Trích nội dung chương
46. We who are living in the early years of the twenty-first century stand on the threshold of these broad and sweeping changes. The Hierarchy of Adepts is always adaptable, but we, as disciples in the world, must measure up to the stage in which new and progressive hierarchical adaptations are required. 46. Chúng ta, những người đang sống trong những năm đầu của thế kỷ hai mươi mốt, đang đứng trước ngưỡng cửa của những thay đổi sâu rộng này. Thánh đoàn các Chân sư luôn có khả năng thích ứng, nhưng chúng ta, với tư cách những đệ tử trong thế giới, phải vươn tới mức đáp ứng được giai đoạn đòi hỏi những sự thích ứng mới mẻ và tiến bộ của…
a. There will be fundamental changes in the immediate objectives before human progress
a. Sẽ có những thay đổi căn bản trong các mục tiêu trước mắt của sự tiến bộ nhân loại
b. There will be fundamental changes in the Masters’ plans
b. Sẽ có những thay đổi căn bản trong các Thiên Cơ của các Chân sư
c. There will be fundamental changes in the teaching given
c. Sẽ có những thay đổi căn bản trong giáo huấn được truyền dạy
d. There will be fundamental changes in the training presented
d. Sẽ có những thay đổi căn bản trong sự huấn luyện được đưa ra
46. We who are living in the early years of the twenty-first century stand on the threshold of these broad and sweeping changes. The Hierarchy of Adepts is always adaptable, but we, as disciples in the world, must measure up to the stage in which new and progressive hierarchical adaptations are required.
46. Chúng ta, những người đang sống trong những năm đầu của thế kỷ hai mươi mốt, đang đứng trước ngưỡng cửa của những thay đổi sâu rộng này. Thánh đoàn các Chân sư luôn có khả năng thích ứng, nhưng chúng ta, với tư cách những đệ tử trong thế giới, phải vươn tới mức đáp ứng được giai đoạn đòi hỏi những sự thích ứng mới mẻ và tiến bộ của Thánh đoàn.
That the changes brought about in the Hierarchy have been the work of the disciples of the world. Have you asked yourself (in studying this hint), Why the disciples? (DINA II 319)
Những thay đổi diễn ra trong Thánh đoàn là công việc của các đệ tử trên thế giới. Khi nghiên cứu gợi ý này, các bạn đã tự hỏi: Tại sao lại là các đệ tử? (DINA II 319)
47. We anticipate that a new dispensation of the Teaching will appear following the year 2025 (and perhaps, even during that year, we do not know). Yet, the year 2100 (or so) is far in advance of 2025, and we may imagine that new forms of teaching will continue to be offered, perhaps even after the third dispensation has been offered to humanity.
47. Chúng ta dự đoán rằng một đợt ban truyền Giáo Huấn mới sẽ xuất hiện sau năm 2025 (và có lẽ ngay trong năm ấy, chúng ta không biết). Tuy nhiên, năm 2100 (hoặc khoảng đó) còn ở rất xa sau năm 2025, và chúng ta có thể hình dung rằng những hình thức giáo huấn mới sẽ tiếp tục được đưa ra, có lẽ ngay cả sau khi đợt ban truyền thứ ba đã được trao cho nhân loại.
This brings me to the objectives which are now before disciples in training for initiation.
Điều này đưa Tôi đến những mục tiêu hiện nay đặt ra trước các đệ tử đang được huấn luyện để điểm đạo.
48. And, let us remind ourselves—all true disciples are in training for some initiation, even if that initiation will not occur in the present or immediately succeeding incarnation(s). Training can last a long time (as the personality conceives time).
48. Và chúng ta hãy tự nhắc mình—mọi đệ tử đích thực đều đang được huấn luyện cho một cuộc điểm đạo nào đó, ngay cả khi cuộc điểm đạo ấy sẽ không diễn ra trong kiếp hiện tại hay trong một hoặc nhiều kiếp ngay sau đó. Sự huấn luyện có thể kéo dài rất lâu (theo quan niệm về thời gian của phàm ngã).
Instead of the past objectives—contact with the soul and entrance into an Ashram—the following might be listed, but must be understood esoterically and not literally:
Thay cho các mục tiêu trước đây—tiếp xúc với linh hồn và gia nhập một ashram—có thể liệt kê những mục tiêu sau, nhưng phải thấu hiểu chúng theo nghĩa huyền bí chứ không theo nghĩa đen:
49. DK lists past objectives. They were, in brief:
49. Chân sư DK liệt kê các mục tiêu trước kia. Tóm lại, đó là:
a. Contact with the soul
a. Tiếp xúc với linh hồn
b. Entrance into an Ashram
b. Gia nhập một ashram
50. These are now considered fundamental requirements and not great objectives towards which disciples’ aspiration and will must be directed.
50. Giờ đây, những điều này được xem là các yêu cầu căn bản chứ không phải những mục tiêu lớn lao mà khát vọng và ý chí của các đệ tử phải hướng tới.
1. A sense of planetary relationships.
1. Một ý thức về các mối liên hệ hành tinh.
51. The true world disciple has a ‘planetarized consciousness’. He thinks in terms of the whole—the whole of humanity and the planet in its entirety. He has achieved the requisite degree of selflessness to make this possible.
51. Đệ tử thế giới đích thực có một ‘tâm thức mang tầm hành tinh’. Y suy nghĩ trên cơ sở toàn thể—toàn thể nhân loại và toàn bộ hành tinh. Y đã đạt được mức độ vô ngã cần thiết để điều này trở nên khả thi.
