← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

406. Sanat Kumara is intent on creating Masters, which will happen on a large scale in the fifth round, we are told.

Trích nội dung chương

406. Sanat Kumara is intent on creating Masters, which will happen on a large scale in the fifth round, we are told. 406. Sanat Kumara chuyên tâm vào việc tạo nên các Chân sư; chúng ta được cho biết rằng điều này sẽ diễn ra trên quy mô lớn trong cuộc tuần hoàn thứ năm.


406. Sanat Kumara is intent on creating Masters, which will happen on a large scale in the fifth round, we are told.

406. Sanat Kumara chuyên tâm vào việc tạo nên các Chân sư; chúng ta được cho biết rằng điều này sẽ diễn ra trên quy mô lớn trong cuộc tuần hoàn thứ năm.

407. The term “flowering forth” suggests the fulfillment of the fourth initiation, at which time the egoic lotus comes into full flower. It could be argued, then, that the Arhat, too, knows Sanat Kumara to exist, although Arhats of the fourth degree have not passed through that initiation which allows Them to see Him “face to face” (cf. R&I 177).

407. Thuật ngữ “nở rộ” gợi đến sự hoàn tất lần điểm đạo thứ tư, lúc Hoa Sen Chân Ngã nở trọn vẹn. Vì thế, có thể lập luận rằng vị La Hán cũng biết Sanat Kumara hiện hữu, mặc dù các vị La Hán ở bậc thứ tư chưa trải qua cuộc điểm đạo cho phép Các Ngài gặp Ngài “mặt đối mặt” (xem R&I 177).

From the standpoint of the forms of life in the four kingdoms of nature, Sanat Kumara is non-existent.

Từ quan điểm của các hình thức sự sống trong bốn giới tự nhiên, Sanat Kumara không tồn tại.

408. There is an analogy here to the fact that in relation to a non-sacred planet the Monad of the planet is “occultly non-effective”.

408. Ở đây có sự tương đồng với sự kiện rằng, đối với một hành tinh không thiêng liêng, Chân thần của hành tinh ấy “không phát huy tác dụng về mặt huyền bí”.

In developed humanity, prior to moving on to the Probationary Path, He is sensed and dimly sought under the vague word "God."

Trong nhân loại đã phát triển, trước khi bước lên Con Đường Dự Bị, con người cảm nhận và tìm kiếm Ngài một cách mơ hồ dưới từ ngữ không rõ nghĩa “Thượng đế”.

409. It is to this “God” that the Great Invocation refers. This “God”, by the way, is not at all the “God” mentioned in Formula III.

409. Đại Khấn Nguyện đề cập đến chính “Thượng đế” này. Nhân đây, “Thượng đế” này hoàn toàn không phải là “Thượng đế” được nhắc đến trong Công Thức III.

410. We note that there is a distinction between “developed humanity” (presumably “advanced humanity”) and those who are actually treading the Probationary Path. Sometimes this distinction is made and sometimes not.

410. Chúng ta lưu ý rằng có sự phân biệt giữa “nhân loại đã phát triển” (có lẽ là “nhân loại tiến xa”) và những người thực sự đang bước trên Con Đường Dự Bị. Đôi khi có sự phân biệt này, đôi khi không.

411. It is also clear that the term “seed of life” means (in this context) the human Monads.

411. Cũng rõ ràng rằng trong ngữ cảnh này, thuật ngữ “hạt giống sự sống” chỉ các Chân thần nhân loại.

Later, as the life which the "seeds" have manifested reaches the higher layers or brackets in the human hierarchy, there emerges in the consciousness of the disciple, the assurance that behind the phenomenal world is a world of "saving Lives" of which he may eventually form a part; he begins to sense that behind these Lives there stand great Beings of power, wisdom and love Who, in Their turn, are under the supremacy of Sanat Kumara, the Eternal Youth, the Creator, the Lord of the World.

Về sau, khi sự sống mà các “hạt giống” đã biểu hiện đạt đến những tầng hay cấp cao hơn trong hệ thống thứ bậc nhân loại, trong tâm thức đệ tử xuất hiện niềm xác tín rằng phía sau thế giới hiện tượng là một thế giới của “những Sự Sống cứu độ” mà cuối cùng y có thể trở thành một phần trong đó; y bắt đầu cảm nhận rằng phía sau những Sự Sống này là những Đấng vĩ đại có quyền năng, minh triết và bác ái, đến lượt Các Ngài lại ở dưới quyền tối thượng của Sanat Kumara, Đấng Thanh Xuân Vĩnh Cửu, Đấng Sáng Tạo, Đức Chúa Tể Thế Giới.

412. The disciple is assured of the factual presence of “saving Lives”—i.e., of the existence of the Spiritual Hierarchy of the planet. Assurance, however, is not the same thing as actual sensing or detection.

412. Người đệ tử tin chắc vào sự hiện diện thực sự của những “Sự Sống cứu độ”—tức là sự tồn tại của Thánh đoàn hành tinh. Tuy nhiên, sự tin chắc không đồng nghĩa với việc thực sự cảm nhận hay phát hiện.

413. Later the disciple (as an initiate) senses the Masters and finally, Sanat Kumara.

413. Về sau, người đệ tử (với tư cách một điểm đạo đồ) cảm nhận được các Chân sư và cuối cùng là Sanat Kumara.

414. What are the “brackets in the human hierarchy”? It would be interesting to understand this classification as the Hierarchy understands it. We have been given many hints. Polarization within the various chakras go far to reveal the possible classifications. These polarizations correlate, later, with disciplic and initiatory status.

414. “Các bậc trong hệ thống thứ bậc nhân loại” là gì? Thật thú vị nếu thấu hiểu cách phân loại này như Thánh đoàn thấu hiểu. Chúng ta đã nhận được nhiều gợi ý. Sự phân cực trong các luân xa khác nhau giúp hé lộ rất nhiều về những cách phân loại có thể có. Về sau, những sự phân cực này tương quan với địa vị đệ tử và cấp bậc điểm đạo.

The initiate, on his tiny scale, likewise has to learn to work behind the scenes, unknown and unrecognised and unacclaimed;

Trên quy mô nhỏ bé của mình, điểm đạo đồ cũng phải học cách làm việc phía sau hậu trường, không ai biết đến, không ai nhận ra và không ai tán dương;

415. When we study the introduction to Rule XI, we will realize how important it is to work without attachment to recognition.

415. Khi nghiên cứu phần dẫn nhập vào Quy luật XI, chúng ta sẽ nhận ra tầm quan trọng của việc làm việc mà không chấp trước vào sự công nhận.

416. To work in this manner tests the genuineness of ones spiritual motives.

416. Làm việc theo cách này thử thách tính chân thực của những động cơ tinh thần trong mỗi người.

he must sacrifice his identity in the identity of the Ashram and its workers, and later in the identity of his working disciples out in the world of daily life.

y phải hi sinh bản sắc của mình trong bản sắc của ashram và những người hoạt động trong đó, rồi về sau trong bản sắc của những đệ tử đang làm việc cho y giữa thế giới của đời sống hằng ngày.

417. Two modes for the initiate to sacrifice his identity are given:

417. Có hai cách để điểm đạo đồ hi sinh bản sắc của mình:

a. The sacrifice of his identity in the identity of the Ashram and its workers

a. Hi sinh bản sắc của mình trong bản sắc của ashram và những người hoạt động trong đó

b. The sacrifice of his identity (when He is an Arhat or Master) in the identity of his working disciples

b. Hi sinh bản sắc của mình (khi Ngài là một vị La Hán hay Chân sư) trong bản sắc của các đệ tử đang làm việc cho Ngài

418. This sacrifice of identity is all part of a most necessary decentralization and, eventually, dis-identification. We all know how easily one may become attached to place, position, reputation, image, etc. All of this represents, in general, ego-attachment (which is simply an eye obsessed with the foreground of consciousness rather than appreciative of the great distances and larger sphere).

418. Sự hi sinh bản sắc này hoàn toàn là một phần của sự phi tập trung vào bản thân hết sức cần thiết và, cuối cùng, của việc chấm dứt đồng hoá. Chúng ta đều biết người ta có thể dễ dàng chấp trước vào nơi chốn, địa vị, danh tiếng, hình ảnh, v.v. đến mức nào. Nói chung, tất cả những điều này đều biểu hiện sự chấp trước vào phàm ngã (vốn chỉ là một con mắt bị ám ảnh bởi tiền cảnh của tâm thức thay vì biết trân trọng những khoảng xa rộng và khối cầu lớn hơn).

419. The initiate, as part of the program through which he learns ‘identification as Spirit’ must pass through these disciplic-identifications.

