Trích nội dung chương
It has also interior repercussions and was indeed the result of an invocative interplay between inner centres of power and the groping creature in the phenomenal world. Nó cũng có những tác động bên trong và thực ra là kết quả của sự tương tác khẩn cầu giữa các trung tâm quyền năng bên trong và sinh vật đang dò dẫm trong thế giới hiện tượng.
It has also interior repercussions and was indeed the result of an invocative interplay between inner centres of power and the groping creature in the phenomenal world.
Nó cũng có những tác động bên trong và thực ra là kết quả của sự tương tác khẩn cầu giữa các trung tâm quyền năng bên trong và sinh vật đang dò dẫm trong thế giới hiện tượng.
537. The inner faculty produces the outer organ. This we learn impressively in The Light of the Soul.
537. Năng lực bên trong tạo ra cơ quan bên ngoài. Chúng ta học được điều này một cách đầy ấn tượng trong Ánh sáng của Linh hồn.
538. DK seems to be saying that ‘learning to see’ arose from the interplay between “inner centres of power” (presumably inherent within early animal-man) and his outer form.
538. Chân sư DK dường như đang nói rằng việc ‘học cách nhìn thấy’ phát sinh từ sự tương tác giữa “các trung tâm quyền năng bên trong” (có lẽ vốn có trong người thú thời sơ khai) và hình tướng bên ngoài của y.
539. We gain some insight into the presumably blind state of early man by hearing him called a “groping creature”. It may also be possible, however, (as we can gather from subsequent references) that the appearance of sight actually antedated individualization.
539. Khi nghe gọi con người thời sơ khai là một “sinh vật đang mò mẫm”, chúng ta phần nào hiểu được trạng thái được cho là mù loà của y. Tuy nhiên, cũng có thể (như chúng ta có thể suy ra từ những đoạn tham khảo tiếp theo) rằng sự xuất hiện của thị giác thực ra có trước sự biệt ngã hóa.
Man is now learning to use the eye of the soul, and as he does so he brings its correspondence in the head also into functioning activity; this produces fusion and identification, and brings the pineal gland into action.
Hiện nay, con người đang học cách sử dụng con mắt của linh hồn, và khi làm như vậy, y cũng đưa phần tương ứng của nó trong đầu vào hoạt động; điều này tạo ra sự dung hợp và đồng hóa, đồng thời đưa tuyến tùng vào hoạt động.
540. Here we have an important and explicit statement. The “eye of the soul” has a definite correspondence in the head. We have heard the "eye of the soul" called a “point within the highest head center”.
540. Ở đây, chúng ta có một phát biểu quan trọng và rõ ràng. “Con mắt của linh hồn” có một bộ phận tương ứng xác định trong đầu. Chúng ta đã nghe “con mắt của linh hồn” được gọi là một “điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất”.
541. Does this mean that the “third eye” or the etheric eye surrounding the pineal gland is the correspondence of the "eye of the soul" within the head, OR that the "eye of the soul" is located on soul levels and that which is usually called the "eye of the soul" within the head center is really the “correspondence within the head” of the "eye of the soul" on soul levels?
541. Điều này có nghĩa là “con mắt thứ ba”, hay con mắt dĩ thái bao quanh tuyến tùng, là bộ phận tương ứng của “con mắt của linh hồn” trong đầu, HAY “con mắt của linh hồn” nằm trên các cấp độ linh hồn, còn cái thường được gọi là “con mắt của linh hồn” bên trong trung tâm đầu thực ra là “bộ phận tương ứng trong đầu” của “con mắt của linh hồn” trên các cấp độ linh hồn?
542. In this same section, the pineal gland, per se, is mentioned. From the manner in which the section is written, we cannot tell if DK means to say that the “pineal gland” is the correspondence in the head to the "eye of the soul"; whether the “third eye” etherically focussed in the are of the pineal gland is the correspondence in the head to the "eye of the soul"; or whether there is in the higher head center another etheric correspondence to the "eye of the soul".
542. Trong cùng phần này, chính tuyến tùng được đề cập đến. Từ cách viết của phần này, chúng ta không thể biết liệu Chân sư DK muốn nói rằng “tuyến tùng” là bộ phận tương ứng trong đầu của “con mắt của linh hồn”; hay “con mắt thứ ba”, tập trung trên bình diện dĩ thái ở vùng tuyến tùng, là bộ phận tương ứng trong đầu của “con mắt của linh hồn”; hay trong trung tâm đầu cao có một bộ phận dĩ thái khác tương ứng với “con mắt của linh hồn”.
543. Of course, the pineal gland is, in a way, such a correspondence but there should also be an etheric counterpart to the pineal gland and it may be this which is to be considered the "eye of the soul" within the highest head center.
543. Dĩ nhiên, theo một nghĩa nào đó, tuyến tùng là một bộ phận tương ứng như vậy, nhưng cũng phải có một đối phần dĩ thái của tuyến tùng, và có thể chính đối phần này nên được xem là “con mắt của linh hồn” bên trong trung tâm đầu cao nhất.
544. A short compilation on the "eye of the soul" shows it to be used in at least two distinct ways—one of them referring to a subtle center of focus on soul levels; the other referring to a point within the highest head center. If both “eyes” exist, they are surely closely related.
544. Một tuyển tập ngắn về “con mắt của linh hồn” cho thấy thuật ngữ này được sử dụng theo ít nhất hai cách riêng biệt—một cách chỉ một trung tâm tập trung vi tế trên các cấp độ linh hồn; cách kia chỉ một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Nếu cả hai “con mắt” đều tồn tại, chúng chắc chắn có liên hệ mật thiết với nhau.
545. Now that man is learning to bring the "eye of the soul" into activity, he is, at the same time, learning to look out upon the subtle and dense world from the perspective of the soul, and from soul levels.
545. Giờ đây, khi con người đang học cách đưa “con mắt của linh hồn” vào hoạt động, đồng thời y cũng đang học cách nhìn ra thế giới vi tế và đậm đặc từ góc nhìn của linh hồn, và từ các cấp độ linh hồn.
The major result, however, is to enable the disciple to become aware, whilst in the physical body, of a new range of contacts and perceptions.
Tuy nhiên, kết quả chủ yếu là giúp đệ tử nhận biết một phạm vi tiếp xúc và nhận thức mới trong khi vẫn ở trong thể xác.
546. This is the practical result of being able to see through the "eye of the soul".
546. Đây là kết quả thực tiễn của khả năng nhìn qua “con mắt của linh hồn”.
547. The “things of the Kingdom of God” can be perceived in relation to any of the lower eighteen sub-planes. To perceive the "Kingdom of Souls" does not mean that one has to be a disembodied soul no longer incarnated within the eighteen lower sub-planes.
547. Có thể nhận biết “những điều thuộc Thiên Giới” trong mối liên hệ với bất kỳ cõi nào trong mười tám cõi phụ thấp. Nhận biết “Giới Linh Hồn” không có nghĩa là phải là một linh hồn thoát xác, không còn nhập thể trong mười tám cõi phụ thấp.
This marks a crisis in his unfoldment of as drastic and important a nature as the attaining of physical sight and the use of the physical eye was in the unfoldment of the curious creature which antedated the most primitive animal man.
Điều này đánh dấu một cuộc khủng hoảng trong sự khai mở của y, có tính chất sâu sắc và quan trọng ngang với việc đạt được thị giác hồng trần và sử dụng con mắt hồng trần trong sự khai mở của sinh vật kỳ lạ đã xuất hiện trước người thú nguyên thủy nhất.
548. From this section it becomes apparent that the unfoldment of the sense of sight unfolded in a “curious creature which antedated the most primitive animal man”. We may infer that this creature was not yet individualized, as we may even question whether “most primitive animal man” had, himself, achieved individualization.
548. Từ phần này, có thể thấy rõ rằng thị giác đã khai mở ở một “sinh vật kỳ lạ vốn xuất hiện trước người thú nguyên thuỷ nhất”. Chúng ta có thể suy ra rằng sinh vật này chưa biệt ngã hóa, vì ngay cả việc chính “người thú nguyên thuỷ nhất” đã đạt đến biệt ngã hóa hay chưa, chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi.
549. There is some ambiguity in the words “animal man”. The use of the word “man” (in “animal man”) makes us alert to the possibility that individualization may have occurred at approximately the time when sight appeared, but DK could also be referring to a man-like creature of the times which had not been individualized. In fact, the odds are that this is the case.
549. Cụm từ “người thú” có phần mơ hồ. Việc sử dụng từ “người” (trong “người thú”) khiến chúng ta lưu ý đến khả năng sự biệt ngã hóa có thể đã xảy ra vào khoảng thời gian thị giác xuất hiện, nhưng Chân sư DK cũng có thể đang nói đến một sinh vật giống người vào thời ấy, chưa biệt ngã hóa. Thực ra, nhiều khả năng là như vậy.
550. In any case, the attaining of sight (whether physical or—during the experience of the fifth kingdom—subtle) marks a crisis. Sight reveals to consciousness an entirely new world in relation to which adaptation must occur. When sight first appears there are revealed many more factors which must be reckoned with. This causes complication and difficulty.