Instead of the emphasis [297] being laid upon the relation of the individual to his soul, to his Master and to the Ashram, his consciousness is consciously expanded (if I may use such an apparently redundant phrase) in order to bring about a realisation upwards into kingdoms hitherto unseen and unknown, downwards into kingdoms which we call subhuman, outwards into the human environment and into the human kingdom, and inwards (a meaningless word, my brother) toward divinity itself.
Thay vì nhấn mạnh [297] mối liên hệ của cá nhân với linh hồn, với Chân sư của mình và với ashram, tâm thức của y được mở rộng một cách có ý thức (nếu Tôi có thể dùng một cụm từ có vẻ thừa như vậy) để đạt đến sự chứng nghiệm hướng lên các giới cho đến nay chưa từng thấy và chưa từng biết, hướng xuống các giới mà chúng ta gọi là dưới nhân loại, hướng ra ngoài môi trường nhân loại và giới nhân loại, và hướng vào trong (một từ vô nghĩa, huynh đệ của tôi) đến chính thiên tính.
52. DK is discussing a fourfold expansion: “upwards”, “downwards”, “outwards” and “inwards”. We can see that He considers these terms quite incapable of conveying His true meaning.
52. Chân sư DK đang bàn về một sự mở rộng tứ phân: “hướng lên”, “hướng xuống”, “hướng ra” và “hướng vào trong”. Chúng ta có thể thấy rằng Ngài xem những thuật ngữ này hoàn toàn không đủ khả năng truyền đạt ý nghĩa thực sự của Ngài.
53. He speaks (with purpose, it appears) of a consciousness which is “consciously expanded”. The newer type of disciple is treading the way of conscious growth and expansion. He knows what to do to bring about the expansion and he can detect the process of expansion as it progresses. He is aware of process.
53. Ngài nói (dường như có chủ đích) về một tâm thức được mở rộng “một cách có ý thức”. Mẫu đệ tử mới hơn đang bước đi trên con đường phát triển và mở rộng có ý thức. Y biết phải làm gì để tạo ra sự mở rộng và có thể nhận biết tiến trình mở rộng khi nó diễn ra. Y nhận biết tiến trình.
54. The cross does not simply retract to a central point (which is a process later indicative of the fourth initiation), but there is a great extension even as a subtle intensification (that we might call intension ) is occurring.
54. Thập giá không chỉ đơn giản thu về một điểm trung tâm (vốn là một tiến trình về sau biểu thị lần điểm đạo thứ tư), mà còn có một sự vươn rộng lớn lao ngay khi một sự tăng cường tinh tế (mà chúng ta có thể gọi là sự tăng cường hướng nội) đang diễn ra.
55. Hierarchy is reaching upwards towards Shamballa even as it is reaching into the lower worlds where human beings focus their consciousness. Humanity, in its higher brackets, is emulating the up-reach, down-reach, out-reach and ‘in-reach’ of Hierarchy.
55. Thánh đoàn đang vươn lên Shamballa đồng thời vươn vào các cõi thấp, nơi con người tập trung tâm thức. Những tầng lớp cao hơn của nhân loại đang noi theo sự vươn lên, vươn xuống, vươn ra và ‘vươn vào trong’ của Thánh đoàn.
56. In short, the disciples’ sphere of consciousness is expanding greatly even as the center of the sphere is becoming more vibrantly magnetic and the subject of meditative attention.
56. Tóm lại, khối cầu tâm thức của các đệ tử đang mở rộng mạnh mẽ, đồng thời trung tâm của khối cầu ấy ngày càng có từ tính sống động hơn và trở thành đối tượng chú tâm trong tham thiền.
This means towards synthesis, towards wholeness, towards the sense of the entire, towards totality.
Điều này có nghĩa là hướng tới sự tổng hợp, sự toàn vẹn, ý thức về toàn thể, tính toàn thể.
57. We are living in times in which the idea of synthesis has become far more than a word. The great Shamballic Impacts have made humanity capable of synthetic understanding, appreciation and action.
57. Chúng ta đang sống trong thời đại mà ý tưởng về sự tổng hợp đã vượt xa một từ ngữ đơn thuần. Những Tác Động lớn lao từ Shamballa đã khiến nhân loại có khả năng thấu hiểu, nhận thức giá trị và hành động một cách tổng hợp.
58. When we think of the sign Aquarius, we realize that it is ruled in part by both Uranus and Jupiter, which, taken together increasingly confer the sense of wholeness upon the disciple who responds to the higher potentialities of the universalism of this sign.
58. Khi nghĩ đến dấu hiệu Bảo Bình, chúng ta nhận ra rằng một phần sự cai quản dấu hiệu này thuộc về cả Sao Thiên Vương và Sao Mộc; khi phối hợp, hai hành tinh này ngày càng ban cho đệ tử ý thức về tính toàn vẹn, nếu y đáp ứng với những tiềm năng cao hơn trong tính phổ quát của dấu hiệu này.
For all these four directions (of which north, south, east and west are symbols) there are specific techniques, but today I may only indicate direction.
Cả bốn hướng này (mà bắc, nam, đông và tây là những biểu tượng) đều có những kỹ thuật riêng, nhưng hôm nay Tôi chỉ có thể chỉ ra phương hướng.
59. How should we evaluate the four directions (North, South, East, West) in relation to the ‘upwardness’, ‘downwardness’, ‘outwardness’ and ‘inwardness’? We can think of the astrological chart as we attempt to do so, though due to astrology’s conventional presentation of a two-dimensional map of the sky, the analogy will not be exact.
59. Chúng ta nên đánh giá bốn phương (Bắc, Nam, Đông, Tây) như thế nào trong mối liên hệ với sự ‘hướng lên’, ‘hướng xuống’, ‘hướng ra’ và ‘hướng vào trong’? Chúng ta có thể nghĩ đến lá số chiêm tinh khi cố gắng làm điều này, mặc dù do cách chiêm tinh học trình bày bầu trời theo quy ước bằng một bản đồ hai chiều, sự tương đồng sẽ không chính xác.
