, think about all there is to assimilate and become until we are the source from which the ‘lesser we’, apparently, came. In terms of time and space, it's a long haul, and much time will be expended.

Khi nghĩ về chúng ta là gì—đơn vị nhỏ bé nhất ở đây. Thực ra vẫn có những đơn vị nhỏ bé hơn chúng ta, nhưng so với sự bao la của vũ trụ, chúng ta quả thực rất nhỏ bé. Hãy nghĩ về điều ấy, nghĩ về tất cả những gì cần đồng hóa và trở thành, cho đến khi chúng ta là cội nguồn mà từ đó, dường như, “chúng ta nhỏ bé hơn” đã xuất phát. Xét theo thời gian và không gian, đó là một hành trình dài, và sẽ tốn rất nhiều thời gian.

I mean, we just don't know the cycles. The scientists of today have a certain notion about the duration of the universe, but we don't know. It seems not to square with what occultism is saying. I mean, we have a situation in which the manifestation of a solar logo, I suppose on various planes, the solar logos, is lasting 300 trillion years, and the scientists are telling us that 15 billion years is enough to take care of the entire universe. Well, there are degrees of manifestation on other planes as well.

Ý tôi là chúng ta thật sự không biết các chu kỳ. Các nhà khoa học ngày nay có một quan niệm nào đó về thời gian tồn tại của vũ trụ, nhưng chúng ta không biết. Điều ấy dường như không phù hợp với những gì huyền bí học nói. Chúng ta có trường hợp sự biểu hiện của một Thái dương Thượng đế—tôi cho rằng trên nhiều cõi khác nhau—kéo dài 300 nghìn tỷ năm, trong khi các nhà khoa học bảo chúng ta rằng 15 tỷ năm là đủ cho toàn bộ vũ trụ. Nhưng còn có những mức độ biểu hiện trên các cõi khác nữa.

So, if the figure of trillions of years is correct, we have a very long time to progress back to that which we have been and are, but progress and reacquire full consciousness of that Beingness and that type of universal consciousness. Full consciousness of our inherently universal consciousness. So, we'll solve this issue of the cycles as we go along.

Vì vậy, nếu con số hàng nghìn tỷ năm là đúng, chúng ta có một thời gian rất dài để tiến trở về cái mà mình đã từng là và hiện đang là; nhưng là tiến lên và lấy lại tâm thức trọn vẹn về Bản Thể ấy và loại tâm thức vũ trụ ấy. Tâm thức trọn vẹn về tâm thức vũ trụ vốn có của chúng ta. Chúng ta sẽ dần giải quyết vấn đề các chu kỳ này trên đường tiến bước.

Some of the Masters or high initiates think that the figures in the secret doctrine are greatly exaggerated, and Blavatsky says opposite. She says, these are real figures. Now, if that is the case for certain Solar Logoi, and Solar Logoi are appearing and disappearing as the manifestation, the suns through which they manifest are appearing and disappearing, what about larger structures and how long might they last?

Một số Chân sư hoặc điểm đạo đồ cao cấp cho rằng những con số trong Giáo Lý Bí Nhiệm bị phóng đại rất nhiều, còn Bà Blavatsky nói ngược lại. Bà nói đó là những con số thực. Nếu một số Thái dương Thượng đế có thời gian tồn tại như vậy, và Các Thái dương Thượng đế xuất hiện rồi biến mất khi biểu hiện—những mặt trời mà qua đó Các Ngài biểu hiện—xuất hiện rồi biến mất, thì những cấu trúc lớn hơn sẽ thế nào, và chúng có thể tồn tại bao lâu?

But anyway, when you put it all together, any definite period of time is an infinitesimal compared to absolute duration, and I want to call it the absolute infinitesimal. There's just nothing smaller, but it's indefinite. It's a lessening, an ever lessening, ever lessening in comparison with absolute infinitude.

Nhưng dù sao, khi xét tất cả cùng nhau, bất kỳ khoảng thời gian xác định nào cũng là một lượng vô cùng bé so với trường tồn tuyệt đối, và tôi muốn gọi nó là lượng vô cùng bé tuyệt đối. Không có gì nhỏ hơn, nhưng nó không xác định. Đó là sự nhỏ đi, ngày càng nhỏ đi, ngày càng nhỏ đi so với tính vô hạn tuyệt đối.

So, no matter how big apparently the universe gets, it's always, in my view anyway, an absolute infinitesimal, just like everything else. So, the mysteries of time and space are considerable, and how shall we really solve them? Not with the equipment we have right now.

Vì vậy, dù vũ trụ có vẻ lớn đến đâu, theo quan điểm của tôi, nó vẫn luôn là một lượng vô cùng bé tuyệt đối, cũng như mọi thứ khác. Những bí nhiệm của thời gian và không gian quả thật rất lớn; chúng ta sẽ thực sự giải quyết chúng như thế nào? Không phải bằng những công cụ mà hiện giờ chúng ta có.

[14] All true seekers after truth are conscious of this unstable experience and frequently regard it as a sin or as a condition to be strenuously fought.

[14] Mọi người chân thành tìm kiếm chân lý đều nhận biết trải nghiệm bất ổn này và thường xem đó là một tội lỗi hoặc một tình trạng cần ra sức chống lại.

They do not like their apparent withdrawal and imprisonment in form.

Họ không thích sự rút lui và giam hãm trong hình tướng mà mình dường như đang trải qua.

[15] Then is the time to appreciate that "the midway spot which is neither dry nor wet must provide the standing place whereon his feet are set."

[15] Khi ấy chính là lúc cần hiểu rõ rằng “Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp vị trí đứng mà trên đó y phải đặt bàn chân.”

Maybe we can correct our personal attitude towards this instability by using this kind of mantram. Let's see what He has to say about it.

Có lẽ chúng ta có thể điều chỉnh thái độ cá nhân đối với sự bất ổn này bằng loại mantram ấy. Hãy xem Ngài nói gì về điều này.

[16] This is a symbolic way of saying that he needs to realize two things:

[16] Đây là cách nói mang tính biểu tượng rằng y cần nhận ra hai điều:

[17] 1. That states of feeling are quite immaterial and are no indication of the state of the soul.

[17] 1. Các trạng thái cảm xúc hoàn toàn không quan trọng và không biểu thị trạng thái của linh hồn.

And that is a very hard statement. We usually think, because we identify with our feelings, we think they are consequential to our real or spiritual life. We think so.

