← Christian Gnosis – C. W. Leadbeater Unicode song ngữ – corrected footnote links

The Ancient Egyptian Ritual – Nghi Thức Ai Cập Cổ Đại

The Ancient Egyptian Ritual – Nghi Thức Ai Cập Cổ Đại

The great sacrifice of the descent of the Second Aspect of the Logos into matter in the form of monadic essence was somewhat elaborately set forth in symbol in the ritual of the Egyptian form of the first of the great initiations. It is not difficult to see that the idea of the crucifixion of the Christ originated in the rubric or direction given to the officiating hierophant which ran thus:

Sự hy sinh vĩ đại trong cuộc giáng hạ của Phương diện Thứ Hai của Thượng đế vào vật chất dưới hình thức tinh chất chân thần đã được trình bày bằng biểu tượng khá công phu trong nghi thức của hình thức Ai Cập của lần điểm đạo thứ nhất trong các cuộc điểm đạo lớn. Không khó để thấy rằng ý tưởng về sự đóng đinh của Đức Christ bắt nguồn từ điều khoản nghi thức hay chỉ dẫn dành cho vị chủ lễ phẩm trật, được viết như sau:

Then shall the candidate be bound upon the wooden cross; he shall die, he shall be buried, and shall descend into the underworld. After the third day he shall be brought back from the dead, and shall be carried up into heaven to be on the right hand of Him from whom he came, having learnt to guide (or rule) the living and the dead.

Bấy giờ ứng viên sẽ bị buộc trên thập giá gỗ; y sẽ chết, y sẽ được chôn, và sẽ giáng xuống âm phủ. Sau ngày thứ ba, y sẽ được đưa trở lại từ cõi chết, và sẽ được nâng lên trời để ở bên hữu Đấng mà từ Ngài y đã đến, sau khi đã học cách hướng dẫn hay cai quản người sống và người chết.

The hall of initiation was generally underground in an Egyptian temple, probably both for the sake of secrecy and as part of the symbolism. At the culmination of a long ceremony the candidate voluntarily laid himself down upon a huge wooden cross, which was hollowed so as to receive and support the human figure. To this his arms were lightly bound, the end of the cord being carefully left loose in order to typify the entirely voluntary nature of the bondage. He then passed into a deep trance and, while in this condition, his body was borne away into a vault beneath the floor of the hall of initiation and laid in an immense sarcophagus—a process which, as far as the physical body is concerned, was not all inaptly symbolized as death and burial.

Phòng điểm đạo thường nằm dưới mặt đất trong một đền thờ Ai Cập, có lẽ vừa vì sự bí mật vừa như một phần của biểu tượng. Vào điểm tột đỉnh của một nghi lễ dài, ứng viên tự nguyện nằm xuống trên một thập giá gỗ khổng lồ, được khoét rỗng để tiếp nhận và nâng đỡ hình thể con người. Hai tay y được buộc nhẹ vào đó, đầu sợi dây được cẩn thận để lỏng nhằm tiêu biểu cho bản chất hoàn toàn tự nguyện của sự ràng buộc. Rồi y đi vào một trạng thái xuất thần sâu, và trong khi ở tình trạng này, thể xác của y được mang vào một hầm vòm dưới sàn phòng điểm đạo và đặt trong một quan tài đá khổng lồ — một tiến trình mà, xét về thể xác, được tượng trưng không hề không thích hợp như cái chết và sự chôn cất.

15 – 15

THE DESCENT INTO HELL – SỰ GIÁNG XUỐNG ĐỊA NGỤC

In the Apostles’ and the Athanasian Creeds we find the clauses “He descended into hell” and “the third day he rose again.” Concerning these passages there has been a great deal of misconception. I have already indicated that the words “hell” and “damnation” in the original Greek or Hebrew in no case mean what they have been commonly supposed to mean. I mentioned that our English word “hell” is derived from helan , to “hele” or conceal, so that “hell” means the “hidden place.” As explained before, the ancients imagined this world as a vast plane floating in space, and they thought that the dead passed to a region situated underneath this plane, and hence it was called the “underworld” or Hades, which was the term commonly used by the Greeks. That hidden world is undoubtedly a fact in nature, but it is not on the underside of a great plane, because this earth happens to be a sphere.

Trong Kinh Tin Kính Các Sứ Đồ và Kinh Tin Kính Athanasius, chúng ta thấy các mệnh đề “Ngài đã giáng xuống địa ngục” và “ngày thứ ba Ngài sống lại.” Về những đoạn này đã có rất nhiều hiểu lầm. Tôi đã chỉ ra rằng các từ “địa ngục” và “đọa phạt” trong tiếng Hy Lạp hay Hebrew nguyên thủy không trường hợp nào có nghĩa như người ta thường cho là chúng có nghĩa. Tôi đã nói rằng từ tiếng Anh “hell” của chúng ta có nguồn gốc từ helan, nghĩa là “che giấu”, vậy nên “hell” có nghĩa là “nơi ẩn giấu.” Như đã giải thích trước đây, người xưa hình dung thế giới này như một mặt phẳng mênh mông trôi nổi trong không gian, và họ nghĩ rằng người chết đi đến một vùng nằm bên dưới mặt phẳng này, do đó nó được gọi là “hạ giới” hay Hades, vốn là thuật ngữ người Hy Lạp thường dùng. Thế giới ẩn giấu ấy chắc chắn là một sự kiện trong thiên nhiên, nhưng nó không ở mặt dưới của một mặt phẳng lớn, bởi vì Trái Đất này tình cờ lại là một khối cầu.

When a man passes through the change which we call death, he sheds his physical body in just the same way as a man may take off an overcoat. When a man removes his overcoat he is still dressed. It is exactly the same with the man who puts off the physical body at death; he remains in what St. Paul called the “spiritual body” [1 Cor. 15:44], which is his astral or emotional body.

Khi một người đi qua sự chuyển đổi mà chúng ta gọi là cái chết, y bỏ lại thể xác của mình theo đúng cách một người có thể cởi bỏ một chiếc áo khoác ngoài. Khi một người cởi áo khoác ngoài, y vẫn còn mặc quần áo. Với người bỏ thể xác lúc chết cũng đúng như vậy; y vẫn còn trong cái mà Thánh Paul gọi là “thể tinh thần” [1 Cor. 15:44], tức thể cảm dục hay thể cảm xúc của y.

The Astral World – Thế Giới Cảm Dục

In the astral world there are a number of subdivisions roughly arranged according to the density of the matter of which they are composed. We find the same arrangement on the physical plane also. Broadly speaking, most of the physical matter is under our feet, although there is a certain amount floating in the atmosphere as smoke, and most of the water of the globe lies upon the surface of the solid matter, though some of it interpenetrates it, and there are underground rivers and lakes. The air lies on top of both the solid and the liquid, and above that again are various kinds of ether. These are lighter still and, although they interpenetrate all the other kinds of matter, they lie chiefly on top of the air, further away from the center of the earth than its atmospheric envelope. Generally speaking, although there is a good deal of intermixture, the various components of the astral plane lie in the same way—the densest matter at the bottom and the lighter above. Thus, the densest astral matter is down on the physical plane; next above that comes the next lighter variety of astral matter—what we call the sixth subdivision; above that, but also interpenetrating it, the fifth, fourth, third, and so on. All these interpenetrate one another, but they collect chiefly at their own levels.

Trong thế giới cảm dục có một số phân khu được sắp xếp đại khái theo mật độ của vật chất cấu thành chúng. Chúng ta cũng thấy cùng cách sắp xếp trên cõi hồng trần. Nói rộng ra, phần lớn vật chất hồng trần ở dưới chân chúng ta, mặc dù có một lượng nào đó trôi nổi trong bầu khí quyển như khói, và phần lớn nước của bầu hành tinh nằm trên bề mặt vật chất rắn, dù một phần của nó thâm nhập vào đó, và có những sông hồ ngầm. Không khí nằm trên cả phần rắn lẫn phần lỏng, và bên trên nữa là nhiều loại dĩ thái khác nhau. Những thứ này còn nhẹ hơn, và mặc dù chúng thâm nhập tất cả các loại vật chất khác, chúng chủ yếu nằm trên không khí, xa tâm Trái Đất hơn lớp vỏ khí quyển của nó. Nói chung, mặc dù có khá nhiều sự pha trộn, các thành phần khác nhau của cõi cảm dục cũng nằm theo cách tương tự — vật chất đậm đặc nhất ở dưới cùng và phần nhẹ hơn ở trên. Như vậy, vật chất cảm dục đậm đặc nhất nằm xuống trên cõi hồng trần; ngay phía trên đó là loại vật chất cảm dục nhẹ hơn kế tiếp — điều chúng ta gọi là phân khu thứ sáu; bên trên đó, nhưng cũng thâm nhập vào nó, là phân khu thứ năm, thứ tư, thứ ba, và cứ thế. Tất cả những phân khu này thâm nhập lẫn nhau, nhưng chúng chủ yếu tụ lại ở các cấp độ riêng của mình.

In the astral body of each one of us there is matter of all these different kinds, just as in the composition of our physical bodies there is dense solid matter, a large proportion of liquid, and a considerable quantity of air and gas of various sorts. There is also etheric matter within and around our bodies.

Trong thể cảm dục của mỗi chúng ta có vật chất thuộc tất cả những loại khác nhau này, cũng như trong cấu tạo của các thể xác chúng ta có vật chất rắn đậm đặc, một tỷ lệ lớn chất lỏng, và một lượng đáng kể không khí cùng nhiều loại khí khác nhau. Cũng có vật chất dĩ thái ở trong và quanh các thể của chúng ta.

When we come to live in the astral body, there is a great difference in the way in which we perceive things. In this physical body we have, by slow degrees in the course of our evolution, specialized for ourselves organs of perception—eyes to see, and ears to hear—but we still retain the sense of touch all over the physical body. In the astral body what corresponds to the sense of sight or hearing is spread all over it. There is no special astral organ of sight, but we can see with all parts of the astral body. While we are what is called “alive,” all the different kinds of densities of astral matter are intermingled in the astral body. After death, these types of matter rearrange themselves, and the densest and hardest is drawn to the outside so as to minimize the disintegration of the matter by friction and thus prolong the astral life as long as possible. Since what might be called the sight of the astral body is spread over its whole surface, it is clear that having the densest and coarsest matter outside, the only vibrations the dead man can respond to are those coming from the lowest and coarsest level of the astral plane. That part of our hidden world is, on the whole, distinctly unpleasant because of the fact that all this coarse matter is the vehicle for the vibrations belonging to the more undesirable qualities.

Khi chúng ta sống trong thể cảm dục, có một sự khác biệt lớn trong cách chúng ta nhận biết sự vật. Trong thể xác này, qua từng bước chậm rãi trong tiến trình tiến hoá của mình, chúng ta đã chuyên biệt hóa cho mình các cơ quan nhận thức — mắt để thấy và tai để nghe — nhưng chúng ta vẫn giữ giác quan xúc chạm trên khắp thể xác. Trong thể cảm dục, điều tương ứng với giác quan thị giác hay thính giác được trải rộng khắp toàn thể nó. Không có một cơ quan thị giác cảm dục đặc biệt nào, nhưng chúng ta có thể thấy bằng mọi phần của thể cảm dục. Khi chúng ta còn ở trạng thái được gọi là “sống,” tất cả các loại mật độ khác nhau của vật chất cảm dục đều trộn lẫn trong thể cảm dục. Sau khi chết, các loại vật chất này tự sắp xếp lại, và loại đậm đặc nhất, cứng nhất bị hút ra ngoài để giảm thiểu sự phân rã của vật chất do ma sát, và như thế kéo dài đời sống cảm dục càng lâu càng tốt. Vì điều có thể gọi là thị giác của thể cảm dục được trải rộng trên toàn bộ bề mặt của nó, nên rõ ràng rằng khi có vật chất đậm đặc nhất và thô nhất ở bên ngoài, những rung động duy nhất mà người chết có thể đáp ứng là những rung động đến từ cấp độ thấp nhất và thô nhất của cõi cảm dục. Nhìn chung, phần ấy của thế giới ẩn giấu của chúng ta rõ ràng là khó chịu, bởi vì toàn bộ vật chất thô này là vận cụ cho các rung động thuộc về những phẩm tính kém đáng mong muốn hơn.

When a man dies, he does not suddenly become a different kind of man, much worse or much better than he was before; he does not suddenly acquire new habits but remains exactly the same. If he has lived an ordinary decent life and has not been in the habit of yielding himself to coarse and low desires, he may have a certain amount of coarse matter arranged on the outside of his astral body and may, for the time being, be cut off by that pall from the higher and more beautiful vibrations of the astral plane. But because he has not been in the habit of using the coarser matter, he remains to all intents and purposes asleep during that early stage of his life after death. He is surrounded by all sorts of unpleasant influences, but his consciousness cannot be affected by them, so he floats about quite undisturbed in the midst of all the emotional turmoil and disorder. When, gradually, the coarser matter wears away and the finer type of matter which he has been in the habit of using comes, in its turn, to the surface, he becomes conscious of external impacts and is able to enjoy them.

Khi một người chết, y không đột nhiên trở thành một loại người khác, tệ hơn nhiều hoặc tốt hơn nhiều so với trước kia; y không đột nhiên có những thói quen mới, mà vẫn hoàn toàn như cũ. Nếu y đã sống một đời bình thường, đứng đắn, và không có thói quen buông mình theo những dục vọng thô trược và thấp kém, y có thể có một lượng vật chất thô nào đó được sắp xếp ở bên ngoài thể cảm dục của mình, và trong một thời gian, có thể bị tấm màn ấy ngăn cách khỏi những rung động cao hơn và đẹp đẽ hơn của cõi cảm dục. Nhưng vì y không có thói quen sử dụng loại vật chất thô hơn ấy, nên trên thực tế, y vẫn ở trong trạng thái ngủ trong giai đoạn đầu của đời sống sau khi chết. Y bị bao quanh bởi đủ loại ảnh hưởng khó chịu, nhưng tâm thức của y không thể bị chúng tác động, nên y trôi nổi khá bình thản giữa mọi xáo trộn và hỗn loạn cảm xúc. Khi, dần dần, loại vật chất thô hơn mòn đi và loại vật chất tinh tế hơn mà y từng quen sử dụng đến lượt nó trồi lên bề mặt, y trở nên có ý thức về các tác động bên ngoài và có thể vui hưởng chúng.

Purgatory – Luyện tội

The theory of our Roman brethren—stated very roughly—is that the hopelessly wicked drop into hell immediately while the saints go at once into heaven much in the same way that Our Lady is said to have been swept up there at Her Assumption. The ordinary good man between those two extremes has a great many faults and failings, which unquestionably unfit him to step immediately into the presence of God in the conventional heaven, and he would certainly be very uncomfortable and out of place there. Besides, these faults and failings would be offensive to those already there. Since he is not yet fit for heaven, he is thought to need a longer or shorter stay in an intermediate condition in which his faults will be eliminated by a painful process.

Lý thuyết của các huynh đệ La Mã của chúng ta—nói một cách rất đại lược—là những kẻ ác đến mức vô vọng rơi ngay xuống địa ngục, trong khi các thánh nhân đi thẳng lên thiên đường, cũng gần như cách Đức Mẹ được nói là đã được đưa lên đó trong lễ Mông Triệu của Bà. Người tốt bình thường, ở giữa hai cực đoan ấy, có rất nhiều lỗi lầm và khiếm khuyết, vốn chắc chắn khiến y không thích hợp để bước ngay vào sự hiện diện của Thượng đế trong thiên đường theo quan niệm thông thường, và chắc chắn y sẽ rất khó chịu và lạc lõng ở đó. Hơn nữa, những lỗi lầm và khiếm khuyết này sẽ gây khó chịu cho những người đã ở đó. Vì y chưa thích hợp với thiên đường, nên người ta cho rằng y cần lưu lại lâu hay mau trong một trạng thái trung gian, nơi những lỗi lầm của y sẽ được loại bỏ bằng một tiến trình đau đớn.

Within certain limitations that theory of the Church of Rome may be said to be true enough. Of course, there is no such thing as eternal hell. It is an outrage to common sense and most assuredly it gives an utterly wrong concept of God to any man who believes in it. As to heaven, according to the Roman theory, it is not quite like that; nevertheless there is a condition which we may call the heaven-world, with which I have dealt elsewhere. And it is true that the saint—the specially good man—does not linger in that intermediate world which we call the astral, but passes on almost immediately into that higher heaven life. But the large majority of people, who are neither great saints nor what we might call distinctly bad, pass through both these stages, first the stage that is depicted as purgatory and then the heaven-world. It is not a question of “going to heaven” or to “hell” but rather of passing through both these conditions—the lower first and then the higher—and all the difference is the relative length of time spent in the two conditions.

Trong một số giới hạn nhất định, có thể nói lý thuyết ấy của Giáo hội La Mã cũng khá đúng. Dĩ nhiên, không hề có cái gọi là địa ngục vĩnh cửu. Đó là một sự xúc phạm đối với lương tri, và chắc chắn nhất là nó đem lại một quan niệm hoàn toàn sai lầm về Thượng đế cho bất cứ ai tin vào nó. Còn về thiên đường, theo lý thuyết La Mã, thì nó không hoàn toàn như thế; tuy nhiên, có một trạng thái mà chúng ta có thể gọi là cõi thiên đường, điều mà tôi đã bàn đến ở nơi khác. Và đúng là vị thánh—người đặc biệt tốt lành—không nấn ná trong thế giới trung gian mà chúng ta gọi là cõi cảm dục, mà hầu như lập tức đi vào đời sống thiên đường cao hơn ấy. Nhưng đại đa số con người, những người không phải là các thánh nhân vĩ đại cũng không phải là những kẻ mà chúng ta có thể gọi là rõ ràng xấu, đều đi qua cả hai giai đoạn này: trước hết là giai đoạn được mô tả như luyện tội, rồi đến cõi thiên đường. Vấn đề không phải là “đi lên thiên đường” hay “xuống địa ngục”, mà đúng hơn là đi qua cả hai trạng thái này—trạng thái thấp trước rồi đến trạng thái cao hơn—và toàn bộ khác biệt nằm ở thời gian tương đối được trải qua trong hai trạng thái ấy.

This “purgatory” is not at all inaptly so called because it is indeed a place where a great deal of refinement and improvement takes place. It is the lower part of what we commonly call the astral world into which man passes almost immediately after death. The Roman Catholic doctrine has a great deal of truth in it, but it is marred by the theory of indulgences, which holds out the possibility that a man can buy his way out of this inconvenient stage without going through the purification for which it exists. 47 There is no such possibility; no number of millions of pounds could make one pennyworth of difference to what happens to a man after death. No one can buy his way out of the action of the laws of nature.

“Luyện tội” này được gọi như thế không hề là không thích hợp, bởi vì quả thật đó là nơi diễn ra rất nhiều sự tinh luyện và cải thiện. Đó là phần thấp của cái mà chúng ta thường gọi là thế giới cảm dục, nơi con người đi vào hầu như ngay sau khi chết. Giáo lý Công giáo La Mã có rất nhiều chân lý trong đó, nhưng nó bị làm hỏng bởi lý thuyết về ân xá, vốn nêu ra khả năng rằng một người có thể dùng tiền để thoát khỏi giai đoạn bất tiện này mà không phải trải qua sự thanh luyện vốn là lý do hiện hữu của nó. 47 Không có khả năng nào như thế; không một số triệu bảng nào có thể tạo ra dù chỉ một xu khác biệt đối với những gì xảy ra cho một người sau khi chết. Không ai có thể dùng tiền để thoát khỏi tác động của các định luật tự nhiên.

Of course, it is clear that all these material ideas, such as burning by fire, are symbols; they could not be anything else. First, we must eliminate all ideas of purgatory as punishment. God does not act like an ill-tempered schoolmaster looking out for an opportunity to punish people. As a loving Father, He has, for the good of His creation and its evolution, established certain eternal laws. If there were no laws of nature (and the laws of nature mean the expression of the will of God), we should be living in chaos with nothing upon which we could depend.

Dĩ nhiên, rõ ràng là tất cả những ý niệm vật chất này, chẳng hạn như bị lửa thiêu, đều là biểu tượng; chúng không thể là gì khác. Trước hết, chúng ta phải loại bỏ mọi ý niệm về luyện tội như là sự trừng phạt. Thượng đế không hành động như một ông thầy nóng tính, luôn tìm cơ hội để trừng phạt người ta. Như một Người Cha đầy tình thương, Ngài đã thiết lập một số định luật vĩnh cửu vì lợi ích của tạo vật Ngài và sự tiến hoá của nó. Nếu không có các định luật tự nhiên, và các định luật tự nhiên có nghĩa là sự biểu lộ Ý Chí của Thượng Đế, chúng ta sẽ sống trong hỗn mang, không có gì để có thể nương tựa.

The first and greatest of all these laws is that of evolution. Man and all the other creatures upon earth are slowly but steadily evolving—growing better than they were before. But they grow under a law of cause and effect which is always and inexorably just. The law works automatically, and we cannot in any way avoid its action. If we fall over a cliff, we are dashed to pieces or seriously hurt at the bottom because of the law of gravity; the reason for which we fell over the cliff makes no difference whatever. If we fall over, we fall, and we get the uncomfortable result of the fall; it would not occur to us to say that God had punished us. Nor must we say that God punishes us when, as the result of some action of our own, the effect of that action comes upon us.

Định luật đầu tiên và vĩ đại nhất trong tất cả các định luật này là định luật tiến hoá. Con người và tất cả các sinh vật khác trên Trái Đất đang tiến hoá chậm rãi nhưng vững chắc—trở nên tốt hơn trước kia. Nhưng họ lớn lên dưới một định luật nhân quả vốn luôn luôn và không khoan nhượng là công bằng. Định luật vận hành tự động, và chúng ta không thể bằng cách nào tránh được tác động của nó. Nếu chúng ta rơi khỏi một vách đá, chúng ta bị tan xương nát thịt hoặc bị thương nặng ở dưới chân vách vì định luật trọng lực; lý do khiến chúng ta rơi khỏi vách đá không tạo ra bất cứ khác biệt nào. Nếu chúng ta ngã, chúng ta ngã, và chúng ta nhận lấy kết quả khó chịu của cú ngã; chúng ta sẽ không nghĩ đến việc nói rằng Thượng đế đã trừng phạt chúng ta. Cũng vậy, chúng ta không được nói rằng Thượng đế trừng phạt chúng ta khi, như kết quả của một hành động nào đó của chính mình, hiệu quả của hành động ấy đến với chúng ta.