60. While there may be several ways to conceive of the pattern—let us assign—
60. Mặc dù có thể có nhiều cách hình dung mô hình này—chúng ta hãy quy định—
a. The North to the state of ‘upwardness’ (the higher kingdoms)
a. Phương Bắc tương ứng với trạng thái ‘hướng lên’ (các giới cao hơn)
b. The South to the state of ‘downwardness’ (the lower kingdoms)
b. Phương Nam tương ứng với trạng thái ‘hướng xuống’ (các giới thấp hơn)
c. The West to the state of ‘outwardness’ (humanity and the human environment)
c. Phương Tây tương ứng với trạng thái ‘hướng ra’ (nhân loại và môi trường con người)
d. And the East to the state of ‘inwardness’ (the inner divinity). The “East” has always represented the inner life and the source of light and being within man.
d. Và phương Đông tương ứng với trạng thái ‘hướng vào trong’ (thiên tính bên trong). “Phương Đông” luôn tượng trưng cho sự sống bên trong và nguồn ánh sáng cùng sự hiện tồn trong con người.
61. A little thought on these assignments will reveal a rationale
61. Suy ngẫm đôi chút về những sự quy định này sẽ cho thấy cơ sở hợp lý
2. A sense of "intelligent supervision".
2. Một ý thức về “sự giám sát thông tuệ”.
62. We are speaking of the present and future objectives of the modern disciple and not of past and familiar objectives.
62. Chúng ta đang nói về các mục tiêu hiện tại và tương lai của đệ tử hiện đại, chứ không phải các mục tiêu quen thuộc trong quá khứ.
This must be esoterically understood. What does this mean? One of the most deeply spiritual qualities which would-be initiates must unfold is the constant recognition of a focussed control upon daily life, circumstance, the future and fate. This is as yet an embryonic sense or entirely new avenue of perception and relatively close to and an aspect of the will aspect of divinity. It makes man conscious of his destiny, develops in him predictive power and gives him initiate insight into purpose and its unfolding plan. It is a faculty which you would do well to consider and try to imagine as a step towards development.
Phải thấu hiểu điều này theo nghĩa huyền bí. Điều này có nghĩa là gì? Một trong những phẩm tính tinh thần sâu sắc nhất mà những người mong muốn trở thành điểm đạo đồ phải khai mở là sự nhận biết thường xuyên về một sự kiểm soát tập trung đối với đời sống hằng ngày, hoàn cảnh, tương lai và số phận. Đây vẫn còn là một giác quan ở dạng phôi thai hay một con đường tri giác hoàn toàn mới, tương đối gần gũi với phương diện ý chí của thiên tính và cũng là một khía cạnh của phương diện ấy. Nó khiến con người ý thức được vận mệnh của mình, phát triển nơi y năng lực tiên đoán và đem lại cho y sự thấu suốt của điểm đạo đồ về mục đích và kế hoạch đang khai mở của mục đích ấy. Đây là một năng lực mà các bạn nên suy xét và cố gắng hình dung như một bước hướng tới sự phát triển.
63. “Supervision” means ‘vision from above’. Perhaps, we could as well call it ‘vision from within’.
63. “Giám sát” có nghĩa là ‘nhìn từ trên cao’. Có lẽ chúng ta cũng có thể gọi đó là ‘nhìn từ bên trong’.
64. The disciple who supervises his life intelligently has developed a dual focus in consciousness; he is at once the ‘Actor in the World’ and the ‘ Observer of the Actor’.
64. Người đệ tử giám sát đời sống của mình một cách thông minh đã phát triển một tiêu điểm kép trong tâm thức; y đồng thời là ‘Người Hành Động trong Thế Giới’ và ‘Người Quan Sát Người Hành Động’.
65. A degree of identification as an Ego is required in order to achieve this “entirely new avenue of perception”. The more we understand the nature of the spiritual triad and of the will, the more successful we shall become in achieving this point of vantage. It is obvious that the cultivation and use of the antahkarana is required for this achievement.
65. Cần có một mức độ đồng hoá với tư cách một Chân ngã để đạt được “con đường tri giác hoàn toàn mới” này. Càng thấu hiểu bản chất của Tam Nguyên Tinh Thần và của ý chí, chúng ta càng thành công trong việc đạt được vị thế quan sát thuận lợi này. Hiển nhiên, để đạt được điều ấy, cần phải xây dựng và sử dụng antahkarana.
66. “Intelligent supervision” is a relatively disidentified state of self-perception.
66. “Sự giám sát thông minh” là một trạng thái tự tri giác tương đối thoát khỏi sự đồng hoá.
67. Let us tabulate the results of achieving intelligent supervision:
67. Chúng ta hãy liệt kê các kết quả của việc đạt được sự giám sát thông minh:
a. It makes a man conscious of his destiny
a. Nó khiến con người ý thức về vận mệnh của mình
b. It develops in him predictive power
b. Nó phát triển nơi y năng lực tiên đoán
c. It gives him initiate insight into purpose and its unfolding plan
c. Nó ban cho y tuệ giác của điểm đạo đồ về mục đích cùng Thiên Cơ đang khai mở của mục đích ấy
68. The last phrase is interesting; purpose precedes plan. Purpose unfolds in time through plan and by means of the impelling agency of the will.
68. Cụm từ cuối cùng rất thú vị; mục đích có trước Thiên Cơ. Mục đích khai mở trong thời gian thông qua Thiên Cơ và nhờ tác động thúc đẩy của ý chí.