419. Trong chương trình học cách “đồng hoá với tư cách Tinh thần”, điểm đạo đồ phải trải qua những sự đồng hoá ở cấp đệ tử này.

420. The sacrifices of identity made by a Master or by Sanat Kumara have nothing to do with ego (for They do not even have a causal body in a human sense), but simply with Their effectiveness in expressing the Divine Plan (in the case of the Master) and Divine Purpose (in the case of Sanat Kumara).

420. Những sự hi sinh bản sắc mà một Chân sư hay Sanat Kumara thực hiện không liên quan gì đến chân ngã (vì Các Ngài thậm chí không còn thể nguyên nhân theo nghĩa con người), mà chỉ liên quan đến hiệu quả của Các Ngài trong việc biểu hiện Thiên Cơ (trong trường hợp Chân sư) và Thiên Ý (trong trường hợp Sanat Kumara).

He institutes the needed activities and brings about the required changes, but he receives no reward, save the reward of souls salvaged, lives rebuilt and humanity led onward upon the Path of Return.

Y khởi xướng những hoạt động cần thiết và đem lại những thay đổi được yêu cầu, nhưng không nhận phần thưởng nào ngoài phần thưởng là những linh hồn được cứu độ, những cuộc đời được tái dựng và nhân loại được dẫn tiến trên Con Đường Trở Về.

421. From this section we come to understand the true motives of the initiate:

421. Từ phần này, chúng ta đi đến chỗ thấu hiểu những động cơ chân thực của điểm đạo đồ:

a. He is rewarded by the recognition that, through his efforts, souls have been salvaged

a. Phần thưởng của y là nhận biết rằng, nhờ những nỗ lực của mình, các linh hồn đã được cứu độ

b. He is rewarded by the recognition that, through his efforts, lives have been rebuilt

b. Phần thưởng của y là nhận biết rằng, nhờ những nỗ lực của mình, các cuộc đời đã được xây dựng lại

c. He is rewarded by the recognition that, through his efforts, humanity has been led onward upon the Path of Return.

c. Phần thưởng của y là nhận biết rằng, nhờ những nỗ lực của mình, nhân loại đã được dẫn tiến trên Con Đường Trở Về.

These few thoughts upon the significance of sacrifice or upon the "taking over," through identification, of the task of salvage, of revitalising and of presenting opportunity, are important to all disciples, as a goal and a vision.

Vài tư tưởng này về thâm nghĩa của sự hi sinh, hay về việc “đảm nhận”, thông qua sự đồng hóa, nhiệm vụ cứu độ, tiếp sinh lực trở lại và đem lại cơ hội, đều quan trọng đối với mọi đệ tử như một mục tiêu và một tầm nhìn.

422. Here, in sum, we have a new definition of sacrifice: “the ‘taking over’, through identification, of the task of salvage, of revitalising and of presenting opportunity”.

422. Tóm lại, ở đây chúng ta có một định nghĩa mới về sự hi sinh: “việc ‘đảm nhận’, thông qua sự đồng hoá, nhiệm vụ cứu độ, phục hồi sinh lực và trao cơ hội”.

423. This type of “taking over” has nothing to do with ambition in general or with spiritual ambition in particular.

423. Kiểu “đảm nhận” này không liên quan gì đến tham vọng nói chung hay tham vọng tinh thần nói riêng.

424. We must remember that there will be insufficient incentive to “take over” unless the degree of identification if Sprit with Spirit is both deep and intense.

424. Chúng ta phải nhớ rằng sẽ không có đủ động lực để “đảm nhận” trừ khi mức độ đồng hoá giữa Tinh thần với Tinh thần vừa sâu sắc vừa mãnh liệt.

425. We might try to understand (in relation to the act of sacrifice) a sequence such as follows:

425. Chúng ta có thể thử thấu hiểu một trình tự như sau (trong mối liên hệ với hành động hi sinh):

a. Sympathy

a. Thiện cảm

b. Empathy

b. Đồng cảm

c. Identification

c. Đồng hoá

d. Recognition of Invocation

d. Nhận biết lời khẩn cầu

e. Sacrificial Response to Invocation

e. Đáp ứng lời khẩn cầu bằng sự hi sinh

f. Redemption

f. Cứu chuộc

[289] The second point made, based upon the occult platitude that "energy follows thought," should carry inspiring implications to the earnest disciple, if he truly considers the statements made and regards them of practical application.

[289] Điểm thứ hai đã nêu, dựa trên mệnh đề quen thuộc trong huyền bí học rằng “năng lượng đi theo tư tưởng”, hẳn sẽ mang những hàm ý đầy cảm hứng cho người đệ tử chân thành, nếu y thực sự suy xét những phát biểu đã đưa ra và xem chúng có thể áp dụng vào thực tiễn.

426. The mantram, if truly understood, can serve to empower disciples.

426. Mantram này, nếu thực sự được thấu hiểu, có thể giúp tăng cường quyền năng cho các đệ tử.

427. This mantram or occult platitude places at our disposal a tremendous enlivening and building force.

427. Mantram, hay câu nói quen thuộc trong huyền bí học này, đặt trong tay chúng ta một mãnh lực kiến tạo và tiếp sức sống vô cùng lớn lao.

Two things, I told you, are the result of thought, and though these may be mentally grasped by the intelligent disciple, they are very seldom understood. They are:

Tôi đã nói với các bạn rằng có hai điều là kết quả của tư tưởng, và dù đệ tử thông minh có thể nắm bắt chúng bằng trí tuệ, chúng rất hiếm khi được thấu hiểu. Đó là:

1. Thought generates energy commensurate with the potency of the thinking, and qualified by the theme of the thinking.

1. Tư tưởng tạo ra năng lượng tương xứng với uy lực của tư duy và mang phẩm tính của chủ đề tư duy.

428. This is an incentive for us to think clearly and with power. The energy generated by a thought will correlate with the ray of the thinker and with, as well, the ray theme of the thinking.

428. Điều này khích lệ chúng ta suy nghĩ rõ ràng và mạnh mẽ. Năng lượng do một tư tưởng tạo ra sẽ tương quan với cung của người suy nghĩ, đồng thời với chủ đề cung của sự suy nghĩ.

429. We are not yet powerful thinkers and, as Masters, we must become so.

429. Chúng ta chưa phải là những người suy nghĩ có sức mạnh, và khi trở thành các Chân sư, chúng ta phải đạt được điều đó.

You will see from this, therefore, some of the implications contained in the meditation I have assigned you. "As a man thinketh in his heart, so is he" is a statement of the Christ.

Vì vậy, từ điều này, các bạn sẽ thấy một số hàm ý chứa đựng trong bài thiền Tôi đã giao cho các bạn. “Con người suy nghĩ trong lòng mình thế nào thì y là thế ấy” là một phát biểu của Đức Christ.

430. To think in the heart is to think as a soul. Symbolically, the heart is the soul.

430. Suy nghĩ trong tâm là suy nghĩ với tư cách một linh hồn. Về mặt biểu tượng, trái tim là linh hồn.

431. A man is as he occultly is. What he appears to be means nothing in terms of his real identity.

431. Một người hiện hữu đúng như y về mặt huyền bí hiện hữu. Những gì y có vẻ là không có ý nghĩa gì xét về bản sắc thực sự của y.

432. But the statement is also true of those who are not soul conscious. In such a case, the heart would represent not the soul but the personal psyche—man aware of himself as a psychological being.

432. Nhưng lời dạy ấy cũng đúng đối với những người chưa có tâm thức linh hồn. Trong trường hợp đó, trái tim đại diện cho đời sống tâm lý cá nhân thay vì linh hồn—con người nhận biết chính mình như một sinh linh có đời sống tâm lý.

From that demonstrating personal centre of thought, energy will stream down into the physical brain, via the etheric body. It will then condition the type of living, the expression and the influence of the man upon the physical plane.

Từ trung tâm tư tưởng cá nhân đang biểu hiện ấy, năng lượng sẽ tuôn xuống bộ não hồng trần qua thể dĩ thái. Khi đó, nó sẽ định hình lối sống, sự biểu hiện và ảnh hưởng của con người trên cõi hồng trần.

433. We note the three points involved in the flow of thought:

433. Chúng ta ghi nhận ba điểm tham gia vào dòng tư tưởng:

a. From the demonstrating personal centre of thought

a. Từ trung tâm tư tưởng cá nhân đang biểu hiện

b. Through the etheric body

b. Qua thể dĩ thái

c. Into the physical brain

c. Vào bộ não thể chất

434. A higher type of alignment is: soul—mind—brain.

434. Một kiểu chỉnh hợp cao hơn là: linh hồn—thể trí—bộ não.

435. This type of alignment is: personality—etheric body—brain

435. Kiểu chỉnh hợp này là: phàm ngã—thể dĩ thái—bộ não

2. As a result of focussed thinking "in the heart" the spiritual eye opens and becomes the directing agent, employed consciously by the initiate whilst doing his work under the Law of Sacrifice.