Đó là một phát biểu rất khó chấp nhận. Vì đồng hóa với cảm xúc của mình, chúng ta thường nghĩ chúng có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống chân thực hay tinh thần của mình. Chúng ta nghĩ như vậy.

[18] The aspirant must centre himself in the soul consciousness, refuse to be influenced by the alternating conditions to which he seems subjected,

[18] Người chí nguyện phải tập trung mình trong tâm thức linh hồn, không để những tình trạng luân phiên mà y dường như phải chịu chi phối ảnh hưởng đến mình,

At least in the form. He seems subjected, because the form has this habit of approaching and withdrawing,

Ít nhất là trong hình tướng. Y dường như phải chịu chúng, bởi hình tướng có thói quen tiến đến rồi rút lui này,

[19] and simply "stand in spiritual being" and then "having done all, stand."

[19] và chỉ đơn giản “đứng vững trong bản thể tinh thần”, rồi “sau khi đã làm tất cả, hãy đứng vững”.

This is the correct attitude, and how successful are we in adopting it?

Đó là thái độ đúng đắn; chúng ta thành công đến đâu trong việc thực hành thái độ ấy?

Realize two things: the fluctuations don't count. That's the first thing. To ignore the fluctuations, they are fluctuations of the form in its present condition. What else does he have to realize?

Hãy nhận ra hai điều: những dao động không đáng kể. Đó là điều thứ nhất. Hãy bỏ qua những dao động; chúng là những dao động của hình tướng trong tình trạng hiện tại của nó. Y còn phải nhận ra điều gì nữa?

[20] 2. That the achievement of equilibrium is only possible where alternation has been the rule, and that the cyclic ebb and flow will continue just as long as the soul's attention fluctuates between one or other aspect of the form and the true spiritual man.

[20] 2. Chỉ có thể đạt được quân bình khi sự luân phiên đã là quy luật, và sự triều xuống, triều lên theo chu kỳ sẽ còn tiếp diễn chừng nào sự chú ý của linh hồn vẫn dao động giữa phương diện này hay phương diện khác của hình tướng và con người tinh thần đích thực.

Now, this soul that is being discussed is the soul-in-incarnation, and not the soul on its own plane. That is not really fluctuating. I suppose it has its cycles as when it sends forth deliberate streams of energy to its personality, but we're talking about the identificatory tendencies of that part of consciousness which is immersed in the personality.

Linh hồn đang được bàn đến ở đây là linh hồn đang nhập thể, không phải linh hồn trên cõi riêng của nó. Linh hồn ấy không thực sự dao động. Tôi cho rằng nó có các chu kỳ riêng, chẳng hạn khi chủ tâm phát ra những dòng năng lượng đến phàm ngã; nhưng ở đây chúng ta đang nói về những khuynh hướng đồng hóa của phần tâm thức đang đắm chìm trong phàm ngã.

This is going to go on. Alternation is a preparation for DYNAMIC EQUILIBRIUM. I think dynamic maybe should be added here, alternation is a preparation for DYNAMIC EQUILIBRIUM.

Điều này sẽ tiếp tục. Sự luân phiên là bước chuẩn bị cho QUÂN BÌNH ĐỘNG. Tôi nghĩ có lẽ nên thêm chữ “động” ở đây: sự luân phiên là bước chuẩn bị cho QUÂN BÌNH ĐỘNG.

And again, Libra is involved. Libra does not have to be a static equilibrium. It can be the kind of give-and-take which is needed to maintain the overall equilibrium. And since we live in a world of constant motion, at least the finite worlds are in constant motion, we have to, whatever balance we achieve, has to be achieved in sight of and under consideration of or in consideration of such motion. We're not looking for a static frozen equilibrium. No, we are not looking for that. We are looking for the ability to create balance in many flows and fluid events. That takes a lot of intelligence.

Một lần nữa, Thiên Bình có liên quan. Thiên Bình không nhất thiết phải là trạng thái quân bình tĩnh. Đó có thể là sự cho và nhận cần thiết để duy trì quân bình tổng thể. Vì chúng ta sống trong một thế giới chuyển động không ngừng—ít nhất các thế giới hữu hạn luôn chuyển động—bất cứ sự cân bằng nào chúng ta đạt được cũng phải hình thành trong sự nhận biết và tính đến chuyển động ấy. Chúng ta không tìm kiếm một trạng thái quân bình tĩnh, đông cứng. Không, chúng ta không tìm kiếm điều đó. Chúng ta tìm kiếm khả năng tạo ra cân bằng giữa nhiều dòng chảy và những diễn biến linh động. Điều ấy đòi hỏi rất nhiều trí thông minh.

So, it takes all three aspects, but it takes much intelligence, Libra, Ray 3, to create a dynamic equilibrium. And of course, the will has to be there and the love for the pursuit of unity. In this dynamic equilibrium, unity will be a big factor.

Vì vậy, cần cả ba phương diện, nhưng cần rất nhiều trí thông minh—Thiên Bình, cung ba—để tạo ra quân bình động. Dĩ nhiên, phải có ý chí và tình thương thúc đẩy việc theo đuổi sự hợp nhất. Trong quân bình động này, hợp nhất sẽ là một yếu tố lớn.

[21] The ideal is to achieve such a condition of conscious control that at will a man may be focussed in his soul consciousness or focussed in his form aspect, —

[21] Lý tưởng là đạt đến một trạng thái kiểm soát hữu thức sao cho con người có thể tùy ý tập trung trong tâm thức linh hồn hoặc trong phương diện hình tướng của mình,—

I sometimes call this the elevator of consciousness. I mean, we can, and its functioning involves changing points of tension from a very high point of tension in which we might enter, the highest spaces of soul consciousness, to a lower point of tension when dealing with more obvious presentations. Of course, sometimes we're right here in the dense physical world and we want to have the presence of the higher within the lower. And that's interesting because we have to preserve that higher point of tension without relinquishing the ability to deal with the practical factual nature, illusory nature, yes, but practical fact, factual nature of what we're being presented with. So,

Đôi khi tôi gọi đây là thang máy tâm thức. Hoạt động của nó bao hàm việc thay đổi các điểm tập trung nhất tâm: từ một điểm tập trung nhất tâm rất cao, nơi chúng ta có thể đi vào những không gian cao nhất của tâm thức linh hồn, xuống một điểm tập trung nhất tâm thấp hơn khi xử lý những gì hiển nhiên hơn trước mắt. Dĩ nhiên, đôi khi chúng ta ở ngay trong thế giới hồng trần đậm đặc này và muốn cái cao hiện diện trong cái thấp. Điều ấy thú vị, vì chúng ta phải giữ được điểm tập trung nhất tâm cao hơn mà không từ bỏ khả năng xử lý bản chất thực tiễn, thực tế—đúng, có bản chất ảo tưởng, nhưng vẫn là thực tế mang tính thực tiễn—của những gì đang đặt trước mình. Vì vậy,

Now, can you, can I, can we do this? Can we change our point of tension so that any one of our vehicles may be the focus at the moment, high or low? I suppose because we have not developed all necessary points of tension, we cannot go into the heart of the triad at will, and we certainly can't go into the monad and Shambhala simply at will, but at length it will become possible.