3. The sense of orientation to humanity. I presume you will recognise the truth of what I say when I express the opinion that your individual or personal love of humanity and the focus of your attention upon human need is very largely theoretical. It is transitory and experimental in practice. Your intentions are good and fine but you have not yet the habit of correct orientation and much that you do is the result of imposed sacrifice and at a cost; it is not natural to you; it is still the result of hopeful endeavour; you are still bewildered over the problem of how to be oriented to the Hierarchy and your soul, and at the same time to be oriented to humanity and your fellowmen.
3. Ý thức hướng về nhân loại. Tôi cho rằng các bạn sẽ nhận ra sự thật trong lời Tôi nói khi Tôi nêu ý kiến rằng tình thương nhân loại của riêng mỗi người hay của cá nhân các bạn và sự tập trung chú ý của các bạn vào nhu cầu nhân loại phần lớn vẫn mang tính lý thuyết. Trong thực hành, điều đó còn nhất thời và mang tính thử nghiệm. Ý định của các bạn tốt đẹp và cao quý, nhưng các bạn chưa có thói quen định hướng đúng đắn, và nhiều việc các bạn làm là kết quả của sự hi sinh tự ép buộc và phải trả giá; điều đó chưa tự nhiên đối với các bạn; nó vẫn là kết quả của nỗ lực đầy hy vọng; các bạn vẫn bối rối trước vấn đề làm thế nào để hướng về Thánh đoàn và linh hồn mình, đồng thời hướng về nhân loại và đồng loại.
69. Here we have a truthful assessment of the attitude and orientation of most disciples towards the love and service of humanity.
69. Ở đây, chúng ta có một đánh giá chân thực về thái độ và sự định hướng của phần lớn đệ tử đối với việc yêu thương và phụng sự nhân loại.
70. DK did not say that the soul love of disciples for humanity is theoretical but that their “individual or personal love” is. We may judge that the disciple must achieve for humanity an individual or personal love (as well as soul love), and the most disciples have not yet done so.
70. Chân sư DK không nói rằng tình thương của linh hồn mà các đệ tử dành cho nhân loại mang tính lý thuyết, mà Ngài nói “tình thương mang tính cá thể hay cá nhân” của họ là như vậy. Chúng ta có thể nhận định rằng người đệ tử phải đạt được một tình thương mang tính cá thể hay cá nhân dành cho nhân loại (cũng như tình thương của linh hồn), và phần lớn đệ tử vẫn chưa làm được điều đó.
71. If they do achieve such a love, DK notes that it is transitory or fleeting and not enduring. Disciples are still experimenting with the idea.
71. Nếu họ đạt được tình thương như thế, Chân sư DK lưu ý rằng nó chỉ thoáng qua hay ngắn ngủi, chưa bền vững. Các đệ tử vẫn đang thử nghiệm với ý tưởng này.
72. In telling us what disciples have not achieved DK is at once telling us what the more advanced members of the Hierarchy have achieved.
72. Khi cho chúng ta biết những gì các đệ tử chưa đạt được, Chân sư DK đồng thời cũng cho chúng ta biết những gì các thành viên tiến bộ hơn của Thánh đoàn đã đạt được.
73. For Them, the love of and service of humanity is completely natural, and long ago They have achieved the “habit of correct orientation”.
73. Đối với Các Ngài, việc yêu thương và phụng sự nhân loại hoàn toàn tự nhiên, và từ lâu Các Ngài đã đạt được “thói quen định hướng đúng đắn”.
74. The Members of the Hierarchy know how to be oriented towards Shamballa and still serve the human race and the planet as a whole.
74. Các Thành Viên của Thánh đoàn biết cách hướng về Shamballa mà vẫn phụng sự nhân loại và toàn thể hành tinh.
75. Disciples for the most part still do not know how to be oriented towards Hierarchy and the soul and, simultaneously, be oriented towards humanity in love and service.
75. Phần lớn đệ tử vẫn chưa biết cách hướng về Thánh đoàn và linh hồn, đồng thời hướng về nhân loại trong tình thương và sự phụng sự.
76. Perhaps we should pause to evaluate where we, individually, stand with respect to this dual orientation. I think we will see that much heart development will be necessary before the dual orientation required is completely natural to us.
76. Có lẽ chúng ta nên dừng lại để đánh giá xem mỗi người chúng ta đang ở đâu xét về sự định hướng kép này. Tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy rằng cần phát triển tâm rất nhiều trước khi sự định hướng kép cần có ấy trở nên hoàn toàn tự nhiên đối với chúng ta.
77. A certain type of “spiritual habit” is required of us—the “habit of correct orientation”. Much work with the planet Venus (as it signifies the union of heart and mind) will lead us in the right direction.
77. Chúng ta cần có một loại “thói quen tinh thần” nào đó—“thói quen định hướng đúng đắn”. Việc làm việc nhiều với hành tinh Sao Kim (vì hành tinh này biểu thị sự hợp nhất giữa tâm và trí) sẽ dẫn chúng ta đi đúng hướng.
But the time will come when you are personally so decentralised that automatically the sense of "others" is [298] far stronger in you than the sense of personality or of the lower self.
Nhưng sẽ đến lúc bản thân các bạn phi tập trung vào bản thân đến mức ý thức về “người khác” tự động [298] mạnh hơn nhiều so với ý thức về phàm nhân hay phàm ngã.
78. We have presented a vision of future possibilities.
78. Chúng ta đã trình bày một tầm nhìn về những khả năng trong tương lai.
79. The Christ was a “man for others”, and we (through pure altruism) have to become likewise.
79. Đức Christ là một “con người vì người khác”, và chúng ta (thông qua lòng vị tha thuần khiết) cũng phải trở nên như vậy.
80. We can practice this correct orientation by developing in ourselves one of the foremost of psychic powers—awareness of the need of others.