And so, in the life after death, there may be suffering for the man who has broken the law, but it is not a punishment. It is simply the result of a cause which the man himself had set in motion. It is the only effective, and therefore the most merciful, process for the elimination of wrong or evil desire, for that is what the suffering which sometimes occurs after death really is. But in almost every case, the life after death is a far higher, pleasanter, happier life than the life on earth, even in the case of those whom we would call wicked. It is a better life for such people because instead of going on doing evil they are usually checked in their evil career by the suffering that comes to them. For most wrongdoing is caused by evil desire, and by suffering, the evil desire wears itself out so that in his next life the man is free from it.

Vì thế, trong đời sống sau khi chết, có thể có đau khổ đối với người đã vi phạm định luật, nhưng đó không phải là sự trừng phạt. Đó chỉ đơn giản là kết quả của một nguyên nhân mà chính người ấy đã khởi động. Đó là tiến trình duy nhất hữu hiệu, và do đó là tiến trình từ bi nhất, để loại bỏ dục vọng sai lầm hay xấu ác, bởi vì đó chính là điều mà đau khổ đôi khi xảy ra sau khi chết thực sự là. Nhưng trong hầu hết mọi trường hợp, đời sống sau khi chết là một đời sống cao hơn, dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn rất nhiều so với đời sống trên Trái Đất, ngay cả trong trường hợp những người mà chúng ta gọi là xấu ác. Đó là một đời sống tốt hơn cho những người như vậy, bởi vì thay vì tiếp tục làm điều ác, họ thường bị chặn lại trong con đường ác của mình bởi đau khổ đến với họ. Vì phần lớn hành vi sai trái do dục vọng xấu ác gây ra, và nhờ đau khổ, dục vọng xấu ác tự tiêu mòn, để trong đời sống kế tiếp, con người được tự do khỏi nó.

A man who has been of the low, coarse type on earth would be conscious only of most of the vibrations which belong to the lower levels, though, as he had been in the habit of responding to such vibrations, they would not seem so terrible to him as to the more developed man. Still, he would certainly suffer keenly from the cravings which he would not be able to satisfy and this suffering would continue until the lower kind of matter was eliminated from his vehicle. Thus every man in that early stage of life after death finds himself in precisely the sort of surroundings that he deserves. He will be aware of only those impressions that he was in the habit of attending to during physical life.

Một người thuộc loại thấp kém, thô trược trên Trái Đất sẽ chỉ có ý thức về phần lớn các rung động thuộc về những cấp độ thấp hơn, mặc dù vì y đã có thói quen đáp ứng với những rung động như thế, chúng sẽ không có vẻ khủng khiếp đối với y như đối với người phát triển hơn. Tuy vậy, chắc chắn y sẽ đau khổ sâu sắc vì những khao khát mà y không thể thoả mãn, và đau khổ này sẽ tiếp tục cho đến khi loại vật chất thấp hơn bị loại bỏ khỏi hiện thể của y. Như vậy, mỗi người trong giai đoạn đầu của đời sống sau khi chết đều thấy mình ở đúng loại hoàn cảnh mà y xứng đáng nhận. Y sẽ chỉ nhận biết những ấn tượng mà y đã có thói quen chú ý đến trong đời sống hồng trần.

The Origin of the Idea of Hell – Nguồn gốc của ý niệm về địa ngục

What is the origin of the idea that hell is a punishment? First, let us take the case of a drunkard or a sensualist who has just died. These are not, in my opinion, the worst crimes; there are many meannesses which are greater evils, but I take them for the moment to illustrate what I wish to say. In the former case, the man has been under the domination of the most intense desire. The craving of the drunkard for drink is so powerful that he forgets honor and duty and even his love for wife and children in the mad desire to satisfy it. After death, he will have the same tremendous craving tearing at him. He will be fully conscious in the lower part of the astral world, and, having lost the physical body through which alone he can satisfy his craving, the condition in which he finds himself will seem to him a very real hell. Though, in terms of earthly time, it might not last very long—only the length of time which may be necessary to wear out the desire and get rid of it—yet it might seem to him long indeed because of the suffering connected with it.

Nguồn gốc của ý niệm rằng địa ngục là một sự trừng phạt là gì? Trước hết, chúng ta hãy lấy trường hợp một người nghiện rượu hoặc một người phóng đãng vừa mới chết. Theo ý tôi, đây không phải là những tội ác tệ hại nhất; có nhiều sự đê tiện còn là những điều ác lớn hơn, nhưng lúc này tôi lấy chúng để minh hoạ điều tôi muốn nói. Trong trường hợp thứ nhất, người ấy đã ở dưới sự thống trị của dục vọng mãnh liệt nhất. Cơn thèm rượu của người nghiện rượu mạnh đến nỗi y quên danh dự và bổn phận, thậm chí cả tình thương đối với vợ con, trong dục vọng điên cuồng muốn thoả mãn nó. Sau khi chết, y sẽ có cùng cơn thèm khủng khiếp ấy giằng xé mình. Y sẽ hoàn toàn có ý thức ở phần thấp của thế giới cảm dục, và vì đã mất thể xác, là phương tiện duy nhất qua đó y có thể thoả mãn cơn thèm của mình, nên trạng thái mà y thấy mình ở trong đó sẽ đối với y giống như một địa ngục rất thật. Dù tính theo thời gian trần thế, nó có thể không kéo dài lắm—chỉ trong khoảng thời gian cần thiết để dục vọng ấy hao mòn và bị loại bỏ—nhưng đối với y nó có thể dường như thật dài, vì đau khổ gắn liền với nó.

The same thing would be true of the sensualist or of one who dies filled with jealousy, for example. I have seen a case where a man had a terrible time because of jealousy. He would spend his time watching the object of his jealous affection. He would be able to see enough to realize what she was doing but, having lost the power to interfere, he was compelled to remain a helpless witness, and so he suffered intensely until the coarser matter had worn away. Yet it was absolutely within his power to stop the whole trouble at once. Neither the drunkard nor the sensualist would have been able to cut off in a moment the desires that they have been diligently nourishing all their lives; it would have required some time to conquer these. But the jealous man had only to make the effort to overcome his evil feeling and there would have been no more suffering. At any moment he could have declared: “I decline to be jealous; I will think only of the happiness of the one whom I love; if she loves someone else, so be it.” If he had had the strength of will to bring himself into that frame of mind, his suffering would have been over. Perhaps these examples may serve to show that there is no injustice and there is no punishment imposed from without; there is the result which follows on the man’s own action, the absolutely natural and inevitable consequence of what he himself had done during life.

Điều tương tự cũng đúng đối với người phóng đãng, hoặc chẳng hạn đối với người chết trong tâm trạng đầy ghen tuông. Tôi đã thấy một trường hợp trong đó một người đã trải qua một thời gian khủng khiếp vì ghen tuông. Y dành thời gian để theo dõi đối tượng của tình cảm ghen tuông của mình. Y có thể thấy đủ để nhận ra bà đang làm gì, nhưng vì đã mất quyền năng can thiệp, y bị buộc phải ở lại như một nhân chứng bất lực, và vì thế y đau khổ dữ dội cho đến khi vật chất thô hơn đã mòn đi. Tuy nhiên, việc chấm dứt toàn bộ rắc rối ngay lập tức hoàn toàn nằm trong quyền năng của y. Cả người nghiện rượu lẫn người phóng đãng đều không thể trong chốc lát cắt đứt những dục vọng mà họ đã chuyên cần nuôi dưỡng suốt đời; cần phải có một thời gian để chinh phục chúng. Nhưng người ghen tuông chỉ cần cố gắng vượt qua cảm xúc xấu ác của mình, và sẽ không còn đau khổ nữa. Bất cứ lúc nào y cũng có thể tuyên bố: “Tôi từ chối ghen tuông; tôi sẽ chỉ nghĩ đến hạnh phúc của người tôi yêu; nếu bà ấy yêu một người khác, thì cứ để như vậy.” Nếu y có đủ sức mạnh ý chí để đưa mình vào trạng thái tâm trí ấy, đau khổ của y đã chấm dứt. Có lẽ những ví dụ này có thể cho thấy rằng không có sự bất công và không có sự trừng phạt nào áp đặt từ bên ngoài; chỉ có kết quả theo sau hành động của chính con người, hậu quả hoàn toàn tự nhiên và không thể tránh khỏi của những gì chính y đã làm trong đời sống.

Some of the old Hindu writers were evidently observers of these things. In the Garuda Purana , for example, which deals with these low conditions of life from the popular and much overdrawn point of view, it is said that the miser goes along crying out: “Give up, give up, my wealth; from the world of Yama I see my wealth being enjoyed by you.” 48 It is true that people who inhabit the lower astral world are very often far from happy and are sometimes intensely unhappy, and though the existence of this condition may have helped to inspire the popular concept of hell, there is no such hell except in people’s disordered imagination.

Một số tác giả Ấn giáo xưa hiển nhiên là những người quan sát các điều này. Chẳng hạn, trong Garuda Purana, tác phẩm bàn về những trạng thái thấp này của đời sống từ quan điểm bình dân và bị phóng đại rất nhiều, có nói rằng người keo kiệt vừa đi vừa kêu lên: “Hãy trả lại, hãy trả lại của cải của tôi; từ thế giới của Yama, tôi thấy của cải của tôi đang được các ngươi hưởng thụ.” 48 Đúng là những người cư ngụ trong thế giới cảm dục thấp thường rất xa với hạnh phúc và đôi khi vô cùng bất hạnh, và mặc dù sự hiện hữu của trạng thái này có thể đã góp phần gợi nên quan niệm bình dân về địa ngục, nhưng không có địa ngục nào như thế, ngoại trừ trong sự tưởng tượng rối loạn của con người.

The Descent into Hell – Sự giáng xuống địa ngục

Let us now consider the meaning of the descent of the Christ into hell. We have seen that in the Egyptian ceremony of initiation there is a stage where the candidate is taken out of his physical body which is left lying in a condition of deep trance. During that time, the man himself is functioning in his astral body and is fully alive and conscious in that lower world. The Christ, as every other man in the course of his development must one day do, left His physical body and passed, not into the hell of the gross Christian conception, but into Hades, the world of the departed. We are told that during the three days before He rose again from the dead He went and preached to “the spirits in prison” (1 Peter 3:19) and, assuredly, those recently departed from this life may very truly be thought of as being in prison so long as they are yielding themselves to those coarser vibrations. As has been said before, the average decent man would be unconscious during this period and so would need no assistance except, perhaps, a little stimulus to help him rise out of his surroundings into higher conditions. But it was to those wretched creatures who had recently departed from this life and were still imprisoned and held down on the lower levels of the astral plane by unexhausted desires and unsubdued passions—it was to that vast army of unfortunates that the Christ went in order to help them by pointing out the true course of their evolution and the best method of hastening it.

Bây giờ chúng ta hãy xét ý nghĩa của việc Đức Christ giáng xuống địa ngục. Chúng ta đã thấy rằng trong nghi lễ điểm đạo Ai Cập có một giai đoạn trong đó ứng viên được đưa ra khỏi thể xác của mình, thể xác ấy bị bỏ lại trong trạng thái xuất thần sâu. Trong thời gian đó, chính con người ấy hoạt động trong thể cảm dục của mình và hoàn toàn sống động, có ý thức trong thế giới thấp ấy. Đức Christ, như mọi người khác trong tiến trình phát triển của mình một ngày kia đều phải làm, đã rời thể xác của Ngài và đi vào, không phải địa ngục theo quan niệm thô thiển của Cơ Đốc giáo, mà là Hades, thế giới của những người đã khuất. Chúng ta được kể rằng trong ba ngày trước khi Ngài sống lại từ cõi chết, Ngài đã đi và giảng cho “các tinh thần trong ngục tù” (1 Peter 3:19), và chắc chắn, những người mới rời khỏi đời sống này có thể rất đúng khi được nghĩ là đang ở trong ngục tù chừng nào họ còn buông mình theo những rung động thô hơn ấy. Như đã nói trước đây, người đứng đắn trung bình sẽ vô thức trong thời kỳ này, và vì thế sẽ không cần sự trợ giúp nào, ngoại trừ có lẽ một kích thích nhỏ để giúp y vươn ra khỏi hoàn cảnh của mình vào những trạng thái cao hơn. Nhưng chính đến với những sinh linh khốn khổ vừa mới rời khỏi đời sống này, vẫn còn bị giam giữ và kéo trì xuống các cấp độ thấp của cõi cảm dục bởi những dục vọng chưa cạn và những đam mê chưa được chế ngự—chính đến với đạo quân rộng lớn của những người bất hạnh ấy mà Đức Christ đã đi, để giúp họ bằng cách chỉ ra con đường chân thật của sự tiến hoá của họ và phương pháp tốt nhất để thúc đẩy nó.

There is a beautiful story in the Gospel of Nicodemus 49 about the entry of the Christ into Hades. It tells how Adam came forward to welcome Him and, as he prostrated himself before Christ, the Lord took him by the hand and led him, and the many pre-Christian saints and prophets that were with him, out of hell. Thus, according to this story, as Adam was the first to die, so also was he the first to be made free. That is only a legend, but it shows how they thought about these things in the early Church. They believed that the entry of the Christ into that hidden world would set free all those who, having had the misfortune to live in times long past, could attain salvation only by thus after death hearing and accepting the Christian faith.

Có một câu chuyện đẹp trong Phúc Âm Nicodemus 49 về việc Đức Christ đi vào Hades. Câu chuyện kể rằng Adam bước ra để chào đón Ngài, và khi ông phủ phục trước Đức Christ, Chúa nắm lấy tay ông và dẫn ông, cùng với nhiều thánh nhân và tiên tri trước Cơ Đốc giáo đi theo ông, ra khỏi địa ngục. Như vậy, theo câu chuyện này, cũng như Adam là người đầu tiên chết, ông cũng là người đầu tiên được giải thoát. Đó chỉ là một truyền thuyết, nhưng nó cho thấy trong Giáo hội sơ khai người ta đã nghĩ về những điều này như thế nào. Họ tin rằng việc Đức Christ đi vào thế giới ẩn khuất ấy sẽ giải thoát tất cả những ai, vì bất hạnh phải sống trong những thời xa xưa, chỉ có thể đạt được sự cứu rỗi bằng cách sau khi chết nghe và chấp nhận đức tin Cơ Đốc như thế.

It is as the prototype of all Christian men that the Christ descended into hell. Every Christ descending into hell will preach to the spirits in prison and try to help them. Even now, every time a candidate is received into the Great White Lodge, the Brotherhood of the Adepts, he also has to go through that experience. He is examined and is asked: “Here is such-and-such a case; how would you go to work to help it?” Then he is sent out to make his first experiment in preaching to the spirits in prison—to make his first attempt to help the unfortunate people in the astral world who have not yet reached the higher part where they could be happy—unless, perchance, he had previously been taught how to do so, in which case the ceremony of his initiation would be considerably shortened.

Chính với tư cách là nguyên mẫu của mọi người Cơ Đốc mà Đức Christ đã giáng xuống địa ngục. Mỗi Đức Christ khi giáng xuống địa ngục sẽ giảng cho các tinh thần trong ngục tù và cố gắng giúp họ. Ngay cả hiện nay, mỗi khi một ứng viên được tiếp nhận vào Thánh Đoàn, Huynh Đệ Đoàn của các Chân sư, y cũng phải trải qua kinh nghiệm ấy. Y được khảo sát và được hỏi: “Đây là một trường hợp như thế này; bạn sẽ bắt tay vào giúp nó như thế nào?” Rồi y được sai đi để thực hiện thử nghiệm đầu tiên của mình trong việc giảng cho các tinh thần trong ngục tù—thực hiện nỗ lực đầu tiên để giúp những người bất hạnh trong thế giới cảm dục chưa đạt đến phần cao hơn, nơi họ có thể hạnh phúc—trừ khi, có lẽ, trước đó y đã được dạy cách làm như vậy, trong trường hợp ấy nghi lễ điểm đạo của y sẽ được rút ngắn đáng kể.

A Field for Work – Một lĩnh vực để hoạt động

But long before that great advancement comes to a man, it is possible for him to help in this work when he leaves his physical body and passes out into the astral world during sleep. He also can “preach to the spirits in prison” just insofar as he has the knowledge which enables him to tell them how to escape from their different limitations. Before he can do that effectually he must, of course, know something of that higher world, must prime himself with advice which he can give according to the cases which may come before him. Assuredly, if we resolve to give such help and to look for opportunities to help, we shall do so. Any resolution of that kind which we make in our waking consciousness will be put into practice in that higher world because, though most of us cannot bring through the recollection of the higher, the recollection of the lower passes automatically into the higher.

Nhưng từ rất lâu trước khi sự tiến bộ vĩ đại ấy đến với một người, y đã có thể giúp trong công việc này khi y rời thể xác và đi ra vào thế giới cảm dục trong giấc ngủ. Y cũng có thể “giảng cho các tinh thần trong ngục tù” trong chừng mực y có tri thức giúp y nói cho họ biết cách thoát khỏi những giới hạn khác nhau của họ. Trước khi có thể làm điều đó một cách hữu hiệu, dĩ nhiên y phải biết đôi điều về thế giới cao hơn ấy, phải chuẩn bị sẵn cho mình những lời khuyên mà y có thể đưa ra tùy theo các trường hợp có thể đến trước y. Chắc chắn, nếu chúng ta quyết tâm trao sự trợ giúp như thế và tìm kiếm cơ hội để giúp đỡ, chúng ta sẽ làm được. Bất cứ quyết tâm nào thuộc loại ấy mà chúng ta lập trong tâm thức lúc thức đều sẽ được đưa vào thực hành trong thế giới cao hơn ấy, bởi vì dù phần lớn chúng ta không thể đem ký ức về cõi cao xuống, ký ức về cõi thấp lại tự động chuyển lên cõi cao.

So when we go to sleep at night we shall remember our intentions perfectly but when we come back to our physical bodies the next morning, it is quite uncertain whether we shall have any memory of what we did in the astral world. All that the average person may hope to bring through is an occasional vivid dream of having done or said certain things.

Vì vậy, khi chúng ta đi ngủ ban đêm, chúng ta sẽ nhớ hoàn toàn những ý định của mình; nhưng khi trở lại thể xác vào sáng hôm sau, việc chúng ta có còn chút ký ức nào về những gì mình đã làm trong thế giới cảm dục hay không là điều khá bất định. Tất cả những gì người bình thường có thể hy vọng đem về chỉ là thỉnh thoảng một giấc mơ sống động rằng mình đã làm hoặc nói một số điều nào đó.

There is a vast need for help and for more helpers. As time goes on, more and more people will raise themselves to the condition where they can be effective helpers during their physical lives and, afterwards, when they have cast off the physical body and are themselves living in the astral world, it will be one of their principal occupations to help other people, to go about giving them advice and assistance.

Có một nhu cầu rất lớn về sự trợ giúp và về nhiều người trợ giúp hơn. Khi thời gian trôi qua, ngày càng nhiều người sẽ tự nâng mình lên trạng thái mà họ có thể là những người trợ giúp hữu hiệu trong đời sống hồng trần của họ, và sau đó, khi họ đã trút bỏ thể xác và chính họ sống trong thế giới cảm dục, một trong những công việc chính của họ sẽ là giúp người khác, đi khắp nơi để trao lời khuyên và sự trợ giúp cho họ.

Thus the descent into hell is an opportunity for Christlike work in the relief of suffering. That hidden world—hidden from our physical eyes, but nevertheless perfectly clear and open to our astral vision—is a field where we can go and work; where nightly, during sleep and after death, we can bear the good news to those who are heavily burdened with sorrow or remorse and lift them out of their suffering, out of darkness into light.

Như vậy, sự giáng xuống địa ngục là một cơ hội cho công việc giống Đức Christ trong việc làm vơi đau khổ. Thế giới ẩn khuất ấy—ẩn đối với mắt hồng trần của chúng ta, nhưng tuy vậy hoàn toàn rõ ràng và mở ra trước tầm nhìn cảm dục của chúng ta—là một lĩnh vực nơi chúng ta có thể đi đến và hoạt động; nơi mỗi đêm, trong giấc ngủ và sau khi chết, chúng ta có thể mang tin lành đến cho những ai đang bị đè nặng bởi sầu khổ hay hối hận, và nâng họ ra khỏi đau khổ, ra khỏi bóng tối vào ánh sáng.

16 – 16

The Resurrection – Sự Phục Sinh

“The Third Day He Rose Again from the Dead” – “Ngày thứ ba Ngài sống lại từ cõi chết”

According to the Gospel story, Christ died on Friday afternoon or evening; the different accounts do not agree as to the exact time. Then it is said that He rose at midnight between Saturday and Sunday. It has been argued, a little disingenuously, that that fulfils the idea of rising again on the third day; that if the Friday (which, however, was nearly over before His death) is counted in with the Saturday and the Sunday (at the dawning of which He rose), it may be said that on “the third day He rose again from the dead.” But this does not agree with that other statement attributed to the Christ that “so shall the Son of man be three days and three nights in the heart of the earth” (Matt. 12:40).

Theo câu chuyện Phúc Âm, Đức Christ chết vào chiều hoặc tối thứ Sáu; các tường thuật khác nhau không thống nhất về thời điểm chính xác. Rồi người ta nói rằng Ngài sống lại vào lúc nửa đêm giữa thứ Bảy và Chủ Nhật. Có người đã lập luận, hơi thiếu thành thật, rằng điều đó đáp ứng ý niệm sống lại vào ngày thứ ba; rằng nếu ngày thứ Sáu, tuy nhiên gần như đã hết trước khi Ngài chết, được tính chung với thứ Bảy và Chủ Nhật, lúc rạng đông của ngày ấy Ngài sống lại, thì có thể nói rằng vào “ngày thứ ba Ngài sống lại từ cõi chết.” Nhưng điều này không phù hợp với lời tuyên bố khác được quy cho Đức Christ rằng “Con người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày và ba đêm như vậy” (Matt. 12:40).

I have already drawn attention to the Egyptian rubric which the Christ Himself seems to have used to illustrate the teaching He gave to His followers about the progress of man through the different stages of initiation. There it is said that the candidate shall die and be buried and pass into the underworld and that, after the third day, he shall rise again. For three days and three nights the candidate was left in a state of trance; then on the morning of the fourth day he was lifted from his sarcophagus, carried into the outer air, and laid against the eastern side of the Great Pyramid so that the First Rays of the rising sun might fall upon his face and awaken him from his long sleep. But that was quite clearly and definitely after three days and three nights; therefore, insofar as this tradition is founded upon that rubric (and undoubtedly it is so to a great extent), three days and three nights would be the proper period.

