PART TWO – PHẦN HAI
THE INNER TEACHING OF EARLY CHRISTIANITY – GIÁO LÝ NỘI TẠI CỦA CƠ ĐỐC GIÁO SƠ KỲ
9 – 9
The Original Teaching – Giáo Lý Nguyên Thủy
With the passage of time all religions gradually depart from the original form in which they were cast by their founders. Nearly always this change is for the worse. There is a certain lessening of the first enthusiasm and a certain effort to adapt the religion to the laxity of the times. Also, when a Church of any account becomes established, it usually acquires property of some sort and then, inevitably, the original purity is affected and there arises orthodoxy, narrowness, bigotry. All this is true of Christianity as well as of other religions.
Theo thời gian, mọi tôn giáo dần dần rời xa hình thức nguyên thủy mà những vị sáng lập của chúng đã định hình cho chúng. Hầu như luôn luôn, sự thay đổi này là theo chiều hướng xấu hơn. Có một sự giảm sút nào đó của nhiệt huyết ban đầu và một nỗ lực nào đó nhằm thích nghi tôn giáo với sự buông lỏng của thời đại. Hơn nữa, khi một Giáo Hội có tầm vóc nào đó được thiết lập, nó thường thu nhận một loại tài sản nào đó, và rồi, tất yếu, sự trong sạch nguyên thủy bị ảnh hưởng, và phát sinh chính thống giáo điều, hẹp hòi, cuồng tín. Tất cả điều này đúng với Cơ Đốc giáo cũng như với các tôn giáo khác.
In all cases there is some change. In the case of Christianity there has been an almost absolute reversal—a most extraordinary change, so that the very foundations are different now from what they were in the beginning.
Trong mọi trường hợp đều có một số thay đổi. Trong trường hợp Cơ Đốc giáo, đã có một sự đảo ngược gần như tuyệt đối — một sự thay đổi hết sức phi thường, đến nỗi chính các nền tảng hiện nay khác với lúc ban đầu.
Originally, Christianity was a magnificently elaborate doctrine—the one doctrine which lies at the foundation of all religions. When the Gospel story, which was meant allegorically, was degraded to a pseudo-historical report of the life of a man, the religion became confused. Hence all texts relating to higher things have become distorted and therefore do not any more correspond with the truth lying behind the thought. Because Christianity has forgotten much of its original teaching, it is customary nowadays to deny that it ever possessed any esoteric teaching.
Nguyên thủy, Cơ Đốc giáo là một giáo lý được triển khai huy hoàng — một giáo lý nằm ở nền tảng của mọi tôn giáo. Khi câu chuyện Phúc Âm, vốn được hiểu theo nghĩa ẩn dụ, bị hạ thấp thành một bản tường thuật giả lịch sử về đời sống của một con người, tôn giáo trở nên rối rắm. Vì thế, mọi đoạn văn liên quan đến những điều cao hơn đã bị bóp méo và do đó không còn tương ứng với chân lý nằm sau tư tưởng. Vì Cơ Đốc giáo đã quên nhiều giáo lý nguyên thủy của mình, ngày nay người ta thường phủ nhận rằng nó từng sở hữu bất kỳ giáo lý nội môn nào.
In that original teaching of Christianity there was an aspect deeper than that which is commonly presented to us in its name today. Very much of what originally formed part of the Christian faith has been neglected and almost forgotten.
Trong giáo lý nguyên thủy ấy của Cơ Đốc giáo có một phương diện sâu hơn điều thường được trình bày với chúng ta dưới danh nghĩa của nó ngày nay. Rất nhiều điều nguyên thủy từng là một phần của đức tin Cơ Đốc đã bị bỏ quên và gần như bị lãng quên.
Modern orthodox teaching is based largely on a few texts which have been badly mistranslated and are, in consequence, in opposition to many others that contain the liberal and generous spirit of Christ’s own teaching. On these few texts has been built an insecure edifice of unreasonable doctrine which, when assailed by the light of reason, immediately proves indefensible. The true and noble teaching of the Christ, which, if Christianity is to live on into the future, must sooner or later take its place, is indicated quite clearly in the very scriptures themselves. They constantly tell us of a hidden doctrine which was not given to the public. It has long been the custom to deny this and to boast that Christianity contains nothing which is beyond the reach of the meanest intellect. It is surely a very serious reproach to Christianity to say that there is nothing in it for the thinking man.
Giáo lý chính thống hiện đại phần lớn đặt nền trên một vài đoạn văn đã bị dịch sai nghiêm trọng và, do đó, đối lập với nhiều đoạn khác chứa đựng tinh thần phóng khoáng và rộng lượng của chính giáo lý Đức Christ. Trên vài đoạn văn này, người ta đã xây dựng một tòa nhà bấp bênh của giáo lý phi lý, mà khi bị ánh sáng của lý trí công kích, lập tức chứng tỏ không thể biện hộ. Giáo lý chân thật và cao quý của Đức Christ, nếu Cơ Đốc giáo muốn tiếp tục sống trong tương lai, sớm muộn phải chiếm vị trí của nó, được chỉ ra khá rõ ngay trong chính kinh thánh. Chúng thường xuyên nói với chúng ta về một giáo lý ẩn tàng không được trao cho công chúng. Từ lâu đã có thói quen phủ nhận điều này và khoe khoang rằng Cơ Đốc giáo không chứa điều gì vượt ngoài tầm với của trí năng thấp kém nhất. Chắc chắn nói rằng trong Cơ Đốc giáo không có gì dành cho người biết suy nghĩ là một sự quở trách rất nghiêm trọng đối với Cơ Đốc giáo.
It is evident that all religions have to provide for different classes of men and all grades of intellect. There is a vast host of simple people who would be entirely unable to appreciate metaphysics or to follow abstruse philosophical arguments. They must have plain, definite, ethical teaching; they must be told how to live. They must have it clearly put before them that their happiness or their suffering depends entirely upon the life which they choose to live. In every religion there is always such simple teaching which is necessary for their progress and is suited to them at the stage where they are.
Hiển nhiên mọi tôn giáo đều phải cung cấp cho các hạng người khác nhau và mọi cấp độ trí năng. Có một đoàn người giản dị đông đảo sẽ hoàn toàn không thể thưởng thức siêu hình học hay theo dõi các lập luận triết học sâu kín. Họ phải có giáo lý đạo đức rõ ràng, xác định, giản dị; họ phải được dạy cách sống. Họ phải được trình bày rõ ràng rằng hạnh phúc hay khổ đau của họ hoàn toàn tùy thuộc vào đời sống mà họ chọn sống. Trong mỗi tôn giáo luôn có giáo lý giản dị như vậy, cần thiết cho sự tiến bộ của họ và thích hợp với họ ở giai đoạn họ đang ở.
There are others who need the philosophy and the metaphysics, who would be entirely unsatisfied unless they were able to fit their ideas in with some definite scheme. They want to know whence man came and whither he is going; how this universe began and what is the object of it. Therefore a philosophy has been given by every religion worthy of its name.
Có những người khác cần triết học và siêu hình học, những người sẽ hoàn toàn không thỏa mãn trừ khi họ có thể đặt các ý tưởng của mình vào một hệ thống xác định nào đó. Họ muốn biết con người từ đâu đến và y đang đi về đâu; vũ trụ này bắt đầu như thế nào và mục tiêu của nó là gì. Vì vậy, mỗi tôn giáo xứng đáng với danh xưng của mình đều đã trao một triết học.
Since in every other great world-religion there have been these higher teachings, if we are to regard Christianity as the only exception to the rule, it stands self-convicted as an imperfect religion; but that is not true at all. The inner teaching is found in Christianity as in all the other religions; it could not be otherwise, since all are endeavors to state, from different points of view, the truth which lies behind all of them alike.
Vì trong mọi tôn giáo lớn khác của thế giới đều có những giáo lý cao hơn này, nếu chúng ta xem Cơ Đốc giáo là ngoại lệ duy nhất đối với quy luật ấy, thì nó tự kết án mình là một tôn giáo bất toàn; nhưng điều đó hoàn toàn không đúng. Giáo lý nội tại được tìm thấy trong Cơ Đốc giáo cũng như trong tất cả các tôn giáo khác; không thể khác được, vì tất cả đều là những nỗ lực trình bày, từ các quan điểm khác nhau, chân lý nằm sau tất cả chúng như nhau.
In his Retractions (Book 1, chapter 13 , verse 3), St. Augustine, one of the greatest of the Christian Fathers, in a remarkable passage, says: “This which we now call the Christian religion existed among the ancients and was from the beginning of the human race until Christ himself came in the flesh, from which time the already existing true religion began to be styled Christianity.” One could not have a plainer statement than that from a Father of the Church, that the true religion had existed all the time; since Christ came, people began to call it Christianity because they were now putting forth the form of it which He had taught, which was only a new statement of the truth that had always been known.
Trong tác phẩm Retractations của ông — Quyển 1, chương 13, câu 3 — Thánh Augustine, một trong những Giáo Phụ vĩ đại nhất của Cơ Đốc giáo, trong một đoạn văn đáng chú ý, nói: “Điều mà hiện nay chúng ta gọi là tôn giáo Cơ Đốc đã tồn tại giữa những người xưa và đã có từ buổi đầu của nhân loại cho đến khi chính Đức Christ đến trong xác thịt, từ thời điểm ấy tôn giáo chân thật vốn đã tồn tại bắt đầu được gọi là Cơ Đốc giáo.” Không thể có một phát biểu rõ ràng hơn thế từ một Giáo Phụ của Giáo Hội, rằng tôn giáo chân thật đã tồn tại suốt thời gian qua; từ khi Đức Christ đến, người ta bắt đầu gọi nó là Cơ Đốc giáo bởi vì bấy giờ họ đang đưa ra hình thức của nó mà Ngài đã dạy, vốn chỉ là một cách trình bày mới của chân lý đã luôn được biết đến.
The Mysteries of the Kingdom – Các Bí Nhiệm của Thiên Giới
In the Gospels we find that Christ frequently told His disciples that He explained only to them the full meaning of what He wanted to teach and that He spoke to the public at large in parables. If we want to understand what that means we must first observe what Christ Himself declared, then what His apostles taught, and finally what was said by the Fathers of the Church who followed the apostles. In Mark 4:11 Christ says to His disciples: “Unto you it is given to know the mystery of the kingdom of God; but unto them that are without, all these things are done in parables.” Then a few verses lower down we read, with reference to His public teaching: “Without a parable spake he not to them,” but when He was alone with His disciples He explained all these things to them. It is a matter of common knowledge to students that in old traditions it is always stated that there was a triple meaning in all parables. First of all, there was the story just as it was told—a story for simple souls, an illustrative story; secondly, there was the intellectual meaning. For example, take the parable of the sower. It tells that a sower went forth to sow his seed, and some fell on good ground, some on rocky ground, some in sandy soil, and some among thorns. That is a story which we might tell to a child or to any simple person. Then comes the intellectual interpretation: Christ explained that the seed is the word of God and the different kinds of soil are the different types of hearts into which the seed falls. Behind that again, according to universal tradition, there was the deep, mystic, spiritual meaning, which was never written down at all, but was always conveyed from mouth to ear. In the secret teaching given only to those proved and tried members who showed that they were worthy of it, the inner meaning of that parable refers to the outpouring of the divine life into nature, and the different strata which it touches as it pours down, and the results which it is able to produce at those different levels.
Trong các sách Phúc Âm, chúng ta thấy Đức Christ thường nói với các đệ tử của Ngài rằng Ngài chỉ giải thích cho riêng họ trọn vẹn ý nghĩa điều Ngài muốn dạy, và rằng Ngài nói với công chúng nói chung bằng dụ ngôn. Nếu muốn thấu hiểu điều ấy có nghĩa gì, trước hết chúng ta phải quan sát chính Đức Christ đã tuyên bố điều gì, rồi các sứ đồ của Ngài đã dạy điều gì, và sau cùng các Giáo phụ của Giáo hội, những vị nối tiếp các sứ đồ, đã nói điều gì. Trong Mác 4:11, Đức Christ nói với các đệ tử của Ngài: “Các ngươi được ban cho biết mầu nhiệm của Thiên Giới; nhưng đối với những kẻ ở ngoài, mọi sự ấy đều được thực hiện bằng dụ ngôn.” Rồi vài câu sau, chúng ta đọc thấy, liên quan đến giáo huấn công khai của Ngài: “Ngài không nói với họ điều gì mà không dùng dụ ngôn,” nhưng khi Ngài ở riêng với các đệ tử, Ngài giải thích tất cả những điều ấy cho họ. Đối với các đạo sinh, đó là điều thường được biết rằng trong các truyền thống xưa, người ta luôn nói rằng mọi dụ ngôn đều có ý nghĩa tam phân. Trước hết, có câu chuyện đúng như nó được kể — một câu chuyện dành cho những linh hồn đơn sơ, một câu chuyện minh họa; thứ hai, có ý nghĩa trí tuệ. Chẳng hạn, hãy lấy dụ ngôn người gieo giống. Dụ ngôn ấy kể rằng một người gieo giống đi ra gieo hạt, và một số hạt rơi trên đất tốt, một số rơi trên đất đá, một số rơi trên đất cát, và một số rơi giữa bụi gai. Đó là câu chuyện mà chúng ta có thể kể cho một đứa trẻ hoặc cho bất cứ người đơn sơ nào. Rồi đến phần diễn giải trí tuệ: Đức Christ giải thích rằng hạt giống là Linh từ của Thượng đế, và các loại đất khác nhau là các loại tâm hồn khác nhau mà hạt giống rơi vào. Lại đằng sau điều đó, theo truyền thống phổ quát, có ý nghĩa sâu xa, thần bí, tinh thần, vốn chưa bao giờ được ghi chép lại, mà luôn được truyền từ miệng đến tai. Trong giáo huấn bí truyền chỉ được trao cho những thành viên đã được thử thách và chứng tỏ rằng họ xứng đáng với nó, ý nghĩa bên trong của dụ ngôn ấy liên quan đến lần tuôn đổ sự sống thiêng liêng vào thiên nhiên, và các tầng lớp khác nhau mà nó chạm đến khi tuôn xuống, cùng những kết quả mà nó có thể tạo ra ở các cấp độ khác nhau ấy.
Then again, according to John 16:12, Christ said, on the night before His death: “I have yet many things to say unto you, but ye cannot bear them now.” When was He to say these “many things” to them, and when was it that they would be able to bear them? Obviously, it must have been in that time after the Resurrection when, we are informed, He taught them all things concerning the kingdom of God. But where is the record of that teaching? It is impossible to suppose that it was forgotten. It must have been treasured with the rest of the disciples’ memories.
Lại nữa, theo Gioan 16:12, Đức Christ đã nói vào đêm trước khi Ngài qua đời: “Ta còn nhiều điều phải nói với các ngươi, nhưng bây giờ các ngươi không thể chịu nổi.” Khi nào Ngài sẽ nói “nhiều điều” ấy với họ, và khi nào họ sẽ có thể chịu nổi những điều ấy? Rõ ràng, hẳn phải là trong thời gian sau Sự Phục Sinh, khi chúng ta được cho biết rằng Ngài đã dạy họ mọi điều liên quan đến Thiên Giới. Nhưng đâu là bản ghi chép về giáo huấn ấy? Không thể nào giả định rằng nó đã bị lãng quên. Hẳn nó đã được trân quý cùng với phần còn lại trong ký ức của các đệ tử.
There are many gospels besides those generally known, and in some of them are traces of these secret teachings. One of those is the great Gnostic gospel called the Pistis Sophia— the “Faith Wisdom”—and in that it is stated that Christ communicated with His disciples and taught them after His death; not for forty days only, until the time of the Ascension, but for eleven years after His resurrection He continued to teach them. Some of His instruction is given in that very book, but much of it is obscure and very hard to understand because it has passed through three translations before we read it. If ever an original copy is found, we shall probably obtain from it a very much better idea of the teachings of the Gnostics than is available at present. 23
Có nhiều sách Phúc Âm khác ngoài những sách thường được biết đến, và trong một số sách ấy có dấu vết của các giáo huấn bí truyền này. Một trong số đó là sách Phúc Âm Ngộ đạo vĩ đại gọi là Pistis Sophia— “Đức Tin Minh Triết” — và trong đó có nói rằng Đức Christ đã giao tiếp với các đệ tử của Ngài và dạy họ sau khi Ngài qua đời; không chỉ trong bốn mươi ngày, cho đến thời điểm Thăng Thiên, mà trong mười một năm sau khi phục sinh, Ngài vẫn tiếp tục dạy họ. Một phần giáo huấn của Ngài được trình bày trong chính quyển sách ấy, nhưng phần lớn thì tối nghĩa và rất khó thấu hiểu vì nó đã đi qua ba lần dịch trước khi chúng ta đọc được. Nếu một bản gốc từng được tìm thấy, có lẽ chúng ta sẽ có được từ đó một ý niệm tốt hơn rất nhiều về các giáo huấn của những người Ngộ đạo so với điều hiện có ngày nay. 23
Christ Himself, throughout the New Testament, constantly uses technical terms which were employed in what used to be called the “heathen” Mysteries. One of those terms, “the kingdom of heaven,” I have already explained elsewhere. Then there is the text which relates that when the young man came and asked how he could reach aeonian life—the life proper to that aeon—Christ said: “If thou wilt be perfect [a term used in the Mysteries to indicate a certain degree—the fourth initiation], go and sell that thou hast, and give to the poor, . . . and come and follow me” (Matt. 19:21). That meant: “If you wish to reach the level of the perfect you will have to give a great deal of time to the work, therefore you must get rid of all your worldly encumbrances.” We are told that the young man went away sorrowful because he had great possessions. Then follows the statement by Christ that it is easier for a camel to go through the eye of a needle than for a rich man to enter the Kingdom of God.
Chính Đức Christ, xuyên suốt Tân Ước, thường xuyên dùng các thuật ngữ chuyên môn từng được sử dụng trong những điều trước kia được gọi là các Bí pháp “ngoại giáo”. Một trong những thuật ngữ ấy, “nước trời”, tôi đã giải thích ở nơi khác. Rồi có đoạn văn thuật lại rằng khi người thanh niên đến hỏi làm sao y có thể đạt đến sự sống aeon — sự sống thích hợp với aeon ấy — Đức Christ nói: “Nếu ngươi muốn nên toàn thiện [một thuật ngữ được dùng trong các Bí pháp để chỉ một cấp độ nhất định — lần điểm đạo thứ tư], hãy đi bán những gì ngươi có, và cho người nghèo,... rồi hãy đến theo ta” (Ma-thi-ơ 19:21). Điều đó có nghĩa là: “Nếu ngươi muốn đạt đến cấp độ của bậc toàn thiện, ngươi sẽ phải dành rất nhiều thời gian cho công việc, do đó ngươi phải gạt bỏ mọi vướng bận thế tục của mình.” Chúng ta được kể rằng người thanh niên buồn rầu bỏ đi vì y có nhiều của cải. Rồi tiếp theo là lời Đức Christ nói rằng con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Thiên Giới.
In all religions it has been held that poverty, chastity, and obedience were necessary for the highest form of development, and Christ here repeats the teaching of the Eastern sages: “It is exceedingly difficult for a rich man to become a great initiate” because, to reach that level, a man must devote most of his time to study and work, and if he be a rich man cumbered with all sorts of business cares and worldly duties, he cannot very well do that. Worldly wealth is a great privilege, and it is given to a man as an opportunity, as a test, to see whether he will use it rightly. But besides being a test and an opportunity it implies very serious responsibility. The man who has great wealth must surely administer it for Christ and for His work, and that will mean that he must devote much time and attention to it, and while he is fulfilling that duty it would be very difficult for him to have time to devote to meditation and spiritual advancement.
Trong mọi tôn giáo, người ta đều cho rằng nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục là cần thiết cho hình thức phát triển cao nhất, và ở đây Đức Christ lặp lại giáo huấn của các hiền giả phương Đông: “Một người giàu muốn trở thành một điểm đạo đồ lớn là điều cực kỳ khó” bởi vì, để đạt đến cấp độ ấy, con người phải hiến phần lớn thời gian của mình cho việc học hỏi và công việc, và nếu y là người giàu, bị vướng bận bởi đủ loại lo toan kinh doanh và bổn phận thế tục, y khó có thể làm được điều đó. Của cải thế tục là một đặc ân lớn, và nó được trao cho con người như một cơ hội, như một thử thách, để xem y có dùng nó đúng đắn hay không. Nhưng ngoài việc là một thử thách và một cơ hội, nó còn hàm chứa trách nhiệm rất nghiêm trọng. Người có nhiều của cải chắc chắn phải quản trị nó cho Đức Christ và cho công việc của Ngài, và điều đó sẽ có nghĩa là y phải dành nhiều thời gian và sự chú ý cho nó; và trong khi y đang chu toàn bổn phận ấy, sẽ rất khó để y có thời gian dành cho tham thiền và sự tiến bộ tinh thần.
Again, the Christ speaks about not giving that which is holy to the dogs, or casting pearls before swine (Matt. 7:6). We should not consider it polite to call people dogs and swine in these days, but those are technical terms in the Mysteries. One of them is used in a great secret society of the present day, though many of its members are not aware of its origin. Probably those words were used in the Mysteries to indicate outsiders, and because no one outside the Mysteries knew about it there was no misunderstanding.
Lại nữa, Đức Christ nói về việc không trao điều thánh cho chó, hoặc ném ngọc trai trước mặt heo (Ma-thi-ơ 7:6). Ngày nay chúng ta sẽ không xem việc gọi người khác là chó và heo là lịch sự, nhưng đó là các thuật ngữ chuyên môn trong các Bí pháp. Một trong các thuật ngữ ấy được dùng trong một hội kín lớn ngày nay, dù nhiều thành viên của hội không biết nguồn gốc của nó. Có lẽ những từ ấy được dùng trong các Bí pháp để chỉ những người ở ngoài, và vì không ai ở ngoài các Bí pháp biết về điều đó nên không có sự hiểu lầm.
St. Paul – Thánh Phao-lô
The writings of St. Paul are also full of references to occult teaching. He speaks of the Mysteries, and he uses technical terms, even as Christ does, very freely. In the first Epistle to the Corinthians he says: “We speak wisdom among them that are perfect” (1 Cor. 2:6–7). If it meant “perfect” in the ordinary sense of the word, what would be the use of teaching them at all? What he means is, “We give that higher teaching to the people to whose degree it belongs.” There were different degrees in the Mysteries just as there are in other organizations; to each degree belonged the teaching of the degree, and it was never given to any one in a lower stage. So to the “perfect” was given the “wisdom” or gnosis.
Các trước tác của Thánh Phao-lô cũng đầy những tham chiếu đến giáo huấn huyền môn. Ông nói về các Bí pháp, và ông sử dụng các thuật ngữ chuyên môn, cũng như Đức Christ, một cách rất tự do. Trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rinh-tô, ông nói: “Chúng tôi nói minh triết giữa những người toàn thiện” (1 Cô-rinh-tô 2:6–7). Nếu “toàn thiện” ở đây có nghĩa theo nghĩa thông thường của từ ấy, thì việc dạy họ còn có ích gì? Điều ông muốn nói là: “Chúng tôi trao giáo huấn cao hơn ấy cho những người mà cấp độ của họ thuộc về giáo huấn đó.” Trong các Bí pháp có các cấp độ khác nhau, cũng như trong các tổ chức khác; mỗi cấp độ có giáo huấn của cấp độ ấy, và giáo huấn đó không bao giờ được trao cho bất cứ ai ở giai đoạn thấp hơn. Vì vậy, “minh triết” hay gnosis được trao cho những người “toàn thiện”.