550. Dù sao đi nữa, việc đạt được thị giác (dù là thị giác hồng trần hay—trong trải nghiệm của giới thứ năm—thị giác vi tế) đều đánh dấu một cuộc khủng hoảng. Thị giác mặc khải cho tâm thức một thế giới hoàn toàn mới mà nó phải thích nghi. Khi thị giác lần đầu xuất hiện, nhiều yếu tố hơn hẳn được mặc khải và phải được tính đến. Điều này gây ra sự phức tạp và khó khăn.
551. We gather that those human beings who are beginning to see through the "eye of the soul" (and both possible types must necessarily reveal subtle worlds) are passing through an internal crisis of reception as they attempt to ‘navigate’ new seas of consciousness.
551. Chúng ta hiểu rằng những người đang bắt đầu nhìn qua “mắt của linh hồn” (và cả hai loại mắt có thể có đều tất yếu phải làm hiển lộ các thế giới vi tế) đang trải qua một cuộc khủng hoảng tiếp nhận bên trong khi họ cố gắng ‘định hướng’ trên những vùng biển tâm thức mới.
Things unknown can now be sensed, searched for and finally seen; a new world of being stands apparent, which has always been present though never before known; the life, nature, quality and the phenomena of the kingdom of souls, or of the Hierarchy, become as patent to his vision and as real as is the world of the five physical senses.
Những điều chưa biết nay có thể được cảm nhận, tìm kiếm và cuối cùng nhìn thấy; một thế giới hiện hữu mới trở nên rõ ràng, vốn luôn có mặt nhưng trước đó chưa bao giờ được biết đến; sự sống, bản chất, phẩm tính và những hiện tượng của giới linh hồn, hay của Thánh đoàn, trở nên hiển nhiên đối với tầm nhìn của y và chân thực như thế giới của năm giác quan hồng trần.
552. Revelation is of that which has always been.
552. Sự mặc khải là về điều vốn luôn hiện hữu.
553. With these new revelations the meaning of reality is utterly changed.
553. Với những sự mặc khải mới này, ý nghĩa của thực tại hoàn toàn thay đổi.
554. In speaking of the “phenomena of the kingdom of souls, or of the Hierarchy” DK is speaking, at least, of a revelation which concerns the higher mental plane and, as well, the world of the buddhic plane and perhaps atmic planes.
554. Khi nói về “các hiện tượng của giới linh hồn, hay của Thánh đoàn”, Chân sư DK ít nhất đang nói đến một sự mặc khải liên quan đến cõi thượng trí, cũng như thế giới của cõi Bồ đề và có lẽ cả các cõi atma.
Then later, upon the Path of Initiation, the initiate develops his tiny correspondence to the planetary "All-seeing Eye." He unfolds the powers of the Monad.
Rồi về sau, trên Con Đường Điểm Đạo, điểm đạo đồ phát triển phần tương ứng nhỏ bé của mình với “Con Mắt Thấy Tất Cả” của hành tinh. Y khai mở các quyền năng của Chân thần.
555. The Monad (considered as an “eye”) is always present but “undeveloped”—i.e., its powers are not unfolded with respect to the world of the personality.
555. Chân thần (được xem như một “con mắt”) luôn hiện diện nhưng “chưa phát triển”—nghĩa là các quyền năng của chân thần chưa khai mở đối với thế giới của phàm ngã.
556. This is a thought worth pondering: the Monad in us is the correspondence of the “All-seeing Eye” of the Planetary Logos.
556. Đây là một tư tưởng đáng suy ngẫm: chân thần trong chúng ta là đối phần tương ứng của “Mắt Toàn Kiến” của Hành Tinh Thượng đế.
These are related to divine purpose and to the world in which Sanat Kumara moves and which we call Shamballa.
Những quyền năng này liên quan đến thiên ý và đến thế giới nơi Sanat Kumara hoạt động, mà chúng ta gọi là Shamballa.
557. Where do the powers of the Monad really show themselves? What is the nature of these powers? We are told they are related to the world in which Sanat Kumara moves; in short, in Shamballa.
557. Các quyền năng của chân thần thực sự biểu lộ ở đâu? Bản chất của những quyền năng này là gì? Chúng ta được cho biết rằng chúng liên quan đến thế giới mà Sanat Kumara hoạt động trong đó; nói ngắn gọn, là trong Shamballa.
558. In some respects we can consider the Monad as a ‘member’ of Shamballa. The Monad on its own plane is not a “prisoner of the planet”; its Self-projected aspect, the Jiva, is a “prisoner”.
558. Theo một vài phương diện, chúng ta có thể xem chân thần là một ‘thành viên’ của Shamballa. Chân thần trên cõi riêng của mình không phải là một “tù nhân của hành tinh”; phương diện do chính chân thần phóng chiếu, tức sinh hồn, mới là một “tù nhân”.
I have impressed upon you elsewhere [in the Rays and the Initiations} that the state of being of the Monad has naught to do with what we call consciousness;
Ở nơi khác, Tôi đã nhấn mạnh với các bạn [trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo} rằng trạng thái bản thể của Chân thần không liên quan gì đến điều chúng ta gọi là tâm thức;
559. DK often uses the term “monadic awareness”
559. Chân sư DK thường dùng thuật ngữ “sự nhận biết của chân thần”
560. In the sections where the distinction is discussed, DK distinguishes between consciousness and life.
560. Trong những phần bàn về sự phân biệt này, Chân sư DK phân biệt giữa tâm thức và sự sống.
in the same way, there is naught in the world of Shamballa which is of the same nature as the phenomenal world of man in the [293] three worlds, or even of the soul world.
cũng vậy, trong thế giới Shamballa không có gì cùng bản chất với thế giới hiện tượng của con người trong [293] ba cõi giới, hay ngay cả với thế giới linh hồn.
561. We are gathering an image of the nature of Shamballa and the manner in which it is foreign to that which we normally experience.
561. Chúng ta đang hình thành một hình ảnh về bản chất của Shamballa và về sự xa lạ của thế giới ấy đối với những gì chúng ta thường trải nghiệm.
It is a world of pure energy, of light and of directed force; it can be seen as streams and centres of force, all forming a pattern of consummate beauty, all potently invocative of the world of the soul and of the world of phenomena; it therefore constitutes in a very real sense the world of causes and of initiation.
Đó là một thế giới của năng lượng thuần khiết, của ánh sáng và mãnh lực được điều khiển; có thể thấy nó như những dòng và trung tâm mãnh lực, tất cả tạo thành một mô hình có vẻ đẹp hoàn mỹ, tất cả đều có sức khẩn cầu mạnh mẽ đối với thế giới linh hồn và thế giới hiện tượng; vì vậy, theo một ý nghĩa rất thực, nó cấu thành thế giới của các nguyên nhân và của điểm đạo.
562. This is a brilliant description of Shamballa.
562. Đây là một mô tả xuất sắc về Shamballa.
563. Let us tabulate for the sake of clearer impression:
563. Chúng ta hãy lập bảng để có ấn tượng rõ ràng hơn:
a. It is a world of pure energy
a. Đó là một thế giới của năng lượng thuần khiết
b. It is a world of light
b. Đó là một thế giới của ánh sáng
c. It is a world of directed force
c. Đó là một thế giới của mãnh lực được định hướng
d. It is a world in which pure energy, light and directed force form a pattern of consummate beauty
d. Đó là một thế giới trong đó năng lượng thuần khiết, ánh sáng và mãnh lực được định hướng tạo thành một mô hình có vẻ đẹp hoàn mỹ
e. It is a world from which the world of souls is invoked
e. Đó là một thế giới mà từ đó giới linh hồn được khẩn cầu
f. It is a world from which the world of phenomena is invoked
f. Đó là một thế giới mà từ đó thế giới hiện tượng được khẩn cầu
g. It is a world of causes
g. Đó là một thế giới nguyên nhân
h. It is the world of initiation
h. Đó là thế giới điểm đạo
564. Perhaps we gather something of the abstract, formless nature of Shamballa.
564. Có lẽ chúng ta hiểu được phần nào bản chất trừu tượng, vô hình tướng của Shamballa.
565. Since the very inmost center of Shamballa is on the logoic plane within the "Sea of Fire", perhaps DK is revealing something about the nature of that “Sea” and that plane. Perhaps everything said above as descriptive of Shamballa is also descriptive of the highest vibratory level on the cosmic physical plane which we call the “Sea of Fire”.
565. Vì trung tâm sâu kín nhất của Shamballa nằm trên cõi Thượng đế trong “Biển Lửa”, có lẽ Chân sư DK đang mặc khải điều gì đó về bản chất của “Biển” ấy và cõi ấy. Có lẽ mọi điều nói ở trên để mô tả Shamballa cũng mô tả cấp độ rung động cao nhất trên cõi hồng trần vũ trụ mà chúng ta gọi là “Biển Lửa”.
566. It is significant, then, that we are not to think of that “Sea” as amorphous but as possessed of a pattern or patterns of consummate beauty.
566. Vậy thì, điều có ý nghĩa là chúng ta không nên nghĩ “Biển” ấy là vô định hình, mà là có một hay nhiều mô hình mang vẻ đẹp hoàn mỹ.
567. If the logoic plane is the truest of the archetypal planes, then patterns as archetypes must appear upon it. But can that which appears be called “forms”?