Các bạn có thể, tôi có thể, chúng ta có thể làm điều này không? Chúng ta có thể thay đổi điểm tập trung nhất tâm để bất kỳ hiện thể nào của mình, cao hay thấp, đều có thể trở thành tiêu điểm vào lúc ấy không? Tôi cho rằng vì chưa phát triển mọi điểm tập trung nhất tâm cần thiết, chúng ta chưa thể tùy ý đi vào trung tâm của Tam Nguyên Tinh Thần, và chắc chắn chưa thể chỉ theo ý muốn mà đi vào chân thần và Shambhala; nhưng cuối cùng điều ấy sẽ trở nên khả thi.

[22] each act of focussed attention being brought about through a realised and specific objective, necessitating such a focussing.

[22] mỗi hành động tập trung chú ý đều xuất phát từ một mục tiêu cụ thể đã được nhận biết, đòi hỏi sự tập trung như thế.

We are operating on many levels and must accomplish on many levels, and have to, as it were, keep our mind on the necessary level. If we're in a dreamy state and we're dealing with dangerous things on the physical plane, the results will not be pleasant.

Chúng ta hoạt động trên nhiều cấp độ, phải hoàn thành công việc trên nhiều cấp độ và, có thể nói, phải giữ thể trí ở cấp độ cần thiết. Nếu chúng ta ở trong trạng thái mơ màng trong lúc xử lý những thứ nguy hiểm trên cõi hồng trần, kết quả sẽ không dễ chịu.

[23] Later when the words of the great Christian teacher have significance, he …

[23] Về sau, khi những lời của vị huấn sư Cơ Đốc giáo vĩ đại trở nên có thâm nghĩa, y

The aspirant,

Người chí nguyện,

[24] will be able to say "whether in the body or out of the body" is a matter of no moment.

[24] sẽ có thể nói rằng “dù ở trong thân thể hay ngoài thân thể” cũng chẳng có gì quan trọng.

We will become used to coming and going according to necessity and according to our volition, our will, and we'll do this in a fluid manner, which will be scientifically replicable. We will not have to wait until the energies are right or we're in the right mood or all those other external things. I think it's St. Paul that we're dealing with.

Chúng ta sẽ quen với việc đến và đi theo nhu cầu, theo ý nguyện, ý chí của mình, và làm điều này một cách linh động, có thể tái lập một cách khoa học. Chúng ta sẽ không phải chờ cho đến khi năng lượng thích hợp, tâm trạng phù hợp hay tất cả những điều kiện bên ngoài khác thuận lợi. Tôi nghĩ ở đây đang nói đến Thánh Paul.

[25] The act of service to be rendered will determine the point where the self is concentrated, but it will be the same self, whether freed temporarily from the form consciousness or immersed in the form in order to function in different aspects of the divine whole.

[25] Hành động phụng sự cần thực hiện sẽ quyết định điểm mà bản ngã tập trung, nhưng vẫn là cùng một bản ngã ấy, dù tạm thời thoát khỏi tâm thức hình tướng hay đắm mình trong hình tướng để hoạt động trong những phương diện khác nhau của toàn thể thiêng liêng.

So that's very clear, and our motive, in all of this, our motive for refocusing is service. And there will have to be, varying points of concentration.

Điều ấy rất rõ ràng, và trong tất cả những việc này, động cơ tái tập trung của chúng ta là phụng sự. Sẽ phải có những điểm tập trung khác nhau.

I think, some of the problem that we have is that we're oftentimes focused in one area of the personality, or maybe of the higher nature when we really need to be focused in another, in order to meet the need of the moment. If somebody is putting their hand on a hot stove, you want to be able to react very quickly. Of course, they will react quickly, but you don't want to philosophize about it. You have to react immediately in the environment, which requires your attention.

Tôi nghĩ một phần vấn đề của chúng ta là thường tập trung vào một lĩnh vực của phàm ngã, hoặc có lẽ của bản chất cao siêu, trong khi thực sự cần tập trung vào lĩnh vực khác để đáp ứng nhu cầu lúc ấy. Nếu ai đó đang đặt tay lên bếp nóng, các bạn cần có khả năng phản ứng thật nhanh. Dĩ nhiên, họ sẽ phản ứng nhanh, nhưng các bạn không muốn ngồi triết lý về điều ấy. Các bạn phải phản ứng ngay trong hoàn cảnh đang đòi hỏi sự chú ý.

[26] The spiritual man seeks for the furthering of the Plan and to identify himself with the divine mind in nature.

[26] Con người tinh thần tìm cách thúc đẩy Thiên Cơ và đồng hoá mình với trí tuệ thiêng liêng trong thiên nhiên.

At least as found on the atmic plane.

Ít nhất là như trí tuệ ấy hiện diện trên cõi atma.

[27] Withdrawing to the midway spot, he endeavours to realize his divinity.

[27] Rút về nơi ở giữa, y cố gắng chứng nghiệm thiên tính của mình,

What does it say? The midway spot, which is neither dry nor wet must produce the standing place whereon his feet are set.

Câu ấy nói gì? Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải tạo ra chỗ đứng để y đặt chân lên.