Gnosis, or “wisdom,” was another technical term. 24 It did not mean ordinary wisdom, but the special religious teaching given to those who are at the stage of the perfect. The whole passage to which I am referring is full of significance. It runs: “Howbeit we speak wisdom among them that are perfect; yet not the wisdom of this world, nor of the princes of this world, that come to nought. But we speak the wisdom of God in a mystery, even the hidden wisdom, which God ordained before the world unto our glory.” If St. Paul meant any ordinary Christian teaching, that statement is flagrantly untrue. It has often been asserted that all these references to Mysteries were to the Holy Eucharist. It is true that only those who had reached a certain level were permitted to be present at it, but it was not a Mystery in that sense.
Gnosis, hay “minh triết”, là một thuật ngữ chuyên môn khác. 24 Nó không có nghĩa là minh triết thông thường, mà là giáo huấn tôn giáo đặc biệt được trao cho những người ở giai đoạn của bậc toàn thiện. Toàn bộ đoạn văn mà tôi đang đề cập đầy thâm nghĩa. Đoạn ấy như sau: “Tuy nhiên, chúng tôi nói minh triết giữa những người toàn thiện; nhưng không phải minh triết của thế gian này, cũng không phải của các bậc quyền thế của thế gian này, là những kẻ sẽ trở thành hư không. Nhưng chúng tôi nói minh triết của Thượng đế trong một mầu nhiệm, tức minh triết ẩn giấu, mà Thượng đế đã định trước khi có thế gian cho vinh quang của chúng ta.” Nếu Thánh Phao-lô muốn nói đến bất cứ giáo huấn Kitô giáo thông thường nào, thì lời tuyên bố ấy là hoàn toàn sai sự thật. Người ta thường khẳng định rằng mọi tham chiếu này đến các Bí pháp đều chỉ Bí tích Thánh Thể. Đúng là chỉ những ai đã đạt đến một cấp độ nhất định mới được phép hiện diện trong đó, nhưng nó không phải là một Bí pháp theo nghĩa ấy.
It could not have been the Holy Eucharist, because the apostle was writing to the Corinthian Church and, from what he says in other parts of the epistle (as where he speaks of certain rites which attended their celebrations of the Holy Communion), it is evident that those Corinthians were full communicants, fit only for the earlier wisdom; so certainly the Mysteries which were not taught to them were not the Eucharist. Continuing, St. Paul speaks of the teaching known of God which the Holy Ghost teaches. Again, he uses also other technical terms, calling himself a master builder and a steward of the Mysteries of Christ. He also speaks of striving if by any means he “might attain to the resurrection of the dead” (Phil. 3:11). People generally take that to mean that he, the great apostle, was not sure whether he would rise again at the last day. But all are to rise again according to the teaching—the good and the bad alike. There is no effort needed for that. What was it he was striving so earnestly to attain? Of course, he was aiming to reach the great initiation which liberates men, which sets them free from the earth. He says: “I press toward the mark for the prize of the high calling of God in Christ Jesus”; and in a verse or two later on he urges “as many as be perfect” to strive, as he is striving, to attain the resurrection from death—the escape from the wheel of birth and death—but he does not recommend the ordinary church members to do it because he knows it is out of their reach as yet. He concludes his exhortation to the “perfect” with the significant words: “For our conversation is in heaven; from whence also we look for the Savior, the Lord Jesus Christ, who shall change our vile body, that it may be fashioned like unto his glorious body, according to the working whereby he is able to subdue all things unto himself ” (Phil. 3:20–21).
Đó không thể là Bí tích Thánh Thể, bởi vì vị sứ đồ đang viết cho Giáo hội Cô-rinh-tô, và từ những gì ông nói ở các phần khác của bức thư — như khi ông nói về một số nghi thức đi kèm các cuộc cử hành Tiệc Thánh của họ — rõ ràng những tín hữu Cô-rinh-tô ấy là những người hiệp thông trọn vẹn, chỉ thích hợp với minh triết sơ khởi; vì vậy chắc chắn các Bí pháp không được dạy cho họ không phải là Bí tích Thánh Thể. Tiếp tục, Thánh Phao-lô nói về giáo huấn được Thượng đế biết đến, do Chúa Thánh Thần dạy. Lại nữa, ông cũng dùng các thuật ngữ chuyên môn khác, gọi mình là đấng kiến tạo bậc thầy và người quản nhiệm các Bí pháp của Đức Christ. Ông cũng nói về việc nỗ lực, nếu bằng mọi cách, ông “có thể đạt đến sự phục sinh từ kẻ chết” (Phi-líp 3:11). Người ta thường hiểu điều đó có nghĩa là ông, vị sứ đồ vĩ đại, không chắc mình có sống lại vào ngày sau hết hay không. Nhưng theo giáo huấn, tất cả đều sẽ sống lại — người tốt cũng như kẻ xấu. Điều ấy không cần nỗ lực. Vậy điều gì mà ông đang hết sức cố gắng để đạt tới? Dĩ nhiên, ông đang nhắm đến việc đạt được cuộc điểm đạo vĩ đại giải thoát con người, khiến họ thoát khỏi Trái Đất. Ông nói: “Tôi nhấn tới đích để giành phần thưởng của ơn gọi cao cả của Thượng đế trong Đức Christ Jesus”; và một hai câu sau, ông thúc giục “tất cả những ai toàn thiện” hãy nỗ lực, như ông đang nỗ lực, để đạt đến sự phục sinh khỏi cái chết — sự thoát khỏi bánh xe sinh tử — nhưng ông không khuyên các thành viên thông thường của Giáo hội làm điều đó, vì ông biết hiện nay điều ấy còn ngoài tầm với của họ. Ông kết thúc lời khích lệ dành cho những người “toàn thiện” bằng những lời đầy thâm nghĩa: “Vì cuộc sống của chúng ta ở trên trời; từ đó chúng ta cũng trông đợi Đấng Cứu Thế, Chúa Jesus Christ, Đấng sẽ biến đổi thân xác thấp hèn của chúng ta, để nó được tạo hình giống như thân thể vinh quang của Ngài, theo quyền năng nhờ đó Ngài có thể quy phục mọi sự về với chính Ngài” (Phi-líp 3:20–21).
Clement of Alexandria – Clêmentê thành Alexandria
The Christian Fathers also constantly use the technical terms of the Mysteries. St. Clement of Alexandria borrows a whole sentence from neo-Pythagorean documents when he says, “It is not lawful to reveal to the profane the mysteries of the Word.” The profane are those outside the temple. The last term is a translation of the Greek logos . In this sentence he inserts that word in the place of the Eleusinian goddesses who are mentioned in the original document.
Các Giáo phụ Kitô giáo cũng thường xuyên dùng các thuật ngữ chuyên môn của các Bí pháp. Thánh Clêmentê thành Alexandria mượn trọn một câu từ các văn kiện Tân Pythagoras khi ông nói: “Không được phép mặc khải cho kẻ phàm tục các mầu nhiệm của Linh từ.” Kẻ phàm tục là những người ở ngoài đền thờ. Thuật ngữ cuối cùng là bản dịch của từ Hy Lạp logos. Trong câu này, ông đặt từ ấy vào vị trí của các nữ thần Eleusis được nhắc đến trong văn kiện gốc.
Nowadays Christianity considers it to be its highest glory that it has produced great saints, though it does not profess to be producing them at the present day. In earlier times it had the three degrees, purification, illumination, and perfection or deification. Then, purification meant what we now call saintship. The man who was purified was the man of high and holy living; the second degree gave him a knowledge of the Mysteries, and the third degree gave him unity with the Divine at a certain stage. We find the same three stages under other names in the oriental religions. In later days, all that was laid aside when the more ignorant section of the Church gained the upper hand, so we now have a maimed form of Christianity which is by no means as satisfactory a presentation of the eternal verities as are some of the other great religions of the world. The Church now contents herself with the preliminary purification; she has no illumination or perfection to give.
Ngày nay, Kitô giáo xem vinh quang cao nhất của mình là đã sản sinh ra các vị thánh lớn, dù hiện nay nó không tuyên bố rằng mình đang sản sinh ra họ. Trong những thời kỳ đầu, nó có ba cấp độ: thanh luyện, soi sáng, và toàn thiện hay thần hóa. Khi ấy, thanh luyện có nghĩa là điều ngày nay chúng ta gọi là địa vị thánh thiện. Người đã được thanh luyện là người có đời sống cao thượng và thánh thiện; cấp độ thứ hai trao cho y tri thức về các Bí pháp, và cấp độ thứ ba trao cho y sự hợp nhất với Đấng Thiêng Liêng ở một giai đoạn nhất định. Chúng ta thấy cùng ba giai đoạn ấy dưới những tên gọi khác trong các tôn giáo phương Đông. Về sau, tất cả những điều đó bị gác sang một bên khi bộ phận kém hiểu biết hơn của Giáo hội giành được ưu thế, nên ngày nay chúng ta có một hình thức Kitô giáo bị què quặt, hoàn toàn không phải là một trình bày thỏa đáng về các chân lý vĩnh cửu như một số tôn giáo lớn khác của thế giới. Giáo hội hiện nay tự bằng lòng với sự thanh luyện sơ khởi; Giáo hội không có sự soi sáng hay toàn thiện để ban cho.
Let us read what St. Clement of Alexandria has to say on this subject. Speaking of purification he writes: “Purity is only a negative state, valuable chiefly as the condition of insight”; that is to say, one cannot gain the higher levels through purity alone. He continues: “He who has been purified in baptism, and then initiated into the little Mysteries [has acquired the habit of self-control and reflection], becomes ripe for the greater Mysteries, for Epopteia or Gnosis, the scientific knowledge of God.” 25
Chúng ta hãy đọc điều Thánh Clêmentê thành Alexandria nói về chủ đề này. Khi nói về thanh luyện, ông viết: “Sự thanh khiết chỉ là một trạng thái phủ định, có giá trị chủ yếu như điều kiện của linh thị”; tức là, người ta không thể đạt đến các cấp độ cao hơn chỉ nhờ sự thanh khiết. Ông tiếp tục: “Người đã được thanh luyện trong phép rửa, rồi được điểm đạo vào các Bí pháp nhỏ [đã đạt được thói quen tự chủ và suy tưởng], trở nên chín muồi cho các Bí pháp lớn hơn, cho Epopteia hay Gnosis, tri thức khoa học về Thượng đế.” 25
This latter, from the modern orthodox point of view, is a startling claim to make. Few preachers at the present day would claim to have scientific knowledge of God or ever to know in the least what such an expression meant. Yet there it stands in the writing of one of the earliest and greatest of the Church Fathers. Of course, there have always been doctors of the Church—men who have studied philosophy and theology, but generally only in a narrow and partisan spirit. Since the days of the great Gnostic teachers who were expelled for heresy, they have produced nothing at all to compare with the splendid metaphysics and philosophy of the Hindus or the Buddhists.
Điều sau này, từ quan điểm chính thống hiện đại, là một tuyên bố đáng kinh ngạc. Ngày nay, ít nhà giảng đạo nào dám tuyên bố có tri thức khoa học về Thượng đế, hoặc dù chỉ hiểu chút ít biểu thức ấy có nghĩa gì. Tuy vậy, lời ấy vẫn đứng đó trong trước tác của một trong những Giáo phụ sớm nhất và vĩ đại nhất của Giáo hội. Dĩ nhiên, Giáo hội luôn có các tiến sĩ — những người đã nghiên cứu triết học và thần học, nhưng thường chỉ trong một tinh thần hẹp hòi và phe phái. Kể từ thời các huấn sư Ngộ đạo vĩ đại bị trục xuất vì dị giáo, họ chẳng sản sinh được điều gì có thể sánh với siêu hình học và triết học huy hoàng của người Ấn giáo hay Phật giáo.
As to the third stage, that of perfection, they have simply forgotten all about it; yet it was clearly held by the early Fathers that man was capable of attaining “deification,” as that degree is often called in their writings.
Còn về giai đoạn thứ ba, tức sự toàn thiện, họ đơn giản đã quên hẳn tất cả về nó; tuy vậy các Giáo phụ đầu tiên rõ ràng đã tin rằng con người có khả năng đạt đến “thần hóa”, như cấp độ ấy thường được gọi trong các trước tác của họ.
What has become of this magnificent heritage of Christianity? Why was this wonderful wisdom lost, and how can it be regained? Happily it has not been lost. Though the ignorant majority endeavored with pious fury to destroy all traces of it, yet here and there a book has been discovered where something of the Gnostic teaching has been preserved. Moreover, as will be shown in the following chapters, an attempt has at least been made by some of the higher powers to guide those who have compiled those great symbols called the creeds, so that, whatever they themselves may have known, their language still clearly conveys the grand truths of the original teachings to all who have ears to hear; for much now incomprehensible in those formulae becomes at once luminous and full of meaning when understood in that inner sense which exalts it, from a fragment of unreliable biography into a declaration of eternal truth.
Di sản huy hoàng này của Kitô giáo đã trở thành gì? Vì sao minh triết kỳ diệu này bị thất lạc, và làm sao có thể khôi phục nó? May mắn thay, nó chưa bị mất. Dù đa số vô minh đã cố gắng với cơn cuồng tín đạo đức để phá hủy mọi dấu vết của nó, nhưng đây đó vẫn tìm thấy một quyển sách trong đó một phần giáo huấn Ngộ đạo đã được bảo tồn. Hơn nữa, như sẽ được trình bày trong các chương sau, ít nhất một nỗ lực đã được một số quyền năng cao hơn thực hiện nhằm hướng dẫn những người đã biên soạn các biểu tượng vĩ đại gọi là các tín điều ấy, để cho, bất kể chính họ có thể đã biết gì, ngôn ngữ của họ vẫn truyền đạt rõ ràng những chân lý lớn lao của các giáo huấn nguyên thủy cho tất cả những ai có tai để nghe; bởi vì nhiều điều hiện nay không thể hiểu được trong các công thức ấy sẽ tức khắc trở nên sáng tỏ và đầy ý nghĩa khi được thấu hiểu theo ý nghĩa bên trong ấy, vốn nâng nó lên từ một mảnh tiểu sử không đáng tin cậy thành một tuyên ngôn về chân lý vĩnh cửu.
10 – 10
THE ORIGIN OF THE CREEDS – NGUỒN GỐC CỦA CÁC TÍN ĐIỀU
The Christian Church uses three creeds: 26 the Apostles’, the Nicene, and the Athanasian. I shall not deal with the last here since it is of much later origin than the first two. As at present found in the Prayer Book of the Church of England, these two creeds are as follows:
Giáo hội Kitô giáo sử dụng ba tín điều: 26 Tín điều Các Sứ Đồ, Tín điều Nicaea, và Tín điều Athanasius. Tôi sẽ không đề cập đến tín điều cuối cùng ở đây, vì nó có nguồn gốc muộn hơn nhiều so với hai tín điều đầu. Như hiện được tìm thấy trong Sách Cầu Nguyện của Giáo hội Anh, hai tín điều này như sau:
The Apostles’ Creed – Tín điều Các Sứ Đồ
I believe in God the Father Almighty, Maker of heaven and earth:
Tôi tin kính Thượng đế là Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng trời và đất:
And in Jesus Christ, his only Son our Lord, Who was conceived by the Holy Ghost, born of the Virgin Mary, suffered under Pontius Pilate, was crucified, dead and buried, He descended into hell. The third day he rose again from the dead, He ascended into heaven, and sitteth on the right hand of God the Father Almighty; from thence he shall come to judge the quick and the dead.
Và tin kính Đức Jesus Christ, Con Một của Ngài, Chúa chúng ta, Đấng được thụ thai bởi Chúa Thánh Thần, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, chịu khổ nạn dưới thời Pontius Pilate, bị đóng đinh, chết và được mai táng, Ngài xuống địa ngục. Ngày thứ ba Ngài sống lại từ cõi chết, Ngài lên trời, và ngự bên hữu Thượng đế là Cha Toàn Năng; từ đó Ngài sẽ đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
I believe in the Holy Ghost; the holy Catholick [sic ] Church; the Communion of Saints; the Forgiveness of sins; The Resurrection of the body, and the life everlasting. Amen.
Tôi tin kính Chúa Thánh Thần; Giáo hội Catholick [sic] thánh thiện; sự Hiệp thông của các Thánh; sự Tha tội; sự Phục sinh của thân xác, và sự sống vĩnh cửu. Amen.
The Nicene Creed – Tín điều Nicaea
I believe in one God, the Father Almighty, Maker of heaven and earth, and of all things, visible and invisible:
Tôi tin kính một Thượng đế duy nhất, là Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng trời và đất, cùng mọi vật hữu hình và vô hình:
And in one Lord Jesus Christ, the only-begotten Son of God, begotten of his Father before all worlds, God of God; Light of Light, very God of very God, begotten, not made, being of one substance with the Father, by whom all things were made: Who for us men, and for our salvation came down from heaven, and was incarnate by the Holy Ghost of the Virgin Mary, and was made man, and was crucified also for us under Pontius Pilate. He suffered and was buried, and the third day he rose again according to the Scriptures, and ascended into heaven, and sitteth on the right hand of the Father. And he shall come again with glory to judge both the quick and dead: Whose kingdom shall have no end.
Và tin kính một Chúa Jesus Christ duy nhất, Con Một của Thượng đế, được sinh bởi Cha Ngài trước mọi thế giới, Thượng đế bởi Thượng đế; Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thượng đế thật bởi Thượng đế thật, được sinh ra, không phải được tạo thành, đồng một chất liệu với Cha, nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành: Đấng vì chúng ta là loài người, và vì sự cứu rỗi của chúng ta, đã từ trời xuống, nhập thể bởi Chúa Thánh Thần nơi Đức Trinh Nữ Maria, và trở thành người, và cũng vì chúng ta mà bị đóng đinh dưới thời Pontius Pilate. Ngài chịu khổ nạn và được mai táng, và ngày thứ ba Ngài sống lại theo Thánh Kinh, rồi lên trời, và ngự bên hữu Cha. Và Ngài sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét cả kẻ sống lẫn kẻ chết: Vương quốc của Ngài sẽ không cùng tận.
And I believe in the Holy Ghost; the Lord and giver of life, Who proceedeth from the Father and the Son, who with the Father and the Son together is worshipped and glorified, who spake by the Prophets. And I believe in one Catholick and Apostolic Church. I acknowledge one Baptism for the remission of sins. And I look for the Resurrection of the dead, and life of the world to come. Amen.
Và tôi tin kính Chúa Thánh Thần; Chúa và Đấng ban sự sống, Đấng phát xuất từ Cha và Con, Đấng cùng với Cha và Con được thờ phượng và tôn vinh, Đấng đã phán qua các Ngôn sứ. Và tôi tin kính một Giáo hội Catholick và Tông truyền. Tôi tuyên nhận một Phép Rửa để tha tội. Và tôi trông đợi sự Phục sinh của kẻ chết, và sự sống của thế giới sẽ đến. Amen.
A century ago, the general opinion was that the Apostles’ Creed was the earlier of these and that the other two were merely amplifications of it, but it is now believed that the Nicene Creed is the oldest of the three. Some sort of creed seems to have been in use in the Church from the very beginning. In fact, in the days when the Christians were persecuted they used a very short form of the creed as a kind of password to secure admission to their meetings; a few words such as: “I believe in God the Father in whom are all things and in God the Son by whom are all things,” but the form varied very much in different places and at different times.
Một thế kỷ trước, ý kiến chung cho rằng Tín điều Các Sứ Đồ là tín điều sớm hơn trong số này, và hai tín điều kia chỉ là những bản mở rộng của nó, nhưng hiện nay người ta tin rằng Tín điều Nicaea là cổ nhất trong ba tín điều. Dường như một hình thức tín điều nào đó đã được sử dụng trong Giáo hội ngay từ đầu. Thật vậy, vào thời các Kitô hữu bị bách hại, họ dùng một hình thức tín điều rất ngắn như một loại mật khẩu để được vào các buổi họp của họ; vài lời như: “Tôi tin kính Thượng đế là Cha, trong Ngài có muôn vật, và tin kính Thượng đế là Con, nhờ Ngài mà muôn vật hiện hữu,” nhưng hình thức ấy thay đổi rất nhiều ở những nơi khác nhau và vào những thời điểm khác nhau.
The earliest mention we find of the Apostles’ Creed is in the fourth century, by Rufinus, 27 who tells us that each of the Twelve Apostles wrote one of the twelve clauses of it. I may mention that Rufinus is not a reliable author and that this curious idea of his is certainly not held by any scholar at the present day. The earliest date at which we find the Apostles’ Creed in anything like the form in which it now exists in the churches of Rome and England is in the eighth century, and it is supposed by the historians who have investigated the matter to be a mere conglomeration, a gathering together, of a number of separate and shorter creeds.
Lần nhắc đến sớm nhất mà chúng ta tìm thấy về Tín điều Các Sứ Đồ là vào thế kỷ thứ tư, bởi Rufinus, 27 người kể rằng mỗi vị trong Mười Hai Sứ Đồ đã viết một trong mười hai mệnh đề của tín điều ấy. Tôi có thể nói thêm rằng Rufinus không phải là một tác giả đáng tin cậy, và ý tưởng kỳ lạ này của ông chắc chắn không được bất cứ học giả nào ngày nay chấp nhận. Niên đại sớm nhất mà chúng ta tìm thấy Tín điều Các Sứ Đồ dưới một hình thức tương tự như hình thức hiện tồn trong các giáo hội Rôma và Anh là vào thế kỷ thứ tám, và các sử gia đã khảo sát vấn đề này cho rằng nó chỉ là một tập hợp, một sự gom góp, của nhiều tín điều riêng rẽ và ngắn hơn.
The Creed of Nicaea – Tín điều Nicaea
As to the Nicene Creed, there is no doubt as to its origin. It was drawn up, though not exactly as we have it now, in the year 325 at the Council of Nicaea. That council was convened for the purpose of dealing with what is called the Arian heresy. There was a certain priest named Arius who maintained that the orthodox beliefs were in various ways inaccurate and, in consequence of his teaching, great controversies raged between his followers and the materialistic ecclesiastical party as to whether the Father had existed before the Son and whether the Father and the Son were of the same nature or of like nature. In English, we have two distinct words to express this difference of meaning, but the distinction in Greek is marked only by a very slight thing, the difference of a mere point. “Of the same nature” is homos ; “of like nature” homoios . It is oi instead of o , and when the i comes in a word like that it is generally written as a small i , but when it comes as the second letter of a diphthong it is frequently written as a little dot. So the difference about which the whole Church fought for years was a question of a dot!
Còn về Tín điều Nicaea, không có nghi ngờ gì về nguồn gốc của nó. Nó được soạn thảo, dù không đúng hẳn như hình thức chúng ta có hiện nay, vào năm 325 tại Công đồng Nicaea. Công đồng ấy được triệu tập nhằm mục đích xử lý điều được gọi là dị giáo Arius. Có một linh mục tên là Arius chủ trương rằng các tín ngưỡng chính thống, theo nhiều cách khác nhau, là không chính xác; và do giáo huấn của ông, các cuộc tranh luận lớn đã bùng lên giữa những người theo ông và phe giáo sĩ duy vật về việc liệu Cha có hiện hữu trước Con hay không, và liệu Cha và Con có cùng một bản chất hay có bản chất tương tự. Trong tiếng Anh, chúng ta có hai từ riêng biệt để diễn tả sự khác biệt ý nghĩa này, nhưng sự phân biệt trong tiếng Hy Lạp chỉ được đánh dấu bằng một điều rất nhỏ, khác biệt của một dấu chấm mà thôi. “Cùng một bản chất” là homos; “có bản chất tương tự” là homoios. Đó là oi thay vì o, và khi chữ i xuất hiện trong một từ như thế, nó thường được viết như một chữ i nhỏ, nhưng khi nó xuất hiện như chữ thứ hai của một nguyên âm đôi, nó thường được viết như một dấu chấm nhỏ. Vì vậy, sự khác biệt mà toàn thể Giáo hội đã tranh đấu suốt nhiều năm chỉ là vấn đề của một dấu chấm!