Tôi đã từng lưu ý đến nghi thức Ai Cập mà chính Đức Christ dường như đã dùng để minh hoạ giáo huấn Ngài ban cho các môn đồ về sự tiến bộ của con người qua các giai đoạn điểm đạo khác nhau. Ở đó có nói rằng ứng viên sẽ chết, được chôn, đi vào cõi âm, và sau ngày thứ ba, y sẽ sống lại. Trong ba ngày và ba đêm, ứng viên được để lại trong trạng thái xuất thần; rồi vào buổi sáng ngày thứ tư, y được nâng lên khỏi quan tài đá, được mang ra ngoài trời, và được đặt tựa vào mặt phía đông của Kim Tự Tháp Lớn để những Tia đầu tiên của mặt trời mọc rơi trên mặt y và đánh thức y khỏi giấc ngủ dài. Nhưng điều đó hoàn toàn rõ ràng và dứt khoát là sau ba ngày và ba đêm; do đó, trong chừng mực truyền thống này được đặt nền trên nghi thức ấy, và chắc chắn phần lớn là như vậy, thì ba ngày và ba đêm sẽ là khoảng thời gian đúng.

That seems to have been universally accepted in the early days of the Mysteries, but, as is well known, the Mysteries deteriorated as time went on, and candidates were accepted because they were people of importance rather than because they were spiritually developed. In the early days of the Eleusinian Mysteries in Greece no one, not even the greatest king, would have been accepted unless he was in every way ready. In later and more degenerate days, the Mysteries became widely spread, and it is evident that it could not have been very difficult for people to join them, for one reads of a meeting of one of the degrees which was attended by no less than 30,000 initiates. It is certain that some of the later candidates could not fulfill all the requirements and were unable to remain in trance or even in sleep during the original period of seventy-seven hours. So “after the third day” became “on the third day.” Of course this change could not have been made until the original intention had been forgotten or allowed to lapse.

Điều đó dường như đã được chấp nhận phổ quát trong những ngày đầu của các Bí nhiệm, nhưng như đã biết rõ, các Bí nhiệm đã suy thoái theo thời gian, và các ứng viên được chấp nhận vì họ là những người có địa vị quan trọng hơn là vì họ đã phát triển tinh thần. Trong những ngày đầu của các Bí nhiệm Eleusis ở Hy Lạp, không ai, ngay cả vị vua vĩ đại nhất, được chấp nhận trừ khi y sẵn sàng về mọi phương diện. Trong những ngày về sau và suy đồi hơn, các Bí nhiệm trở nên phổ biến rộng rãi, và rõ ràng là không thể quá khó để người ta gia nhập chúng, vì người ta đọc thấy một cuộc họp của một trong các cấp độ có không dưới 30.000 điểm đạo đồ tham dự. Chắc chắn một số ứng viên về sau không thể đáp ứng mọi yêu cầu và không thể ở trong trạng thái xuất thần, hoặc thậm chí trong giấc ngủ, suốt thời kỳ nguyên thủy là bảy mươi bảy giờ. Vì thế “sau ngày thứ ba” trở thành “vào ngày thứ ba.” Dĩ nhiên, sự thay đổi này không thể được thực hiện cho đến khi ý định nguyên thủy đã bị lãng quên hoặc để cho phai nhạt.

There is a definite reason why this particular period of time was chosen; it refers to the other side of the symbolism—the descent of the Second Person of the ever-Blessed Trinity into matter. Students are aware that that descent is divided into great periods called “rounds,” because of the fact that the divine life-wave passes seven times round a “chain” of seven worlds during the life-period of what is called a “planetary chain.” The descent into matter takes three and a half such rounds. For three long journeys round our earth-chain and part of a fourth, the monadic essence sinks deeper and deeper into dense matter. We read in The Secret Doctrine that fohat (the Tibetan name for one of the manifestations of the Divine Life) has taken three turns and half a turn. It is only after the middle of the fourth round that certain mighty beings came down to our earth and gave a tremendous impetus to human evolution. Therefore in the symbolism of the ritual, the Christ is buried in the heart of the earth for three days and three nights, and only then is brought out again and rises, symbolizing the moment the monadic essence begins that mighty sweep of its upwards arc which, in the end, shall seat it “at the right hand of the Father.”

Có một lý do xác định tại sao khoảng thời gian đặc biệt này được chọn; nó liên hệ đến mặt kia của biểu tượng—sự giáng xuống vật chất của Ngôi Hai trong Ba Ngôi Chí Phúc vĩnh viễn. Các đạo sinh biết rằng sự giáng xuống ấy được chia thành những thời kỳ lớn gọi là “các cuộc tuần hoàn”, vì sự kiện là làn sóng sự sống thiêng liêng đi bảy lần quanh một “dãy” gồm bảy thế giới trong thời kỳ sống của cái được gọi là một “dãy hành tinh.” Sự giáng xuống vật chất kéo dài ba cuộc tuần hoàn rưỡi như thế. Trong ba hành trình dài quanh dãy địa cầu của chúng ta và một phần của cuộc thứ tư, tinh chất chân thần chìm ngày càng sâu hơn vào vật chất đậm đặc. Chúng ta đọc trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng fohat, tên Tây Tạng của một trong các biểu lộ của Sự Sống Thiêng Liêng, đã đi ba vòng và nửa vòng. Chỉ sau điểm giữa của cuộc tuần hoàn thứ tư, một số Sinh Mệnh hùng mạnh mới giáng xuống địa cầu chúng ta và ban một xung lực lớn lao cho sự tiến hoá của nhân loại. Do đó, trong biểu tượng của nghi lễ, Đức Christ được chôn trong lòng đất ba ngày và ba đêm, và chỉ sau đó mới được đưa ra trở lại và sống dậy, tượng trưng cho khoảnh khắc tinh chất chân thần bắt đầu vòng quét hùng mạnh của cung đi lên của nó, để cuối cùng sẽ đặt nó “bên hữu của Cha.”

Other Meanings – Những ý nghĩa khác

There are other meanings involved in this symbolism which I can only touch upon here. In the Epistle to the Romans, St. Paul writes: “We are buried with him by baptism into death; that like as Christ was raised up from the dead . . . even so we also should walk in newness of life” (Rom. 6:4). We have died with Christ; that is to say, just as the Second Person has descended into matter, so have we as souls descended into incarnation again and again. So we must also rise out of matter with Him into the higher and fuller life.

Có những ý nghĩa khác hàm chứa trong biểu tượng này mà tôi chỉ có thể đề cập thoáng qua ở đây. Trong Thư gửi tín hữu Rôma, Thánh Phao-lô viết: “Chúng ta đã được chôn với Ngài bởi phép báp-têm vào sự chết; để cũng như Đức Christ đã được sống lại từ cõi chết... thì chúng ta cũng phải bước đi trong đời sống mới” (Rom. 6:4). Chúng ta đã chết với Đức Christ; nghĩa là, cũng như Ngôi Hai đã giáng xuống vật chất, chúng ta với tư cách là các linh hồn cũng đã giáng xuống nhập thể hết lần này đến lần khác. Vì vậy, chúng ta cũng phải vươn lên khỏi vật chất cùng với Ngài vào đời sống cao hơn và đầy đủ hơn.

At the first initiation—a man’s first birth into the higher life—we speak of him as rising from among the dead because, from the higher point of view, those who live in the world and for the world may be thought of as dead—dead as yet to the higher possibilities before them, dead to the spiritual side of their lives—and so the man who attains that level thereby becomes “safe” for ever and has definitely raised himself out of that death into life. All that many people think of as life—worldly ambition, power, and the indulgence of the self—is from the higher point of view merely a kind of living death, and the man who lives for such things has not yet risen from death in the mystical and inner sense.

Ở lần điểm đạo thứ nhất—sự sinh ra đầu tiên của một người vào đời sống cao hơn—chúng ta nói về y như người sống lại từ giữa những kẻ chết, bởi vì từ quan điểm cao hơn, những người sống trong thế gian và vì thế gian có thể được xem như đã chết—chưa sống đối với những khả năng cao hơn trước mặt họ, chết đối với phương diện tinh thần của đời sống họ—và vì vậy, người đạt đến cấp độ ấy nhờ đó trở nên “an toàn” mãi mãi và đã dứt khoát nâng mình ra khỏi cái chết ấy vào sự sống. Tất cả những gì nhiều người nghĩ là đời sống—tham vọng thế gian, quyền lực, và sự buông thả của bản ngã cá nhân—từ quan điểm cao hơn chỉ là một loại cái chết đang sống, và người sống vì những điều như thế vẫn chưa sống lại từ cõi chết theo ý nghĩa thần bí và nội tại.

The rising from the dead is also part of the symbolism of the fourth initiation. Connected with that is always much suffering, for the man must clear away all the karma that may yet remain to him. Up to the very end there will cling to him something of the results of his actions, whether they be good or bad, and in that initiation he finally winds up all connection with the affairs of earth. The man who has reached that level need not take birth again on earth unless he wishes, though almost invariably he decides to be born again in order to help mankind. For whatever advancement a man may gain, whether it be the first or the fourth initiation, he gains not for himself but on behalf of us all. The “great orphan humanity,” through him, takes one more tiny step on the way to its collective escape from the chain of matter. When a great one rises from the dead, the whole world is brought a little nearer to its own rising, and there is great rejoicing among the angels of God whose great object (those of them whose work belongs to this side of things) is to help on evolution.

Sự sống lại từ cõi chết cũng là một phần của biểu tượng trong lần điểm đạo thứ tư. Gắn liền với điều đó luôn có nhiều đau khổ, vì con người phải dọn sạch mọi nghiệp quả còn có thể tồn tại với y. Cho đến tận cùng, vẫn còn bám vào y một điều gì đó thuộc về kết quả các hành động của y, dù chúng tốt hay xấu, và trong lần điểm đạo ấy, y cuối cùng kết thúc mọi liên hệ với các công việc của Trái Đất. Người đã đạt đến cấp độ ấy không cần tái sinh trên Trái Đất nữa trừ khi y muốn, mặc dù hầu như luôn luôn y quyết định sinh lại để giúp nhân loại. Vì bất cứ sự tiến bộ nào một người có thể đạt được, dù đó là lần điểm đạo thứ nhất hay thứ tư, y đạt được không phải cho chính mình mà nhân danh tất cả chúng ta. “Nhân loại mồ côi vĩ đại”, qua y, tiến thêm một bước rất nhỏ trên con đường thoát tập thể khỏi xiềng xích của vật chất. Khi một Đấng Cao Cả sống lại từ cõi chết, toàn thế giới được đưa đến gần hơn một chút với sự sống lại của chính nó, và có niềm hoan hỉ lớn lao giữa các thiên thần của Thượng đế, những vị có mục tiêu lớn lao, tức những vị mà công việc thuộc về phương diện này của sự việc, là trợ giúp sự tiến hoá.

The whole world rejoices when the arhat 50 attains; “all nature thrills with joyous awe,” as it is expressed in that wonderful little book, The Voice of the Silence . In The Light of Asia Sir Edwin Arnold describes most beautifully how, at the attainment of the Lord Buddha, the whole world was affected and felt a pulsing of sympathy; the prisoner leapt to lose his chains, people on sick beds felt themselves for the moment better and stronger without knowing why. Whether all that happens on the physical plane, I cannot say—most probably it does. But whether it does or not, I can testify from what I have seen myself that on all the higher planes it is so. Perhaps one may say it is after all but a small thing, because what is so stupendous an advancement for one man is, when divided among the hundreds of millions in the world, but a very little advance for each one, but it still means quite a definite uplift for everyone. So true is it that humanity is One.

Toàn thế giới hoan hỉ khi vị arhat 50 chứng đạt; “toàn thể thiên nhiên rung động trong niềm kính sợ hoan hỉ,” như được diễn tả trong cuốn sách nhỏ kỳ diệu ấy, Tiếng Nói của Im Lặng. Trong Ánh Sáng Á Châu, Ngài Edwin Arnold mô tả rất đẹp việc khi Đức Phật chứng đạt, toàn thế giới đã chịu ảnh hưởng và cảm thấy một nhịp đập đồng cảm; người tù nhảy lên để rũ bỏ xiềng xích, những người nằm trên giường bệnh trong khoảnh khắc cảm thấy mình khá hơn và mạnh hơn mà không biết vì sao. Liệu tất cả điều đó có xảy ra trên cõi hồng trần hay không, tôi không thể nói—rất có lẽ là có. Nhưng dù có hay không, tôi có thể làm chứng từ những gì chính tôi đã thấy rằng trên tất cả các cõi cao hơn, điều đó là như vậy. Có lẽ người ta có thể nói rốt cuộc đó chỉ là một điều nhỏ, bởi vì điều là một bước tiến phi thường đối với một người, khi được chia cho hàng trăm triệu người trong thế giới, chỉ là một bước tiến rất nhỏ cho mỗi người; nhưng nó vẫn có nghĩa là một sự nâng lên khá rõ rệt cho tất cả mọi người. Quả thật nhân loại là Một.

We Shall Rise with Christ – Chúng ta sẽ sống lại với Đức Christ

Therefore those of us who understand a little of the truth are eager to run in advance, as it were, and are determined to work definitely for evolution instead of hanging back and just allowing ourselves to be carried on by the current. If we are anxious to make the swifter progress in order that we may help our fellow men and that we may take part in the great plan of evolution, if we are acting unselfishly and working in the spirit of God, then shall we rise as did the Christ. As the Christ had the Godhead behind Him, so have we within us the same power, although not yet unfolded as fully as His was. Nevertheless it is there; it is only a question of development, and that development is absolutely certain.

Vì vậy, những ai trong chúng ta thấu hiểu một chút chân lý đều tha thiết muốn, có thể nói, chạy lên phía trước, và quyết tâm làm việc một cách dứt khoát cho sự tiến hoá, thay vì chần chừ phía sau và chỉ để mình bị dòng chảy cuốn đi. Nếu chúng ta nôn nóng đạt tiến bộ nhanh hơn để có thể giúp đồng loại của mình và có thể tham dự vào Thiên Cơ vĩ đại của tiến hoá, nếu chúng ta hành động vô ngã và làm việc trong tinh thần của Thượng đế, thì chúng ta sẽ sống lại như Đức Christ đã sống lại. Cũng như Đức Christ có Thần tính ở phía sau Ngài, chúng ta cũng có cùng quyền năng ấy bên trong mình, dù chưa được khai mở đầy đủ như của Ngài. Tuy nhiên, nó vẫn ở đó; chỉ là vấn đề phát triển, và sự phát triển ấy tuyệt đối chắc chắn.

We shall indeed rise with Christ, and our rising must be continually repeated because there are always still higher levels to be reached. We must continue to cast behind us the burdens which hold us down and steadily, even though it may be slowly, rise towards the glory which lies before us in the future. “Christ being raised from the dead, dieth no more; death hath no more dominion over him. For in that he died, he died unto sin once; but in that he liveth, he liveth unto God” (Rom. 6:9–10) is true not of Christ alone, but of every man. We all have to die unto sin, and when we have once done that and risen above it, we live unto God for evermore. When we have raised ourselves above the temptations of the lower world, we live for the Christ and for His world and no longer for the personal self. That is indeed the true resurrection, and that is the goal which we must set before ourselves. When we have cast behind all that may hold us, it will indeed be true that “death hath no more dominion” over us, for we have risen with Christ and are partakers of the glory and of the higher life of God Himself.

Chúng ta quả thật sẽ sống lại với Đức Christ, và sự sống lại của chúng ta phải liên tục được lặp lại, bởi vì luôn luôn còn có những cấp độ cao hơn phải đạt tới. Chúng ta phải tiếp tục bỏ lại sau lưng những gánh nặng kéo trì chúng ta xuống, và vững vàng, dù có thể chậm rãi, vươn lên hướng tới vinh quang nằm trước chúng ta trong tương lai. “Đức Christ đã sống lại từ cõi chết, không còn chết nữa; sự chết không còn quyền thống trị trên Ngài. Vì trong việc Ngài đã chết, Ngài đã chết đối với tội lỗi một lần; nhưng trong việc Ngài sống, Ngài sống cho Thượng đế” (Rom. 6:9–10) là điều đúng không chỉ đối với Đức Christ, mà đối với mọi người. Tất cả chúng ta đều phải chết đối với tội lỗi, và khi đã một lần làm điều đó và vươn lên trên nó, chúng ta sống cho Thượng đế mãi mãi. Khi chúng ta đã nâng mình lên trên những cám dỗ của thế giới thấp, chúng ta sống cho Đức Christ và cho thế giới của Ngài, chứ không còn cho bản ngã cá nhân. Đó quả thật là sự phục sinh chân thật, và đó là mục tiêu mà chúng ta phải đặt trước mình. Khi chúng ta đã bỏ lại sau lưng tất cả những gì có thể giữ chúng ta lại, bấy giờ quả thật sẽ đúng rằng “sự chết không còn quyền thống trị” trên chúng ta, vì chúng ta đã sống lại với Đức Christ và là những người dự phần vào vinh quang và vào đời sống cao hơn của chính Thượng đế.

17 – 17

The Ascension – Sự Thăng Thiên

“He Ascended into Heaven” – “Ngài thăng lên thiên đường”

The account of the Ascension given in the Bible states that Christ rose before the eyes of His apostles from the ground into the air and floated up until a cloud received Him out of their sight. This account need not be taken as historical. The whole Gospel story is a mystery drama setting forth the stages in the spiritual advancement of every Christian man.

Tường thuật về Sự Thăng Thiên được nêu trong Kinh Thánh nói rằng Đức Christ, trước mắt các tông đồ của Ngài, đã từ mặt đất bay lên không trung và nổi lên cho đến khi một đám mây tiếp nhận Ngài khỏi tầm mắt họ. Tường thuật này không cần phải được xem là lịch sử. Toàn bộ câu chuyện Phúc Âm là một vở kịch huyền nhiệm trình bày các giai đoạn trong sự tiến bộ tinh thần của mỗi người Cơ Đốc.

The account given in the New Testament is not at all as definite as we should expect of so singular a phenomenon. There is simply a reference to it at the end of the Gospel of St. Mark, 51 and the story as we have it depends upon St. Luke. The Gospel attributed to him (we do not know anything about the author) and the Acts of the Apostles, which he is also supposed to have written, contain two contradictory accounts of this event. In the Gospel it appears that the ascension took place on the same day as the resurrection; that the Christ rose perhaps at midnight or very early in the morning while it was still dark, and in the evening of the same day He ascended [Luke 24:51]. In the Acts of the Apostles, forty days are made to intervene [Acts 1:3–9]. In the Pistis Sophia it is said that a period of ten years separated the two events.

Tường thuật được đưa ra trong Tân Ước không hề rõ ràng như chúng ta mong đợi về một hiện tượng kỳ lạ đến thế. Chỉ có một tham chiếu đến nó ở cuối Phúc Âm theo Thánh Mác, 51 và câu chuyện như chúng ta có phụ thuộc vào Thánh Luca. Phúc Âm được quy cho ông, chúng ta không biết gì về tác giả, và Công Vụ các Tông Đồ, cũng được cho là do ông viết, chứa hai tường thuật mâu thuẫn về biến cố này. Trong Phúc Âm, dường như sự thăng thiên diễn ra cùng ngày với sự phục sinh; Đức Christ có lẽ sống lại vào nửa đêm hoặc rất sớm buổi sáng khi trời vẫn còn tối, và vào buổi tối cùng ngày Ngài thăng thiên [Luke 24:51]. Trong Công Vụ các Tông Đồ, người ta đặt vào giữa đó bốn mươi ngày [Acts 1:3–9]. Trong Pistis Sophia có nói rằng một khoảng thời gian mười năm đã phân cách hai biến cố này.

These discrepancies become of little importance when we consider the symbolical meaning. To say of the archetypal man—in this case Christ—that “He ascended into heaven” means that He reached a certain higher level. In the old Egyptian ritual, it will be remembered, while the candidate was in a deep trance, he had to enter not only the astral world of the emotions and learn to function and help there, but he also had to experience his first touch of consciousness on the buddhic or intuitional level. It was this transcendent experience, changing as it did his whole conception of life and of evolution, which was spoken of as the ascent into heaven.

Những sai biệt này trở nên ít quan trọng khi chúng ta xét ý nghĩa biểu tượng. Nói về con người nguyên mẫu—trong trường hợp này là Đức Christ—rằng “Ngài thăng lên thiên đường” có nghĩa là Ngài đạt đến một cấp độ cao hơn nào đó. Trong nghi lễ Ai Cập cổ, cần nhớ rằng, khi ứng viên ở trong trạng thái xuất thần sâu, y phải đi vào không chỉ thế giới cảm dục của các cảm xúc và học cách hoạt động cũng như giúp đỡ ở đó, mà y còn phải trải nghiệm sự chạm đầu tiên của tâm thức trên cấp độ Bồ đề hay trực giác. Chính kinh nghiệm siêu việt này, vì đã thay đổi toàn bộ quan niệm của y về đời sống và về tiến hoá, được gọi là sự thăng lên thiên đường.

Again, at a higher level, that of the fifth or asekha initiation, the ascension into heaven means the attainment of adeptship, the level at which the man has nothing more to learn as regards this particular chain of worlds. It means that the Christ which was born in him has once more become one with the Father. That is the highest meaning we can attach to the symbolism.

Lại nữa, ở một cấp độ cao hơn, tức lần điểm đạo thứ năm hay asekha, sự thăng lên thiên đường có nghĩa là đạt đến địa vị chân sư, cấp độ mà con người không còn gì phải học nữa liên quan đến dãy thế giới đặc thù này. Nó có nghĩa là Đức Christ đã được sinh ra trong y một lần nữa trở nên một với Cha. Đó là ý nghĩa cao nhất mà chúng ta có thể gán cho biểu tượng này.

The Heaven-World – Cõi thiên đường

This symbolical interpretation is, of course, remote from the orthodox idea of heaven, which is that of a place somewhere far away to which the redeemed or the saved are conveyed and where they spend eternity playing harps and singing hymns. That view is, to say the least, inaccurate. Assuredly there is a heaven, but it is not eternal; neither is it a place but a state of consciousness , a condition into which a person passes when he has left his astral body behind.

Cách diễn giải biểu tượng này, dĩ nhiên, xa với ý niệm chính thống về thiên đường, vốn xem đó là một nơi nào đó rất xa, nơi những người được cứu chuộc hoặc được cứu rỗi được đưa đến và ở đó họ trải qua vĩnh cửu bằng cách chơi đàn hạc và hát thánh ca. Quan điểm ấy, nói nhẹ nhất, là không chính xác. Chắc chắn có một thiên đường, nhưng nó không vĩnh cửu; nó cũng không phải là một nơi chốn, mà là một trạng thái tâm thức, một tình trạng mà con người đi vào khi y đã bỏ lại thể cảm dục của mình phía sau.

