Trích nội dung chương
259. The relentless processes of ‘time-in-Universe’ however bring the state of Unity to a close. Once the processes of Unity have run their course and Universal Harmony is perfected, there is no need for it to be sustained. The Universal Process marches to the drum of time and returns to Pure Being (universally considered) which is the Initiator and Source of all things intra-Universal. Pure Being later returns to its SOURCE—PURE BE-NESS. 259. Tuy nhiên, các tiến trình không ngừng nghỉ của ‘thời gian trong Vũ Trụ’ đưa trạng thái Hợp Nhất đến hồi kết. Một khi các tiến trình Hợp Nhất đã hoàn tất chu trình của chúng và sự Hài Hòa Vũ Trụ đã…
259. The relentless processes of ‘time-in-Universe’ however bring the state of Unity to a close. Once the processes of Unity have run their course and Universal Harmony is perfected, there is no need for it to be sustained. The Universal Process marches to the drum of time and returns to Pure Being (universally considered) which is the Initiator and Source of all things intra-Universal. Pure Being later returns to its SOURCE—PURE BE-NESS.
259. Tuy nhiên, các tiến trình không ngừng nghỉ của ‘thời gian trong Vũ Trụ’ đưa trạng thái Hợp Nhất đến hồi kết. Một khi các tiến trình Hợp Nhất đã hoàn tất chu trình của chúng và sự Hài Hòa Vũ Trụ đã hoàn thiện, thì không còn cần duy trì trạng thái ấy nữa. Tiến Trình Vũ Trụ tiến bước theo nhịp trống thời gian và trở về Bản Thể Thuần Khiết (xét trong phạm vi vũ trụ), vốn là Đấng Điểm đạo và Cội Nguồn của mọi sự bên trong Vũ Trụ. Sau đó, Bản Thể Thuần Khiết trở về CỘI NGUỒN của nó—BẢN THỂ TÍNH THUẦN KHIẾT.
4. Space IS. Time and space reverberate and veil the One who stands behind. Pure Being IS—unknown and unafraid, untouched, for aye unchanged.
4. Không gian HIỆN HỮU. Thời gian và không gian vang vọng, che khuất Đấng Duy Nhất đứng phía sau. Bản Thể Thuần khiết HIỆN HỮU—không ai biết đến và không sợ hãi, không gì chạm tới, mãi mãi bất biến.
260. If “Space IS”, we are again speaking intra-Universally. In the world of the ABSOLUTE, there is no space, but in-Universe, “Space” as God’ Self-Perception exists. This “God”, again, is the Universal Logos (the Lord of the Universe, the very Being of the Existent All)—but not the totality of the ABSOLUTE SELF.
260. Nếu “Không gian HIỆN HỮU”, thì một lần nữa chúng ta đang nói trong phạm vi nội tại Vũ Trụ. Trong thế giới của CÁI TUYỆT ĐỐI, không có không gian, nhưng bên trong Vũ Trụ, “Không gian” tồn tại như sự Tự Tri Giác của Thượng đế. Một lần nữa, “Thượng đế” này là Thượng đế Vũ Trụ (Chúa Tể của Vũ Trụ, chính Bản Thể của Toàn Thể Hiện Tồn)—nhưng không phải là toàn thể BẢN NGÃ TUYỆT ĐỐI.
261. The perception of time and space arise and veil the One Perceiver Who stands ‘behind’ and ‘within’ time and space.
261. Nhận thức về thời gian và không gian phát sinh và che khuất Đấng Tri Giác Duy Nhất, Đấng đứng ‘phía sau’ và ‘bên trong’ thời gian và không gian.
262. The “One who stands behind” can be conceived as the Universal Logos. He is the One Who can be veiled by time and space. ABSOLUTE BE-NESS is veiled by the very fact that there arises a Universe.
262. Có thể quan niệm “Đấng Duy Nhất đứng phía sau” là Thượng đế Vũ Trụ. Ngài là Đấng Duy Nhất mà thời gian và không gian có thể che khuất. Chính sự phát sinh của một Vũ Trụ che khuất BẢN THỂ TÍNH TUYỆT ĐỐI.
263. In a way, the “One who stands behind” is an extension of “Pure Being” as that term is used in these phrases.. The “Pure Being” which “IS” and is “for aye unchanged”, must be, in fact, PURE BEING—the ABSOLUTE GOD, the ABSOLUTE DEITY, the ONE AND ONLY.
263. Theo một nghĩa nào đó, “Đấng Duy Nhất đứng phía sau” là một sự mở rộng của “Bản Thể Thuần Khiết”, theo cách dùng thuật ngữ ấy trong những câu này. Thực ra, “Bản Thể Thuần Khiết” vốn “HIỆN HỮU” và “muôn đời bất biến” phải là BẢN THỂ THUẦN KHIẾT—THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI, THIÊN TÍNH TUYỆT ĐỐI, ĐẤNG DUY NHẤT VÀ ĐỘC NHẤT.
264. We must not confuse “God” with GOD and Universal Pure Being with ABSOLUTE PURE BEING. In these phrases, this distinction is not emphasized and so we must proceed with philosophical caution.
264. Chúng ta không được nhầm lẫn “Thượng đế” với THƯỢNG ĐẾ, và Bản Thể Thuần Khiết Vũ Trụ với BẢN THỂ THUẦN KHIẾT TUYỆT ĐỐI. Những câu này không nhấn mạnh sự phân biệt ấy, vì vậy chúng ta phải tiếp cận một cách thận trọng về mặt triết học.
265. From an intra-Universal perspective, “Pure Being” (really PURE BEING) will forever remain unknown and untouchable. By ITS very nature IT is unchangeable.
265. Từ góc nhìn bên trong Vũ Trụ, “Bản Thể Thuần Khiết” (thực ra là BẢN THỂ THUẦN KHIẾT) sẽ mãi mãi không được biết đến và không thể chạm tới. Do chính bản chất của NÓ, NÓ là bất biến.
266. The term “unafraid” is an anthropomorphism suggesting that there is naught else but “Pure Being” (really PURE BEING) and so there is naught else than ITSELF for IT to ‘fear’.
266. Thuật ngữ “không sợ hãi” là một cách nhân hóa, gợi ý rằng không có gì khác ngoài “Bản Thể Thuần Khiết” (thực ra là BẢN THỂ THUẦN KHIẾT), và vì vậy không có gì khác ngoài CHÍNH NÓ để NÓ ‘sợ hãi’.
267. The impression is of the ABSOLUTE ETERNALITY of “Pure Being” (really, more philosophically, PURE BEING). “Pure Being” (without total capitalization) could not remain “unafraid…for aye”, because there is infinitely more that “Pure Being”. That ‘infinitely more’ is PURE BEING.
267. Ấn tượng ở đây là về TÍNH VĨNH CỬU TUYỆT ĐỐI của “Bản Thể Thuần Khiết” (thực ra, xét chính xác hơn về mặt triết học, là BẢN THỂ THUẦN KHIẾT). “Bản Thể Thuần Khiết” (không viết hoa toàn bộ) không thể mãi “không sợ hãi…muôn đời”, bởi còn có cái vô cùng lớn lao hơn “Bản Thể Thuần Khiết”. Cái ‘vô cùng lớn lao hơn’ ấy là BẢN THỂ THUẦN KHIẾT.
268. The sentence under consideration may imply that the “One who stands behind” and “Pure Being” are one and the same, but a keen discrimination in this regard will reveal the One as intra-universal and “Pure Being” (really PURE BEING) as, in a sense, ‘extra-universal’ (though not really so).
268. Câu đang được xem xét có thể hàm ý rằng “Đấng Duy Nhất đứng phía sau” và “Bản Thể Thuần Khiết” là một và đồng nhất, nhưng sự phân biện sắc bén về điều này sẽ cho thấy Đấng Duy Nhất thuộc phạm vi bên trong Vũ Trụ, còn “Bản Thể Thuần Khiết” (thực ra là BẢN THỂ THUẦN KHIẾT), theo một nghĩa nào đó, là ‘bên ngoài Vũ Trụ’ (dù không thực sự như vậy).
269. One of the key problems is to distinguish between the Pure Being of the Universal Logos (the One Being of cosmos) and the PURE BEING of the ABSOLUTE SELF—the ONE IMMUTABLE SELF.
269. Một trong những vấn đề then chốt là phân biệt giữa Bản Thể Thuần Khiết của Thượng đế Vũ Trụ (Đấng Duy Nhất của vũ trụ) và BẢN THỂ THUẦN KHIẾT của BẢN NGÃ TUYỆT ĐỐI—BẢN NGÃ DUY NHẤT BẤT BIẾN.
5. God IS. Time, space, the middle One (with form and process) go, and yet for aye remain. Pure reason then suffices.
5. Thượng đế HIỆN HỮU. Thời gian, không gian, Đấng ở giữa—cùng hình tướng và tiến trình—qua đi, nhưng vẫn mãi mãi tồn tại. Khi ấy, lý trí thuần khiết là đủ.
270. We are returning to the first assertion, thus relating the first assertion with the fifth. Deep student of the Wisdom know the relation between the two.
270. Chúng ta đang trở lại lời khẳng định thứ nhất, qua đó liên kết lời khẳng định thứ nhất với lời khẳng định thứ năm. Những đạo sinh nghiên cứu Minh Triết sâu sắc biết mối quan hệ giữa hai lời khẳng định ấy.
271. If we remember the first Stanza of Dzyan from A Treatise on Cosmic Fire we shall see a close relationship to this fifth sentence.
271. Nếu nhớ lại Bài Kệ Dzyan thứ nhất trong Luận về Lửa Vũ Trụ, chúng ta sẽ thấy mối quan hệ mật thiết với câu thứ năm này.
When that lower point vibrates, when the Sacred Triangle glows, when the point, the middle centre, and the apex likewise burn, then the two triangles—the greater and the lesser—merge into one flame which burneth up the whole. (TCF 11)
Khi điểm thấp ấy rung động, khi Tam Giác Thiêng Liêng rực sáng, khi điểm ấy, trung tâm ở giữa và đỉnh cao cũng cùng bừng cháy, bấy giờ hai tam giác—lớn và nhỏ—hòa thành một ngọn lửa thiêu rụi toàn thể. (TCF 11)
272. Time and space pertain to the third aspect of divinity. They are the authors of the Great Illusion. The “middle One” (whether the soul of man or of the Universe-in-Entirety) belongs to the second aspect of divinity.