2. Nhờ tư duy tập trung “trong tâm”, con mắt tinh thần mở ra và trở thành tác nhân điều khiển mà điểm đạo đồ sử dụng một cách hữu thức trong khi thực hiện công việc theo Định luật Hi Sinh.

436. This section goes even deeper, relating the act of “thinking ‘in the heart’” to the opening of the “spiritual eye”.

436. Phần này đi sâu hơn nữa, liên hệ hành động “suy nghĩ ‘trong tâm’” với sự khai mở “mắt tinh thần”.

437. We learn that if sacrifice is to be spiritually effective, the spiritual eye must be employed. The “spiritual eye” reveals where sacrifice is most needed; in other words, it reveals need and how that need can be met.

437. Chúng ta học được rằng nếu sự hi sinh muốn có hiệu quả về mặt tinh thần thì phải sử dụng mắt tinh thần. “Mắt tinh thần” cho thấy nơi nào cần sự hi sinh nhất; nói cách khác, nó cho thấy nhu cầu và cách đáp ứng nhu cầu ấy.

438. The spiritual eye is also a “directing agent” in the meeting of that need.

438. Mắt tinh thần cũng là một “tác nhân chỉ đạo” trong việc đáp ứng nhu cầu ấy.

439. What we are saying here is that the ability to align with and focus within the soul (i.e., the “heart”) will eventually open the “spiritual eye” (whatever, exactly, may be meant by these words). In relation to the head, there are number of “eyes” of progressive spirituality.

439. Điều chúng ta đang nói ở đây là khả năng chỉnh hợp với linh hồn và tập trung trong linh hồn (tức “trái tim”) cuối cùng sẽ mở “mắt tinh thần” (dù ý nghĩa chính xác của những từ này là gì). Liên quan đến đầu, có một số “con mắt” với mức độ tinh thần ngày càng cao.

What is meant here by the words, "in the heart"? The soul is the heart of the system of the spiritual man; it is the seat of the life and consciousness which animate the personality, and it is the motivating potency in every incarnation, according to the experience conditioning the expression of the spiritual man in any particular rebirth.

Ở đây, những từ “trong tâm” hàm ý gì? Linh hồn là trái tim trong hệ thống của con người tinh thần; đó là nơi ngự của sự sống và tâm thức làm sinh động phàm ngã, và là uy lực thúc đẩy trong mỗi lần lâm phàm, tùy theo kinh nghiệm định hình sự biểu hiện của con người tinh thần trong một lần tái sinh cụ thể.

440. Here the Tibetan discusses the soul as the heart.

440. Ở đây, Chân sư Tây Tạng bàn về linh hồn như trái tim.

441. The “spiritual man” is, in a way, the Monad, and the soul center is considered the heart center of the Monad.

441. Theo một nghĩa nào đó, “con người tinh thần” là chân thần, và trung tâm linh hồn được xem là trung tâm tim của chân thần.

442. Just as the heart animates the physical body, so the heart, spiritually considered as the soul, animates the personality.

442. Cũng như trái tim làm sinh động thể xác, trái tim, xét về mặt tinh thần là linh hồn, làm sinh động phàm ngã.

443. From the soul come life, consciousness and motivation.

443. Từ linh hồn phát sinh sự sống, tâm thức và động lực.

444. Below, we speak of the opening of the “spiritual eye”.

444. Dưới đây, chúng ta nói về sự khai mở “mắt tinh thần”.

In the early stages of experience, this "eye" remains closed; there is present no capacity for thought and no ability to think in the heart: i.e., from soul levels.

Trong những giai đoạn đầu của kinh nghiệm, “con mắt” này vẫn khép kín; chưa có khả năng tư duy, cũng chưa có khả năng suy nghĩ trong tâm, nghĩa là từ các cấp độ linh hồn.

445. The “early stages” here cited relate to undeveloped man.

445. “Những giai đoạn đầu” được đề cập ở đây liên quan đến con người chưa phát triển.

446. Two things are required and both are absent:

446. Có hai điều cần thiết, và cả hai đều chưa hiện hữu:

a. The capacity for thought

a. Năng lực tư duy

b. The ability to think in the heart, i.e., from soul levels. If one can do this, one is truly the “Thinker”.

b. Khả năng suy nghĩ trong tâm, tức là từ các cấp độ linh hồn. Nếu có thể làm được điều này, người ta thực sự là “Chủ Thể Tư Duy”.

447. Have we asked ourselves what it means to “think as a soul”? This would involve a close relationship to the energy of Venus which unites soul and mind.

447. Chúng ta đã tự hỏi “suy nghĩ với tư cách một linh hồn” có nghĩa là gì chưa? Điều này hẳn bao hàm một mối quan hệ mật thiết với năng lượng của Sao Kim, vốn hợp nhất linh hồn và thể trí.

448. From such soul-inspired thought, a reflect response in the heart center is inevitable.

448. Từ tư tưởng do linh hồn truyền cảm hứng như vậy, tất yếu sẽ có một đáp ứng phản xạ trong trung tâm tim.

As the intellect develops and the power to focus upon the mental plane grows, the fact of the soul's existence becomes known and the goal of attention changes.

Khi trí năng phát triển và quyền năng tập trung trên cõi trí tăng trưởng, sự thật về sự hiện hữu của linh hồn trở nên được biết đến, và mục tiêu chú tâm thay đổi.

449. Average man is becoming “advanced man”.

449. Con người trung bình đang trở thành “con người tiến hoá cao”.

450. It is important to realize that intellect is intended to reveal the soul. Again, this is the work of the fifth ray/second ray planet, Venus.

450. Cần nhận ra rằng trí năng có mục đích mặc khải linh hồn. Một lần nữa, đây là công việc của Sao Kim, hành tinh cung năm/cung hai.

451. As the “goal of attention changes” the man becomes increasingly focussed on the “heart” considered as the soul.

451. Khi “mục tiêu chú tâm thay đổi”, con người ngày càng tập trung vào “trái tim”, được xem là linh hồn.

There follows the ability to focus in the soul consciousness and so to fuse the soul and the mind that an at-one-ment takes place and a man can then begin to think "in his heart."

Tiếp theo là khả năng tập trung trong tâm thức linh hồn và dung hợp linh hồn với thể trí đến mức một sự hợp nhất diễn ra, và khi ấy con người có thể bắt đầu suy nghĩ “trong tâm mình”.

452. The section immediately above points to a period of development found approximately at the time of the third initiation.

452. Phần ngay phía trên chỉ đến một thời kỳ phát triển vào khoảng lần điểm đạo thứ ba.

453. When the soul and mind begin to fuse a man can begin to think “in the heart”. The mind is “held steady in the light”.

453. Khi linh hồn và thể trí bắt đầu dung hợp, con người có thể bắt đầu suy nghĩ “trong tâm”. Thể trí được “giữ vững trong ánh sáng”.

454. We may presume that the heart center, the ajna center and the heart within the head are all involved, progressively, as this stage of thinking in the heart is reached.

454. Chúng ta có thể giả định rằng trung tâm tim, trung tâm ajna và trái tim trong đầu đều lần lượt tham gia khi đạt đến giai đoạn suy nghĩ trong tâm này.

455. Unless the thought of the mind is pervaded and directed by the thought of the soul on its own plane, there is no “thinking in the heart”.

455. Nếu tư tưởng của thể trí không thấm nhuần và chịu sự chỉ đạo của tư tưởng linh hồn trên cõi riêng của linh hồn, thì không có sự “suy nghĩ trong tâm”.

456. This mode of thinking requires thinking with a degree of identification with the object of thought. It means to think as if one participated in the being or existential nature of that which is the object of thought. It is a type of deeply relational thinking characterized by the quality of pervasion—increasing as the capacity to think spiritually increases.

456. Lối tư duy này đòi hỏi phải suy nghĩ với một mức độ đồng hoá với đối tượng tư tưởng. Điều đó có nghĩa là suy nghĩ như thể mình tham dự vào sự hiện tồn hay bản chất hiện hữu của đối tượng tư tưởng. Đây là một kiểu tư duy mang tính tương quan sâu sắc, đặc trưng bởi phẩm tính thấm nhuần—ngày càng tăng khi khả năng tư duy theo tinh thần tăng trưởng.

Then also the "eye of the soul" opens and energy from soul levels, intelligently utilised, becomes directed from those levels and pours into what is now [290] ambiguously called "the third eye."

