Trích nội dung chương
187. Abstraction means removal from concretion. A thought, even if it is abstract, is still a concrete formulation (from the perspective of the Solar Logos). But an abstract idea is an impulsive energy which may lead to many types of abstract formulations of thought. 187. Sự trừu tượng hàm ý tách khỏi sự cụ thể hoá. Một tư tưởng, ngay cả khi mang tính trừu tượng, vẫn là một sự định hình cụ thể (từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế). Nhưng một ý tưởng trừu tượng là một năng lượng thúc đẩy có thể dẫn đến nhiều dạng định hình tư tưởng trừu tượng.
187. Abstraction means removal from concretion. A thought, even if it is abstract, is still a concrete formulation (from the perspective of the Solar Logos). But an abstract idea is an impulsive energy which may lead to many types of abstract formulations of thought.
187. Sự trừu tượng hàm ý tách khỏi sự cụ thể hoá. Một tư tưởng, ngay cả khi mang tính trừu tượng, vẫn là một sự định hình cụ thể (từ góc nhìn của Thái dương Thượng đế). Nhưng một ý tưởng trừu tượng là một năng lượng thúc đẩy có thể dẫn đến nhiều dạng định hình tư tưởng trừu tượng.
From your reaction to this Invocation, and your ability to use its phrases as "stepping-stones" to certain levels of abstract thought not hitherto attained, I shall be able to judge your readiness, as individuals, for certain specific preparatory work for the initiation which you (again as an individual disciple) should take.
Từ sự đáp ứng của các bạn đối với bài Khấn Nguyện này và khả năng dùng các câu trong đó làm “những bậc đá” để bước lên một số cấp độ tư duy trừu tượng mà trước đây chưa đạt tới, Tôi sẽ có thể đánh giá mức độ sẵn sàng của từng người trong các bạn đối với một số công việc chuẩn bị cụ thể cho cuộc điểm đạo mà các bạn (một lần nữa, với tư cách một đệ tử riêng biệt) nên trải qua.
188. It is fascinating to realize that from the disciples’ reaction to the Great Invocation and from their ability to use its phrases to achieve certain levels of hitherto unachieved abstract thought, DK could judge of their readiness for the particular initiation facing them individually.
188. Thật thú vị khi nhận ra rằng từ phản ứng của các đệ tử đối với Đại Khấn Nguyện và từ khả năng sử dụng các câu trong đó để đạt tới một số cấp độ tư tưởng trừu tượng chưa từng đạt được trước đây, Chân sư DK có thể đánh giá sự sẵn sàng của họ đối với cuộc điểm đạo cụ thể mà từng người đang đứng trước.
189. The implication is that the initiation process demands that the disciple penetrate increasingly into the abstract worlds. Ability to do so, it would seem, is one of the factors indicating readiness for initiation.
189. Điều này hàm ý rằng tiến trình điểm đạo đòi hỏi người đệ tử ngày càng thâm nhập sâu vào các thế giới trừu tượng. Dường như khả năng làm được điều đó là một trong những yếu tố biểu thị sự sẵn sàng cho điểm đạo.
190. DK is certainly offering them considerable incentive for penetration into the abstract meaning of the phrases of the Invocation.
190. Chân sư DK chắc chắn đang đem lại cho họ một động lực đáng kể để thâm nhập vào ý nghĩa trừu tượng của các câu trong bài Khấn Nguyện.
The final stanza of the "Invocation for Power and Light," as it is called in the Archives of the Masters, is apparently simple.
Khổ cuối của “Bài Khấn Nguyện về Quyền Năng và Ánh Sáng,” như tên gọi trong Văn Khố của các Chân sư, có vẻ đơn giản.
191. It is important for us to isolate the name of the Great Invocation as it is known in the Archives of the Masters—the “Invocation for Power and Light”.
191. Điều quan trọng đối với chúng ta là nêu riêng tên gọi của Đại Khấn Nguyện trong Văn Khố của các Chân sư—“Bài Khấn Nguyện về Quyền Năng và Ánh Sáng”.
192. We may note that “Love” is not mentioned, thought the Invocation itself stresses the energy of Love strongly.
192. Chúng ta có thể lưu ý rằng “Tình thương” không được nhắc đến, mặc dù chính bài Khấn Nguyện nhấn mạnh rất nhiều đến năng lượng của Tình thương.
193. From the name of the Invocation we may gather that it is, among other things, an Invocation to Shamballa.
193. Từ tên gọi của bài Khấn Nguyện, chúng ta có thể hiểu rằng, trong số những điều khác, đây là một bài Khấn Nguyện hướng đến Shamballa.
It has, in these Archives, an indicatory symbol beside it which indicates the era or period in human history during which it can and should be used.
Trong các Văn Khố ấy, bên cạnh khổ này có một biểu tượng chỉ dẫn cho biết kỷ nguyên hay thời kỳ trong lịch sử nhân loại mà khổ này có thể và nên được sử dụng.
194. All is well planned from the first. Hierarchy was founded on Earth some eighteen and a half million years ago. The period of the intended use of this Invocation was indicated even then.
194. Mọi việc đều được hoạch định chu đáo ngay từ đầu. Thánh đoàn được thành lập trên Trái Đất khoảng mười tám triệu rưỡi năm trước. Ngay từ khi ấy, thời kỳ dự kiến sử dụng bài Khấn Nguyện này đã được chỉ rõ.
195. We do not know, however, whether the exact years of its intended use were indicated. Humanity may have achieved the necessary requirement earlier than this present period, or perhaps, had things gone badly, even later. The time equation is somewhat within the hands of humanity.
195. Tuy nhiên, chúng ta không biết liệu những năm chính xác dự kiến sử dụng bài ấy có được chỉ rõ hay không. Nhân loại có thể đã đáp ứng yêu cầu cần thiết sớm hơn thời kỳ hiện tại, hoặc có lẽ, nếu mọi việc diễn biến xấu, thì thậm chí muộn hơn. Bài toán thời gian phần nào nằm trong tay nhân loại.
It is interesting to us to note that the evolution of humanity is in line with the indicated timing.
Chúng Tôi thấy thú vị khi nhận ra rằng sự tiến hoá của nhân loại phù hợp với thời điểm được chỉ định.
196. DK seems to be telling us, however, that humanity is more or less “on schedule”. This should provide us with a degree of encouragement.
196. Tuy nhiên, dường như Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng nhân loại ít nhiều đang “đúng tiến độ”. Điều này hẳn đem lại cho chúng ta phần nào sự khích lệ.
This Invocation will have a potent appeal to mankind.
Bài Khấn Nguyện này sẽ có sức thu hút mạnh mẽ đối với nhân loại.
197. It is up to us to continue to capitalize on this appeal. The Great Invocation is still our best ‘instrument’ for bringing facilitating those conditions which will lead more soundly and rapidly to the Reappearance of the Christ.
197. Chúng ta có trách nhiệm tiếp tục tận dụng sức thu hút này. Đại Khấn Nguyện vẫn là ‘công cụ’ tốt nhất của chúng ta để tạo thuận lợi cho những điều kiện sẽ dẫn đến sự Tái Lâm của Đức Christ một cách vững chắc và nhanh chóng hơn.
My considered advice is that in its presentation to a definitely Christian public (as for instance to the ecclesiastics of all denominations) the third verse in the stanza be changed and that its last line should read: "The Purpose which the Master knows and serves," or perhaps "which disciples know and serve."
Lời khuyên đã được Tôi cân nhắc kỹ là khi giới thiệu bài này với một công chúng xác định là tín đồ Cơ Đốc giáo (chẳng hạn hàng giáo phẩm của tất cả các giáo phái), nên thay đổi đoạn thứ ba trong khổ và đọc dòng cuối của đoạn ấy là: “Thiên Ý mà Chân sư biết và phụng sự,” hoặc có lẽ “mà các đệ tử biết và phụng sự.”
198. It is quite amazing to see DK’s flexibility on this matter. Though such a change might compromise the numerological purity which some numerologists claim to have found in the Invocation, DK is apparently acting the role of pragmatist in this regard. The deeper meaning of the Invocation is what is of importance as well as the extent of its distribution. This must be borne in mind by those who would adhere too rigidly to its original wording.
198. Thật kỳ diệu khi thấy sự linh hoạt của Chân sư DK trong vấn đề này. Mặc dù một thay đổi như vậy có thể làm giảm tính thuần khiết về số học mà một số nhà số học khẳng định đã tìm thấy trong bài Khấn Nguyện, nhưng rõ ràng Chân sư DK đang hành xử như một người coi trọng thực tiễn trong việc này. Ý nghĩa sâu xa hơn của bài Khấn Nguyện cũng như mức độ phổ biến của bài ấy mới là điều quan trọng. Những ai muốn bám quá cứng nhắc vào lời văn nguyên bản cần ghi nhớ điều này.