There are two types of words here which could easily be confused, the midway spot and the point where land and water meet. The midway spot is, I suppose, in the head, but there's a point also where land and water meet, and we do not want to confuse the midway spots with the point where land and water meet. The element of air or ether is introduced in the midway spot, and the area, I believe, is around the pineal gland, so soul control, the white magic, become possible. So,

Ở đây có hai cách diễn đạt dễ nhầm lẫn: nơi ở giữa và điểm nơi đất và nước gặp nhau. Tôi cho rằng nơi ở giữa nằm trong đầu, nhưng cũng có một điểm nơi đất và nước gặp nhau; chúng ta không muốn nhầm những nơi ở giữa với điểm nơi đất và nước gặp nhau. Nguyên tố khí hoặc dĩ thái xuất hiện tại nơi ở giữa, và tôi tin rằng vùng ấy nằm quanh tuyến tùng, nhờ đó sự kiểm soát của linh hồn và Chánh Thuật trở nên khả thi. Vì vậy,

The spiritual man seeks for the furthering of the Plan and to identify with the divine mind in nature.

Con người tinh thần tìm cách thúc đẩy Thiên Cơ và đồng hóa với trí tuệ thiêng liêng trong thiên nhiên.

Well, there are all kinds of levels of mind, and he probably cannot understand anything more than the type of mind which is delivered by the spiritual will on the atmic plane. I suppose there is monadic mind too, but that is probably going a little too far, and logoic mind.

Có đủ mọi cấp độ trí tuệ, và có lẽ y không thể thấu hiểu điều gì cao hơn loại trí tuệ mà ý chí tinh thần trên cõi atma truyền đạt. Tôi cho rằng cũng có trí tuệ chân thần, nhưng có lẽ như vậy là đi hơi quá xa, và còn có trí tuệ Thượng đế.

[28] Withdrawing to the midway spot, he endeavours to realize his divinity and then, having done so, he focusses himself in his mental form which puts him en rapport with the Universal Mind.

[28] rồi sau khi đã làm được điều đó, y tập trung mình trong hình tướng trí tuệ của mình, nhờ đó thiết lập sự giao cảm với Vũ Trụ Trí.

Now, what really is the universal mind? Well, a universe can be considered as a solar system, not necessarily the grand entirety. So, it is the mind of the Solar Logos, or minimally that part of that mind which is carried on by our Planetary Logos. It is located, at least it seems to me, located on the cosmic planes.

Vũ Trụ Trí thực sự là gì? Một vũ trụ có thể được xem là một hệ mặt trời, không nhất thiết là toàn thể bao la. Vì vậy, đó là trí tuệ của Thái dương Thượng đế, hoặc tối thiểu là phần trí tuệ ấy mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đảm trách. Nó nằm trên các cõi vũ trụ, ít nhất theo tôi là như vậy.

[29] He endures limitation so that thereby he may know

[29] Y chấp nhận giới hạn để nhờ đó có thể hiểu biết

Certain specific things

Một số điều cụ thể nhất định

[30] and serve.

[30] và phụng sự.

It's interesting that withdrawing to the midway spot allows him to realize his divinity, and that is something that comes with soul consciousness, access to soul consciousness.

Điều thú vị là việc rút về nơi ở giữa cho phép y chứng nghiệm thiên tính của mình; điều ấy đi cùng với tâm thức linh hồn, với khả năng tiếp cận tâm thức linh hồn.

Then having done so, he focuses himself in His mental form…

Rồi sau khi đã làm được điều ấy, y tập trung trong hình tướng trí tuệ của mình…

Which is multiple: concrete mind, and the Son of Mind on subplanes 2 and 3, and then the abstract mind, subplane number 1 of the mental plane, and of course there is the transcendental mind of Buddhi, which puts him in touch on before with the universal mind.

Hình tướng ấy có nhiều phần: trí cụ thể, Con của Trí Tuệ trên các cõi phụ hai và ba, rồi trí trừu tượng trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí; dĩ nhiên còn có Trí Tuệ Siêu Việt của Bồ đề, nhờ đó y tiếp xúc, hòa hợp với Vũ Trụ Trí.

Certainly, the Buddha was on rapport with the universal mind, but then he was taking a sixth initiation at that time. And it related to his third ray Monad. He endures limitation so that thereby He may know and serve.

Chắc chắn Đức Phật hòa hợp với Vũ Trụ Trí, nhưng khi ấy Ngài đang trải qua lần điểm đạo thứ sáu. Điều đó liên quan đến chân thần cung ba của Ngài. Y chịu đựng sự giới hạn để nhờ đó có thể hiểu biết và phụng sự.

This is the ongoing law of sacrifice through finitization, sacrifice through finitization. To remain the Absolute Infinitude of the Great Absolute is not a sacrifice, but to reduce oneself is. Maybe sometimes the only thing you can do when you are that greatest of all things is to reduce yourself, to finitize yourself. So, we come down into a much cons circumscribed place just as Sanat Kumara has done. He certainly is capable of far greater expansions, but, within the world of form, he holds his place. And He even is hinted in some books that even within the systemic ethers, He has a presence and not just within the cosmic ethers that we call our four higher systemic planes.

Đây là định luật hy sinh luôn tiếp diễn thông qua việc tự hữu hạn hóa—hy sinh thông qua tự hữu hạn hóa. Duy trì trạng thái Vô Hạn Tuyệt Đối của Đấng Tuyệt Đối Vĩ Đại không phải là hy sinh, nhưng tự thu nhỏ mình thì có. Có lẽ đôi khi điều duy nhất có thể làm khi là cái vĩ đại nhất trong mọi sự là tự thu nhỏ, tự hữu hạn hóa mình. Vì vậy, chúng ta đi xuống một nơi chốn giới hạn hơn rất nhiều, như Sanat Kumara đã làm. Chắc chắn Ngài có khả năng mở rộng hơn rất nhiều, nhưng trong thế giới hình tướng, Ngài giữ vị trí của mình. Một số sách thậm chí còn gợi ý rằng Ngài hiện diện cả trong các dĩ thái của hệ mặt trời, chứ không chỉ trong các dĩ thái vũ trụ mà chúng ta gọi là bốn cõi cao của hệ mặt trời.

So the server here,

Vậy người phụng sự ở đây,

[31] He seeks to reach the hearts of men and to carry to them "inspiration" from the depths of the heart of spiritual being.

[31] Y tìm cách chạm đến trái tim con người và mang đến cho họ “cảm hứng” từ những chiều sâu trong trái tim của bản thể tinh thần.

So beautiful, isn't it? The motive of the server and here, finitization. He seeks to reach the hearts of men because if you don't reach the heart, you have not touched the main source of motivation. The heart is the soul. The soul is the heart in one way of applying language.