When we begin to understand what death is, we realize that it is the true man, the soul, gradually withdrawing from his vehicles. When he has dropped his outermost vehicle—the physical body—he lives on in his astral body. Then, gradually, that body becomes more refined as the coarser particles are thrown to the surface and are worn away by friction. So the man may be said to pass through two stages of astral life—a coarser and then a more refined one. These stages correspond to the purgatory and the paradise of the average Christian. Eventually he drops his astral body at what is called the second death, and he finds himself living in his mental body in what would ordinarily be called his mind. Because life in that vehicle cannot be otherwise than blissful when compared with anything we know down here, it is called the heaven-life.

Khi chúng ta bắt đầu thấu hiểu cái chết là gì, chúng ta nhận ra rằng đó là con người chân thật, linh hồn, dần dần rút ra khỏi các hiện thể của y. Khi y đã bỏ hiện thể ngoài cùng của mình—thể xác—y tiếp tục sống trong thể cảm dục của mình. Rồi dần dần, thể ấy trở nên tinh luyện hơn khi các hạt thô hơn bị đẩy ra bề mặt và bị mài mòn bởi ma sát. Vì vậy, có thể nói con người đi qua hai giai đoạn của đời sống cảm dục—một giai đoạn thô hơn rồi đến một giai đoạn tinh luyện hơn. Những giai đoạn này tương ứng với luyện tội và thiên đường của người Cơ Đốc trung bình. Cuối cùng, y bỏ thể cảm dục của mình vào lúc được gọi là cái chết thứ hai, và y thấy mình đang sống trong thể trí, trong cái thường được gọi là trí tuệ của y. Vì đời sống trong hiện thể ấy, khi so sánh với bất cứ điều gì chúng ta biết dưới đây, không thể là gì khác ngoài chí phúc, nên nó được gọi là đời sống thiên đường.

The highest level which any man can touch is heaven for him. The Red Indian of North America, who enjoys nothing so much as success in the chase, looks forward to passing to the “happy hunting grounds”—the highest state of bliss that he can realize and enjoy. If by any chance he should find himself in the Christian heaven, with harps and clouds and palm branches and crowns, he would be entirely out of his element and, as may easily be imagined, very uncomfortable. Each man gets that for which he is fitted, so he would stay on the lower levels of the astral world, where he was able to imagine himself as hunting, that being all the heaven that he is capable of appreciating. The orthodox heaven is found at a slightly higher level, but it still belongs to the astral world, as do all the material heavens of the average believers of other faiths. There are higher subdivisions still, where the more highly developed man can live a happy and useful life while his astral vehicle is gradually wearing away.

Cấp độ cao nhất mà bất cứ người nào có thể chạm đến là thiên đường đối với y. Người da đỏ Bắc Mỹ, không vui thích điều gì bằng sự thành công trong cuộc săn, mong đợi được đi đến “những bãi săn hạnh phúc”—trạng thái chí phúc cao nhất mà y có thể nhận ra và vui hưởng. Nếu tình cờ y thấy mình ở trong thiên đường Cơ Đốc giáo, với đàn hạc, mây, cành cọ và vương miện, y sẽ hoàn toàn lạc lõng và, như có thể dễ dàng hình dung, rất khó chịu. Mỗi người nhận được điều phù hợp với mình, vì vậy y sẽ ở lại trên các cấp độ thấp hơn của thế giới cảm dục, nơi y có thể tưởng tượng mình đang săn bắn, vì đó là tất cả thiên đường mà y có khả năng trân trọng. Thiên đường chính thống được tìm thấy ở một cấp độ hơi cao hơn, nhưng nó vẫn thuộc về thế giới cảm dục, cũng như tất cả các thiên đường vật chất của những tín đồ trung bình thuộc các tín ngưỡng khác. Vẫn còn những phân khu cao hơn nữa, nơi người phát triển cao hơn có thể sống một đời hạnh phúc và hữu ích trong khi hiện thể cảm dục của y dần dần mòn đi.

When this vehicle has finally been cast off, the man reaches the true heaven-world, where he lives in his mental body. That condition is always one of indescribable bliss, glory, and joy. There is nothing comparable to it here in physical life. There we have all that the heart can desire and are entirely free from all lower encumbrances. The average man has not developed that vehicle at all fully, and so he finds himself shut up in a body only part of which will respond to his will, but he does not know it. That is all of the mental body he has ever felt or known, so when he rises to that level he is perfectly satisfied with it. He has no idea that there are possibilities which he cannot touch. There is no feeling of doubt or limitation; he is perfectly happy in his heaven, whatever it may be. There is an Eastern proverb which says that “every man brings his own cup, and whatever may be the size of that cup, God fills it.” It is always full; the man has the utmost that he can receive and can enjoy. It is a world full of all possible bliss, a world of divine thought, and each man draws from that divine thought what he is able to draw. There must always be that in the thought of God which is quite beyond our capacity of response, but from it every man draws what he wants, and all he wants, all he can possibly need, and so he makes his own heaven.

Khi hiện thể này cuối cùng đã được trút bỏ, con người đạt đến cõi thiên đường chân thật, nơi y sống trong thể trí của mình. Trạng thái ấy luôn luôn là một trạng thái chí phúc, vinh quang và sự hoan hỉ không thể diễn tả. Không có gì trong đời sống hồng trần có thể so sánh với nó. Ở đó, chúng ta có tất cả những gì trái tim có thể mong muốn và hoàn toàn tự do khỏi mọi gánh nặng thấp kém. Người bình thường chưa phát triển hiện thể ấy một cách đầy đủ, và vì vậy y thấy mình bị khép trong một thể mà chỉ một phần đáp ứng với ý chí của y, nhưng y không biết điều đó. Đó là tất cả phần của thể trí mà y từng cảm thấy hoặc biết đến, nên khi y vươn lên cấp độ ấy, y hoàn toàn hài lòng với nó. Y không có ý niệm rằng có những khả năng mà y không thể chạm tới. Không có cảm giác nghi ngờ hay giới hạn; y hoàn toàn hạnh phúc trong thiên đường của mình, bất kể nó là gì. Có một tục ngữ phương Đông nói rằng “mỗi người mang theo chiếc chén của riêng mình, và dù chiếc chén ấy lớn nhỏ thế nào, Thượng đế cũng làm nó đầy.” Nó luôn luôn đầy; con người có mức tối đa mà y có thể tiếp nhận và vui hưởng. Đó là một thế giới đầy mọi chí phúc có thể có, một thế giới của tư tưởng thiêng liêng, và mỗi người rút ra từ tư tưởng thiêng liêng ấy điều mà y có thể rút ra. Trong tư tưởng của Thượng đế luôn luôn phải có điều vượt xa khả năng đáp ứng của chúng ta, nhưng từ đó mỗi người rút ra điều y muốn, và tất cả những gì y muốn, tất cả những gì y có thể cần, và nhờ vậy y tạo nên thiên đường của riêng mình.

Our Friends and Loved Ones – Bạn Hữu và Những Người Thân Yêu của Chúng Ta

Many of us need most of all the company and the affection of those we love. No heaven, however glorious, could be perfect for us without that. How is that to be managed when, of those whom we love, some are here on earth and others have passed away long ago? How can it be possible to have them all around us? In the most natural way in the world. Whenever we think of a person we make an image of him in mental matter. If we think often of a particular person, then we have floating round us a thought-image of that person. Here in the physical brain, our thought is a comparatively poor thing, but in the mental world where there is no longer a physical brain with heavy, dull particles to be set in motion, where there is no more interference of astral vibrations, where there are no feelings except the highest and most unselfish emotions of love and sympathy and devotion—where there is nothing to interfere with our thought—the making of a definite and powerful astral image of our friend constitutes a direct appeal to him, and he responds instantly.

Nhiều người trong chúng ta cần hơn hết là sự hiện diện và tình thương của những người mình yêu mến. Không cõi thiên đàng nào, dù huy hoàng đến đâu, có thể là hoàn hảo đối với chúng ta nếu thiếu điều ấy. Điều đó được thực hiện như thế nào khi, trong số những người chúng ta yêu thương, có người còn ở đây trên Trái Đất và có người đã qua đời từ lâu? Làm sao có thể có tất cả họ quanh ta? Theo cách tự nhiên nhất trên đời. Mỗi khi chúng ta nghĩ đến một người, chúng ta tạo nên một hình ảnh của y trong chất liệu trí tuệ. Nếu chúng ta thường nghĩ đến một người đặc biệt nào đó, thì quanh ta sẽ lơ lửng một hình tư tưởng về người ấy. Ở đây, trong bộ não hồng trần, tư tưởng của chúng ta là một điều tương đối nghèo nàn; nhưng trong thế giới trí tuệ, nơi không còn bộ não hồng trần với những hạt nặng nề, trì độn cần được đưa vào chuyển động, nơi không còn sự can thiệp của các rung động cảm dục, nơi không có cảm xúc nào ngoài những xúc cảm cao nhất và vô kỷ nhất của tình thương, thiện cảm và sùng tín — nơi không có gì cản trở tư tưởng của chúng ta — việc tạo nên một hình ảnh cảm dục rõ ràng và mạnh mẽ về người bạn của ta cấu thành một lời kêu gọi trực tiếp đến y, và y đáp ứng tức thì.

The mistake generally made by people is that they think of the physical body as the real man, so that when he lays aside that body they think they have lost their friend. That is not so; the man is there still, but he has, as it were, taken off his overcoat and, because they have been used to seeing only the overcoat, they think they have lost him. He is there just the same; and he reacts to our love just as much as before and fills the image which we make of him in the heaven-world. If he should be living on earth, the physical brain may not know of that, but he, the soul, knows it perfectly, and pours himself into the image which we make, and through that he is very much nearer to us than he was through his physical body when we were both together in incarnation, because the physical body is a constant limitation.

Sai lầm mà người ta thường mắc phải là họ xem thể xác như con người thật, đến nỗi khi y đặt thể ấy sang một bên, họ nghĩ rằng họ đã mất người bạn của mình. Không phải như vậy; con người ấy vẫn còn đó, nhưng có thể nói, y đã cởi chiếc áo khoác ngoài của mình ra, và vì họ đã quen chỉ nhìn thấy chiếc áo khoác ấy, nên họ nghĩ rằng họ đã mất y. Y vẫn còn đó y như trước; và y đáp lại tình thương của chúng ta nhiều như trước, đồng thời làm đầy hình ảnh mà chúng ta tạo ra về y trong cõi thiên đàng. Nếu y còn sống trên Trái Đất, bộ não hồng trần có thể không biết điều đó, nhưng y, linh hồn, biết hoàn toàn, và tuôn chính mình vào hình ảnh mà chúng ta tạo nên; nhờ đó y ở gần chúng ta hơn rất nhiều so với khi y ở qua thể xác của mình lúc cả hai chúng ta cùng đang lâm phàm, vì thể xác luôn là một giới hạn thường trực.

The friend whom we love so much may have another side to him, which, if we saw it fully, we should perhaps not like so well. This “other side” may occasionally obtrude itself down here on the physical plane. It could not do so in the heaven-world because the manifestation of him there is exactly what we make it. He can show himself to us through the thought-form only as we think him to be. The fact that he has another manifestation going on in the physical world makes not the slightest difference. It does not prevent him thinking and feeling in that way any more than my taking hold of two separate objects with two hands prevents me feeling them both. I can tell the difference between these two things while at the same moment I am just as much conscious of one as of the other. Exactly in the same way our friend is as perfectly conscious through two manifestations of himself—or through two hundred—at the same time, or even through many thousands, as there may well be in the case of a much beloved and world-renowned personality.

Người bạn mà chúng ta yêu mến đến thế có thể có một mặt khác nơi y, mà nếu chúng ta thấy trọn vẹn, có lẽ chúng ta sẽ không thích nhiều như vậy. “Mặt khác” này đôi khi có thể tự chen vào dưới đây trên cõi hồng trần. Điều ấy không thể xảy ra trong cõi thiên đàng, vì sự biểu hiện của y ở đó đúng như điều chúng ta tạo ra. Y chỉ có thể tự tỏ mình cho chúng ta qua hình tư tưởng theo đúng cách chúng ta nghĩ về y. Sự kiện y có một biểu hiện khác đang diễn ra trong thế giới hồng trần không tạo ra chút khác biệt nào. Điều đó không ngăn y suy nghĩ và cảm nhận theo cách ấy, cũng như việc tôi nắm hai vật riêng biệt bằng hai bàn tay không ngăn tôi cảm nhận cả hai. Tôi có thể phân biệt hai sự vật ấy, trong khi cùng lúc đó tôi vẫn có ý thức về cái này cũng như cái kia. Cũng đúng như vậy, người bạn của chúng ta có ý thức hoàn toàn qua hai biểu hiện của chính y — hoặc qua hai trăm biểu hiện — cùng một lúc, thậm chí qua nhiều ngàn biểu hiện, như rất có thể xảy ra trong trường hợp một phàm ngã được yêu mến rộng rãi và nổi tiếng khắp thế giới.

The World of the Soul – Thế Giới của Linh Hồn

Assuredly, the soul is filling all those thought-forms absolutely and perfectly though the physical brain down here may know nothing about them. The separate fingers do not know what the hand is feeling, but the brain, where all the lines meet, knows all; in the same way, the soul knows all the manifestations through which it is working. It is in the heaven-world that all the spiritual force which a man has set in motion during his earth life finds its full fruition. All our highest thoughts and aspirations belong to the realm of the untrammeled soul, and this lower world is incapable of providing a field for their fulfillment or realization. Nobody knows this better than the artist or the poet. A man who paints a picture or writes a poem hopes thereby to convey to others what he has seen in a vision of that higher world; none knows better than he how utterly the expression of the thought fails, how the most satisfactory reproduction he can make falls infinitely short of the reality. That being so, all these higher ideals and aspirations remain a vast force stored up, which can never be exhausted on the physical plane or during physical life. But there is this higher unseen world of transcendent beauty and unimaginable splendor, where it is possible for all these grander forces to work themselves out. All religions have tried to picture its glories, but they have all fallen miserably short of the truth.

Chắc chắn, linh hồn đang làm đầy tất cả những hình tư tưởng ấy một cách tuyệt đối và hoàn hảo, dù bộ não hồng trần dưới đây có thể chẳng biết gì về chúng. Những ngón tay riêng rẽ không biết bàn tay đang cảm nhận điều gì, nhưng bộ não, nơi mọi đường dây gặp nhau, biết tất cả; cũng vậy, linh hồn biết mọi biểu hiện mà qua đó nó đang hoạt động. Chính trong cõi thiên đàng, tất cả mãnh lực tinh thần mà một người đã đưa vào chuyển động trong đời sống trần gian của y tìm thấy sự thành tựu trọn vẹn. Tất cả những tư tưởng và khát vọng cao nhất của chúng ta thuộc về cõi giới của linh hồn không bị ràng buộc, và thế giới thấp này không có khả năng cung cấp một lĩnh vực cho sự hoàn thành hay chứng nghiệm của chúng. Không ai biết điều này rõ hơn nghệ sĩ hay thi sĩ. Người vẽ một bức tranh hay viết một bài thơ hy vọng nhờ đó truyền đạt cho người khác điều y đã thấy trong một linh ảnh về thế giới cao hơn ấy; không ai biết rõ hơn y rằng sự diễn đạt tư tưởng thất bại hoàn toàn đến mức nào, rằng bản sao chép thỏa đáng nhất mà y có thể tạo ra vẫn kém xa thực tại vô cùng. Vì vậy, tất cả những lý tưởng và khát vọng cao hơn này vẫn là một mãnh lực bao la được tích trữ, không bao giờ có thể được tiêu hao hết trên cõi hồng trần hay trong đời sống hồng trần. Nhưng có thế giới cao hơn, vô hình này, đầy vẻ đẹp siêu việt và huy hoàng không thể tưởng tượng, nơi tất cả những mãnh lực lớn lao hơn ấy có thể tự hoàn thành. Mọi tôn giáo đều đã cố gắng mô tả những vinh quang của nó, nhưng tất cả đều còn thiếu xa chân lý một cách đáng tiếc.

It must be conceded that the orthodox heaven, with its harps and palm branches and crowns, might not be entirely satisfactory for everyone. Some people are not musical, and others are so musical that the harp might not fully satisfy their aspirations. Clearly the occupation of ceaseless singing to that instrument might not be equally enjoyable for everybody. One cannot think of any objective scheme where everybody would be satisfied to the uttermost. The only possible way in which that could happen is precisely what we find to be the truth, namely that each person makes his own surroundings and that everything in it is to him just what he wants it to be, and as he thinks of it.

Cần phải thừa nhận rằng cõi thiên đàng chính thống, với những đàn hạc, cành cọ và vương miện, có thể không hoàn toàn thỏa đáng cho mọi người. Một số người không có khiếu âm nhạc, và những người khác lại có khiếu âm nhạc đến mức đàn hạc có thể không đáp ứng trọn vẹn các khát vọng của họ. Rõ ràng, công việc ca hát không ngừng với nhạc cụ ấy có thể không đem lại cùng một niềm vui cho tất cả mọi người. Người ta không thể nghĩ ra bất kỳ mô hình khách quan nào trong đó mọi người đều được thỏa mãn đến cùng. Cách duy nhất có thể khiến điều ấy xảy ra chính là điều chúng ta thấy là sự thật: mỗi người tạo nên môi trường riêng của mình, và mọi sự trong đó đối với y đúng là điều y muốn nó là, và như y nghĩ về nó.

Out of the fathomless sea of the divine consciousness each man draws that which he has made himself fit to draw, that which is suitable to him, that to which he is able to respond. If a man has a wealth of the grandest aspirations, he draws down a corresponding outpouring from above. If another has only a little grain or two of anything unselfish in his nature, even that little grain still brings forth its appropriate result. There is, moreover, no question of one entering and the other being shut out; it is not only for a faithful few, but for all who can reach it. All are not equally happy, nor are all happy in the same way, but every individual is happy to the fullest extent of his capacity. Each vessel is filled to the uttermost; though some vessels are small and some large, they are all filled to their respective capacities.

Từ biển sâu không đáy của tâm thức thiêng liêng, mỗi người rút ra điều mà y đã làm cho mình thích hợp để rút ra, điều phù hợp với y, điều mà y có thể đáp ứng. Nếu một người có sự phong phú của những khát vọng cao cả nhất, y kéo xuống một lần tuôn đổ tương ứng từ trên cao. Nếu người khác chỉ có một hoặc hai hạt nhỏ của điều gì đó vô kỷ trong bản chất y, thì ngay cả hạt nhỏ ấy vẫn sinh ra kết quả thích hợp của nó. Hơn nữa, không có vấn đề một người được vào còn người kia bị loại ra; điều ấy không chỉ dành cho một số ít người trung tín, mà dành cho tất cả những ai có thể vươn tới nó. Tất cả không hạnh phúc như nhau, cũng không hạnh phúc theo cùng một cách, nhưng mỗi cá nhân đều hạnh phúc đến mức đầy đủ nhất trong khả năng của mình. Mỗi bình chứa được làm đầy đến cùng; dù có bình nhỏ và có bình lớn, tất cả đều được làm đầy theo sức chứa riêng của chúng.

The Judgment – Sự Phán Xét

“He sitteth on the right hand of God, the Father Almighty; from thence he shall come to judge the quick and the dead.” The creed has followed the Egyptian rubric closely through the phrases with which we have been dealing in the last few chapters and which are popularly supposed to refer to the history of the Christ. Here, for the first time, there is a definite divergence of meaning from it, though there is some evidence that it once followed the original formula more closely.

“Ngài ngự bên hữu Thượng đế, là Cha Toàn Năng; từ đó Ngài sẽ đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết.” Bản tín điều đã theo sát nghi thức Ai Cập qua những cụm từ mà chúng ta đã bàn đến trong vài chương vừa qua và thường được cho là liên quan đến lịch sử của Đức Christ. Ở đây, lần đầu tiên, có một sự phân kỳ rõ rệt về ý nghĩa so với nó, dù có một số bằng chứng cho thấy nó từng theo sát công thức nguyên thủy hơn.

In the Egyptian rubric this clause is only an extension of the preceding one. In it the text runs: “He shall be carried up into heaven to be the right hand of Him from whom he came, having learnt to guide the living and the dead.” That expresses very beautifully the object of the whole course of evolution. There is one trace left in exoteric writings to support the idea that this may have been the original reading. In the Regula of Apelles, who was a disciple of Marcion, this clause runs, “He sits on the right hand of the Father whence he hath come to rule the living and the dead.” 52 This is a very slight divergence from the creed as we have it, but the meaning is quite different. It takes away at once any reference to the expected second advent of Christ, and so it becomes a very important statement which not only emphasizes the great fact that the life which is poured forth returns in fullest measure to Him from whom it came; it also declares that the whole vast process of evolution was undertaken precisely in order than mankind, so returning, should be the right hand of the Father in the work of guiding the living and the dead. Perhaps the great truth that all power gained is only held in trust and is given to us not for our own use or, rather, not for our own benefit, but to be used in the helping of others, has rarely been more clearly set forth than it is in those words.

Trong nghi thức Ai Cập, mệnh đề này chỉ là sự mở rộng của mệnh đề trước. Trong đó, bản văn viết: “Ngài sẽ được đưa lên trời để trở thành cánh tay hữu của Đấng mà từ Ngài, y đã đến, sau khi đã học cách hướng dẫn kẻ sống và kẻ chết.” Điều đó diễn tả rất đẹp mục tiêu của toàn bộ tiến trình tiến hoá. Có một dấu vết còn lại trong các tác phẩm ngoại môn để ủng hộ ý tưởng rằng đây có thể đã là cách đọc nguyên thủy. Trong Quy luật của Apelles, một đệ tử của Marcion, mệnh đề này viết: “Ngài ngự bên hữu của Cha, từ đó Ngài đã đến để cai quản kẻ sống và kẻ chết.” 52 Đây là một sai biệt rất nhỏ so với tín điều như chúng ta có, nhưng ý nghĩa lại hoàn toàn khác. Nó lập tức loại bỏ mọi liên hệ đến lần giáng lâm thứ hai được mong đợi của Đức Christ, và do đó trở thành một tuyên bố rất quan trọng, không chỉ nhấn mạnh sự kiện vĩ đại rằng sự sống được tuôn đổ ra sẽ trở về đầy đủ nhất với Đấng mà từ Ngài nó đã đến; nó cũng tuyên bố rằng toàn bộ tiến trình tiến hoá bao la được đảm nhận chính là để nhân loại, khi trở về như thế, sẽ trở thành cánh tay hữu của Cha trong công việc hướng dẫn kẻ sống và kẻ chết. Có lẽ chân lý vĩ đại rằng mọi quyền năng đạt được chỉ được giữ như một sự ủy thác, và được ban cho chúng ta không phải để chúng ta sử dụng cho riêng mình, hay đúng hơn, không phải vì lợi ích riêng của chúng ta, mà để dùng vào việc giúp đỡ người khác, hiếm khi được trình bày rõ ràng hơn trong những lời ấy.