567. Nếu cõi Thượng đế là cõi chân thực nhất trong các cõi nguyên mẫu, thì những mô hình với tư cách là các nguyên mẫu hẳn phải xuất hiện trên cõi ấy. Nhưng liệu điều xuất hiện ấy có thể được gọi là “các hình tướng” không?
568. A word about the “world of causes”. We have been reading of three worlds:
568. Xin nói đôi lời về “thế giới nguyên nhân”. Chúng ta đã đọc về ba thế giới:
a. The world of meaning
a. Thế giới của ý nghĩa
b. The world of causes
b. Thế giới nguyên nhân
c. The world of being
c. Thế Giới Bản Thể
569. What we are discovering in the section here under discussion, is that the meaning of the “world of causes” is being elevated—to the logoic plane. Hitherto, we had discussed it in terms of the higher mental plane (which can be thought of as a kind of reflection of the logoic plane). We had also discussed the triadal worlds as the world of causes, and the monadic level (and ‘above’) as the world of being.
569. Điều chúng ta đang khám phá trong phần đang bàn ở đây là ý nghĩa của “thế giới nguyên nhân” đang được nâng lên—đến cõi Thượng đế. Cho đến nay, chúng ta đã bàn về thế giới ấy theo cõi thượng trí (có thể xem cõi này như một dạng phản chiếu của cõi Thượng đế). Chúng ta cũng đã bàn về các thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần như thế giới nguyên nhân, và cấp độ chân thần (cùng những cấp độ ‘bên trên’) như Thế Giới Bản Thể.
570. With respect to the cosmic physical plane, the logoic plane certainly represents a world of causes just as the first sub-plane of any plane is causal to the remaining six subsidiary planes.
570. Đối với cõi hồng trần vũ trụ, cõi Thượng đế chắc chắn biểu thị một thế giới nguyên nhân, cũng như cõi phụ thứ nhất của bất kỳ cõi nào đều là nguyên nhân đối với sáu cõi phụ còn lại.
571. We do, however, see something of the relativity of the assignments of different planes to different “worlds”.
571. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy được phần nào tính tương đối của việc quy các cõi khác nhau vào những “thế giới” khác nhau.
As man the human being, man the disciple, and man the initiate gradually move onward on the stream of life, revelation comes step by step, moving from one great point of focus to another until naught more remains to be revealed.
Khi con người với tư cách một con người, con người với tư cách đệ tử và con người với tư cách điểm đạo đồ dần tiến trên dòng sự sống, sự mặc khải đến từng bước, chuyển từ điểm tập trung lớn này sang điểm tập trung lớn khác, cho đến khi không còn gì cần được mặc khải.
572. How, through what, or on what do we move as we develop spiritually: we “move onward on the stream of life”. This is a poetic formulation but doubtlessly is a reflection of the “sutratma” and the ‘breath of being’.
572. Chúng ta tiến bước như thế nào, qua điều gì hay trên điều gì khi phát triển về tinh thần: chúng ta “tiến bước trên dòng sự sống”. Đây là một cách diễn đạt đầy chất thơ, nhưng chắc chắn phản ánh “sinh mệnh tuyến” và ‘hơi thở của bản thể’.
573. DK gives us three spiritual classifications of that which we call man:
573. Chân sư DK cho chúng ta ba cách phân loại về tinh thần đối với điều chúng ta gọi là con người:
a. Man the human being
a. Con người với tư cách một con người
b. Man the disciple
b. Con người với tư cách một đệ tử
c. Man the initiate
c. Con người với tư cách một điểm đạo đồ
574. Depending upon man’s point of focus, so will be the nature of the revelation.
574. Bản chất của sự mặc khải sẽ tùy thuộc vào tiêu điểm của con người.
575. What is our present point of focus and what presently is coming to light?
575. Tiêu điểm hiện tại của chúng ta là gì và hiện nay điều gì đang dần sáng tỏ?
576. Each initiation can be understood as a stabilized point of focus conveying its own particular type of revelation.
576. Có thể hiểu mỗi cuộc điểm đạo là một tiêu điểm đã ổn định, mang lại loại mặc khải đặc thù của riêng nó.
In all these spiritual points of crisis or of opportunity for vision, for fresh spiritual in-sight and for revelation (for that is what they are in reality), the thought of struggle is the first one to warrant attention.
Trong tất cả những điểm khủng hoảng tinh thần hay cơ hội để thấy, để có sự thấu thị tinh thần mới mẻ và để nhận mặc khải này—vì thực ra chúng chính là như vậy—tư tưởng về sự đấu tranh là điều đầu tiên cần chú ý.
577. Crisis is opportunity. Saturn is the proponent of crisis and of opportunity.
577. Khủng hoảng là cơ hội. Sao Thổ là tác nhân thúc đẩy khủng hoảng và cơ hội.
578. What kinds of opportunities are presented in spiritual points of crisis?
578. Những thời điểm khủng hoảng tinh thần mang lại những loại cơ hội nào?
a. Opportunity for vision
a. Cơ hội để có tầm nhìn
b. Opportunity for fresh spiritual insight
b. Cơ hội để có tuệ kiến tinh thần mới mẻ
c. Opportunity for revelation
c. Cơ hội để có sự mặc khải
579. Crisis occurs symbolically and actually on the fourfold cross, suggesting by its fourfoldness, the fourfold soul-infused personality and its translation into the buddhically infused vehicle. The fourth initiation is paramountly the initiation of crisis and of a new type of revelation vouchsafed by the destruction of the causal body.
579. Khủng hoảng diễn ra cả theo nghĩa biểu tượng lẫn thực tế trên thập giá tứ phân; tính tứ phân của thập giá gợi lên phàm ngã tứ phân được linh hồn thấm nhuần và sự chuyển đổi của phàm ngã ấy thành hiện thể được Bồ đề thấm nhuần. Lần điểm đạo thứ tư là cuộc điểm đạo tiêu biểu nhất cho khủng hoảng và cho một loại mặc khải mới mà sự hủy diệt thể nguyên nhân đem lại.
580. The implication of all this is that (fourfold) crisis goes hand in hand with the acquisition of vision, insight and revelation—all qualities of the buddhic plane (the fourth).
580. Tất cả những điều này hàm ý rằng khủng hoảng (tứ phân) đi đôi với việc đạt được tầm nhìn, tuệ kiến và sự mặc khải—tất cả đều là những phẩm tính của cõi Bồ đề (cõi thứ tư).
I used, in this connection, the words "stage of penetration"; the thought which this conveys to the initiate understanding signifies an extension of the struggle which the neophyte makes in order to achieve inner control, and then to use the mind as a searchlight so as to penetrate into new fields of awareness and of recognition.
Về điều này, Tôi đã dùng những từ “giai đoạn thâm nhập”; tư tưởng mà cụm từ ấy truyền đạt cho sự thấu hiểu của điểm đạo đồ biểu thị sự mở rộng cuộc đấu tranh mà người sơ cơ thực hiện để đạt được sự kiểm soát bên trong, rồi sử dụng thể trí như một ngọn đèn pha nhằm thâm nhập những lĩnh vực nhận biết và nhận thức mới.
581. We are dealing with the crisis involved in penetrating to the vantage point which reveals a new vision, fresh spiritual insight and, in general, revelation.
581. Chúng ta đang bàn đến cuộc khủng hoảng gắn với việc thâm nhập đến một vị trí quan sát làm hiển lộ một tầm nhìn mới, tuệ kiến tinh thần mới mẻ và nói chung là sự mặc khải.
582. Just as the neophyte struggles to achieve some inner control and mental penetration into new fields of awareness and recognition, so the initiate struggles to achieve still greater revelations.
582. Cũng như người sơ cơ đấu tranh để đạt được một mức độ kiểm soát bên trong và sự thâm nhập bằng trí tuệ vào những lĩnh vực nhận biết và nhận thức mới, điểm đạo đồ cũng đấu tranh để đạt được những sự mặc khải còn lớn lao hơn.
Forget not that recognition involves right interpretation and right relation to that which is seen and contacted.
Đừng quên rằng sự nhận biết bao hàm việc diễn giải đúng đắn và thiết lập quan hệ đúng đắn với những gì được thấy và tiếp xúc.
583. True recognition is not simply contact; right interpretation and right relation to that which is contacted are both required.
583. Sự nhận thức chân thực không chỉ là tiếp xúc; cả việc diễn giải đúng đắn lẫn thiết lập mối quan hệ đúng đắn với điều được tiếp xúc đều cần thiết.
Into all revelation enters the concept of "whole vision" or a synthesis of perception, and then comes recognition of that which is visioned and perceived.
Trong mọi sự mặc khải đều có khái niệm “cái nhìn toàn thể” hay sự tổng hợp nhận thức, rồi tiếp đến là sự nhận biết những gì đã được thấy và nhận thức.
584. The inference is that recognition follows revelation. One may see, but what is the meaning (or the initiate’s understanding) of what is seen?
584. Điều được suy ra là sự nhận thức theo sau sự mặc khải. Người ta có thể nhìn thấy, nhưng ý nghĩa (hay sự thấu hiểu của điểm đạo đồ) về điều được nhìn thấy là gì?