When we consider that the exact truth about the matter is a thing which no human being could possibly know, and, moreover, it could not possibly make the slightest difference to any of us which of the two theories is true, it is clear that the squabble was futile and unnecessary. It is noticeable in all those theological controversies that the smaller the difference of opinion, the greater was the amount of bitterness and hatred aroused in connection with it: probably there was never a worse squabble in the Church. It is not altogether surprising that Arius should have maintained that the Father must have existed before His Son; there is a certain claim of reasonableness about such an idea. However, the Council of Nicaea, largely directed by the emperor Constantine, decided that that was not so, but that they were coeternal and coequal. Undoubtedly they are from one point of view, for one must not be bound down by material conceptions of Father and Son when these words are employed symbolically. The Nicene Creed, as it was drawn up by that council, omitting the final clauses (it ends with a terrible curse on all who would not accept it) is as follows:
Khi chúng ta xét rằng chân lý chính xác về vấn đề ấy là điều không một con người nào có thể biết được, và hơn nữa, việc lý thuyết nào trong hai lý thuyết ấy là đúng cũng không thể tạo ra khác biệt nhỏ nhất nào đối với bất cứ ai trong chúng ta, thì rõ ràng cuộc cãi vã ấy là vô ích và không cần thiết. Điều đáng chú ý trong mọi cuộc tranh luận thần học ấy là: khác biệt quan điểm càng nhỏ, mức độ cay đắng và thù ghét được khơi dậy liên quan đến nó càng lớn; có lẽ chưa bao giờ trong Giáo hội có một cuộc cãi vã nào tệ hơn. Không hoàn toàn đáng ngạc nhiên khi Arius chủ trương rằng Cha hẳn phải hiện hữu trước Con của Ngài; một ý tưởng như thế có một mức độ hợp lý nào đó. Tuy nhiên, Công đồng Nicaea, phần lớn do hoàng đế Constantine điều hướng, đã quyết định rằng không phải như vậy, mà hai Ngài đồng vĩnh cửu và đồng bình đẳng. Không nghi ngờ gì, theo một quan điểm, hai Ngài là như vậy, vì người ta không được bị trói buộc bởi các quan niệm vật chất về Cha và Con khi những từ ấy được dùng theo nghĩa biểu tượng. Tín điều Nicaea, như nó được soạn thảo bởi công đồng ấy, bỏ qua các mệnh đề cuối cùng — nó kết thúc bằng một lời nguyền khủng khiếp đối với tất cả những ai không chấp nhận nó — như sau:
We believe in one God, the Father Almighty, Maker of all things both visible and invisible; and in one Lord, Jesus Christ, the Son of God, begotten of the Father, only-begotten, that is to say, of the substance of the Father, God of God, Light of Light, very God of very God, 28 begotten, not made, being of one substance with the Father, by whom all things were made, both things in heaven and things in earth—who for us men and for our salvation came down and was made flesh, and was made man, suffered and rose again on the third day, went up into the heavens and is to come again to judge the quick and the dead, and in the Holy Ghost. (Translation by G.R.S. Mead)
Chúng tôi tin kính một Thượng đế duy nhất, là Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng mọi vật cả hữu hình lẫn vô hình; và tin kính một Chúa duy nhất, Jesus Christ, Con của Thượng đế, được sinh bởi Cha, Con Một, nghĩa là, từ chất liệu của Cha, Thượng đế bởi Thượng đế, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thượng đế thật bởi Thượng đế thật, 28 được sinh ra, không phải được tạo thành, đồng một chất liệu với Cha, nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành, cả những vật trên trời lẫn những vật dưới đất — Đấng vì chúng ta là loài người và vì sự cứu rỗi của chúng ta đã xuống và trở thành xác thịt, và trở thành người, chịu khổ nạn rồi sống lại ngày thứ ba, lên các tầng trời và sẽ lại đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết, và tin kính Chúa Thánh Thần. (Bản dịch của G.R.S. Mead)
Comparing it with the form in which it appears in the Prayer Book of the Church of England, we notice several differences. There is not a word about Christ being crucified. It does not mention the birth from the Holy Ghost or by the Holy Ghost from the Virgin Mary, which is found in the more modern form and is a wrong translation. We also observe that there is nothing in it about Pontius Pilate, and, furthermore, all the latter part is omitted. That, with the exception of the words “and the Son,” was added to it at the Council of Constantinople in the year 381, so that really it is the Constantinopolitan rather than the Nicene Creed which the Church uses now. That other very important addition, the word filioque , which means “and the Son,” was made by the Western Church at the Council of Toledo in the year 587, and thereby hangs the whole of the difference between the Greek Church and the Western Church of Rome and England as to whether the Holy Ghost proceeds from the Father alone or from the Father and the Son.
Khi so sánh nó với hình thức xuất hiện trong Sách Cầu Nguyện của Giáo hội Anh, chúng ta nhận thấy một số khác biệt. Không có một lời nào về việc Đức Christ bị đóng đinh. Nó không nhắc đến sự sinh ra từ Chúa Thánh Thần hay bởi Chúa Thánh Thần nơi Đức Trinh Nữ Maria, điều có trong hình thức hiện đại hơn và là một bản dịch sai. Chúng ta cũng nhận thấy rằng trong đó không có gì về Pontius Pilate, và hơn nữa, toàn bộ phần sau bị bỏ đi. Phần ấy, ngoại trừ các từ “và Con”, đã được thêm vào tại Công đồng Constantinople vào năm 381, cho nên thật ra tín điều mà Giáo hội hiện dùng là Tín điều Constantinople hơn là Tín điều Nicaea. Sự bổ sung rất quan trọng khác, từ filioque, có nghĩa là “và Con”, được Giáo hội Tây phương thêm vào tại Công đồng Toledo vào năm 587, và toàn bộ khác biệt giữa Giáo hội Hy Lạp và Giáo hội Tây phương của Rôma và Anh xoay quanh vấn đề liệu Chúa Thánh Thần phát xuất từ riêng Cha hay từ Cha và Con.
Three Sources – Ba nguồn gốc
This is the history of the creed as generally accepted. Clairvoyant investigation has modified these conclusions to some extent. 29 It has shown that there are three separate sources which we must take into account if we want to understand how the creeds grew to be what they are now. These are: (1) an ancient formula, explaining the descent into matter, given by Christ Himself to the Essenes; 30 (2) the rubric for the guidance of the hierophant in the Egyptian form of the first initiation; 31 and (3) the materializing tendency, which sought to bring the whole teaching down to the physical plane and to interpret it as relating to the biography of an individual.
Đây là lịch sử của tín điều như thường được chấp nhận. Cuộc khảo cứu bằng thông nhãn đã điều chỉnh các kết luận này ở một mức độ nào đó. 29 Nó cho thấy rằng có ba nguồn gốc riêng biệt mà chúng ta phải tính đến nếu muốn thấu hiểu cách các tín điều phát triển thành như hiện nay. Đó là: (1) một công thức cổ xưa, giải thích sự giáng xuống vào vật chất, do chính Đức Christ trao cho phái Essene; 30 (2) bản nghi thức hướng dẫn vị tư tế chủ lễ trong hình thức Ai Cập của lần điểm đạo thứ nhất; 31 và (3) khuynh hướng vật chất hóa, vốn tìm cách kéo toàn bộ giáo huấn xuống cõi hồng trần và diễn giải nó như liên quan đến tiểu sử của một cá nhân.
Let us consider each of these sources in a little more detail. Every religion in the world has some theory, some statement, as to how the world came into existence. In Christianity we have, unfortunately, very largely accepted the Jewish statement, which contains two contradictory versions. In the Book of Genesis we find one very elaborate statement which runs through the first chapter and up to the third verse of the second, and then another account begins, which does not agree with the first one at all. Neither of these is a clear or comprehensive statement, and each needs a great deal of explanation to make it agree in any way with our scientific knowledge. 32 It can, with a certain amount of latitude, be translated into some kind of symbol of the order in which things came forth from the Deity. The idea of creation in six days is, of course, sheer nonsense, and all the higher critics agree that those days were vast aeons. Even so, the statement given in the creed is a clearer and better one, if people would only see it; but, instead of accepting it, Christians have preferred to accept the Jewish idea.
Chúng ta hãy xem xét từng nguồn gốc này chi tiết hơn một chút. Mọi tôn giáo trên thế giới đều có một lý thuyết nào đó, một lời tuyên bố nào đó, về việc thế giới đã đi vào hiện hữu như thế nào. Trong Kitô giáo, đáng tiếc là chúng ta phần lớn đã chấp nhận lời tuyên bố Do Thái, vốn chứa hai phiên bản mâu thuẫn nhau. Trong Sách Sáng Thế, chúng ta thấy một lời tuyên bố rất công phu kéo dài suốt chương thứ nhất đến câu thứ ba của chương thứ hai, rồi sau đó một trình thuật khác bắt đầu, hoàn toàn không phù hợp với trình thuật thứ nhất. Cả hai trình thuật này đều không phải là một tuyên bố rõ ràng hay toàn diện, và mỗi trình thuật cần rất nhiều giải thích mới có thể phù hợp phần nào với tri thức khoa học của chúng ta. 32 Với một mức độ linh hoạt nào đó, nó có thể được dịch thành một loại biểu tượng về trật tự theo đó mọi sự xuất lộ từ Thượng đế. Ý tưởng sáng tạo trong sáu ngày, dĩ nhiên, là hoàn toàn vô nghĩa, và mọi nhà phê bình cao cấp đều đồng ý rằng những ngày ấy là các aeon bao la. Ngay cả như vậy, lời tuyên bố được đưa ra trong tín điều vẫn rõ ràng và tốt hơn, nếu người ta chịu thấy điều đó; nhưng thay vì chấp nhận nó, các Kitô hữu lại thích chấp nhận ý tưởng Do Thái.
The formula of cosmogenesis taught by Christ to His disciples was certainly the first source of our creed. I do not profess to be able to give the exact words used by the Christ, but merely a paraphrase of its meaning as enshrined in the hearts of those to whom it was taught. It runs as follows:
Công thức về vũ trụ khởi nguyên mà Đức Christ dạy cho các đệ tử của Ngài chắc chắn là nguồn gốc đầu tiên của tín điều chúng ta. Tôi không tự nhận mình có thể đưa ra đúng từng lời mà Đức Christ đã dùng, mà chỉ là một diễn ý về ý nghĩa của nó như được cất giữ trong trái tim những người được dạy. Công thức ấy như sau:
We believe in God the Father, from whom comes the system—yea, our world and all things therein, whether seen or unseen;
Chúng tôi tin kính Thượng đế là Cha, từ Ngài hệ thống phát sinh — vâng, thế giới của chúng ta và mọi vật trong đó, dù thấy được hay không thấy được;
And in God the Son, most holy, alone-born from his Father before all the aeons, not made but emanated, being of the very substance of the Father, true God from the true God, true Light from the true Light, by whom all forms were made; who for us men came down from heaven and entered the dense sea, yet riseth thence again in ever greater glory to a Kingdom without end;
Và tin kính Thượng đế là Con, chí thánh, duy nhất được sinh ra từ Cha của Ngài trước mọi aeon, không phải được tạo thành mà được phát xạ, thuộc chính chất liệu của Cha, Thượng đế chân thật từ Thượng đế chân thật, Ánh sáng chân thật từ Ánh sáng chân thật, nhờ Ngài mà mọi hình tướng được tạo thành; Đấng vì chúng ta là loài người đã từ trời xuống và đi vào biển đậm đặc, nhưng từ đó lại vươn lên trong vinh quang ngày càng lớn hơn đến một Vương quốc không cùng tận;
And in God the Holy Ghost, the Life-Giver, emanating also from the Father, equal with him and with the Son in glory; who manifested through his Angels.
Và tin kính Thượng đế là Chúa Thánh Thần, Đấng Ban Sự Sống, cũng phát xạ từ Cha, ngang hàng với Ngài và với Con trong vinh quang; Đấng đã biểu hiện qua các Thiên thần của Ngài.
We recognize one brotherhood of men as leading to the Greater Brotherhood above, one initiation for emancipation from the fetters of sin and for escape from the wheel of birth and death into eternal life.
Chúng tôi nhận biết một tình huynh đệ của nhân loại như dẫn đến Huynh Đệ Đoàn Vĩ Đại ở trên, một cuộc điểm đạo để giải thoát khỏi xiềng xích của tội lỗi và để thoát khỏi bánh xe sinh tử vào sự sống vĩnh cửu.
That is a very rough approximation to the original formula as it was given by the Christ—not to the general public, but to the Essenes, the community among whom Jesus was brought up.
Đó là một sự phỏng chừng rất thô sơ về công thức nguyên thủy như nó đã được Đức Christ trao — không phải cho công chúng nói chung, mà cho phái Essene, cộng đồng nơi Đức Jesus được nuôi dưỡng.
In considering the second source, we have to remember that in the Mysteries of ancient Egypt there was a very elaborate symbolical ritual in which the candidate for initiation was made to play the part of a mythical hero; he was put through a figurative death burial and resurrection, and was laid upon a wooden cross at one part of the ceremony. That is where the idea of the crucifixion of Christ took its rise. It is not historical, because the death of Jesus took place before the Romans occupied Judea, and crucifixion was a Roman, not a Jewish form, of punishment. 33 But the rubric for the guidance of the officiating hierophant in the Egyptian ritual became incorporated with our creed, though it had existed thousands and thousands of years before the time of the Christ. Jesus had visited Egypt and had been initiated there, so the Christ must have been entirely familiar with all these ideas, as were most of the Essenes whom He taught. It is very natural, therefore, that He should have used that rubric to illustrate the descent of the Logos in His Second Aspect into matter.
Khi xem xét nguồn gốc thứ hai, chúng ta phải nhớ rằng trong các Bí pháp của Ai Cập cổ đại có một nghi lễ biểu tượng rất công phu, trong đó ứng viên cho điểm đạo được khiến đóng vai một anh hùng thần thoại; y trải qua một cái chết, sự mai táng và phục sinh mang tính hình tượng, và trong một phần của nghi lễ, y được đặt trên một cây thập giá bằng gỗ. Đó là nơi ý tưởng về việc Đức Christ bị đóng đinh phát sinh. Nó không mang tính lịch sử, bởi vì cái chết của Đức Jesus diễn ra trước khi người La Mã chiếm đóng Judea, và đóng đinh là một hình thức trừng phạt của người La Mã, không phải của người Do Thái. 33 Nhưng bản nghi thức hướng dẫn vị tư tế chủ lễ trong nghi lễ Ai Cập đã được đưa vào tín điều của chúng ta, dù nó đã tồn tại hàng ngàn hàng vạn năm trước thời Đức Christ. Đức Jesus đã đến thăm Ai Cập và đã được điểm đạo ở đó, nên Đức Christ hẳn phải hoàn toàn quen thuộc với tất cả những ý tưởng này, cũng như phần lớn phái Essene mà Ngài đã dạy. Vì vậy, việc Ngài dùng bản nghi thức ấy để minh họa sự giáng xuống của Thượng đế Ngôi Lời trong Phương diện Thứ Hai của Ngài vào vật chất là điều rất tự nhiên.
The Materializing Tendency – Khuynh hướng vật chất hóa
Let us now examine the third source, the materializing tendency. At a very early period in the history of Christianity we find three schools or sections in the Church arising from different phases of the Christ’s life work. We read in the Gospels of His preaching to the people. We are in one passage given the impression that He did this for one year only, but in others we find the idea of three years. He did, as a matter of fact, teach for three years after He took possession of the body of the disciple Jesus at His Baptism by John the Baptist. 34 Two of these were devoted to teaching the higher philosophy to the community of the Essenes, these being already very highly spiritually trained people. This private teaching contained certain secret formulae which were never written down. Later on, when the original Essene community had been broken up, the different Gnostic sects alone represented something of the inner teaching given to the Essenes, though in many cases it was considerably influenced by Zoroastrian beliefs or by Assyrian and Babylonian teachings, so that we find various fragments of creeds very much mixed and often very confused and mutually contradictory.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét nguồn gốc thứ ba, khuynh hướng vật chất hóa. Vào một thời kỳ rất sớm trong lịch sử Kitô giáo, chúng ta thấy ba trường phái hay ba bộ phận trong Giáo hội phát sinh từ các giai đoạn khác nhau trong công việc đời sống của Đức Christ. Chúng ta đọc trong các sách Phúc Âm về việc Ngài giảng dạy cho dân chúng. Trong một đoạn, chúng ta có ấn tượng rằng Ngài chỉ làm điều này trong một năm, nhưng trong những đoạn khác, chúng ta thấy ý tưởng ba năm. Thật ra, Ngài đã dạy trong ba năm sau khi Ngài chiếm hữu thể xác của đệ tử Jesus tại Phép Rửa của y bởi Gioan Tẩy Giả. 34 Hai năm trong số đó được dành cho việc dạy triết học cao hơn cho cộng đồng Essene, những người vốn đã được huấn luyện tinh thần rất cao. Giáo huấn riêng tư này chứa một số công thức bí truyền chưa bao giờ được ghi chép lại. Về sau, khi cộng đồng Essene nguyên thủy đã tan rã, chỉ các giáo phái Ngộ đạo khác nhau mới đại diện cho một phần nào đó của giáo huấn bên trong được trao cho phái Essene, dù trong nhiều trường hợp nó chịu ảnh hưởng đáng kể bởi tín ngưỡng Zoroaster hoặc bởi các giáo huấn Assyria và Babylon, đến nỗi chúng ta thấy nhiều mảnh tín điều khác nhau bị pha trộn rất nhiều, thường rất rối rắm và mâu thuẫn lẫn nhau.
After his sojourn with the Essenes, the Christ, for one year, did as is related in the Gospels—He wandered about the country preaching to the people. During this time He seems to have delivered two distinct kinds of addresses, the first being the logia or “sayings,” a series of short sentences each containing an important truth or a rule of conduct, and the second, the paraklēteria or “words of comfort”—moved by the deep compassion he felt for the misery and degradation of the lower classes. The logia are mentioned in the Church Fathers. We find a number of them in the Gospels as they are now: “I am the light of the world” [John 8:12]; “judge not that ye be not judged” [Matt. 7:1]; “Whatever ye would that men should do unto you, do ye also unto them” [Matt. 7:12]; and so on. During the first two centuries after Christ’s death, many of His disciples seem to have made and written down collections of the sayings which were ascribed to Him by oral tradition.
Sau thời gian lưu trú với phái Essene, Đức Christ, trong một năm, đã làm như được thuật lại trong các sách Phúc Âm — Ngài đi khắp đất nước giảng dạy cho dân chúng. Trong thời gian này, dường như Ngài đã đưa ra hai loại diễn thuyết riêng biệt: loại thứ nhất là logia hay “những lời phán”, một loạt câu ngắn, mỗi câu chứa một chân lý quan trọng hoặc một quy luật ứng xử; và loại thứ hai là paraklēteria hay “những lời an ủi” — được thúc đẩy bởi lòng từ bi sâu xa mà Ngài cảm thấy trước cảnh khốn cùng và sự sa đọa của các tầng lớp thấp. Các logia được nhắc đến trong các Giáo phụ. Chúng ta thấy một số trong các sách Phúc Âm như hiện nay: “Ta là ánh sáng của thế gian” [Gioan 8:12]; “đừng xét đoán để các ngươi khỏi bị xét đoán” [Ma-thi-ơ 7:1]; “Bất cứ điều gì các ngươi muốn người ta làm cho mình, các ngươi cũng hãy làm cho họ như vậy” [Ma-thi-ơ 7:12]; và vân vân. Trong hai thế kỷ đầu sau cái chết của Đức Christ, nhiều đệ tử của Ngài dường như đã lập và ghi chép lại các bộ sưu tập những lời phán được truyền khẩu gán cho Ngài.
There was a great stir when Grenfell and Hunt, working in Egypt, found a portion of one of these collections. 35 Many of the sayings it contained were those which already exist in our Bible, but there were some new ones also of great power and beauty. An exceedingly graceful one runs: “Cleave the wood and there thou shalt find Me; Raise the stone and there am I.” This is a very beautiful statement of the omnipresence of the Deity, of the immanence of God. There was a large body of Christians who took these logia as their guide in life. These were quiet and respectable people who did not embroil themselves with the authorities or get into trouble but quietly and steadfastly tried to follow these teachings. They represented what might be called the moderate party of the Church.
Có một sự xôn xao lớn khi Grenfell và Hunt, làm việc ở Ai Cập, tìm thấy một phần của một trong những bộ sưu tập ấy. 35 Nhiều lời phán trong đó là những lời đã có trong Kinh Thánh của chúng ta, nhưng cũng có một số lời mới, đầy quyền năng và vẻ đẹp lớn lao. Một câu hết sức duyên dáng như sau: “Hãy chẻ gỗ, và ở đó ngươi sẽ tìm thấy Ta; hãy nhấc đá lên, và ở đó có Ta.” Đây là một tuyên bố rất đẹp về sự hiện diện khắp nơi của Thượng đế, về tính nội tại của Thượng đế. Có một nhóm đông Kitô hữu lấy các logia này làm kim chỉ nam trong đời sống. Họ là những người yên ổn và đáng kính, không gây rối với nhà cầm quyền hay vướng vào rắc rối, mà lặng lẽ và kiên định cố gắng noi theo các giáo huấn này. Họ đại diện cho điều có thể gọi là phe ôn hòa của Giáo hội.
The third section consisted of a turbulent and troublesome set of “poor men” whose only religion was a vague hope of revolution. Our Lord was profoundly impressed with the terrible oppression of the lower classes, with the slavery which was then universal, and with the degradation and the despair by which all these unfortunate people were overwhelmed, and it was in the endeavor to comfort and to help them that He uttered the paraklēteria or “words of comfort.” Again and again He told them that they must endure nobly unto the end, but He never advised rebellion. He said: “If you will but follow my teaching, out of your sufferings will certainly arise a better time both after death and in your future lives. Work hard, take courage; there will come a time when those who oppress you will suffer in their turn, and you who have been oppressed will rise into higher and happier condition.” As there was a great deal of human nature in the first century as well as in the twentieth, there is no wonder that comparatively soon the people to whom these addresses were given forgot the qualifications: “If you bear this nobly and well, if you live according to my teaching,” and they translated His words into a vague general idea of a good time coming. Most of them thought that the injustice under which they suffered was to be righted by savage retribution; they imagined a time when they would be the oppressors and those who now trampled them down would suffer at their hands.