Another point about which there is much misunderstanding is the meaning of the word “judge.” The idea is ingrained in most of us by tradition that this refers to a second coming of Christ when He will judge between good and evil men and deal out eternal reward or punishment respectively. There is a certain truth in the idea of a day of judgment, but that is not what is referred to here. At the time when the Bible was translated into English, many words had a more general significance than we give them now, and this word “judge” is a case in point. We can see that this is so if we examine certain texts in the Bible. In the fourth chapter of the book of Judges, we find it stated that Deborah “judged Israel at that time.” Evidently it means that Deborah was the ruler of Israel, because at that time there were no kings. In the tenth chapter of that same book, we read that “after him arose Jair, a Gileadite, and judged Israel twenty and two years.” Here again, “judge” is simply a synonym for “rule.” This brings us much nearer to the magnificent conception of guiding and helping which is given in the Egyptian formula. It may well be said, in the words of the Nicaean symbol, of a spiritual ruler who exists only to guide and help his people that “His kingdom shall have no end.”

Một điểm khác thường bị hiểu lầm nhiều là ý nghĩa của từ “phán xét.” Ý tưởng đã ăn sâu trong hầu hết chúng ta do truyền thống rằng điều này ám chỉ lần đến thứ hai của Đức Christ, khi Ngài sẽ phán xét giữa người thiện và người ác, rồi phân phát phần thưởng hay hình phạt vĩnh cửu tương ứng. Có một chân lý nào đó trong ý tưởng về ngày phán xét, nhưng đó không phải là điều được nói đến ở đây. Vào thời Kinh Thánh được dịch sang tiếng Anh, nhiều từ có ý nghĩa tổng quát hơn ý nghĩa chúng ta gán cho chúng ngày nay, và từ “phán xét” là một trường hợp như vậy. Chúng ta có thể thấy điều này nếu khảo sát một số đoạn văn trong Kinh Thánh. Trong chương thứ tư của sách Các Quan Xét, chúng ta thấy có nói rằng Deborah “phán xét Israel vào thời ấy.” Hiển nhiên, điều đó có nghĩa là Deborah là người cai trị Israel, vì vào thời ấy chưa có vua. Trong chương thứ mười của cùng sách ấy, chúng ta đọc rằng “sau ông, Jair, người Gilead, nổi lên và phán xét Israel hai mươi hai năm.” Ở đây một lần nữa, “phán xét” chỉ đơn giản là đồng nghĩa với “cai trị.” Điều này đưa chúng ta đến gần hơn nhiều với quan niệm huy hoàng về việc hướng dẫn và trợ giúp được đưa ra trong công thức Ai Cập. Có thể nói rất đúng, theo lời của biểu tượng Nicaea, về một vị cai trị tinh thần tồn tại chỉ để hướng dẫn và giúp đỡ dân của mình rằng “Vương quốc của Ngài sẽ không có tận cùng.”

18 – 18

THE HOLY GHOST – ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN

“I Believe in the Holy Ghost” – “Tôi Tin Nơi Đức Chúa Thánh Thần”

The statement appears in this simple form in the Apostles’ Creed also. It was very much amplified by the Council of Constantinople in 381, when the succeeding clauses were added: “The Lord and giver of life, Who proceedeth from the Father and the Son, Who with the Father and the Son together is worshipped and glorified, Who spake by the Prophets.” We have seen that the clauses connected with the descent of the Christ into matter—His crucifixion, His resurrection, and His ascension—were molded on the rubric belonging to the Egyptian ritual for initiation. In the clause now under consideration we come back to the original formula as given by the Christ.

Lời tuyên bố này cũng xuất hiện dưới hình thức đơn giản ấy trong Tín Điều Các Sứ Đồ. Nó đã được Công đồng Constantinople năm 381 mở rộng rất nhiều, khi các mệnh đề tiếp theo được thêm vào: “Đức Chúa và Đấng ban sự sống, Đấng phát xuất từ Cha và Con, Đấng cùng với Cha và Con được thờ phượng và tôn vinh, Đấng đã phán qua các Tiên tri.” Chúng ta đã thấy rằng các mệnh đề liên quan đến sự giáng hạ của Đức Christ vào vật chất — sự đóng đinh của Ngài, sự phục sinh của Ngài, và sự thăng thiên của Ngài — được khuôn theo nghi thức thuộc về nghi lễ điểm đạo Ai Cập. Trong mệnh đề hiện đang xét đến, chúng ta trở lại với công thức nguyên thủy như Đức Christ đã ban ra.

I have already explained that the Holy Ghost is the Third Person of the ever-Blessed Trinity, the aspect under which the Logos of the solar system manifests Himself to His world. It is, to a large extent, through and by this activity aspect of the Deity that the work is done down here. Nevertheless, although there are passages in the Bible which are liable to lead to that idea, we must not for a moment think of God the Holy Ghost as a mere instrument or messenger.

Tôi đã giải thích rằng Chúa Thánh Thần là Ngôi thứ Ba của Ba Ngôi hằng Chân Phúc, là phương diện mà qua đó Thượng Đế của hệ mặt trời biểu hiện Chính Ngài với thế giới của Ngài. Ở mức độ lớn, chính qua và bởi phương diện hoạt động này của Thượng đế mà công việc được thực hiện dưới đây. Tuy nhiên, mặc dù có những đoạn trong Kinh Thánh dễ dẫn đến ý tưởng ấy, chúng ta không được trong một khoảnh khắc nào nghĩ về Thượng đế Chúa Thánh Thần như một công cụ hay sứ giả đơn thuần.

The Christ Himself said to His disciples when telling them He was soon to leave them: “I will pray the Father, and he shall give you another Comforter” (John 14:16, 26), and later on He explains that the Comforter is the Holy Ghost. That sounds as though the Spirit were a “something” which could be sent—an emanation rather than definitely a part of the Godhead who would act for Himself. It is much nearer the truth if we think of Him as the arm of the Lord stretched out in activity.

Chính Đức Christ đã nói với các đệ tử của Ngài khi báo cho họ biết rằng Ngài sắp rời họ: “Tôi sẽ cầu xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các bạn một Đấng An Ủi khác” (John 14:16, 26), và về sau Ngài giải thích rằng Đấng An Ủi là Chúa Thánh Thần. Điều đó nghe như thể Tinh Thần là một “điều gì đó” có thể được sai đến — một xuất lộ hơn là một phần xác định của Thần Tính, Đấng sẽ tự hành động. Sẽ gần với chân lý hơn nhiều nếu chúng ta nghĩ về Ngài như cánh tay của Đức Chúa vươn ra trong hoạt động.

Of the Persons of the Holy Trinity, the Holy Ghost is, as it were, the nearest to us, and it is chiefly through Him that the divine force is outpoured down here. When a candidate comes up for confirmation we first make the “traditional call which has always been addressed to Him, which He stands ever ready to answer—the Veni Creator : 53 “Come, Holy Ghost, our souls inspire.” This hymn has been used from the earliest days of the Church to invoke the descent of this mighty power.

Trong các Ngôi của Ba Ngôi Thánh, Chúa Thánh Thần, có thể nói, là Đấng gần chúng ta nhất, và chính yếu qua Ngài mà mãnh lực thiêng liêng được tuôn đổ xuống đây. Khi một ứng viên đến để lãnh bí tích thêm sức, trước tiên chúng ta thực hiện “lời kêu gọi truyền thống” vốn luôn được gửi đến Ngài, lời mà Ngài luôn sẵn sàng đáp lại — bài thánh ca Xin Đấng Sáng Tạo Ngự Đến: 53 “Xin đến, Chúa Thánh Thần, soi dẫn linh hồn chúng con.” Thánh ca này đã được dùng từ những ngày đầu tiên của Giáo hội để khẩn cầu sự giáng xuống của quyền năng hùng mạnh này.

Later the bishop places his hand on the head of the candidate and prays: “Receive the Holy Ghost for the sweet savor of a godly life.” Let no one for a moment doubt that the Third Person of the Blessed Trinity does descend when thus invoked, that His power is directly poured into the candidate, and that that power remains ever to encourage, to strengthen, and to help. His influence opens up certain channels which were not opened before, and it widens those which were already open. It is through Him that all blessings, all sanctifying power descends, whether it is at the consecration of a church, the blessing of holy water or of the congregation by the priest or bishop. The blessing is always given in the name of the Father and of the Son and of the Holy Ghost, and thus three varieties or types of power are sent out in that benediction, but they all come through that lowest aspect which is yet so inconceivably high—God the Holy Ghost.

Sau đó vị giám mục đặt tay lên đầu ứng viên và cầu nguyện: “Hãy nhận Chúa Thánh Thần để có hương thơm dịu ngọt của một đời sống đạo hạnh.” Đừng ai trong một khoảnh khắc nào nghi ngờ rằng Ngôi thứ Ba của Ba Ngôi Chân Phúc thật sự giáng xuống khi được khẩn cầu như thế, rằng quyền năng của Ngài được tuôn trực tiếp vào ứng viên, và rằng quyền năng ấy luôn còn lại để khích lệ, củng cố và trợ giúp. Ảnh hưởng của Ngài mở ra một số kênh chưa từng được mở trước đó, và mở rộng những kênh đã mở sẵn. Chính qua Ngài mà mọi phúc lành, mọi quyền năng thánh hóa giáng xuống, dù trong lễ thánh hiến một nhà thờ, việc làm phép nước thánh, hay việc linh mục hoặc giám mục ban phúc lành cho giáo đoàn. Phúc lành luôn được ban nhân danh Cha, Con và Chúa Thánh Thần, và như vậy ba dạng hay ba loại quyền năng được phóng ra trong lời chúc phúc ấy, nhưng tất cả đều đến qua phương diện thấp nhất ấy, vốn vẫn cao siêu đến mức không thể quan niệm — Thượng đế Chúa Thánh Thần.

The Paraclete – Đấng An Ủi

The most prominent characteristic of the third aspect of the Blessed Trinity in relation to us is that of Encourager. That is the real meaning of the word Paraclete, which is so often employed in reference to Him and is frequently translated in the New Testament as the Comforter. That word is derived from a Greek word, the principal meaning of which is “to cheer on” or “to encourage.” 54 True, we can also make it mean “to comfort,” because if a man be in sorrow or difficulty, to cheer him up is certainly to comfort him. Without doubt, He is a comfort to His people when they are in sorrow or trouble, but He is very much more than that, because in whatever state they may be, at every point from the cradle to the grave, He is constantly encouraging and strengthening, heartening and urging us on to better and higher things.

Đặc tính nổi bật nhất của phương diện thứ ba của Ba Ngôi Chân Phúc trong quan hệ với chúng ta là đặc tính của Đấng Khích Lệ. Đó là ý nghĩa thật của từ Đấng An Ủi, vốn thường được dùng để chỉ Ngài và thường được dịch trong Tân Ước là Đấng An Ủi. Từ ấy bắt nguồn từ một từ Hy Lạp, mà ý nghĩa chính là “cổ vũ” hay “khích lệ.” 54 Đúng là chúng ta cũng có thể làm cho nó có nghĩa “an ủi,” vì nếu một người đang đau buồn hay gặp khó khăn, việc làm y phấn chấn chắc chắn là an ủi y. Không nghi ngờ gì, Ngài là niềm an ủi cho dân của Ngài khi họ ở trong đau buồn hay phiền não, nhưng Ngài còn hơn thế rất nhiều, vì trong bất cứ trạng thái nào của họ, ở mọi điểm từ chiếc nôi đến nấm mồ, Ngài luôn khích lệ và củng cố, làm can đảm và thúc giục chúng ta tiến tới những điều tốt đẹp hơn và cao cả hơn.

God the Holy Ghost dwells ever within us; He is always near when we appeal to Him; His strength is poured out upon us whenever we turn to Him for help and for encouragement. He is God the Encourager, God the Strengthener, ever working within us towards righteousness.

Thượng đế Chúa Thánh Thần luôn ngự trong chúng ta; Ngài luôn gần khi chúng ta kêu cầu Ngài; sức mạnh của Ngài được tuôn đổ trên chúng ta mỗi khi chúng ta hướng về Ngài để cầu xin sự trợ giúp và khích lệ. Ngài là Thượng đế Đấng Khích Lệ, Thượng đế Đấng Củng Cố, luôn hoạt động trong chúng ta hướng tới sự công chính.

It is the whole aim of man, having come forth from the divine, to rise again towards his origin; in the course of that steady evolution when he comes into touch with the divine, he naturally must come into touch with the lowest point first. We use the expression “lowest” with no sense of comparison or with any implication of greater or lesser. But it is true that the Holy Spirit presses further down into our world than the other Persons do, and therefore it is with Him that the man who is getting to be more than man, comes first into touch on the higher part of the mental plane. He becomes one with God in this, if we may call it so, outermost manifestation of Deity. That is imaged in the Christ drama when the Lord ascends into heaven.

Toàn bộ mục tiêu của con người, sau khi đã phát xuất từ thiêng liêng, là lại vươn lên về cội nguồn của mình; trong tiến trình tiến hoá đều đặn ấy, khi y tiếp xúc với thiêng liêng, tất nhiên y phải tiếp xúc với điểm thấp nhất trước tiên. Chúng ta dùng cách nói “thấp nhất” mà không có ý so sánh hay hàm ý lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Nhưng đúng là Chúa Thánh Thần ấn sâu hơn vào thế giới của chúng ta so với các Ngôi khác, và vì vậy chính với Ngài mà con người đang trở thành hơn con người tiếp xúc trước tiên trên phần cao hơn của cõi trí. Y trở nên hợp nhất với Thượng đế trong biểu hiện ngoài cùng này của Thượng đế, nếu chúng ta có thể gọi như vậy. Điều ấy được hình tượng hóa trong vở kịch Đức Christ khi Đức Chúa thăng thiên.

When a man leaves the ranks of ordinary humanity, he rises to the stage beyond humanity and becomes one with God—he ascends into heaven and sits on the right hand of the Father. But immediately following the festival of the Ascension comes the festival of Pentecost, which celebrates the outpouring of the Holy Spirit. The adept, when he has passed beyond ordinary humanity, pours down upon his friends and disciples the power of the divine life and light—pours himself forth as the Fire of God, that being one of the titles often applied to the Holy Ghost. He is also sometimes called the Flame of God or the Fire of the Divine Love because He is especially a manifestation of that love which is the very life of God. His symbol is fire—a very apt illustration of the burning love far above all earthly passion or emotion, that wonderful spiritual love which, in truest alchemy, burns up all dross, burns away all that is not good, all that is not of the highest, all that is not able to stand in the flame of its consuming fire.

Khi một người rời khỏi hàng ngũ nhân loại thông thường, y vươn lên giai đoạn vượt quá nhân loại và trở nên hợp nhất với Thượng đế — y thăng thiên và ngự bên hữu của Cha. Nhưng ngay sau lễ Thăng Thiên là lễ Ngũ Tuần, kỷ niệm sự tuôn đổ của Chúa Thánh Thần. Chân sư, khi đã vượt khỏi nhân loại thông thường, tuôn xuống trên bạn hữu và đệ tử của Ngài quyền năng của sự sống và ánh sáng thiêng liêng — tuôn chính mình ra như Lửa của Thượng đế, đó là một trong những danh hiệu thường được áp dụng cho Chúa Thánh Thần. Ngài đôi khi cũng được gọi là Ngọn Lửa của Thượng đế hay Lửa của Tình Thương Thiêng Liêng, vì Ngài đặc biệt là một biểu hiện của tình thương ấy, vốn là chính sự sống của Thượng đế. Biểu tượng của Ngài là lửa — một minh họa rất thích hợp cho tình thương bừng cháy vượt xa mọi đam mê hay xúc cảm trần gian, tình thương tinh thần kỳ diệu ấy, trong thuật luyện kim chân thật nhất, thiêu rụi mọi cặn bã, thiêu sạch mọi điều không tốt, mọi điều không thuộc về cao nhất, mọi điều không thể đứng vững trong ngọn lửa của lửa tiêu hủy ấy.

“The Lord and Giver of Life” – “Đức Chúa và Đấng Ban Sự Sống”

This phrase is generally taken to mean “the Lord of Life and the Giver of Life,” which is an entirely unwarranted construction. In the original Greek there is a comma after the word Lord, and then the beautiful name—the Life-Giver—is given as a separate title. The proper translation is therefore “The Lord, the Life-Giver.” 55

Cụm từ này thường được hiểu là “Đức Chúa của Sự Sống và Đấng Ban Sự Sống,” đó là một cấu trúc hoàn toàn không có căn cứ. Trong bản Hy Lạp nguyên thủy có một dấu phẩy sau từ Đức Chúa, rồi danh xưng đẹp đẽ — Đấng Ban Sự Sống — được đưa ra như một danh hiệu riêng. Vì vậy, bản dịch đúng là “Đức Chúa, Đấng Ban Sự Sống.” 55

God the Holy Ghost is the life-giver in no less than three separate senses. We have seen that life came forth from Him in the beginning when He brooded over the face of the waters of space and brought into existence matter as we know it today.

Thượng đế Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống theo không dưới ba ý nghĩa riêng biệt. Chúng ta đã thấy rằng sự sống phát xuất từ Ngài lúc ban đầu, khi Ngài ấp ủ trên mặt nước của không gian và đưa vật chất như chúng ta biết ngày nay vào hiện hữu.

It is His life that pulsates through the ultimate physical atoms and gives them the power to combine in certain ways so as to form the chemical elements. Thus, the atoms with which modern chemistry deals are monuments of His work. His action brought them into existence in a certain definite order—an order which, as far as investigation into this subject has been carried out, appears to correspond to that of their atomic weight, so that substances having high atomic weight, such as lead, gold, or platinum, are of much later formation than elements of low atomic weight, such as hydrogen, helium, or lithium. His great outpouring of life is still going on, and we have reason to believe that chemical elements of a still more elaborate kind are in process of creation, as we shall discover as time goes on. Probably His “workshop” is down in the center of the earth.

Chính sự sống của Ngài nhịp đập qua các nguyên tử hồng trần tối hậu và ban cho chúng quyền năng kết hợp theo những cách nhất định để tạo thành các nguyên tố hóa học. Như vậy, các nguyên tử mà hóa học hiện đại đề cập đến là những tượng đài của công trình Ngài. Tác động của Ngài đưa chúng vào hiện hữu theo một trật tự xác định — một trật tự mà, trong phạm vi việc khảo cứu chủ đề này đã được thực hiện, dường như tương ứng với nguyên tử lượng của chúng, đến nỗi các chất có nguyên tử lượng cao như chì, vàng hay bạch kim được hình thành muộn hơn nhiều so với các nguyên tố có nguyên tử lượng thấp như hydro, heli hay lithi. Lần tuôn đổ sự sống vĩ đại của Ngài vẫn đang tiếp diễn, và chúng ta có lý do để tin rằng các nguyên tố hóa học thuộc một loại còn phức tạp hơn nữa đang trong tiến trình sáng tạo, như chúng ta sẽ khám phá khi thời gian trôi qua. Có lẽ “xưởng làm việc” của Ngài nằm sâu trong trung tâm Trái Đất.

Only a few years ago it was supposed that an atom of any of these elements could not possibly be broken up into anything smaller. Recently, however, it has been discovered that these so-called atoms are not true atoms at all. “Atom” means that which cannot be cut, which cannot be further subdivided, and so is the ultimate to which a thing can be reduced. It has been found that chemical atoms of all kinds are built up of very much tinier bodies called electrons.

Chỉ vài năm trước, người ta cho rằng một nguyên tử của bất kỳ nguyên tố nào trong số này không thể bị phân tách thành bất cứ thứ gì nhỏ hơn. Tuy nhiên, gần đây người ta đã phát hiện rằng những cái gọi là nguyên tử này hoàn toàn không phải là nguyên tử thật. “Nguyên tử” có nghĩa là cái không thể bị cắt, không thể tiếp tục được chia nhỏ, và do đó là mức tối hậu mà một sự vật có thể được rút gọn đến. Người ta đã phát hiện rằng các nguyên tử hóa học đủ loại được cấu tạo bởi những thể nhỏ hơn rất nhiều gọi là electron.

Long ago, Sir William Crookes and Mr. Sinnett engaged in research along this line, and I had the honor of helping in a great many of their experiments. 56 We tried to discover what lay behind all these chemical elements, and Sir William Crookes came to the conclusion that there was a substance out of which all of them were built which he called protyle , meaning the first form of matter. Of course, the electron which has since been discovered goes further back than that. What he had found was the earlier physical form of matter—the earliest condition in which it can be regarded as really physical—which is built up of what occultists call ultimate physical atoms.

Từ lâu, Ngài William Crookes và Ông Sinnett đã tiến hành nghiên cứu theo đường hướng này, và tôi đã có vinh dự trợ giúp trong rất nhiều thí nghiệm của các ông. 56 Chúng tôi cố gắng khám phá điều gì nằm sau tất cả những nguyên tố hóa học này, và Ngài William Crookes đi đến kết luận rằng có một chất liệu mà từ đó tất cả chúng được cấu tạo, ông gọi là chất nguyên thủy, nghĩa là hình thái đầu tiên của vật chất. Tất nhiên, electron được phát hiện về sau còn đi xa hơn thế. Điều ông đã tìm thấy là hình thái hồng trần sớm hơn của vật chất — trạng thái sớm nhất trong đó nó có thể được xem là thật sự hồng trần — được cấu tạo từ cái mà các nhà huyền bí học gọi là các nguyên tử hồng trần tối hậu.

The Ultimate Physical Atoms – Các Nguyên Tử Hồng Trần Tối Hậu

These are much smaller than the chemical atoms. For example, eighteen ultimate atoms go to make one chemical atom of hydrogen.

Chúng nhỏ hơn các nguyên tử hóa học rất nhiều. Chẳng hạn, mười tám nguyên tử tối hậu hợp thành một nguyên tử hóa học của hydro.