585. Re-cognition is the act of connecting the revelation to an interior archetype which is constantly cognized by the Monad. Perhaps this relates to the old saying with Platonic roots: “All cognition is really re-cognition.” The implication is that whatever can be found in the outer world is inherent in the inner world.
585. Sự tái nhận thức là hành động nối kết sự mặc khải với một nguyên mẫu bên trong mà chân thần không ngừng nhận thức. Có lẽ điều này liên quan đến câu nói xưa bắt nguồn từ triết học Plato: “Mọi nhận thức thực ra đều là tái nhận thức.” Điều đó hàm ý rằng bất cứ điều gì có thể tìm thấy trong thế giới bên ngoài đều vốn có trong thế giới bên trong.
586. A re-cognition is a cognition of that which has always been archetypally inherent—i.e., a part of the “Fixed Design”.
586. Một sự tái nhận thức là sự nhận thức về điều vốn luôn tiềm tại dưới dạng nguyên mẫu—nghĩa là một phần của “Thiết Kế Cố Định”.
It is the mind (the common sense, as it used to be called) which utilises the physical senses of perception, and through their united contribution gets a "whole vision" and a synthesis of perception of the phenomenal world, according to man's point of development, his mental capacity to recognise, rightly interpret and rightly relate that which has been conveyed to him by the activity of the five senses.
Chính thể trí—trước đây thường được gọi là lương tri—sử dụng các giác quan nhận thức hồng trần, và nhờ sự đóng góp phối hợp của chúng mà có được một “cái nhìn toàn thể” cùng sự tổng hợp nhận thức về thế giới hiện tượng, tùy theo trình độ phát triển của con người và khả năng trí tuệ của y trong việc nhận biết, diễn giải đúng đắn và liên hệ đúng đắn những gì hoạt động của năm giác quan đã truyền đến y.
587. Perhaps it is insufficiently realized that each of the various senses initially contributes an isolated sensory input—an input isolated from all the other sensory inputs. These isolated inputs have to be correlated.
587. Có lẽ người ta chưa nhận ra đầy đủ rằng ban đầu, mỗi giác quan khác nhau đều đóng góp một dữ liệu cảm giác riêng biệt—một dữ liệu tách biệt với mọi dữ liệu cảm giác khác. Những dữ liệu riêng biệt này cần được liên kết với nhau.
588. The mind is the coordinating, correlating sense (the sixth or common sense) which recognizes, rightly interprets and rightly relates the isolated streams of perception which have been conveyed to him by the activity of the five senses.
588. Thể trí là giác quan phối hợp, liên kết (giác quan thứ sáu hay giác quan chung), nhận thức, diễn giải đúng đắn và liên hệ đúng đắn những dòng tri giác riêng biệt mà hoạt động của năm giác quan đã truyền đến con người.
589. Without the coordinating activity of the mind, sensory input would be fragmented and “whole vision” would be lacking.
589. Không có hoạt động phối hợp của thể trí, dữ liệu cảm giác sẽ rời rạc và sẽ thiếu “tầm nhìn toàn thể”.
590. DK is building an analogy.
590. Chân sư DK đang xây dựng một phép tương đồng.
This is what is meant when we use the phrase "the mind's eye," and this ability is the common possession of humanity in varying degrees of availability.
Đó là điều chúng ta muốn nói khi dùng cụm từ “con mắt của thể trí”, và khả năng này là sở hữu chung của nhân loại, với những mức độ sẵn có khác nhau.
591. The eye is a synthetic organ. It has the capacity to “see” many sensory inputs “at once” and “as one thing”.
591. Mắt là một cơ quan tổng hợp. Nó có khả năng “nhìn thấy” nhiều dữ liệu cảm giác “cùng một lúc” và “như một điều duy nhất”.
592. The mind (like an “eye”) renders diverse sensory inputs into a perceived entirety.
592. Thể trí (như một “con mắt”) biến những dữ liệu cảm giác đa dạng thành một toàn thể được tri giác.
Later, man uses the "eye of the soul," as we have noted above; it reveals to him a world of subtler phenomena, the kingdom of God or the world of souls. Then the light of the intuition pours in, bringing the power to recognise and rightly interpret and relate.
Về sau, con người sử dụng “con mắt của linh hồn”, như chúng ta đã ghi nhận ở trên; nó mặc khải cho y một thế giới của những hiện tượng tinh tế hơn, Thiên Giới hay thế giới linh hồn. Rồi ánh sáng trực giác tuôn vào, đem lại quyền năng nhận biết, diễn giải và liên hệ đúng đắn.
593. May we say to the above: the mind/five senses = intuition/the testimony of the "eye of the soul"?
593. Về điều trên, liệu chúng ta có thể nói: thể trí/năm giác quan = trực giác/bằng chứng của “mắt của linh hồn” không?
594. What does the intuition do with the input provided by the "eye of the soul":
594. Trực giác làm gì với dữ liệu do “mắt của linh hồn” cung cấp:
a. The intuition stimulates the power to recognize
a. Trực giác kích thích quyền năng nhận thức
b. The intuition stimulates the ability rightly to interpret
b. Trực giác kích thích khả năng diễn giải đúng đắn
c. The intuition stimulates the ability rightly to relate
c. Trực giác kích thích khả năng liên hệ đúng đắn
595. Through correct recognition, right interpretation and right assessment of relationship, another and far higher wholeness of perception is created.
595. Thông qua sự nhận thức chính xác, sự diễn giải đúng đắn và sự đánh giá đúng đắn về mối quan hệ, một tính toàn thể khác của tri giác, cao hơn rất nhiều, được tạo ra.
596. Just as the mind is an organ of sensory synthesis (related, interestingly, to the number six—which is related to the synthetic Monad), so the "eye of the soul" is an organ of synthesis preparing that which it gathers from its inner field of experience for the influence of the intuition.
596. Cũng như thể trí là một cơ quan tổng hợp cảm giác (điều thú vị là có liên quan đến số sáu—vốn liên quan đến chân thần có tính tổng hợp), “mắt của linh hồn” cũng là một cơ quan tổng hợp, chuẩn bị những gì nó thu nhận từ lĩnh vực trải nghiệm bên trong để đón nhận ảnh hưởng của trực giác.
As the disciple and the initiate progress from stage to [294] stage of revelation, it becomes increasingly difficult to make clear not only what is revealed, but also the processes of revelation, and the methods used to bring the stage of revelation about.
Khi đệ tử và điểm đạo đồ tiến từ giai đoạn [294] mặc khải này sang giai đoạn mặc khải khác, việc làm sáng tỏ không chỉ những gì được mặc khải mà cả các tiến trình mặc khải và những phương pháp dùng để tạo ra giai đoạn mặc khải ngày càng trở nên khó khăn.
597. The type of revelation here discussed must be experienced.
597. Loại mặc khải được bàn đến ở đây phải được trải nghiệm.
598. If any student has for a moment noticed consciousness growing¸ he will realize how difficult such things are to describe.
598. Nếu có đạo sinh nào đã từng thoáng nhận thấy tâm thức đang tăng trưởng, người ấy sẽ nhận ra rằng những điều như thế khó mô tả đến mức nào.
The vast mass of mankind throughout the world have no clear idea as to the function of the mind as an organ of vision illumined by the soul;
Đại đa số nhân loại trên toàn thế giới không có ý niệm rõ ràng về chức năng của thể trí như một cơ quan thị giác được linh hồn soi sáng;
599. This tells us of the relatively low level of mental development presently characteristic of humanity in general.
599. Điều này cho chúng ta biết về trình độ phát triển trí tuệ tương đối thấp hiện đang là đặc điểm của nhân loại nói chung.
600. The synthetic nature of the mind begins to emerge when the mind is lighted by soul light.
600. Bản chất tổng hợp của thể trí bắt đầu xuất hiện khi thể trí được ánh sáng linh hồn soi sáng.
601. This type of vision is the first type of subjective vision.
601. Loại tầm nhìn này là loại tầm nhìn chủ quan thứ nhất.
602. When the mind is discounted (by some) as merely an organ of thought, it must be remembered that DK considers the mind, potentially, as “an organ of vision”.
602. Khi một số người xem nhẹ thể trí, cho rằng nó chỉ là một cơ quan tư tưởng, cần nhớ rằng Chân sư DK xem thể trí, về tiềm năng, là “một cơ quan của tầm nhìn”.
still fewer, only the disciples and initiates, are able to glimpse the purpose of the spiritual eye and its functioning in the light of the intuition.
số người có thể thoáng thấy mục đích của con mắt tinh thần và cách nó hoạt động trong ánh sáng trực giác còn ít hơn nữa, chỉ có các đệ tử và điểm đạo đồ.
603. The “spiritual eye” (in this context) is the "eye of the soul" that we have been discussing.
603. “Con mắt tinh thần” (trong ngữ cảnh này) là “mắt của linh hồn” mà chúng ta đã bàn đến.
604. The vision of this “eye” is soul vision; the disciple (i.e., the jiva or immersed Monad) ‘sees’ as the soul sees and from the vantage point of the plane of soul.
604. Tầm nhìn của “con mắt” này là tầm nhìn của linh hồn; đệ tử (nghĩa là sinh hồn hay chân thần đang đắm chìm) ‘nhìn’ như linh hồn nhìn và từ vị trí quan sát trên cõi linh hồn.