272. Thời gian và không gian thuộc về phương diện thứ ba của thiên tính. Chúng tạo ra Ảo Tưởng Vĩ Đại. “Đấng ở giữa” (dù là linh hồn của con người hay của Toàn Thể Vũ Trụ) thuộc về phương diện thứ hai của thiên tính.
273. When time, space and the “middle One” exist, there is necessarily “form and process”. Process is mutation of form in time (and space).
273. Khi thời gian, không gian và “Đấng ở giữa” tồn tại, tất yếu có “hình tướng và tiến trình”. Tiến trình là sự biến đổi của hình tướng trong thời gian (và không gian).
274. None of these—time, space, “the middle One, form or process agrees with “Pure Being” (really PURE BEING). There is little agreement with Pure Being meant (as the being of the Universal Logos) and absolutely no agreement with “Pure Being” (really PURE BEING) meant as the ABSOLUTE SELF.
274. Không điều nào trong số này—thời gian, không gian, “Đấng ở giữa, hình tướng hay tiến trình—tương hợp với “Bản Thể Thuần Khiết” (thực ra là BẢN THỂ THUẦN KHIẾT). Có rất ít sự tương hợp với Bản Thể Thuần Khiết khi hiểu là bản thể của Thượng đế Vũ Trụ, và tuyệt đối không có sự tương hợp nào với “Bản Thể Thuần Khiết” (thực ra là BẢN THỂ THUẦN KHIẾT) khi hiểu là BẢN NGÃ TUYỆT ĐỐI.
275. Time, space, “the middle One”, form and process are at length ephemeral within any Universe, and yet, they exist, cyclically, forever (i.e., “for aye remain”) because Universes are forever recurring, which necessarily include with their recurrence, time, space, “the middle One”, form and process.
275. Xét đến cùng, thời gian, không gian, “Đấng ở giữa”, hình tướng và tiến trình đều phù du bên trong bất kỳ Vũ Trụ nào, thế nhưng, chúng vẫn tồn tại theo chu kỳ, mãi mãi (tức là “muôn đời tồn tại”), bởi các Vũ Trụ mãi mãi tái diễn, và sự tái diễn ấy tất yếu bao hàm thời gian, không gian, “Đấng ở giữa”, hình tướng và tiến trình.
276. We are told that “Pure reason then suffices”. When does pure reason suffice?
276. Chúng ta được cho biết rằng “Bấy giờ, lý trí thuần khiết là đủ”. Khi nào lý trí thuần khiết là đủ?
277. From one perspective, when “the middle One” disappears with form and process, ending the normal illusions of time and space, the consciousness is transferred onto the buddhic plane or the plane of “pure reason”. Pure reason becomes the mode of cognition, transcending all lower forms of registration. Thus, it suffices.
277. Theo một góc nhìn, khi “Đấng ở giữa” biến mất cùng hình tướng và tiến trình, chấm dứt những ảo tưởng thông thường về thời gian và không gian, tâm thức chuyển dịch lên cõi Bồ đề hay cõi của “lý trí thuần khiết”. Lý trí thuần khiết trở thành phương thức nhận thức, vượt trên mọi hình thức ghi nhận thấp hơn. Vì vậy, lý trí thuần khiết là đủ.
278. This supervening of pure reason will be operative for any stratum of B/being. There is a cosmic buddhic plane as well as a systemic buddhic plane. If we continue to rise through the planes, we shall find a super-cosmic buddhic plane (and so forth) each with its own type of pure reason.
278. Sự xuất hiện và thay thế này của lý trí thuần khiết sẽ có hiệu lực ở bất kỳ tầng hiện hữu nào. Có một cõi Bồ đề vũ trụ cũng như một cõi Bồ đề của hệ mặt trời. Nếu tiếp tục vươn lên qua các cõi, chúng ta sẽ tìm thấy một cõi Bồ đề siêu vũ trụ (và cứ thế tiếp diễn), mỗi cõi có loại lý trí thuần khiết riêng.
6. Being cries forth and says: ... (untranslatable). Death crumbles all. Existence disappears, yet all for aye remains—untouched, immutably the same. God IS.
6. Bản Thể cất tiếng và nói:... (không thể dịch). Cái chết làm tất cả tan rã. Sự tồn tại biến mất, nhưng tất cả vẫn mãi mãi còn đó—không gì chạm tới, bất biến như xưa. Thượng đế HIỆN HỮU.
279. The first “Being” to cry forth must be the Universal Logos, intent on bringing His manifestation-as-as Universe to a conclusion.
279. “Đấng” đầu tiên cất tiếng phải là Thượng đế Vũ Trụ, với chủ ý đưa sự biểu hiện của Ngài dưới dạng một Vũ Trụ đến hồi kết.
280. If DK gave us this untranslatable word, He would be giving us a ‘word of death’, which He will not do.
280. Nếu Chân sư DK ban cho chúng ta linh từ không thể dịch này, Ngài sẽ ban cho chúng ta một ‘linh từ của cái chết’, điều mà Ngài sẽ không làm.
281. We are dealing with the impermanent existence within a Universe of all except the Universal Logos (Himself, impermanent). “Death crumbles all” forms and all relationships.
281. Chúng ta đang bàn đến sự tồn tại vô thường bên trong một Vũ Trụ của tất cả, ngoại trừ Thượng đế Vũ Trụ (chính Ngài cũng vô thường). “Cái chết làm tan rã tất cả” các hình tướng và mọi mối quan hệ.
282. All forms of existence disappear. Yet, they remain for aye because existence in form has recurred and will recur forever, and also, because all possibility is inherent within the ABSOLUTE SELF.
282. Mọi hình thức tồn tại đều biến mất. Tuy nhiên, chúng vẫn muôn đời còn lại, bởi sự tồn tại trong hình tướng đã tái diễn và sẽ mãi mãi tái diễn, đồng thời cũng bởi mọi khả năng đều vốn có bên trong BẢN NGÃ TUYỆT ĐỐI.
283. All that seems to exist is really the ONE THING, and, thus, all that seems to disappear is, in very essence “untouched, immutably the same”—for THAT is always “untouched, immutably the same”.
283. Tất cả những gì dường như tồn tại thực ra đều là CÁI DUY NHẤT, và vì vậy, tất cả những gì dường như biến mất, xét về chính bản thể, đều “không chịu tác động, bất biến như xưa”—bởi CÁI ĐÓ luôn “không chịu tác động, bất biến như xưa”.
284. From the deepest possible perspective, the “Being” that “cries forth” is really the ABSOLUTE IMMUTABLE BEING—a BEING which cannot ‘ACT’, and yet, somehow, does, otherwise the Universe itself would never have arisen.
284. Từ góc nhìn sâu xa nhất có thể có, “Đấng” “cất tiếng” thực ra là BẢN THỂ TUYỆT ĐỐI BẤT BIẾN—một BẢN THỂ không thể ‘HÀNH ĐỘNG’, thế nhưng bằng cách nào đó vẫn hành động, nếu không thì chính Vũ Trụ đã chẳng bao giờ phát sinh.
285. Then, indeed, “Death crumbles all” and “Existence disappears”—another one of the beginningless, endless, infinite series of Universes disappears, leaving only the ONE WHO IS—The ABSOLUTE DEITY—GOD.
285. Bấy giờ, quả thực, “Cái chết làm tan rã tất cả” và “Sự tồn tại biến mất”—thêm một Vũ Trụ nữa trong chuỗi Vũ Trụ vô thủy, vô chung, vô hạn biến mất, chỉ để lại ĐẤNG DUY NHẤT HIỆN HỮU—THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI—THƯỢNG ĐẾ.
286. Microcosmically, the “God” who IS, is the Monad. That there should be six sentences and that the sixth phrase should indicate return to the Monad is fitting, for the Monad is to be found upon the sixth or monadic plane.
286. Xét về tiểu thiên địa, “Thượng đế” HIỆN HỮU chính là Chân thần. Việc có sáu câu và câu thứ sáu chỉ sự trở về Chân thần là thích hợp, bởi Chân thần nằm trên cõi thứ sáu, hay cõi chân thần.
Each phrase out of the six has its own symbol at the close of each unit of thought, if I may call it that. These I may not give you or the chords upon which the phrases go forth.
Mỗi câu trong sáu câu đều có biểu tượng riêng ở cuối mỗi đơn vị tư tưởng, nếu Tôi có thể gọi như vậy. Tôi không được phép trao cho các bạn những biểu tượng này, cũng như những hợp âm mà trên đó các câu ấy vang lên.
287. We may presume that the symbols would be in some degree recognizable as would the notes in the chords.
287. Chúng ta có thể giả định rằng những biểu tượng ấy có thể được nhận biết ở một mức độ nào đó, cũng như những âm điệu trong các hợp âm.
288. We can presume that the chords continue to resound as the phrase is sounded forth.
288. Chúng ta có thể giả định rằng các hợp âm tiếp tục ngân vang khi câu ấy được xướng lên.
I have tried to indicate one of the meanings of the formula, but have not given a translation or a paraphrase.
Tôi đã cố gắng chỉ ra một trong những ý nghĩa của công thức, nhưng chưa đưa ra một bản dịch hay một cách diễn đạt lại.
289. DK is not working literally. Rather, He is working (with us) from the perspective of the world of meaning. Probably, a translation or a paraphrase would be less comprehensible to us.
289. Chân sư DK không làm việc theo nghĩa đen. Thay vào đó, Ngài làm việc (với chúng ta) từ góc nhìn của thế giới của ý nghĩa. Có lẽ một bản dịch hay lời diễn giải sẽ còn khó hiểu hơn đối với chúng ta.
Bear this in mind and as you ponder these six sentences, try to give them an interpretation which will come to you from the world of meaning, producing a practical application, from the world of causes, producing an enlightened understanding, and (if you are far enough along) from the world of being, producing inclusiveness.