Bộ phận thứ ba gồm một nhóm “người nghèo” náo động và gây rối, mà tôn giáo duy nhất của họ là một niềm hy vọng mơ hồ về cách mạng. Chúa chúng ta bị xúc động sâu xa trước sự áp bức khủng khiếp đối với các tầng lớp thấp, trước chế độ nô lệ khi ấy phổ biến khắp nơi, và trước sự sa đọa cùng tuyệt vọng đè nặng lên tất cả những con người bất hạnh này; và chính trong nỗ lực an ủi và giúp đỡ họ mà Ngài đã thốt ra các paraklēteria hay “những lời an ủi”. Hết lần này đến lần khác, Ngài bảo họ rằng họ phải chịu đựng một cách cao thượng cho đến cùng, nhưng Ngài không bao giờ khuyên nổi loạn. Ngài nói: “Nếu các ngươi chỉ cần noi theo giáo huấn của ta, thì từ những đau khổ của các ngươi chắc chắn sẽ phát sinh một thời kỳ tốt đẹp hơn, cả sau khi chết lẫn trong các đời sống tương lai của các ngươi. Hãy làm việc chăm chỉ, hãy can đảm; sẽ đến một thời khi những kẻ áp bức các ngươi sẽ đến lượt họ chịu đau khổ, và các ngươi, những người đã bị áp bức, sẽ vươn lên một tình trạng cao hơn và hạnh phúc hơn.” Vì trong thế kỷ thứ nhất cũng như trong thế kỷ hai mươi, bản chất con người vẫn rất nhiều, nên không có gì lạ khi chẳng bao lâu sau, những người được nghe các lời diễn thuyết này đã quên mất các điều kiện: “Nếu các ngươi chịu đựng điều này một cách cao thượng và tốt đẹp, nếu các ngươi sống theo giáo huấn của ta,” và họ đã chuyển lời Ngài thành một ý tưởng chung mơ hồ về một thời tốt đẹp sắp đến. Phần lớn họ nghĩ rằng sự bất công mà họ chịu đựng sẽ được sửa chữa bằng sự báo thù dữ dội; họ tưởng tượng một thời khi họ sẽ là kẻ áp bức, và những kẻ hiện đang chà đạp họ sẽ chịu đau khổ dưới tay họ.
This lower section of the early Christian Church become like David’s cave of Adullam in which all who were in distress, or in debt, or discontented, gathered together [1 Sam. 22:1; 2 Sam. 23:13; 1 Chron. 11:15]; in fact, there was a good deal of what we might call riffraff in that early Christian Church, and they very soon eliminated from their doctrine the condition of good living and simply banded together as believers in a good time coming when they would enter into possession of wealth and enjoyment of luxury. As this tendency developed they became imbued with all sorts of political and revolutionary ideas, and it was this great body of ignorant followers of Christ that made all the trouble between the early Church and the Roman government. I suppose there never was a more tolerant government in the world than that of Rome with regard to religious beliefs. It even went out of its way to take into account all the religions of all the people subject to it. For instance, as soon as it penetrated to the Roman authorities that Christ was being worshipped as a deity they promptly set up a statue to Him in the Pantheon. Most of them believed little themselves and they cared not at all what other people believed, but they were deeply concerned about what people did, and when the curious revolutionary beliefs of some of these early Christians led them to get athwart the government, they were at once suppressed with a heavy hand not because of what they believed but because of what they did or did not do.
Bộ phận thấp kém này của Giáo hội Kitô giáo sơ khai trở nên giống như hang A-đu-lam của Đa-vít, nơi tất cả những ai đang khốn cùng, mắc nợ, hoặc bất mãn đều tụ họp lại [1 Sam. 22:1; 2 Sam. 23:13; 1 Chron. 11:15]; thật vậy, trong Giáo hội Kitô giáo sơ khai ấy có khá nhiều hạng người mà ta có thể gọi là cặn bã, và họ rất sớm loại khỏi giáo lý của mình điều kiện sống thiện lành, rồi chỉ đơn giản kết hợp lại với nhau như những tín đồ tin vào một thời kỳ tốt đẹp sắp đến, khi họ sẽ được sở hữu của cải và hưởng thụ xa hoa. Khi khuynh hướng này phát triển, họ thấm nhiễm đủ loại ý tưởng chính trị và cách mạng, và chính khối đông đảo những người theo Đức Christ nhưng vô minh này đã gây ra mọi rắc rối giữa Giáo hội sơ khai và chính quyền La Mã. Tôi cho rằng trong thế gian chưa từng có một chính quyền nào khoan dung hơn chính quyền La Mã đối với các tín ngưỡng tôn giáo. Chính quyền ấy thậm chí còn chủ động lưu tâm đến mọi tôn giáo của tất cả các dân tộc chịu quyền mình. Chẳng hạn, ngay khi các nhà cầm quyền La Mã biết rằng Đức Christ đang được thờ phụng như một vị thần, họ lập tức dựng tượng Ngài trong Đền Pantheon. Phần lớn họ tự mình tin rất ít, và họ hoàn toàn không quan tâm người khác tin gì, nhưng họ hết sức quan tâm đến điều người ta làm; và khi những niềm tin cách mạng kỳ lạ của một số Kitô hữu sơ khai này khiến họ đi ngược lại chính quyền, họ lập tức bị đàn áp bằng bàn tay nặng nề, không phải vì điều họ tin, mà vì điều họ đã làm hoặc đã không làm.
As time went on, these ignorant people became jealous of the Gnostics and their higher teachings. They utterly decried the idea that it was necessary that any one should know more than they did. They took the attitude that the Christian teaching was revealed unto babes and regarded ignorance as practically a qualification for salvation. As Christianity spread and the Church gained a certain amount of influence, the respectable people who followed the logia and the “poor men” drew together and gradually united to form what was called the orthodox party. Being united in its distrust of the higher teachings of the Gnostics, this body found itself compelled to develop some sort of doctrinal system to offer instead of theirs. The formula given to the Essenes by Christ had by this time become known among them in various more or less perfect forms and accepted without much understanding as a creed; and, of course, some interpretation of it had to be produced to set up against the one propounded by the Gnostics. Then it was that they translated the great Mystery drama—that beautiful allegorical illustration of the descent into matter of the Second Person of the Trinity contained in the symbolic ritual of the Egyptian initiation—into the life story of a human being whom they identified with Jesus the Nazarene. Thus, through this materializing, it was made to mean something that had never before been thought of in connection with it. If we try to contain it all in the life history of a man it plainly will not fit; as a physical-plane story there are great gaps. It does not cohere; it is contradictory to the history of the time. No idea could have been more unfitting or misleading, yet one can understand its welcome by ignorant people as being more nearly within the grasp of their limited mental caliber than the magnificent breadth of the true interpretation.
Theo thời gian, những người vô minh này trở nên ganh tị với các nhà Ngộ đạo và những giáo huấn cao hơn của họ. Họ hoàn toàn bác bỏ ý tưởng rằng bất cứ ai cần phải biết nhiều hơn họ. Họ giữ thái độ cho rằng giáo huấn Kitô giáo được mặc khải cho trẻ thơ, và xem sự vô minh hầu như là một điều kiện để được cứu rỗi. Khi Kitô giáo lan rộng và Giáo hội đạt được một mức ảnh hưởng nào đó, những người đáng kính theo các logia và “những người nghèo” xích lại gần nhau và dần dần hợp nhất để hình thành cái được gọi là phái chính thống. Vì cùng hợp nhất trong sự ngờ vực đối với những giáo huấn cao hơn của các nhà Ngộ đạo, khối này thấy mình buộc phải phát triển một loại hệ thống giáo lý nào đó để đưa ra thay cho hệ thống của họ. Công thức mà Đức Christ đã trao cho phái Essene, vào thời điểm này, đã được biết đến trong họ dưới nhiều hình thức ít nhiều hoàn chỉnh và được chấp nhận, không mấy thấu hiểu, như một tín điều; và dĩ nhiên, phải tạo ra một cách diễn giải nào đó về nó để dựng lên đối lại với cách diễn giải do các nhà Ngộ đạo đề xuất. Chính khi ấy, họ đã chuyển vở kịch Huyền nhiệm vĩ đại—minh họa ẩn dụ đẹp đẽ về sự giáng hạ vào vật chất của Ngôi Hai trong Ba Ngôi, chứa đựng trong nghi lễ biểu tượng của cuộc điểm đạo Ai Cập—thành câu chuyện đời của một con người mà họ đồng hóa với Đức Jesus người Nazareth. Như vậy, qua sự vật chất hóa này, người ta khiến nó mang một ý nghĩa mà trước đó chưa từng ai nghĩ đến trong mối liên hệ với nó. Nếu chúng ta cố gói trọn tất cả vào lịch sử đời sống của một con người, rõ ràng nó sẽ không khớp; như một câu chuyện trên cõi hồng trần, nó có những khoảng trống lớn. Nó không kết nối mạch lạc; nó mâu thuẫn với lịch sử của thời kỳ ấy. Không ý tưởng nào có thể kém thích hợp hoặc gây lầm lạc hơn, tuy vậy người ta có thể hiểu vì sao những người vô minh lại đón nhận nó, bởi nó gần với tầm nắm bắt của năng lực trí tuệ hạn hẹp của họ hơn là tầm rộng lớn huy hoàng của cách diễn giải chân thật.
The slight additions necessary to engraft this theory upon the growing creed were easily made and, not very long after, fragmentary versions of it began to be made in writing. These early fragments are imperfect recollections of an oral tradition out of which eventually a very fair representation of the original was compiled and formally adopted by the Council of Nicaea. Thus we have seen that though the creed, as is generally believed, is a conglomeration gradually gathered together, the true genesis of the greater part of it is a very high one indeed, coming direct from Christ Himself. It is the materialistic quasi-historical corruption of the centuries which has obscured the magnificent truths it embodies. How these great truths are still mirrored even in what is left to us of the creeds I hope to show as we consider them clause by clause in the following chapters.
Những bổ sung nhỏ cần thiết để ghép lý thuyết này vào tín điều đang hình thành đã được thực hiện dễ dàng, và không lâu sau đó, các phiên bản rời rạc của nó bắt đầu được ghi thành văn. Những mảnh vụn sơ khai này là những hồi ức không hoàn chỉnh về một truyền thống truyền khẩu, từ đó cuối cùng người ta biên soạn được một bản trình bày khá đúng với nguyên bản và được Công đồng Nicaea chính thức chấp nhận. Như vậy, chúng ta đã thấy rằng dù tín điều, như người ta thường tin, là một khối pha tạp được dần dần gom góp lại, nguồn gốc chân thật của phần lớn nó quả thật rất cao cả, đến trực tiếp từ chính Đức Christ. Chính sự xuyên tạc duy vật, gần như lịch sử, qua nhiều thế kỷ đã che khuất những chân lý huy hoàng mà nó hàm chứa. Tôi hy vọng sẽ chỉ ra cách những chân lý vĩ đại này vẫn còn được phản chiếu ngay cả trong những gì còn lại cho chúng ta từ các tín điều, khi chúng ta xem xét chúng từng mệnh đề một trong các chương sau.
11 – 11
The Father Almighty – Đức Cha Toàn Năng
The Nicene Creed begins, “I believe in one God the Father Almighty, Maker of heaven and earth, and of all things visible and invisible.”
Tín điều Nicaea bắt đầu: “Tôi tin kính một Thượng đế duy nhất, Đức Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng trời và đất, cùng muôn vật hữu hình và vô hình.”
Now when we think of God the Father, it seems to me that we have three ideas simultaneously in mind.
Giờ đây, khi nghĩ về Thượng đế là Đức Cha, theo tôi dường như chúng ta đồng thời có ba ý tưởng trong trí.
1. God in the abstract—the all-pervading, all-embracing;
1. Thượng đế trong nghĩa trừu tượng—Đấng thấm nhuần tất cả, bao trùm tất cả;
2. God the Father as the First Person of the Blessed Trinity;
2. Thượng đế là Đức Cha với tư cách Ngôi Một của Ba Ngôi Chân Phúc;
3. God as the protector and father of His people.
3. Thượng đế là Đấng bảo hộ và là Cha của dân Ngài.
All our ideas connected with the Deity are exceedingly vague. In one sense, of course, they must be, because God is far above, out of our sight and our comprehension. And yet at the same time that they are vague and usually quite unphilosophical, they are often also altogether too anthropomorphic. There are many among us who still believe in a God who is a Providence, who is prepared to interfere with the action of his own laws at our request. That is no doubt a comforting theory for those who wish to feel they have the Deity on their side in personal difficulties, but it is scarcely a dignified or philosophical conception. All these limited and material ideas of the Deity are largely due to our inheritance of the Jewish traditions of the Old Testament. There is no doubt whatever that the Jewish Jehovah was a tribal deity—one among many, constantly asserting that he is superior to the other gods; constantly jealous and fearful lest any of his people should abandon him in order to attach themselves to some other. There are many statements in the Bible which clearly prove this. For example, there is a very striking statement in the first chapter of the Book of Judges in which it is said that the Lord was with Judah and he prospered mightily and he drove out all the inhabitants of the mountains, but he could not drive out the inhabitants of the valley because they had chariots of iron [Judges 1:19]—a text that very fairly shows that we are not dealing with a supreme and infinite God but with a tribal deity distinctly limited in power.
Mọi ý tưởng của chúng ta liên quan đến Thượng đế đều hết sức mơ hồ. Theo một nghĩa, dĩ nhiên chúng phải như vậy, vì Thượng đế ở rất cao, ngoài tầm nhìn và ngoài sự lĩnh hội của chúng ta. Thế nhưng, đồng thời với việc chúng mơ hồ và thường khá thiếu tính triết học, chúng cũng thường hoàn toàn quá nhân hình hóa. Trong chúng ta còn có nhiều người vẫn tin vào một Thượng đế như một Đấng Quan Phòng, sẵn sàng can thiệp vào sự vận hành của chính các định luật của Ngài theo lời cầu xin của chúng ta. Điều đó chắc chắn là một lý thuyết an ủi cho những ai muốn cảm thấy mình có Thượng đế đứng về phía họ trong các khó khăn cá nhân, nhưng đó khó có thể là một quan niệm trang nghiêm hay có tính triết học. Tất cả những ý tưởng hạn hẹp và vật chất này về Thượng đế phần lớn là do di sản của chúng ta từ các truyền thống Do Thái trong Cựu Ước. Không nghi ngờ gì nữa, Jehovah của người Do Thái là một vị thần bộ tộc—một vị trong số nhiều vị, luôn khẳng định rằng mình vượt trội hơn các thần khác; luôn ghen tuông và lo sợ rằng bất cứ ai trong dân mình có thể bỏ mình để gắn bó với một vị khác. Có nhiều phát biểu trong Kinh Thánh chứng minh rõ điều này. Chẳng hạn, có một phát biểu rất đáng chú ý trong chương đầu của Sách Các Quan Xét, trong đó nói rằng Chúa ở cùng Giu-đa và người đã thịnh đạt mạnh mẽ, đuổi được tất cả cư dân miền núi, nhưng người không thể đuổi cư dân vùng thung lũng vì họ có chiến xa bằng sắt [Judges 1:19]—một đoạn văn cho thấy khá rõ rằng chúng ta không đang đề cập đến một Thượng đế tối cao và vô hạn, mà là một vị thần bộ tộc có quyền năng bị giới hạn rõ rệt.
Later on, the power of the infinite and all-embracing Deity was grafted on to these earlier and cruder conceptions. Some of the prophets undoubtedly had glimpses of this grander creed, and when they were carried away to Babylon in captivity they met, probably for the first time, with a great philosophical and civilized religion. 36 I know that there are texts alleged to be of earlier date than the Captivity which can be interpreted in this way; but we have to remember that all the sacred books were written down from memory after their return from that captivity, so they may very well have been tinged with Chaldean thought. Many of our churches still adopt very primitive statements about God and thereby involve themselves in the most extraordinary inconsistencies.
Về sau, quyền năng của Thượng đế vô hạn và bao trùm tất cả được ghép vào những quan niệm sớm hơn và thô sơ hơn này. Một số nhà tiên tri chắc chắn đã thoáng thấy tín điều cao cả hơn ấy, và khi bị bắt đem sang Babylon làm tù nhân, có lẽ lần đầu tiên họ tiếp xúc với một tôn giáo lớn, có tính triết học và văn minh. 36 Tôi biết có những đoạn văn được cho là có niên đại sớm hơn thời Lưu Đày có thể được diễn giải theo cách này; nhưng chúng ta phải nhớ rằng tất cả các sách thiêng liêng đều được ghi lại từ ký ức sau khi họ trở về từ cuộc lưu đày ấy, vì thế rất có thể chúng đã nhuốm màu tư tưởng Chaldea. Nhiều giáo hội của chúng ta vẫn còn chấp nhận những phát biểu rất sơ khai về Thượng đế, và do đó tự cuốn mình vào những mâu thuẫn hết sức lạ thường.
The Logos of Our Solar System – Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta
Of the Absolute, the Infinite, we can postulate nothing but that He is. Within Him are millions of solar systems, probably other universes beyond those which we can see; and, even though in Him we live and move and have our being, our connection or relation with Him must be on so high a plane that it can mean but little to us. For all practical purposes, He is represented to us by one who is in very truth a part of Him—though even that word is a misconception and a materialization. He is represented by what is sometimes called the Logos of the solar system, or the Solar Deity. This solar system of ours is a partial expression of Him. All the physical matter contained in it is His physical body; its astral matter is His astral body and so on. We accept the pantheistic idea that all that is, is God, but we go far beyond it because we say that He is also transcendent, that He has a great and magnificent life above and beyond the manifestation in system. As an ancient Indian scripture expresses it: “Having created this universe with one fragment of myself, I remain.”
Về Đấng Tuyệt Đối, Đấng Vô Hạn, chúng ta không thể giả định điều gì ngoài việc Ngài hiện hữu. Trong Ngài có hàng triệu hệ mặt trời, có lẽ có những vũ trụ khác vượt ngoài những gì chúng ta có thể thấy; và, dù trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và có hiện tồn của mình, mối liên hệ hay tương quan của chúng ta với Ngài hẳn phải ở trên một cõi cao đến nỗi nó chỉ có thể có rất ít ý nghĩa đối với chúng ta. Đối với mọi mục đích thực tiễn, Ngài được đại diện cho chúng ta bởi một Đấng thật sự là một phần của Ngài—dù ngay cả từ ấy cũng là một ngộ nhận và một sự vật chất hóa. Ngài được đại diện bởi điều đôi khi được gọi là Thượng Đế của hệ mặt trời, hay Thái Dương Thượng Đế. hệ mặt trời này của chúng ta là một biểu hiện bộ phận của Ngài. Tất cả vật chất hồng trần chứa trong đó là thể xác của Ngài; vật chất cảm dục của nó là thể cảm dục của Ngài, và cứ như thế. Chúng ta chấp nhận ý tưởng phiếm thần rằng tất cả những gì hiện hữu đều là Thượng đế, nhưng chúng ta còn đi xa hơn nhiều, vì chúng ta nói rằng Ngài cũng siêu việt, rằng Ngài có một đời sống vĩ đại và huy hoàng ở trên và vượt ngoài sự biểu hiện trong hệ thống. Như một kinh điển Ấn Độ cổ xưa diễn tả: “Sau khi tạo ra vũ trụ này bằng một mảnh của chính mình, Ta vẫn còn.”
We have seen that this Solar Deity is spoken of in all religions as triune; in the Christian religion, the First Person is called God the Father. It is He who is the Great Architect of the system, for His thought creates the intelligible world of the Greeks, that is to say, the thought-form into which the matter of the system is built. From Him, of Him, part of Him, are the Monads or the eternal Spirit in man. From Him all came forth, and into Him all that came forth must one day return.
Chúng ta đã thấy rằng Thái Dương Thượng Đế này được nói đến trong mọi tôn giáo như là tam vị; trong tôn giáo Kitô giáo, Ngôi Một được gọi là Thượng đế Đức Cha. Chính Ngài là Kiến Trúc Sư Vĩ Đại của hệ thống, vì tư tưởng của Ngài tạo nên thế giới khả tri của người Hy Lạp, tức là hình tư tưởng mà vật chất của hệ thống được xây dựng vào trong đó. Từ Ngài, thuộc về Ngài, là một phần của Ngài, là các chân thần hay Tinh thần vĩnh cửu trong con người. Từ Ngài tất cả đã xuất lộ, và vào trong Ngài tất cả những gì đã xuất lộ một ngày kia phải trở về.
Thirdly, there is the thought of God as the father and protector of His people. In spite of all the sorrow and suffering which we see, in spite of the terrible catastrophes which happen, all things really are working together for good; so that the idea of God as a loving father, which Christ puts before us, is one that we may reasonably accept. It cannot always be justified if we see and judge only upon the physical plane—the lowest part of His manifestation; but as soon as one develops the higher sight and is able to look down from above one finds that all the evidence points to a benevolent Deity; and one realizes that for the soul of man all is always going well.
Thứ ba, có tư tưởng về Thượng đế như người cha và Đấng bảo hộ của dân Ngài. Bất chấp mọi sầu khổ và đau đớn mà chúng ta thấy, bất chấp những tai họa khủng khiếp xảy ra, tất cả mọi sự thật sự đang cùng hoạt động vì điều thiện; vì thế, ý tưởng về Thượng đế như một người cha đầy tình thương, mà Đức Christ đặt trước chúng ta, là điều chúng ta có thể chấp nhận một cách hợp lý. Điều đó không phải lúc nào cũng có thể được biện minh nếu chúng ta chỉ thấy và phán xét trên cõi hồng trần—phần thấp nhất trong sự biểu hiện của Ngài; nhưng ngay khi một người phát triển thị giác cao hơn và có thể nhìn xuống từ trên cao, y thấy rằng mọi bằng chứng đều chỉ về một Thượng đế nhân từ; và y nhận ra rằng đối với linh hồn con người, mọi sự luôn luôn diễn tiến tốt đẹp.
“Maker of Heaven and Earth” – “Đấng tạo dựng Trời và Đất”
In the Apostles’ Creed this evidently refers to the Logos of our solar system. The Nicaean symbol, 37 taking a wider range, is cast into a form equally applicable to the First Cause of all, and so it speaks of the One God, maker not only of heaven and earth, but of all things visible and invisible . The idea of “heaven and earth” seems to be a corruption of that more clearly expressed in the formula in which the Christ indicates that the Logos called into existence “the scheme or system” [our solar system] “yea, our world and all things therein, whether seen or unseen.”
Trong Tín điều Các Sứ Đồ, điều này hiển nhiên chỉ Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta. Biểu tượng Nicaea, 37 với tầm bao quát rộng hơn, được đặt vào một hình thức có thể áp dụng ngang nhau cho Nguyên Nhân Đầu Tiên của tất cả, và vì vậy nó nói về một Thượng đế duy nhất, Đấng tạo dựng không chỉ trời và đất, mà còn mọi vật hữu hình và vô hình. Ý tưởng “trời và đất” dường như là một sự sai lệch của điều được diễn tả rõ ràng hơn trong công thức, trong đó Đức Christ chỉ ra rằng Thượng Đế đã gọi vào hiện hữu “hệ hành tinh hay hệ thống” [hệ mặt trời của chúng ta] “vâng, thế giới của chúng ta và mọi vật trong đó, dù được thấy hay không được thấy.”
There is a common misconception associated with the word “heaven.” It is derived from heven, meaning “that which is heaved or raised up.” Great confusion has arisen in consequence of its use in two totally distinct senses—first, the physical sky, the clouds, the sun, and stars; secondly, the nonphysical, glorified state of bliss which is the portion of man after his astral life is over. The heads of the Essene community were already in possession of fragments of more or less accurate information with regard to the origin of all things. Their knowledge of Chaldean and Egyptian astronomy undoubtedly enabled them to identify the planets of our system and the fixed stars which are the suns of other systems, and they would therefore appreciate the exact meaning of the teaching of the Christ.
Có một quan niệm sai lầm phổ biến gắn với từ “trời.” Nó bắt nguồn từ heven, nghĩa là “điều được nâng lên hay đưa lên cao.” Sự lẫn lộn lớn đã phát sinh do việc sử dụng nó theo hai nghĩa hoàn toàn khác nhau—thứ nhất, bầu trời hồng trần, mây, mặt trời và các vì sao; thứ hai, trạng thái chí phúc phi hồng trần và được tôn vinh, vốn là phần của con người sau khi đời sống cảm dục của y kết thúc. Những người đứng đầu cộng đồng Essene đã có trong tay các mảnh thông tin ít nhiều chính xác về nguồn gốc của mọi sự. Tri thức của họ về thiên văn học Chaldea và Ai Cập chắc chắn đã cho phép họ nhận diện các hành tinh trong hệ thống của chúng ta và các định tinh vốn là những mặt trời của các hệ thống khác, và do đó họ sẽ đánh giá đúng ý nghĩa chính xác của giáo huấn của Đức Christ.