605. This type of vision is the second type of vision, superior to the vision of the lower mind.
605. Loại tầm nhìn này là loại tầm nhìn thứ hai, cao hơn tầm nhìn của hạ trí.
When we come, therefore, to the great organ of universal revelation, the monadic principle, functioning through the medium of an extra-planetary light, we enter realms which are indefinable and for which no terminology has been created, and which only initiates above the third degree are able to consider.
Vì vậy, khi đề cập đến cơ quan vĩ đại của sự mặc khải phổ quát là nguyên khí chân thần, hoạt động qua trung gian một ánh sáng ngoài hành tinh, chúng ta đi vào những lĩnh vực không thể định nghĩa, chưa có thuật ngữ nào được tạo ra để diễn đạt, và chỉ những điểm đạo đồ trên bậc ba mới có thể xem xét.
606. The Monad is that which has its home within the sun. The solar system is the “universe” of the Solar Logos. “Universal revelation” is extra-planetary, i.e., systemic in nature.
606. Chân thần là thực tại có nơi cư ngụ bên trong mặt trời. Hệ mặt trời là “vũ trụ” của Thái dương Thượng đế. “Sự mặc khải vũ trụ” mang bản chất ngoài hành tinh, nghĩa là mang tính hệ mặt trời.
607. Are we dealing with the revelation accorded to third degree initiates or to those above the third degree, beginning with fourth degree initiates?
607. Chúng ta đang bàn đến sự mặc khải dành cho các điểm đạo đồ bậc ba hay cho những vị trên bậc ba, bắt đầu từ các điểm đạo đồ bậc bốn?
608. We may well ponder what it means that the Monad functions through the medium of an extra-planetary light. Does the Monad have, in some sense, ‘solar cognition’?
608. Chúng ta rất nên suy ngẫm ý nghĩa của việc chân thần hoạt động qua trung gian của một ánh sáng ngoài hành tinh. Theo một nghĩa nào đó, phải chăng chân thần có ‘sự nhận thức thái dương’?
609. We note that for every type of new experience, a new terminology must be derived. Such derivation is the function of the abstract mind. Revelations occur in vibrational fields ‘above’ the abstract mind.
609. Chúng ta lưu ý rằng với mỗi loại trải nghiệm mới, cần hình thành một hệ thuật ngữ mới. Sự hình thành ấy là chức năng của trí trừu tượng. Những sự mặc khải diễn ra trong các trường rung động ‘bên trên’ trí trừu tượng.
610. The type of vision here discussed (monadic vision) is the third type of vision.
610. Loại tầm nhìn được bàn đến ở đây (tầm nhìn chân thần) là loại tầm nhìn thứ ba.
With the sequential stages of polarisation and precipitation I will not today deal; I am desirous that you grasp as far as may be, the idea of penetration, of the struggle involved and the instrument available in the struggle to see, to perceive and to register impression.
Hôm nay, Tôi sẽ không đề cập đến những giai đoạn nối tiếp của sự phân cực và ngưng tụ; Tôi mong muốn các bạn nắm bắt, trong chừng mực có thể, ý tưởng về sự thâm nhập, về cuộc đấu tranh liên quan đến nó và về công cụ sẵn có trong cuộc đấu tranh để thấy, nhận thức và ghi nhận ấn tượng.
611. To ‘place’ the consciousness in such a position that there may be revelation is no easy matter; DK is telling us that it involves a struggle. Shall we say it is a struggle to penetrate into an unfamiliar field and not to be pulled ‘back’ or ‘down’ by customary habits of perception.
611. ‘Đặt’ tâm thức vào một vị trí sao cho có thể có sự mặc khải là điều không dễ dàng; Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng điều đó bao hàm một cuộc đấu tranh. Có thể nói đó là cuộc đấu tranh để thâm nhập vào một lĩnh vực xa lạ và không bị những thói quen tri giác thông thường kéo ‘lùi lại’ hay ‘xuống dưới’.
612. A certain point of tension must be sustained if consciousness is not to be thrown ‘back’ or ‘down’.
612. Phải duy trì một điểm tập trung nhất tâm nhất định để tâm thức không bị đẩy ‘lùi lại’ hay ‘xuống dưới’.
What I have given you at this time will provide much ground for thought. Further instruction along this line would be unprofitable until such time as the inner mechanism of progressive revelation is more clearly defined in your consciousness and is at least theoretically understood and hypothetically accepted.
Những gì Tôi đã trao cho các bạn lúc này sẽ đem lại nhiều điều để suy ngẫm. Huấn thị thêm theo hướng này sẽ không có ích cho đến khi bộ máy bên trong của sự mặc khải tiến triển được xác định rõ hơn trong tâm thức các bạn, và ít nhất được thấu hiểu về mặt lý thuyết, cũng như được chấp nhận như một giả thuyết.
613. Revelation is progressive; the inner mechanism of perception is called “the inner mechanism of progressive revelation”.
613. Sự mặc khải có tính tiến triển; bộ máy tri giác bên trong được gọi là “bộ máy bên trong của sự mặc khải tiến triển”.
614. We have been told something of the nature of this mechanism in terms of the chakras and, in general, the etheric fields involved.
614. Chúng ta đã được cho biết phần nào về bản chất của bộ máy này qua các luân xa và nói chung là các trường dĩ thái liên quan.
615. We have been told of the ‘location’ of the “spiritual eye” and of its perhaps dual counterpart in the head.
615. Chúng ta đã được cho biết về ‘vị trí’ của “con mắt tinh thần” và về đối phần có lẽ mang tính kép của nó trong đầu.
If you will think with clarity and with spiritual brooding upon this subject during the coming year, it may be possible for me greatly to enlarge upon the matter in my next instruction.
Nếu trong năm tới, các bạn suy nghĩ sáng suốt và suy ngẫm sâu về mặt tinh thần đối với đề tài này, có thể Tôi sẽ mở rộng vấn đề đáng kể trong huấn thị kế tiếp.
616. We have been given enough material to last us for year. The third point of revelation will give us occasion for much slow, careful, deep pondering.
616. Chúng ta đã được cung cấp đủ tài liệu để học trong một năm. Điểm mặc khải thứ ba sẽ cho chúng ta nhiều dịp suy ngẫm chậm rãi, cẩn trọng và sâu sắc.
617. We must be realistic of our assessment of the organs of revelation through which we ‘see’. If we understand their functions, perhaps we can facilitate the enhancement of those functions.
617. Chúng ta phải thực tế khi đánh giá những cơ quan mặc khải mà qua đó chúng ta ‘nhìn thấy’. Nếu thấu hiểu các chức năng của chúng, có lẽ chúng ta có thể tạo điều kiện để nâng cao những chức năng ấy.
Commentary 44 – Bình giảng 44
[294-314]
[294-314]
Pisces FMN/SFF 2007
Song Ngư FMN/SFF 2007
LAWS-Living Ageless Wisdom School
LAWS-Trường Sống Theo Minh Triết Ngàn Đời
Bolding and underlining, MDR.
Phần in đậm và gạch dưới do MDR thực hiện.
It is suggested that the student study this section with his DINA II book handy as it will contribute to the preservation of continuity.
Đề nghị đạo sinh nghiên cứu phần này với cuốn DINA II bên cạnh, vì điều đó sẽ giúp duy trì tính liên tục.
PART V
PHẦN V
I would like in this instruction, my brothers, to make certain suggestions to you anent the approach to discipleship that humanity is making and the approach to initiation which disciples in every country and of all schools of thought and of religious persuasion are today making. I have told you in many places that the techniques for training disciples are changing in order to conform to the rapid progress being made in mass orientation,
Các huynh đệ của Tôi, trong huấn thị này, Tôi muốn đưa ra cho các bạn một số gợi ý về cách nhân loại đang tiến đến địa vị đệ tử, và cách các đệ tử ở mọi quốc gia, thuộc mọi trường phái tư tưởng và tín ngưỡng tôn giáo, hiện đang tiến đến điểm đạo. Ở nhiều nơi, Tôi đã nói với các bạn rằng những kỹ thuật huấn luyện đệ tử đang thay đổi để phù hợp với sự tiến bộ nhanh chóng trong định hướng của quần chúng,
1. What we see is that the techniques for training disciples are changing not only because of the higher calibre of disciples available in today’s world, but because the masses of human beings (who must be aided by disciples) are changing their orientation. Humanity is awakening.
1. Điều chúng ta thấy là các kỹ thuật huấn luyện đệ tử đang thay đổi không chỉ vì các đệ tử hiện có trong thế giới ngày nay có trình độ cao hơn, mà còn vì quần chúng nhân loại (những người cần các đệ tử trợ giúp) đang thay đổi định hướng của chính họ. Nhân loại đang thức tỉnh.
and that a new light upon the entire [295] theme of initiation is imminent.
và một ánh sáng mới soi rọi toàn bộ [295] chủ đề điểm đạo sắp xuất hiện.
2. The old methods will simply no longer do. I wonder if modern students of discipleship have grasped this to the extent hoped by Master DK.
2. Những phương pháp cũ đơn giản là sẽ không còn thích hợp nữa. Tôi tự hỏi liệu các đạo sinh thời nay nghiên cứu về địa vị đệ tử đã nắm bắt điều này đến mức Chân sư DK mong đợi hay chưa.