Thật đẹp, phải không? Động cơ của người phụng sự, và ở đây là sự hữu hạn hóa. Y tìm cách chạm đến trái tim con người, vì nếu không chạm đến trái tim, các bạn chưa chạm đến nguồn động lực chính. Trái tim là linh hồn. Theo một cách dùng ngôn ngữ, linh hồn là trái tim.

He seeks to reach the hearts of men and to carry to them the breathing in, fiery breathing in of a God. He seeks to carry to them that fiery breath, that inspiration from the depths of the hearts of spiritual being, because he, the aspirant, has learned to stand in the spiritual being.

Y tìm cách chạm đến trái tim con người và mang đến cho họ hơi thở vào, hơi thở vào rực lửa của một Thượng đế. Y tìm cách mang đến cho họ hơi thở rực lửa ấy, cảm hứng ấy từ tận sâu trong trái tim của bản thể tinh thần, vì y, người chí nguyện, đã học cách đứng vững trong bản thể tinh thần.

Now, can we do that, I mean, even at this moment? Can we stand in spiritual being? Would it involve antahkaranic alignment with the impersonal spheres of the spiritual triad? Would it involve standing as the monad, or at least the extension of the monad or the projection of the monad? Can we so adjust our point of attention that we can, whatever fluctuations are going on, stand in spiritual being?

Chúng ta có thể làm điều ấy không, ngay lúc này? Chúng ta có thể đứng vững trong bản thể tinh thần không? Điều ấy có bao hàm sự chỉnh hợp qua antahkarana với các khối cầu phi cá nhân của Tam Nguyên Tinh Thần không? Có bao hàm việc đứng vững như chân thần, hoặc ít nhất như phần mở rộng hay sự phóng chiếu của chân thần không? Chúng ta có thể điều chỉnh điểm chú ý sao cho, bất kể những dao động đang diễn ra, vẫn đứng vững trong bản thể tinh thần không?

[32] Again he asserts the fact

[32] Một lần nữa, y khẳng định thực tại

That first ray mantram or ray word of power.

Mantram cung một ấy, hay Quyền năng từ của cung.

[33] Again he asserts the fact of his divinity and then, through a temporary identification with his body of sensory perception, of feeling, and of emotion,

[33] về thiên tính của mình, rồi

This is all the things the astral body is,

Đó là tất cả những gì thể cảm dục bao hàm,

[34] through a temporary identification with his body of sensory perception, of feeling, and of emotion, he finds himself at-one with the sensitive apparatus of divine manifestation which carries the love of God to all forms on the physical plane.

[34] qua sự đồng hoá tạm thời với thể cảm nhận giác quan, cảm giác và cảm xúc của mình, y thấy mình hợp nhất với bộ máy cảm ứng của sự biểu hiện thiêng liêng, vốn mang tình thương của Thượng đế đến mọi hình tướng trên cõi hồng trần.

Is this at one with the astral body of the Planetary Logos, or something higher? Now, our Planetary Logos has not yet taken the second cosmic initiation, the astral body of the Solar Logos is not entirely filled with cosmic love.

Đây có phải là hợp nhất với thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế, hay với điều gì cao hơn? Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ hai; thể cảm dục của Thái dương Thượng đế chưa hoàn toàn tràn đầy tình thương vũ trụ.

So, he aligns with the divine mind, which is in a way his monadic mind, with universal mind, which is the vehicle of the Solar Logos or Planetary Logos on the cosmic mental plane, the mental vehicle, and maybe the higher soul vehicle of either one of those.

Vì vậy, y chỉnh hợp với trí tuệ thiêng liêng, theo một nghĩa nào đó là trí tuệ chân thần của mình, với Vũ Trụ Trí, hiện thể của Thái dương Thượng đế hoặc Hành Tinh Thượng đế trên cõi trí vũ trụ—thể trí, và có lẽ cả hiện thể linh hồn cao hơn của một trong hai Đấng ấy.

He will suffer limitation in order to serve.

Y sẽ chịu sự giới hạn để phụng sự.

Now that's such an important thing. And when DK tells us service is difficult, it really is difficult, and that we shouldn't glamorize it, because it takes a lot of a sacrifice of time and interest. And so, let's remind ourselves service is difficult and sacrificial service, and something in us may at first feel the pain of that sacrifice.

Đó là một điều hết sức quan trọng. Khi Chân sư DK bảo chúng ta rằng phụng sự là khó khăn, thì nó thực sự khó khăn; chúng ta không nên tô hồng nó, vì nó đòi hỏi hy sinh rất nhiều thời gian và những mối quan tâm. Vì vậy, hãy tự nhắc rằng phụng sự là khó khăn, là phụng sự có hy sinh, và lúc đầu một điều gì đó trong chúng ta có thể cảm thấy nỗi đau của sự hy sinh ấy.

Are we reaching out to people and inspiring them? What word, what gesture, what radiation of energy would inspire? I'm sure we've asked ourselves that question as we try to deal with the people that need our help. What I've always found is that, well, it makes a lot of difference what you say, but if you can inspire the person with whom you are conversing, you've done a great deal. Inspiration in a way is that stage of meditation, which follows upon illumination.

Chúng ta có đang vươn đến mọi người và truyền cảm hứng cho họ không? Lời nói nào, cử chỉ nào, sự bức xạ năng lượng nào sẽ truyền cảm hứng? Tôi chắc rằng chúng ta từng tự hỏi như vậy khi cố gắng tiếp xúc với những người cần mình giúp đỡ. Điều tôi luôn nhận thấy là lời các bạn nói tạo ra khác biệt rất lớn, nhưng nếu có thể truyền cảm hứng cho người đang trò chuyện với mình, các bạn đã làm được rất nhiều. Theo một nghĩa nào đó, cảm hứng là giai đoạn tham thiền tiếp sau sự soi sáng.

So, you can convey the light, but the inspiration is something to do with divinity itself, something to do with the power, empowering of the will and the presence of being an immortality.

Vì vậy, các bạn có thể truyền đạt ánh sáng, nhưng cảm hứng có liên quan đến chính thiên tính, đến quyền năng, đến việc tăng cường sức mạnh cho ý chí và sự hiện diện của bản thể cùng tính bất tử.

So again, he asserts the fact, that's the first ray word of power, of his divinity and remembers that regardless of the difficult circumscribed area into which he enters. And through a temporary identification with his body of sensory perception of feeling and emotion, he finds himself at one with the sensitive apparatus of divine manifestation, which carries the love of God to all forms on the physical plane.