199. On the other hand, the beauty of the language in which the Great Invocation is presented and its rhythmic, mantric power are not to be lightly abrogated.
199. Mặt khác, không nên dễ dàng gạt bỏ vẻ đẹp trong ngôn ngữ trình bày Đại Khấn Nguyện và quyền năng mantram đầy nhịp điệu của bài ấy.
The word "disciple" is an inclusive word, in the hierarchical sense; it is, at the same time, one easily recognised by the orthodox but offers no limitation to the esotericist.
Theo ý nghĩa của Thánh đoàn, từ “đệ tử” là một từ bao gồm; đồng thời, đây là một từ mà những người chính thống dễ nhận biết nhưng không đặt ra giới hạn nào cho nhà bí truyền học.
200. We note that Master DK is capable of righteous compromise. He has told us that the fourth ray (mind) is of value in His work, and here he demonstrates the fourth ray in action.
200. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK có khả năng thoả hiệp một cách chính đáng. Ngài đã nói với chúng ta rằng cung bốn (thể trí) có giá trị trong công việc của Ngài, và ở đây Ngài cho thấy cung bốn đang hoạt động.
201. Master Morya has enjoined us all to “speak proportionately” according to the consciousness of our interlocutor. Those of an esoteric persuasion must not to allow themselves to fall into a separative elitism.
201. Chân sư Morya đã khuyên tất cả chúng ta hãy “nói cho phù hợp” với tâm thức của người đối thoại. Những người thiên về huyền bí học không được để mình rơi vào thái độ tự tôn tinh hoa mang tính chia rẽ.
It covers every grade of human aspirant from the newly accepted disciple up to and inclusive of the Christ Himself. Let me here quote the Invocation:
Từ này bao quát mọi cấp bậc của người chí nguyện trong nhân loại, từ người đệ tử vừa được chấp nhận cho đến và bao gồm cả chính Đức Christ. Ở đây, Tôi xin trích bài Khấn Nguyện:
202. The importance and amazingly broad applicability of the word “disciple” is here emphasized. We may ponder on the inclusive nature of this word and its utility in uniting all those who strive for a better and more spiritual way of life.
202. Ở đây, tầm quan trọng và phạm vi áp dụng rộng lớn đến kinh ngạc của từ “đệ tử” được nhấn mạnh. Chúng ta có thể suy ngẫm về bản chất bao gồm của từ này và tính hữu ích của nó trong việc hợp nhất tất cả những ai đang phấn đấu cho một lối sống tốt đẹp hơn và mang tính tinh thần hơn.
203. The words of the Great Invocation are again given below.
203. Những lời của Đại Khấn Nguyện một lần nữa được trình bày dưới đây.
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth.
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let Love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the Centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế
[Page 158]
[Page 158]
Let Purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The Purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the Centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out.
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
204. We are invited to a year of contemplation upon these words. Each must determine his or her own best understanding of these “amazing words”.
204. Chúng ta được mời dành một năm để chiêm ngưỡng những lời này. Mỗi người phải tự xác định sự thấu hiểu tốt nhất của mình về những “lời kỳ diệu” này.
Each of the four stanzas refers to one or other of the three aspects of divine energy,
Mỗi khổ trong bốn khổ đều đề cập đến một trong ba phương diện của năng lượng thiêng liêng,
205. We begin with Light, move through Love and, in verse three, focus on Power.
205. Chúng ta bắt đầu với Ánh sáng, đi qua Tình thương và, trong khổ thứ ba, tập trung vào Quyền năng.
plus a reference to humanity itself in which the three meet,
cộng thêm một khổ đề cập đến chính nhân loại, nơi cả ba gặp nhau,
206. The three always meet in and express through the four. This is a standard geometrical mode of expression. The figure concerned is the tetrahedron—either upright or inverted, as in this case.
206. Bộ ba luôn gặp nhau trong và biểu lộ qua bộ bốn. Đây là một phương thức biểu lộ hình học chuẩn mực. Hình thể liên quan là hình tứ diện—hoặc hướng lên, hoặc đảo ngược như trong trường hợp này.
are potentiality in latency, and finally develop into the full flower of divinity, with all three lines perfectly expressed.
tồn tại như tiềm năng ẩn tàng, và cuối cùng phát triển thành sự nở hoa trọn vẹn của thiên tính, với cả ba đường hướng đều biểu hiện hoàn hảo.
207. Within humanity, the three aspects of divinity are “potentiality in latency”, but they will, with the rising of humanity, “develop into the full flower of divinity”. This will surely be seen by the three fifths of humanity remaining on our planet by the time we reach the seventh round on our present globe.
207. Trong nhân loại, ba phương diện của thiên tính là “tiềm năng còn tiềm ẩn”, nhưng cùng với sự vươn lên của nhân loại, chúng sẽ “phát triển thành đoá hoa thiên tính nở rộ”. Điều này chắc chắn sẽ được ba phần năm nhân loại còn lại trên hành tinh chúng ta chứng kiến vào lúc chúng ta đạt tới cuộc tuần hoàn thứ bảy trên bầu hành tinh hiện tại.
Hence, my brothers, the intensity of the human conflict—a conflict unparalleled in any other differentiation of the divine Life.
Vì vậy, các huynh đệ của Tôi, xung đột của nhân loại mới mãnh liệt đến thế—một sự xung đột không có gì sánh được trong bất kỳ sự biến phân nào khác của Sự Sống thiêng liêng.
208. Humanity is the fourth kingdom of nature and, thus, prone to the dynamic of “Harmony through Conflict”. This is also an unusual period in the history of both humanity and the Earth (with a tremendous emphasis upon the number four—the fourth scheme, the fourth chain, the fourth round, etc.), intensifying the conflict normally found within the human race.
208. Nhân loại là giới thứ tư trong tự nhiên, và do đó dễ chịu tác động của động lực “Hài Hoà qua Xung Đột”. Đây cũng là một thời kỳ khác thường trong lịch sử của cả nhân loại lẫn Trái Đất (với sự nhấn mạnh hết sức lớn lao vào con số bốn—hệ hành tinh thứ tư, Dãy Thứ Tư, cuộc tuần hoàn thứ tư, v.v.), làm gia tăng cuộc xung đột vốn thường hiện diện trong nhân loại.
In humanity all lines and aspects meet. This is a fundamental of the occult teaching. The subhuman kingdoms find their consummation in humanity, and the superhuman kingdoms their opportunity, and through the human kingdom all superhuman lives have at some time passed. This you well know.
Trong nhân loại, mọi đường hướng và phương diện đều gặp nhau. Đây là một nguyên lý căn bản của giáo huấn huyền bí. Các giới dưới nhân loại tìm thấy sự viên mãn của mình trong nhân loại, còn các giới siêu nhân loại tìm thấy cơ hội của mình; và tất cả các sự sống siêu nhân loại đều đã từng đi qua giới nhân loại vào một thời điểm nào đó. Các bạn biết rõ điều này.
209. We can contrast the words “consummation” and “opportunity” in order to understand the relation of the lower and higher kingdoms to the middle or human kingdom.
209. Chúng ta có thể đối chiếu hai từ “viên mãn” và “cơ hội” để thấu hiểu mối quan hệ của các giới thấp hơn và cao hơn với giới ở giữa, tức giới nhân loại.
210. The Great Invocation emphasizes the importance of humanity in relation to the development of our planetary process. Humanity is, in many respects, a pivotal kingdom.
210. Đại Khấn Nguyện nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân loại đối với sự phát triển của tiến trình hành tinh chúng ta. Xét về nhiều phương diện, nhân loại là một giới giữ vai trò then chốt.
In the first three lines you have reference to the Mind of God as a focal point for the divine light. This refers to the soul of all things.
Trong ba dòng đầu tiên, các bạn thấy đề cập đến Trí của Thượng đế như một tiêu điểm của ánh sáng thiêng liêng. Điều này nói đến linh hồn của vạn vật.
211. The soul is light.
211. Linh hồn là ánh sáng.
212. If the Mind of God is a focal point for divine light, then that light has originated ‘above’ the level of the mind.
212. Nếu Trí của Thượng đế là một tiêu điểm cho ánh sáng thiêng liêng, thì ánh sáng ấy bắt nguồn từ ‘bên trên’ cấp độ của thể trí.
213. The soul as light reveals the light in all things.
213. Linh hồn, với tư cách ánh sáng, tiết lộ ánh sáng trong vạn vật.
214. We find the soul related to both the second and third aspects. The Third Fundamental of the Secret Doctrine speaks of the Soul—the “Unity of all Souls with the Over-Soul”. Yet the soul as consciousness is directly related to the second divine aspect.