Khi đó, “con mắt của linh hồn” cũng mở ra, và năng lượng từ các cấp độ linh hồn, được sử dụng một cách thông minh, chịu sự điều khiển từ các cấp độ ấy và tuôn vào cái mà hiện nay [290] người ta gọi một cách mơ hồ là “con mắt thứ ba”.

457. DK acknowledges that the term “third eye” is ambiguous. Sometimes it means an area of perception found etherically in the approximate center of the head. At other times, it seems to reference a faculty of the ajna center or perhaps other chakras proximate to the brow.

457. Chân sư DK thừa nhận rằng thuật ngữ “con mắt thứ ba” có nghĩa mơ hồ. Đôi khi nó chỉ một vùng tri giác trên bình diện dĩ thái, nằm gần chính giữa đầu. Những lúc khác, nó dường như chỉ một năng lực của trung tâm ajna hoặc có lẽ của các luân xa khác gần vùng chân mày.

458. We are speaking of a period of development occurring around the time of the third initiation.

458. Chúng ta đang nói về một thời kỳ phát triển diễn ra vào khoảng lần điểm đạo thứ ba.

459. It becomes clear that the “eye of the soul” is not to be considered exactly the same as “the third eye”.

459. Rõ ràng, không nên xem “mắt linh hồn” hoàn toàn đồng nhất với “con mắt thứ ba”.

"the eye of the soul"; this is a point within the highest head centre. This eye of the soul can and does transmit energy to the ajna centre and is itself the agent (before the fourth initiation) of the energy of the Spiritual Triad. This esoteric relationship is only set up when the soul is dominating its instrument, the personality, and is bringing all the lower activities upon the physical plane under soul direction. (EH 571)

“mắt linh hồn”; đây là một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Mắt linh hồn này có thể và thực sự truyền năng lượng đến trung tâm ajna, và chính nó là tác nhân truyền dẫn năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần (trước lần điểm đạo thứ tư). Mối quan hệ nội môn này chỉ hình thành khi linh hồn đang chi phối công cụ của mình là phàm ngã, và đang đưa mọi hoạt động thấp trên cõi hồng trần vào dưới sự chỉ đạo của linh hồn. (EH 571)

460. The “eye of the soul” may also be considered a soul faculty related in expression to a point within the highest head center.

460. “Mắt linh hồn” cũng có thể được xem là một năng lực của linh hồn mà sự biểu hiện có liên hệ với một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất.

Immediately the personality in the three worlds begins to express itself as the soul upon the physical plane, and will, purpose and love begin to control.

Ngay lập tức, phàm ngã trong ba cõi giới bắt đầu biểu hiện như linh hồn trên cõi hồng trần, và ý chí, thiên ý cùng bác ái bắt đầu nắm quyền kiểm soát.

461. This is the stage of a prominent soul-infusion.

461. Đây là giai đoạn linh hồn thấm nhuần một cách rõ rệt.

462. The capacity to think “in the heart” is correlated to the opening of the “eye of the soul” and to the downpouring of energy from the soul through the personality, and from the “eye of the soul” into the “third eye”.

462. Khả năng suy nghĩ “trong tâm” tương quan với sự khai mở “mắt linh hồn” và với sự tuôn đổ năng lượng từ linh hồn qua phàm ngã, cũng như từ “mắt linh hồn” vào “con mắt thứ ba”.

463. We can suppose that this is a time of considerable development of the ajna and head centers.

463. Chúng ta có thể giả định rằng đây là thời kỳ phát triển đáng kể của trung tâm ajna và trung tâm đầu.

These two paragraphs are of importance to the disciple and warrant careful attention. As these developments take place, the spiritual will steadily grows into the directing agent, using the right eye as the distributing agent for the energy of love, animated with will.

Hai đoạn này quan trọng đối với đệ tử và đáng được chú tâm cẩn thận. Khi những phát triển này diễn ra, ý chí tinh thần dần trở thành tác nhân điều khiển, sử dụng mắt phải làm tác nhân phân phối năng lượng bác ái được ý chí làm sinh động.

464. We have been discussing a stage of development related to Venus. At a later stage when the spiritual will emerges, Vulcan becomes of importance.

464. Chúng ta đã bàn về một giai đoạn phát triển liên quan đến Sao Kim. Ở giai đoạn sau, khi ý chí tinh thần xuất hiện, Vulcan trở nên quan trọng.

465. The right eye is often called the “eye of buddhi”. Here we are told that the right eye expresses the “energy of love”, but in buddhi there is something of the will, for buddhi is an aspect of the spiritual triad.

465. Mắt phải thường được gọi là “mắt Bồ đề”. Ở đây, chúng ta được cho biết rằng mắt phải biểu hiện “năng lượng tình thương”, nhưng trong Bồ đề có phần nào ý chí, vì Bồ đề là một phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần.

466. The right eye, thus, is to be considered “animated with will” and thus, in part, a distributing agent for the energy of will as well as of love. This is an important point.

466. Do đó, mắt phải cần được xem là “được làm sinh động bằng ý chí” và vì vậy, phần nào cũng là tác nhân phân phối năng lượng ý chí cũng như tình thương. Đây là một điểm quan trọng.

This is why the right eye has been called, in the esoteric teaching, "the eye of buddhi." This directing agent uses the left eye as the instrument for the distribution of the mental energy of the personality—now illumined and sublimated.

Đó là lý do trong giáo huấn nội môn, mắt phải được gọi là “con mắt của Bồ đề”. Tác nhân điều khiển này sử dụng mắt trái làm công cụ phân phối năng lượng trí tuệ của phàm ngã—nay đã được soi sáng và thăng hoa.

467. The “eye of the soul” is (in this context) to be considered “the directing agent”. It uses both eyes.

467. Trong ngữ cảnh này, “mắt linh hồn” cần được xem là “tác nhân chỉ đạo”. Nó sử dụng cả hai mắt.

468. The left eye will distribute mental energy, but it is illumined and sublimated mental energy. This type of energy relates also to the planet Venus.

468. Mắt trái sẽ phân phối năng lượng trí tuệ, nhưng đó là năng lượng trí tuệ đã được soi sáng và thăng hoa. Loại năng lượng này cũng liên quan đến Sao Kim.

469. From this perspective, the right eye—“of buddhi”—can be seen as related to Mercury (a buddhic planet) and to Vulcan, the planet of spiritual will.

469. Từ góc nhìn này, có thể thấy mắt phải—“thuộc Bồ đề”—liên quan đến Sao Thủy (một hành tinh Bồ đề) và Vulcan, hành tinh của ý chí tinh thần.

470. The triangle Vulcan, Mercury, Venus will reveal much about spiritual vision at the time of the third initiation.

470. Tam giác Vulcan, Sao Thủy, Sao Kim sẽ mặc khải nhiều điều về linh thị tinh thần vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba.

471. The left eye, in this case, would relate to Venus—in great measure a mental planet—which illumines and the mind and contributes to the sublimation of personality energies (for Venus is one of the alchemical, transmutative planets).

471. Trong trường hợp này, mắt trái hẳn liên quan đến Sao Kim—phần lớn là một hành tinh trí tuệ—vốn soi sáng thể trí và góp phần thăng hoa các năng lượng phàm ngã (vì Sao Kim là một trong những hành tinh mang tính luyện kim và chuyển hoá).

Having these thoughts in mind, I would call your attention to the entire theme of vision, which necessarily underlies our consideration of the points of revelation.

Với những tư tưởng này trong trí, Tôi muốn các bạn chú ý đến toàn bộ chủ đề về khả năng thấy, vốn tất yếu là nền tảng cho việc chúng ta xem xét các điểm mặc khải.

472. This is an obvious point but requires thought. The number five is especially related to vision (and to both Venus and Mercury with their associations with vision).

472. Đây là một điểm hiển nhiên nhưng cần suy ngẫm. Số năm đặc biệt liên quan đến linh thị (và đến cả Sao Kim lẫn Sao Thủy qua những mối liên hệ của hai hành tinh này với linh thị).

473. The faculty of the Divine Vision is to be found upon the fifth subplane of the buddhic plane and the faculty of Realization (obviously vision-related) upon the fifth sub-plane of the atmic plane.

473. Năng lực Linh Thị Thiêng Liêng nằm trên cõi phụ thứ năm của cõi Bồ đề, còn năng lực Chứng Nghiệm (hiển nhiên có liên quan đến linh thị) nằm trên cõi phụ thứ năm của cõi atma.