I would like, if possible, to be somewhat more explicit. You, at least, after these years of training by me, should be susceptible to some increased realisation along these lines.
Nếu có thể, Tôi muốn trình bày rõ hơn đôi chút. Ít nhất, sau những năm được Tôi huấn luyện, các bạn hẳn có khả năng tiếp nhận sự nhận biết sâu hơn phần nào theo những hướng này.
3. Hopefully we can number ourselves among those who “should be susceptive to increased realization”. Much will depend upon how seriously we take our continuing discipleship opportunity—continuing because of world need and because of the invaluable Teaching given by Master DK.
3. Hy vọng chúng ta có thể tự kể mình vào số những người “hẳn phải có khả năng đón nhận một mức độ nhận biết cao hơn”. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào mức độ nghiêm túc của chúng ta đối với cơ hội tiếp tục sống đời đệ tử—cơ hội tiếp tục tồn tại vì nhu cầu của thế giới và vì Giáo Huấn vô giá mà Chân sư DK đã trao.
Humanity—as has oft been said—is now the world disciple.
Như đã thường nói, nhân loại hiện là đệ tử thế giới.
4. This is a potent statement. Humanity is not only the ‘world aspirant’, but has moved on to become the “world disciple”. This statement offers great encouragement.
4. Đây là một lời khẳng định đầy sức mạnh. Nhân loại không chỉ là ‘người chí nguyện thế giới’, mà đã tiến lên để trở thành “đệ tử thế giới”. Lời khẳng định này đem lại sự khích lệ lớn lao.
5. We will have to attempt to understand the term “world disciple” carefully. As we do this, it is important to realize that the great majority of human beings are not yet mentally polarized as a disciple must be. Yet mental unfoldment is rapidly increasing and Aquarius is a sign in which mentality will receive a tremendous stimulation.
5. Chúng ta sẽ phải cố gắng thấu hiểu một cách cẩn trọng thuật ngữ “đệ tử thế giới”. Khi làm như vậy, điều quan trọng là nhận ra rằng đại đa số con người chưa phân cực trí tuệ như một đệ tử phải đạt tới. Tuy nhiên, sự khai mở trí tuệ đang gia tăng nhanh chóng, và Bảo Bình là dấu hiệu mà trong đó năng lực trí tuệ sẽ nhận được sự kích thích vô cùng mạnh mẽ.
Why is this? Primarily for two reasons:
Vì sao như vậy? Chủ yếu vì hai lý do:
1. Men are rapidly awakening mentally. The whole world is thinking, primarily along political lines and along lines of current ideologies. Even peoples long dormant are now convulsed by mental processes.
1. Con người đang nhanh chóng thức tỉnh về trí tuệ. Toàn thế giới đang suy nghĩ, chủ yếu theo các đường hướng chính trị và những hệ tư tưởng hiện hành. Ngay cả các dân tộc từ lâu còn ngủ yên nay cũng đang rung chuyển vì những tiến trình trí tuệ.
6. There has been a great mental awakening. Modern systems of mass education have done their work. Even those for whom the mind was dormant are now engaged in thought of some kind (even though it be kama-manasic). The result in many quarters is turbulence caused by the mental approach.
6. Đã có một sự thức tỉnh trí tuệ lớn lao. Các hệ thống giáo dục đại chúng hiện đại đã phát huy tác dụng. Ngay cả những người mà thể trí trước kia còn ngủ yên, giờ đây cũng tham gia vào một hình thức tư duy nào đó (dù là trí-cảm). Ở nhiều nơi, kết quả là tình trạng xáo động do cách tiếp cận bằng trí tuệ gây ra.
This shift in human consciousness involves a rapid focussing of human intention on mental levels. This mental polarisation is essential to discipleship. It is as yet a general trend, but much progress has been made as a result of the tension of war.
Sự chuyển dịch này trong tâm thức nhân loại kéo theo việc ý hướng của con người nhanh chóng tập trung trên các cấp độ trí tuệ. Sự phân cực trí tuệ này là điều thiết yếu đối với địa vị đệ tử. Cho đến nay, đó vẫn là một xu hướng chung, nhưng sự căng thẳng của chiến tranh đã đem lại nhiều tiến bộ.
7. The implication is that the tension and stress of war have forced men to think.
7. Điều này hàm ý rằng sự căng thẳng và áp lực của chiến tranh đã buộc con người phải suy nghĩ.
8. We gather that whereas “human intention” is not increasingly focussed on mental levels, it used to be focussed on astral levels.
8. Chúng ta hiểu rằng, trong khi “ý định của con người” không ngày càng tập trung trên các cấp độ trí tuệ, thì trước kia nó từng tập trung trên các cấp độ cảm dục.
9. There is no discipleship without “mental polarisation”. Humanity is not ‘there’ yet, but the trend exists.
9. Không thể có địa vị đệ tử nếu thiếu “sự phân cực trí tuệ”. Nhân loại chưa đạt đến ‘đó’, nhưng xu hướng ấy đã hiện hữu.
10. True mental polarization involves a soul-infused mind, just as true personality integration is integration of the personality with the soul.
10. Sự phân cực trí tuệ đích thực bao hàm một thể trí được linh hồn thấm nhuần, cũng như sự tích hợp phàm ngã đích thực là sự tích hợp phàm ngã với linh hồn.
11. So, the increasingly mental approach of humanity opens the door to the Path of Discipleship.
11. Vì vậy, cách tiếp cận ngày càng thiên về trí tuệ của nhân loại mở ra cánh cửa dẫn vào Con Đường Đệ Tử.
2. Men are rapidly developing an understanding goodwill. The world is full of movements for relief and for the amelioration of human distress, and this from the point of small and large communities and also nationally and internationally. To this the Red Cross, UNRRA and many analogous and well-intentioned affiliations of men everywhere bear witness. This indicates not only a mental polarisation but responsiveness to the love nature of God;
2. Con người đang nhanh chóng phát triển một thiện chí có sự thấu hiểu. Thế giới tràn ngập những phong trào cứu trợ và xoa dịu đau khổ của con người, từ quy mô cộng đồng nhỏ và lớn đến cấp quốc gia và quốc tế. Hội Chữ Thập Đỏ, UNRRA cùng nhiều tổ chức liên kết tương tự và đầy thiện ý của con người khắp nơi là minh chứng cho điều này. Điều đó không chỉ cho thấy sự phân cực trí tuệ mà còn cho thấy khả năng đáp ứng với bản chất bác ái của Thượng đế;
12. The idea here presented is that if a sufficient degree of mental polarization did not exist, the goodwill movement in the world could not exist.
12. Ý tưởng được trình bày ở đây là: nếu không có một mức độ phân cực trí tuệ đủ cao, phong trào thiện chí trên thế giới không thể tồn tại.
13. Goodwill is “love in action”. Goodwill indicates “responsiveness to the love nature of God”.
13. Thiện chí là “tình thương trong hành động”. Thiện chí cho thấy “khả năng đáp ứng với bản chất bác ái của Thượng đế”.
14. DK is telling us that heart and mind are both active within increasing numbers of the human race.
14. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng cả tâm lẫn trí đều đang hoạt động trong ngày càng nhiều người thuộc nhân loại.
these together indicate a fusion and a sensitivity which is new in human history and which is most encouraging, testifying as it does to the success, at last, of the evolutionary process.
cả hai cùng biểu thị một sự dung hợp và tính nhạy cảm mới mẻ trong lịch sử nhân loại, hết sức đáng khích lệ, vì chúng chứng tỏ rằng cuối cùng tiến trình tiến hóa đã thành công.
15. It has been a ‘long wait’. Humanity has been tardy in its response to proffered opportunity and has only recently (under the stress of the Great War—1914-1945) reached the point where mental focus and goodwill characterize large numbers.
15. Đó là một ‘sự chờ đợi lâu dài’. Nhân loại đã chậm trễ trong việc đáp ứng với cơ hội được trao, và chỉ gần đây (dưới áp lực của cuộc Đại Chiến—1914-1945) mới đạt đến điểm mà sự tập trung trí tuệ và thiện chí trở thành đặc điểm của đông đảo con người.
16. The Tibetan possesses an historical perspective far greater than ours. As He sees it, something new is emerging within the human race. Does our evaluation of the situation accord with His?
16. Chân sư Tây Tạng có một tầm nhìn lịch sử sâu rộng hơn chúng ta rất nhiều. Theo cách nhìn của Ngài, một điều mới mẻ đang xuất hiện trong nhân loại. Liệu sự đánh giá của chúng ta về tình hình có phù hợp với sự đánh giá của Ngài không?
17. It is interesting to think that before this time, that there was little in the human race as a whole to testify to the success of the evolutionary process.
17. Thật thú vị khi nghĩ rằng trước thời điểm này, xét toàn thể nhân loại, có rất ít điều chứng tỏ sự thành công của tiến trình tiến hoá.
18. The apparent cruelty of the human experience has been extreme of late, but the extremity has borne its fruit. “Let pain bring due reward of light and love.”