The ignorant section of the Church would naturally blunder here and place thousands of solar systems under the control of one Logos. Later still, the yet more uncomprehending theologian imported the concept of the post mortem home of bliss—a physical location in space from which the majority of men are to be excluded—and so all knowledge of the original meaning disappeared.
Bộ phận vô minh của Giáo hội tự nhiên sẽ phạm sai lầm ở đây và đặt hàng ngàn hệ mặt trời dưới quyền kiểm soát của một Thượng Đế. Về sau nữa, nhà thần học còn kém thấu hiểu hơn đã đưa vào khái niệm về quê hương chí phúc sau khi chết—một địa điểm hồng trần trong không gian mà đa số con người sẽ bị loại trừ khỏi đó—và như vậy mọi tri thức về ý nghĩa nguyên thủy đã biến mất.
12 – 12
THE SON – ĐỨC CON
There are three separate ideas involved in the words of the Apostles’ Creed: “In Jesus Christ his only Son, our Lord.” The average Christian, hearing the simple formula which ends almost every prayer—“through Jesus Christ, our Lord”—thinks of one Person who is both God and man. He regards Jesus as God in the same sense as the Father. To the student of occultism, however, that phrase conveys three separate ideas; first, Jesus the disciple, who was not a great adept, though a very holy and beautiful character; secondly, the Christ, the great World Teacher; and thirdly, Our Lord, that is to say, the Second Person of the ever-Blessed Trinity. We shall try to explain how these three ideas are connected, and how closely they are linked.
Có ba ý tưởng riêng biệt hàm chứa trong những lời của Tín điều Các Sứ Đồ: “Và trong Đức Jesus Christ, Con Một của Ngài, Chúa chúng ta.” Người Kitô hữu trung bình, khi nghe công thức đơn giản kết thúc hầu như mọi lời cầu nguyện—“nhờ Đức Jesus Christ, Chúa chúng ta”—nghĩ đến một Ngôi Vị vừa là Thượng đế vừa là con người. Y xem Đức Jesus là Thượng đế theo cùng nghĩa như Đức Cha. Tuy nhiên, đối với đạo sinh huyền bí học, cụm từ ấy truyền đạt ba ý tưởng riêng biệt; thứ nhất, Đức Jesus người đệ tử, không phải là một chân sư vĩ đại, dù là một Tính cách rất thánh thiện và đẹp đẽ; thứ hai, Đức Christ, Đức Chưởng Giáo vĩ đại; và thứ ba, Chúa chúng ta, tức là Ngôi Hai của Ba Ngôi hằng Chân Phúc. Chúng ta sẽ cố gắng giải thích ba ý tưởng này liên hệ với nhau như thế nào, và chúng được nối kết mật thiết ra sao.
First, as regards Jesus, the great disciple. To make his position intelligible, we have to understand that Christ is the World Teacher, a great official of the Hierarchy of Adepts which rules the world on behalf of the Solar Deity. We know that God manifests at many levels, that while there is undoubtedly the one supreme, eternal, all-embracing Deity of whom we know nothing but that He is , the representative of that Deity, with whom we come into contact, is the Logos or Deity of our solar system, who within Himself is three Persons just as is the Ultimate, the Absolute, the Highest above all.
Trước hết, về Đức Jesus, vị đệ tử vĩ đại. Để làm cho vị trí của Ngài dễ hiểu, chúng ta phải thấu hiểu rằng Đức Christ là Đức Chưởng Giáo, một chức vị lớn trong Thánh Đoàn các Chân sư đang cai quản thế giới thay mặt cho Thái Dương Thượng Đế. Chúng ta biết rằng Thượng đế biểu hiện ở nhiều cấp độ, rằng trong khi chắc chắn có một Thượng đế duy nhất, tối cao, vĩnh cửu, bao trùm tất cả, về Ngài chúng ta không biết gì ngoài việc Ngài hiện hữu, thì vị đại diện của Thượng đế ấy, Đấng mà chúng ta tiếp xúc, là Thượng Đế hay Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta, Đấng trong chính Ngài là ba Ngôi Vị, cũng như Đấng Tối Hậu, Đấng Tuyệt Đối, Đấng Cao Nhất trên tất cả.
The Deity of the solar system is represented in each planet by the spiritual king of that world. That spiritual king has his ministers like an earthly king, and under him, in charge of different departments of the work, are great saints, adepts, and Masters. One of the most important of those departments is that of the World Teacher, who comes not to preach one particular faith, but to provide the world with religions. All religions are different presentations of one eternal truth. Truth is one, but it is many-sided; it has many facets, and it is not possible that one man or one set of men should possess the truth in its entirety. It is noteworthy that when we speak of the Ancient Wisdom (which is the truth behind all religions) to Christians, they say: “You are giving us something of Hinduism, something of Buddhism”; and if we preach that same great truth to the Buddhists they say: “But surely you are trying to Christianize us.” That every great religion is part of the central truth that lies behind them all is shown by the fact that each person takes what is new to him as though it belonged to some other religion. He often thinks that we are trying to seduce him from his own religion, instead of trying to explain to him its inner meaning.
Thượng đế của hệ mặt trời được đại diện trên mỗi hành tinh bởi vị vua tinh thần của thế giới ấy. Vị vua tinh thần ấy có các thừa tác viên của mình như một vị vua trần thế, và dưới quyền Ngài, phụ trách các ngành khác nhau của công việc, là các thánh nhân vĩ đại, các chân sư và các Chân sư. Một trong những ngành quan trọng nhất là ngành của Đức Chưởng Giáo, Đấng đến không phải để rao giảng một tín ngưỡng đặc thù, mà để cung cấp cho thế giới các tôn giáo. Mọi tôn giáo đều là những cách trình bày khác nhau của một chân lý vĩnh cửu duy nhất. Chân lý là một, nhưng nó có nhiều mặt; nó có nhiều diện, và không thể nào một người hay một nhóm người lại sở hữu chân lý trong toàn thể của nó. Điều đáng chú ý là khi chúng ta nói về Minh Triết Cổ Xưa, tức là chân lý đứng sau mọi tôn giáo, với các Kitô hữu, họ nói: “Các bạn đang trao cho chúng tôi một chút Ấn giáo, một chút Phật giáo”; và nếu chúng ta rao giảng cùng chân lý vĩ đại ấy cho các Phật tử, họ nói: “Nhưng chắc chắn các bạn đang cố Kitô giáo hóa chúng tôi.” Việc mỗi tôn giáo lớn là một phần của chân lý trung tâm nằm sau tất cả chúng được chứng tỏ bởi sự kiện mỗi người xem điều mới đối với mình như thể nó thuộc về một tôn giáo nào khác. Y thường nghĩ rằng chúng ta đang cố dụ dỗ y rời khỏi tôn giáo của chính mình, thay vì cố giải thích cho y ý nghĩa bên trong của tôn giáo ấy.
The World Teacher – Đức Chưởng Giáo
The great World Teacher might be described as the minister for religion and education. His mission is not to preach one particular faith but to present the one eternal truth in different forms at different periods and to men at different stages of development, so that it may be assimilable by all of them. The mistake that many make with regard to religion is to seek for, and emphasize, the difference between their particular presentation and that which has been given to some other nation or set of people, instead of trying to find the common ground which lies beneath the points on which all religions agree and then endeavoring to harmonize the minor points on which they differ. It is true that they differ in name, in externals, in various superficial matters, but the important part of every religion is the teaching by which its people live. They may present different methods of attaining the highest, but they all agree as to the sort of life a man ought to live. If we, as good Christians, compare the teaching that is given to us, not with the outer forms of worship but with the ethics of Hinduism or Buddhism, we shall find that the good Hindu or the good Buddhist is living precisely as we live; that he also recognizes that love and kindliness and fraternity and honor and decency are qualities that the good man must possess, and that he agrees that the bad man is the one who is selfish, who rides roughshod over all, who is unkind, unloving, unfraternal, who steals, who murders, and ill-treats his fellowmen. All religions alike agree on those points because they all come from one great Teacher. He has already appeared under many different forms, because when the world needs Him He either comes himself and teaches it afresh or else He sends one of His disciples to preach new forms of the one eternal faith.
Đức Chưởng Giáo vĩ đại có thể được mô tả như vị thừa tác viên về tôn giáo và giáo dục. Sứ mệnh của Ngài không phải là rao giảng một tín ngưỡng đặc thù, mà là trình bày chân lý vĩnh cửu duy nhất dưới những hình thức khác nhau vào những thời kỳ khác nhau và cho con người ở những giai đoạn phát triển khác nhau, để tất cả họ đều có thể đồng hóa được nó. Sai lầm mà nhiều người mắc phải đối với tôn giáo là tìm kiếm và nhấn mạnh sự khác biệt giữa cách trình bày đặc thù của họ và cách đã được trao cho một dân tộc hay một nhóm người khác, thay vì cố tìm nền tảng chung nằm bên dưới những điểm mà mọi tôn giáo đều đồng ý, rồi nỗ lực hòa hợp những điểm phụ mà chúng khác nhau. Đúng là chúng khác nhau về tên gọi, về hình thức bên ngoài, về nhiều vấn đề bề mặt, nhưng phần quan trọng của mọi tôn giáo là giáo huấn mà nhờ đó người dân của nó sống. Chúng có thể trình bày các phương pháp khác nhau để đạt đến điều cao nhất, nhưng tất cả đều đồng ý về kiểu đời sống mà một con người phải sống. Nếu chúng ta, với tư cách những Kitô hữu tốt, so sánh giáo huấn được trao cho chúng ta, không phải với các hình thức thờ phụng bên ngoài mà với đạo đức học của Ấn giáo hay Phật giáo, chúng ta sẽ thấy rằng người Ấn giáo tốt hay người Phật tử tốt sống đúng như chúng ta sống; rằng y cũng công nhận tình thương, lòng nhân ái, tình huynh đệ, danh dự và sự đứng đắn là những phẩm tính mà người tốt phải có, và y đồng ý rằng người xấu là kẻ ích kỷ, chà đạp lên tất cả, thiếu lòng nhân ái, thiếu tình thương, thiếu tình huynh đệ, kẻ trộm cắp, giết người và ngược đãi đồng loại. Mọi tôn giáo đều đồng ý như nhau về những điểm ấy, vì tất cả đều đến từ một Huấn sư vĩ đại duy nhất. Ngài đã xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, bởi khi thế giới cần Ngài, hoặc chính Ngài đến và dạy lại nó từ đầu, hoặc Ngài gửi một trong các đệ tử của Ngài đến rao giảng những hình thức mới của tín ngưỡng vĩnh cửu duy nhất.
That, then, is the conception of the Christ held by the occult student. He is a mighty Teacher who looks after not one but all the religions of the world and makes a new statement of the truth whenever He thinks that the world needs one. All religions decline somewhat as time goes on. They are taught first by the great Teacher Himself, who knows that of which He speaks. Round Him He usually draws a set of disciples who know also that of which they speak at first hand, but soon these are followed by a generation that does not know, that has to rely on that which has been said or written. Then there begin to be various traditions and slightly different presentations of the truth until, by the time a religion has existed for a thousand years or so, it has gradually become overlaid by error and distortion. Thus in Christianity we have a great number of different sects all professing to give the genuine teaching of the Christ. No doubt they each contain one or two points, but only by taking them all together, not any one of them alone, are we likely to arrive at the real truth of what Christ wished His people to believe and to do.
Vậy đó là quan niệm về Đức Christ mà đạo sinh huyền bí nắm giữ. Ngài là một Huấn sư hùng mạnh, chăm lo không phải một mà tất cả các tôn giáo của thế giới, và đưa ra một phát biểu mới về chân lý bất cứ khi nào Ngài nghĩ rằng thế giới cần điều đó. Mọi tôn giáo đều suy giảm phần nào khi thời gian trôi qua. Ban đầu chúng được giảng dạy bởi chính Huấn sư vĩ đại, Đấng biết điều Ngài nói. Quanh Ngài, Ngài thường thu hút một nhóm đệ tử cũng biết điều họ nói từ kinh nghiệm trực tiếp, nhưng chẳng bao lâu sau họ được tiếp nối bởi một thế hệ không biết, phải dựa vào điều đã được nói hoặc được viết. Rồi bắt đầu có nhiều truyền thống khác nhau và những cách trình bày chân lý hơi khác biệt, cho đến khi một tôn giáo đã tồn tại khoảng một ngàn năm, nó dần dần bị phủ lấp bởi sai lầm và bóp méo. Như vậy, trong Kitô giáo chúng ta có rất nhiều giáo phái khác nhau, tất cả đều tuyên bố đưa ra giáo huấn chân chính của Đức Christ. Chắc chắn mỗi giáo phái trong số đó chứa một hay hai điểm, nhưng chỉ bằng cách lấy tất cả chúng lại với nhau, chứ không phải bất cứ một giáo phái nào riêng lẻ, chúng ta mới có khả năng đi đến chân lý thật sự về điều Đức Christ muốn dân Ngài tin và làm.
This great World Teacher is known and spoken of, and His coming is expected, in other religions besides our own. The Buddhists believe in the coming Lord Maitreya Buddha; those who have lived in Buddhist countries know that this future Teacher is represented as quite different from the Lord Gautama Buddha, the Teacher of the past. The Lord Gautama Buddha is represented as an oriental, sitting cross-legged and often with a dark skin. The Lord Maitreya, the coming Teacher, is always depicted as a white man, seated like a European. The great Kalki Avatara is also expected in India. In Mohammedan countries the people believe that the Imam Mahdi is to come and restate the truth for them, and they say that he will come soon. Those who are old enough can remember that a great deal of fighting took place some years ago in the Sudan in central Africa because there arose a man who claimed to be the great Teacher and gave himself the title Mahdi, and consequently thousands of tribesmen followed him. 38 He was a pretender, but the true Imam Mahdi will come some day, and he is identical with the Lord Christ whom Christians expect.
Đức Chưởng Giáo vĩ đại này được biết đến, được nói đến, và sự giáng lâm của Ngài được mong đợi trong các tôn giáo khác ngoài tôn giáo của chúng ta. Các Phật tử tin vào sự giáng lâm của Đức Chúa Maitreya Buddha; những ai đã sống trong các quốc gia Phật giáo đều biết rằng vị Huấn sư tương lai này được trình bày như hoàn toàn khác với Đức Chúa Gautama Buddha, Huấn sư của quá khứ. Đức Chúa Gautama Buddha được trình bày như một người phương Đông, ngồi kiết già và thường có làn da sẫm. Đức Chúa Maitreya, vị Huấn sư đang đến, luôn được miêu tả như một người da trắng, ngồi theo kiểu châu Âu. Đấng Hoá Thân Kalki vĩ đại cũng được mong đợi tại Ấn Độ. Ở các quốc gia Hồi giáo, người dân tin rằng Imam Mahdi sẽ đến và trình bày lại chân lý cho họ, và họ nói rằng Ngài sẽ đến sớm. Những người đủ lớn tuổi có thể nhớ rằng nhiều cuộc giao tranh đã diễn ra cách đây vài năm tại Sudan ở miền trung châu Phi, vì đã xuất hiện một người tự xưng là Huấn sư vĩ đại và tự trao cho mình danh hiệu Mahdi, và do đó hàng ngàn người bộ tộc đã theo ông. 38 Ông là kẻ giả mạo, nhưng Imam Mahdi chân thật một ngày kia sẽ đến, và Ngài đồng nhất với Đức Chúa Christ mà các Kitô hữu mong đợi.
All religions deteriorate and become more or less corrupted as time goes on, until there comes a time when a religion is so far entangled with merely human ideas, when it is so far removed from the simplicity of the original doctrine, that it becomes of little use except to the few who can see behind the accretions and get back to its original purity. When a religion is at that stage, the World Teacher comes forth again and gives a new presentation adapted to the new conditions and to the new set of people. This will assuredly happen in the case of our religion also. We have made so great an advance in science and general knowledge that the presentation that was suitable for the Jews in Palestine two thousand years needs some restatement in order to be fit for us. A far wider view of the truth could be put before us now, one which would have been quite incomprehensible to them.
Mọi tôn giáo đều suy thoái và trở nên ít nhiều bị hư hoại khi thời gian trôi qua, cho đến khi đến một lúc tôn giáo ấy bị vướng mắc quá sâu vào những ý tưởng thuần túy nhân loại, khi nó xa rời quá nhiều khỏi sự giản dị của giáo lý nguyên thủy, đến nỗi nó chẳng còn ích lợi bao nhiêu, ngoại trừ đối với số ít người có thể nhìn ra phía sau những lớp bồi đắp và trở về với sự tinh khiết nguyên thủy của nó. Khi một tôn giáo ở giai đoạn ấy, Đức Chưởng Giáo lại xuất hiện và trao một cách trình bày mới, thích ứng với các điều kiện mới và với nhóm người mới. Điều này chắc chắn cũng sẽ xảy ra trong trường hợp tôn giáo của chúng ta. Chúng ta đã tiến bộ rất nhiều trong khoa học và tri thức tổng quát, đến nỗi cách trình bày vốn phù hợp với người Do Thái ở Palestine hai ngàn năm trước cần được phát biểu lại phần nào để thích hợp với chúng ta. Giờ đây có thể đặt trước chúng ta một cái nhìn rộng lớn hơn nhiều về chân lý, một cái nhìn mà đối với họ hẳn đã hoàn toàn không thể hiểu nổi.
Jesus the Disciple – Đức Jesus người Đệ tử
When the World Teacher comes to earth, He cannot afford to waste time. It is not only when He comes to earth and founds a religion that He is doing the work of His office. At all times He is directing the world’s great religions and inspiring every man who lays himself open to His influence. He has hundreds, nay, thousands of servants working for Him—great angels, and great men both living and dead. He has His hands always more than full of work, and when He abandons for a time the higher level at which He usually works in order that He may descend to earth to make a restatement of religion, He does not want to spend more time in doing that than is absolutely necessary. Consequently, it is very rarely that He takes a body in the ordinary sense of the word. It takes too long a time to be born, to enter into the body of a little baby and live through the time during which that body is growing up and being trained; it would be no use to Him until it was old enough to go forth to preach and teach. Therefore the usual plan is that a great Teacher coming to earth takes the body of one of His disciples. The pupil is more than glad to lend it to the Teacher; he is full of reverence and delight at the honor that is done to him. In such a case the disciple may have to leave the body permanently, or he may stand by and take it again whenever the Christ is not using it; it matters little to him, for he feels it the greatest of honors that he can help in the mighty work.
Khi Đức Chưởng Giáo đến Trái Đất, Ngài không thể lãng phí thời gian. Không phải chỉ khi Ngài đến Trái Đất và sáng lập một tôn giáo thì Ngài mới làm công việc thuộc chức vụ của Ngài. Lúc nào Ngài cũng đang hướng dẫn các tôn giáo lớn của thế giới và truyền cảm hứng cho mọi người biết mở mình ra trước ảnh hưởng của Ngài. Ngài có hàng trăm, không, hàng ngàn phụng sự viên làm việc cho Ngài—những thiên thần vĩ đại, và những con người vĩ đại cả đang sống lẫn đã qua đời. Hai tay Ngài luôn luôn còn hơn là đầy công việc, và khi trong một thời gian Ngài rời bỏ cấp độ cao hơn nơi Ngài thường làm việc để có thể giáng xuống Trái Đất nhằm trình bày lại tôn giáo, Ngài không muốn dành cho việc ấy nhiều thời gian hơn mức tuyệt đối cần thiết. Do đó, rất hiếm khi Ngài nhận một thể theo nghĩa thông thường của từ này. Việc được sinh ra, nhập vào thể của một hài nhi nhỏ bé và sống qua thời gian thể ấy lớn lên và được huấn luyện mất quá nhiều thời gian; thể ấy sẽ không hữu dụng cho Ngài cho đến khi đủ tuổi để ra đi rao giảng và dạy dỗ. Vì vậy, kế hoạch thông thường là một Huấn sư vĩ đại đến Trái Đất sẽ nhận thể của một trong các đệ tử của Ngài. Người môn sinh còn hơn là vui mừng được cho Huấn sư mượn thể ấy; y tràn đầy lòng tôn kính và niềm hoan hỉ trước vinh dự được trao cho mình. Trong trường hợp như vậy, đệ tử có thể phải rời thể vĩnh viễn, hoặc y có thể đứng bên cạnh và nhận lại thể ấy bất cứ khi nào Đức Christ không sử dụng nó; điều đó chẳng mấy quan trọng đối với y, vì y cảm thấy đó là vinh dự lớn nhất khi có thể giúp đỡ trong công việc hùng mạnh.
Thus Christ took the body of the disciple Jesus, who is now one of the Masters of Wisdom. A very pure and holy man must that disciple have been. There are many hints of that in the Gospel story, which tells us that he was a Nazarene from his youth up; that he remained continent, that he developed his mind in all the wisdom of the Essenes when he went down into Egypt. 39 This great disciple Jesus yielded his body to the Christ at the Baptism by John in the river Jordan. At that time, when the voice from heaven said: “This is my beloved Son in whom I am well pleased” [Matt. 3:17], and the Holy Spirit hovered over him in the form of a dove, the Christ took possession of the body and began to work through it.
Như vậy Đức Christ đã nhận thể của đệ tử Jesus, người nay là một trong các Chân sư Minh Triết. Hẳn vị đệ tử ấy phải là một người rất tinh khiết và thánh thiện. Có nhiều gợi ý về điều đó trong câu chuyện Phúc Âm, cho chúng ta biết rằng Ngài là người Nazareth từ thuở thanh niên; rằng Ngài giữ đời sống tiết dục, rằng Ngài phát triển thể trí của mình trong toàn bộ minh triết của phái Essene khi Ngài xuống Ai Cập. 39 Vị đệ tử vĩ đại Jesus này đã trao thể của mình cho Đức Christ trong lễ Rửa Tội bởi John tại sông Jordan. Vào lúc ấy, khi tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” [Matt. 3:17], và Chúa Thánh Thần lượn trên Ngài dưới hình dạng chim bồ câu, Đức Christ đã chiếm hữu thể ấy và bắt đầu hoạt động xuyên qua nó.
Jesus was a man of noble birth, a descendant of the royal line of King David. When he was about thirty years of age, he yielded up his body for the use of the Christ, who then held it for three years, of which He spent two in teaching work, chiefly in the community of the Essenes in eastern Palestine, and one in traveling all over the country preaching to the people.
Đức Jesus là người thuộc dòng dõi cao quý, hậu duệ của hoàng tộc Vua Đa-vít. Khi Ngài khoảng ba mươi tuổi, Ngài trao thể của mình cho Đức Christ sử dụng; Đức Christ sau đó giữ thể ấy trong ba năm, trong đó Ngài dành hai năm cho công việc giảng dạy, chủ yếu trong cộng đồng Essene ở miền đông Palestine, và một năm đi khắp xứ để rao giảng cho dân chúng.
The Christ is the Master of Masters; He is high indeed above all the great saints, but yet near and approachable. We do not think of Him as far away in some distant heaven, but as working constantly in this world, even though as yet He is visible only to those who have the inner and higher sight. He may even now be visited by them and from Him may be obtained information and teaching such as He gave many times in the past.