Hãy ghi nhớ điều này, và khi suy ngẫm về sáu câu ấy, hãy cố gắng diễn giải chúng theo sự lĩnh hội đến với các bạn từ Thế giới của ý nghĩa, tạo ra một ứng dụng thực tiễn; từ thế giới của các nguyên nhân, tạo ra sự thấu hiểu sáng tỏ; và—nếu các bạn đã tiến đủ xa—từ Thế Giới Bản Thể, tạo ra tính bao gồm.
290. DK tells us what we may expect from three different types of interpretations and we should allow these three thoughts to impress our mind:
290. Chân sư DK cho chúng ta biết có thể trông đợi điều gì từ ba loại diễn giải khác nhau, và chúng ta nên để ba tư tưởng này ghi dấu vào thể trí của mình:
a. From the world of meaning we may expect practical application.
a. Từ thế giới của ý nghĩa, chúng ta có thể trông đợi sự ứng dụng thực tiễn.
b. From the world of causes, we may expect an enlightened understanding.
b. Từ thế giới của các nguyên nhân, chúng ta có thể trông đợi sự thấu hiểu sáng suốt.
c. From the world of being we may expect the registration of inclusiveness.
c. Từ thế giới bản thể, chúng ta có thể trông đợi sự ghi nhận tính bao gồm.
291. These three results should be compared with:
291. Ba kết quả này cần được so sánh với:
a. Meaning as “light on life”
a. Ý nghĩa như “ánh sáng soi rọi sự sống”
b. Cause as the “breath of experience”
b. Nguyên nhân như “hơi thở của kinh nghiệm”
c. Being as the “initiator of all that is”
c. Bản Thể như “Đấng Điểm đạo của tất cả những gì hiện hữu”
292. May we say that—
292. Liệu chúng ta có thể nói rằng—
a. “Light on life will show the way to practical application.
a. “Ánh sáng soi rọi sự sống sẽ chỉ đường đến sự ứng dụng thực tiễn.
b. “The breath of experience” will reveal the workings of microcosmic and macrocosmic process to the “enlightened understanding”.
b. “Hơi thở của kinh nghiệm” sẽ mặc khải sự vận hành của tiến trình tiểu thiên địa và đại thiên địa cho “sự thấu hiểu sáng suốt”.
c. “The initiator of all that is” will inclusively reveal the nature of that “all”.
c. “Đấng Điểm đạo của tất cả những gì hiện hữu” sẽ mặc khải một cách bao gồm bản chất của “tất cả” ấy.
293. Three potent words have been given—“meaning”, “cause” and “being”. They hold the key to the initiatory process and are the perspectives from which we may attempt to interpret the “seed of all philosophies”.
293. Ba từ đầy uy lực đã được trao cho chúng ta—“ý nghĩa”, “nguyên nhân” và “bản thể”. Chúng nắm giữ chìa khóa của tiến trình điểm đạo và là những góc nhìn mà từ đó chúng ta có thể cố gắng diễn giải “hạt giống của mọi triết học”.
294. The six phrases venture very far into the world of being and seem to touch on the world of causes and the world of meaning in a lesser (through useful) manner.
294. Sáu câu này tiến rất sâu vào thế giới bản thể và dường như chạm đến thế giới của các nguyên nhân cùng thế giới của ý nghĩa ở mức độ ít hơn (dù vẫn hữu ích).
These formulas have naught to do with personalities or with souls in deep incarnation, identified with form in the three worlds;
Những công thức này không liên quan gì đến các phàm ngã hay những linh hồn đang nhập thể sâu, đồng hóa với hình tướng trong ba cõi giới;
295. These Formulas (all of them) relate not to personalities or to the soul in deep incarnation. They may relate to the soul as it expresses on vibrational levels which are less encumbered by the weight of matter.
295. Những Công Thức này (tất cả các công thức) không liên quan đến các phàm ngã hay linh hồn nhập thể sâu. Chúng có thể liên quan đến linh hồn khi linh hồn biểu lộ trên những cấp độ rung động ít chịu sức nặng của vật chất cản trở hơn.
296. The Formulas are Formulas of Liberation and are appropriate for the use of those who are liberating themselves from the third aspect of divinity and from the principle exponent of that third aspect—the personality.
296. Các Công Thức là những Công Thức Giải Thoát và thích hợp cho những ai đang tự giải thoát khỏi phương diện thứ ba của thiên tính và khỏi biểu hiện chủ yếu của phương diện thứ ba ấy—phàm ngã.
297. They also suggest liberation even from the second aspect.
297. Chúng còn gợi ý sự giải thoát ngay cả khỏi phương diện thứ hai.
they concern world movement, great and universal developments, and human progress (as a whole) towards the divine.
chúng liên quan đến sự vận động của thế giới, những phát triển vĩ đại và phổ quát, cùng sự tiến bộ của toàn thể nhân loại hướng đến điều thiêng liêng.
298. In other words, they concern large wholes—
298. Nói cách khác, chúng liên quan đến những tổng thể lớn—
a. World movement—i.e., planetary progress, as a whole
a. Sự vận động của thế giới—tức là sự tiến bộ của hành tinh như một toàn thể
b. Great and universal developments
b. Những sự phát triển vĩ đại và mang tính vũ trụ
c. Human progress towards the divine, considering humanity as a single, progressive unit
c. Sự tiến bộ của con người hướng đến cái thiêng liêng, xem nhân loại như một đơn vị duy nhất đang tiến lên
You cannot yet think in those terms, but you can at least attempt to do so and grow thereby.
Các bạn chưa thể tư duy theo những phạm trù ấy, nhưng ít nhất các bạn có thể cố gắng làm như vậy và nhờ đó mà trưởng thành.
299. The approach is ever the same. DK presents us with that which we cannot fully fathom yet, in the attempt to do so, we grow.
299. Cách tiếp cận luôn như nhau. Chân sư DK trình bày với chúng ta điều mà chúng ta chưa thể thấu triệt, nhưng khi cố gắng làm như vậy, chúng ta trưởng thành.
300. We can understand that (as an initial attempt at understanding) an entire year of work can be spent on each of these Formulas.
300. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng, như một nỗ lực thấu hiểu ban đầu, có thể dành trọn một năm làm việc với mỗi Công Thức này.
301. In relation to Formula III, two months may be spent on each sentence.
301. Đối với Công Thức III, có thể dành hai tháng cho mỗi câu.
302. Perhaps, the effort to do so will promote the death of an encapsulated state of consciousness.
302. Có lẽ nỗ lực làm như vậy sẽ thúc đẩy cái chết của một trạng thái tâm thức khép kín.
POINTS OF REVELATION
CÁC ĐIỂM MẶC KHẢI
In the earlier part of your last instruction, I pointed out two most necessary requirements which the disciple in training for initiation must grasp. As they are closely connected with this third point (referring to the revelations which the [286] initiate can expect), I would like to touch upon them here.
Trong phần đầu của huấn thị trước, Tôi đã chỉ ra hai yêu cầu hết sức cần thiết mà đệ tử đang được huấn luyện để điểm đạo phải nắm bắt. Vì chúng liên hệ chặt chẽ với điểm thứ ba này—đề cập đến những mặc khải mà [286] điểm đạo đồ có thể mong đợi—Tôi muốn đề cập đến chúng ở đây.
303. We are dealing with both requirements for initiation and expectable revelations.
303. Chúng ta đang bàn đến cả những yêu cầu đối với điểm đạo lẫn những sự mặc khải có thể trông đợi.
The first statement I made was to the effect that the will is fundamentally an expression of the Law of Sacrifice;
Phát biểu đầu tiên của Tôi hàm ý rằng về căn bản, ý chí là một biểu hiện của Định luật Hi Sinh;
304. To follow the will is to liberate oneself from attachment to all that compromises the expression of pure being.
304. Đi theo ý chí là tự giải thoát khỏi sự gắn bó với tất cả những gì làm suy giảm sự biểu lộ của bản thể thuần khiết.
the second was an attempt to emphasise the necessity for grasping and accepting two initial premises:
phát biểu thứ hai là một nỗ lực nhấn mạnh sự cần thiết phải nắm bắt và chấp nhận hai tiền đề ban đầu:
First, that energy follows thought.
Thứ nhất, năng lượng đi theo tư tưởng.
Second, that the eye, opened by thought, directs that energy.
Thứ hai, con mắt do tư tưởng mở ra sẽ điều khiển năng lượng ấy.
305. We are speaking of the manner in which energy is transferred from one point of focus to another.
305. Chúng ta đang nói về cách thức năng lượng chuyển dịch từ một tiêu điểm sang một tiêu điểm khác.
306. We are speaking, further, of the mechanism or instrument (the eye opened by thought) which directs that energy.
306. Hơn nữa, chúng ta đang nói về bộ máy hay công cụ (con mắt do tư tưởng khai mở) dẫn hướng năng lượng ấy.
307. It is important to ponder on why the eye must be opened by thought. The suggestion is that a certain type of occult thinking process opens the “third eye”; when a certain level of consciousness has been achieved the directing eye naturally opens.
307. Cần suy ngẫm vì sao con mắt phải được khai mở bằng tư tưởng. Điều được gợi ý là một loại tiến trình tư duy huyền bí nào đó khai mở “con mắt thứ ba”; khi đã đạt đến một cấp độ tâm thức nhất định, con mắt dẫn hướng tự nhiên khai mở.
Why, I would ask you, is the will an aspect or an expression of the Law of Sacrifice? Because the will, as considered and understood by the initiate, is essentially that monadic essence, qualified by "fixed determination," which is identified with the Will or Purpose of the planetary Logos.
Tôi muốn hỏi các bạn: Vì sao ý chí là một phương diện hay một biểu hiện của Định luật Hi Sinh? Bởi vì ý chí, theo cách điểm đạo đồ xem xét và thấu hiểu, về bản chất là tinh chất chân thần mang phẩm tính “quyết tâm kiên định”, đồng hóa với Ý Chí hay Thiên Ý của Hành Tinh Thượng đế.
308. Here we have another important definition of the will.
308. Ở đây, chúng ta có thêm một định nghĩa quan trọng về ý chí.