474. The All-Seeing Eye rests atop the pyramid in the fifth position of that figure.

474. Con Mắt Toàn Kiến ngự trên đỉnh kim tự tháp, ở vị trí thứ năm của hình ấy.

It is simple to recognise that in the head of the developing aspirant there is a mechanism of great potency, capable of controlling the life of the personality. There is:

Dễ dàng nhận ra rằng trong đầu của người chí nguyện đang phát triển có một bộ máy với uy lực lớn lao, có khả năng kiểm soát đời sống phàm ngã. Có:

475. We recall from a reference just cited that the “eye of the soul” is considered to be a point within the highest head center. It also has a higher meaning dissociated from this etheric ‘organ’.

475. Chúng ta nhớ lại từ một đoạn trích vừa dẫn rằng “mắt linh hồn” được xem là một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Nó cũng có một ý nghĩa cao hơn, tách biệt với “cơ quan” dĩ thái này.

476. We are dealing with the point or place from which personality control should arise.

476. Chúng ta đang đề cập đến điểm hay nơi mà sự kiểm soát phàm ngã phải phát xuất.

1. The third eye, not the pineal gland but its etheric correspondence. This is the responsive mechanism to the directing eye of the soul.

1. Con mắt thứ ba, không phải tuyến tùng mà là phần tương ứng dĩ thái của nó. Đây là bộ máy đáp ứng với con mắt điều khiển của linh hồn.

477. This is a point we must truly register. The “third eye” (for all its ambiguity of meaning) is stated to be the etheric correspondence of the pineal gland.

477. Đây là một điểm chúng ta phải thực sự ghi nhận. “Con mắt thứ ba” (dù ý nghĩa của nó còn mơ hồ) được xác định là phần tương ứng dĩ thái của tuyến tùng.

478. Again, it is clear that the “eye of the soul” is not the same as the “third eye”.

478. Một lần nữa, rõ ràng “mắt linh hồn” không đồng nhất với “con mắt thứ ba”.

2. The right eye and the left eye, which take the incoming energy, symbolically speaking, and divide it into two streams which are the correspondence in etheric matter of buddhi-manas.

2. Mắt phải và mắt trái, nói theo nghĩa biểu tượng, tiếp nhận năng lượng tuôn vào và chia nó thành hai dòng, tương ứng với Bồ đề–manas trong vật chất dĩ thái.

479. This is a familiar idea; it suggests the division of unity into polarities.

479. Đây là một ý tưởng quen thuộc; nó gợi đến sự phân chia tính hợp nhất thành các cực.

a. Right eye . . . spiritual energy. Buddhi. Pure reason. Understanding.

a. Mắt phải... năng lượng tinh thần. Bồ đề. Lý trí thuần khiết. Sự thấu hiểu.

480. We see that the “transcendental mind” (buddhi or intuition) is expressed through the right eye.

480. Chúng ta thấy rằng “trí tuệ siêu việt” (Bồ đề hay trực giác) biểu hiện qua mắt phải.

481. The word “spiritual” can mean many things, but in this case it refers to the buddhic plane as an aspect of the spiritual triad.

481. Từ “tinh thần” có thể mang nhiều nghĩa, nhưng trong trường hợp này nó chỉ cõi Bồ đề như một phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần.

482. In a way, this right eye has a relation to solar fire—the fourth of the five fires discussed in A Treatise on White Magic.

482. Theo một cách nào đó, mắt phải này có liên hệ với Lửa Thái dương—ngọn lửa thứ tư trong năm ngọn lửa được bàn đến trong Luận về Chánh Thuật.

483. Since the right eye conveys will as well as love, it can be understood as relating to the “spiritual plane” the atmic plane.

483. Vì mắt phải truyền dẫn cả ý chí lẫn tình thương, nên có thể hiểu rằng nó liên quan đến “cõi tinh thần”, tức cõi atma.

b. Left eye . . . mental energy. Manas. Thought substance.

b. Mắt trái... năng lượng trí tuệ. Manas. Chất liệu tư tưởng.

484. The left eye is related more to the substance of the concrete mind, to the elemental fire of the mental vehicle. We remember however, that this mind can be illumined as the process of sublimating personality energy is pursued.

484. Mắt trái liên quan nhiều hơn đến chất liệu của trí cụ thể, đến lửa hành khí của hiện thể trí tuệ. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng thể trí này có thể được soi sáng khi tiến trình thăng hoa năng lượng phàm ngã tiếp diễn.

It is the conscious use of these energies and the intelligent utilisation of this triple mechanism which is the goal of the initiate up to the third initiation.

Việc sử dụng hữu thức những năng lượng này và vận dụng thông minh bộ máy tam phân này chính là mục tiêu của điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba.

485. There is a moment of recognized development of this triple mechanism at the third initiation.

485. Vào lần điểm đạo thứ ba, có một thời điểm mà sự phát triển của bộ máy tam phân này được nhận biết.

486. Coinciding with this development is the circulation of a triangle of energy uniting the highest head center, the ajna center and the alta major center.

486. Đồng thời với sự phát triển này là sự lưu chuyển của một tam giác năng lượng hợp nhất trung tâm đầu cao nhất, trung tâm ajna và trung tâm alta major.

487. However, the “triple mechanism” here referenced is:

487. Tuy nhiên, “bộ máy tam phân” được đề cập ở đây là:

a. The “third eye” responsive to the “eye of the soul”

a. “Con mắt thứ ba” đáp ứng với “mắt linh hồn”

b. The right eye

b. Mắt phải

c. The left eye

c. Mắt trái

He learns consciously to direct force in the correct manner through the needed organ, doing so as the soul working in full consciousness on its own level, but so fully identified with the personality that the [291] mechanism (now developed within the personality) can be used in the work of the Hierarchy.

Y học cách hữu thức điều khiển mãnh lực đúng đắn qua cơ quan cần thiết, thực hiện điều ấy với tư cách linh hồn hoạt động trong tâm thức trọn vẹn trên cấp độ riêng của mình, nhưng đồng hóa hoàn toàn với phàm ngã đến mức [291] bộ máy này—nay đã phát triển trong phàm ngã—có thể được sử dụng trong công việc của Thánh đoàn.

488. It important to realize that the initiate is functioning or working as the soul “in full consciousness on its own level”.

488. Điều quan trọng là nhận ra rằng điểm đạo đồ đang hoạt động hay làm việc với tư cách linh hồn “trong tâm thức trọn vẹn trên cấp độ riêng của mình”.

489. If the initiate is working from the “eye of the soul”, we must also conclude that the “eye of the soul” is to be found upon soul levels (with one of its lower reflections found within the highest head center and a still lower—shall we say—‘shadow’, in the pineal gland).

489. Nếu điểm đạo đồ đang làm việc từ “con mắt của linh hồn”, chúng ta cũng phải kết luận rằng “con mắt của linh hồn” nằm trên các cấp độ linh hồn (với một trong những phản ảnh thấp của nó nằm trong trung tâm đầu cao nhất, còn một ‘cái bóng’ thấp hơn nữa—chúng ta có thể gọi như vậy—nằm trong tuyến tùng).

Let me now expand the concept further, reminding you of the phrase so oft employed, "the All-seeing Eye."

Giờ đây, hãy để Tôi mở rộng khái niệm này hơn nữa, bằng cách nhắc các bạn về cụm từ thường được dùng: “Con Mắt Thấy Tất Cả”.

490. Having dealt with the microcosm, the Tibetan now looks for analogies upon the level of the Planetary Logos.

490. Sau khi bàn đến tiểu thiên địa, giờ đây Chân sư Tây Tạng tìm kiếm những điểm tương đồng trên cấp độ của Hành Tinh Thượng đế.

This refers to the power of the planetary Logos to see into all parts, aspects and phases (in time and space) of His planetary vehicle, which is His physical body and to identify Himself with all the reactions and sensitivities of His created world and to participate with full knowledge in all events and happenings.

Cụm từ này chỉ quyền năng của Hành Tinh Thượng đế trong việc nhìn vào mọi phần, phương diện và giai đoạn—trong thời gian và không gian—của hiện thể hành tinh của Ngài, vốn là thể xác của Ngài, đồng hóa chính Ngài với mọi phản ứng và tính nhạy cảm của thế giới do Ngài sáng tạo, đồng thời tham dự vào mọi sự kiện và diễn biến với sự hiểu biết đầy đủ.