Một lần nữa, y khẳng định sự thật—đó là Quyền năng từ cung một—về thiên tính của mình, và ghi nhớ điều ấy bất kể lĩnh vực khó khăn, hạn hẹp mà y bước vào. Thông qua sự đồng hóa tạm thời với thể tiếp nhận cảm giác, cảm nhận và cảm xúc của mình, y nhận thấy mình hợp nhất với bộ máy nhạy cảm của sự biểu hiện thiêng liêng, bộ máy mang tình thương của Thượng đế đến mọi hình tướng trên cõi hồng trần.

He aligns with the divine mind of his divinity and then through a temporary identification with his body of sensory perception, of feeling, and of emotion, he finds himself at-one with the sensitive apparatus of divine manifestation which carries the love of God to all forms on the physical plane.

Y chỉnh hợp với trí tuệ thiêng liêng thuộc thiên tính của mình, rồi thông qua sự đồng hóa tạm thời với thể tiếp nhận cảm giác, cảm nhận và cảm xúc của mình, y nhận thấy mình hợp nhất với bộ máy nhạy cảm của sự biểu hiện thiêng liêng, bộ máy mang tình thương của Thượng đế đến mọi hình tướng trên cõi hồng trần.

I think it's going to be the astral body which has been regenerated, the astral body of Venus, the cosmic astral body is very much in that state of regeneration and has achieved some sort of ability to allow the Buddhic energy to pass through. We're told, Monad, mind, soul, astral body, and personality, physical body, those are some important relationships. If we achieve some degree of soul consciousness, then a degree of love can enter our astral body and be radiated. And if we go further with Buddhic consciousness, then in fact, from the Buddhic plane, there will be also the flow of love and wisdom into the astral body. Going on:

Tôi nghĩ đó sẽ là thể cảm dục đã tái sinh. Thể cảm dục của Sao Kim, thể cảm dục vũ trụ, đang ở trong trạng thái tái sinh ấy ở mức rất cao và đã đạt được một khả năng nào đó cho phép năng lượng Bồ đề đi xuyên qua. Chúng ta được cho biết: chân thần, thể trí, linh hồn, thể cảm dục, rồi phàm ngã, thể xác—đó là một số mối quan hệ quan trọng. Nếu chúng ta đạt được một mức độ tâm thức linh hồn nào đó, thì một mức độ tình thương có thể đi vào thể cảm dục và tỏa ra. Nếu chúng ta tiến xa hơn với tâm thức Bồ đề, thì thực sự cũng sẽ có dòng bác ái và minh triết chảy từ cõi Bồ đề vào thể cảm dục. Tiếp tục:

[35] Again he seeks to aid in the materialising of the divine plan on the physical plane.

[35] Một lần nữa, y tìm cách hỗ trợ việc hiện hình Thiên Cơ trên cõi hồng trần.

That is one great responsibility that we have, however small our role may be, it counts. I told you the story that my wife told me about the little bird and the drops of water repeatedly dropped on the forest fire.

Đó là một trách nhiệm lớn của chúng ta; dù vai trò của mình nhỏ bé đến đâu, nó vẫn có ý nghĩa. Tôi đã kể cho các bạn câu chuyện vợ tôi kể về con chim nhỏ liên tục thả những giọt nước xuống đám cháy rừng.

[36] He knows that all forms are the product of energy rightly used and directed.

[36] Y biết rằng mọi hình tướng đều là sản phẩm của năng lượng được sử dụng và định hướng đúng đắn.

We can say, by the Creator, the Logos.

Chúng ta có thể nói: do Đấng Sáng Tạo, Thượng đế, sử dụng và định hướng.

[37] With full knowledge of his divine Sonship…

[37] Với sự hiểu biết đầy đủ rằng mình là Con của Thượng đế

And for most of us, maybe it's still a bit theoretical.

Với phần lớn chúng ta, có lẽ điều ấy vẫn còn hơi mang tính lý thuyết.

[38] with full knowledge of His divine sonship and a potent mind realisation of all that that term conveys,

[38] và sự nhận biết mạnh mẽ trong thể trí về tất cả những gì danh xưng ấy hàm chứa,

Especially, if we study DK carefully because He will help us with that potent mind realization.

Đặc biệt nếu chúng ta nghiên cứu kỹ những lời dạy của Chân sư DK, vì Ngài sẽ giúp chúng ta đạt được sự nhận biết mạnh mẽ bằng trí tuệ ấy.

[39] he focusses his forces in the vital body and becomes a focal point for the transmission of divine energy and hence a builder in union with the building energies of the Cosmos.

[39] y tập trung các mãnh lực của mình trong thể sinh lực và trở thành một tiêu điểm truyền dẫn năng lượng thiêng liêng, do đó trở thành một đấng kiến tạo hợp nhất với các năng lượng kiến tạo của Vũ Trụ. Y đưa năng lượng của tư tưởng được soi sáng và dục vọng được thánh hoá xuống thể dĩ thái,

White magic has so much to do with the energies we release. The new age will be an etheric physical age and our relative mastery of the transmissive, is it such a word, potentialities of the etheric body will be very important.

Chánh Thuật liên quan rất nhiều đến những năng lượng mà chúng ta giải phóng. Kỷ nguyên mới sẽ là một kỷ nguyên hồng trần dĩ thái, và mức độ làm chủ tương đối của chúng ta đối với các tiềm năng truyền dẫn của thể dĩ thái—nếu có thể dùng từ ấy—sẽ rất quan trọng.

He carries the energy of illumined thought and sanctified desire down into the body of ether…

Y đưa năng lượng của tư tưởng được soi sáng và dục vọng được thánh hóa xuống thể dĩ thái…

Because he has purified himself,

Bởi vì y đã thanh lọc bản thân,

[40] and so works with intelligent devotion.

[40] và nhờ vậy hoạt động với lòng sùng tín sáng suốt.

Sanctified desire is somehow being equated here with intelligent devotion. So, he has worked psychologically, and he has improved his mind, has improved the quality of his astral nature. And now he carries them down. So, the ready aspirant carries the good down into the etheric body and transmits it through the chakras of the etheric body.

Ở đây, dường như dục vọng được thánh hóa được xem là tương đương với lòng sùng tín sáng suốt. Như vậy, y đã rèn luyện về mặt tâm lý, đã cải thiện thể trí và nâng cao phẩm tính của bản chất cảm dục. Giờ đây, y đưa những điều ấy xuống. Vì vậy, người chí nguyện đã sẵn sàng đưa điều thiện xuống thể dĩ thái và truyền dẫn nó qua các luân xa của thể dĩ thái.