309. The essence of the Monad is qualified by “fixed determination” and is identified with the Will or Purpose of the Planetary Logos.
309. Tinh túy của Chân thần mang phẩm tính “quyết tâm kiên định” và đồng hóa với Ý Chí hay Thiên Ý của Hành Tinh Thượng đế.
310. The Monad is a sacrificial being; the Planetary Logos is a sacrificial Being.
310. Chân thần là một sinh linh hi sinh; Hành Tinh Thượng đế là một Đấng hi sinh.
311. There is the well-known sacrifice of the Monad for all that lies ‘below’ it in expression. “I leave the Father’s Home and turning back, I save.”
311. Có sự hi sinh nổi tiếng của Chân thần vì tất cả những gì nằm ‘bên dưới’ Chân thần trong sự biểu lộ. “Tôi rời Nhà Cha, và khi quay lại, Tôi cứu rỗi.”
312. There is also the demanded sacrifice of all identification with that which is ‘lower’, so that the will of the Monad and the Will of the Planetary Logos may express in the lower worlds.
312. Cũng có sự hi sinh bắt buộc đối với mọi sự đồng hóa với những gì ‘thấp hơn’, để ý chí của Chân thần và Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế có thể biểu lộ trong các cõi thấp.
It is the highest divine aspect which the initiate finally manifests, prior to entering upon the Way of the Higher Evolution.
Đó là phương diện thiêng liêng cao nhất mà điểm đạo đồ cuối cùng biểu hiện trước khi bước vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
313. Entry upon the "Way of Higher Evolution" now occurs at the sixth initiation. We may presume then that the will, as the initiate understands it, is at last freely manifested (free from the five brahmic planes) at that high point of attainment. Always, however, there are higher manifestations of the will.
313. Hiện nay, việc bước vào “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” diễn ra ở lần điểm đạo thứ sáu. Vì vậy, chúng ta có thể giả định rằng ý chí, theo cách điểm đạo đồ thấu hiểu, cuối cùng biểu hiện tự do (thoát khỏi năm cõi Brahma) tại đỉnh cao thành tựu ấy. Tuy nhiên, luôn có những sự biểu hiện cao hơn của ý chí.
314. Even a Master is not yet a liberated Monad and, therefore, cannot fully manifest the will.
314. Ngay cả một Chân sư cũng chưa phải là một Chân thần đã giải thoát và do đó chưa thể biểu hiện trọn vẹn ý chí.
In this connection it is useful to remember that one of the appellations of Sanat Kumara is that of "the Great Sacrifice," and also to attempt to recognise some of the factors which have earned Him that name.
Về điều này, sẽ hữu ích nếu nhớ rằng một trong những danh xưng của Sanat Kumara là “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại”, đồng thời cố gắng nhận biết một số yếu tố đã khiến Ngài mang danh xưng ấy.
315. Sanat Kumara has identified His Will with the Will of the Solar Logos. He sacrifices much that might be possible to Him by attempting to fulfill the Will of that higher solar Being.
315. Sanat Kumara đã đồng hóa Ý Chí của Ngài với Ý Chí của Thái dương Thượng đế. Ngài hi sinh nhiều điều vốn có thể thực hiện được đối với Ngài khi cố gắng hoàn thành Ý Chí của Đấng thái dương cao hơn ấy.
316. The right expression of will (spiritually considered) is never the expression of one’s own will, but of the Will of a Superior. This is true in the case of Sanat Kumara just as it is true of an aspiring human being.
316. Sự biểu lộ đúng đắn của ý chí (xét về mặt tinh thần) không bao giờ là sự biểu lộ ý chí riêng của mình, mà là Ý Chí của một Đấng Cao Hơn. Điều này đúng với Sanat Kumara cũng như đúng với một con người đang nuôi dưỡng khát vọng.
317. Sanat Kumara is the great exponent of Divine Will upon our planet; at the same time He is, for us (and for practical purposes) the greatest exponent of Divine Love as well.
317. Sanat Kumara là Đấng biểu hiện vĩ đại của Ý Chí thiêng liêng trên hành tinh chúng ta; đồng thời, đối với chúng ta (và xét về mặt thực tiễn), Ngài cũng là Đấng biểu hiện vĩ đại nhất của Tình thương Thiêng Liêng.
These might be stated to be as follows, among others which you could not grasp if there was the language available to express them:
Có thể nêu những yếu tố này như sau, bên cạnh những yếu tố khác mà các bạn không thể nắm bắt ngay cả khi có ngôn ngữ để diễn đạt:
318. Is it not interesting to realize that there is no human language to express why Sanat Kumara is known as the “Great Sacrifice”?
318. Chẳng phải thật thú vị khi nhận ra rằng không có ngôn ngữ nào của con người có thể diễn đạt vì sao Sanat Kumara được biết đến là “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại” sao?
319. In the following we shall be instructed about the reasons why Sanat Kumara is rightly known as the Great Sacrifice.
319. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ được chỉ dạy về những lý do vì sao Sanat Kumara được gọi một cách xứng đáng là Đấng Hi Sinh Vĩ Đại.
320. We note that Sanat Kumara’s great sacrifices are contrasted with the lower sacrifices of the initiate.
320. Chúng ta lưu ý rằng những sự hi sinh vĩ đại của Sanat Kumara được đối chiếu với những sự hi sinh thấp hơn của điểm đạo đồ.
a. The basic sacrifice which the planetary Logos made was when He decided to incarnate or enter into the form of this planet.
a. Sự hi sinh căn bản của Hành Tinh Thượng đế diễn ra khi Ngài quyết định lâm phàm hay đi vào hình tướng của hành tinh này.
321. We note again (as we have many times) that Sanat Kumara is here identified as the Planetary Logos.
321. Một lần nữa, chúng ta lưu ý (như đã nhiều lần lưu ý) rằng ở đây Sanat Kumara được xác định là Hành Tinh Thượng đế.
322. The term “planet” is often used to mean various things. In this context, it cannot mean the entire planetary scheme, for the incarnational process of Sanat Kumara began from a point already ‘located’ with our scheme—namely the Venus globe of the Venus-chain of the Earth-scheme.
322. Thuật ngữ “hành tinh” thường được dùng với nhiều nghĩa khác nhau. Trong ngữ cảnh này, nó không thể chỉ toàn bộ hệ hành tinh, bởi tiến trình nhập thể của Sanat Kumara khởi đầu từ một điểm vốn đã ‘nằm’ trong hệ hành tinh của chúng ta—cụ thể là bầu Sao Kim thuộc Dãy Sao Kim của hệ hành tinh Trái Đất.
323. Thus, in this case the term “planet” must mean our fourth globe—the Earth-globe.
323. Vì vậy, trong trường hợp này, thuật ngữ “hành tinh” phải chỉ bầu hành tinh thứ tư của chúng ta—bầu Trái Đất.
324. The term “planet” rarely, if ever, means “planetary chain”. Usually, if “planetary chain” is meant, it is specified.
324. Thuật ngữ “hành tinh” hiếm khi, nếu có, mang nghĩa “dãy hành tinh”. Thông thường, nếu muốn nói đến “dãy hành tinh”, điều đó sẽ được nêu rõ.
325. Thus “planet” will usually mean either the entire planetary scheme or simply our fourth globe—the fourth globe of the Earth-chain.
325. Vì vậy, “hành tinh” thường có nghĩa là toàn bộ hệ hành tinh hoặc đơn giản là bầu hành tinh thứ tư của chúng ta—bầu hành tinh thứ tư của Dãy Địa Cầu.
326. The words “into the form of this planet” may need examination, because true form is to be found on planes ‘above’ the physical. There may be a hint here about Sanat Kumara incarnating into the worlds of true form (the highest of which, systemically considered, is to be found on the systemic monadic plane).
326. Những từ “đi vào hình tướng của hành tinh này” có thể cần được xem xét, bởi hình tướng đích thực nằm trên những cõi ‘cao hơn’ cõi hồng trần. Ở đây có thể có một gợi ý về việc Sanat Kumara nhập thể vào các thế giới của hình tướng đích thực (mà thế giới cao nhất, xét trong phạm vi hệ mặt trời, nằm trên cõi chân thần của hệ mặt trời).
327. The “Sea of Fire” can somehow be seen as a ‘World of Form’ if by form we mean the archetype for all formal processes on the cosmic physical plane.
327. Theo một cách nào đó, có thể xem “Biển Lửa” là một ‘Thế Giới Hình Tướng’, nếu với từ hình tướng, chúng ta muốn nói đến nguyên mẫu của mọi tiến trình hình tướng trên cõi hồng trần vũ trụ.
This was from pure choice, motivated by His "fixed determination" to function as the Saviour of the planet, in the same sense as the world Saviours come forth for the salvaging of humanity.
Đây hoàn toàn là một lựa chọn, do “quyết tâm kiên định” của Ngài thúc đẩy nhằm hoạt động như Đấng Cứu Thế của hành tinh, theo cùng ý nghĩa mà các Đấng Cứu Thế xuất hiện để cứu độ nhân loại.
328. “World Saviours” come forth for the salvaging of humanity; Sanat Kumara comes forth for the salvaging of our planet.
328. Các “Đấng Cứu Thế” xuất hiện để cứu vớt nhân loại; Sanat Kumara xuất hiện để cứu vớt hành tinh chúng ta.
329. That Sanat Kumara came undertook His sacrifice “from pure choice” may, indeed, be the case, but it is hard to believe that the choice was not indicated as a possibility by the Solar Logos of Whom Sanat Kumara is a direct Disciple.
329. Quả thực, có thể Sanat Kumara đã thực hiện sự hi sinh của Ngài “hoàn toàn từ sự lựa chọn thuần khiết”, nhưng khó tin rằng Thái dương Thượng đế, Đấng mà Sanat Kumara là một Đệ tử trực tiếp, đã không chỉ ra sự lựa chọn ấy như một khả năng.
330. The salvaging mission of the Christ was, of course, chosen by Him, but indicated, so we are led to believe, by the Lord of the World. “Father, not my will but Thine be done.”