80. Chúng ta có thể thực hành sự định hướng đúng đắn này bằng cách phát triển trong mình một trong những quyền năng thông linh hàng đầu—khả năng nhận biết nhu cầu của người khác.
81. One might say, “I will give when my storehouse is of sufficient fulness”, but the only way to achieve that Jupiterian sufficiency (from which constant and abundant giving is possible) is to give what one already has.
81. Có người có thể nói: “Tôi sẽ cho đi khi kho của tôi đã đủ đầy”, nhưng cách duy nhất để đạt được sự sung túc mang tính Sao Mộc ấy (nhờ đó có thể cho đi liên tục và dồi dào) là cho đi những gì mình đã có.
Let your imagination run wild for a moment, picturing the condition of the world when the majority of human beings are occupied with the good of others and not with their own selfish goals. Such a play of imaginative thought is good and constructive and will aid in bringing out into manifestation that new world and that new type of humanity which the future will inevitably demonstrate. On this I shall not enlarge; the practice of goodwill will lay the foundation for this new type of sensitivity.
Hãy để sự tưởng tượng của các bạn bay bổng trong giây lát, hình dung tình trạng thế giới khi đa số con người quan tâm đến lợi ích của người khác thay vì các mục tiêu ích kỷ của riêng mình. Sự vận động như thế của tư tưởng tưởng tượng là tốt đẹp và có tính xây dựng, và sẽ giúp đưa vào biểu hiện thế giới mới cùng mẫu nhân loại mới mà tương lai chắc chắn sẽ cho thấy. Tôi sẽ không nói thêm về điều này; việc thực hành thiện chí sẽ đặt nền móng cho loại nhạy cảm mới này.
82. The practice of goodwill will pave the way for the expression of pure altruism.
82. Việc thực hành thiện chí sẽ mở đường cho sự biểu lộ lòng vị tha thuần khiết.
83. I think the attempt to work with the imagination in the direction just suggested by Master DK will directly impact the heart center.
83. Tôi nghĩ nỗ lực làm việc với sự tưởng tượng theo hướng Chân sư DK vừa gợi ý sẽ tác động trực tiếp đến trung tâm tim.
84. One will sense, perhaps, the tremendous stimulus to the “Divine Circulatory Flow” which would result were such altruism to prevail.
84. Có lẽ người ta sẽ cảm nhận được sự kích thích to lớn đối với “Dòng Tuần Hoàn Thiêng Liêng” nếu lòng vị tha như thế trở nên phổ biến.
4. The sense of registered impression. With this new feeling out towards the unknown and towards that which requires a sensitive expansion of consciousness I shall not deal at this moment. It concerns the theme of training in telepathy;
4. Ý thức về ấn tượng được ghi nhận. Lúc này, Tôi sẽ không bàn đến sự dò tìm mới mẻ này hướng về điều chưa biết và về những gì đòi hỏi một sự mở rộng nhạy cảm của tâm thức. Nó liên quan đến chủ đề huấn luyện viễn cảm;
85. This is a theme into which DK has already entered extensively and an entire book on the subject is part of His offering: Telepathy and the Etheric Vehicle.
85. Đây là một chủ đề mà Chân sư DK đã đi sâu bàn luận, và trong những gì Ngài trao tặng có cả một cuốn sách dành cho chủ đề này: Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái.
86. We have a very good definition of this “sense of registered impression”: a “new feeling out towards the unknown and towards that which requires a sensitive expansion of consciousness”.
86. Chúng ta có một định nghĩa rất hay về “cảm thức về ấn tượng được ghi nhận” này: một “sự vươn tới bằng cảm nhận mới mẻ hướng đến điều chưa biết và điều đòi hỏi một sự mở rộng nhạy bén của tâm thức”.
87. Again, it becomes apparent how much the building, cultivation and utilization of the antahkarana are required for the registration of that which lies beyond the ordinary, “mediocre” range of human consciousness. Without a “sensitive expansion of consciousness” we would never register these more refined areas of vibration.
87. Một lần nữa, rõ ràng việc xây dựng, vun bồi và sử dụng antahkarana cần thiết biết bao để ghi nhận những gì nằm ngoài phạm vi thông thường, “tầm thường” của tâm thức con người. Không có “sự mở rộng nhạy bén của tâm thức”, chúng ta sẽ không bao giờ ghi nhận được những vùng rung động tinh tế hơn này.
88. The telepathy we are discussing is kind of ‘vertical’ telepathy and renders the adventuring consciousness increasingly sensitive to the raincloud of knowable things and to the gradual revelation of the Divine Plan.
88. Viễn cảm mà chúng ta đang bàn đến là một loại viễn cảm theo “chiều dọc”, khiến tâm thức đang dấn bước khám phá ngày càng nhạy cảm với đám mây mưa của những điều khả tri và với sự mặc khải dần dần của Thiên Cơ.
I shall deal with it as we consider that Science of Impression* which will eventually be the major objective of the educational systems which will be functioning at the close of the New Age, so rapidly approaching.
Tôi sẽ bàn đến khi chúng ta xem xét Khoa Học Ấn Tượng [xvi]* ấy, vốn cuối cùng sẽ trở thành mục tiêu chính của các hệ thống giáo dục hoạt động vào cuối Kỷ Nguyên Mới đang đến rất nhanh.
89. It would seem that DK is speaking of the “educational systems” which will be functioning at the conclusion of the Aquarian Age, so He is looking some 2300 years ahead.
89. Dường như Chân sư DK đang nói đến những “hệ thống giáo dục” sẽ hoạt động vào cuối Kỷ Nguyên Bảo Bình, vậy là Ngài đang nhìn trước khoảng 2300 năm.