Now, DK is busy reading minds here, I suppose, they receive these instructions, not as a book, but as lesson sets. And later they were all gathered together into book form.

Tôi cho rằng ở đây Chân sư DK đang bận đọc tư tưởng của mọi người. Họ nhận những huấn thị này không phải dưới dạng một cuốn sách mà dưới dạng từng loạt bài học. Về sau, tất cả mới được tập hợp thành sách.

[41] You ask for a clearer definition of the "midway" spot.

[41] Các bạn yêu cầu một định nghĩa rõ ràng hơn về nơi “ở giữa”.

It appears to be fluid perhaps. Interesting, different for each type of achievement.

Có lẽ nơi ấy có vẻ linh động. Thật thú vị, nó khác nhau tùy theo từng loại thành tựu.

[42] For the probationer it is the emotional plane, the Kurukshetra, or the plane of illusion, where land (physical nature) and water (emotional nature) meet.

[42] Đối với người dự bị, đó là cõi cảm xúc, chiến trường nội tâm, hay cõi ảo tưởng, nơi đất (bản chất hồng trần) và nước (bản chất cảm xúc) gặp nhau.

So, can we say, in this case that it is neither dry nor wet? Well, it seems quite wet, but then again there is this interesting interaction between the emotional vehicle and the dense physical vehicle, and it's not the rational part of man at all, but desire does drive the physical vehicle to do what it will do, mostly instinctually, but then later according to the nature of the desire.

Vậy trong trường hợp này, chúng ta có thể nói rằng nơi ấy không khô cũng không ướt chăng? Nó có vẻ khá ướt, nhưng lại có sự tương tác thú vị này giữa hiện thể cảm xúc và hiện thể xác đậm đặc. Điều này hoàn toàn không thuộc phần lý trí của con người, nhưng dục vọng quả thực thúc đẩy hiện thể xác hành động, phần lớn theo bản năng, rồi về sau theo bản chất của dục vọng.

What is this Midway spot?

Nơi ở giữa này là gì?

[43] For the disciple it is the mental plane where form and soul make contact

[43] Đối với đệ tử, đó là cõi trí, nơi hình tướng và linh hồn tiếp xúc

Where do they do that? On the fourth subplane of the mental plane.

Chúng tiếp xúc ở đâu? Trên cõi phụ thứ tư của cõi trí.

[44] and the great transition becomes possible.

[44] và cuộc chuyển tiếp lớn trở nên khả thi.

What is the transition? We move above the dotted line, as it is said. Where is our dotted line? Yeah, we move above the dotted line here, into the realm of the soul as that soul expresses itself in the dense physical body of the Solar Logos. The soul has other vehicles of expression of course, but there's only one consciousness.

Sự chuyển tiếp ấy là gì? Như người ta thường nói, chúng ta tiến lên phía trên đường chấm. Đường chấm của chúng ta ở đâu? Chúng ta tiến lên phía trên đường chấm ở đây, vào lĩnh vực của linh hồn khi linh hồn ấy biểu lộ trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Dĩ nhiên, linh hồn còn có những hiện thể biểu lộ khác, nhưng chỉ có một tâm thức.

And all the apparently different parts have to do with the limitations of self-perception. Don't ask me to explain that. I can, but it's not appropriate for the moment perhaps.

Và tất cả những phần có vẻ khác biệt ấy đều liên quan đến những giới hạn của sự tự tri giác. Đừng yêu cầu tôi giải thích điều đó. Tôi có thể giải thích, nhưng có lẽ lúc này chưa thích hợp.

[45] For the advanced disciple and the initiate, the midway spot is the causal body, the karana sarira, the spiritual body of the soul, standing as the intermediary between Spirit and matter, Life and form, the monad and the personality.

[45] Đối với đệ tử tiến xa và điểm đạo đồ, nơi ở giữa là thể nguyên nhân, tức nhân thể, thể tinh thần của linh hồn, giữ vai trò trung gian giữa Tinh thần và vật chất, Sự sống và hình tướng, chân thần và phàm ngã.

Is it neither dry nor wet? Well, I guess. It is neither dry nor wet; it is not wet from emotion. It is not dry from earth; it relates to the element of fire, I suppose, considering the mental plane as a fiery plane.

Nơi ấy không khô cũng không ướt chăng? Tôi đoán vậy. Nó không khô cũng không ướt; nó không ướt vì cảm xúc. Nó không khô vì đất; tôi cho rằng nó liên quan đến Nguyên tố lửa, nếu xem cõi trí là một cõi lửa.

[46] This can also be discussed and understood in terms of the centres.

[46] Cũng có thể bàn đến và thấu hiểu điều này theo các trung tâm.

We can talk about these things in terms of the chakras, and that's what I've tried to do too.

Chúng ta có thể bàn về những điều này theo các luân xa, và đó cũng là điều tôi đã cố gắng thực hiện.

The solar plexus, looking as a midway spot, it's the place where drowning can occur. He'll deal with that, of course. It is the point where land and water meet. That's the solar plexus. But maybe, in terms of the chakras, what we've been sort of hinting at and looking at, the etheric area around the pineal gland in the etheric brain.

Xét như một nơi ở giữa, tùng thái dương là nơi có thể xảy ra sự chết đuối. Dĩ nhiên, Ngài sẽ bàn đến điều đó. Đó là điểm nơi đất và nước gặp nhau. Đó là tùng thái dương. Nhưng có lẽ, xét theo các luân xa, điều mà chúng ta phần nào gợi đến và xem xét là vùng dĩ thái quanh tuyến tùng trong bộ não dĩ thái.

Of course, DK is raising this from the emotions to the mind, to the causal body. And we must learn, as aspirants, to be stable upon the emotional plane, as disciples, be stable upon the mental plane at the juncture where the 18 subplanes of the personality meet the subplanes of the soul. And as an initiate, focus and stand within the causal body or egoic lotus.

Dĩ nhiên, Chân sư DK đang nâng điều này từ cảm xúc lên thể trí, rồi đến thể nguyên nhân. Và với tư cách người chí nguyện, chúng ta phải học cách đứng vững trên cõi cảm xúc; với tư cách đệ tử, đứng vững trên cõi trí tại chỗ tiếp giáp nơi 18 cõi phụ của phàm ngã gặp các cõi phụ của linh hồn. Và với tư cách điểm đạo đồ, tập trung và đứng vững trong thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã.