491. We are given a kind of definition of the “All Seeing Eye”. Let us tabulate for clarity. The “All Seeing Eye” allows the Planetary Logos —

491. Chúng ta được cung cấp một dạng định nghĩa về “Con Mắt Toàn Kiến”. Hãy lập bảng liệt kê cho rõ ràng. “Con Mắt Toàn Kiến” cho phép Hành Tinh Thượng đế —

a. To see into all parts, aspects and phases (in time and space) of His planetary vehicle (i.e., His physical body). This physical body naturally includes more planes than the dense physical plane.

a. Nhìn thấu mọi phần, mọi phương diện và mọi giai đoạn (trong thời gian và không gian) của hiện thể hành tinh của Ngài (tức là thể xác của Ngài). Đương nhiên, thể xác này bao gồm nhiều cõi hơn là chỉ cõi hồng trần đậm đặc.

b. To identify Himself with the reactions and sensitivities of His created world

b. Đồng hoá chính Ngài với những phản ứng và khả năng cảm nhận của thế giới do Ngài sáng tạo

c. To participate with full knowledge in all events and happenings occurring within His created world.

c. Tham dự với sự hiểu biết trọn vẹn vào mọi sự kiện và diễn biến xảy ra trong thế giới do Ngài sáng tạo.

Through what medium does He, on His own high levels, do this? Through what mechanism does He thus "see"? What is His organ of vision? What is the nature of the sight whereby He contacts the seven planes of His manifested universe? What is the organ, employed by Him, which corresponds to the third eye in man?

Trên những cấp độ cao của mình, Ngài thực hiện điều này qua trung gian nào? Ngài “thấy” như vậy qua bộ máy nào? Cơ quan thị giác của Ngài là gì? Bản chất của khả năng thấy mà qua đó Ngài tiếp xúc với bảy cõi trong vũ trụ biểu hiện của mình là gì? Ngài sử dụng cơ quan nào tương ứng với con mắt thứ ba ở con người?

492. Here are questions of real importance leading up to a third Point of Revelation.

492. Đây là những câu hỏi thực sự quan trọng, dẫn đến Điểm Mặc Khải thứ ba.

The answer is as follows: the Monad is to the planetary Logos what the third eye is to man;

Câu trả lời như sau: Chân thần có quan hệ với Hành Tinh Thượng đế tương tự như con mắt thứ ba có quan hệ với con người;

493. DK expands on this idea leaving its meaning to dawn upon us—gradually.

493. Chân sư DK mở rộng ý tưởng này, để ý nghĩa của nó dần dần hé sáng trong chúng ta.

The Monad is to the planetary Logos what the third eye is to man, esoterically understood. This is a most abstruse statement for all of you and will require much concentrated reflection and serene meditation. The vision of the solar Logos and of the planetary Logos is closely related to intention and purpose, and is the cause of the Plan. It is, however, beyond and different to the Plan. I leave this thought for your consideration and meditation, but can assure you that you will come to no easy or early comprehension. (DINA II 310)

Hiểu theo nghĩa huyền bí, đối với Hành Tinh Thượng đế, chân thần giữ vai trò như con mắt thứ ba đối với con người. Đây là một phát biểu hết sức thâm áo đối với tất cả các bạn, đòi hỏi nhiều suy ngẫm tập trung và tham thiền tĩnh lặng. Tầm nhìn của Thái dương Thượng đế và của Hành Tinh Thượng đế có liên hệ mật thiết với chủ định và mục đích, và là nguyên nhân của Thiên Cơ. Tuy nhiên, tầm nhìn ấy vượt ra ngoài và khác với Thiên Cơ. Tôi để lại tư tưởng này cho các bạn suy xét và tham thiền, nhưng có thể quả quyết với các bạn rằng các bạn sẽ không dễ dàng hay sớm thấu hiểu được nó. (DINA II 310)

494. The Monad is a planetary logoic “eye”. We must ponder the Monad as an “eye”.

494. Chân thần là một “con mắt” của Hành Tinh Thượng đế. Chúng ta phải suy ngẫm về chân thần như một “con mắt”.

495. If the Monad in relation to the Planetary Logos corresponds to the “third eye” in relation man, it is very important that we decide upon the nature of this “third eye”, and its relation to the ajna center or its relation to a combination of centers (head, ajna and alta major).

495. Nếu chân thần trong mối quan hệ với Hành Tinh Thượng đế tương ứng với “con mắt thứ ba” trong mối quan hệ với con người, thì điều rất quan trọng là chúng ta phải xác định bản chất của “con mắt thứ ba” này, cùng mối quan hệ của nó với trung tâm ajna hoặc với một tổ hợp các trung tâm (đầu, ajna và alta major).

496. As the “third eye” in man is an evocation arising from a triple relationship among the human head center, ajna center and alta major center, is the Monad also an evocation arising from a triple relationship between the head center, ajna center and alta major center of the Planetary Logos?

496. Vì “con mắt thứ ba” ở con người là kết quả gợi lên từ mối quan hệ tam phân giữa trung tâm đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major của con người, liệu chân thần cũng là kết quả gợi lên từ mối quan hệ tam phân giữa trung tâm đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major của Hành Tinh Thượng đế chăng?

this will become clearer to you if you will bear in mind that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane.

điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn với các bạn nếu ghi nhớ rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

497. The number two like the number five is related to vision. The second and fifth rays are most related to light. Light is the second term in the fourfold sequence: vibration, light, sound, color.

497. Số hai cũng như số năm đều liên quan đến thị giác. Cung hai và cung năm có liên hệ mật thiết nhất với ánh sáng. Ánh sáng là yếu tố thứ hai trong chuỗi tứ phân: rung động, ánh sáng, âm thanh, màu sắc.

498. Interestingly, the heart center is on the second level of the etheric planes, and so, from a more cosmic perspective, we can expect that centers to be found on the second of the cosmic physical ethers to be related to the theme of the heart as well as to the eye.

498. Điều thú vị là trung tâm tim nằm trên cấp độ thứ hai của các cõi dĩ thái; vì vậy, từ một góc nhìn mang tính vũ trụ hơn, chúng ta có thể dự kiến rằng những trung tâm nằm trên cấp dĩ thái thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ sẽ liên quan đến chủ đề trái tim cũng như con mắt.

499. It would seem, then, that the Monad is a kind of “heart” as well as “eye”.

499. Vậy thì dường như chân thần vừa là một loại “trái tim”, vừa là một “con mắt”.

The monadic world—so-called—is His organ of vision;

Cái gọi là thế giới chân thần chính là cơ quan thị giác của Ngài;

500. The monadic world is on the second sub-plane of the cosmic physical plane—hence its relation to vision.

500. Thế giới chân thần nằm trên cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ—do đó có mối liên hệ với thị giác.

501. The two eyes are associated with the second chakra (the ajna) and the one eye with the first chakra (the highest head center)

501. Hai con mắt gắn với luân xa thứ hai (ajna), còn con mắt duy nhất gắn với luân xa thứ nhất (trung tâm đầu cao nhất)

502. It must not be forgotten, however, that second world is also related to Akasha and, thus, to sound.

502. Tuy nhiên, không được quên rằng thế giới thứ hai cũng liên quan đến Akasha, và do đó, liên quan đến âm thanh.

503. The concepts of eye, heart, sound and light have a correlation that must be fathomed.

503. Các khái niệm con mắt, trái tim, âm thanh và ánh sáng có một mối tương quan mà chúng ta phải thấu tỏ.

it is also His directing agent for the life and light which must be poured into the phenomenal world.

đó cũng là tác nhân điều khiển của Ngài đối với sự sống và ánh sáng phải được tuôn vào thế giới hiện tượng.

504. The Monad is, in many ways, an agent of Planetary Logos. In a parallel manner, can the “third eye” of man be considered his agent?

504. Theo nhiều phương diện, chân thần là một tác nhân của Hành Tinh Thượng đế. Tương tự, liệu có thể xem “con mắt thứ ba” của con người là tác nhân của y không?

505. The eye, in general, has a receptive as well as directive function. These, it seems, are its two major functions. Perhaps the receptive function can be further divided into the energies of

505. Nhìn chung, con mắt có chức năng tiếp nhận cũng như điều khiển. Dường như đây là hai chức năng chính của nó. Có lẽ có thể phân chia thêm chức năng tiếp nhận thành các năng lượng của

a. Recognition of identification

a. Sự nhận biết sự đồng hoá

b. The power of manipulation and arrangement creating activation (somewhat related to the directive function)

b. Quyền năng vận dụng và sắp xếp để tạo ra sự kích hoạt (phần nào liên quan đến chức năng điều khiển)

506. The directing function determines the destination of the sent. It is related to will and compels. “Monadic destiny” is a related concept.

506. Chức năng điều khiển xác định đích đến của những gì được gửi đi. Nó liên quan đến ý chí và có sức thúc buộc. “Thiên mệnh chân thần” là một khái niệm có liên quan.

507. Such a division between directive and receptive functions would correlate analogously with the division of the second ray into two major parts and the second part into two more parts (cf. DINA II 518)

507. Sự phân chia như vậy giữa chức năng điều khiển và chức năng tiếp nhận có mối tương quan tương đồng với việc phân chia cung hai thành hai phần chính, rồi phần thứ hai lại chia thành hai phần nữa (xem DINA II 518)

508. By extension we can infer that the “eye of the soul” and its reflection, the “third eye” are also both receivers and a directors.