The ultimate atoms are all alike except that some are positive and some negative. A definite number of them arranged in a certain way make a chemical atom of hydrogen, and a great many more arranged in a different way make an atom of lead or silver or gold, and so on. All through, a distinct line of development is traceable in these chemical atoms. 57

Các nguyên tử tối hậu đều giống nhau, ngoại trừ việc một số là dương và một số là âm. Một số lượng xác định của chúng, được sắp xếp theo một cách nhất định, tạo nên một nguyên tử hóa học của hydro; còn nhiều nguyên tử hơn nữa, được sắp xếp theo cách khác, tạo nên một nguyên tử chì, bạc, vàng, vân vân. Xuyên suốt, có thể truy ra một đường phát triển rõ rệt trong các nguyên tử hóa học này. 57

At first, they consist of a mere bundle of tubes, or sometimes of spikes through which force is poured out or drawn in according as to whether they are positive or negative. But presently, a central globe made of a few ultimate atoms is formed in the middle of this and, as we follow the line of evolution from the lighter to the heavier chemical atoms, this little sphere in the center becomes larger until, in radium, we find it is very distinctly the principal part of the whole, and the rest of the framework—the spikes and the funnels—exists simply for the sake of this central sphere. It becomes progressively more and more alive, developing more power of motion, unfolding, in all sorts of ways, unexpected qualities until, in radium, it is sufficiently alive to draw matter from without and shoot it forth again and so is able to go on, pouring out force for millions of years. The reason why it can do that has not yet been discovered by the scientists, but someday they will find out that it does so because it is like a living cell, a living spore.

Thoạt đầu, chúng gồm một bó ống đơn thuần, hoặc đôi khi là những gai nhọn mà qua đó mãnh lực được tuôn ra hay hút vào tùy theo chúng là dương hay âm. Nhưng chẳng bao lâu, một bầu trung tâm được tạo nên bằng vài nguyên tử tối hậu hình thành ở giữa cấu trúc này; và khi chúng ta theo dõi đường tiến hoá từ các nguyên tử hóa học nhẹ hơn đến nặng hơn, khối cầu nhỏ ở trung tâm ấy trở nên lớn hơn, cho đến trong radium, chúng ta thấy nó rất rõ ràng là phần chính yếu của toàn thể, còn phần còn lại của khung — các gai và các phễu — tồn tại chỉ vì khối cầu trung tâm này. Nó dần dần trở nên ngày càng sống động hơn, phát triển thêm quyền năng vận động, khai mở những phẩm tính bất ngờ theo đủ mọi cách, cho đến trong radium, nó đủ sống động để hút vật chất từ bên ngoài và phóng nó ra trở lại, nhờ đó có thể tiếp tục tuôn đổ mãnh lực trong hàng triệu năm. Lý do vì sao nó có thể làm điều ấy vẫn chưa được các nhà khoa học khám phá, nhưng một ngày nào đó họ sẽ phát hiện rằng nó làm như vậy vì nó giống như một tế bào sống, một bào tử sống.

These ultimate atoms are complex things. We call them ultimate physical atoms because, when we break them up further, they become astral matter. There is reason to believe that the electrons of science are what we call astral atoms, because it is said that in a chemical atom of hydrogen there are somewhere between seven hundred and a thousand of these electrons. Now it happens that in a chemical atom of hydrogen there are 882 astral atoms. This may, of course, be only a coincidence, but that seems improbable. If there is any real connection between these two facts it seems that in some of their experiments our scientific men must be actually disintegrating physical matter and throwing it back onto the astral plane.

Các nguyên tử tối hậu này là những sự vật phức hợp. Chúng ta gọi chúng là các nguyên tử hồng trần tối hậu vì khi chúng ta phân rã chúng xa hơn nữa, chúng trở thành vật chất cảm dục. Có lý do để tin rằng các electron của khoa học là những gì chúng ta gọi là các nguyên tử cảm dục, vì người ta nói rằng trong một nguyên tử hóa học của hydro có khoảng từ bảy trăm đến một ngàn electron như thế. Nay tình cờ là trong một nguyên tử hóa học của hydro có 882 nguyên tử cảm dục. Tất nhiên, điều này có thể chỉ là một sự trùng hợp, nhưng điều ấy có vẻ không chắc. Nếu có bất kỳ mối liên hệ thật sự nào giữa hai sự kiện này, thì dường như trong một số thí nghiệm của họ, các nhà khoa học của chúng ta thật sự đang phân rã vật chất hồng trần và ném nó trở lại cõi cảm dục.

The physical ultimate atoms are themselves built up of still smaller bodies which we call bubbles in koilon . If we look with clairvoyant vision at one of those atoms, it is seen to be composed of a number of spirals or tubes arranged in a certain order, each tube being made of seven still finer tubes spirally coiled, set successively at right angles one to the other. These tubes, which we call spirillae, are not all in activity as yet. We are now in what is called the fourth round—the fourth journey round the chain of planets on which we are evolving—and only four out of the seven sets of spirals are awakened and in full working order. The other three are not yet in activity, and judging by the past, in each future journey round the planets the atoms will develop another set of spirillae until all are fully vitalized and this particular part of the work of the Holy Ghost will be accomplished. Thus it is His life which is slowly unfolding the very atoms of which our matter is built. The fact that matter itself is evolving means that our work will become much easier as time goes on. What is called the resistance or inertia of matter is one of its qualities which at present often stands in our way and causes us trouble. Many difficulties will be removed for our remote descendants in later rounds, because matter then will be much more developed, much more alive than that in which we are working now.

Chính các nguyên tử hồng trần tối hậu được cấu tạo từ những thể còn nhỏ hơn nữa mà chúng ta gọi là các bọt trong koilon. Nếu chúng ta nhìn một trong những nguyên tử ấy bằng tầm nhìn thông nhãn, nó được thấy là gồm một số vòng xoắn hay ống được sắp xếp theo một trật tự nhất định, mỗi ống được tạo bởi bảy ống còn tinh vi hơn nữa xoắn theo hình xoắn ốc, được đặt lần lượt vuông góc với nhau. Những ống này, mà chúng ta gọi là các loa tuyến, hiện chưa phải tất cả đều hoạt động. Hiện nay chúng ta đang ở trong cái được gọi là cuộc tuần hoàn thứ tư — hành trình thứ tư quanh Dãy các hành tinh mà trên đó chúng ta đang tiến hoá — và chỉ bốn trong bảy bộ vòng xoắn đã được đánh thức và ở trong trật tự hoạt động đầy đủ. Ba bộ còn lại chưa hoạt động, và xét theo quá khứ, trong mỗi hành trình tương lai quanh các hành tinh, các nguyên tử sẽ phát triển thêm một bộ loa tuyến nữa cho đến khi tất cả được tiếp sinh lực hoàn toàn và phần việc đặc biệt này của Chúa Thánh Thần sẽ được hoàn tất. Như vậy, chính sự sống của Ngài đang chậm rãi khai mở những nguyên tử mà từ đó vật chất của chúng ta được cấu tạo. Sự kiện bản thân vật chất đang tiến hoá có nghĩa là công việc của chúng ta sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều khi thời gian trôi qua. Cái được gọi là sức kháng cự hay Quán tính của vật chất là một trong những phẩm tính của nó hiện nay thường cản đường chúng ta và gây rắc rối cho chúng ta. Nhiều khó khăn sẽ được gỡ bỏ cho hậu duệ xa xôi của chúng ta trong các cuộc tuần hoàn về sau, vì khi ấy vật chất sẽ phát triển hơn nhiều, sống động hơn nhiều so với vật chất mà chúng ta đang làm việc hiện nay.

Diagram 3. An Ultimate Physical Atom.

Sơ đồ 3. Một Nguyên Tử Hồng Trần Tối Hậu.

The atom itself is nothing but the manifestation of a force; the Deity wills a certain shape which we call an ultimate physical atom, and by that effort of His will some fourteen thousand million “bubbles in koilon” are held in that particular form. The atom here represented is male or positive. It is a heart-shaped structure, composed, apparently, of ten sets of spirally-arranged “wires,” of which three sets are thicker than the others. Under observation, an atom is seen to be extremely active, three movements being chiefly noticeable: first, it spins rapidly on its axis; second, it moves rapidly round a small orbit; third, it is expanding and contracting, pulsating like a beating heart. All the so-called chemical elements are made of geometrically arranged groups of these ultimate atoms.

Bản thân nguyên tử không là gì khác ngoài sự biểu hiện của một mãnh lực; Thượng đế muốn có một hình dạng nhất định mà chúng ta gọi là một nguyên tử hồng trần tối hậu, và bằng nỗ lực Ý Chí của Ngài, khoảng mười bốn ngàn triệu “bọt trong koilon” được giữ trong hình thức đặc biệt ấy. Nguyên tử được trình bày ở đây là nam hay dương. Nó là một cấu trúc hình trái tim, dường như gồm mười bộ “dây” sắp xếp theo hình xoắn ốc, trong đó ba bộ dày hơn các bộ còn lại. Khi quan sát, một nguyên tử được thấy là cực kỳ hoạt động, với ba chuyển động nổi bật chính: thứ nhất, nó quay nhanh quanh trục của mình; thứ hai, nó di chuyển nhanh quanh một quỹ đạo nhỏ; thứ ba, nó giãn nở và co lại, nhịp đập như một trái tim đang đập. Tất cả những cái gọi là nguyên tố hóa học đều được tạo thành từ các nhóm nguyên tử tối hậu này được sắp xếp theo hình học.

The Serpent Fire – Lửa Rắn

There is a third way in which God the Holy Ghost is the Giver of Life. It is through the force called the Serpent Fire or kundalini . I wrote in my book The Chakras :

Có một cách thứ ba trong đó Thượng đế Chúa Thánh Thần là Đấng Ban Sự Sống. Đó là qua mãnh lực được gọi là Lửa Rắn hay kundalini. Tôi đã viết trong sách của tôi Các Luân Xa:

This force is the physical-plane manifestation of another of the manifold aspects of the power of the Logos, belonging to the First Outpouring, which comes from the Third Aspect. It exists on all planes of which we know anything. . . . It is not convertible into either the primary force already mentioned or the force of vitality which comes from the sun, and it does not seem to be affected in any way by any other forms of physical energy.

Mãnh lực này là sự biểu hiện trên cõi hồng trần của một trong nhiều phương diện của quyền năng Thượng Đế, thuộc về Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, phát xuất từ Phương Diện Thứ Ba. Nó tồn tại trên mọi cõi mà chúng ta biết được đôi điều.... Nó không thể chuyển đổi thành mãnh lực nguyên thủy đã đề cập hoặc mãnh lực sinh lực đến từ mặt trời, và dường như nó không bị ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào bởi bất kỳ hình thức năng lượng hồng trần nào khác.

We have known for many years that there is deep down in the earth what may be described as a laboratory of the Third Logos. On attempting to investigate the conditions at the center of the earth we find there a vast globe of such tremendous force that we cannot approach it. . . . The force of kundalini in our bodies comes from that laboratory of the Holy Ghost deep down in the earth. It belongs to that terrific glowing fire of the underworld. That fire is in striking contrast to the fire of vitality which comes from the sun.

Trong nhiều năm, chúng ta đã biết rằng sâu trong lòng Trái Đất có cái có thể được mô tả như một phòng thí nghiệm của Thượng Đế Thứ Ba. Khi cố gắng khảo sát các điều kiện tại trung tâm Trái Đất, chúng ta thấy ở đó một bầu khổng lồ của mãnh lực lớn lao đến nỗi chúng ta không thể đến gần nó.... Mãnh lực kundalini trong các thể của chúng ta đến từ phòng thí nghiệm ấy của Chúa Thánh Thần sâu trong lòng Trái Đất. Nó thuộc về ngọn lửa rực cháy đáng sợ của thế giới bên dưới. Ngọn lửa ấy tương phản nổi bật với lửa sinh lực đến từ mặt trời.

Kundalini is the power of that Outpouring (the First) on its path of return, and it works in the bodies of evolving creatures in intimate contact with the primary force already mentioned, the two acting together to bring the creature to the point where it can receive the outpouring of the First Logos, and become an Ego, a human being, and still carry on the vehicles even after that. We thus draw God’s mighty power from the earth beneath as well as from heaven above; we are children of the earth as well as of the sun. These two meet in us and work together for our evolution. We cannot have one without the other, but if one is greatly in excess there are serious dangers. Hence the risk of any development of the deeper layers of the Serpent Fire before the life in man is pure and refined. . . . But kundalini plays a much larger part in daily life than most of us have hitherto supposed; there is a far lower and gentler manifestation of it which is already awake within us all, which is not only innocuous but beneficent, which is doing its appointed work day and night while we are entirely unconscious of its presence and activity. 58

Kundalini là quyền năng của Lần Tuôn Đổ ấy (Lần Thứ Nhất) trên con đường trở về của nó, và nó hoạt động trong các thể của những sinh vật đang tiến hoá trong sự tiếp xúc mật thiết với mãnh lực nguyên thủy đã nói ở trên, cả hai cùng hành động để đưa sinh vật đến điểm mà nó có thể tiếp nhận lần tuôn đổ của Thượng Đế Thứ Nhất, và trở thành một Chân ngã, một con người, rồi vẫn tiếp tục duy trì các hiện thể sau đó. Như vậy, chúng ta rút quyền năng hùng mạnh của Thượng đế từ đất bên dưới cũng như từ trời bên trên; chúng ta là con của đất cũng như của mặt trời. Hai điều này gặp nhau trong chúng ta và cùng làm việc cho sự tiến hoá của chúng ta. Chúng ta không thể có cái này mà thiếu cái kia, nhưng nếu một bên quá thừa thì có những nguy hiểm nghiêm trọng. Do đó có nguy cơ trong bất kỳ sự phát triển nào của các tầng sâu hơn của Lửa Rắn trước khi sự sống trong con người trở nên tinh khiết và thanh luyện.... Nhưng kundalini đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong đời sống hằng ngày so với điều phần lớn chúng ta cho đến nay vẫn tưởng; có một biểu hiện thấp hơn nhiều và dịu hơn của nó đã thức tỉnh trong tất cả chúng ta, không những vô hại mà còn có ích, đang làm công việc được chỉ định của nó ngày đêm trong khi chúng ta hoàn toàn không có ý thức về sự hiện diện và hoạt động của nó. 58

We see then that God the Holy Ghost is a giver of life in three ways. First, He sends His life through the atoms; then He pours through them another stream of life which enables them to combine and make the chemical atoms; thirdly, He works in the bodies of all evolving creatures through that mysterious force we call the serpent-fire.

Vậy chúng ta thấy rằng Thượng đế Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống theo ba cách. Thứ nhất, Ngài gửi sự sống của Ngài qua các nguyên tử; kế đó, Ngài tuôn qua chúng một dòng sự sống khác giúp chúng có khả năng kết hợp và tạo nên các nguyên tử hóa học; thứ ba, Ngài hoạt động trong các thể của mọi sinh vật đang tiến hoá qua mãnh lực huyền bí mà chúng ta gọi là lửa rắn.

“Who Proceedeth from the Father and the Son” – “Đấng Phát Xuất từ Cha và Con”

There has been a great deal of ambiguity surrounding this clause. It has attained a notoriety, a prominence out of all proportion to its intrinsic importance, because it was nominally the cause of the greatest schism which has ever taken place in the Christian Church—the division between the Eastern and Western churches in the eleventh century. The whole question turned upon the insertion of one word. “Who proceedeth from the Father” was the original form of the phrase, and the word filioque—“ and the Son”—was inserted by the Roman Church about the year 600. The Greek Church took no exception to it at the time, but some four hundred years afterwards it suddenly discovered that it could not possibly have fellowship with people who held so strange and outrageous a doctrine. The real reason for the change of front was political and financial rather than doctrinal.

Đã có rất nhiều sự mơ hồ bao quanh mệnh đề này. Nó đã đạt tới một tiếng tăm, một sự nổi bật vượt xa tầm quan trọng nội tại của nó, vì trên danh nghĩa nó là nguyên nhân của cuộc ly giáo lớn nhất từng xảy ra trong Giáo hội Kitô giáo — sự phân chia giữa các giáo hội Đông phương và Tây phương vào thế kỷ mười một. Toàn bộ vấn đề xoay quanh việc chèn thêm một từ. “Đấng phát xuất từ Cha” là hình thức nguyên thủy của cụm từ, và từ và Con—“ và Con” — được Giáo hội Rôma chèn vào khoảng năm 600. Giáo hội Hy Lạp lúc ấy không phản đối điều đó, nhưng khoảng bốn trăm năm sau, đột nhiên phát hiện rằng họ không thể nào hiệp thông với những người nắm giữ một giáo lý kỳ lạ và quá đáng như thế. Lý do thật sự cho sự đổi hướng này là chính trị và tài chính hơn là giáo lý.

Relations between the two parts of the Church had been strained for some time. The west of Europe owed its allegiance to the See of Rome, whose policy it was to centralize everything in Rome itself. There were several patriarchs in the Eastern Church who ranked equally, whereas there was only one head of the Western Church, the Pope. He tended to draw authority more and more into his own hands, and the straw which broke the camel’s back and finally decided the Greek Church to secede was the transference of the allegiance of the Bulgarians from the patriarchs to the Pope. That meant the turning aside of a good deal of money from the one organization to the other, and so the Eastern Church broke away and gave as pretext the insertion of “filioque .” The Western Church in no way corrupted the doctrine when it added that word, but only expressed in words what must have been obvious from the first to anyone who read behind the mere letter of the formula, and yet there was a very real meaning in the protest of the Eastern Church.

Quan hệ giữa hai phần của Giáo hội đã căng thẳng trong một thời gian. Tây Âu tuyên phục Tòa Rôma, với chính sách tập trung mọi sự vào chính Rôma. Có nhiều thượng phụ trong Giáo hội Đông phương có địa vị ngang nhau, trong khi chỉ có một vị đứng đầu Giáo hội Tây phương, là Giáo hoàng. Ông có khuynh hướng ngày càng thu quyền bính vào tay mình, và giọt nước làm tràn ly, cuối cùng khiến Giáo hội Hy Lạp quyết định ly khai, là việc chuyển sự tuyên phục của người Bulgaria từ các thượng phụ sang Giáo hoàng. Điều đó có nghĩa là một khoản tiền đáng kể bị chuyển hướng từ tổ chức này sang tổ chức kia, và vì vậy Giáo hội Đông phương tách ra, lấy cớ là việc chèn thêm “và Con.” Giáo hội Tây phương không hề làm hư hỏng giáo lý khi thêm từ ấy, mà chỉ diễn đạt bằng lời điều hẳn đã hiển nhiên ngay từ đầu đối với bất cứ ai đọc vượt sau chữ nghĩa đơn thuần của công thức; tuy nhiên, trong sự phản đối của Giáo hội Đông phương vẫn có một ý nghĩa rất thật.

We have already seen that when the life of the Deity appears in the highest world of our solar system it manifests as a triplicity, as three Persons or Aspects. The first of those Persons—the Father—remains always at the level of the first and highest manifestation. The second descends one plane and clothes itself in the matter of that plane. The third of these equal manifestations descends through two levels. Thus we have three separate manifestations whom, with all reverence, we may describe as standing on three steps. If we picture the planes to ourselves as the shelves of a bookcase, there will be three manifestations side by side on the highest plane. The First remains always on that plane, while the Second descends a stage lower and manifests there through the matter of that plane. The Third descends a further stage still and there manifests Himself. But as the three exist coequally on the highest plane, the Second Person must always retain that manifestation on the highest plane though He descends one plane lower. Similarly, the Third Person descends two planes but retains a manifestation on each of those higher planes. So clearly it was not an alteration of the doctrine of the Church to say that the Third Person proceeded from the First and Second Persons. He obviously proceeds from the first through the level of the second down to His own plane on the third. What the Latin Church meant when it included the word filioque in its creed was simply that God the Holy Ghost does not drop to the third plane overleaping the intermediate stage of the second plane, but passes through that stage which is specially devoted to the manifestation of God the Son. The Greek Church misunderstood this addition and supposed it to indicate a confusion of the functions and manifestation of the separate Persons or Aspects of the Trinity. Both sides were right. The Eastern Church was perfectly right when it said that there was a clear line of descent from the level of God the Father and that therefore the Holy Ghost did not come forth from the manifested Person of the Son. St. John Damascene came the nearest of any of the disputants to understanding the truth, for he rendered this phrase; “Who proceedeth from the Father through the Son.” 59 He was, however, considered a heretic by his contemporaries.

Chúng ta đã thấy rằng khi sự sống của Thượng đế xuất hiện trong thế giới cao nhất của hệ mặt trời chúng ta, nó biểu hiện như một bộ ba, như ba Ngôi hay Phương diện. Ngôi thứ nhất trong các Ngôi ấy — Cha — luôn ở lại cấp độ của sự biểu hiện thứ nhất và cao nhất. Ngôi thứ hai giáng xuống một cõi và khoác lấy vật chất của cõi ấy. Ngôi thứ ba trong các biểu hiện đồng đẳng này giáng xuống qua hai cấp độ. Như vậy, chúng ta có ba biểu hiện riêng biệt mà, với tất cả sự tôn kính, chúng ta có thể mô tả như đứng trên ba bậc. Nếu chúng ta hình dung các cõi như những kệ của một tủ sách, sẽ có ba biểu hiện đứng cạnh nhau trên cõi cao nhất. Ngôi Thứ Nhất luôn ở lại trên cõi ấy, trong khi Ngôi Thứ Hai giáng xuống một bậc thấp hơn và biểu hiện ở đó qua vật chất của cõi ấy. Ngôi Thứ Ba giáng xuống thêm một bậc nữa và ở đó biểu hiện Chính Ngài. Nhưng vì ba Ngôi cùng hiện hữu đồng đẳng trên cõi cao nhất, nên Ngôi Thứ Hai phải luôn giữ biểu hiện ấy trên cõi cao nhất dù Ngài giáng xuống một cõi thấp hơn. Tương tự, Ngôi Thứ Ba giáng xuống hai cõi nhưng vẫn giữ một biểu hiện trên mỗi cõi cao hơn ấy. Vì vậy, rõ ràng không phải là một sự thay đổi giáo lý của Giáo hội khi nói rằng Ngôi Thứ Ba phát xuất từ Ngôi Thứ Nhất và Ngôi Thứ Hai. Hiển nhiên Ngài phát xuất từ Ngôi thứ nhất, qua cấp độ của Ngôi thứ hai, xuống đến cõi riêng của Ngài trên cõi thứ ba. Điều Giáo hội Latinh muốn nói khi đưa từ và Con vào tín điều của mình chỉ đơn giản là Thượng đế Chúa Thánh Thần không rơi xuống cõi thứ ba bằng cách vượt qua giai đoạn trung gian của cõi thứ hai, mà đi qua giai đoạn ấy, vốn đặc biệt được hiến cho sự biểu hiện của Thượng đế Ngôi Con. Giáo hội Hy Lạp hiểu lầm sự thêm vào này và cho rằng nó biểu thị sự lẫn lộn các chức năng và biểu hiện của các Ngôi hay Phương diện riêng biệt của Ba Ngôi. Cả hai phía đều đúng. Giáo hội Đông phương hoàn toàn đúng khi nói rằng có một đường giáng hạ rõ ràng từ cấp độ của Thượng đế Ngôi Cha, và do đó Chúa Thánh Thần không phát xuất từ Ngôi biểu hiện của Con. Thánh John Damascene là người đến gần chân lý nhất trong số những người tranh luận, vì ông diễn đạt cụm từ này là: “Đấng phát xuất từ Cha qua Con.” 59 Tuy nhiên, ông bị những người đồng thời xem là dị giáo.