214. Chúng ta thấy linh hồn liên hệ với cả phương diện thứ hai lẫn thứ ba. Nguyên lý Căn bản Thứ Ba của Giáo Lý Bí Nhiệm nói về Linh Hồn—“Sự Hợp Nhất của mọi Linh Hồn với Đại Hồn”. Tuy nhiên, linh hồn với tư cách tâm thức liên hệ trực tiếp với phương diện thiêng liêng thứ hai.
215. It may be of importance that there is a single point within the Mind of God.
215. Việc có một điểm duy nhất trong Trí của Thượng đế có thể mang ý nghĩa quan trọng.
216. The mind is the greatest instrument of the soul and by its means the soul transforms hidden light into light revealed.
216. Thể trí là công cụ lớn lao nhất của linh hồn, và nhờ nó, linh hồn chuyển đổi ánh sáng ẩn giấu thành ánh sáng hiển lộ.
The term "soul," with its major attribute of enlightenment, includes the anima mundi, the animal soul, the human soul, and that consummating point of light which we regard as the "overshadowing" soul of humanity.
Thuật ngữ “linh hồn,” với thuộc tính chủ yếu là sự giác ngộ, bao gồm linh hồn thế giới, linh hồn động vật, linh hồn con người và điểm ánh sáng viên mãn mà chúng ta xem là linh hồn “phủ bóng” nhân loại.
217. Souls (i.e., types of consciousnesses) are here considered as points. This is, perhaps, because a soul is everywhere present. Time and space do not really exist. The idea of the “point” suggests the collapsing of time and space.
217. Ở đây, các linh hồn (tức các loại tâm thức) được xem là những điểm. Có lẽ điều này là vì một linh hồn hiện diện khắp nơi. Thời gian và không gian không thực sự tồn tại. Ý tưởng về “điểm” gợi lên sự thu gọn thời gian và không gian.
218. The “overshadowing soul of humanity” is at once a point of perspective and a point of identification.
218. “Linh hồn phủ bóng nhân loại” đồng thời là một điểm nhìn và một điểm đồng hoá.
219. At a specific “point of tension”, the point which is the “overshadowing soul of humanity” can be entered; all perception can then originate from this ‘point’.
219. Tại một “điểm tập trung nhất tâm” cụ thể, có thể đi vào điểm vốn là “linh hồn phủ bóng nhân loại”; khi ấy, mọi tri giác đều có thể khởi nguồn từ ‘điểm’ này.
220. The “anima mundi” is the Soul of Nature. The animal soul is the consciousness of all that ‘moves’ in an animated manner.
220. “Linh hồn thế giới” là Linh Hồn của Tự Nhiên. Hồn động vật là tâm thức của tất cả những gì ‘chuyển động’ theo cách có sinh khí.
221. Every type of ‘soul’ is characterized by different types of ‘veils’. As far as we presently can see, all consciousness is veiled.
221. Mỗi loại ‘linh hồn’ đều có đặc trưng là những loại ‘màn che’ khác nhau. Trong giới hạn nhận thức hiện nay của chúng ta, mọi tâm thức đều bị che phủ.
It is an aspect of the divine manifestation to which that great Son of God refers when (as Shri Krishna) He remarks, "Having pervaded this entire universe with a fragment of Myself, I remain." That fragment is the soul of all things. That soul brings light and spreads enlightenment.
Đây là một phương diện của sự biểu hiện thiêng liêng mà người Con vĩ đại ấy của Thượng đế đề cập đến khi Ngài (với tư cách Shri Krishna) nói: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một phần của chính Ta, Ta vẫn tồn tại.” Phần ấy là linh hồn của vạn vật. Linh hồn ấy mang ánh sáng đến và lan tỏa sự giác ngộ.
222. From one perspective, the Spiritual Hierarchy has been called the “Soul of Humanity”.
222. Từ một góc nhìn, Thánh đoàn đã được gọi là “Linh Hồn của Nhân Loại”.
223. Was Shri Krishna speaking as the “soul of humanity” when He offered this powerful saying? Or was He speaking from a perspective from which the “soul of humanity” appeared merely as a fragment of a more universal soul?
223. Khi đưa ra lời nói đầy quyền năng này, Shri Krishna có đang nói với tư cách là “linh hồn của nhân loại” không? Hay Ngài đang nói từ một góc nhìn mà từ đó, “linh hồn của nhân loại” chỉ hiện ra như một mảnh của một linh hồn có tính phổ quát hơn?
224. Or is the “soul of all things” a fragment of that which may properly call ‘pure being’? Is soul an emanation of pure being?
224. Hay “linh hồn của vạn vật” là một mảnh của cái mà ta có thể gọi một cách thích đáng là ‘bản thể thuần khiết’? Linh hồn có phải là một phát xạ của bản thể thuần khiết không?
225. If so, the fragment is an ‘all-knowing fragment’—the Knower in All—i.e., “the soul of al things”.
225. Nếu vậy, mảnh ấy là một ‘mảnh toàn tri’—Thức Giả trong Vạn Vật—tức “linh hồn của vạn vật”.
In the second three lines, the Heart of God is evoked and the focal point of love is considered.
Trong ba dòng thứ hai, Tâm của Thượng đế được gợi lên và tiêu điểm của bác ái được suy xét.
226. We may judge that all the references to “points” are references to factors which are to be considered all-pervading ‘fragments’ emanating from the One Reality. The “point of Light” pervades all forms with lighted consciousness; the “point of Love” pervades all forms with love.
226. Chúng ta có thể nhận định rằng mọi chỗ đề cập đến các “điểm” đều nói đến những yếu tố cần được xem là các ‘mảnh’ thấm nhuần vạn vật, phát xạ từ Thực Tại Duy Nhất. “Điểm Ánh sáng” thấm nhuần mọi hình tướng bằng tâm thức được soi sáng; “điểm Tình thương” thấm nhuần mọi hình tướng bằng tình thương.
227. The “Point within the Triangle” is everywhere present and all ‘points’ are but aspects of this ‘One Ubiquitous Point’.
227. “Điểm bên trong Tam Giác” hiện diện khắp nơi và mọi ‘điểm’ chỉ là những phương diện của ‘Điểm Duy Nhất Hiện Diện Khắp Nơi’ này.
228. Such thoughts point to some of the deeper considerations of the Invocation.
228. Những tư tưởng như thế hướng đến một số điều đáng suy xét sâu xa hơn trong bài Khấn Nguyện.
This "heart" of the manifested world is the Hierarchy—that great transmitting agency of love to every form in the divine manifestation.
“Trái tim” này của thế giới biểu hiện chính là Thánh đoàn—tác nhân vĩ đại truyền đạt bác ái đến mọi hình tướng trong sự biểu hiện thiêng liêng.
229. Hierarchy is both “heart” and “soul”.
229. Thánh đoàn vừa là “trái tim” vừa là “linh hồn”.
230. We note Hierarchy’s transmitting function.
230. Chúng ta lưu ý chức năng truyền dẫn của Thánh đoàn.
231. Within every form is love, but that love remains for a long time unawakened. Hierarchy awakens love within the forms.
231. Bên trong mọi hình tướng đều có tình thương, nhưng tình thương ấy vẫn chưa thức tỉnh trong một thời gian dài. Thánh đoàn đánh thức tình thương bên trong các hình tướng.
Upon the essentially "loving nature" of the Hierarchy I need not dwell; too much has been written about it;
Tôi không cần bàn dài về “bản chất yêu thương” cốt yếu của Thánh đoàn; người ta đã viết quá nhiều về điều ấy mà thấu hiểu quá ít;
232. Too much writing may inhibit understanding, especially if the writing remains undigested and unapplied.
232. Viết quá nhiều có thể cản trở sự thấu hiểu, nhất là khi những điều viết ra vẫn chưa được lĩnh hội và áp dụng.
too little understood; too much has been talked about love and not enough has been realised as to the task confronting the Hierarchy [Page 159] as it transmits love.
người ta đã nói quá nhiều về bác ái nhưng lại nhận biết chưa đủ về nhiệm vụ mà Thánh đoàn đối diện [159] khi truyền đạt bác ái.
233. DK is speaking of the fact that theory concerning love remains unapplied in practice.
233. Chân sư DK đang nói đến sự thật rằng lý thuyết về tình thương vẫn chưa được áp dụng vào thực tiễn.
234. Those who are representatives of Hierarchy (i.e., disciples) must realize that which the Hierarchy faces as it attempts to transmit love to humanity. To many, the true nature of love remains a mystery. Love is a divine attribute “presented” by the Christ to humanity some two thousand years ago. For many, it remains an unrealized attribute—something theoretical, evading true understanding and hence true application.