330. Dĩ nhiên, sứ mệnh cứu vớt của Đức Christ là do Ngài lựa chọn, nhưng theo điều chúng ta được dẫn dắt để tin, Đức Chúa Tể Thế Giới đã chỉ ra sứ mệnh ấy. “Thưa Cha, xin ý Cha được thực hiện, chứ không phải ý con.”
331. The phrase “pure choice” is important; it signifies that this choice was achieved though the “clear, pure will”.
331. Cụm từ “sự lựa chọn thuần khiết” rất quan trọng; nó có nghĩa rằng sự lựa chọn này được thực hiện thông qua “ý chí trong sáng, thuần khiết”.
Sanat Kumara is the prototype of all world saviours.
Sanat Kumara là nguyên mẫu của mọi Đấng Cứu Thế.
332. Thus, He is to be considered the Teacher of the Christ and the Example for all those who are treading the Path of the World Saviours.
332. Vì vậy, cần xem Ngài là huấn sư của Đức Christ và là Tấm Gương cho tất cả những ai đang bước trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế.
The initiate, on his tiny scale, must learn to function also as a saviour, and thus express the Law of Sacrifice through the medium of the developed, pure, reasoning will, and not simply from that of impulsive love and its activity.
Trên quy mô nhỏ bé của mình, điểm đạo đồ cũng phải học cách hoạt động như một đấng cứu độ, qua đó biểu hiện Định luật Hi Sinh bằng ý chí đã phát triển, thuần khiết và có lý trí, chứ không chỉ bằng bác ái bột phát cùng hoạt động của nó.
333. Through what medium is the initiate to express the Law of Sacrifice? Through a blend, it would seem, of atma and buddhi—thus “pure, reasoning will”.
333. Điểm đạo đồ phải biểu lộ Định luật Hi Sinh thông qua phương tiện nào? Dường như là thông qua sự hòa trộn giữa atma và Bồ đề—do đó có “ý chí thuần khiết, biết suy xét”.
334. The initiate knows the manner in which his intended sacrifice is to fit into the Divine Plan.
334. Điểm đạo đồ biết sự hy sinh mà y dự định thực hiện sẽ phù hợp với Thiên Cơ như thế nào.
335. The loving impulse to sacrifice is worthy, but not sufficient.
335. Thôi thúc hy sinh xuất phát từ tình thương là đáng quý, nhưng chưa đủ.
336. The will through which the initiate works must be
336. Ý chí mà qua đó điểm đạo đồ hoạt động phải
a. Developed
a. Phát triển
b. Pure
b. Thuần khiết
c. Reasoning
c. Có lý trí
337. It is “pure” when unalloyed with any form of ‘lower intent’. The achievement of purity of will demand the sacrifice of all egoism.
337. Ý chí ấy “thuần khiết” khi không pha trộn bất kỳ hình thức ‘ý định thấp kém’ nào. Đạt được sự thuần khiết của ý chí đòi hỏi phải hy sinh mọi tính vị kỷ.
Here lies a basic distinction. Sacrifice must not be regarded as a "giving-up," but rather as a "taking-over."
Chính ở đây có một sự khác biệt căn bản. Không nên xem hi sinh là một sự “từ bỏ”, mà đúng hơn là một sự “đảm nhận”.
338. This is one of those amazing statements that invites serious pondering.
338. Đây là một trong những phát biểu đáng kinh ngạc mời gọi chúng ta suy ngẫm nghiêm túc.
339. When we are identified with forms within the lower worlds, we consider sacrifice from the first perspective—that of “giving up”.
339. Khi đồng hoá với các hình tướng trong những cõi thấp, chúng ta nhìn sự hy sinh từ góc độ thứ nhất—góc độ “từ bỏ”.
340. When we are identified as a spiritual triad or Monad, we consider that everything in the lower world is to be taken over by that being which we essentially are. Sacrifice is then the conquering of the combined second and third aspects by the first, or, on a lesser scale of the third by the second.
340. Khi đồng hoá với một tam nguyên tinh thần hay Chân thần, chúng ta cho rằng mọi thứ trong cõi thấp đều phải do sinh mệnh vốn là bản chất của chúng ta đảm nhận—sinh mệnh mà chúng ta thực sự là. Khi ấy, hy sinh là việc phương diện thứ nhất chinh phục phương diện thứ hai và thứ ba kết hợp lại, hoặc, ở quy mô nhỏ hơn, là việc phương diện thứ hai chinh phục phương diện thứ ba.
341. When we are rightly identified as the essential spiritual being we are, the ways, modes, patterns, processes of the lower worlds are mastered, commanded, directed from the center of energy with which we are identified. Right identification holds the key.
341. Khi đồng hoá đúng đắn với sinh mệnh tinh thần vốn là bản chất của mình, chúng ta làm chủ, điều khiển và định hướng các cách thức, phương thức, mô hình và tiến trình của những cõi thấp từ trung tâm năng lượng mà chúng ta đồng hoá với. Sự đồng hoá đúng đắn nắm giữ chìa khóa.
It has a mysterious relation to the Law of Karma, but on [287] such high levels that only the advanced initiate can grasp it.
Nó có một mối quan hệ huyền nhiệm với Định luật Nghiệp Quả, nhưng ở [287] những cấp độ cao đến mức chỉ điểm đạo đồ tiến bộ mới có thể nắm bắt.
342. Again, we are given something to ponder.
342. Một lần nữa, chúng ta có điều để suy ngẫm.
343. When Karma is fulfilled, the higher Agencies synthesize the lower—taking them over. Along this line we may ponder.
343. Khi Nghiệp Quả được hoàn tất, các Quyền Năng cao hơn tổng hợp những quyền năng thấp hơn—đảm nhận chúng. Chúng ta có thể suy ngẫm theo hướng này.
344. Through sacrifice, the resolution of karma is expedited—far more speedily than if karmic resolution had to come through third aspect processes alone.
344. Qua sự hy sinh, việc giải quyết nghiệp quả được đẩy nhanh—nhanh hơn rất nhiều so với khi việc giải quyết nghiệp quả chỉ diễn ra qua các tiến trình của phương diện thứ ba.
b. This sacrifice was imperative in the fullest sense, owing to the ability of the planetary Logos to identify Himself in full consciousness with the soul in all forms of life, latent within the planetary substance.
b. Sự hi sinh này là điều tất yếu theo nghĩa đầy đủ nhất, do Hành Tinh Thượng đế có khả năng đồng hóa chính Ngài, trong tâm thức trọn vẹn, với linh hồn trong mọi hình thức sự sống tiềm ẩn trong chất liệu hành tinh.
345. We gather that although there was freedom to choose through “pure, clear will” (the decision having been made from “pure choice”), there was a sense that the choice was imperative and inevitable.
345. Chúng ta hiểu rằng mặc dù có quyền tự do lựa chọn qua “ý chí thuần khiết, sáng suốt” (quyết định đã được đưa ra từ “sự lựa chọn thuần khiết”), vẫn có cảm nhận rằng sự lựa chọn ấy là bắt buộc và không thể tránh khỏi.
346. The Planetary Logos' power of identification compelled Him to choose in this manner.
346. Quyền năng đồng hoá của Hành Tinh Thượng đế buộc Ngài phải lựa chọn theo cách này.
347. We notice again, that we are speaking of the Planetary Logos and of Sanat Kumara in the same breath.
347. Một lần nữa, chúng ta nhận thấy mình đang nói đến Hành Tinh Thượng đế và Sanat Kumara như thể hai danh xưng này chỉ cùng một Đấng.
348. We may look to our own microcosmic lives to understand more deeply how identification compels action of a sacrificial kind.
348. Chúng ta có thể nhìn vào chính cuộc sống tiểu thiên địa của mình để thấu hiểu sâu sắc hơn cách sự đồng hoá thúc đẩy hành động mang tính hy sinh.
When He "took over" this task, He, esoterically, had no choice, because the decision was inherent in His own nature.
Khi Ngài “đảm nhận” nhiệm vụ này, xét một cách huyền bí, Ngài không có lựa chọn nào khác, bởi quyết định ấy vốn có trong chính bản chất của Ngài.
349. If He were to conform to His own true nature (which, from the soul perspective is strongly conditioned by compassion) He had to choose to sacrifice Himself.
349. Nếu Ngài muốn sống đúng với bản chất chân thật của mình (mà từ góc độ linh hồn, lòng từ bi có ảnh hưởng mạnh mẽ đến bản chất ấy), Ngài phải chọn hy sinh chính mình.
350. When we inquire regarding our ability to sacrifice, we may ask what task or tasks we are willing to “take over”. This will give a different slant upon the nature of sacrifice.
350. Khi tìm hiểu khả năng hy sinh của mình, chúng ta có thể hỏi mình sẵn lòng “đảm nhận” nhiệm vụ nào hay những nhiệm vụ nào. Điều này sẽ đem lại một góc nhìn khác về bản chất của sự hy sinh.
Because of this identification, He could not refuse the invocative appeal of the "seeds of life, striving within the substance of the form, and seeking added life and light," as the Old Commentary puts it.
Do sự đồng hóa này, Ngài không thể khước từ lời khẩn cầu của “những hạt giống sự sống đang nỗ lực trong chất liệu của hình tướng và tìm kiếm thêm sự sống cùng ánh sáng”, như Cổ Luận diễn đạt.
351. We are given a beautiful picture of the compassionate nature of the Planetary Logos.
351. Chúng ta có một bức tranh đẹp về bản chất từ bi của Hành Tinh Thượng đế.
352. Further, we can understand still more deeply how (on the microcosmic level) compassion may motivate us to what for us are great acts of sacrifice.
352. Hơn nữa, chúng ta có thể thấu hiểu sâu sắc hơn nữa cách lòng từ bi (ở cấp độ tiểu thiên địa) thúc đẩy chúng ta thực hiện những hành động hy sinh mà đối với mình là lớn lao.
353. The key to successful sacrifice is identification. It is no wonder that those who tread the Path of Earth Service are known particularly for their capacity to identify—all this in reflection of our Planetary Logos in Whom that capacity is highly developed.