90. When we study the seed group called the “Educators in the New Age”, we note that the three chakras they primarily utilize are the head center, the ajna center and the throat center. These are the centers primarily involved in the building the antahkarana and in the cultivation of telepathic response. It would seem that the heart center should be included and indeed, it has a role. It may be that it is somewhat replaced by the heart center within the head.
90. Khi nghiên cứu nhóm hạt giống có tên “Các Nhà Giáo Dục trong Kỷ Nguyên Mới”, chúng ta lưu ý rằng ba luân xa họ sử dụng chủ yếu là trung tâm đầu, trung tâm ajna và trung tâm cổ họng. Đây là những trung tâm chủ yếu tham gia vào việc xây dựng antahkarana và vun bồi sự đáp ứng viễn cảm. Dường như cũng cần kể đến trung tâm tim, và quả thật trung tâm này có một vai trò. Có thể trung tâm tim trong đầu phần nào thay thế cho nó.
Only now have those forces been permitted entrance into our planetary life which will present the new subjective environment which has ever been there though unrealised.
Chỉ đến lúc này, những mãnh lực ấy mới được phép đi vào sự sống hành tinh của chúng ta để làm hiển lộ môi trường chủ quan mới vốn luôn hiện hữu dù chưa được nhận biết.
91. The forces of which DK is speaking may be called ‘forces of revelation’. They disclose the “new subjective environment which has ever been there though unrealized”.
91. Những mãnh lực mà Chân sư DK đang nói đến có thể được gọi là “các mãnh lực mặc khải”. Chúng hé lộ “môi trường chủ quan mới vốn luôn hiện hữu dù chưa được nhận biết”.
92. We may also consider these forces as “Forces of Enlightenment” closely related to the linking planet Mercury, which reveals, through the intuition, that which normally lies ‘above’ human registration.
92. Chúng ta cũng có thể xem những mãnh lực này là “Các Mãnh Lực Giác Ngộ”, có liên hệ mật thiết với hành tinh liên kết Sao Thủy, vốn thông qua trực giác mặc khải những gì thường nằm “cao hơn” khả năng ghi nhận của con người.
The reason for this new sensitivity being the objective of hierarchical cultural training is that it is realised by the Hierarchy that man is now adequately intelligent to be trained in right interpretation.
Lý do loại nhạy cảm mới này trở thành mục tiêu của việc huấn luyện văn hoá do Thánh đoàn thực hiện là vì Thánh đoàn nhận thấy con người hiện đã đủ thông minh để được huấn luyện về sự diễn giải đúng đắn.
93. The emphasis on Mercury is confirmed:
93. Sự nhấn mạnh vào Sao Thủy được xác nhận:
a. Man is, symbolically, Mercury and Mercury is factually the ruler of the Human or Fourth Creative Hierarchy
a. Theo nghĩa biểu tượng, con người là Sao Thủy, và trên thực tế, Sao Thủy là chủ tinh của Huyền Giai Sáng Tạo Nhân Loại, tức Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư
b. Mercury is the planet of intelligence
b. Sao Thủy chính là hành tinh của trí thông minh
c. Mercury is the planet of interpretation, and the third ray deeply associated with Mercury is the ‘Ray of Interpretation’
c. Sao Thủy là hành tinh của sự diễn giải, và cung ba có liên hệ sâu sắc với Sao Thủy là “Cung Diễn Giải”
d. Mercury is also a major planet of buddhic impression. The new sensitivity requires, minimally, a development of the buddhic faculty.
d. Sao Thủy cũng là một hành tinh chủ yếu của ấn tượng Bồ đề. Sự nhạy cảm mới đòi hỏi, ít nhất, phải phát triển năng lực Bồ đề.
5. The evocation of the will. This is, for disciples particularly, the new and most necessary development.
5. Sự gợi lên ý chí. Đặc biệt đối với các đệ tử, đây là sự phát triển mới và cần thiết nhất.
94. It is clear that DK does not consider the evocation of the will to be optional.
94. Rõ ràng Chân sư DK không xem sự gợi lên ý chí là điều tùy chọn.
95. The Divine Plan considered in essence is the following:
95. Xét về bản chất cốt yếu, Thiên Cơ là như sau:
a. The illumination of the mind
a. Sự soi sáng thể trí
b. The revelation of love
b. Sự mặc khải tình thương
c. The evocation of the will (cf. DINA I 411)
c. Sự gợi lên ý chí (xem DINA I 411)
96. We see therefore that the evocation of the will is integral to the realization and enactment of the Divine Plan.
96. Do đó, chúng ta thấy rằng sự gợi lên ý chí là phần không thể thiếu trong việc nhận biết và thực thi Thiên Cơ.
As I oft have told you, the average aspirant confounds will with determination, with fixed intention, with self-will and one-pointed attention.
Như Tôi thường nói với các bạn, người chí nguyện trung bình nhầm lẫn ý chí với sự quyết tâm, với ý định kiên định, với ý riêng và sự chú ý nhất tâm.
97. Let us tabulate those psychological dynamics with which will is usually confounded by the average aspirant:
97. Chúng ta hãy liệt kê những động lực tâm lý mà người chí nguyện trung bình thường nhầm lẫn với ý chí:
a. He confounds will with determination
a. Y nhầm lẫn ý chí với sự quyết tâm
b. He confounds will with fixed intention
b. Y nhầm lẫn ý chí với ý định kiên định
c. He confounds will with self-will
c. Y nhầm lẫn ý chí với ý chí vị kỷ
d. He confounds will with one-pointed attention
d. Y nhầm lẫn ý chí với sự chú ý nhất tâm
98. When the real will is truly strengthened, determination, fixed-intention and one-pointed attention will all be strengthened; self-will will not.
98. Khi ý chí đích thực thật sự được củng cố, sự quyết tâm, ý định kiên định và sự chú ý nhất tâm đều sẽ được củng cố; ý chí vị kỷ thì không.