If they had reversed their phrasing and said that the Son proceeded from the Father and that the Holy Ghost was begotten of the Son, they would have been nearer to the occult truth. The second Person of the Trinity leapt forth of His own volition from the bosom of the Father, and so was born of One and not of Two. As I have explained elsewhere, 60 the real meaning of the word monogenēs is “coming forth from one alone” and not from the interaction of a syzygy or pair, as in all other births in our system.

Nếu họ đảo ngược cách diễn đạt của mình và nói rằng Con phát xuất từ Cha, còn Chúa Thánh Thần được sinh ra từ Con, thì họ đã đến gần chân lý huyền bí hơn. Ngôi thứ hai của Ba Ngôi đã tự nguyện phóng ra từ lòng Cha, và do đó được sinh ra từ Một chứ không từ Hai. Như tôi đã giải thích ở nơi khác, 60 ý nghĩa thật của từ độc sinh là “phát xuất từ một mình một Đấng” chứ không phải từ sự tương tác của một cặp đôi, như trong mọi sự sinh thành khác trong hệ thống của chúng ta.

The procession or generation of the Holy Ghost was no exception to the general rule, for in all systems the Son is regarded as dual, though in the modern Christian system the two poles or aspects are expressed only as divinity and humanity. In many of the earlier trinities, and even in the Gnostic traditions, the duality was regarded as corresponding to that of male and female and the Second Person was sometimes called “the Father-Mother” and was spoken of as containing within Himself the best characteristics of both the sexes.

Sự phát xuất hay sinh thành của Chúa Thánh Thần không phải là ngoại lệ đối với quy luật chung, vì trong mọi hệ thống, Con được xem là Kép, dù trong hệ thống Kitô giáo hiện đại, hai cực hay hai phương diện chỉ được diễn đạt như thiên tính và nhân tính. Trong nhiều bộ ba sớm hơn, và ngay cả trong các truyền thống Ngộ đạo, Nhị nguyên ấy được xem là tương ứng với nam và nữ, và Ngôi Thứ Hai đôi khi được gọi là “Cha-Mẹ” và được nói đến như chứa đựng trong Chính Ngài những đặc tính tốt đẹp nhất của cả hai giới.

“Who with the Father and the Son Together Is Worshipped and Glorified” – “Đấng Cùng với Cha và Con Được Thờ Phượng và Tôn Vinh”

This phrase emphasizes the equality of the Three Persons, though this was by no means universally accepted. The followers of the Arian heresy held—certainly with a show of reason—that if the Son came forth from the Father, He must be younger and therefore in certain ways of less importance than the Father. But the orthodox party maintained that in essence these Three Persons had always existed, and that they were coeternal and coequal, a truth stated in this clause of the Nicene Creed and more definitely asserted in the Athanasian Creed, where it is stated that “none is afore, or after other; none is greater, or less than another; But the whole three Persons are coeternal together; and coequal.” The Three Aspects are indeed equally worthy of our reverence and our gratitude, all equally to be glorified by man, since his debt of gratitude for the labor and stupendous sacrifice involved in his evolution is due to all three alike.

Cụm từ này nhấn mạnh sự bình đẳng của Ba Ngôi, dù điều này tuyệt nhiên không được chấp nhận một cách phổ quát. Những người theo tà thuyết Arius chủ trương—hẳn cũng có vẻ hợp lý—rằng nếu Con phát xuất từ Cha, thì Ngài phải trẻ hơn và do đó, theo một vài phương diện, kém quan trọng hơn Cha. Nhưng phái chính thống khẳng định rằng, về bản thể, Ba Ngôi này vẫn luôn hiện hữu, đồng vĩnh cửu và đồng bình đẳng; một chân lý được nêu trong mệnh đề này của Tín điều Nicene và được xác quyết rõ ràng hơn trong Tín điều Athanasius, nơi có nói rằng “không Ngôi nào có trước hay có sau Ngôi nào; không Ngôi nào lớn hơn hay nhỏ hơn Ngôi nào; nhưng cả Ba Ngôi đều đồng vĩnh cửu với nhau và đồng bình đẳng.” Ba Phương diện quả thật đều xứng đáng như nhau với lòng tôn kính và biết ơn của chúng ta, đều đáng được con người tôn vinh như nhau, vì món nợ tri ân của y đối với lao công và sự hi sinh kỳ vĩ hàm chứa trong cuộc tiến hoá của y là món nợ đối với cả ba như nhau.

“Who Spake by the Prophets” – “Đấng Đã Phán Qua Các Tiên Tri”

This touches another side of the work of the Holy Ghost and is more a misunderstanding than a mistranslation, because the original Greek is certainly capable of that interpretation. Those who have studied the writings of the Christian Fathers, the Gnostics, and the philosophers of Alexandria, know that the real meaning of this clause is obviously something quite different from the rendering given here. We use the word “prophet” nowadays to designate a person who foretells the future. The Greek word prophēmi (phēmi, “ to speak,” and pro, “ forth” or “before”) means to speak out, to preach, to deliver a message. The meaning of the original passage which this clause represents may perhaps best be rendered into English as “Who manifests through His Messengers.” Now the Greek word angelos means both “angel” and “messenger.” The angels are the messengers of God, and the original meaning behind this was not a reference to the Jewish prophets but to the idea that God the Holy Ghost manifested Himself to the world through certain Messengers.

Điều này chạm đến một phương diện khác trong công việc của Chúa Thánh Thần, và đây là một sự hiểu lầm hơn là một bản dịch sai, bởi nguyên bản Hy Lạp chắc chắn có thể được hiểu theo cách ấy. Những ai đã nghiên cứu các trước tác của các Giáo phụ Kitô giáo, các nhà Ngộ đạo và các triết gia Alexandria đều biết rằng ý nghĩa thật của mệnh đề này hiển nhiên là một điều hoàn toàn khác với cách diễn đạt được đưa ra ở đây. Ngày nay chúng ta dùng từ “tiên tri” để chỉ một người báo trước tương lai. Từ Hy Lạp tương ứng có nghĩa là nói ra, rao giảng, truyền đạt một thông điệp. Ý nghĩa của đoạn nguyên thủy mà mệnh đề này biểu thị có lẽ có thể được diễn đạt tốt nhất bằng tiếng Anh là “Đấng biểu lộ qua các Sứ giả của Ngài.” Từ Hy Lạp chỉ sứ giả có nghĩa vừa là “thiên thần” vừa là “sứ giả.” Các thiên thần là sứ giả của Thượng đế, và ý nghĩa nguyên thủy đằng sau điều này không phải là sự quy chiếu đến các tiên tri Do Thái, mà là ý tưởng rằng Thượng đế Chúa Thánh Thần đã biểu lộ chính Ngài cho thế gian qua một số Sứ giả nào đó.

It must be remembered that most of the early Christians were Jews, and they were always anxious to link the new Christian teaching with the old Jewish belief and to make Christ appear as the recognized Messiah whom their prophets had foretold. The prophets wrote and spoke poetically in large and general terms, but many of their utterances were twisted from their obvious meaning in order to make them fit in with incidents which were supposed to have happened in the life of Christ. We find that very frequently Christ is spoken of as doing or saying certain things in order that “the scriptures might be fulfilled.” They supposed that He did or said certain things in order to fit in with what the prophets had said hundreds of years before. It was very natural that they should try to fit these things together, and when we remember their strong conviction that they were God’s chosen people, perhaps it is not very surprising that they should regard this passage as indicative of the inspiration of the Hebrew prophets.

Cần nhớ rằng phần lớn các Kitô hữu sơ khai là người Do Thái, và họ luôn nóng lòng liên kết giáo huấn Kitô giáo mới với tín ngưỡng Do Thái cũ, đồng thời làm cho Đức Christ hiện ra như Đấng Messiah đã được thừa nhận, Đấng mà các tiên tri của họ đã báo trước. Các tiên tri viết và nói theo lối thi ca, bằng những thuật ngữ rộng lớn và tổng quát, nhưng nhiều lời phát biểu của họ đã bị bẻ cong khỏi ý nghĩa hiển nhiên nhằm làm cho chúng khớp với những sự kiện được cho là đã xảy ra trong đời Đức Christ. Chúng ta thấy rằng rất thường khi Đức Christ được nói là đã làm hoặc nói một số điều để “kinh thánh được ứng nghiệm.” Họ cho rằng Ngài đã làm hoặc nói một số điều để phù hợp với những gì các tiên tri đã nói hàng trăm năm trước. Việc họ cố gắng ghép những điều này lại với nhau là rất tự nhiên; và khi nhớ đến niềm xác tín mạnh mẽ của họ rằng họ là dân được Thượng đế tuyển chọn, có lẽ không quá ngạc nhiên khi họ xem đoạn này như một dấu chỉ về cảm hứng của các tiên tri Hebrew.

The Seven Rays – Bảy Cung

In order to find the real meaning of this clause we must go back to the teachings of the Jews not as found in the books of the Bible but rather in their mystical writings. There we find a tradition of the seven Archangels or the Seven Spirits before the throne of God—the seven lesser Logoi, who are the first emanation of the Godhead. Of course, it was manifestly impossible that the reference to them in the passage under consideration should later be understood by those already obsessed with the idea that all that was said of the Second Person of the Trinity was to be taken as the life story of a human teacher. If the Second Person were but a man and the Third Person a vague influence proceeding from Him, then the messengers through whom that influence had previously manifested must obviously be men also. The grandeur of the true conception was far above them.

Để tìm ra ý nghĩa thật của mệnh đề này, chúng ta phải quay lại với các giáo huấn của người Do Thái, không phải như được thấy trong các sách của Kinh Thánh, mà đúng hơn trong các trước tác thần bí của họ. Ở đó chúng ta thấy một truyền thống về bảy Tổng thiên thần hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế—bảy Thượng đế thấp hơn, vốn là xuất lộ đầu tiên của Thượng đế tính. Dĩ nhiên, hiển nhiên là không thể nào về sau sự quy chiếu đến Các Ngài trong đoạn đang xét lại được những người vốn đã bị ám ảnh bởi ý tưởng rằng mọi điều được nói về Ngôi Hai của Ba Ngôi phải được hiểu như câu chuyện đời của một vị huấn sư nhân loại. Nếu Ngôi Hai chỉ là một con người và Ngôi Ba là một ảnh hưởng mơ hồ phát xuất từ Ngài, thì những sứ giả mà qua đó ảnh hưởng ấy trước kia đã biểu lộ hiển nhiên cũng phải là con người. Sự hùng vĩ của quan niệm chân thật vượt quá xa họ.

That this manifestation through His angels is a vivid reality, every student of occultism knows. On every plane he finds the seven great types, not only of matter but of life and energy. Whatsoever has come forth from God, of Light and Life and Strength, has come through one or other of those seven great Spirits. They are, in a way very difficult for us to understand, entirely separate entities; and yet they are centers of energy in the Logos Himself. All life which is poured forth is His life, but it is poured out through one or other of these great channels and whosoever passes through them receives an ineffaceable mark, so that thereafter one can always tell through which of the seven any particular portion of strength, life, health, may have come. We find these seven lines of energy running through all the kingdoms.

Mọi đạo sinh huyền bí học đều biết rằng sự biểu lộ này qua các thiên thần của Ngài là một thực tại sống động. Trên mỗi cõi, y tìm thấy bảy kiểu mẫu vĩ đại, không chỉ của vật chất mà còn của sự sống và năng lượng. Bất cứ điều gì đã phát xuất từ Thượng đế, thuộc về Ánh sáng, Sự sống và Sức mạnh, đều đã đến qua một trong bảy Thánh Linh vĩ đại ấy. Theo một cách rất khó để chúng ta thấu hiểu, Các Ngài là những thực thể hoàn toàn riêng biệt; tuy vậy Các Ngài cũng là các trung tâm năng lượng trong chính Thượng đế. Mọi sự sống được tuôn đổ ra đều là sự sống của Ngài, nhưng nó được tuôn ra qua một trong những vận hà vĩ đại này; và bất cứ ai đi qua Các Ngài đều nhận một dấu ấn không thể xoá mờ, đến nỗi từ đó về sau người ta luôn có thể biết được qua vị nào trong bảy vị mà một phần sức mạnh, sự sống, sức khoẻ đặc thù đã đến. Chúng ta thấy bảy đường năng lượng này chạy xuyên qua mọi giới.

We call them rays; we speak of individuals as belonging to the fourth or the seventh or the Fifth Ray and so on, according to the line along which they came forth from the Divine. Men have always recognized these divisions. A century or more ago they were called “temperaments,” and men were classified as being of the lymphatic or the sanguine temperament, and so on. Later on, astrology came into vogue and people were defined as being under the influence of one or other of the planets.

Chúng ta gọi chúng là các cung; chúng ta nói về các cá nhân như thuộc cung bốn, cung bảy, hay cung năm, v.v., tùy theo đường mà họ đã phát xuất từ Thiêng liêng. Con người vẫn luôn nhận biết các phân chia này. Một thế kỷ hoặc hơn trước, chúng được gọi là “khí chất”, và người ta được phân loại là thuộc khí chất lãnh đạm hay khí chất hăng hái, v.v. Về sau, chiêm tinh học trở nên thịnh hành và người ta được xác định là ở dưới ảnh hưởng của hành tinh này hay hành tinh khác.

The original meaning of all these classifications is simply that all of us are on one or other of these seven great lines, all of us came forth through one or other of these seven great angels or messengers, and the life which came through one of them always remains His life even though it is also the life of the Logos of which He is a part. Thus verily is the Divine Life ever manifesting not only without us, but within us, yet always that life comes through His angels or Messengers, through one or other of those wondrous living lights who are yet centers in that still greater Light which knows no setting, but shines for evermore.

Ý nghĩa nguyên thủy của mọi cách phân loại này chỉ đơn giản là tất cả chúng ta đều ở trên một trong bảy đường vĩ đại này, tất cả chúng ta đã phát xuất qua một trong bảy thiên thần hay sứ giả vĩ đại này, và sự sống đã đến qua một trong Các Ngài luôn vẫn là sự sống của Ngài, dù đó cũng là sự sống của Thượng đế mà Ngài là một phần. Như vậy, quả thật Sự Sống Thiêng Liêng luôn biểu lộ không chỉ bên ngoài chúng ta mà còn bên trong chúng ta, nhưng sự sống ấy luôn đến qua các thiên thần hay Sứ giả của Ngài, qua một trong những ánh sáng sống động kỳ diệu ấy, vốn vẫn là những trung tâm trong Ánh Sáng còn vĩ đại hơn kia, Ánh Sáng không biết đến lặn tắt mà chiếu rạng mãi mãi.

19 – 19

The Church And The Saints – Giáo Hội Và Các Thánh

The Holy Catholic Church – Giáo Hội Công Giáo Thánh Thiện

This clause appears in the Nicene Creed as “one Catholic and Apostolic Church” and has always been understood to signify the body of faithful believers all over the world. The word “catholic” (Greek katholikos ) simply means “universal.” The Catholic Church is therefore the one universal Church; there is no title more sadly misunderstood than that. Why should one particular section, however powerful, however estimable, of Christ’s holy Church be allowed to appropriate that name and exclude all the rest? Assuredly every Church in which Christ is truly worshipped is part of the great Catholic Church.

Mệnh đề này xuất hiện trong Tín điều Nicene là “một Giáo hội Công giáo và Tông truyền”, và luôn được hiểu là chỉ thân thể của những tín hữu trung thành trên khắp thế giới. Từ “công giáo” chỉ đơn giản có nghĩa là “phổ quát.” Do đó, Giáo hội Công giáo là một Giáo hội phổ quát duy nhất; không có danh xưng nào bị hiểu lầm đáng buồn hơn thế. Tại sao một bộ phận riêng biệt nào đó, dù mạnh mẽ đến đâu, đáng kính đến đâu, của Giáo hội thánh thiện của Đức Christ lại được phép chiếm lấy danh xưng ấy và loại trừ tất cả phần còn lại? Chắc chắn mọi Giáo hội trong đó Đức Christ được thật sự tôn thờ đều là một phần của Giáo hội Công giáo vĩ đại.

This clause is in effect a statement of the brotherhood of man, for it proclaims that the community of interest in spiritual things draws together men of every nation. That is the real meaning of the word “church.” The Greek for “church” is ekklēsia , meaning the body of those who are “called out” 61 of the ordinary life of misdirected energy by their common knowledge of the great facts underlying nature. They are those who, no matter to what nation they may belong or by what name they may choose to call their faith in spiritual things, know something of the truth about God and His relation to men; who cannot live as though they had not this knowledge, and, because they understand the relative importance of each, have “set their affection on things above and not on things of the earth.”

Trên thực tế, mệnh đề này là một tuyên ngôn về tình huynh đệ của con người, vì nó công bố rằng sự cộng đồng lợi ích trong những điều tinh thần lôi kéo con người thuộc mọi quốc gia lại với nhau. Đó là ý nghĩa thật của từ “giáo hội.” Từ Hy Lạp chỉ “giáo hội” có nghĩa là thân thể của những người được “gọi ra” 61 khỏi đời sống thông thường của năng lượng bị định hướng sai lạc, nhờ tri thức chung của họ về những sự kiện vĩ đại nằm bên dưới thiên nhiên. Họ là những người, bất kể thuộc quốc gia nào hay chọn gọi đức tin của mình vào những điều tinh thần bằng tên gọi nào, biết phần nào chân lý về Thượng đế và mối liên hệ của Ngài với con người; những người không thể sống như thể họ không có tri thức ấy, và vì thấu hiểu tầm quan trọng tương đối của từng điều, đã “đặt lòng mình nơi những điều ở trên, chứ không phải nơi những điều thuộc về Trái Đất.”

In this sense the Church is indeed a very true and great brotherhood with the closest possible links between its members, yet there are many sects among the followers of Christ who do not realize their brotherhood, who distrust and misunderstand one another. But assuredly, as the world evolves, people will begin to realize more and more how foolish it is to quarrel about unimportant matters of belief. Men equally good in every way belong to all the different religions, to all the different sects of Christianity, though externally they differ in forms and names and ceremonies. The question as to what dress they shall wear when they worship God, as to whether they shall be baptized when they are infants or when they are adults, whether they shall use this word or that, this ceremony or that ceremony—all these things matter very little.

Theo nghĩa này, Giáo hội quả thật là một tình huynh đệ rất chân thật và vĩ đại, với những mối liên kết gần gũi nhất có thể giữa các thành viên; tuy vậy, trong số những người theo Đức Christ có nhiều giáo phái không nhận ra tình huynh đệ của mình, nghi ngờ và hiểu lầm lẫn nhau. Nhưng chắc chắn, khi thế giới tiến hoá, con người sẽ ngày càng bắt đầu nhận ra việc tranh cãi về những vấn đề niềm tin không quan trọng là ngu xuẩn biết bao. Những người tốt như nhau về mọi phương diện thuộc về mọi tôn giáo khác nhau, mọi giáo phái khác nhau của Kitô giáo, dù bên ngoài họ khác nhau về hình thức, danh xưng và nghi lễ. Câu hỏi về việc họ nên mặc y phục nào khi thờ phượng Thượng đế, về việc họ nên được rửa tội khi còn là trẻ sơ sinh hay khi đã trưởng thành, liệu họ nên dùng từ này hay từ kia, nghi lễ này hay nghi lễ nọ—tất cả những điều ấy rất ít quan trọng.

The really important point for those who regard things spiritual rather than things temporal is that they all agree in standing together on the side of God, that they have definitely ranged themselves on the side of good instead of evil, of evolution instead of retardation. The sharing of the higher knowledge and a community of aim constitute a very real spiritual bond, stronger far than any of the external divisions that separate them—stronger because it is spiritual and belongs to a higher plane than this.

Điểm thật sự quan trọng đối với những ai xem trọng những điều tinh thần hơn những điều tạm thời là tất cả họ đều đồng thuận trong việc cùng đứng về phía Thượng đế, rằng họ đã dứt khoát tự đặt mình về phía thiện thay vì ác, về phía tiến hoá thay vì trì trệ. Sự chia sẻ tri thức cao siêu hơn và sự cộng đồng mục tiêu tạo nên một mối dây tinh thần rất thật, mạnh hơn rất nhiều so với bất kỳ phân chia bên ngoài nào tách biệt họ—mạnh hơn bởi vì nó có tính tinh thần và thuộc về một cõi cao hơn cõi này.

This true Church of the Christ is catholic because among its members are men of every race and of every creed under heaven “of all nations and kindreds and tongues”; it is holy , because in every branch of the Church of Christ, those who are really part of it are trying to make their own lives and those of others holier and better; it is apostolic , not, as is so often thought, because it descends from the Twelve Apostles, who are probably mythical, 62 but because all its members are in very truth apostles—“men sent forth” by the Great Power who is guiding all. Though many of them know it not, every true follower of the Christ is sent forth by Him into the world that he may be His expression upon earth, that he may be an emissary to help his more ignorant brethren, not only by precept but by example and by influence.

Giáo hội chân thật này của Đức Christ là công giáo bởi vì trong số các thành viên của nó có những người thuộc mọi nhân loại và mọi tín ngưỡng dưới trời, “thuộc mọi quốc gia, dòng tộc và ngôn ngữ”; nó là thánh thiện, bởi vì trong mọi nhánh của Giáo hội Đức Christ, những ai thật sự là một phần của nó đều đang cố gắng làm cho đời sống của chính mình và của người khác trở nên thánh thiện hơn và tốt đẹp hơn; nó là tông truyền, không phải, như người ta thường nghĩ, vì nó xuất phát từ Mười Hai Tông đồ, những vị có lẽ chỉ là huyền thoại, 62 mà bởi vì tất cả các thành viên của nó thật sự là các tông đồ—“những người được sai đi” bởi Quyền Năng Vĩ Đại đang hướng dẫn tất cả. Dù nhiều người trong họ không biết điều đó, mọi người thật sự theo Đức Christ đều được Ngài sai vào thế gian để y có thể là biểu hiện của Ngài trên Trái Đất, để y có thể là một sứ giả giúp đỡ những huynh đệ còn vô minh hơn của mình, không chỉ bằng lời dạy mà còn bằng gương sống và bằng ảnh hưởng.