234. Những người đại diện cho Thánh đoàn (tức các đệ tử) phải nhận biết điều mà Thánh đoàn đối diện khi nỗ lực truyền tình thương đến nhân loại. Đối với nhiều người, bản chất chân thật của tình thương vẫn là một điều bí ẩn. Tình thương là một thuộc tính thiêng liêng mà Đức Christ đã “giới thiệu” với nhân loại khoảng hai nghìn năm trước. Đối với nhiều người, đó vẫn là một thuộc tính chưa được chứng nghiệm—một điều mang tính lý thuyết, vượt ngoài sự thấu hiểu thực sự và do đó cả sự áp dụng thực sự.
Love is an energy which must reach the hearts of men and which must fecundate humanity with the duality of loving-understanding—that is what is expressed when love and intelligence are brought together.
Bác ái là một năng lượng phải đến được trái tim con người và phải làm cho nhân loại sinh sôi bằng nhị nguyên yêu thương–thấu hiểu—đó là điều biểu hiện khi bác ái và trí thông tuệ kết hợp với nhau.
235. Indeed, the world needs love. It is the hearts of humanity which must be reached by love.
235. Thật vậy, thế giới cần tình thương. Chính trái tim nhân loại là nơi tình thương phải đến được.
236. DK is calling for the union of the second and third aspects of divinity. If these aspects unite in the consciousness of humanity, the result will be “loving-understanding”.
236. Chân sư DK đang kêu gọi sự hợp nhất phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính. Nếu những phương diện này hợp nhất trong tâm thức nhân loại, kết quả sẽ là “yêu thương–thấu hiểu”.
237. We note that humanity does not presently need pure love uncombined with the aspect of intelligence. Since humanity represents the intelligence aspect of divinity, intelligence must necessarily be included in any demonstration of love—at least for the time being.
237. Chúng ta lưu ý rằng hiện nay nhân loại không cần tình thương thuần khiết không kết hợp với phương diện trí thông tuệ. Vì nhân loại đại diện cho phương diện trí thông tuệ của thiên tính, nên trí thông tuệ nhất thiết phải hiện diện trong mọi sự biểu lộ tình thương—ít nhất là trong giai đoạn hiện nay.
In the third three lines, we find reference to Shamballa—"the Centre where the Will of God is known"—the centre from whence the Hierarchy draws its life, as it draws its impulse towards service from humanity.
Trong ba dòng thứ ba, chúng ta thấy đề cập đến Shamballa—“Trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến”—trung tâm mà từ đó Thánh đoàn rút lấy sự sống, cũng như Thánh đoàn rút lấy xung lực phụng sự từ nhân loại.
238. We are told something of importance about Shamballa to relation to Hierarchy. Hierarchy draws its “life” from Shamballa, but its “impulse towards service from humanity”. As Hierarchy surveys humanity, it is inspired (through compassion) to serve.
238. Chúng ta được cho biết một điều quan trọng về Shamballa trong mối quan hệ với Thánh đoàn. Thánh đoàn tiếp nhận “sự sống” từ Shamballa, nhưng tiếp nhận “xung lực hướng đến phụng sự từ nhân loại”. Khi quan sát nhân loại, Thánh đoàn được khơi nguồn cảm hứng phụng sự (qua lòng từ bi).
239. From whence do we draw our impulse towards service? Presumably from those less fortunate than ourselves.
239. Từ đâu chúng ta tiếp nhận xung lực hướng đến phụng sự của mình? Có lẽ từ những người kém may mắn hơn chúng ta.
You well know that there is indication in these lines that humanity itself cannot as yet grasp the purpose of Sanat Kumara.
Các bạn biết rõ rằng những dòng này cho thấy chính nhân loại vẫn chưa thể nắm bắt mục đích của Sanat Kumara.
240. This indication comes in the line—“the Purpose which the Masters know as serve”. We are not told that it is a Purpose which humanity knows and serves.
240. Hàm ý này nằm trong câu—“Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự”. Chúng ta không được cho biết rằng đó là một Thiên Ý mà nhân loại biết và phụng sự.
241. In this instruction we have been prompted to penetrate into the thinking of Sanat Kumara (at least into that area of His thinking which admits of penetration). We have been prompted to become knowers of both the Plan and the Purpose.
241. Trong huấn thị này, chúng ta được thúc giục thâm nhập vào tư tưởng của Sanat Kumara (ít nhất là vào lĩnh vực tư tưởng của Ngài cho phép sự thâm nhập). Chúng ta được thúc giục trở thành những người biết cả Thiên Cơ lẫn Thiên Ý.
Only advanced Members of the Hierarchy and initiates of at least the third degree (the first degree of the Lodge on Sirius) have any idea as to the nature of the purpose which underlies the Plan. Ponder on that phrasing.
Chỉ những Thành Viên tiến bộ của Thánh đoàn và những điểm đạo đồ ít nhất ở cấp thứ ba (cấp thứ nhất của Thánh đoàn trên Sao Thiên Lang) mới có chút ý niệm về bản chất của mục đích nằm bên dưới Thiên Cơ. Hãy suy ngẫm về cách diễn đạt ấy.
242. Does DK mean what He appears to mean. In a number of other references we have been told that humanity’s fifth (planetary) degree is the first degree in relation to the Lodge on Sirius.
242. Chân sư DK có hàm ý đúng như điều dường như Ngài muốn nói không? Trong một số chỗ đề cập khác, chúng ta được cho biết rằng bậc thứ năm (hành tinh) của nhân loại là bậc thứ nhất trong tương quan với Thánh đoàn trên Sirius.
243. In this reference, could the third degree mean the fifth? Could “advanced Members of the Hierarchy” means Masters higher than the state of Master of the Wisdom?
243. Trong chỗ đề cập này, liệu bậc thứ ba có thể hàm ý bậc thứ năm không? Liệu “những Thành Viên tiến bộ của Thánh đoàn” có thể hàm ý các Chân sư cao hơn trạng thái Chân sư Minh Triết không?
244. For the time being, this reference will have to be held as enigmatical—at least when compared with the majority of the other references relating to initiatory status from the perspective of the Lodge on Sirius.
244. Hiện thời, chỗ đề cập này vẫn phải được xem là một điều bí ẩn—ít nhất khi so sánh với phần lớn những chỗ đề cập khác liên quan đến địa vị điểm đạo từ góc nhìn của Thánh đoàn trên Sirius.
245. One thing emerges with clarity—purpose underlies plan.
245. Một điều hiện ra rõ ràng—thiên ý nằm bên dưới thiên cơ.
246. The cognition of Divine Purpose involves a deep registration of the Divine Pattern as it includes our Planetary Logos, the other Planetary Logoi and our Solar Logos. This is clearly beyond the cognitive range of average humanity and even of average disciples. DK has provided us with many hints which can take us in the direction of this type of cognition but true registration of the Divine Purpose still fails us.
246. Việc nhận thức Thiên Ý đòi hỏi sự ghi nhận sâu sắc Mô Hình Thiêng Liêng, trong đó bao gồm Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, các Hành Tinh Thượng đế khác và Thái dương Thượng đế của chúng ta. Điều này rõ ràng vượt ngoài phạm vi nhận thức của nhân loại bình thường và ngay cả của các đệ tử bình thường. Chân sư DK đã cung cấp cho chúng ta nhiều gợi ý có thể đưa chúng ta theo hướng nhận thức này, nhưng chúng ta vẫn chưa thể thực sự ghi nhận Thiên Ý.
247. The Divine Plan is far more immediate though still inaccessible, in fullness to the disciples of the world.
247. Thiên Cơ gần gũi hơn nhiều, dù các đệ tử trên thế giới vẫn chưa thể tiếp cận trọn vẹn.
Having invoked the three aspects or potencies of Mind, Love, and Will, in the fourth three lines we have indication of the anchoring of all these powers in humanity itself, in "the centre which we call the race of men."
Sau khi khẩn cầu ba phương diện hay quyền lực của Trí Tuệ, Bác Ái và Ý Chí, trong ba dòng thứ tư, chúng ta thấy chỉ dẫn về việc neo giữ tất cả những quyền năng này trong chính nhân loại, trong “trung tâm mà chúng ta gọi là loài người.”
248. The number four is related to the principle of anchorage. This reveals to us that humanity is meant to be an ‘anchoring kingdom’.
248. Con số bốn liên quan đến nguyên khí neo giữ. Điều này cho chúng ta thấy nhân loại được định sẵn để trở thành một ‘giới neo giữ’.