99. Yet none of these four is really will.
99. Tuy nhiên, không điều nào trong bốn điều này thực sự là ý chí.
He does not realise that the will is that divine aspect in man that puts him en rapport with and then controlled by divine purpose, intelligently understood in time and space and implemented by the soul as the expression of loving application.
Y không nhận ra rằng ý chí là phương diện thiêng liêng trong con người, đưa y vào sự tương thông với mục đích thiêng liêng rồi chịu sự chi phối của mục đích ấy; mục đích này được thấu hiểu một cách thông tuệ trong thời gian và không gian, và linh hồn thực hiện nó như biểu hiện của sự vận dụng đầy tình thương.
100. Here is another of those comprehensive definitions of the will.
100. Đây lại là một trong những định nghĩa toàn diện về ý chí.
101. Firstly, it is a “divine aspect”. Unless it puts the disciple in touch with divine purpose and implements control (of his life) by divine purpose, it is not will, as DK conceives will to be.
101. Trước hết, đó là một “phương diện thiêng liêng”. Nếu nó không đưa người đệ tử tiếp xúc với Thiên Ý và khiến Thiên Ý kiểm soát (cuộc sống của y), thì nó không phải là ý chí theo quan niệm của Chân sư DK.
102. Divine purpose must not only control the disciple, but that purpose must be intelligently understood (not only in essence, but within the context of time and space).
102. Thiên Ý không chỉ phải kiểm soát người đệ tử, mà người đệ tử còn phải thấu hiểu Thiên Ý ấy một cách thông minh (không chỉ về bản chất cốt yếu mà còn trong bối cảnh thời gian và không gian).
103. How is the will implemented? It is implemented by the soul, and so the disciple who can wield the will must be identified as a soul. The true soul is the Ego (and the Ego is the spiritual triad). To identify as the Ego, the correct use of the antahkarana is required.
103. Ý chí được thực thi như thế nào? Linh hồn thực thi ý chí, vì vậy người đệ tử có thể vận dụng ý chí phải đồng hóa mình như một linh hồn. Linh hồn đích thực là Chân ngã (và Chân ngã là Tam Nguyên Tinh Thần). Để đồng hóa mình như Chân ngã, cần sử dụng antahkarana đúng cách.
104. Further, the expression of the will is inseparable from “the expression of loving application”. Divine purpose embodies Divine Love and if that which is expressed is devoid of “loving application” it is not truly will.
104. Hơn nữa, sự biểu lộ ý chí không thể tách rời “sự biểu lộ của việc vận dụng đầy tình thương”. Thiên Ý thể hiện Tình Thương Thiêng Liêng, và nếu điều được biểu lộ thiếu “sự vận dụng đầy tình thương”, thì nó không thực sự là ý chí.
105. We can see how many of our thoughts about will need to be adjusted if we are to gain a truer understanding of what it really is and an increasing ability to express it.
105. Chúng ta có thể thấy biết bao suy nghĩ của mình về ý chí cần được điều chỉnh nếu muốn thấu hiểu chân thực hơn ý chí thực sự là gì và ngày càng có khả năng biểu lộ nó.
The mode par excellence by which the will can be developed is the cultivation of the recognition of the divine Plan down the ages.
Phương thức ưu việt nhất để phát triển ý chí là vun bồi sự nhận biết về Thiên Cơ qua các thời đại.
106. While it is true that we need to understand the Divine Plan as it is intended to work out in our present era, such understanding is not really complete unless we can understand the Divine Plan as is operated in an historical context. Therefore, the study of history in relation to the working out of the Divine Plan is considered essential for the understanding of the Plan the development of the will.
106. Đúng là chúng ta cần thấu hiểu Thiên Cơ theo cách nó được dự định thực hiện trong thời đại hiện nay, nhưng sự thấu hiểu ấy chưa thực sự trọn vẹn nếu chúng ta chưa thể thấu hiểu Thiên Cơ khi nó vận hành trong bối cảnh lịch sử. Do đó, việc nghiên cứu lịch sử trong mối liên hệ với sự thực hiện Thiên Cơ được xem là thiết yếu để thấu hiểu Thiên Cơ và phát triển ý chí.
107. The study of ray cycles and astrological periods (both of the past and the present) and their historical and present effects, will take us far towards the understanding of the Plan.
107. Việc nghiên cứu các chu kỳ cung và các thời kỳ chiêm tinh (cả quá khứ lẫn hiện tại), cùng những tác động của chúng trong lịch sử và hiện tại, sẽ giúp chúng ta tiến xa trong việc thấu hiểu Thiên Cơ.
108. We see, then, that an understanding of will depends upon both meditation and study, for without these, no true understanding of the Plan (at present, or within an historical context) is possible.
108. Như vậy, chúng ta thấy rằng sự thấu hiểu ý chí phụ thuộc vào cả tham thiền lẫn học tập, vì thiếu hai điều này, không thể có sự thấu hiểu chân thực về Thiên Cơ (trong hiện tại hay trong bối cảnh lịch sử).
109. Perhaps the greatest and most comprehensive history book at our disposal is The Secret Doctrine. This book was written and written down by a first ray disciple (HPB) and its study will (according to the suggestions here given by DK) lead to a greater understanding of the meaning of will and a greater ability to express it.
109. Có lẽ cuốn sách lịch sử vĩ đại nhất và toàn diện nhất mà chúng ta có là Giáo Lý Bí Nhiệm. Cuốn sách này do một đệ tử cung một (HPB) viết và ghi chép lại, và việc nghiên cứu nó (theo những gợi ý Chân sư DK đưa ra ở đây) sẽ dẫn đến sự thấu hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của ý chí và khả năng biểu lộ ý chí lớn hơn.