18. Gần đây, sự tàn khốc hiển hiện trong trải nghiệm của con người đã lên đến cực độ, nhưng chính mức độ cực đoan ấy đã đem lại thành quả. “Cầu xin sự khổ đau đem lại phần thưởng thích đáng của ánh sáng và tình thương.”
The time, therefore, when the Hierarchy had to deal almost entirely with the emotional devotee is past, and this has come about far more rapidly than had been anticipated.
Do đó, thời kỳ mà Thánh đoàn phải làm việc gần như hoàn toàn với người sùng tín thiên về cảm xúc đã qua, và sự chuyển biến này diễn ra nhanh hơn nhiều so với dự kiến.
19. Humanity has made rapid progress in the development of its mentality.
19. Nhân loại đã tiến bộ nhanh chóng trong việc phát triển năng lực trí tuệ.
20. For the human race as a whole there has been recently a ‘rapid growth spurt’. Perhaps we can consider the preliminary harnessing of atomic energy to the needs and desires of man as an indication of this exceedingly rapid growth. If the fifth ray had to be withdrawn because of excessive development, it indicates a great surge in the mental abilities of humanity.
20. Gần đây, toàn thể nhân loại đã có một ‘đợt phát triển vượt bậc nhanh chóng’. Có lẽ chúng ta có thể xem việc bước đầu khai thác năng lượng nguyên tử để phục vụ các nhu cầu và ham muốn của con người là một dấu hiệu của sự phát triển cực kỳ nhanh chóng này. Nếu cung năm đã phải rút đi vì sự phát triển quá mức, thì điều đó cho thấy một sự gia tăng mạnh mẽ về các năng lực trí tuệ của nhân loại.
21. One also wonders just when the Hierarchy had anticipated the ending of the predominantly emotional orientation among spiritual aspirants.
21. Chúng ta cũng tự hỏi Thánh đoàn đã dự kiến đến khi nào thì sự định hướng chủ yếu theo cảm xúc nơi những người chí nguyện tinh thần mới chấm dứt.
22. We do know that much that was anticipated of the Age of Capricorn has already occurred just as we are entering the Aquarian Age.
22. Chúng ta quả thực biết rằng nhiều điều từng được dự kiến cho Kỷ Nguyên Ma Kết đã xảy ra ngay khi chúng ta mới bước vào Kỷ Nguyên Bảo Bình.
The task of the Masters before the eighteenth century was to take emotional aspirants and train them in the technique of mental polarisation, prior to permitting them to enter Their Ashrams. This was the best that could be expected, and in the last analysis was all that was required, because mentally polarised aspirants to accepted discipleship would have been of little use in the work of lifting mankind nearer to the light; the Ashrams exist primarily for that purpose.
Trước thế kỷ mười tám, nhiệm vụ của các Chân sư là tiếp nhận những người chí nguyện thiên về cảm xúc và huấn luyện họ về kỹ thuật phân cực trí tuệ trước khi cho phép họ gia nhập các ashram của Các Ngài. Đây là điều tốt nhất có thể mong đợi và, xét đến cùng, cũng là tất cả những gì cần thiết, vì những người chí nguyện phân cực trí tuệ đang hướng tới địa vị đệ tử được chấp nhận sẽ chẳng giúp ích được bao nhiêu trong công việc nâng nhân loại đến gần ánh sáng hơn; các ashram tồn tại chủ yếu vì mục đích ấy.
23. DK is speaking of the period before the eighteenth century, which we can consider the period before the “Enlightenment”, as it is called in relation to Western Civilization.
23. Chân sư DK đang nói về thời kỳ trước thế kỷ mười tám, mà chúng ta có thể xem là thời kỳ trước “Khai Sáng”, theo cách gọi trong nền Văn Minh Phương Tây.
24. We learn that before the eighteenth century the members of the human race were so emotionally polarized that the disciples who were mentally polarized could not reach them in any significant numbers.
24. Chúng ta được biết rằng trước thế kỷ mười tám, các thành viên của nhân loại phân cực cảm xúc đến mức những đệ tử phân cực trí tuệ không thể tiếp cận họ với số lượng đáng kể.
25. We are reminded of the primary purpose of the Ashrams—to lift humanity nearer to the light and not primarily to edify their members.
25. Chúng ta được nhắc lại mục đích chính yếu của các ashram—nâng nhân loại đến gần ánh sáng hơn, chứ không chủ yếu nhằm giáo dưỡng các thành viên của mình.
But the [296] mentally focussed humanity of today cannot be reached by emotional workers alone.
Nhưng chỉ những người hoạt động thiên về cảm xúc thì không thể tiếp cận nhân loại [296] ngày nay, vốn tập trung vào trí tuệ.
26. The presence of at least some emotionally focussed workers is still needed.
26. Vẫn cần có ít nhất một số người hoạt động tập trung vào cảm xúc.
The mental approach is called for and a higher type of disciple is needed.
Cần có cách tiếp cận bằng trí tuệ và một mẫu đệ tử cao hơn.
27. It is DK’s purpose, then, to help produce this “higher type of disciple”. We may remember that the Teaching on the New Discipleship was the second most important aspect of Master DK’s presentation of the Ageless Wisdom Teaching to the world (cf. R&I 251)..
27. Vậy mục đích của Chân sư DK là giúp đào tạo nên “mẫu đệ tử cao hơn” này. Chúng ta có thể nhớ rằng Giáo Huấn về Địa Vị Đệ Tử Mới là phương diện quan trọng thứ hai trong phần trình bày Giáo Huấn Minh Triết Ngàn Đời của Chân sư DK cho thế giới (xem R&I 251)..
The training to be given to aspirants (and this must be begun in our educational centres) will concern the dual use of the mind, the nature of energy, the indication of an evolutionary plan which includes more than the physical forms, and later of a definite and clear purpose for humanity as well as modes and methods of developing the subjective and subtle powers of the human being. This will involve a study of the constitution of man and the relation of its lower and higher threefold nature to the three aspects of divinity.
Việc huấn luyện dành cho những người chí nguyện (và việc này phải bắt đầu tại các trung tâm giáo dục của chúng ta) sẽ liên quan đến cách sử dụng kép của thể trí, bản chất của năng lượng, việc chỉ ra một kế hoạch tiến hoá bao gồm nhiều hơn các hình tướng hồng trần, rồi sau đó là một mục đích xác định và rõ ràng cho nhân loại, cũng như những cách thức và phương pháp phát triển các quyền năng chủ quan và tinh tế của con người. Điều này sẽ bao hàm việc nghiên cứu cấu tạo của con người và mối liên hệ giữa bản chất tam phân thấp và cao của con người với ba phương diện của thiên tính.
28. We note the responsibility of our “educational centers” in the training to be given to aspirants. We may question: is DK referencing educational centers, the specific purpose of which is to train spiritual aspirants, or is He speaking of conventional centers of education? It would seem that, given the listed requirements, centers specifically for spiritual education would be required. The use of the word “our” suggests the specifically spiritual nature of these training centers.
28. Chúng ta lưu ý trách nhiệm của các “trung tâm giáo dục” của mình trong việc huấn luyện những người chí nguyện. Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Chân sư DK đang nói đến các trung tâm giáo dục có mục đích chuyên biệt là huấn luyện những người chí nguyện tinh thần, hay Ngài đang nói đến các trung tâm giáo dục thông thường? Xét những yêu cầu được liệt kê, dường như cần có các trung tâm chuyên về giáo dục tinh thần. Việc dùng từ “của chúng ta” gợi ra bản chất chuyên về tinh thần của những trung tâm huấn luyện này.
29. Let us of the sake of clarity tabulate the nature of the training which must now be offered to aspirants if this higher type of disciple is to emerge.
29. Để làm rõ, chúng ta hãy liệt kê nội dung huấn luyện mà giờ đây phải dành cho những người chí nguyện nếu muốn mẫu đệ tử cao hơn này xuất hiện.
a. Training in the dual use of the mind
a. Huấn luyện về việc sử dụng thể trí theo hai cách
b. Training in the nature of energy
b. Huấn luyện về bản chất của năng lượng
c. Training which indicates an evolutionary plan which takes into account more than physical forms
c. Huấn luyện nhằm chỉ ra một Thiên Cơ tiến hoá có xét đến nhiều hơn các hình tướng hồng trần
d. Training which takes into consideration a definite and clear purpose for humanity as part of the revelation of the evolutionary plan
d. Huấn luyện có xét đến một mục đích rõ ràng, xác định dành cho nhân loại như một phần của sự mặc khải Thiên Cơ tiến hoá
e. Training which offers methods of developing the subjective and subtle powers of the human being
e. Huấn luyện cung cấp các phương pháp phát triển những quyền năng chủ quan và tinh tế của con người
f. Training which focuses upon the study of the constitution of man
f. Huấn luyện tập trung vào việc nghiên cứu cấu tạo của con người
30. We can evaluate the spiritual training centers presently in existence and see if they live up to these requirements.
30. Chúng ta có thể đánh giá các trung tâm huấn luyện tinh thần hiện có và xem liệu chúng có đáp ứng những yêu cầu này hay không.
You will note how increasingly, with all of you, I am emphasising man's essential duality and not his temporary triplicity. I would have you try to ascertain and understand my reasons.