508. Suy rộng ra, chúng ta có thể suy luận rằng “con mắt của linh hồn” và phản ảnh của nó là “con mắt thứ ba” cũng vừa là cơ quan tiếp nhận, vừa là cơ quan điều khiển.

509. The function of the eye, in general, determines the nature and scope of the field of consciousness and influences in various ways the contents of the field of consciousness.

509. Nhìn chung, chức năng của con mắt xác định bản chất và phạm vi của trường tâm thức, đồng thời ảnh hưởng theo nhiều cách đến những nội dung trong trường tâm thức ấy.

In the same way, the Monad is to the personality in the three worlds, also the source of its life and light.

Cũng theo cách ấy, Chân thần là nguồn sự sống và ánh sáng của phàm ngã trong ba cõi giới.

510. It is not here said that the Monad is the source of love for the personality (though this is necessarily true in a deeper sense), for the Monad is a “Lord of ceaseless, persevering devotion”.

510. Ở đây không nói rằng chân thần là nguồn tình thương cho phàm ngã (dù điều này tất yếu đúng theo một ý nghĩa sâu xa hơn), vì chân thần là một “Chúa Tể của lòng sùng tín không ngừng và kiên trì”.

The "Lords of Knowledge and Compassion and of ceaseless persevering Devotion" (EP II 92)

Các “Chúa Tể của Tri Thức và Lòng Từ Bi, cùng Lòng Sùng Tín không ngừng và kiên trì” (EP II 92)

. These monads, who are ourselves, are Lords of Persevering Ceaseless Devotion —devotion even unto death. (EA 98)

. Những chân thần này, vốn chính là chúng ta, là các Chúa Tể của Lòng Sùng Tín Kiên Trì Không Ngừng—sùng tín ngay cả đến chết. (EA 98)

511. It is through the many Monads (and the monadic world in general) that the Planetary Logos ‘sees’ and directs processes in the lower worlds.

511. Chính qua vô số chân thần (và thế giới chân thần nói chung) mà Hành Tinh Thượng đế ‘nhìn thấy’ và điều khiển các tiến trình trong những cõi thấp.

512. Energy is directed into the lower worlds via the Monad. This means that every personality (however imperceptibly at first) receives this directed energy from the Monad which is, as it here states, “the source of its life and light”.

512. Năng lượng được điều khiển đi vào các cõi thấp qua chân thần. Điều này có nghĩa là mọi phàm ngã (dù thoạt đầu khó nhận thấy đến đâu) đều tiếp nhận năng lượng được điều khiển này từ chân thần, vốn là “nguồn sự sống và ánh sáng của phàm ngã”, như đã nêu ở đây.

513. We must never forget that the Monad substands the Solar Angel and has not entirely relinquished its role of sustaining the personality to the Solar Angel. The sutratma or “life thread” comes from the Monad.

513. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng chân thần là nền tảng nâng đỡ Thái dương Thiên Thần và chưa hoàn toàn giao lại cho Thái dương Thiên Thần vai trò duy trì phàm ngã của mình. Sutratma hay “sinh mệnh tuyến” bắt nguồn từ chân thần.

There are, therefore, three organs of revelation, as far as the spiritual man is concerned:

Vì vậy, đối với con người tinh thần, có ba cơ quan mặc khải:

514. We note that we are speaking in terms of the “spiritual man”, and what this type of “man” sees.

514. Chúng ta lưu ý rằng ở đây đang nói về “con người tinh thần”, cùng những gì mà loại “con người” này nhìn thấy.

515. We might well ask, “What is the spiritual man”? In a sense it is the very essence of the Monad, itself.

515. Chúng ta hoàn toàn có thể hỏi: “Con người tinh thần là gì?” Theo một nghĩa nào đó, đó chính là tinh tuý của chính chân thần.

1. The human eye, giving "in-sight" into the phenomenal world, letting in the light, and bringing revelation of the environment.

1. Con mắt con người, đem lại “cái nhìn thấu vào” thế giới hiện tượng, tiếp nhận ánh sáng và đem lại sự mặc khải về môi trường xung quanh.

516. The human eye correlates (as an organ of revelation) with the third aspect of divinity

516. Con mắt con người tương quan (với tư cách một cơ quan mặc khải) với phương diện thứ ba của thiên tính

517. Let us tabulate its functions:

517. Hãy lập bảng liệt kê các chức năng của nó:

a. The human eye gives “in-sight” into the phenomenal world

a. Con mắt con người đem lại “cái nhìn thấu vào” thế giới hiện tượng

b. The human eye lets in the light in relation to the phenomenal world

b. Con mắt con người đón nhận ánh sáng trong mối liên hệ với thế giới hiện tượng

c. The human eye brings revelation of the environment

c. Con mắt con người đem lại sự mặc khải về môi trường xung quanh

518. By the “phenomenal world” is meant the etheric-physical plane.

518. “Thế giới hiện tượng” ở đây hàm ý cõi dĩ thái–hồng trần.

2. The eye of the soul, bringing revelation of the nature of the interior worlds, of the kingdom of God and of the divine plan.

2. Con mắt của linh hồn, đem lại sự mặc khải về bản chất của các thế giới bên trong, về Thiên Giới và về Thiên Cơ.

519. The “eye of the soul” is probably not strictly etheric as we have stated, but seems to have its higher correspondence on soul levels. At least a number of references suggest this:

519. “Con mắt của linh hồn” có lẽ không hoàn toàn thuộc dĩ thái như chúng ta đã nêu, mà dường như có đối phần cao hơn trên các cấp độ linh hồn. Ít nhất có một số đoạn tham khảo gợi ý điều này:

The third or spiritual eye has several functions. Amongst others, it is the organ of illumination, the unveiled eye of the soul, through which light and illumination comes into the mind, and thus the entire lower life becomes irradiated. (TCF 974)

Con mắt thứ ba hay con mắt tinh thần có nhiều chức năng. Trong số đó, nó là cơ quan soi sáng, là con mắt của linh hồn đã được vén màn, qua đó ánh sáng và sự soi sáng đi vào thể trí, và nhờ vậy toàn bộ đời sống thấp được chiếu rọi. (TCF 974)

Revelation is a generic term covering all the responses to the activities of the eye of the mind, the eye of the soul, and the “insight” of the Universal Mind which contact with the Monad gives. (DINA II 56)

Sự mặc khải là một thuật ngữ tổng quát bao quát mọi đáp ứng đối với các hoạt động của con mắt của thể trí, con mắt của linh hồn, và “sự thấu thị” của Vũ Trụ Trí mà sự tiếp xúc với chân thần đem lại. (DINA II 56)

This is a safe and necessary process provided it is the outcome of the awakening of the man on his own plane, and the turning of the eye of the soul, via the mind and the third eye, upon these planes. (LOS 258)

Đây là một tiến trình an toàn và cần thiết, miễn là nó phát sinh từ sự thức tỉnh của con người trên cõi riêng của y, và từ việc hướng con mắt của linh hồn, qua thể trí và con mắt thứ ba, vào các cõi này. (LOS 258)

520. The “eye of the soul” reveals three factors—

520. “Con mắt của linh hồn” mặc khải ba yếu tố—

a. It reveals the nature of the interior worlds (which we can presume to be the subtle worlds of the astral and mental planes).

a. Nó mặc khải bản chất của các thế giới bên trong (mà chúng ta có thể cho là những thế giới vi tế của cõi cảm dục và cõi trí).

b. It reveals the “kingdom of God”. This is, minimally, the world in which the causal body has its residence, the higher mental plane. The "eye of the soul" also reveals the manner in which the "Kingdom of God" reveals itself through the eighteen lower sub-planes.

b. Nó mặc khải “Thiên Giới”. Ít nhất, đây là thế giới nơi thể nguyên nhân trú ngụ, tức cõi thượng trí. “Con mắt của linh hồn” cũng mặc khải cách thức “Thiên Giới” tự hiển lộ qua mười tám cõi phụ thấp.

c. It also reveals the “divine plan” which cannot really be understood unless the mind is illumined by the soul and, even more, by the spiritual triad.

c. Nó cũng mặc khải “Thiên Cơ”, điều mà chúng ta không thể thực sự thấu hiểu trừ khi linh hồn, và hơn nữa là Tam Nguyên Tinh Thần, soi sáng thể trí.

3. The centre within the One Life which we call by the unmeaning word "Monad," the spark within the one Flame.

3. Trung tâm trong Sự Sống Duy Nhất mà chúng ta gọi bằng từ “Chân thần” không chuyển tải được ý nghĩa, tia lửa trong Ngọn Lửa duy nhất.