249. Humanity is related to the fourth or buddhic plane whereon its Monads are focusses in regard to their expression on the cosmic physical plane.
249. Nhân loại liên quan đến cõi thứ tư, hay cõi Bồ đề, nơi các Chân Thần của nhân loại tập trung xét về sự biểu lộ của Các Ngài trên cõi hồng trần vũ trụ.
250. Interestingly, the buddhic plane is considered an ‘anchoring plane’ in relation to the three systemic planes superior to it—i.e., the three superior cosmic ethers in relation to which the buddhic plane is the lowest cosmic ether.
250. Điều thú vị là cõi Bồ đề được xem là một ‘cõi neo giữ’ trong tương quan với ba cõi cao hơn nó trong hệ mặt trời—tức ba cõi dĩ thái vũ trụ cao hơn, mà trong tương quan với chúng, cõi Bồ đề là cõi dĩ thái vũ trụ thấp nhất.
Here and here alone lies the promise of the future and its hope and opportunity.
Chính ở đây, và chỉ ở đây, có sự hứa hẹn của tương lai cùng niềm hy vọng và cơ hội của nó.
251. Humanity will express its great potential once a sufficient number of human beings can realize that humanity is intended to become the embodiment and expression of the three divine aspects.
251. Nhân loại sẽ biểu lộ tiềm năng vĩ đại của mình khi có đủ số người nhận ra rằng nhân loại được định sẵn để trở thành hiện thân và sự biểu lộ của ba phương diện thiêng liêng.
Here and here alone can all the divine qualities—in time and space—express themselves and find fulfilment:
Chính ở đây, và chỉ ở đây, mọi phẩm tính thiêng liêng mới có thể biểu hiện và đạt đến viên mãn trong thời gian và không gian:
252. DK inserts the important qualifier, “in time and space”. The divine qualities obviously find expression additionally on those planes which can (from the conventional perspective) be said to lie ‘outside time and space’.
252. Chân sư DK thêm vào điều kiện giới hạn quan trọng: “trong thời gian và không gian”. Hiển nhiên, các phẩm tính thiêng liêng còn biểu lộ trên những cõi mà (từ góc nhìn thông thường) có thể nói là nằm ‘ngoài thời gian và không gian’.
here and here alone can love be truly born,
chính ở đây, và chỉ ở đây, bác ái mới có thể thực sự ra đời,
253. Love is, and yet it must emerge within the field of lower form. This is what it means for love to be “born”.
253. Tình thương hiện hữu, nhưng tình thương vẫn phải xuất hiện trong lĩnh vực hình tướng thấp. Đó là ý nghĩa của việc tình thương “ra đời”.
intelligence correctly function,
trí thông tuệ mới hoạt động đúng đắn,
254. On all the lower planes.
254. Trên tất cả các cõi thấp.
and the Will of God demonstrate its effective goodwill.
và Ý Chí của Thượng Đế mới biểu lộ thiện chí hữu hiệu của mình.
255. We remember that the expression of goodwill involves the third aspect of divinity as well as the second. “Goodwill is Love in Action”. The third ray is the Ray of Intelligent Activity.
255. Chúng ta nhớ rằng sự biểu lộ thiện chí bao hàm cả phương diện thứ ba lẫn phương diện thứ hai của thiên tính. “Thiện chí là Tình Thương trong Hành Động”. Cung ba là Cung của Hoạt Động Thông Tuệ.
Through humanity, alone and unaided (except by the divine Spirit in every human being), can the "door where evil dwells be sealed."
Chỉ thông qua nhân loại, tự mình và không có sự trợ giúp (ngoại trừ Tinh Thần thiêng liêng trong mỗi con người), “cánh cửa vào nẻo ác” mới có thể “được đóng kín.”
256. The “door where evil dwells” must be sealed in relation to the eighteen lower sub-planes. This is where evil has been most effective (and most threatening) and where its sealing must occur.
256. “Cửa vào nẻo ác” phải được đóng kín trong tương quan với mười tám cõi phụ thấp. Đây là nơi cái ác đã phát huy tác dụng mạnh nhất (và đe dọa nhiều nhất), cũng là nơi phải đóng kín cửa đối với nó.
257. From a more immediate perspective, evil must be sealed from penetrating the etheric planes. It must be driven back to one of its major foci of concentration—the systemic astral plane.
257. Từ một góc nhìn trực tiếp hơn, phải ngăn chặn cái ác xâm nhập các cõi dĩ thái. Phải đẩy lùi nó về một trong những tiêu điểm tập trung chủ yếu của nó—cõi cảm dục của hệ mặt trời.
258. Eventually, it will be driven from the cosmic physical plane altogether, but this will be the task of very great Beings and can only be viewed as a distant eventuality.
258. Cuối cùng, nó sẽ bị đẩy hoàn toàn ra khỏi cõi hồng trần vũ trụ, nhưng đây sẽ là nhiệm vụ của những Sinh Mệnh vô cùng vĩ đại và chỉ có thể xem là một khả năng trong tương lai xa xôi.
It is not Sanat Kumara who seals that door; it is not the Hierarchy which forces evil back into the place from whence it comes.
Sanat Kumara không phải là Đấng đóng kín cánh cửa ấy; Thánh đoàn cũng không phải là đoàn thể buộc tà ác trở về nơi nó xuất phát.
259. We note that DK does not mention the “place from whence it comes”. This is for us to determine, though undue speculation is not warranted. Suffice it to say that the two types of astral planes—systemic and cosmic—have been designated (in other references) as the origin of evil—at least in relation to our planet and solar system.
259. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không nói rõ “nơi nó phát xuất”. Đó là điều chúng ta phải xác định, dù không có cơ sở để suy đoán quá mức. Chỉ cần nói rằng hai loại cõi cảm dục—thuộc hệ mặt trời và thuộc vũ trụ—đã được xác định (trong những chỗ đề cập khác) là nguồn gốc của cái ác—ít nhất trong tương quan với hành tinh và hệ mặt trời của chúng ta.
It is struggling, aspiring and suffering humanity to whom the task is committed and, my brother, humanity is adequate to the task.
Chính nhân loại đang đấu tranh, chí nguyện và đau khổ được giao phó nhiệm vụ này, và, huynh đệ của tôi, nhân loại đủ sức đảm đương nhiệm vụ ấy.
260. This is another amazing statement. The sealing of the door, references in fourth section of the Invocation, is the task of humanity, the fourth kingdom. Humanity has a great and high calling in this respect.
260. Đây lại là một phát biểu đáng kinh ngạc. Việc đóng kín cánh cửa, được đề cập trong phần thứ tư của bài Khấn Nguyện, là nhiệm vụ của nhân loại, giới thứ tư. Về phương diện này, nhân loại có một sứ mệnh vĩ đại và cao cả.
261. It is most encouraging, is it not, to note DK’s confidence in humanity’s adequacy to this apparently daunting task?
261. Chẳng phải thật đáng khích lệ khi nhận thấy niềm tin của Chân sư DK rằng nhân loại đủ sức thực hiện nhiệm vụ có vẻ đáng ngại này sao?
262. When humanity succeeds in this sealing, it will have tipped the scale towards a rapid spiritual development.
262. Khi nhân loại thành công trong việc đóng kín này, nhân loại sẽ làm cán cân nghiêng về phía sự phát triển tinh thần nhanh chóng.
This statement is borne ever in mind by Those most potent in using the Invocation; it serves to focus and anchor the invoked energies in the human kingdom. That is Their task. From that point, humanity takes over the undertaking.
Những Đấng có quyền năng mạnh mẽ nhất trong việc sử dụng bài Khấn Nguyện luôn ghi nhớ lời khẳng định này; nó giúp tập trung và neo giữ những năng lượng đã khẩn cầu vào giới nhân loại. Đó là nhiệm vụ của Các Ngài. Từ điểm ấy, nhân loại tiếp quản công việc.
263. Apparently the Lives within Hierarchy and Shamballa are ever aware of humanity’s destiny in this regard.
263. Dường như các Sự Sống trong Thánh đoàn và Shamballa luôn biết rõ vận mệnh của nhân loại về phương diện này.
264. Upon humanity are bestowed the three types of energies needed for the sealing. Once the energies (invoked by humanity and bestowed by Hierarchy and Shamballa) are bestowed and anchored, humanity must take over the task.
264. Nhân loại được ban cho ba loại năng lượng cần thiết để đóng kín cánh cửa. Một khi những năng lượng ấy (do nhân loại khẩn cầu và do Thánh đoàn cùng Shamballa ban xuống) đã được ban xuống và neo giữ, nhân loại phải tiếp nhận nhiệm vụ.