Đức Christ là Chân sư của các Chân sư; quả thật Ngài cao hơn tất cả các thánh nhân vĩ đại, nhưng vẫn gần gũi và có thể tiếp cận. Chúng ta không nghĩ về Ngài như ở xa trong một cõi trời xa xăm nào đó, mà như đang không ngừng làm việc trong thế gian này, dù cho hiện nay Ngài chỉ hiển hiện đối với những ai có thị giác bên trong và cao hơn. Ngay cả lúc này họ cũng có thể đến viếng Ngài, và từ Ngài có thể nhận được thông tin và giáo huấn như Ngài đã trao nhiều lần trong quá khứ.
Abraham and Melchizedek – Abraham và Melchizedek
Although we are thus presenting a different idea of the Christ from the one usually accepted, there is nothing vague about it. We are speaking of that which we ourselves have seen and know. Our own scriptures tell us these things, if only people would understand. Did not the Christ say: “Before Abraham was, I am”? That is usually supposed to be a statement of His Godhead, but earlier He had told the Jews: “Your father Abraham rejoiced to see my day and he saw it and was glad” (John 8:56–58). Now when did Abraham see Jesus of Nazareth? Of course he did not see Him, but surely he saw the Christ, the great World Teacher, manifested in the august personality of the mysterious Melchizedek, of whom it was said that he was “without father, without mother, without descent, having neither beginning of days nor end of life; but made like unto the Son of God” (Heb. 7:1–3); who, bringing forth bread and wine (the sacramental symbol of the initiation into a higher mystery), instructed Abraham in the supreme fact of the manifestation of the Cosmic Christ. Hence that was to Abraham a day of Christ, a day in which indeed he rejoiced because it was a day of great spiritual enlightenment for him. People read these things in the Bible and they vaguely think that the language is beautiful and it uplifts them, but they seldom try to attach any meaning to such statements. There is always a meaning, if we will take the trouble to understand.
Dù chúng ta đang trình bày một ý tưởng về Đức Christ khác với ý tưởng thường được chấp nhận, không có gì mơ hồ trong đó. Chúng ta đang nói về điều chính chúng ta đã thấy và biết. Kinh điển của chính chúng ta nói cho chúng ta những điều này, nếu con người chịu thấu hiểu. Chẳng phải Đức Christ đã nói: “Trước khi Abraham hiện hữu, Ta hiện hữu” sao? Điều đó thường được xem là một tuyên bố về Thiên tính của Ngài, nhưng trước đó Ngài đã nói với người Do Thái: “Cha các ngươi là Abraham đã vui mừng vì thấy ngày của Ta; ông đã thấy và đã mừng rỡ” (John 8:56–58). Vậy Abraham đã thấy Jesus thành Nazareth khi nào? Dĩ nhiên ông không thấy Ngài, nhưng chắc chắn ông đã thấy Đức Christ, Đức Chưởng Giáo vĩ đại, biểu hiện trong phàm ngã uy nghi của Melchizedek huyền bí, về người đã được nói rằng người “không cha, không mẹ, không gia phả, không có khởi đầu ngày tháng cũng không có kết thúc đời sống; nhưng được làm nên giống Con của Thượng đế” (Heb. 7:1–3); người, khi đem bánh và rượu ra, biểu tượng bí tích của cuộc điểm đạo vào một huyền nhiệm cao hơn, đã huấn thị Abraham về sự kiện tối thượng của sự biểu hiện của Đức Christ Vũ Trụ. Vì thế, đối với Abraham, đó là một ngày của Đức Christ, một ngày mà quả thật ông đã vui mừng vì đó là ngày soi sáng tinh thần vĩ đại cho ông. Người ta đọc những điều này trong Kinh Thánh và mơ hồ nghĩ rằng ngôn ngữ ấy đẹp đẽ và nâng họ lên, nhưng họ hiếm khi cố gắn một ý nghĩa nào đó vào những phát biểu như vậy. Luôn luôn có một ý nghĩa, nếu chúng ta chịu khó thấu hiểu.
The Second Person of the Trinity – Ngôi Hai của Ba Ngôi
Very appropriately may we call him “Our Lord,” as they do in the East, but when that term is used in the creed, it generally refers to the Cosmic Christ, the Second Person of the Blessed Trinity. Yet the great World Teacher is so mystically, so wonderfully near to the Second Person that it is not surprising that some confusion should arise. He is so entirely a manifestation of that Second Person that indeed it does seem as though They were one—one in a manner far beyond our comprehension, but manifestly, truly one; for the Godhead flames out through Him so that indeed we may say They are indistinguishable. There is indeed a difference, but to us looking as from below, it is difficult to distinguish in any way between them.
Chúng ta rất thích đáng khi gọi Ngài là “Chúa chúng ta,” như người ta làm ở phương Đông, nhưng khi thuật ngữ ấy được dùng trong tín điều, nó thường chỉ Đức Christ Vũ Trụ, Ngôi Hai của Ba Ngôi Chân Phúc. Tuy nhiên, Đức Chưởng Giáo vĩ đại lại gần với Ngôi Hai một cách thần bí và kỳ diệu đến nỗi không đáng ngạc nhiên khi có một số lẫn lộn phát sinh. Ngài hoàn toàn là một biểu hiện của Ngôi Hai ấy đến mức quả thật dường như Các Ngài là một—một theo một cách vượt xa sự lĩnh hội của chúng ta, nhưng hiển nhiên, thật sự là một; vì Thiên tính bừng cháy xuyên qua Ngài đến nỗi quả thật chúng ta có thể nói Các Ngài không thể phân biệt được. Quả thật có một sự khác biệt, nhưng đối với chúng ta, nhìn như từ bên dưới, rất khó phân biệt bằng bất cứ cách nào giữa Các Ngài.
In the Nicene Creed we have the phrase, “the only begotten Son of God.” That is a very unfortunate translation of the Greek word mono-genes , for genes means “born,” and mono (monos ) means “one.” It does not mean “only begotten,” but “alone born”: To discover its real meaning, we must study contemporary philosophy. We know that words change their meanings with the passage of time; we find many instances of that in English. But even at this distance of time the word monogenes could not legitimately be translated “only begotten.” The correct rendering is “alone born,” that is, born from one and not from a syzygy or pair. 40 Everything else throughout physical life is produced by the interaction of a pair, whether they are separate entities as they usually are, or merely two poles included within the same organism. Always there is the interaction between two in order to produce a third. Only once in nature has there been one born alone, for the manner in which the Second Person comes into existence is absolutely different from all later processes of generation. We see at once that this passage refers not to Jesus or to Christ the World Teacher, but to the Second Person of the Blessed Trinity, which leaps forth from the bosom of the Father, called into being by the mere action of His will.
Trong Tín điều Nicaea, chúng ta có cụm từ “Con độc sinh của Thượng đế.” Đó là một bản dịch rất không may của từ Hy Lạp mono-genes, vì genes nghĩa là “được sinh ra,” và mono (monos) nghĩa là “một.” Nó không có nghĩa là “độc sinh” theo nghĩa “chỉ được sinh ra,” mà là “được sinh ra một mình”: Để khám phá ý nghĩa thật sự của nó, chúng ta phải nghiên cứu triết học đương thời. Chúng ta biết rằng các từ thay đổi ý nghĩa theo thời gian; chúng ta tìm thấy nhiều trường hợp như vậy trong tiếng Anh. Nhưng ngay cả ở khoảng cách thời gian này, từ monogenes cũng không thể được dịch hợp lệ là “only begotten.” Cách dịch đúng là “được sinh ra một mình,” tức là được sinh ra từ một và không từ một cặp hay song phối. 40 Mọi sự khác trong suốt đời sống hồng trần đều được tạo ra bởi sự tương tác của một cặp, dù chúng là những thực thể riêng biệt như thường thấy, hay chỉ là hai cực nằm trong cùng một cơ thể. Luôn luôn có sự tương tác giữa hai để tạo ra một cái thứ ba. Chỉ một lần trong thiên nhiên đã có một Đấng được sinh ra một mình, vì cách Ngôi Hai đi vào hiện hữu hoàn toàn khác với mọi tiến trình sinh thành về sau. Chúng ta thấy ngay rằng đoạn này không chỉ Đức Jesus hay Đức Christ Đức Chưởng Giáo, mà chỉ Ngôi Hai của Ba Ngôi Chân Phúc, Đấng phóng xuất từ lòng Đức Cha, được gọi vào hiện hữu chỉ bằng hành động của ý chí Ngài.
Hence comes the expression “before all worlds.” It is undoubtedly true that the Second Person of the Blessed Trinity came forth from the First “before all worlds,” but that does not alter the fact that that is a flagrant mistranslation of the Greek words that can mean nothing but “before all the aeons.” 41 To those who are acquainted with the philosophy of the Gnostics or of Philo Judaeus or with the Hermetic philosophy, the meaning of those words is well known. The Second Person of the Logos is the first in time of all the aeons or emanations of the Godhead, differing from all the others, and so is “the first-born of many brethren.”
Từ đó phát sinh thành ngữ “trước mọi thế giới.” Không nghi ngờ gì nữa, đúng là Ngôi Hai của Ba Ngôi Chân Phúc đã xuất lộ từ Ngôi Một “trước mọi thế giới,” nhưng điều đó không làm thay đổi sự kiện rằng đây là một bản dịch sai lộ liễu của các từ Hy Lạp vốn không thể có nghĩa gì khác ngoài “trước mọi aeon.” 41 Đối với những ai quen thuộc với triết học của các nhà Ngộ đạo, hoặc của Philo Judaeus, hoặc với triết học Hermetic, ý nghĩa của những từ ấy rất rõ. Ngôi Hai của Thượng Đế là đấng đầu tiên theo thời gian trong tất cả các aeon hay các Xuất lộ của Thiên tính, khác với tất cả những vị khác, và vì vậy là “trưởng tử giữa nhiều huynh đệ.”
Next comes the emphatic and reiterated assertion that Christ is “of one substance with the Father,” is identical in every respect with Him from whom He came, save only that He has descended into matter and has thus for the time being limited the full expression of Himself, so that He has a dual aspect. As the Athanasian Creed expresses it, He is “equal to the Father as touching his Godhead, and inferior to the Father as touching his Manhood.” Still the eternal unity is triumphantly proclaimed for “altogether he be God and man; yet he is not two, but one Christ,” now as ever, “God of God, Light of Light, very God of very God.” It should be remembered that there is no genitive case here; the Greek word means “out of ” and so this clause should read “God coming from God, Light coming from Light, very God coming forth from the true God.”
Tiếp theo là lời khẳng định nhấn mạnh và lặp lại rằng Đức Christ “đồng một bản thể với Đức Cha,” đồng nhất trong mọi phương diện với Đấng mà từ Ngài Đức Christ đã xuất lộ, ngoại trừ việc Ngài đã giáng hạ vào vật chất và do đó trong thời gian này đã giới hạn sự biểu hiện trọn vẹn của chính Ngài, khiến Ngài có một phương diện kép. Như Tín điều Athanasius diễn tả, Ngài “ngang bằng với Đức Cha về Thiên tính của mình, và thấp hơn Đức Cha về Nhân tính của mình.” Tuy vậy, sự hợp nhất vĩnh cửu vẫn được tuyên xưng một cách khải hoàn, vì “dù hoàn toàn là Thượng đế và con người; nhưng Ngài không phải là hai, mà là một Đức Christ,” bây giờ cũng như mãi mãi, “Thượng đế từ Thượng đế, Ánh sáng từ Ánh sáng, Thượng đế thật từ Thượng đế thật.” Cần nhớ rằng ở đây không có sở hữu cách; từ Hy Lạp có nghĩa là “từ ra khỏi,” và vì vậy mệnh đề này nên đọc là “Thượng đế đến từ Thượng đế, Ánh sáng đến từ Ánh sáng, Thượng đế thật xuất lộ từ Thượng đế chân thật.”
The Second Person of the Logos, the Son, sacrificed Himself for us by His descent into matter; He laid aside His kingly crown, descended to earth and put on the robe of flesh, the veil of matter. He is both God outside of matter and man within matter, and yet just as much divine in matter, though not showing the whole of His divinity. This divine essence of Himself which brought us into being is through us rising again into Himself. The culmination, the highest point of that rising, is the Christ. He is the head and front of humanity, the highest living man, the spear point of humanity pouring back again to God. He only of the human race has taken back His humanity to that stage of approach to the Godhead, therefore He is an expression of the Second Person of the Blessed Trinity to a degree and in a way that is quite beyond our gasp. That is the meaning of the words in the Athanasian Creed, and assuredly there is no grander statement of the eternal truth, that He is “One; not by the conversion of the Godhead into flesh [by the descent into matter] but by taking of the Manhood into God”—by the power to bear back into the Highest all the fruit of that descent.
Ngôi Hai của Thượng Đế, Đức Con, đã hi sinh chính mình vì chúng ta bằng sự giáng hạ của Ngài vào vật chất; Ngài đặt vương miện của mình sang một bên, giáng xuống Trái Đất và khoác lên áo choàng xác thịt, bức màn vật chất. Ngài vừa là Thượng đế bên ngoài vật chất vừa là con người bên trong vật chất, nhưng vẫn thiêng liêng y như vậy trong vật chất, dù không biểu lộ toàn thể thiên tính của Ngài. Tinh túy thiêng liêng này của chính Ngài, điều đã đưa chúng ta vào hiện hữu, đang xuyên qua chúng ta mà lại vươn lên trong chính Ngài. Đỉnh cao, điểm cao nhất của sự vươn lên ấy, là Đức Christ. Ngài là đầu và mặt tiền của nhân loại, con người sống cao nhất, mũi giáo của nhân loại đang tuôn trở lại về Thượng đế. Chỉ mình Ngài trong nhân loại đã đưa Nhân tính của Ngài trở lại giai đoạn tiếp cận Thiên tính ấy, do đó Ngài là một biểu hiện của Ngôi Hai của Ba Ngôi Chân Phúc đến một mức độ và theo một cách hoàn toàn vượt ngoài sự nắm bắt của chúng ta. Đó là ý nghĩa của những lời trong Tín điều Athanasius, và chắc chắn không có phát biểu nào hùng vĩ hơn về chân lý vĩnh cửu rằng Ngài là “Một; không phải bởi sự chuyển đổi Thiên tính thành xác thịt [bằng sự giáng hạ vào vật chất], mà bởi việc đưa Nhân tính vào Thượng đế”—bằng quyền năng mang trở lại vào Đấng Tối Cao tất cả quả trái của sự giáng hạ ấy.
There is a high mystical union between Christ and His people, but we must remember that this is always to be taken in two senses. Christ is within every man because that is God’s plan for the evolution of His world. But remember that the Christ is both God and man; He is always to be looked at from those two points of view. It is very difficult for us to separate them in our minds, and yet sometimes it is well that we should do so in order that we may try to understand what is taking place and what is the real meaning of those wondrous gifts of His to His Church.
Có một sự hợp nhất thần bí cao cả giữa Đức Christ và dân Ngài, nhưng chúng ta phải nhớ rằng điều này luôn luôn cần được hiểu theo hai nghĩa. Đức Christ ở trong mọi con người vì đó là Thiên Cơ của Thượng đế cho sự tiến hoá của thế giới Ngài. Nhưng hãy nhớ rằng Đức Christ vừa là Thượng đế vừa là con người; Ngài luôn phải được nhìn từ hai quan điểm ấy. Đối với chúng ta, rất khó tách chúng ra trong trí, tuy vậy đôi khi điều đó là tốt để chúng ta có thể cố thấu hiểu điều gì đang diễn ra và ý nghĩa thật sự của những ân tặng kỳ diệu ấy của Ngài cho Giáo hội của Ngài là gì.
Christ the Son of God is always the Second Person of the ever-Blessed Trinity, the Second Aspect of the Solar Logos, but Christ the World Teacher is a man like ourselves, but perfect where we are imperfect. He also is the Christ: He is so utterly an expression or manifestation of the Second Person of the Blessed Trinity that, for us at our stage, we can make no distinction between Them—one is, as it were, the very incarnation of the other.
Đức Christ Con của Thượng đế luôn luôn là Ngôi Hai của Ba Ngôi hằng Chân Phúc, Phương diện Thứ Hai của Thái dương Thượng đế, nhưng Đức Christ Đức Chưởng Giáo là một con người như chúng ta, nhưng hoàn hảo nơi chúng ta còn bất toàn. Ngài cũng là Đức Christ: Ngài hoàn toàn là một biểu hiện hay sự biểu lộ của Ngôi Hai của Ba Ngôi Chân Phúc đến nỗi, đối với chúng ta ở giai đoạn của mình, chúng ta không thể phân biệt giữa Các Ngài—Đấng này, có thể nói, chính là sự nhập thể của Đấng kia.
Christ as God, Christ as the Second Aspect of the Logos of our solar system, is within every one of us, and the whole of our spiritual life is an effort to bring the Christ within into full activity that it may be one with the Christ without, that all our vehicles may be permeated with His. We find many strange sayings in the Christian scripture, some seemingly contradictory of others, but in many cases, if we bear in mind these two aspects of the Christ, we shall see that some of these references are to one aspect and some to the other. The Christ within us is always the Christ principle manifesting through that which in us is an expression of Himself—the buddhi or the intuitional wisdom in man. That rests in every one of us, but it has to be awakened. Even that statement is misleading; the Christ principle itself cannot be awakened, for already it is the Christ, it is God, but we have to learn to adapt ourselves to it so that our vehicles may be, each at its own level, perfect expressions of that hidden Deity within.
Đức Christ với tư cách Thượng đế, Đức Christ với tư cách Phương diện Thứ Hai của Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta, ở trong mỗi người chúng ta, và toàn bộ đời sống tinh thần của chúng ta là một nỗ lực đưa Đức Christ bên trong vào hoạt động trọn vẹn để Ngài có thể là một với Đức Christ bên ngoài, để tất cả các hiện thể của chúng ta có thể được thấm nhuần bởi hiện thể của Ngài. Chúng ta tìm thấy nhiều lời nói lạ lùng trong kinh điển Kitô giáo, một số dường như mâu thuẫn với số khác, nhưng trong nhiều trường hợp, nếu chúng ta ghi nhớ hai phương diện này của Đức Christ, chúng ta sẽ thấy rằng một số đoạn quy chiếu đến phương diện này và một số đoạn quy chiếu đến phương diện kia. Đức Christ trong chúng ta luôn luôn là nguyên khí Christ biểu hiện xuyên qua điều trong chúng ta vốn là một biểu hiện của chính Ngài—Bồ đề hay minh triết trực giác trong con người. Điều đó nằm trong mỗi người chúng ta, nhưng nó phải được đánh thức. Ngay cả phát biểu ấy cũng gây hiểu lầm; chính nguyên khí Christ không thể được đánh thức, vì nó đã là Đức Christ, nó là Thượng đế, nhưng chúng ta phải học cách thích ứng chính mình với nó để các hiện thể của chúng ta, mỗi hiện thể ở cấp độ riêng của nó, có thể là những biểu hiện hoàn hảo của Thượng đế ẩn tàng bên trong ấy.
13 – 13
The Incarnation – Sự Nhập Thể
Since but for the descent of the Second Person into matter we could never have existed, it is true, and that in a very beautiful way, that “for us men and for our salvation [He] came down from heaven.” Truly we might say, “for us men and for our very existence He came down from heaven.” It is true that the immortal spirit of man is of the nature of the Father Himself. But for the sacrifice of the Son, who poured forth His substance as monadic essence into the limitations of the causal body, heaven and earth could never have met together, nor “this mortal have put on immortality.” So the Christ is indeed at once the Creator and the Savior of men, because without Him they could not have been; without Him the gap between spirit and matter could never have been bridged, and the individuality—the soul in man—could never have been.
Vì nếu không có sự giáng hạ của Ngôi Hai vào vật chất, chúng ta đã không bao giờ có thể hiện hữu, nên quả thật, và theo một cách rất đẹp đẽ, rằng “vì chúng ta là con người và vì sự cứu rỗi của chúng ta, [Ngài] đã từ trời xuống.” Quả thật, chúng ta có thể nói: “vì chúng ta là con người và vì chính sự hiện hữu của chúng ta, Ngài đã từ trời xuống.” Đúng là tinh thần bất tử của con người mang bản chất của chính Chúa Cha. Nhưng nếu không có sự hy sinh của Chúa Con, Đấng đã tuôn đổ chất liệu của Ngài như tinh chất chân thần vào trong những giới hạn của thể nguyên nhân, trời và đất đã không bao giờ có thể gặp nhau, cũng như “cái hữu tử này mặc lấy sự bất tử.” Vì vậy, Đức Christ thật sự đồng thời là Đấng Sáng Tạo và Đấng Cứu Rỗi của nhân loại, bởi vì nếu không có Ngài, họ đã không thể hiện hữu; nếu không có Ngài, khoảng cách giữa tinh thần và vật chất đã không bao giờ có thể được bắt cầu, và cá thể tính — linh hồn trong con người — đã không bao giờ có thể hiện hữu.
“And Was Incarnate of the Holy Ghost and the Virgin Mary” – “Và Đã Nhập Thể bởi Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Mary”
This clause needs special consideration because there is an error in it. 42 No knowledge of the Greek language is required to appreciate this particular point, which is concerned with the two prepositions by and of . In the original Greek, there is only one preposition. The phrase there means He was made flesh or incarnated “out of ” or “from” the Holy Ghost, kai , “and” the Virgin Mary. There is no word between “Holy Ghost” and “the Virgin Mary” except the word kai, which means “and.” So it is unjustifiable to translate it: “And was incarnate by the Holy Ghost of the Virgin Mary” and thus, by inserting another preposition, make the function of the Holy Ghost entirely different from that of the Virgin Mary. The actual meaning is that He was incarnate of, or took flesh of, the Holy Ghost and the Virgin Mary, and nothing else can be made of it. If a schoolboy with a rudimentary knowledge of Greek, translated kai as it has been done in the Prayer Book, he would get into trouble with his teacher!
Mệnh đề này cần được xem xét đặc biệt vì trong đó có một sai lầm. 42 Không cần biết tiếng Hy Lạp mới có thể nhận ra điểm đặc biệt này, vốn liên quan đến hai giới từ by và of. Trong nguyên bản Hy Lạp, chỉ có một giới từ. Cụm từ ấy có nghĩa là Ngài đã thành xác thịt hay nhập thể “từ” hoặc “do” Chúa Thánh Thần, kai, “và” Đức Trinh Nữ Mary. Không có từ nào giữa “Chúa Thánh Thần” và “Đức Trinh Nữ Mary” ngoài từ kai, nghĩa là “và.” Vì vậy, không thể biện minh cho cách dịch: “Và đã nhập thể bởi Chúa Thánh Thần từ Đức Trinh Nữ Mary,” rồi như thế, bằng cách chèn thêm một giới từ khác, làm cho chức năng của Chúa Thánh Thần hoàn toàn khác với chức năng của Đức Trinh Nữ Mary. Ý nghĩa thật sự là Ngài đã nhập thể từ, hay nhận lấy xác thịt từ, Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Mary, và không thể hiểu khác đi được. Nếu một học sinh mới có kiến thức sơ đẳng về tiếng Hy Lạp mà dịch kai như cách đã được làm trong Sách Cầu Nguyện, y sẽ gặp rắc rối với thầy giáo của mình!
This mistranslation is not modern; it was St. Jerome who translated the Greek creed into Latin who first made this mistake, 43 and its perpetuation is due to the tendency that blinded the eyes of translators to any but the most material interpretation of the whole sentence and introduced, instead, a totally different idea.