Now, can we do that? Can we even begin maybe imaginatively to do that? And then, that could take some imaginative practice and we might then succeed. But that will make our meditation far more effective.

Vậy chúng ta có thể làm điều đó không? Liệu chúng ta có thể bắt đầu làm điều đó, có lẽ bằng sự tưởng tượng, không? Điều ấy có thể đòi hỏi đôi chút thực hành bằng sự tưởng tượng, rồi chúng ta có thể thành công. Nhưng điều đó sẽ khiến việc tham thiền của chúng ta hiệu quả hơn nhiều.

So, we can talk about this midway spot. We've been given three midway places, and we have to see where we really stand.

Vậy chúng ta có thể nói về nơi ở giữa này. Chúng ta đã được chỉ cho ba nơi ở giữa, và phải xem mình thực sự đang đứng ở đâu.

Now, as a student of Master DK, we certainly have to learn to be disciples and stand on the plane of mind, even if we do not focus our point of tension within the egoic lotus at all times or ever.

Là môn sinh của Chân sư DK, chắc chắn chúng ta phải học cách trở thành đệ tử và đứng trên cõi trí, ngay cả khi chúng ta không tập trung điểm tập trung nhất tâm của mình trong Hoa Sen Chân Ngã vào mọi lúc, hoặc thậm chí chưa từng làm được điều đó.

[47] As every student knows, there are two centres in the head. One centre is between the eyebrows and has the pituitary body as its objective manifestation. The other is in the region at the top of the head and has the pineal gland as its concrete aspect. The pure mystic…

[47] Như mọi đạo sinh đều biết, có hai trung tâm trong đầu. Một trung tâm nằm giữa hai chân mày và có tuyến yên làm biểu hiện khách quan. Trung tâm kia nằm ở vùng đỉnh đầu và có tuyến tùng làm phương diện cụ thể. Nhà thần bí thuần tuý

This is important here. The pure mystic

Điểm này quan trọng. Nhà thần bí thuần túy

[48] has his consciousness centred in the top of the head, almost entirely in the etheric body. The advanced worldly man is centred in the pituitary region. When, through occult unfoldment and esoteric knowledge, the relation between the personality and the soul is established there is a midway spot in the centre of the head in the magnetic field which is called the "light in the head",

[48] tập trung tâm thức ở đỉnh đầu, gần như hoàn toàn trong thể dĩ thái. Người thế gian tiến bộ tập trung ở vùng tuyến yên. Khi sự khai mở huyền bí và tri thức nội môn thiết lập mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn, thì có một nơi ở giữa tại trung tâm đầu, trong từ trường được gọi là “ánh sáng trong đầu”,

So, the light in the head is a magnetic field …

Như vậy, ánh sáng trong đầu là một từ trường…

[49] and it is here that the aspirant takes his stand. This is the spot of vital import.

[49] và chính tại đây người chí nguyện đứng vững. Đây là nơi có tầm quan trọng thiết yếu.

Those words are not used casually, the word vital means etheric.

Những từ ấy không được dùng một cách tùy tiện; từ sinh lực hàm ý dĩ thái.

[50] It is neither land or physical, nor water or emotional. It might be regarded as the vital or etheric body which has become the field of conscious service, of directed control, and of force utilisation towards specific ends.

[50] Nơi ấy không phải đất hay hồng trần, cũng không phải nước hay cảm xúc. Có thể xem đó là thể sinh lực hay thể dĩ thái đã trở thành trường phụng sự hữu thức, kiểm soát có định hướng và sử dụng mãnh lực nhằm những mục đích cụ thể.

For the aspirant who has become a more advanced disciple.

Đối với người chí nguyện đã trở thành một đệ tử tiến bộ hơn.

I think we're gonna have to repeat this next time.

Tôi nghĩ lần tới chúng ta sẽ phải nhắc lại điều này.

All right, so let's call this the end of A Treatise on White Magic video commentary number 10, rules for the astral plane and rule eight, it's 8.4, it's end of page 247 and next time, whenever that is, beginning of A Treatise on White Magic video commentary number 11, rule eight, we're not getting out of rule eight, 8.5, and we're pretty much starting starting here at page 248, repeating previous paragraph.

Vậy chúng ta hãy kết thúc bài bình giảng video số 10 về Luận về Chánh Thuật tại đây, phần các quy luật dành cho cõi cảm dục và quy luật tám; đây là phần 8.4, cuối trang 247. Lần tới, dù là khi nào, chúng ta sẽ bắt đầu bài bình giảng video số 11 về Luận về Chánh Thuật, quy luật tám—chúng ta vẫn chưa ra khỏi quy luật tám—phần 8.5. Chúng ta sẽ bắt đầu ở khoảng trang 248, nhắc lại đoạn trước.

Well, friends, we're learning about midway spots and where the point of tension that defines our consciousness is focused, and maybe imaginatively we can begin to elevate that. We don't have to really pretend we're going up and down. It's just a question of the intensity of the point of tension.

Các bạn thân mến, chúng ta đang học về những nơi ở giữa và vị trí tập trung của điểm tập trung nhất tâm vốn xác định tâm thức chúng ta; có lẽ bằng sự tưởng tượng, chúng ta có thể bắt đầu nâng điểm ấy lên. Chúng ta không thực sự phải giả vờ rằng mình đang đi lên hay đi xuống. Vấn đề chỉ là cường độ của điểm tập trung nhất tâm.

Here we go, and many blessings, study hard. I mean assimilate, apply, correlate, connect, penetrate, and also laterally associate. Mercury has ray 3, ray 4 and 5, do all the things that those mental rays can provide and then our studies will be worthwhile.

Xin gửi đến các bạn nhiều phúc lành; hãy chuyên tâm học tập. Ý tôi là hãy đồng hóa, áp dụng, đối chiếu tương quan, kết nối, thâm nhập, và cả liên tưởng theo chiều ngang. Sao Thủy có cung ba, cung bốn và cung năm; hãy làm mọi điều mà các cung trí tuệ ấy có thể mang lại, khi đó việc học của chúng ta sẽ đáng giá.

See you soon, all the best, lots of love, take care. Bye bye.

Hẹn sớm gặp lại các bạn, chúc mọi điều tốt đẹp, gửi nhiều tình thương, hãy giữ gìn sức khỏe. Tạm biệt.