265. One of the first tasks related to this sealing is the recognition by humanity of what evil really is and how it manifests. It would seem that the Second World War was a great opportunity for humanity to achieve this recognition. Time has shown, however, that many have not learned the needed lesson.
265. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên liên quan đến việc đóng kín này là nhân loại phải nhận biết cái ác thực sự là gì và nó biểu hiện như thế nào. Dường như Chiến tranh Thế giới thứ hai là một cơ hội lớn để nhân loại đạt được sự nhận biết ấy. Tuy nhiên, thời gian đã cho thấy nhiều người chưa học được bài học cần thiết.
This Invocation is also unique in the sense that it invokes all the three divine aspects. It is synthetic in its approach. This is the first time in human history that this has been done. Hitherto the development of mankind did not warrant such an utterance.
Bài Khấn Nguyện này cũng độc đáo ở chỗ nó khẩn cầu cả ba phương diện thiêng liêng. Cách tiếp cận của nó mang tính tổng hợp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại điều này được thực hiện. Cho đến nay, sự phát triển của nhân loại chưa cho phép có một lời phát biểu như thế.
266. The implication is that other invocations utilized in the past have not been synthetic in nature and approach but may have related to one or other aspect of divinity.
266. Hàm ý là những lời khẩn cầu khác từng được sử dụng trong quá khứ không mang tính tổng hợp về bản chất và cách tiếp cận, mà có thể chỉ liên quan đến phương diện này hay phương diện khác của thiên tính.
267. We are being told that a triple invocation is unique and can only now be presented because of humanity’s achieved degree of evolution.
267. Chúng ta được cho biết rằng một lời khẩn cầu tam phân là điều độc đáo và chỉ đến nay mới có thể được đưa ra nhờ mức độ tiến hoá mà nhân loại đã đạt được.
268. Each of us must judge whether we are ready for a synthetic approach to our own development. Have we reached the point where we, individually, and in our group formations, can harmoniously unite the three divine aspects?
268. Mỗi người chúng ta phải tự xét xem mình đã sẵn sàng cho một cách tiếp cận tổng hợp đối với sự phát triển của chính mình hay chưa. Chúng ta đã đạt đến điểm mà, với tư cách cá nhân và trong các tập thể nhóm của mình, chúng ta có thể hợp nhất hài hòa ba phương diện thiêng liêng hay chưa?
[Page 160]
[Page 160]
In Lemurian times, the third divine aspect, that of Intelligence, was invoked by the mass appeal of instinctual animal-man;
Vào thời Lemuria, lời khẩn cầu tập thể của người thú sống theo bản năng đã khẩn cầu phương diện thiêng liêng thứ ba, phương diện Trí Thông Tuệ;
269. Instinct was, at that time, approximating mentality and the lowest aspect of divinity reached ‘upwards’ towards the Spirit aspect—albeit unconsciously.
269. Vào thời ấy, bản năng đang tiến gần đến trí tuệ và phương diện thấp nhất của thiên tính vươn ‘lên trên’ hướng đến phương diện Tinh Thần—dù một cách vô thức.
270. We note that the appeal was a “mass” appeal, undertaken inchoately by a certain group of animal men of the period. Not all animal men were individualized by the intervention of the Solar Angels.
270. Chúng ta lưu ý rằng lời kêu cầu ấy là một lời kêu cầu “tập thể”, do một nhóm người thú nhất định của thời kỳ ấy thực hiện theo cách còn sơ khai. Không phải tất cả người thú đều được biệt ngã hóa nhờ sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần.
he little knew what that almost inchoate appeal would invoke.
y hầu như không biết lời khẩn cầu gần như chưa thành hình ấy sẽ khẩn cầu điều gì.
271. This was so because He was not conscious of himself as a center. This consciousness of center is what was conferred upon him by the implantation of the spark of mind.
271. Sở dĩ như vậy là vì y chưa có ý thức về chính mình như một trung tâm.Tâm thức về trung tâm này là điều y được ban cho qua việc cấy tia lửa trí tuệ.
Light appeared on Earth and true progressive enlightenment became possible. I am not here referring to physical light, but to the light of the intellect.
Ánh sáng xuất hiện trên Trái Đất và sự giác ngộ thực sự, ngày càng tiến triển, đã trở nên khả hữu. Ở đây Tôi không nói đến ánh sáng hồng trần, mà nói đến ánh sáng của trí năng.
272. We are speaking here of the light conferred under the influence of the planet Venus through those aspects of our Earth-scheme which responded to Venus.
272. Ở đây, chúng ta đang nói về ánh sáng được ban dưới ảnh hưởng của hành tinh Sao Kim, thông qua những phương diện của hệ hành tinh Trái Đất chúng ta đã đáp ứng với Sao Kim.
273. Let us ponder on the difference between physical light and intellectual light.
273. Chúng ta hãy suy ngẫm về sự khác biệt giữa ánh sáng hồng trần và ánh sáng trí năng.
274. We might say that ‘God in lower form awoke to Itself as a center of consciousness’.
274. Chúng ta có thể nói rằng ‘Thượng đế trong hình tướng thấp đã thức tỉnh, nhận biết Chính Mình là một trung tâm tâm thức’.
In Atlantean days, as a result of the strife between the Lords of Light or of the Shining Countenance and the Lords of the Dark Face (as they are called in the ancient Scriptures and in The Secret Doctrine) another "era of invocation" occurred and the second divine aspect of Love became a possible unfoldment, though still only an embryonic quality of mankind.
Vào thời Atlantis, do cuộc xung đột giữa các Chúa Tể Ánh Sáng hay các Chúa Tể có Dung Nhan Rạng Ngời với các Chúa Tể có Dung Nhan Hắc Ám (như cách gọi trong các Thánh Điển cổ và trong Giáo Lý Bí Nhiệm), một “kỷ nguyên khẩn cầu” khác đã diễn ra, và phương diện thiêng liêng thứ hai là Bác ái đã có khả năng khai mở, dù vẫn chỉ là một phẩm tính phôi thai của nhân loại.
275. This is an important piece of information. Love was invoked by humanity (more consciously and intelligently than had been possible in Lemurian days) during Atlantean days.
275. Đây là một thông tin quan trọng. Vào thời Atlantis, nhân loại đã khẩn cầu tình thương (một cách có ý thức và thông tuệ hơn so với khả năng vào thời Lemuria).
276. The names of the opponents in the great battle are arresting in nature: “The Lords of the Shining Countenance” and the “Lords of the Dark Face”.
276. Danh xưng của hai bên đối địch trong trận chiến lớn rất đáng chú ý: “Các Chúa Tể có Dung Nhan Rạng Ngời” và “Các Chúa Tể có Khuôn Mặt Tăm Tối”.
277. In the recent Star Wars films, reference has been made to the “dark side of the Force”. We can see immediately, the parallel between the “Lords of the Dark Face” and the utilization of the “dark side of the Force”. The implication, of course, is that there is only ‘One Force’ which can be used with intent towards Good or evil.
277. Trong những bộ phim Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao gần đây, người ta đã đề cập đến “mặt tối của Mãnh Lực”. Chúng ta có thể thấy ngay sự tương đồng giữa “Các Chúa Tể có Khuôn Mặt Tăm Tối” và việc sử dụng “mặt tối của Mãnh Lực”. Dĩ nhiên, hàm ý là chỉ có ‘Một Mãnh Lực Duy Nhất’, có thể được sử dụng với ý định hướng đến điều Thiện hoặc điều ác.
278. Just as the light invoked during Lemurian days remained embryonic in relation to developing man, so did the love invoked in Atlantean days remain embryonic during the Atlantean period. Even today (in Aryan times) it is far from fully developed and expressed.
278. Cũng như ánh sáng được khẩn cầu vào thời Lemuria vẫn còn ở trạng thái phôi thai trong tương quan với con người đang phát triển, tình thương được khẩn cầu vào thời Atlantis cũng vẫn còn ở trạng thái phôi thai trong suốt thời kỳ Atlantis. Ngay cả ngày nay (trong thời Arya), tình thương vẫn còn xa mới phát triển và biểu lộ trọn vẹn.
The mass appeal was then more intelligently voiced, though the instinctual appeal still persisted. It was not intelligence, however, as we understand the term.
Khi ấy, lời khẩn cầu của quần chúng được cất lên một cách thông minh hơn, dù lời khẩn cầu theo bản năng vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, đó chưa phải là trí thông minh theo cách chúng ta thấu hiểu thuật ngữ này.
279. DK speaks of the development of intelligence from instinct. We are not to imagine that intelligence was fully developed in Atlantean times. An instinctual approach still persisted, but the humanity of that period knew somewhat more consciously what it was invoking.