353. Chìa khóa để hy sinh thành công là sự đồng hoá. Không có gì lạ khi những vị bước trên Con Đường Phụng Sự Trái Đất đặc biệt nổi tiếng về khả năng đồng hoá—tất cả điều này phản ánh Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, nơi Ngài khả năng ấy đã phát triển cao độ.
354. As for the “seed of life” we may look at them as Monads deeply immersed within the form. The “Father” goes forth to meet the returning “Son”. Sanat Kumara fulfills, above all the archetype of the “Father”.
354. Về những “hạt giống sự sống”, chúng ta có thể xem chúng là các Chân thần chìm sâu trong hình tướng. “Cha” đi ra đón “Con” trở về. Trên hết, Sanat Kumara thể hiện trọn vẹn nguyên mẫu của “Cha”.
This striving and reaching forth evoked His response and the going out of His divinity, as expressed in will, activated by "fixed determination" to meet the deeply hidden divinity within these seeds.
Sự nỗ lực và vươn tới này đã gợi lên sự đáp ứng của Ngài cùng sự tuôn tỏa thiên tính của Ngài, biểu hiện qua ý chí, được khơi hoạt bằng “quyết tâm kiên định” nhằm tiếp xúc với thiên tính ẩn sâu trong những hạt giống ấy.
355. Spirit meets Spirit. We are speaking of the dynamics of the Third Outpouring. There are also echoes of the Father’s response to the “Prodigal Son” but the analogy is not exact.
355. Tinh thần gặp gỡ Tinh thần. Chúng ta đang nói về động lực của Lần Tuôn Đổ Thứ Ba. Ở đây cũng có âm hưởng của sự đáp ứng từ người Cha đối với “Đứa Con Hoang Đàng”, nhưng phép tương đồng này không hoàn toàn chính xác.
356. According to Divine Law, invocation must be answered. This answering is what we call evocation.
356. Theo Định luật Thiêng Liêng, lời khẩn cầu phải được đáp lại. Sự đáp lại này là điều chúng ta gọi là gợi lên.
357. We have often read of the final stages of the Path of Initiation in which Spirit merges with Spirit. In these final stages—final when compared with the long involutionary and evolutionary immersion of the Monad—divinity responds to divinity.
357. Chúng ta thường đọc về những giai đoạn cuối của Con Đường Điểm Đạo, trong đó Tinh thần hợp nhất với Tinh thần. Trong những giai đoạn cuối này—cuối khi so với thời kỳ chìm đắm lâu dài của Chân thần trong giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá—thiên tính đáp ứng với thiên tính.
358. The following phrase is very interesting: “the going out of His divinity, as expressed in will, activated by ‘fixed determination’.” That will, will not deviate because it is “activated by fixed determination.”
358. Cụm từ sau đây rất thú vị: “sự tuôn trào thiên tính của Ngài, biểu lộ qua ý chí, được khơi động bằng ‘quyết tâm kiên định’.” Ý chí ấy sẽ không chệch hướng vì nó “được khơi động bằng quyết tâm kiên định.”
359. One receives the impression that there are other ways that “His divinity” might “go out”. One is further convinced that His sacrifice is an act of Will.
359. Người ta có cảm tưởng rằng còn có những cách khác để “thiên tính của Ngài” có thể “tuôn trào”. Người ta càng thêm tin rằng sự hy sinh của Ngài là một hành động của Ý Chí.
360. We are left with an experiential question: “What is the experience of Spirit meeting Spirit, of divinity meeting divinity? Can we call it ‘Self-recognition’? ‘Self-re-membering?” ‘Self-re-appropriation?’
360. Chúng ta còn lại một câu hỏi về trải nghiệm: “Trải nghiệm Tinh thần gặp gỡ Tinh thần, thiên tính gặp gỡ thiên tính là như thế nào? Có thể gọi đó là ‘Tự nhận biết’ không? ‘Tự nhớ lại và tái hợp nhất?’ ‘Tự tái thu nhận?’
361. We may arrive at the thought that the divinity of Sanat Kumara is now deeply interfused with our own divinity.
361. Chúng ta có thể đi đến ý nghĩ rằng thiên tính của Sanat Kumara giờ đây đã hòa quyện sâu sắc với thiên tính của chính chúng ta.
What He initiated then still persists and—under the Law of Sacrifice—He will complete the task, no matter how many aeons it may take.
Những gì Ngài khởi đầu khi đó vẫn tiếp tục tồn tại, và theo Định luật Hi Sinh, Ngài sẽ hoàn tất nhiệm vụ, bất kể phải mất bao nhiêu đại kiếp.
362. Love induces the attitude of patience. Can the Divine Will be even more patient?
362. Tình thương khơi dậy thái độ kiên nhẫn. Liệu Ý Chí thiêng liêng có thể còn kiên nhẫn hơn nữa chăng?
363. In certain parts of the Teaching, it is suggested that during the fifth round, during that event called the “Judgment Day”, the Planetary Logos and/or Sanat Kumara will take a major initiation. At that time we may consider that His task with respect to this globe will be completed.
363. Trong một số phần của Giáo Huấn, có gợi ý rằng trong cuộc tuần hoàn thứ năm, vào sự kiện gọi là “Ngày Phán Xét”, Hành Tinh Thượng đế và/hoặc Sanat Kumara sẽ trải qua một cuộc điểm đạo lớn. Chúng ta có thể cho rằng vào lúc ấy, nhiệm vụ của Ngài đối với bầu hành tinh này sẽ hoàn tất.
The Logos of our scheme has been in physical incarnation (having a body of etheric matter) since the middle of the Lemurian root-race, and will remain with us until what is called "the judgment day" in the next round. (TCF 375)
Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta đã lâm phàm ở cõi hồng trần (có một thân thể bằng vật chất dĩ thái) từ giữa Giống dân gốc Lemuria, và sẽ ở lại với chúng ta cho đến thời điểm được gọi là “ngày phán xét” trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. (TCF 375)
364. That Sanat Kumara will retain His relationship with our globe until that time (the "Judgment Day") accords with the idea that He took “physical incarnation” on our planet at the time of His coming, some eighteen and a half million years ago.
364. Việc Sanat Kumara duy trì mối liên hệ với bầu hành tinh của chúng ta cho đến lúc ấy (“Ngày Phán Xét”) phù hợp với ý tưởng rằng Ngài đã “lâm phàm ở cõi hồng trần” trên hành tinh chúng ta vào lúc Ngài đến, khoảng mười tám triệu rưỡi năm trước.
365. What is the duration of an aeon? Is the time of the completion of His task set? For instance, does it terminate at the "Judgment Day" in the middle of the third round? Or might it be prolonged for aeons beyond that time?
365. Một đại kiếp kéo dài bao lâu? Thời điểm hoàn tất nhiệm vụ của Ngài có được ấn định không? Chẳng hạn, nhiệm vụ ấy có kết thúc vào “Ngày Phán Xét” ở giữa cuộc tuần hoàn thứ ba không? Hay có thể kéo dài thêm nhiều đại kiếp sau thời điểm ấy?
366. We are touching a subject which might be called ‘the elasticity of cycles’. Is Sanat Kumara conforming to cyclic law with regard to His Mission, or does He have the flexibility to outstay the appointed duration of that Mission.
366. Chúng ta đang chạm đến một chủ đề có thể gọi là ‘tính co giãn của các chu kỳ’. Sanat Kumara có tuân theo định luật chu kỳ đối với Sứ Mệnh của Ngài, hay Ngài có sự linh hoạt để ở lại lâu hơn thời hạn đã định của Sứ Mệnh ấy.
The initiate, on his tiny scale, has to learn to work as a nourisher and saviour of the seeds of life within all forms with which he may achieve a measure of identification.
Trên quy mô nhỏ bé của mình, điểm đạo đồ phải học cách làm người nuôi dưỡng và cứu độ những hạt giống sự sống trong mọi hình tướng mà y có thể đạt được một mức độ đồng hóa nào đó.
367. From one perspective, this responsibility accords with Rule IV for Applicants: “Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving.”
367. Từ một góc độ, trách nhiệm này phù hợp với Quy luật IV Dành cho Ứng Viên: “Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa, nuôi dưỡng các sự sống nhỏ hơn và nhờ đó giữ cho bánh xe tiếp tục quay.”
368. There is analogy between the measure of identification which Sanat Kumara can achieve with lives such as we are and the measure of identification which we can achieve with the tiny lives within our vehicles of expression.
368. Có sự tương đồng giữa mức độ đồng hoá mà Sanat Kumara có thể đạt được với những sự sống như chúng ta và mức độ đồng hoá mà chúng ta có thể đạt được với những sự sống nhỏ bé trong các hiện thể biểu lộ của mình.
369. From another perspective, the initiate is related to many human beings and also with the lives of the three lower kingdoms, with whom and with which is achieving a measure of identification, acting towards them, therefore, as “nourisher and saviour”. This can only be done when the identification occurs on the level of soul or Spirit. The initiate knows that humanity is the macrocosm to the microcosm represented by the lower kingdoms.
369. Từ một góc độ khác, điểm đạo đồ có liên hệ với nhiều con người cũng như với các sự sống của ba giới thấp, và đang đạt được một mức độ đồng hoá với họ và với các sự sống ấy; do đó, y hành động đối với họ và chúng như “người nuôi dưỡng và cứu rỗi”. Điều này chỉ có thể thực hiện khi sự đồng hoá diễn ra ở cấp độ linh hồn hay Tinh thần. Điểm đạo đồ biết rằng nhân loại là đại thiên địa đối với tiểu thiên địa mà các giới thấp đại diện.
His will must go out in response to the invocative demand of humanity, and his "fixed determination" must motivate his ensuing activity.
Ý chí của y phải tuôn ra để đáp ứng lời khẩn cầu của nhân loại, và “quyết tâm kiên định” của y phải thúc đẩy hoạt động tiếp theo.
370. The initiate is responsive to the invocative demand of humanity. He goes forth to them in a lesser “act of will” which is a reflection of Sanat Kumara’s willingness to respond to the striving seeds of life.
370. Điểm đạo đồ đáp ứng lời khẩn cầu của nhân loại. Y đến với họ bằng một “hành động của ý chí” ở quy mô nhỏ hơn, phản ánh sự sẵn lòng của Sanat Kumara trong việc đáp ứng những hạt giống sự sống đang nỗ lực vươn lên.