Các bạn sẽ nhận thấy rằng với tất cả các bạn, Tôi ngày càng nhấn mạnh tính nhị nguyên cốt yếu của con người chứ không phải bộ ba tạm thời của con người. Tôi muốn các bạn cố gắng tìm hiểu và thấu hiểu những lý do của Tôi.
31. The “essential duality” of man is his Sprit/Monad and his soul-infused personality. For the advanced disciple and initiate, the soul is no longer considered an independent center but has been, as it were, ‘absorbed’ by the personality or, may we say, that the soul (as a center of higher consciousness) has absorbed the personality? Either way, the effect is the same; soul and personality are merged into one unit.
31. “Tính nhị nguyên cốt yếu” của con người là Tinh thần/Chân thần và phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Đối với đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ, linh hồn không còn được xem là một trung tâm độc lập mà đã, có thể nói, được phàm ngã ‘hấp thu’; hoặc chúng ta có thể nói rằng linh hồn (với tư cách một trung tâm tâm thức cao hơn) đã hấp thu phàm ngã chăng? Dù theo cách nào, kết quả vẫn như nhau; linh hồn và phàm ngã hợp nhất thành một đơn vị.
32. The Spirit becomes the higher aspect of the duality and the disciple gradually learns to function in response to the “Technique of Duality” (which follows upon the application of the Techniques of Fusion) (cf. EP II 378-379).
32. Tinh thần trở thành phương diện cao hơn của nhị nguyên, và đệ tử dần học cách hoạt động để đáp ứng với “Kỹ Thuật Nhị Nguyên” (tiếp nối việc áp dụng các Kỹ Thuật Dung Hợp) (xem EP II 378-379).
33. The new curriculum for the development of disciples involves the will aspect, and an approach to the spiritual triad using the antahkarana. Given the methods of training so prominent in the past, this approach is, relatively, very new—though in inner esoteric circles such techniques have naturally been known for ages.
33. Chương trình mới nhằm phát triển các đệ tử bao hàm phương diện ý chí và cách tiếp cận Tam Nguyên Tinh Thần bằng antahkarana. So với những phương pháp huấn luyện từng rất nổi bật trong quá khứ, cách tiếp cận này tương đối mới mẻ—mặc dù trong các nhóm huyền bí học bên trong, dĩ nhiên người ta đã biết những kỹ thuật như vậy từ lâu đời.
34. The modern disciple must learn to access the Monad, the spiritual triad and the will.
34. Đệ tử hiện đại phải học cách tiếp cận Chân thần, Tam Nguyên Tinh Thần và ý chí.
As this curriculum is firmly established it will revolutionise modern educational systems upon a planetary scale, and then man the reorienting aspirant, will become man the accepted disciple.
Khi chương trình học này được thiết lập vững chắc, nó sẽ cách mạng hoá các hệ thống giáo dục hiện đại trên quy mô hành tinh, và khi ấy, con người đang là người chí nguyện tái định hướng sẽ trở thành con người ở địa vị đệ tử được chấp nhận.
35. Although humanity has been called the “world disciple”, it would be more accurate to call it the “reorienting aspirant”. The terms “disciple” and “aspirant” can sometimes be used interchangeably. No one is truly upon the Path of Discipleship until he has taken the first initiation and every true aspirant has taken the first initiation. Thus, we have the equivalence of the term “disciple” and the concept of the “true aspirant”.
35. Mặc dù nhân loại được gọi là “đệ tử thế giới”, gọi nhân loại là “người chí nguyện đang tái định hướng” sẽ chính xác hơn. Đôi khi các thuật ngữ “đệ tử” và “người chí nguyện” có thể dùng thay thế cho nhau. Không ai thực sự ở trên Con Đường Đệ Tử cho đến khi đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, và mọi người chí nguyện đích thực đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Như vậy, chúng ta có sự tương đương giữa thuật ngữ “đệ tử” và khái niệm “người chí nguyện đích thực”.
36. A “reorienting aspirant” is one who is reorienting towards the stage of, first, mental focus and then, mental polarization. Achievement of this stage is absolutely necessary before one can be called an “accepted disciple”.
36. Một “người chí nguyện đang tái định hướng” là người đang tái định hướng về giai đoạn, trước hết là tập trung trí tuệ, rồi đến phân cực trí tuệ. Việc đạt đến giai đoạn này là điều tuyệt đối cần thiết trước khi một người có thể được gọi là “đệ tử được chấp nhận”.
I wonder whether you have ever considered the widespread effect of all the reflective thinking, the aspirational prayers and the meditation work—untrained or as the result of training—done by people in their millions down the ages through the entire planet?
Tôi tự hỏi liệu các bạn đã từng suy xét tác động rộng khắp của tất cả những suy tư chiêm nghiệm, những lời cầu nguyện đầy khát vọng và công việc tham thiền—dù chưa qua huấn luyện hay là kết quả của huấn luyện—mà hàng triệu người trên khắp hành tinh đã thực hiện qua các thời đại hay chưa?
37. DK is speaking of the cumulative effect of thought, prayer, aspiration and meditation. In short, by these means, there has been a reconditioning of the consciousness of humanity.
37. Chân sư DK đang nói về tác động tích luỹ của tư tưởng, cầu nguyện, khát vọng và tham thiền. Tóm lại, nhờ những phương tiện này, tâm thức nhân loại đã được định hình lại.
Its quality is altering; its strength is increasing; its livingness is producing changes in the human organism.
Phẩm tính của hoạt động ấy đang thay đổi; sức mạnh của nó đang gia tăng; sức sống của nó đang tạo ra những biến đổi trong cơ thể con người.
38. These methods of spiritual orientation (present down the ages) are now increasing in quality, quantity and intensity.
38. Những phương pháp định hướng tinh thần này (hiện hữu qua các thời đại) giờ đây đang gia tăng về phẩm tính, số lượng và cường độ.
39. Not only are the changes producing changes in consciousness, but (so DK seems to be saying) the human organism itself is changing. We all know that changes in consciousness change matter.
39. Những thay đổi không chỉ tạo ra các thay đổi trong tâm thức, mà (dường như Chân sư DK đang nói như vậy) chính cơ thể con người cũng đang thay đổi. Tất cả chúng ta đều biết rằng những thay đổi trong tâm thức làm thay đổi vật chất.
The tide of spiritual life is today so strong and striving that the next one hundred and fifty years will demonstrate the factual nature of the Kingdom of Souls or of God.
Ngày nay, làn sóng sự sống tinh thần mạnh mẽ và vươn lên đến mức một trăm năm mươi năm tới sẽ chứng tỏ tính hiện thực của Giới Linh Hồn hay Thiên Giới.
40. This will take us approximately to the year 2100, just before the onset of the Aquarian Age (technically considered), although Aquarian energy currents have been with us for a few hundred years.
40. Điều này sẽ đưa chúng ta đến khoảng năm 2100, ngay trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình bắt đầu (xét về mặt kỹ thuật), mặc dù các dòng năng lượng Bảo Bình đã hiện diện cùng chúng ta suốt vài trăm năm.
41. We can evaluate this statement in relation to the “event” or process Reappearance of the Christ. This does not necessarily mean that the Christ will have reappeared by the year 2100 (though of course this is always possible), but that, certainly, the foundation for His Reappearance will be firmly established.
41. Chúng ta có thể đánh giá lời khẳng định này trong mối liên hệ với “sự kiện” hay tiến trình Tái Lâm của Đức Christ. Điều này không nhất thiết có nghĩa là Đức Christ sẽ tái lâm trước hoặc vào năm 2100 (dù dĩ nhiên điều này luôn có thể xảy ra), mà chắc chắn nền tảng cho sự Tái Lâm của Ngài sẽ được thiết lập vững chắc.
42. The soul will be understood as a reality and the Kingdom of Souls will be considered an established fact.
42. Linh hồn sẽ được thấu hiểu như một thực tại, và Giới Linh Hồn sẽ được xem là một sự thật đã được xác lập.
43. We have much to ‘get through’ in order to fulfill this prophecy, but humanity is equal the necessary transformation if it chooses to emphasizes progressive values over material values..
43. Chúng ta còn phải ‘vượt qua’ nhiều điều để hoàn thành lời tiên tri này, nhưng nhân loại đủ khả năng thực hiện sự chuyển đổi cần thiết nếu lựa chọn đề cao các giá trị tiến bộ hơn các giá trị vật chất..
This, as you can surely appreciate, will produce fundamental changes also in the immediate objectives before human progress, and in the Masters' plans, in the teaching given, and in the training presented.
Như các bạn hẳn có thể nhận thức, điều này cũng sẽ tạo ra những thay đổi căn bản trong các mục tiêu trước mắt của sự tiến bộ nhân loại, trong các kế hoạch của các Chân sư, trong giáo huấn được truyền dạy và trong việc huấn luyện được đưa ra.
44. DK is telling us that when the Kingdom of Souls is viewed as factual by a large number of human beings, fundamental human and hierarchical changes will be in order.
44. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng khi đông đảo con người nhìn nhận Giới Linh Hồn là một thực tế, thì sẽ cần có những thay đổi căn bản trong nhân loại và Thánh đoàn.
45. Let us tabulate these changes for the sake of clarity
45. Để làm rõ, chúng ta hãy liệt kê những thay đổi này