Sự dịch sai này không phải là hiện đại; chính Thánh Jerome, người đã dịch tín điều Hy Lạp sang tiếng La-tinh, là người đầu tiên mắc sai lầm này, 43 và việc nó được duy trì là do khuynh hướng đã làm mù mắt các dịch giả trước mọi cách hiểu ngoại trừ cách hiểu vật chất nhất của toàn bộ câu, và thay vào đó đưa vào một ý tưởng hoàn toàn khác.
The sentence is not found in the original Nicene Creed. There the text ran: “Who for us men and for our salvation came down and was made flesh, and was made man.” There is not a word about either the Virgin Mary or the Holy Ghost; all of which was inserted afterwards, probably with the laudable intention of making the meaning clearer. It was correctly stated in the Creed of Constantinople. It was not until at least a century later that the Latin translation caused such confusion. This same Latin translation has been used ever since and, apparently, no one has ever thought of looking at the original Greek. In the Apostles’ Creed, which as far as we know was put together in the eighth century, the idea became still more grossly materialized, and we now have the phrase “conceived by the Holy Ghost, born of the Virgin Mary,” thus bringing the matter right down to the level of a physical plane marriage.
Câu này không có trong Kinh Tin Kính Nicea nguyên thủy. Ở đó, bản văn viết: “Đấng vì chúng ta là con người và vì sự cứu rỗi của chúng ta đã từ trời xuống, đã thành xác thịt, và đã thành người.” Không có một lời nào về Đức Trinh Nữ Mary hay Chúa Thánh Thần; tất cả những điều ấy được thêm vào về sau, có lẽ với ý định đáng khen là làm cho ý nghĩa rõ ràng hơn. Điều này đã được nêu đúng trong Kinh Tin Kính Constantinople. Mãi ít nhất một thế kỷ sau, bản dịch La-tinh mới gây ra sự lẫn lộn như vậy. Chính bản dịch La-tinh ấy đã được dùng từ đó đến nay, và dường như chưa từng có ai nghĩ đến việc xem lại nguyên bản Hy Lạp. Trong Kinh Tin Kính Các Sứ Đồ, theo như chúng ta biết được biên soạn vào thế kỷ thứ tám, ý tưởng ấy còn bị vật chất hóa thô thiển hơn nữa, và hiện nay chúng ta có cụm từ “được thụ thai bởi Chúa Thánh Thần, sinh bởi Đức Trinh Nữ Mary,” như thế đưa vấn đề thẳng xuống mức của một cuộc hôn nhân trên cõi hồng trần.
The real meaning is that the Second Aspect of the Divine Life, the Son, having already poured forth of His substance as monadic essence, now materialized Himself still further by assuming visible, tangible matter; by taking form, not of virgin matter, but of the vivified matter into which the force sent out by the Third Person of the Blessed Trinity, God the Holy Ghost, had already descended. He does not come into the mere sea of primitive matter (the true Virgin Maria) but into the seas over which the Holy Spirit has brooded. That is an important point to notice because this root of matter, this primitive matter to which the name “virgin” has frequently been applied, when untouched by the action of the Holy Ghost, does not aggregate itself or enter into any combination of its own motion, but remains in the atomic condition in which it is inert and unfruitful.
Ý nghĩa thật sự là Phương diện Thứ Hai của Sự Sống thiêng liêng, Chúa Con, sau khi đã tuôn đổ chất liệu của Ngài như tinh chất chân thần, giờ đây hiện hình xa hơn nữa bằng cách khoác lấy vật chất hữu hình, khả xúc; bằng cách nhận lấy hình tướng, không phải từ vật chất đồng trinh, mà từ vật chất đã được tiếp sinh lực, nơi mãnh lực do Ngôi Ba của Ba Ngôi Chân Phúc, Thượng đế Chúa Thánh Thần, phóng ra đã giáng xuống. Ngài không đi vào chỉ biển vật chất nguyên sơ đơn thuần, tức Đức Trinh Nữ Maria đích thực, mà đi vào những biển cả trên đó Chúa Thánh Thần đã ấp ủ. Đó là một điểm quan trọng cần lưu ý, bởi vì gốc rễ vật chất này, vật chất nguyên sơ này vốn thường được áp dụng tên gọi “đồng trinh”, khi chưa được tác động bởi Chúa Thánh Thần, không tự kết tụ hay tự mình đi vào bất cứ tổ hợp nào, mà vẫn ở trong trạng thái nguyên tử, trong đó nó trì trệ và không sinh sản.
The life of the Holy Ghost, which at the First Outpouring interpenetrates that matter and vivifies it, is not to be separated from it. Indeed, as far as we have seen from our investigation there is no such thing as dead matter. Into this living matter the Second Outpouring of the divine life descends, giving it further powers of combination and fashioning therefrom the manifold forms of nature. Thus the Second Person of the Trinity takes to Himself a vesture or garment, not of the virgin matter alone, but of matter which is already instinct and pulsating with the life of the Third Person, so that in very truth He is “incarnate of the Holy Ghost and the Virgin Mary.”
Sự sống của Chúa Thánh Thần, vốn trong Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất thâm nhập vật chất ấy và tiếp sinh lực cho nó, không thể tách rời khỏi nó. Thật vậy, theo như những gì chúng ta đã thấy từ cuộc khảo cứu của mình, không có cái gọi là vật chất chết. Vào trong vật chất sống động này, Lần Tuôn Đổ Thứ Hai của sự sống thiêng liêng giáng xuống, ban cho nó thêm các quyền năng phối hợp và từ đó tạo thành muôn vàn hình tướng của thiên nhiên. Như vậy, Ngôi Hai của Ba Ngôi khoác lấy cho chính Ngài một y phục hay tấm áo, không phải chỉ bằng vật chất đồng trinh, mà bằng vật chất đã sẵn đầy bản năng và đang rung động với sự sống của Ngôi Ba, để trong chân lý đích thực, Ngài “nhập thể bởi Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Mary.”
Here we may draw attention to a striking instance of the introduction of a totally different idea by a very trifling alteration. In some of the old manuscripts we find that the name of the Blessed Virgin is not “Maria” but “Maia,” which means mother, dame, or foster mother. It is curious that in the Greek mythology, Maia was a daughter of Atlas, who supported the world upon his shoulders; and she was the mother of Hermes, who was the messenger of the gods. For Christians, the Blessed Virgin is the mother of the Christ who is the Messenger of the High Powers of this system. When we remember that Maya was the name of the mother of the Lord Buddha, and that this Sanskrit word is also used for the illusory veil of matter which the Logos draws round Him in His descent, we begin to realize that all these things are symbols.
Ở đây, chúng ta có thể lưu ý đến một trường hợp nổi bật trong đó một sự thay đổi rất nhỏ đã đưa vào một ý tưởng hoàn toàn khác. Trong một số bản thảo cổ, chúng ta thấy tên của Đức Trinh Nữ Chân Phúc không phải là “Maria” mà là “Maia,” nghĩa là mẹ, phu nhân, hay mẹ nuôi. Điều đáng chú ý là trong thần thoại Hy Lạp, Maia là con gái của Atlas, người chống đỡ thế giới trên vai; và bà là mẹ của Hermes, sứ giả của các vị thần. Đối với các tín hữu Kitô giáo, Đức Trinh Nữ Chân Phúc là mẹ của Đức Christ, Đấng là Sứ Giả của các Quyền Năng Cao của hệ này. Khi chúng ta nhớ rằng Maya là tên của mẹ Đức Phật, và rằng từ Phạn này cũng được dùng để chỉ bức màn ảo tưởng của vật chất mà Thượng đế kéo quanh Ngài trong cuộc giáng hạ của Ngài, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng tất cả những điều này đều là biểu tượng.
The Virgin Birth – Sự Sinh Ra bởi Trinh Nữ
As soon as the creed is translated from Greek into Latin, we have the possibility of a play on the word Maria (which in Latin means “seas”), and yet another suggestion of the true meaning of the descent into the seas of virgin matter—the Virgin Maria, which, although impregnated and permeated with the life of the Holy Ghost, nevertheless remains pure or virgin because when that life is withdrawn the matter is as it was before. This is the original idea behind the dogma of the Virgin Birth around which so much controversy has raged, the difficulties, of course, being caused solely by the materializing tendency mentioned earlier.
Ngay khi tín điều được dịch từ tiếng Hy Lạp sang tiếng La-tinh, chúng ta có khả năng chơi chữ với từ Maria, trong tiếng La-tinh nghĩa là “biển cả”, và lại có thêm một gợi ý khác về ý nghĩa chân thật của sự giáng hạ vào các biển của vật chất đồng trinh — Đức Trinh Nữ Maria — vật chất ấy, dù được thụ thai và thấm nhuần bởi sự sống của Chúa Thánh Thần, tuy vậy vẫn tinh khiết hay đồng trinh, bởi vì khi sự sống ấy được rút đi, vật chất vẫn như trước. Đây là ý tưởng nguyên thủy đằng sau tín điều về Sự Sinh Ra bởi Trinh Nữ, chung quanh đó đã bùng lên rất nhiều tranh luận, dĩ nhiên các khó khăn chỉ do khuynh hướng vật chất hóa đã nói ở trên gây ra.
Behind this mystery there lie in reality three meanings; first, the birth or manifestation in matter of the Second Person of the Blessed Trinity; secondly, the birth of the human soul, the individuality; thirdly, the birth of the Christ principle within man at a later stage of his development. We have already dealt with the birth of the Logos into matter and with the birth of the individuality which is made in His image. In this latter case we may think of the causal body—the permanent body which goes on from life to life—as the mother, itself immaculately conceived by the action of the Second Person upon matter already prepared by the Holy Spirit. Later, after the man, the soul, has developed intellect, we have the third meaning of this symbolism, namely the birth of the Christ principle in the soul of man when the intuitional wisdom is awakened. Then very truly the soul becomes, as it were, a little child again, is born anew into the higher life of the initiate, which is the true kingdom of heaven. That is the meaning of what is called the “second birth.” It will be remembered that Christ said to Nicodemus: “Marvel not that I said unto thee, ye must be born again” (John 3:7). And when Nicodemus failed to understand, he was asked: “Art thou a master of Israel, and knowest not these things?” meaning, “You ought to understand; it is part of the inner teaching of your sacred books.”
Đằng sau huyền nhiệm này, thật ra có ba ý nghĩa; thứ nhất, sự sinh ra hay biểu hiện trong vật chất của Ngôi Hai của Ba Ngôi Chân Phúc; thứ hai, sự sinh ra của linh hồn con người, tức cá thể tính; thứ ba, sự sinh ra của nguyên khí Christ bên trong con người ở một giai đoạn phát triển về sau của y. Chúng ta đã bàn đến sự sinh ra của Thượng đế vào vật chất và sự sinh ra của cá thể tính được tạo nên theo hình ảnh của Ngài. Trong trường hợp sau này, chúng ta có thể nghĩ đến thể nguyên nhân — thể thường tồn đi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác — như người mẹ, chính nó được hoài thai vô nhiễm do tác động của Ngôi Hai lên vật chất đã được Chúa Thánh Thần chuẩn bị sẵn. Về sau, sau khi con người, linh hồn, đã phát triển trí năng, chúng ta có ý nghĩa thứ ba của biểu tượng này, tức là sự sinh ra của nguyên khí Christ trong linh hồn con người khi minh triết trực giác được đánh thức. Khi ấy, thật đúng đắn mà nói, linh hồn trở nên như một hài nhi lần nữa, được sinh lại vào đời sống cao hơn của điểm đạo đồ, vốn là Thiên Giới đích thực. Đó là ý nghĩa của điều được gọi là “sự sinh ra lần thứ hai.” Cần nhớ rằng Đức Christ đã nói với Nicodemus: “Đừng lấy làm lạ vì Ta đã nói với ngươi rằng các ngươi phải được sinh lại” (John 3:7). Và khi Nicodemus không thấu hiểu, ông được hỏi: “Ngươi là bậc thầy của Israel mà không biết những điều này sao?” nghĩa là: “Ngươi lẽ ra phải thấu hiểu; đó là một phần của giáo lý bên trong trong các sách thiêng liêng của ngươi.”
It should be remembered that the doctrine of the Immaculate Conception, as understood by the Roman Church, has nothing to do with the birth of the Christ but refers to the birth of the Virgin Mary Herself. The Roman theologians hold that Her body was born in the usual way of Joachim and Anna, but that Her soul was free from the original sin which was supposed to be inherited from Adam.
Cần nhớ rằng giáo lý về Sự Hoài Thai Vô Nhiễm, như Giáo hội La Mã thấu hiểu, không liên quan gì đến sự sinh ra của Đức Christ, mà nói đến sự sinh ra của chính Đức Trinh Nữ Mary. Các nhà thần học La Mã cho rằng thể xác của Bà được sinh ra theo cách thông thường từ Joachim và Anna, nhưng linh hồn của Bà thoát khỏi tội nguyên tổ được cho là thừa hưởng từ Adam.
“And Was Made Man” – “Và Đã Thành Người”
This clause does not appear in the Apostles’ Creed. Its insertion into the Nicene Creed is significant as showing that the arrival of the monadic essence at the level of humanity was a stage separate from, and later than, the descent into matter and that therefore the taking flesh of the Holy Ghost and the Virgin Mary previously mentioned could not and did not refer to a human birth. That is even more distinctly shown in the draft made by the Council of Nicaea, where the text runs: “And was made flesh, and was made man,” the assumption of the flesh clearly referring to the previous passage of the monadic essence through the animal kingdom. Those who take all this to refer to the physical birth of a human being take the three stages to mean one and the same thing. But when we understand the symbolical significance of the clauses, it is evident that they are meant to describe three distinct stages in the descent and have nothing to do with one another except that they follow one another.
Mệnh đề này không xuất hiện trong Kinh Tin Kính Các Sứ Đồ. Việc nó được đưa vào Kinh Tin Kính Nicea có ý nghĩa quan trọng, vì cho thấy rằng sự đến của tinh chất chân thần ở cấp độ nhân loại là một giai đoạn riêng biệt và muộn hơn sự giáng hạ vào vật chất, và do đó việc nhận lấy xác thịt từ Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Mary đã nói trước đó không thể và đã không chỉ một sự sinh ra của con người. Điều đó còn được cho thấy rõ ràng hơn trong bản dự thảo do Công đồng Nicea soạn, nơi bản văn viết: “Và đã thành xác thịt, và đã thành người,” việc khoác lấy xác thịt rõ ràng chỉ sự đi qua trước đó của tinh chất chân thần xuyên qua giới động vật. Những ai cho rằng tất cả điều này nói về sự sinh ra hồng trần của một con người thì xem ba giai đoạn ấy là một và cùng một điều. Nhưng khi chúng ta thấu hiểu thâm nghĩa biểu tượng của các mệnh đề, thì hiển nhiên chúng nhằm mô tả ba giai đoạn riêng biệt trong cuộc giáng hạ, và không liên quan gì với nhau ngoại trừ việc chúng nối tiếp nhau.
“Suffered under Pontius Pilate” – “Chịu Khổ Dưới Thời Pontius Pilate”
In this clause we have a remarkable instance of the narrowing influence of the materializing tendency, for by the insertion of the smallest letter of the Greek alphabet (the iota , often represented by a dot) into the manuscript the original idea was entirely lost and forgotten. The word pontos , meaning a sea, was thus altered to Pontius, a Roman proper name. Instead of Pontius Pilatus, the earliest Greek manuscripts which clairvoyant investigators have yet been able to find, all read pontos pilētos . (It must be remembered that the interchange of “a” and “e” is by no means infrequent in various Greek dialects.) Pilatus is another proper name, but pilētos means “thick,” “solid,” 44 so that pontos pilētos means really a compressed or dense sea, by no means a bad description of the astral plane which is often symbolized by water. This clause should be rendered “He endured the dense sea”—that is to say, He allowed himself to be limited by, and imprisoned in, astral matter.
Trong mệnh đề này, chúng ta có một trường hợp đáng chú ý về ảnh hưởng thu hẹp của khuynh hướng vật chất hóa, bởi vì chỉ bằng việc chèn chữ cái nhỏ nhất của bảng chữ cái Hy Lạp, chữ iota, thường được biểu thị bằng một dấu chấm, vào bản thảo, ý tưởng nguyên thủy đã hoàn toàn bị mất và bị lãng quên. Từ pontos, nghĩa là biển, như thế bị đổi thành Pontius, một tên riêng La Mã. Thay vì Pontius Pilatus, các bản thảo Hy Lạp sớm nhất mà các nhà khảo cứu thông nhãn cho đến nay có thể tìm thấy, đều đọc là pontos pilētos. Cần nhớ rằng sự hoán đổi giữa “a” và “e” không hề hiếm trong các phương ngữ Hy Lạp khác nhau. Pilatus là một tên riêng khác, nhưng pilētos nghĩa là “dày,” “rắn chắc,” 44 vậy nên pontos pilētos thật ra nghĩa là một biển bị nén hay đậm đặc, hoàn toàn không phải là một mô tả tệ về cõi cảm dục, vốn thường được tượng trưng bằng nước. Mệnh đề này nên được dịch là “Ngài đã chịu đựng biển đậm đặc” — nghĩa là, Ngài đã cho phép chính mình bị giới hạn và bị giam giữ trong vật chất cảm dục.
One consequence of the alteration was that it fixed the death of the Christ on a wrong date because He was already dead many years before Pilate was born. These things may be known to certain scholars, but they are not generally known to the man in the street, for few people have the time or inclination to study theological works. This particular alteration may quite easily have been made by the copyist under the impression that he was merely correcting the unimportant mistake of an earlier scribe.
Một hệ quả của sự thay đổi ấy là nó đã ấn định cái chết của Đức Christ vào một niên đại sai, bởi vì Ngài đã chết nhiều năm trước khi Pilate ra đời. Những điều này có thể được một số học giả biết đến, nhưng người bình thường ngoài phố thì không biết rộng rãi, vì ít người có thời gian hoặc khuynh hướng nghiên cứu các tác phẩm thần học. Sự thay đổi đặc biệt này rất có thể đã được người chép bản thảo thực hiện dưới ấn tượng rằng y chỉ đang sửa một lỗi không quan trọng của một người chép trước đó.
In those early times people had no idea of literary honesty. Nowadays we take pains to be accurate; we think it wrong to insert a passage from somewhere else and not acknowledge it as a quotation, but in those times they simply included whatever they thought was good, whoever had said it, and they probably considered that they were doing the original author a favor! In those earlier centuries there was no such thing as printing whereby thousands of copies of the same work can be turned out without any possibility of making an error. Until the fifteenth century, every book was written by hand, and therefore in every copy mistakes are found. There are something like two thousand of those manuscript books, hardly two of which are alike. Errors have crept into all of them, giving often quite contradictory readings. It is clear, too, that in some cases the difference is not due to a mistake on the part of the scribe but has arisen because the copy was made from the slightly different original.
Trong những thời kỳ đầu ấy, người ta không có ý niệm về sự trung thực văn chương. Ngày nay, chúng ta cố gắng cho chính xác; chúng ta cho rằng chèn một đoạn từ nơi khác vào mà không thừa nhận đó là trích dẫn là sai, nhưng trong những thời kỳ ấy, họ chỉ đơn giản đưa vào bất cứ điều gì họ nghĩ là hay, bất kể ai đã nói, và có lẽ họ còn cho rằng mình đang làm ơn cho tác giả nguyên thủy! Trong những thế kỷ trước kia, không có in ấn để hàng ngàn bản của cùng một tác phẩm có thể được tạo ra mà không có khả năng mắc lỗi. Cho đến thế kỷ thứ mười lăm, mọi cuốn sách đều được viết bằng tay, và vì vậy trong mỗi bản sao đều có lỗi. Có khoảng hai ngàn cuốn sách bản thảo như vậy, hầu như không có hai cuốn nào giống nhau. Sai sót đã len vào tất cả, thường tạo ra những cách đọc khá mâu thuẫn. Rõ ràng cũng có những trường hợp sự khác biệt không do lỗi của người chép, mà phát sinh vì bản sao được chép từ một nguyên bản hơi khác.
Originally, most of these things were written down from memory. The disciples heard what the Christ said, but quite a long interval might have elapsed before they wrote it down. If the members of any congregation attempted to write down what they remembered of a sermon they had heard in church, it is not likely that the result would be alike in each case. The same general idea might be presented but there would be considerable variation and, most assuredly, no two people would use exactly the same words. The same thing is true in the case of the apostles. Their memories were by no means infallible. They made mistakes in reporting just as anyone else would do and, as each account was copied hundreds of times, it is a wonder that we have not even greater variations than actually exist.
Ban đầu, phần lớn những điều này được viết lại từ ký ức. Các đệ tử đã nghe những gì Đức Christ nói, nhưng có thể đã trôi qua một khoảng thời gian khá dài trước khi họ viết lại. Nếu các thành viên của bất cứ giáo đoàn nào cố gắng viết lại những gì họ nhớ về một bài giảng mà họ đã nghe trong nhà thờ, khó có khả năng kết quả sẽ giống nhau trong từng trường hợp. Cùng một ý tưởng tổng quát có thể được trình bày, nhưng sẽ có sự khác biệt đáng kể, và chắc chắn nhất, không hai người nào sẽ dùng đúng cùng những từ ngữ. Điều tương tự cũng đúng trong trường hợp các sứ đồ. Ký ức của họ tuyệt nhiên không phải không sai lầm. Họ mắc lỗi khi tường thuật như bất cứ ai khác cũng sẽ mắc, và vì mỗi tường thuật được sao chép hàng trăm lần, thật đáng ngạc nhiên là chúng ta không có những biến dị còn lớn hơn những gì thật sự tồn tại.
Finally, I must draw attention to the order in which the clauses of this part of the creed occur. Neither of the creeds as they stand at present contains quite the whole of the original idea. In the Apostles’ Creed, though the order is accurate, several stages are omitted. While the Nicene is fuller, there is a confusion in arrangement. However, it is perfectly clear that in both there is a definite attempt to symbolize the different stages of the descent into matter, and this is even more evident in the draft of the Council of Nicaea. First, “for us men and for our salvation” the Son “came down from heaven”; that is, He came down from a higher level. Then having done that, He “took flesh”; that is to say, He passed into association with living forms and finally entered the animal kingdom. After He had taken flesh, as quite a separate step, He was “made man”; the divine force or life, rising from the animal kingdom, entered the human on receiving that other downpouring from the First Person, which gives the divine spark to man and creates his permanent soul or Ego that persists through all his lives until he has passed beyond the necessity for rebirth. Then came the suffering under “Pontius Pilate,” or descent into the astral sea; and only after that the crucifixion on the cross of physical matter in which He is graphically described as “dead and buried.” To regard all these details as referring to the physical plane life story of a particular man does not explain them in the least, whereas if we take the symbolical meaning, we at once see that they all come in the right order, and we arrive at an interpretation which it is possible for reasonable beings to accept.