371. We note that DK emphasizes the initiate’s “fixed determination” but not so much the reaching out of his divinity to the divinity in others. As the average initiate is not yet monadically aware in fullness, he cannot, strictly speaking, reach out through his “divinity”—another name for the monadic aspect.
371. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nhấn mạnh “quyết tâm kiên định” của điểm đạo đồ, nhưng ít nhấn mạnh hơn việc thiên tính của y vươn tới thiên tính nơi những người khác. Vì điểm đạo đồ thông thường chưa nhận biết trọn vẹn ở cấp độ chân thần, nên nói một cách chặt chẽ, y chưa thể vươn tới qua “thiên tính” của mình—một tên gọi khác của phương diện chân thần.
372. We have noted that “fixed determination” is related to the activity aspect and is, therefore, more easily apprehended by human beings.
372. Chúng ta đã lưu ý rằng “quyết tâm kiên định” liên hệ với phương diện hoạt động và vì thế con người dễ lĩnh hội hơn.
c. Under this Law of Sacrifice, Sanat Kumara (to express the idea in occult terms) "must turn His back upon the Central Spiritual Sun, and with the light of His Countenance irradiate the path of the prisoners of the planet."
c. Theo Định luật Hi Sinh này, Sanat Kumara—diễn đạt ý tưởng bằng thuật ngữ huyền bí—“phải quay lưng lại với Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và dùng ánh sáng từ Dung Nhan Ngài soi rọi con đường của những tù nhân trên hành tinh”.
373. We have a beautiful and inspiring phrase from the Old Commentary.
373. Chúng ta có một câu văn đẹp và đầy cảm hứng từ Cổ Luận.
374. The Central Spiritual Sun (in this context) must relate to the monadic aspect of the Solar Logos with which, presumably, Sanat Kumara is coming into some degree of relation.
374. Trong ngữ cảnh này, Mặt trời Tinh thần Trung Ương hẳn phải liên hệ với phương diện chân thần của Thái dương Thượng đế, mà có lẽ Sanat Kumara đang thiết lập mối liên hệ ở một mức độ nào đó.
375. From another point of view, the Central Spiritual Sun can be considered the monadic aspect of the Planetary Logos which He either is, or of which He is a soul-infused personal expression.
375. Từ một góc nhìn khác, có thể xem Mặt trời Tinh thần Trung Ương là phương diện chân thần của Hành Tinh Thượng đế, mà Ngài hoặc chính là, hoặc là biểu hiện phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của Đấng ấy.
376. A “countenance” is usually considered a “face”. The Lords of Light are called “Lord of the Shining Countenance” and Their opponents are called “Lords of the Dark Face”.
376. “Dung nhan” thường được hiểu là “gương mặt”. Các Chúa Tể Ánh Sáng được gọi là “Chúa Tể có Dung Nhan Rạng Ngời”, còn những kẻ đối nghịch với Các Ngài được gọi là “Các Chúa Tể có Gương Mặt Tối Tăm”.
377. The face or countenance releases the light which has been engendered by the evolutionary process. For instance, using a homely example, people characterized by high spirituality have faces that “shine”.
377. Gương mặt hay dung nhan tỏa ra ánh sáng mà tiến trình tiến hoá đã tạo nên. Chẳng hạn, lấy một ví dụ gần gũi, những người có đời sống tinh thần cao thường có gương mặt “tỏa sáng”.
378. To turn the “light of His Countenance” upon the path to be trodden by the “prisoners of the planet” is equivalent to sharing His spiritual energy with them through the power of benevolent attention.
378. Hướng “ánh sáng từ Dung Nhan Ngài” vào con đường mà những “tù nhân trên hành tinh” phải bước đi cũng tương đương với việc chia sẻ năng lượng tinh thần của Ngài với họ qua quyền năng của sự chú tâm đầy thiện ý.
379. For the one making a sacrifice on behalf of others, possible new acquisitions of energy are dropped from the mind, and one shares what one has. Occult law, however, will see this sharing replenished and, in fact, augmented.
379. Đối với người hy sinh vì người khác, những khả năng thu nhận thêm năng lượng không còn chiếm chỗ trong thể trí, và người ấy chia sẻ những gì mình có. Tuy nhiên, định luật huyền bí sẽ bảo đảm rằng những gì đã chia sẻ được bù đắp và thực tế còn gia tăng.
He sentences Himself to stay for as long as may be needed, "acting as the Sun and light of the planet until the Day be with us and the night of pralaya descends upon His finished task."
Ngài tự buộc mình ở lại chừng nào còn cần thiết, “đóng vai trò Mặt Trời và ánh sáng của hành tinh cho đến khi Ngày đến với chúng ta, và đêm của Giai kỳ qui nguyên phủ xuống nhiệm vụ đã hoàn tất của Ngài”.
380. We have an unusual phrase: “He sentences Himself…”. This phrase suggests judgment and processes related to a trial. It would be interesting, indeed, if the sentence were to last until the “Day of Judgment”.
380. Chúng ta có một cụm từ khác thường: “Ngài tự kết án mình…”. Cụm từ này gợi đến sự phán xét và các tiến trình liên quan đến một phiên tòa. Quả thật sẽ rất thú vị nếu bản án ấy kéo dài cho đến “Ngày Phán Xét”.
381. As the “Sun and light of the planet”, Sanat Kumara warms and illuminates the spiritual aspects of all “prisoners of the planet”. He is, of course, acting as a spiritual Sun.
381. Là “Mặt Trời và ánh sáng của hành tinh”, Sanat Kumara sưởi ấm và soi sáng các phương diện tinh thần của mọi “tù nhân trên hành tinh”. Dĩ nhiên, Ngài đang đóng vai trò một Mặt Trời tinh thần.
382. We know that pralaya will not descend upon the planet at the "Judgment Day" in the fifth round. Yet, poetically, we can speak of pralaya descending in relation to His task—unless, of course, it takes longer than anticipated.
382. Chúng ta biết rằng Giai kỳ qui nguyên sẽ không buông xuống hành tinh vào “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm. Tuy vậy, theo cách nói thi ca, chúng ta có thể nói đến Giai kỳ qui nguyên buông xuống đối với Ngài—cụ thể là nhiệm vụ của Ngài—dĩ nhiên, trừ khi nhiệm vụ ấy kéo dài hơn dự kiến.
383. If we are not speaking poetically, then there may be a suggestion that Sanat Kumara’s tenure with our planet will endure far longer than the fifth round of the fourth chain—perhaps until the planet, itself, goes into pralaya.
383. Nếu chúng ta không nói theo lối thi ca, thì ở đây có thể có gợi ý rằng thời gian Sanat Kumara gắn bó với hành tinh chúng ta sẽ kéo dài vượt xa cuộc tuần hoàn thứ năm của Dãy Thứ Tư—có lẽ cho đến khi chính hành tinh đi vào Giai kỳ qui nguyên.
384. This latter possibility would make sense if Sanat Kumara is to be considered the Planetary Logos by another name.
384. Khả năng sau này sẽ hợp lý nếu xem Sanat Kumara là một danh xưng khác của Hành Tinh Thượng đế.
Thus and only thus can the light of the Central Spiritual Sun begin to penetrate the dark places of the Earth; when this happens all "shadows disappear"—an occult reference to the all-embracing radiance of the Monad as it absorbs both its reflection, the soul, and its shadow, the personality.
Như vậy, và chỉ như vậy, ánh sáng của Mặt trời Tinh thần Trung Ương mới có thể bắt đầu xuyên vào những nơi tối tăm trên Trái Đất; khi điều này xảy ra, mọi “bóng tối đều biến mất”—một cách nói huyền bí chỉ ánh huy hoàng bao trùm tất cả của Chân thần khi nó hấp thu cả hình ảnh phản chiếu của mình là linh hồn, lẫn cái bóng của mình là phàm ngã.
385. This is a most occult reference and can have at least two levels of meaning.
385. Đây là một ám chỉ hết sức huyền bí và có thể mang ít nhất hai cấp độ ý nghĩa.
386. The most occult level suggests that, in some way, the Earth is to receive a stream of energy from the Central Spiritual Sun—“the light of the Central Spiritual Sun”.
386. Cấp độ huyền bí nhất gợi ý rằng, bằng cách nào đó, Trái Đất sẽ tiếp nhận một dòng năng lượng từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương—“ánh sáng của Mặt trời Tinh thần Trung Ương”.
387. There is possibly a reference to the influence of Alcyone which is also to be considered the Central Spiritual Sun with respect to our solar system and the Planetary Logoi within it.
387. Có thể ở đây ám chỉ ảnh hưởng của Alcyone, vốn cũng cần được xem là Mặt trời Tinh thần Trung Ương đối với hệ mặt trời của chúng ta và các Hành Tinh Thượng đế trong đó.
388. From a more microcosmic perspective, the reference suggests that Sanat Kumara’s intervention on behalf of the imprisoned divinity of lesser beings brings that divinity to fruition. In other words, Sanat Kumara’s response to the need (particularly of newly individualized animal man) is, eventually, to raise such lower forms of human life to the point where the Monad can absorb both the soul and the personality.
388. Từ góc độ tiểu thiên địa hơn, ám chỉ này gợi ý rằng sự can thiệp của Sanat Kumara vì thiên tính bị giam cầm nơi những sinh linh thấp hơn đưa thiên tính ấy đến chỗ thành tựu viên mãn. Nói cách khác, sự đáp ứng của Sanat Kumara trước nhu cầu (đặc biệt của người thú vừa biệt ngã hóa) cuối cùng sẽ nâng những hình thức sự sống con người thấp hơn ấy đến điểm mà Chân thần có thể hấp thu cả linh hồn lẫn phàm ngã.
389. We note the interesting matter that the soul is the “reflection” of the Monad whereas the personality is only its “shadow”. From a reflection, one can tell much about the true nature of that which is reflected; from a shadow, much information is lost (when compared to the information available in a reflection) and only the ‘outline’ and general mass of the original can be seen, and that in a much ‘flattened’ version. A shadow is non-articulated, whereas a reflection (though lacking the same life as the original) is articulated.