279. Chân sư DK nói về sự phát triển của trí thông tuệ từ bản năng. Chúng ta không nên hình dung rằng trí thông tuệ đã phát triển trọn vẹn vào thời Atlantis. Cách tiếp cận theo bản năng vẫn còn tồn tại, nhưng nhân loại thời kỳ ấy đã biết rõ hơn đôi chút về điều mình đang khẩn cầu.
In our Aryan cycle, another great invocative cry is issuing forth. It is this time a threefold cry.
Trong chu kỳ Arya của chúng ta, một tiếng khẩn cầu lớn lao khác đang vang lên. Lần này, đó là một tiếng khẩn cầu tam phân.
280. We are not, therefore, speaking of an invocation only of the Will but of a triple invocation.
280. Vì vậy, chúng ta không nói đến một lời khẩn cầu chỉ hướng đến Ý Chí, mà đến một lời khẩn cầu tam phân.
It is the cry for light upon our way and for light to flow into the dark places of the Earth; it is also a cry for more love in the world as voiced by the men of goodwill and of humanitarian attitudes: it is, finally, the intuitive appeal of the aspirants and the disciples of the world for the full expression in time and space of the will-to-good—the Will of God.
Đó là tiếng khẩn cầu ánh sáng trên đường chúng ta đi và ánh sáng tuôn vào những nơi tối tăm của Trái Đất; đó cũng là tiếng khẩn cầu có thêm tình thương trong thế giới, do những người thiện chí và có tinh thần nhân đạo cất lên; cuối cùng, đó là lời khẩn cầu mang tính trực giác của những người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới, cầu cho Ý Chí-hướng Thiện—Ý Chí của Thượng Đế—biểu hiện trọn vẹn trong thời gian và không gian.
281. We are speaking of a triple invocation in these Aryan times when synthesis can be appreciated perhaps for the first time in human history—at least appreciated by a large number of human beings.
281. Chúng ta đang nói về một lời khẩn cầu tam phân trong thời Arya này, khi tính tổng hợp có thể được nhận thức, có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại—ít nhất là được một số đông người nhận thức.
282. We note that if the Will of God is to be invoked, it must be done intuitively. In this respect, we should remember that “intuitive instinct” is the method of approach of those who are candidates for the third degree—the Transfiguration.
282. Chúng ta lưu ý rằng nếu muốn khẩn cầu Ý Chí của Thượng Đế, thì phải thực hiện bằng trực giác. Về phương diện này, chúng ta nên nhớ rằng “bản năng trực giác” là phương pháp tiếp cận của những người là ứng viên cho bậc thứ ba—cuộc Biến hình.
Average instinctual humanity, the men and women of goodwill, and the disciples of the world are all concerned in this invocation, bringing in the attributes of instinct, intelligence and intuition.
Nhân loại bình thường sống theo bản năng, những người nam và nữ thiện chí, cùng các đệ tử trên thế giới đều tham gia vào lời khẩn cầu này, mang vào đó các thuộc tính bản năng, trí thông minh và trực giác.
283. We are in the midst of a triple invocation raised by three types of human beings. The instinctual appeal is still with us, but the call for more light is not only raised by those who are instinctually focussed, but also by intelligent men and women of goodwill.
283. Chúng ta đang ở giữa một lời khẩn cầu tam phân do ba loại người cất lên. Lời kêu cầu theo bản năng vẫn còn hiện diện giữa chúng ta, nhưng tiếng gọi cầu thêm ánh sáng không chỉ do những người tập trung vào bản năng cất lên, mà còn do những người nam và nữ thông tuệ, có thiện chí cất lên.
284. Spiritual intelligence and mental illumination are required of those who are approaching the second degree. It is here that the main appeal to the energies of love is made.
284. Những người đang tiến đến bậc thứ hai cần có trí thông tuệ tinh thần và sự soi sáng trí tuệ. Chính ở đây, lời kêu cầu chủ yếu hướng đến các năng lượng tình thương được cất lên.
285. Those who are to invoke the Will of God are somewhat more advanced, necessarily. There are rather few who can get a glimmer of the true meaning of divine will. They intuit its nature and can thus make an appeal.
285. Những người sẽ khẩn cầu Ý Chí của Thượng Đế tất nhiên phải tiến bộ hơn đôi chút. Khá ít người có thể thoáng nhận ra ý nghĩa chân thật của ý chí thiêng liêng. Họ trực nhận bản chất của ý chí ấy và nhờ đó có thể cất lời kêu cầu.
All three are blended in this great Invocation. Have also constantly in mind this basic fusion, now finding voiced expression, and take courage from the massed approach to the Source of all Life, Love and Light. Nothing can withstand the united demand of men everywhere in their graded and their serried ranks.
Cả ba hòa quyện trong bài Khấn Nguyện vĩ đại này. Cũng hãy luôn ghi nhớ sự dung hợp căn bản ấy, hiện đang được cất thành lời, và hãy vững lòng trước sự đồng loạt tiếp cận Cội Nguồn của mọi Sự Sống, Tình Thương và Ánh Sáng. Không gì có thể chống lại lời thỉnh cầu hợp nhất của con người ở khắp nơi, trong những hàng ngũ có phân cấp và sát cánh bên nhau.
286. The disciples of the world are to realize that they do not stand alone. All of humanity is in process of making appeal—not only appeal but demand.
286. Các đệ tử trên thế giới phải nhận ra rằng họ không đơn độc. Toàn thể nhân loại đang trong tiến trình cất lời kêu cầu—không chỉ kêu cầu mà còn yêu cầu.
287. Humanity like the members of the deva kingdom are to stand in their “graded and their serried ranks”, and from that stance send their demand outwards and upwards.
287. Nhân loại, cũng như các thành viên của giới thiên thần, phải đứng trong những “hàng ngũ có phân cấp và chặt chẽ” của mình, và từ vị thế ấy gửi lời yêu cầu ra ngoài và lên trên.
288. All human beings are calling for the stimulation (and the relief) which only the three higher energies (representative of the three aspects of divinity) can bring. Disciples must resist any tendency to think separatively. The Great Appeal now rising involves the entire human race.
288. Tất cả mọi người đều đang kêu cầu sự kích thích (và sự giải tỏa) mà chỉ ba năng lượng cao hơn (đại diện cho ba phương diện của thiên tính) mới có thể mang lại. Các đệ tử phải chống lại mọi khuynh hướng suy nghĩ chia rẽ. Lời Kêu Cầu Vĩ Đại đang dâng lên hiện nay bao gồm toàn thể nhân loại.
This entire Invocation refers esoterically to the "raincloud of knowable things" to which Patanjali refers. It is that impending, overshadowing and revelatory storehouse of energy which is the immediate cause of all events on Earth and which indicates the emergence of that which is new and better and progressively right.
Theo ý nghĩa huyền bí, toàn bộ bài Khấn Nguyện này đề cập đến “đám mây mưa của những điều khả tri” mà Patanjali nói tới. Đó là kho năng lượng sắp giáng xuống, đang phủ bóng và mang lại sự mặc khải, vốn là nguyên nhân trực tiếp của mọi biến cố trên Trái Đất và báo hiệu sự xuất hiện của những gì mới mẻ, tốt đẹp hơn và ngày càng đúng đắn.
289. We come to realize that ideas are more than mental constructs. They are living energies endowed with light, love and power.
289. Chúng ta dần nhận ra rằng các ý tưởng không chỉ là những cấu trúc trí tuệ. Chúng là những năng lượng sống động mang ánh sáng, tình thương và quyền năng.
290. In a way this “raincloud” is a storehouse of ‘energetic impulsion’ driving forward the evolution of humanity and the planet.
290. Theo một nghĩa nào đó, “đám mây mưa” này là kho chứa ‘xung lực năng lượng’ thúc đẩy sự tiến hoá của nhân loại và hành tinh.
291. We can see how much the ‘planet of lightning’, Uranus, is involved in the precipitation of the “raincloud”. Uranus is the ruler of all “that which is new and better and progressively right”.
291. Chúng ta có thể thấy ‘hành tinh của tia chớp’, Sao Thiên Vương, tham gia sâu đến mức nào vào sự ngưng tụ của “đám mây mưa”. Sao Thiên Vương là chủ tinh của tất cả “những gì mới mẻ, tốt đẹp hơn và ngày càng đúng đắn”.
292. We gather that help is definitely on its way. Salvation is ready and available. Ours is the task to receive and express the Saving Force which comes from this "raincloud of knowable things".
292. Chúng ta hiểu rằng sự trợ giúp chắc chắn đang đến. Sự cứu rỗi đã sẵn sàng và sẵn có. Nhiệm vụ của chúng ta là tiếp nhận và biểu lộ Mãnh Lực Cứu Rỗi đến từ “đám mây mưa của những điều khả tri” này.