Sau cùng, tôi phải lưu ý đến thứ tự trong đó các mệnh đề của phần này trong tín điều xuất hiện. Không tín điều nào trong hai tín điều, như chúng hiện tồn, chứa trọn vẹn ý tưởng nguyên thủy. Trong Kinh Tin Kính Các Sứ Đồ, tuy thứ tự chính xác, nhiều giai đoạn đã bị bỏ sót. Trong khi bản Nicea đầy đủ hơn, lại có sự lẫn lộn trong cách sắp xếp. Tuy nhiên, hoàn toàn rõ ràng rằng trong cả hai đều có một nỗ lực xác định nhằm tượng trưng hóa các giai đoạn khác nhau của sự giáng hạ vào vật chất, và điều này còn hiển nhiên hơn nữa trong bản dự thảo của Công đồng Nicea. Trước hết, “vì chúng ta là con người và vì sự cứu rỗi của chúng ta,” Chúa Con “đã từ trời xuống”; tức là, Ngài đã giáng xuống từ một cấp độ cao hơn. Rồi sau khi làm điều đó, Ngài “nhận lấy xác thịt”; nghĩa là, Ngài đi vào sự liên kết với các hình tướng sống động và cuối cùng bước vào giới động vật. Sau khi Ngài đã nhận lấy xác thịt, như một bước hoàn toàn riêng biệt, Ngài “đã thành người”; mãnh lực hay sự sống thiêng liêng, đi lên từ giới động vật, bước vào giới nhân loại khi nhận được lần tuôn đổ kia từ Ngôi Một, vốn ban tia lửa thiêng liêng cho con người và tạo nên linh hồn thường tồn hay Chân ngã của y, bền vững xuyên qua mọi kiếp sống của y cho đến khi y vượt qua nhu cầu tái sinh. Rồi đến sự chịu khổ dưới “Pontius Pilate,” hay sự giáng xuống vào biển cảm dục; và chỉ sau đó mới là sự đóng đinh trên thập giá của vật chất hồng trần, nơi Ngài được mô tả sinh động là “chết và được chôn.” Xem tất cả những chi tiết này như nói về câu chuyện đời sống trên cõi hồng trần của một con người đặc biệt thì chẳng giải thích được chúng chút nào; trong khi nếu chúng ta nhận lấy ý nghĩa biểu tượng, chúng ta lập tức thấy rằng tất cả đều đến đúng thứ tự, và chúng ta đạt tới một cách giải thích mà những sinh linh có lý trí có thể chấp nhận.
14 – 14
THE CRUCIFIXION – SỰ ĐÓNG ĐINH
“Was Crucified, Dead, and Buried” – “Đã Bị Đóng Đinh, Đã Chết, và Được Chôn”
Here we have a misunderstanding of colossal proportions—an astonishing transformation of a perfectly reasonable allegory into an absurd human biography. This has had a very sad effect on the Christian Church and on the faith which it preaches, because it sets forth as fact something that is demonstrably untrue, a fallacy which must appear to any thinking man as devoid of all rational meaning unless, as is the case, there is a higher symbolical interpretation.
Ở đây, chúng ta có một sự hiểu lầm với tầm vóc khổng lồ — một sự chuyển đổi đáng kinh ngạc từ một ẩn dụ hoàn toàn hợp lý thành một tiểu sử con người phi lý. Điều này đã có một ảnh hưởng rất buồn đối với Giáo hội Kitô giáo và đối với đức tin mà Giáo hội rao giảng, bởi vì nó trình bày như sự kiện một điều có thể chứng minh là không đúng, một ngụy luận mà đối với bất cứ người có tư duy nào cũng phải hiện ra như không có chút ý nghĩa hợp lý nào, trừ khi, như thật sự là vậy, có một cách giải thích biểu tượng cao hơn.
The body used by the Christ was not crucified but stoned, that being the Jewish method of execution. By putting back the birth of Christ to its true date, which is 105 years before the time generally fixed for it, we find that His death occurred before the Romans conquered Palestine, and therefore He was undoubtedly put to death by the Jews in the Jewish way and not by the method of crucifixion which the Romans are said to have introduced. Thus an enormous amount of devotional sympathy has been poured out all through the ages in connection with a wholly imaginary story of terrible physical suffering. It has been, perhaps, the most extraordinary and most lamentable waste of psychic energy in the whole history of the world. For neither the creed nor the Gospels were originally meant to relate the life story of the Christ but were intended as an allegory setting forth the story of the evolution of every man, not of one particular incarnation.
Thể mà Đức Christ sử dụng không bị đóng đinh mà bị ném đá, vì đó là phương thức hành hình của người Do Thái. Khi đưa ngày sinh của Đức Christ trở lại niên đại thật của nó, tức 105 năm trước thời điểm thường được ấn định cho nó, chúng ta thấy rằng cái chết của Ngài xảy ra trước khi người La Mã chinh phục Palestine, và vì vậy chắc chắn Ngài đã bị người Do Thái xử tử theo cách Do Thái, chứ không theo phương pháp đóng đinh mà người La Mã được cho là đã du nhập. Như vậy, qua mọi thời đại, một lượng khổng lồ tình cảm sùng tín cảm thông đã được tuôn đổ liên quan đến một câu chuyện hoàn toàn tưởng tượng về nỗi đau khổ thể xác kinh hoàng. Có lẽ đó là sự lãng phí năng lượng thông linh kỳ lạ nhất và đáng than tiếc nhất trong toàn bộ lịch sử thế giới. Bởi vì cả tín điều lẫn các sách Phúc Âm ban đầu đều không nhằm kể lại câu chuyện đời sống của Đức Christ, mà được dự định như một ẩn dụ trình bày câu chuyện tiến hoá của mỗi con người, chứ không phải của một lần lâm phàm đặc thù.
This is no new theory; Origen, the greatest and most learned of the Christian Fathers, thoroughly understood this. He speaks of “the popular irrational faith” (based only on the Gospel story) and he says of it: “What better method could be devised to assist the masses?” He points out that the ignorant multitude is best taught by means of stories, for thus they can be led to grasp something of the higher things. But the spiritual Christian no longer needs the crucified Christ because his faith is founded upon definite knowledge of the truths of which these things are only symbols. 45
Đây không phải là một lý thuyết mới; Origen, vị lớn nhất và uyên bác nhất trong các Giáo phụ Kitô giáo, đã thấu hiểu điều này một cách trọn vẹn. Ông nói về “đức tin bình dân phi lý” chỉ dựa trên câu chuyện Phúc Âm, và ông nói về nó: “Có phương pháp nào tốt hơn có thể được nghĩ ra để giúp quần chúng?” Ông chỉ ra rằng đám đông thiếu hiểu biết được dạy tốt nhất bằng những câu chuyện, vì nhờ đó họ có thể được dẫn dắt để nắm bắt phần nào những điều cao hơn. Nhưng người Kitô hữu tinh thần không còn cần Đức Christ bị đóng đinh nữa, bởi vì đức tin của y được đặt trên tri thức xác định về các chân lý mà những điều này chỉ là biểu tượng. 45
The Crucifixion and the Resurrection clearly belong to the Christ allegory; this is evident from the fact that the date of their commemoration by the Church is not a fixed one, as would be the anniversary of an actual event, for it is movable and determined by the movements of the heavenly bodies, showing clearly that it was associated with their worship in pre-Christian times. Easter is always celebrated on the Sunday following the first full moon after the vernal equinox. This would be a grotesque method for fixing the date of a historical anniversary such as, for instance, the battle of Waterloo. But a commemoration whose date is made to depend upon astronomical calculations is not a commemoration in the ordinary sense and can be understood only when we consider it in relation to the festivals connected with the worship of the sun god thousands of years before the birth of Jesus.
Sự Đóng Đinh và Sự Phục Sinh rõ ràng thuộc về ẩn dụ Christ; điều này hiển nhiên từ sự kiện rằng ngày Giáo hội tưởng niệm chúng không cố định như ngày kỷ niệm của một biến cố thật sự, vì nó có thể thay đổi và được xác định bởi chuyển động của các thiên thể, cho thấy rõ rằng nó đã gắn liền với sự thờ phụng các thiên thể ấy trong thời tiền Kitô giáo. Lễ Phục Sinh luôn được cử hành vào Chủ nhật sau lần trăng tròn đầu tiên sau xuân phân. Đó sẽ là một phương pháp kỳ dị để ấn định ngày kỷ niệm lịch sử, chẳng hạn như trận Waterloo. Nhưng một cuộc tưởng niệm mà ngày tháng được đặt tùy thuộc vào các phép tính thiên văn thì không phải là một cuộc tưởng niệm theo nghĩa thông thường, và chỉ có thể được thấu hiểu khi chúng ta xét nó trong liên hệ với các lễ hội gắn với việc thờ thần mặt trời hàng ngàn năm trước khi Đức Jesus ra đời.
As a matter of fact, this part of the creed is taken direct from the ritual of the Egyptian initiation, which was intended to illustrate the later stages of the descent of the monadic essence into matter. Let us consider first how this descent came to be symbolized as a crucifixion and then how it was represented before the eyes of the neophytes in ancient Egypt.
Thật ra, phần này của tín điều được lấy trực tiếp từ nghi thức điểm đạo Ai Cập, vốn nhằm minh họa các giai đoạn về sau của sự giáng hạ của tinh chất chân thần vào vật chất. Trước hết, chúng ta hãy xem sự giáng hạ này đã được tượng trưng thành sự đóng đinh như thế nào, rồi nó đã được trình hiện trước mắt những người sơ cơ ở Ai Cập cổ đại ra sao.
The Symbolism of the Cross – Biểu Tượng của Thập Giá
To understand this clearly, we must first try to ascertain the meaning attached to the emblem of the cross in the sacred Mysteries of antiquity.
Để thấu hiểu rõ điều này, trước hết chúng ta phải cố gắng xác định ý nghĩa được gán cho biểu tượng thập giá trong các Huyền Nghi thiêng liêng thời cổ.
Each form of the cross has its particular meaning. The Greek cross is the symbol of God the Holy Ghost, the Third Person of the Blessed Trinity. The swastika and the Maltese cross, belonging to an elaborate set of symbols with which some students are familiar, are both symbols of the Holy Ghost in activity. First, God the Father is symbolized as a point within a circle. Then the point extends into a line and divides the circle into two parts, and that is a symbol of God the Son who is always represented as dual. In some cases that duality is expressed as male and female, like Osiris and Isis in Egypt; sometimes it is represented as God and man as in the Christian scheme, but always the Second Person is dual. Then the Third Person not yet in manifestation is represented by a second line crossing the first at right angles so that we get a cross within a circle.
Mỗi hình thức của thập giá có ý nghĩa riêng. Thập giá Hy Lạp là biểu tượng của Thượng đế Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba của Ba Ngôi Chân Phúc. Chữ vạn và thập giá Malta, thuộc về một bộ biểu tượng công phu mà một số đạo sinh quen thuộc, cả hai đều là biểu tượng của Chúa Thánh Thần trong hoạt động. Trước hết, Thượng đế Chúa Cha được tượng trưng như một điểm trong một vòng tròn. Rồi điểm ấy kéo dài thành một đường và chia vòng tròn thành hai phần, và đó là biểu tượng của Thượng đế Chúa Con, Đấng luôn được biểu thị như Kép. Trong một số trường hợp, Nhị nguyên ấy được diễn tả như nam và nữ, giống Osiris và Isis ở Ai Cập; đôi khi nó được biểu thị như Thượng đế và con người, như trong hệ thống Kitô giáo, nhưng Ngôi Hai luôn luôn là Kép. Rồi Ngôi Ba, chưa biểu hiện, được biểu thị bằng một đường thứ hai cắt đường thứ nhất theo góc vuông, để chúng ta có một thập giá trong một vòng tròn.
When He prepares for a further descent, the symbol changes. Sometimes the circle falls away altogether, leaving the equal-armed Greek cross as the sign of the Third Logos, the Divine Activity, ready to manifest as Creator at the commencement of a great cycle. The next stage is the swastika, which implies motion—the creative power in activity; for the lines added at right angles to the arms of the cross represent flames streaming backwards as the cross whirls round and thus they doubly indicate the eternal activity of the universal life, first by ceaseless outpouring of the fire from the center through the arms, and secondly by the rotation of the cross itself. We find the same idea in the Maltese cross, in which the arms, diverging from the center, once more typify the divine energy spreading itself forth in every direction of space.
Khi Ngài chuẩn bị cho một sự giáng hạ xa hơn, biểu tượng thay đổi. Đôi khi vòng tròn hoàn toàn rơi khỏi, để lại thập giá Hy Lạp có các nhánh bằng nhau như dấu hiệu của Thượng đế Ngôi Ba, Hoạt Động Thiêng Liêng, sẵn sàng biểu hiện như Đấng Sáng Tạo vào lúc khởi đầu một chu kỳ lớn. Giai đoạn kế tiếp là chữ vạn, hàm ý chuyển động — quyền năng sáng tạo trong hoạt động; vì các đường được thêm vào theo góc vuông với các nhánh của thập giá tượng trưng cho những ngọn lửa tuôn ngược về sau khi thập giá xoay tròn, và như thế chúng chỉ rõ gấp đôi hoạt động vĩnh cửu của sự sống vũ trụ: thứ nhất bằng sự tuôn đổ không ngừng của lửa từ trung tâm xuyên qua các nhánh, và thứ hai bằng chính sự quay của thập giá. Chúng ta thấy cùng ý tưởng ấy trong thập giá Malta, nơi các nhánh tỏa ra từ trung tâm lại một lần nữa tiêu biểu cho năng lượng thiêng liêng tự lan tỏa theo mọi hướng của không gian.
Along another line of symbolism, the cross, instead of dropping the circle altogether, extends in all directions outside it and we then have the equal-armed cross with a small circle at its intersection. Later, the small circle becomes a rose, giving us an emblem which is well known in one of the higher degrees in Freemasonry. 46 Again not only does the cross bear the mystic rose in its center, but itself becomes rosy in color as a symbol of the divine love which is the beginning and the end of all things.
Theo một tuyến biểu tượng khác, thập giá, thay vì bỏ hẳn vòng tròn, kéo dài theo mọi hướng ra ngoài vòng tròn ấy, và khi đó chúng ta có thập giá có các nhánh bằng nhau với một vòng tròn nhỏ tại giao điểm. Về sau, vòng tròn nhỏ trở thành một bông hồng, đem lại cho chúng ta một biểu tượng rất quen thuộc trong một trong những cấp độ cao hơn của Hội Tam Điểm. 46 Lại nữa, thập giá không chỉ mang đóa hồng thần bí ở trung tâm, mà chính nó cũng trở nên hồng sắc như biểu tượng của bác ái thiêng liêng, vốn là khởi đầu và kết thúc của mọi sự.
The Latin Cross – Thập Giá La-tinh
The Latin cross, which has a long stem and a shorter horizontal arm above, is often represented—more especially in the Roman Church—in the form of a crucifix with the Christ hanging upon the cross. When our investigators began to trace its symbolism back through the ages, they expected to find that the figure would fall away leaving behind the simple cross which they supposed to be its earlier form. They were greatly surprised therefore to find that exactly the reverse took place and in the earlier representations of the crucifixion the cross fell away but the figure with the arms extended persisted.
Thập giá La-tinh, có thân dài và một nhánh ngang ngắn hơn ở phía trên, thường được biểu thị — đặc biệt hơn trong Giáo hội La Mã — dưới hình thức tượng chịu nạn với Đức Christ treo trên thập giá. Khi các nhà khảo cứu của chúng ta bắt đầu truy nguyên biểu tượng của nó qua các thời đại, họ kỳ vọng sẽ thấy hình người rơi khỏi, để lại phía sau thập giá đơn giản mà họ cho là hình thức sớm hơn của nó. Vì vậy, họ hết sức ngạc nhiên khi thấy rằng chính điều ngược lại đã xảy ra, và trong những biểu hiện sớm hơn của sự đóng đinh, thập giá rơi khỏi nhưng hình người với hai tay dang rộng vẫn còn.
The cross has for ages been a symbol of matter. The Divine Man is bound upon it, cramped and confined by His descent into matter which He takes upon Himself in order that we might exist. That is the real idea which lies behind this symbol and the others connected with it—the nails, the wounds, the blood.
Từ lâu thập giá đã là biểu tượng của vật chất. Con Người Thiêng Liêng bị ràng buộc trên đó, bị gò bó và giam hãm bởi sự giáng hạ của Ngài vào vật chất, điều Ngài khoác lấy để chúng ta có thể hiện hữu. Đó là ý tưởng thật sự nằm sau biểu tượng này và những biểu tượng khác liên hệ với nó — đinh, vết thương, máu.
For several centuries, the Christ was always depicted reigning from the cross with hands uplifted in blessing and with no mark of suffering. It was only in the thirteenth century, in the time of Cimabue and Giotto, that He ceased to be represented as living and triumphant on the cross. Those different stages may be seen in successive paintings in the Uffizi gallery at Florence.
Trong nhiều thế kỷ, Đức Christ luôn được mô tả đang trị vì từ thập giá, với đôi tay nâng lên ban phước và không có dấu vết đau khổ. Chỉ đến thế kỷ thứ mười ba, vào thời Cimabue và Giotto, Ngài mới thôi được biểu thị như đang sống và khải hoàn trên thập giá. Những giai đoạn khác nhau ấy có thể được thấy trong các bức họa kế tiếp nhau tại phòng trưng bày Uffizi ở Florence.
There are certain passages in some of the apocryphal scriptures which are very significant. In The Acts of Judas Thomas there is a most beautiful description of the Christ standing in glory above the cross, and also of a splendid vision of a cross of light, by looking into and through which all the manifested worlds were to be seen. At the same time, the aura of the Christ included and interpenetrated them all. That surely is the true mystical and gnostic interpretation; it has nothing to do with the ordinary theories of crucifixion but is clearly meant to symbolize the descent of the Second Person of the Trinity into matter.
Có một số đoạn trong vài kinh sách ngụy thư rất có thâm nghĩa. Trong Công Vụ của Judas Thomas có một mô tả đẹp đẽ nhất về Đức Christ đứng trong vinh quang phía trên thập giá, và cũng về một linh ảnh rực rỡ của thập giá ánh sáng, nhờ nhìn vào và xuyên qua đó mà tất cả các thế giới biểu hiện đều được thấy. Đồng thời, hào quang của Đức Christ bao gồm và thâm nhập tất cả chúng. Điều đó chắc chắn là cách giải thích thần bí và ngộ đạo chân thật; nó không liên quan gì đến các lý thuyết thông thường về sự đóng đinh, mà rõ ràng nhằm tượng trưng cho sự giáng hạ của Ngôi Hai của Ba Ngôi vào vật chất.
The cross, even though the body worn by the Christ was never physically nailed upon it, still remains a symbol of the ineffable self-sacrifice of the Deity when He descends into matter and of the enormous patience with which He holds Himself within that limitation, so that the manifold forms which He takes may expand gradually and not be broken by the too rapid movement and expansion of the life within. It is still for us the symbol of the mightiest sacrifice that the world has ever known. The limitation of the Deity must be to Him, if not exactly suffering, a veritable death by being linked with, and confined by, all these lower forms. That sacrifice He undertakes and patiently carries through “for us men and for our salvation” that we may come into being and eventually return to the level from which originally He came.
Thập giá, dù thể mà Đức Christ khoác lấy chưa bao giờ bị đóng đinh về mặt hồng trần trên đó, vẫn còn là biểu tượng của sự tự hy sinh khôn tả của Thượng đế khi Ngài giáng xuống vào vật chất, và của sự nhẫn nại mênh mông mà nhờ đó Ngài giữ chính mình trong giới hạn ấy, để muôn vàn hình tướng mà Ngài khoác lấy có thể dần dần mở rộng và không bị phá vỡ bởi chuyển động và sự mở rộng quá nhanh của sự sống bên trong. Đối với chúng ta, nó vẫn là biểu tượng của sự hy sinh hùng mạnh nhất mà thế giới từng biết. Sự giới hạn của Thượng đế đối với Ngài hẳn phải là, nếu không chính xác là đau khổ, thì là một cái chết thật sự, do bị liên kết với và bị giam hãm bởi tất cả những hình tướng thấp này. Sự hy sinh ấy Ngài đảm nhận và kiên nhẫn thực hiện “vì chúng ta là con người và vì sự cứu rỗi của chúng ta,” để chúng ta có thể đi vào hiện hữu và cuối cùng trở về cấp độ mà từ đó ban đầu Ngài đã đến.
This symbol may also be used to remind us that man, as a part of the divine, is himself thus crucified if he did but know it. The soul, the living Christ within him, is still blindly identifying itself with the cross of matter upon which it is bound—with the physical, astral, and mental vehicles, which are not himself but his instruments to control and use. So whenever we find, as it were, two selves warring within us, we must remember that we are in truth the higher and not the lower—the Christ, not the cross. The symbol of the cross may then be to us a touchstone of self-sacrificing love, to distinguish the good from the evil in the difficulties of life.
Biểu tượng này cũng có thể được dùng để nhắc chúng ta rằng con người, với tư cách một phần của thiêng liêng, chính y cũng bị đóng đinh như vậy nếu y chỉ biết điều ấy. Linh hồn, Đức Christ sống động bên trong y, vẫn còn mù quáng đồng hoá với thập giá vật chất mà nó bị ràng buộc trên đó — với các vận cụ hồng trần, cảm dục và trí tuệ, vốn không phải là chính nó mà là các khí cụ để nó kiểm soát và sử dụng. Vì vậy, bất cứ khi nào chúng ta thấy dường như có hai bản ngã đang giao tranh trong chúng ta, chúng ta phải nhớ rằng trong chân lý, chúng ta là cái cao chứ không phải cái thấp — là Đức Christ, chứ không phải thập giá. Khi ấy, biểu tượng của thập giá có thể trở thành cho chúng ta một chuẩn thạch của tình thương tự hy sinh, để phân biệt điều thiện với điều ác trong những khó khăn của đời sống.
The disciple is taught in certain inner Mysteries even now that only those actions through which shines the light of the cross are worthy of a disciple. He is taught to try himself, his actions, and his thoughts by that, and see whether they are the product of selfishness, however delicate and subtle, or whether they are really prompted by self-sacrificing love. Only in the latter case does the light of the cross shine through his life. It is said again in these inner Mysteries: “When the disciple enters upon the path he lays his heart upon the cross; when the heart and the cross have become one, then hath he reached the goal.” This should remind us, too, that all true sacrifice must be like that of the Logos—a willing sacrifice; so long as it causes us pain and suffering we have not reached the goal. Only when self-sacrifice is natural to us; when, seeing the opportunity for it, we cannot do otherwise than take it; only when we are willing to give ourselves absolutely, fully and freely, can our sacrifice be one with His; then, and then only, have we truly signed ourselves with the sign of the cross of the eternal Christ.
Ngay cả hiện nay, đệ tử được dạy trong một số Huyền Nghi bên trong rằng chỉ những hành động qua đó ánh sáng của thập giá chiếu rọi mới xứng đáng với một đệ tử. Y được dạy phải tự thử mình, các hành động và tư tưởng của mình bằng điều đó, và xem chúng có phải là sản phẩm của ích kỷ, dù tinh vi và vi tế đến đâu, hay thật sự được thúc đẩy bởi tình thương tự hy sinh. Chỉ trong trường hợp sau, ánh sáng của thập giá mới chiếu xuyên qua đời sống của y. Trong các Huyền Nghi bên trong này, người ta lại nói: “Khi đệ tử bước vào Đường Đạo, y đặt trái tim mình lên thập giá; khi trái tim và thập giá đã trở thành một, bấy giờ y đã đạt mục tiêu.” Điều này cũng nên nhắc chúng ta rằng mọi sự hy sinh chân thật phải giống như sự hy sinh của Thượng đế — một sự hy sinh tự nguyện; chừng nào nó còn gây cho chúng ta đau đớn và khổ sở, chúng ta chưa đạt mục tiêu. Chỉ khi sự tự hy sinh trở nên tự nhiên đối với chúng ta; khi, thấy cơ hội cho nó, chúng ta không thể làm gì khác hơn là nắm lấy; chỉ khi chúng ta sẵn lòng hiến dâng chính mình một cách tuyệt đối, trọn vẹn và tự do, sự hy sinh của chúng ta mới có thể là một với sự hy sinh của Ngài; khi ấy, và chỉ khi ấy, chúng ta mới thật sự ghi dấu mình bằng dấu hiệu của thập giá của Đức Christ vĩnh cửu.