One , the Church is called, and fundamentally it is so in essence, whatever its outward divisions may be—“elect from every nation, yet one o’er all the earth”—though it may be centuries before all its members realize their unity.

Giáo hội được gọi là một, và về căn bản, xét theo bản thể, quả đúng như vậy, bất kể các phân chia bên ngoài của nó ra sao—“được tuyển chọn từ mọi quốc gia, nhưng vẫn là một trên khắp Trái Đất”—dù có thể phải nhiều thế kỷ nữa tất cả các thành viên của nó mới nhận ra sự hợp nhất của mình.

For the truth is that in all the world there are only two kinds of people—those who know and those who do not know. Those who know have realized God’s plan for man and know that it is evolution—that it means onward progress from good to better, and from better to best. They are comparatively few as yet, but still, in the aggregate, a vast number. Then there are the many who as yet do not know of the divine scheme; they live for themselves and are very largely the slaves of their passions. When they come to know the truth, they will experience what is called conversion (Latin con , “with,” and vertere , “to turn”) and will begin to move in harmony with the divine law of evolution because that is God’s will for man. Those who know are for God and for evolution, and it does not matter one iota whether they are Buddhists or Hindus, Moslems or Christians, freethinkers or Jews. That is not the question at all; the question is whether they are definitely on God’s side, and whether, in the religion into which they happened to have been born (not by chance but by the will of God and under His great Law), they are doing their best. If they are living as they ought to live, they are on God’s side, and they are the salt of the earth; they are the lifters, the helpers of the rest of the world which has to be lifted and helped. These are the holy Church throughout all the world, which always acknowledges its Head, though it may call Him by many names and image Him under many forms.

Vì chân lý là trong toàn thế giới chỉ có hai loại người—những người biết và những người không biết. Những người biết đã nhận ra Thiên Cơ dành cho con người và biết rằng đó là tiến hoá—rằng nó có nghĩa là sự tiến tới từ tốt đến tốt hơn, và từ tốt hơn đến tốt nhất. Hiện nay họ vẫn tương đối ít, nhưng xét tổng thể, vẫn là một con số rất lớn. Rồi còn có số đông những người đến nay vẫn chưa biết về hệ thống thiêng liêng; họ sống cho bản thân và phần lớn là nô lệ cho các đam mê của mình. Khi họ biết được chân lý, họ sẽ trải nghiệm điều được gọi là sự hoán cải, nghĩa là sẽ bắt đầu chuyển động hài hòa với định luật tiến hoá thiêng liêng, bởi đó là Ý Chí của Thượng đế dành cho con người. Những người biết là vì Thượng đế và vì tiến hoá, và việc họ là Phật tử hay tín đồ Ấn giáo, Hồi giáo hay Kitô hữu, nhà tư tưởng tự do hay người Do Thái, không quan trọng chút nào. Đó hoàn toàn không phải là vấn đề; vấn đề là liệu họ có dứt khoát đứng về phía Thượng đế hay không, và liệu trong tôn giáo mà họ tình cờ được sinh vào—không phải do ngẫu nhiên, mà do Ý Chí của Thượng đế và dưới Định luật vĩ đại của Ngài—họ có đang làm hết sức mình hay không. Nếu họ sống như họ phải sống, họ đứng về phía Thượng đế, và họ là muối của đất; họ là những người nâng đỡ, những người trợ giúp phần còn lại của thế giới vốn cần được nâng đỡ và giúp đỡ. Những người này là Giáo hội thánh thiện trên khắp thế giới, luôn thừa nhận Đấng Đứng Đầu của mình, dù có thể gọi Ngài bằng nhiều danh xưng và hình dung Ngài dưới nhiều hình tướng.

The solidarity of the Church is very little understood. The Christ Himself said, and it has been taught over and over again, that “no man liveth to himself and no man dieth to himself,” but most people do not understand this. Truly, we, being members of Christ’s body, do nothing alone. There is a commonwealth in the Church—a commonwealth of worship and of good works and of sacramental grace—and we all worship and receive and act not for ourselves alone but as parts of the whole. Not vicariously, as substitutes one for another, because that would be subversive of perfect justice, but we are one with one another by communication of blessing and of peace because we are all one with God. At the topmost pinnacle of the pyramid of religious life there is always one single stone—the stone of the Divine Love. That is the brightest jewel of the whole universe, the touchstone by which we may try everything else; that is indeed the central point towards which all paths converge, and holy souls journey thither by many roads, for all are pilgrims traveling to one and the same shrine.

Tính đoàn kết của Giáo hội rất ít được thấu hiểu. Chính Đức Christ đã nói, và điều ấy đã được dạy đi dạy lại nhiều lần, rằng “không ai sống cho riêng mình và không ai chết cho riêng mình”, nhưng phần lớn người ta không thấu hiểu điều này. Quả thật, chúng ta, là những thành viên của thân thể Đức Christ, không làm gì một mình. Trong Giáo hội có một cộng đồng—một cộng đồng của sự thờ phượng, của các việc lành và của ân sủng bí tích—và tất cả chúng ta thờ phượng, tiếp nhận và hành động không chỉ cho riêng mình, mà như những phần của toàn thể. Không phải theo nghĩa thay thế, như người này làm thay cho người kia, bởi điều đó sẽ phá hoại công lý hoàn hảo; nhưng chúng ta là một với nhau nhờ sự thông truyền phúc lành và bình an, bởi tất cả chúng ta là một với Thượng đế. Trên đỉnh cao nhất của kim tự tháp đời sống tôn giáo luôn có một viên đá duy nhất—viên đá của Tình Thương Thiêng Liêng. Đó là viên ngọc sáng nhất của toàn vũ trụ, là đá thử nhờ đó chúng ta có thể thử mọi điều khác; đó quả thật là điểm trung tâm mà mọi con đường đều quy tụ về, và các linh hồn thánh thiện hành trình đến đó bằng nhiều nẻo đường, vì tất cả đều là lữ khách đang đi đến một thánh điện duy nhất.

The Communion of Saints – Sự Hiệp Thông của Các Thánh

This clause is found only in the Apostles’ Creed and is interpreted in three different ways. The first makes it merely an extension of the clause before it, that is to say, “The holy Catholic Church [which is] the Communion of the Saints.” The more ignorant take it in that way; they believe that it includes Christians only, and often only one sect of Christians. They have not yet grasped the glory and beauty of the plan; they are still in the condition of the little child who thinks (and it is quite right at his stage that he should think so) that his father is the finest and the strongest and the greatest man in all the world. As he grows older, he comes to recognize that there are other men who are just as good and just as great as his father. So when we grow up out of the child stage of our religion, we realize that all religions are much about the same, differing but not necessarily one greater than another.

Mệnh đề này chỉ được tìm thấy trong Tín điều Các Tông đồ và được diễn giải theo ba cách khác nhau. Cách thứ nhất xem nó chỉ là sự mở rộng của mệnh đề trước, nghĩa là “Giáo hội Công giáo thánh thiện là Sự Hiệp Thông của Các Thánh.” Những người ít hiểu biết hơn hiểu theo cách ấy; họ tin rằng nó chỉ bao gồm các Kitô hữu, và thường chỉ một giáo phái Kitô hữu. Họ vẫn chưa nắm bắt được vinh quang và vẻ đẹp của Thiên Cơ; họ vẫn ở trong tình trạng của đứa trẻ nhỏ nghĩ rằng—và ở giai đoạn của nó, nó nghĩ như vậy là hoàn toàn đúng—cha mình là người tốt nhất, mạnh nhất và vĩ đại nhất trên toàn thế giới. Khi nó lớn lên, nó bắt đầu nhận ra rằng có những người nam khác cũng tốt và cũng vĩ đại như cha nó. Cũng vậy, khi chúng ta trưởng thành khỏi giai đoạn trẻ thơ của tôn giáo mình, chúng ta nhận ra rằng mọi tôn giáo đều gần như tương đồng, khác nhau nhưng không nhất thiết tôn giáo này lớn hơn tôn giáo kia.

A second interpretation of “the Communion of Saints” is that which takes it to mean the members of the Church who have passed away. The idea is that the Holy Catholic Church is the Church of the living, whereas the communion of the saints is the Church of those who have cast aside the physical body. That idea is expressed in one of the hymns:

Cách diễn giải thứ hai về “Sự Hiệp Thông của Các Thánh” là xem nó có nghĩa là các thành viên của Giáo hội đã qua đời. Ý tưởng là Giáo hội Công giáo thánh thiện là Giáo hội của những người đang sống, trong khi sự hiệp thông của các thánh là Giáo hội của những người đã gạt bỏ thể xác. Ý tưởng ấy được diễn tả trong một bài thánh ca:

One family we dwell in Him,

Một gia đình, chúng ta cư ngụ trong Ngài,

One Church above, beneath,

Một Giáo hội trên cao, bên dưới,

Though now divided by the stream,

Dù nay bị chia cách bởi dòng sông,

The narrow stream of death.

Dòng sông hẹp của sự chết.

The third method of interpretation gives a more mystical sense to the word communion and makes it mean the intimate association which exists between the saints.

Phương pháp diễn giải thứ ba đem lại một ý nghĩa thần bí hơn cho từ hiệp thông và khiến nó có nghĩa là sự liên kết mật thiết hiện hữu giữa các thánh.

The truth, as is so often the case, includes all these, but yet is far grander than any of them, for the true meaning of the expression of belief in the communion of the saints is the recognition of the existence and the functions of the great Brotherhood of Adepts. These are they who have passed through human evolution and are standing on the threshold of that which lies above humanity. They are “supermen,” to use the modern phrase, who are in charge of the evolution of mankind. This Great White Brotherhood, which lasts from eternity into eternity, is the “kingdom of heaven” of which Christ speaks, and they who enter it are the elect, the chosen—chosen because of the work they have done, because of the stage they have reached in advance of us—yet they, too, are part of us, and the proof of that unity is that each man who reaches that level helps humanity forward towards its final consummation.

Chân lý, như rất thường xảy ra, bao gồm tất cả những điều này, nhưng vẫn vĩ đại hơn xa bất kỳ điều nào trong số đó; vì ý nghĩa thật của lời tuyên xưng niềm tin vào sự hiệp thông của các thánh là sự thừa nhận sự hiện hữu và các chức năng của Huynh Đệ Đoàn vĩ đại của các Chân sư. Các Ngài là những Đấng đã đi qua cuộc tiến hoá nhân loại và đang đứng trên ngưỡng cửa của điều nằm bên trên nhân loại. Các Ngài là “siêu nhân”, dùng cách nói hiện đại, những Đấng phụ trách cuộc tiến hoá của nhân loại. Thánh Đoàn này, tồn tại từ vĩnh cửu đến vĩnh cửu, là “Thiên Giới” mà Đức Christ nói đến, và những ai bước vào đó là những người được tuyển chọn, những người được chọn—được chọn vì công việc họ đã làm, vì giai đoạn họ đã đạt tới trước chúng ta—tuy vậy, họ cũng là một phần của chúng ta, và bằng chứng của sự hợp nhất ấy là mỗi người đạt đến cấp độ đó đều giúp nhân loại tiến tới sự viên mãn cuối cùng của nó.

The members of that mighty brotherhood are one to a degree that it is impossible for us to understand. They become one mighty consciousness, “the Heavenly Man,” as it is sometimes called, and yet in becoming that they lose not the slightest part of their individuality. They lose no feeling of continuity, but with them the sense of individuality has increased to extend over the whole world, to include all those who, with them, are drawn into that divine consciousness.

Các thành viên của tình huynh đệ hùng mạnh ấy là một đến mức chúng ta không thể thấu hiểu được. Các Ngài trở thành một tâm thức hùng mạnh, “Đấng Thiên Nhân”, như đôi khi được gọi, nhưng trong khi trở thành như thế, Các Ngài không mất đi phần nhỏ nhất nào của cá tính mình. Các Ngài không mất cảm thức về sự liên tục, mà nơi Các Ngài, ý thức về cá tính đã tăng trưởng đến mức mở rộng trên toàn thế giới, bao gồm tất cả những ai, cùng với Các Ngài, được thu hút vào tâm thức thiêng liêng ấy.

Thus this clause is truly an extension of the idea of the brotherhood of man implied in the belief in the Holy Catholic Church; yet it also involves the closest association and even communication with the noblest of those who have gone before us. When a man once realizes this great truth, however keen may be his sympathy with the manifold sufferings of humanity, however much he may fail to understand much of what he sees in the world around him, the element of hopelessness, which before made it so terrible, is gone forever. For though he feels that many mysteries are as yet but partially explained, though questions may sometimes arise to which, at present, no answer can be given, he knows with the absolute certainty born of experience that the power, the wisdom, and the love which guide evolution are more than strong enough to carry it through to its glorious end.

Như vậy, mệnh đề này thật sự là sự mở rộng của ý tưởng về tình huynh đệ của con người được hàm ý trong niềm tin vào Giáo hội Công giáo thánh thiện; tuy vậy, nó cũng bao hàm sự liên kết gần gũi nhất và thậm chí sự giao tiếp với những bậc cao quý nhất trong số những người đã đi trước chúng ta. Một khi con người nhận ra chân lý vĩ đại này, dù sự cảm thông của y đối với những đau khổ muôn hình của nhân loại có sâu sắc đến đâu, dù y có thể không thấu hiểu nhiều điều y thấy trong thế giới quanh mình đến mức nào, yếu tố tuyệt vọng trước kia làm cho mọi sự trở nên khủng khiếp như thế đã biến mất mãi mãi. Vì dù y cảm thấy rằng nhiều huyền nhiệm cho đến nay chỉ mới được giải thích một phần, dù đôi khi có thể nảy sinh những câu hỏi mà hiện tại chưa thể có lời đáp, y biết với sự chắc chắn tuyệt đối sinh ra từ kinh nghiệm rằng quyền năng, minh triết và tình thương dẫn dắt cuộc tiến hoá thì quá đủ mạnh để đưa nó tới cùng đích vinh quang.

He knows that no human sympathy can ever be as great as that of those who stand behind humanity, for none love more than they who are sacrificing themselves for man. When once a man begins even dimly to understand these things, it brings a sense of absolute peace and security which can never be shaken or lost through any of the changes and chances of this mortal life.

Y biết rằng không một sự cảm thông nào của con người có thể lớn lao như sự cảm thông của Những Đấng đứng đằng sau nhân loại, vì không ai thương yêu nhiều hơn Những Đấng đang hi sinh chính mình cho con người. Một khi con người bắt đầu thấu hiểu dù chỉ lờ mờ những điều này, nó đem lại một cảm thức bình an và an toàn tuyệt đối, điều không bao giờ có thể bị lay chuyển hay mất đi qua bất kỳ biến đổi và thăng trầm nào của đời sống hữu tử này.

20 – 20

The Remission Of Sins – Sự Xá Miễn Tội Lỗi

“I Acknowledge One Baptism for the Remission of Sins” – “Tôi Thừa Nhận Một Phép Rửa Duy Nhất Để Xá Miễn Tội Lỗi”

This phrase did not form part of the original draft of the Council of Nicaea but was added by the Council of Constantinople in the year 381. The Greek words translated “the remission of sins” 63 may be more correctly translated “the putting away of sin,” so the whole clause as it now appears really means: “I acknowledge one baptism for the putting away of, or emancipation from, sins.” In the Apostles’ Creed it is rendered as “forgiveness” of sins, but there is no idea of forgiveness involved in the original Greek words. We can read that into them only if we approach the subject with that idea in mind. Sin can be put away by our becoming no longer enslaved by it, or it can be put away by the divine forgiveness, but there is no reason to import into the words an unexpected and unusual meaning when there is a plain straightforward one. This is simply a declaration that the candidate acknowledges the necessity of getting free from the dominion of all his sins before attempting to enter upon the path of spiritual progress. Its spirit would be far more accurately rendered by an expression of belief in the “demission” (the original meaning of the word) rather than the “remission” of sins. This clause was primarily intended to be a reminder of the principle which requires moral development as a prerequisite to any kind of inner advancement and as a warning against schools which teach occult knowledge of various sorts without exacting strict morality as a necessary qualification. The pupils of such schools run a very serious risk because certain powers are put into their hands, but there is no guarantee whatever that they will use them in the right way for the furtherance of evolution. Unless a man is sure to use his powers rightly, it is far better for him not to have them at all because he may easily do more harm than good.

Cụm từ này không phải là một phần của bản dự thảo nguyên thủy của Công đồng Nicaea, mà được Công đồng Constantinople thêm vào năm 381. Các từ Hy Lạp được dịch là “sự xá miễn tội lỗi” 63 có thể được dịch đúng hơn là “sự gạt bỏ tội lỗi”, vì vậy toàn bộ mệnh đề như hiện nay thực sự có nghĩa là: “Tôi thừa nhận một phép rửa duy nhất để gạt bỏ, hay giải thoát khỏi, tội lỗi.” Trong Tín điều Các Tông đồ, nó được diễn đạt là “sự tha thứ” tội lỗi, nhưng trong các từ Hy Lạp nguyên thủy không có ý niệm tha thứ nào. Chúng ta chỉ có thể đọc ý niệm ấy vào trong chúng nếu tiếp cận đề tài với ý tưởng ấy trong trí. Tội lỗi có thể được gạt bỏ bằng cách chúng ta không còn làm nô lệ cho nó nữa, hoặc nó có thể được gạt bỏ bằng sự tha thứ thiêng liêng; nhưng không có lý do gì để đưa vào các từ ấy một ý nghĩa bất ngờ và bất thường khi đã có một ý nghĩa rõ ràng, trực tiếp. Đây chỉ đơn giản là lời tuyên bố rằng ứng viên thừa nhận sự cần thiết phải thoát khỏi quyền thống trị của mọi tội lỗi của mình trước khi cố gắng bước vào con đường tiến bộ tinh thần. Tinh thần của nó sẽ được diễn đạt chính xác hơn nhiều bằng một lời bày tỏ niềm tin vào sự “rời bỏ” tội lỗi—theo nghĩa nguyên thủy của từ—hơn là sự “xá miễn” tội lỗi. Mệnh đề này trước hết nhằm nhắc nhở về nguyên lý đòi hỏi sự phát triển đạo đức như điều kiện tiên quyết cho bất kỳ loại tiến bộ bên trong nào, và như một lời cảnh báo chống lại các trường phái dạy tri thức huyền bí thuộc nhiều loại mà không đòi hỏi đạo đức nghiêm ngặt như một tư cách cần thiết. Các môn sinh của những trường phái như vậy gặp nguy cơ rất nghiêm trọng, bởi một số quyền năng được đặt vào tay họ, nhưng tuyệt nhiên không có gì bảo đảm rằng họ sẽ dùng chúng đúng cách để thúc đẩy tiến hoá. Trừ phi con người chắc chắn sẽ sử dụng các quyền năng của mình một cách đúng đắn, tốt hơn nhiều là y hoàn toàn không có chúng, bởi y rất dễ gây hại nhiều hơn làm lợi.

If a person is morally developed, if he has been taught that love of God and love of his neighbor must come first, he is not likely to go seriously wrong whatever faculty he may develop. Therefore, in the Christian scheme, moral purification has always been recognized as the first step.

Nếu một người phát triển về mặt đạo đức, nếu y đã được dạy rằng tình thương đối với Thượng đế và tình thương đối với người lân cận phải đứng trước hết, thì y không có khả năng lạc sai nghiêm trọng, bất kể y có thể phát triển năng lực nào. Vì vậy, trong hệ thống Kitô giáo, sự thanh luyện đạo đức luôn được thừa nhận là bước đầu tiên.

This clause of the creed had another and inner meaning referring to a higher stage in man’s development, and this is more clearly brought out in the Nicaean symbol: “I acknowledge one baptism for the remission of sins.” Substituting the idea of emancipation for that of forgiveness and remembering that baptism has always been the symbol of initiation, we have a conception which is far removed from the later development of dogma and is identical with the meaning attached to this clause in the original formula of the Christ: “I acknowledge one initiation for emancipation from the fetters of sin.” By this statement, the candidate proclaims his recognition that before him lies that great step, that he will devote himself as far as be can to that line of endeavor, to set before himself as his goal that first initiation given by the One Initiator through the Great White Brotherhood. For there is but one Initiator, the spiritual king of the world, and all initiations are given by His order and in His name only. Through that initiation a man gains the power to cast off entirely the three fetters of doubt, superstition, and the delusion of self which must be got rid of before he can take a higher step.

Mệnh đề này của tín điều còn có một ý nghĩa khác, bên trong hơn, liên quan đến một giai đoạn cao hơn trong sự phát triển của con người, và điều này được làm nổi bật rõ hơn trong biểu tượng Nicene: “Tôi thừa nhận một phép rửa duy nhất để xá miễn tội lỗi.” Khi thay ý niệm giải thoát cho ý niệm tha thứ, và nhớ rằng phép rửa luôn là biểu tượng của điểm đạo, chúng ta có một quan niệm rất xa với sự phát triển giáo điều về sau và đồng nhất với ý nghĩa được gắn cho mệnh đề này trong công thức nguyên thủy của Đức Christ: “Tôi thừa nhận một lần điểm đạo duy nhất để giải thoát khỏi xiềng xích của tội lỗi.” Bằng lời tuyên bố này, ứng viên công bố sự thừa nhận của mình rằng trước mắt y là bước tiến vĩ đại ấy, rằng y sẽ hiến mình hết mức có thể cho đường lối nỗ lực ấy, đặt trước mình như mục tiêu lần điểm đạo thứ nhất do Đấng Điểm Đạo Duy Nhất ban qua Thánh Đoàn. Vì chỉ có một Đấng Điểm Đạo, vị vua tinh thần của thế giới, và mọi cuộc điểm đạo đều được ban chỉ theo lệnh của Ngài và nhân danh Ngài. Qua cuộc điểm đạo ấy, con người đạt được quyền năng gạt bỏ hoàn toàn ba xiềng xích của hoài nghi, mê tín và ảo tưởng về bản ngã, những điều phải được loại bỏ trước khi y có thể bước lên một bước cao hơn.