521. The Monad is also an “organ of revelation”. This bears pondering.

521. Chân thần cũng là một “cơ quan mặc khải”. Điều này đáng để suy ngẫm.

522. DK calls the term “Monad” an “unmeaning word”, and yet He uses it a great deal, probably because no other more suitable word is available to represent this highest spiritual center in the human being. At least this word conveys the oneness perceived by the Monad (as it perceives all things in and as itself).

522. Chân sư DK gọi thuật ngữ “Chân thần” là một “từ không chuyển tải được ý nghĩa”, thế nhưng Ngài vẫn sử dụng nó rất nhiều, có lẽ vì không có từ nào khác thích hợp hơn để biểu đạt trung tâm tinh thần cao nhất này trong con người. Ít nhất, từ này chuyển tải được tính nhất thể mà chân thần nhận biết (vì chân thần nhận biết mọi sự ở trong mình và như chính mình).

In the final stages of initiation, the Monad becomes the revealer of the purpose of God, of the will of the planetary Logos and of the door which opens on to the Way of the Higher Evolution.

Trong những giai đoạn cuối của điểm đạo, Chân thần trở thành nguồn mặc khải thiên ý của Thượng đế, ý chí của Hành Tinh Thượng đế và cánh cửa mở vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

523. Let us tabulate the three revelations for which the Monad is responsible during the final stages of initiation:

523. Hãy lập bảng liệt kê ba sự mặc khải mà chân thần đảm nhiệm trong những giai đoạn cuối của điểm đạo:

a. It is responsible for the revelation of the purpose of God

a. Chân thần đảm nhiệm việc mặc khải mục đích của Thượng đế

b. It is responsible for the revelation of the will of the Planetary Logos

b. Chân thần đảm nhiệm việc mặc khải ý chí của Hành Tinh Thượng đế

c. It is responsible for the revelation of the door which opens on to the Way of the Higher Evolution

c. Chân thần đảm nhiệm việc mặc khải cánh cửa mở vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu

524. To the extent that a human being really understands something about these three revelations, he is seeing life via the Monad.

524. Một người thực sự thấu hiểu được phần nào về ba sự mặc khải này đến mức nào, thì y đang nhìn sự sống qua chân thần đến mức ấy.

525. We have only to ponder upon which of these nine (forgoing) types of revelation are presented to our consciousness in order to determine through which organ of revelation (and to what degree) we are receiving revelation.

525. Chúng ta chỉ cần suy ngẫm xem những loại mặc khải nào trong chín loại (nêu trên) đang hiện diện trong tâm thức của chúng ta, là có thể xác định chúng ta đang tiếp nhận sự mặc khải qua cơ quan mặc khải nào (và đến mức độ nào).

526. We should ponder deeply over the nature of the revelation of the three “eyes”. They are responsible for mediating to the “spiritual man” ever-deeper layers of perception.

526. Chúng ta nên suy ngẫm sâu xa về bản chất của sự mặc khải từ ba “con mắt”. Chúng đảm nhiệm việc truyền đến “con người tinh thần” những tầng nhận thức ngày càng sâu hơn.

527. It must be realized that the “spiritual man” (in the deepest sense) will remain as it is long after present monadic limitations on the monadic plane are overcome.

527. Cần nhận ra rằng “con người tinh thần” (theo nghĩa sâu xa nhất) sẽ vẫn giữ nguyên bản chất của mình rất lâu sau khi những giới hạn chân thần hiện tại trên cõi chân thần đã được vượt qua.

528. What any center of contact may touch—that, it can reveal. So we must think carefully of the kind of contacts possessed by each of these three organs of revelation.

528. Bất kỳ trung tâm tiếp xúc nào có thể chạm đến điều gì—thì điều ấy, trung tâm đó có thể mặc khải. Vì vậy, chúng ta phải suy xét cẩn thận về loại tiếp xúc mà mỗi cơ quan trong ba cơ quan mặc khải này có được.

This Way leads a man off the cosmic physical plane on to the cosmic [292] astral plane, and therefore into the world of divine sentiency, of which we can have no possible understanding, but for which the development of consciousness has given us the initial steps.

Con đường này dẫn con người ra khỏi cõi hồng trần vũ trụ để đến cõi [292] cảm dục vũ trụ, và do đó đi vào thế giới của cảm thụ thiêng liêng, điều mà chúng ta hoàn toàn không thể thấu hiểu, nhưng sự phát triển tâm thức đã cho chúng ta những bước đầu tiên để hướng đến.

529. The cosmic astral plane is the “world of divine sentiency”, just as the systemic astral plane is, for us, the ‘world of sentiency’.

529. Cõi cảm dục vũ trụ là “thế giới của khả năng cảm nhận thiêng liêng”, cũng như cõi cảm dục của hệ mặt trời là ‘thế giới của khả năng cảm nhận’ đối với chúng ta.

530. Touch is the sense related to the astral plane and, in many respects, consciousness is touch.

530. Xúc giác là giác quan liên quan đến cõi cảm dục và, theo nhiều phương diện, tâm thức là sự tiếp xúc.

Man has learnt to use the physical eye and to find his way, by its means, around and through his environment.

Con người đã học cách sử dụng con mắt hồng trần và nhờ nó tìm đường quanh và xuyên qua môi trường của mình.

531. An eye (of some kind) is the organ through which we find our way in any environment. Eyes of a higher nature reveal the mode of release from that which lesser eyes have revealed and with which such lesser eyes are preoccupied. Through what “eyes” do we presently see?

531. Một con mắt (thuộc loại nào đó) là cơ quan qua đó chúng ta tìm đường đi trong bất kỳ môi trường nào. Những con mắt có bản chất cao hơn mặc khải phương thức giải thoát khỏi những gì các con mắt thấp hơn đã mặc khải và đang mải chú tâm vào. Hiện nay, chúng ta đang nhìn qua những “con mắt” nào?

The stage in human evolution wherein he learnt first to "see" lies far behind, but when man saw and could focus and direct his course by sight, it marked a stupendous unfoldment and his first real entrance upon the Path of Light. Ponder on this.

Giai đoạn trong tiến hóa nhân loại khi con người lần đầu học cách “thấy” đã lùi xa về quá khứ, nhưng khi con người thấy được, có thể tập trung và định hướng đường đi của mình bằng thị giác, điều đó đánh dấu một sự khai mở phi thường và lần đầu tiên y thực sự bước vào Con Đường Ánh Sáng. Hãy suy ngẫm điều này.

532. Is DK speaking of individualized animal man or of pre-individualized animal man? As we read along we will see that it is not easy to answer this.

532. Chân sư DK đang nói về người thú đã biệt ngã hóa hay người thú chưa biệt ngã hóa? Khi đọc tiếp, chúng ta sẽ thấy không dễ trả lời câu hỏi này.

533. It would seem, however, that the period of individualization was, more or less, that in which animal man (whether pre-individualized or individualized) was first learning to see physically.

533. Tuy nhiên, dường như thời kỳ biệt ngã hóa ít nhiều cũng là thời kỳ người thú (dù chưa biệt ngã hóa hay đã biệt ngã hóa) lần đầu học cách nhìn thấy bằng mắt hồng trần.

534. Our planet is in a much different condition than it was millions of years ago (at the time of individualization) but it must be remarked that there are many kind of animals (all of them of course, not individualized) that can see.

534. Hành tinh của chúng ta hiện ở trong một tình trạng rất khác so với hàng triệu năm trước (vào thời kỳ biệt ngã hóa), nhưng cần lưu ý rằng có nhiều loài động vật (đương nhiên tất cả đều chưa biệt ngã hóa) có thể nhìn thấy.

535. When we recognize, however, that it may be some period of time before the human infant can focus its eyes, we may understand that the development of the sense of physical sight may have occurred somewhat before that period of ‘coming into light’ which we call “individualization”.

535. Tuy nhiên, khi nhận ra rằng trẻ sơ sinh có thể phải mất một thời gian mới có thể tập trung đôi mắt, chúng ta có thể thấu hiểu rằng sự phát triển của thị giác hồng trần có lẽ đã diễn ra phần nào trước thời kỳ ‘bước vào ánh sáng’ mà chúng ta gọi là “biệt ngã hóa”.

536. We may imagine that the abilities of focusing the eyes and directing one’s course in the environment are two distinct abilities, the first, it would necessarily seem, preceding the second.

536. Chúng ta có thể hình dung rằng khả năng tập trung đôi mắt và khả năng định hướng đường đi trong môi trường là hai khả năng riêng biệt; dường như khả năng thứ nhất tất yếu có trước khả năng thứ hai.