389. Chúng ta lưu ý một điều thú vị: linh hồn là “sự phản chiếu” của Chân thần, trong khi phàm ngã chỉ là “cái bóng” của Chân thần. Qua một hình ảnh phản chiếu, người ta có thể biết nhiều về bản chất chân thật của đối tượng được phản chiếu; qua một cái bóng, nhiều thông tin bị mất đi (so với thông tin có được trong hình ảnh phản chiếu), và người ta chỉ thấy được ‘đường nét’ cùng khối hình tổng quát của nguyên bản, lại dưới một dạng ‘dẹt’ hơn nhiều. Cái bóng không có các chi tiết rõ ràng, trong khi hình ảnh phản chiếu (dù không có cùng sự sống như nguyên bản) lại có những chi tiết ấy.
390. It is interesting that monadic awareness destroys all shadows. It is as if to say that the perception of the pairs of opposites is negated.
390. Thật thú vị khi sự nhận biết chân thần hủy diệt mọi cái bóng. Điều đó dường như muốn nói rằng sự tri giác về các cặp đối cực bị phủ định.
The initiate, on his tiny scale, achieves a paralleling [288] expression of the Law of Sacrifice; he eventually turns his back upon the courts of Shamballa
Trên quy mô nhỏ bé của mình, điểm đạo đồ đạt đến một biểu hiện [288] tương ứng của Định luật Hi Sinh; cuối cùng, y quay lưng lại với các điện đường của Shamballa
391. Just as Sanat Kumara turned His back on the Central Spiritual Sun…
391. Cũng như Sanat Kumara đã quay lưng lại với Mặt trời Tinh thần Trung Ương…
392. As the initiate turns his back on Shamballa and its Council Chamber, could Sanat Kumara turn His back on the equivalent to Shamballa within the energy expression of the Solar Logos and its Council Chamber (of which the Solar Pitris are already members!). Yet, Sanat Kumara is greater than the Solar Angels Who attend us, and so, in some manner, He too must be an even more exalted ‘Member’ of the Council within the Sun.
392. Khi điểm đạo đồ quay lưng lại với Shamballa và Phòng Hội Đồng nơi đó, liệu Sanat Kumara có thể quay lưng lại với nơi tương đương Shamballa trong sự biểu lộ năng lượng của Thái dương Thượng đế và Phòng Hội Đồng của nơi ấy (mà các thái dương tổ phụ đã là thành viên!) hay không. Tuy nhiên, Sanat Kumara cao cả hơn các Thái dương Thiên Thần đang trợ giúp chúng ta, vì thế, theo một cách nào đó, Ngài hẳn cũng là một ‘Thành Viên’ còn cao quý hơn nữa của Hội Đồng trong Mặt Trời.
393. That Shamballa has “courts” suggests its royal nature.
393. Việc Shamballa có các “triều điện” gợi lên bản chất vương giả của nơi này.
and upon the Way of the Higher Evolution
và với Con đường Tiến Hóa Cao Siêu,
394. Just as the initiate (now a Chohan) may relinquish His proffered treading of the "Way of Higher Evolution", so, Sanat Kumara, too, has higher possibilities that loom before Him (His own Path on the "Way of Higher Evolution"). These possibilities He temporarily relinquishes, to assist the evolution of our planet, and presumably of our planetary chain.
394. Cũng như điểm đạo đồ (nay là một Chohan) có thể từ bỏ cơ hội được bước trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”, Sanat Kumara cũng có những khả năng cao hơn đang mở ra trước Ngài (Đường Đạo của chính Ngài trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”). Ngài tạm thời từ bỏ những khả năng này để trợ giúp sự tiến hoá của hành tinh chúng ta, và có lẽ cả dãy hành tinh của chúng ta.
395. Only a deep power of identification can induce great sacrifice. The more one is identified with the Whole, the less one is disturbed by a sacrificial attitude to the processes occurring within one’s own ring-pass-not.
395. Chỉ một quyền năng đồng hoá sâu sắc mới có thể thúc đẩy sự hy sinh lớn lao. Càng đồng hoá với Toàn Thể, người ta càng ít bận tâm khi giữ thái độ hy sinh đối với những tiến trình diễn ra trong vòng-giới-hạn của chính mình.
as he retains his contact with the Earth and works as a Member of the Hierarchy for the extension of the will-to-good among men, and therefore among all the lesser evolutions.
trong khi vẫn giữ sự tiếp xúc với Trái Đất và làm việc như một Thành viên của Thánh đoàn để mở rộng Ý Chí-hướng Thiện giữa loài người, và do đó giữa mọi dòng tiến hóa thấp hơn.
396. DK is speaking of the kind of relinquishment performed by a Master or a Chohan (Who is also a Master). Upon attaining Mastership, a Master will for long turn His attention to the betterment of the lesser evolutions, including man. Some Chohans (They, too, are “initiates”) will also be called upon to turn Their eye from the achievement of greater possibilities on the Path of Higher Evolution. In doing so They tread the “Path of Earth Service”.
396. Chân sư DK đang nói đến loại từ bỏ mà một Chân sư hay một Chohan (cũng là một Chân sư) thực hiện. Sau khi đạt quả vị Chân sư, một Chân sư sẽ dành sự chú tâm trong một thời gian dài để nâng cao các dòng tiến hoá thấp hơn, kể cả con người. Một số Chohan (Các Ngài cũng là “điểm đạo đồ”) cũng sẽ được kêu gọi chuyển ánh nhìn khỏi việc đạt tới những khả năng lớn lao hơn trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Khi làm như vậy, Các Ngài bước trên “Con Đường Phụng Sự Trái Đất”.
397. Sacrifice has everything to do with the scope of expression in which one is willing to abide when, in fact, one need not.
397. Sự hy sinh gắn liền hoàn toàn với phạm vi biểu lộ mà người ta sẵn lòng ở lại, trong khi thực ra không cần phải như vậy.
398. We can ask ourselves whether it is possible for us to preserve our joy (the joy of the soul) even in circumstances of limited scope, and despite the fact that wider and more spiritually stimulating living might be possible were the sacrifice not made.
398. Chúng ta có thể tự hỏi liệu mình có thể giữ được sự hoan hỉ (sự hoan hỉ của linh hồn) ngay cả trong những hoàn cảnh có phạm vi hạn hẹp, dù rằng nếu không hy sinh thì có thể sống rộng mở hơn và được khơi dậy nhiều hơn về mặt tinh thần hay không.
399. The “will-to-good” (considered in a planetary sense) is an extension of Shamballic Will. Even while the initiate turns His back on the “courts of Shamballa”, he represents the energy of will before the eyes of men and promotes its development.
399. “Ý Chí-hướng Thiện” (xét theo nghĩa hành tinh) là sự mở rộng của Ý Chí Shamballa. Ngay cả khi điểm đạo đồ quay lưng lại với “các triều điện của Shamballa”, y vẫn đại diện cho năng lượng ý chí trước mắt nhân loại và thúc đẩy sự phát triển của năng lượng ấy.
400. We note that the energy of the “will-to-good” developing within humanity is important for the lesser evolutions. They must, in some form, absorb it, which they can do if it is sufficiently extended in the human race.
400. Chúng ta lưu ý rằng năng lượng “Ý Chí-hướng Thiện” đang phát triển trong nhân loại có tầm quan trọng đối với các dòng tiến hoá thấp hơn. Dưới một hình thức nào đó, chúng phải hấp thu năng lượng ấy, và có thể làm được điều này nếu năng lượng ấy lan rộng đủ mức trong nhân loại.
d. Under the Law of Sacrifice, the Lord of the World remains ever behind the scenes, unknown and unrealised by all the "seeds" He came to save,
Theo Định luật Hi Sinh, Đức Chúa Tể Thế Giới luôn ở phía sau hậu trường; tất cả những “hạt giống” mà Ngài đến để cứu độ đều không biết và không nhận ra Ngài,
401. His purpose is unknown, unseen and unheard (R&I 241).
401. Không ai biết, thấy hay nghe được mục đích của Ngài (R&I 241).
402. Sanat Kumara is for us the greatest Example of the hidden sacrifice.
402. Đối với chúng ta, Sanat Kumara là Tấm Gương vĩ đại nhất về sự hy sinh thầm kín.
403. We might ask ourselves, in terms of our own life process: “Which is more powerful—the hidden or the revealed sacrifice?” When an individual performs a hidden sacrifice there is much less opportunity for the feeding of the ego.
403. Xét tiến trình sống của chính mình, chúng ta có thể tự hỏi: “Sự hy sinh nào có sức mạnh hơn—sự hy sinh thầm kín hay sự hy sinh hiển lộ?” Khi một cá nhân thực hiện sự hy sinh thầm kín, cơ hội nuôi dưỡng phàm ngã ít hơn rất nhiều.
404. For millions of years, the “seeds” which Sanat Kumara “came to save” are unaware of Him. Would we be aware of Him had DK not revealed something of His nature?
404. Trong hàng triệu năm, những “hạt giống” mà Sanat Kumara “đến để cứu rỗi” không hay biết về Ngài. Liệu chúng ta có biết đến Ngài nếu Chân sư DK không tiết lộ đôi điều về bản chất của Ngài không?
until such time as they have reached the stage of flowering forth as perfect men and, in their turn, become the saviours of humanity. Then they know Him to exist.
cho đến khi chúng đạt đến giai đoạn nở hoa thành những con người hoàn thiện, rồi đến lượt mình trở thành những người cứu độ nhân loại. Khi ấy, họ biết Ngài hiện hữu.
405. The “time” mentioned here begins with the taking of the third initiation. However, it is really the Masters (“perfected men”) Who know Sanat Kumara to exist, for They have seen Him “face to face”.
405. “Thời điểm” nói đến ở đây bắt đầu từ lần điểm đạo thứ ba. Tuy nhiên, thực sự chính các Chân sư (“những con người đã hoàn thiện”) mới biết Sanat Kumara hiện hữu, vì Các Ngài đã gặp Ngài “mặt đối mặt”.