The events and happenings thus precipitated demonstrate the moving onward into [Page 161] greater light of the human consciousness.
Những biến cố và sự việc ngưng tụ theo cách ấy cho thấy tâm thức nhân loại đang tiến vào [161] ánh sáng lớn lao hơn.
293. From the “raincloud” events and happenings precipitate. The ideas there found are impulsive energies impacting not only the mental plane but the two lower planes as well.
293. Từ “đám mây mưa”, các biến cố và sự việc ngưng tụ. Những ý tưởng nơi đó là các năng lượng thúc đẩy, tác động không chỉ lên cõi trí mà còn lên cả hai cõi thấp hơn.
294. Precipitations from this "raincloud" bring about a “new heaven and new earth”. Thus the relation to Uranus (the “Heavenly One”) is again evident.
294. Những sự ngưng tụ từ “đám mây mưa” này tạo nên một “trời mới và đất mới”. Như vậy, mối liên hệ với Sao Thiên Vương (“Đấng thuộc Cõi Trời”) lại trở nên rõ ràng.
These "knowable things" are the sources of all revelation and of all human realisations—cultural and leading to what we call civilisation.
Những “điều khả tri” này là nguồn của mọi sự mặc khải và mọi nhận thức của con người—mang tính văn hóa và dẫn đến điều chúng ta gọi là văn minh.
295. The revelation which comes is a revelation of that which has always been. There is “nothing new under the sun”, but to the present consciousness of man, there is much that is apparently new.
295. Sự mặc khải đang đến là sự mặc khải về điều vốn luôn hiện hữu. “Không có gì mới dưới ánh mặt trời”, nhưng đối với tâm thức hiện tại của con người, có nhiều điều dường như mới mẻ.
296. We gather the hint that civilizations grow out of that which we call “culture”. Culture is the essence of civilization.
296. Chúng ta nhận được gợi ý rằng các nền văn minh phát triển từ điều chúng ta gọi là “văn hoá”. Văn hoá là tinh tuý của văn minh.
Their "condensation" [the condensation of the “knowable things”] (if I may use such a word) is brought about by the massed invocative appeal of the entire human family at any one period.
Sự “cô đọng” của chúng [sự cô đọng của những “điều khả tri”] (nếu Tôi có thể dùng một từ như vậy) diễn ra nhờ lời khẩn cầu tập thể của toàn thể gia đình nhân loại vào bất kỳ thời kỳ nào.
297. We are given the relation between “condensation” (or, precipitation) and “massed invocative appeal”. If we would see condensation occur, we must invoke—the more consciously the better.
297. Chúng ta được chỉ cho thấy mối liên hệ giữa “sự cô đọng” (hay sự ngưng tụ) và “lời thỉnh cầu khẩn nguyện hợp nhất”. Nếu muốn thấy sự cô đọng diễn ra, chúng ta phải khẩn cầu—càng có ý thức càng tốt.
298. Again, we note that the necessary invocation is not the sole task of the disciples and spiritual aspirants of the world, though they must certainly set an example in this regard.
298. Một lần nữa, chúng ta lưu ý rằng sự khẩn cầu cần thiết không phải là nhiệm vụ riêng của các đệ tử và những người chí nguyện tinh thần trên thế giới, mặc dù họ chắc chắn phải nêu gương về phương diện này.
This appeal has been, on the whole, projected unconsciously, but more and more it will be consciously voiced.
Nhìn chung, lời khẩn cầu này đã được phóng chiếu một cách vô thức, nhưng nó sẽ ngày càng được cất lên một cách có ý thức.
299. For this reason, the power of the invocation will be increased. The factor of conscious intelligence will be added to inchoate appeal. The rendering vocal of appeal strengthens the invocation mightily.
299. Vì lý do này, quyền năng của sự khẩn cầu sẽ gia tăng. Yếu tố trí thông minh có ý thức sẽ được bổ sung vào lời thỉnh cầu còn phôi thai. Việc cất lời thỉnh cầu thành tiếng làm cho sự khẩn cầu mạnh lên rất nhiều.
Results, therefore, can be expected more rapidly and prove more effective. This raincloud is formed through the joint action of the Central Spiritual Sun, working through Shamballa, and humanity itself, working hitherto through appeal to the Hierarchy, but increasingly making its own direct appeal.
Do đó, có thể mong đợi kết quả đến nhanh hơn và hữu hiệu hơn. Đám mây mưa này hình thành qua hoạt động phối hợp của Mặt trời Tinh thần Trung Ương, tác động qua Shamballa, và chính nhân loại, vốn cho đến nay vẫn hoạt động bằng cách khẩn cầu Thánh đoàn, nhưng đang ngày càng tự mình khẩn cầu trực tiếp.
300. We have another amazing statement giving the origin of the "raincloud of knowable things".
300. Chúng ta có thêm một phát biểu đáng kinh ngạc về nguồn gốc của “đám mây mưa của những điều khả tri”.
301. Analogously, we might wonder at the role of played the sun and its heat in the process of cloud formation.
301. Theo phép tương đồng, chúng ta có thể suy ngẫm về vai trò của mặt trời và sức nóng của nó trong tiến trình hình thành mây.
302. Let us tabulate the descent:
302. Chúng ta hãy liệt kê trình tự giáng xuống:
1. From the Central Spiritual Sun
1. Từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương
2. Working through Shamballa
2. Hoạt động qua Shamballa
3. Both working through humanity
3. Cả hai cùng hoạt động qua nhân loại
303. We note that humanity once had to appeal to Hierarchy in order to access this "raincloud", but increasingly may access the "raincloud" (and to a degree, Shamballa) directly.
303. Chúng ta lưu ý rằng nhân loại từng phải thỉnh cầu Thánh đoàn để tiếp cận “đám mây mưa” này, nhưng ngày càng có thể trực tiếp tiếp cận “đám mây mưa” (và ở một mức độ nào đó, Shamballa).
304. Humanity, of course, cannot access the Central Spiritual Sun which, effectively, is the Monad of the Solar Logos.
304. Dĩ nhiên, nhân loại không thể tiếp cận Mặt trời Tinh thần Trung Ương, vốn thực chất là Chân thần của Thái dương Thượng đế.
305. We can see the archetypal nature of the "raincloud of knowable things". Effectively, it is the Divine Purpose waiting to precipitate as the Divine Plan.
305. Chúng ta có thể thấy bản chất nguyên mẫu của “đám mây mưa của những điều khả tri”. Thực chất, đó là Thiên Ý đang chờ ngưng tụ thành Thiên Cơ.
306. The self-reliance of which DK spoke earlier in this instruction, relates to the potential for “direct appeal” within humanity.
306. Tinh thần tự lực mà Chân sư DK đã nói đến ở phần trước của huấn thị này có liên quan đến tiềm năng “thỉnh cầu trực tiếp” trong nhân loại.
There is necessarily a subtle indirect appeal going forth continuously from the three subhuman kingdoms in nature, but that appeal focusses itself in the human kingdom, for that kingdom is the receiving and the transmitting agent for these kingdoms, just as the Hierarchy has been and is the receiving and the transmitting agent for every human appeal.
Tất yếu có một lời khẩn cầu gián tiếp, tinh tế liên tục phát ra từ ba giới dưới nhân loại trong tự nhiên, nhưng lời khẩn cầu ấy tập trung trong giới nhân loại, vì giới này là tác nhân tiếp nhận và truyền đạt cho các giới ấy, cũng như Thánh đoàn đã và đang là tác nhân tiếp nhận và truyền đạt mọi lời khẩn cầu của nhân loại.
307. The analogy is clear: humanity receives and transmits the subtle, unconscious appeal of the three lower kingdoms just as Hierarchy receives and transmits the appeal from humanity.
307. Sự tương đồng rất rõ ràng: nhân loại tiếp nhận và truyền đạt lời thỉnh cầu tinh tế, vô thức của ba giới thấp, cũng như Thánh đoàn tiếp nhận và truyền đạt lời thỉnh cầu từ nhân loại.
308. In what direction does this transmission occur? It appears to occur ‘upwards’.
308. Sự truyền đạt này diễn ra theo hướng nào? Dường như nó diễn ra theo hướng ‘lên trên’.
309. The Christ transmits human appeal to Shamballa, especially at the Festival of Goodwill. Humanity, it would seem, transmits the appeal of the three lower kingdoms to Hierarchy.
309. Đức Christ truyền đạt lời thỉnh cầu của nhân loại đến Shamballa, đặc biệt vào Lễ hội Thiện Chí. Dường như nhân loại truyền đạt lời thỉnh cầu của ba giới thấp đến Thánh đoàn.