This produces a sense of synthesis and this sense of [299] synthesis ties the man into the plan through recognition of:
Điều này tạo ra một ý thức tổng hợp, và ý thức [299] tổng hợp ấy gắn kết con người với Thiên Cơ qua sự nhận biết:
110. Another requirement for an understanding of the will is a growing “sense of synthesis”. A study of the Divine Plan (contemporarily and down the ages) contributes to the growth of this sense of synthesis.
110. Một yêu cầu khác để thấu hiểu ý chí là “cảm thức tổng hợp” ngày càng phát triển. Việc nghiên cứu Thiên Cơ (trong thời hiện tại và qua các thời đại) góp phần phát triển cảm thức tổng hợp này.
111. DK seeks to see us tied “into the plan”. The following recognitions, based upon the sense of synthesis, tie the disciple into the Divine Plan in four ways:
111. Chân sư DK mong thấy chúng ta gắn kết “với Thiên Cơ”. Những nhận biết sau đây, dựa trên cảm thức tổng hợp, gắn kết người đệ tử với Thiên Cơ theo bốn cách:
a. Its inevitability, therefore demanding cooperation.
a. Tính tất yếu của Thiên Cơ, do đó đòi hỏi sự hợp tác.
112. We naturally cooperate with the good which cannot be evaded. There is nothing like inevitability to compel the compliance of the will
112. Chúng ta tự nhiên hợp tác với điều thiện không thể né tránh. Không gì buộc ý chí tuân theo mạnh bằng tính tất yếu
b. Its success, therefore evoking wise activity.
b. Sự thành công của Thiên Cơ, do đó gợi lên hoạt động minh triết.
113. When we realize that the Divine Plan must inevitably work out successfully, we with to act wisely in cooperation with it. We do not wish to do anything which will mar it timely success. We wish to be fully integrated with those processes which are leading to success.
113. Khi nhận ra rằng Thiên Cơ tất yếu phải được thực hiện thành công, chúng ta mong muốn hành động minh triết để hợp tác với Thiên Cơ. Chúng ta không muốn làm bất cứ điều gì gây tổn hại đến sự thành công đúng thời điểm của Thiên Cơ. Chúng ta muốn hoàn toàn tích hợp với những tiến trình đang dẫn đến thành công.
c. Its immediate objective—to which all the past has led.
c. Mục tiêu trước mắt của Thiên Cơ—mà toàn bộ quá khứ đã dẫn tới.
114. It is not enough to work for the Divine Plan in the abstract. The Divine Plan is a massive concordance of progressive energies, and has objectives suitable for any particular time, place and sphere of potency.
114. Làm việc cho Thiên Cơ một cách trừu tượng là chưa đủ. Thiên Cơ là sự hòa hợp rộng lớn của những năng lượng tiến triển, và có những mục tiêu phù hợp với từng thời gian, địa điểm và phạm vi tác động cụ thể.
115. Recognition of the immediate objective of the Plan assists us in the display of wise, cooperative activity according to the Law of Economy.
115. Việc nhận biết mục tiêu trước mắt của Thiên Cơ giúp chúng ta thể hiện hoạt động hợp tác minh triết theo Định luật Tiết Kiệm.
116. We also come to understand why the “immediate objective” is the logical and rightful objective because we understand the concatenation of past processes which have let to the necessity for this objective.
116. Chúng ta cũng dần thấu hiểu vì sao “mục tiêu trước mắt” là mục tiêu hợp lý và chính đáng, vì chúng ta thấu hiểu chuỗi liên kết của những tiến trình quá khứ đã dẫn đến sự cần thiết của mục tiêu này.
d. Its rightness—to which the intuition testifies.
d. Tính đúng đắn của Thiên Cơ—mà trực giác chứng thực.
117. Reason is not enough, but “pure reason” may suffice.
117. Lý trí là chưa đủ, nhưng “lý trí thuần khiết” có thể đủ.
118. It is not that the Divine Plan is simply willed by beings greater than ourselves, but that it is rightly willed.
118. Thiên Cơ không chỉ đơn thuần là điều mà các sinh linh cao cả hơn chúng ta quyết ý thực hiện, mà còn là điều Các Ngài quyết ý thực hiện một cách đúng đắn.
119. The intuition reveals the manner in which the Divine Plan correlates with the Divine Purpose. The conviction of rightness is empowering.
119. Trực giác mặc khải cách Thiên Cơ tương quan với Thiên Ý. Niềm xác tín về tính đúng đắn mang lại sức mạnh.
120. What is the sequence we have been given:
120. Trình tự mà chúng ta đã được trao là gì:
a. A study of the Plan (as it is expressing presently and as it expressed in the past) leads to an understanding of and ability to express will, and also to…
a. Việc nghiên cứu Thiên Cơ (như nó đang biểu lộ hiện nay và đã biểu lộ trong quá khứ) dẫn đến sự thấu hiểu và khả năng biểu lộ ý chí, và cũng dẫn đến…
b. A growing sense of synthesis.
b. Một cảm thức tổng hợp ngày càng phát triển.
c. This sense of synthesis ties a man into the Plan in four ways revealing…
c. Cảm thức tổng hợp này gắn kết con người với Thiên Cơ theo bốn cách, qua việc mặc khải…
i. The inevitability of the Plan
i. Tính tất yếu của Thiên Cơ
ii. The eventual success of the Plan
ii. Sự thành công cuối cùng của Thiên Cơ
iii. The immediate objective of the Plan
iii. Mục tiêu trước mắt của Thiên Cơ
iv. The rightness of the Plan. The intuition enhances this sense of rightness.
iv. Tính đúng đắn của Thiên Cơ. Trực giác làm tăng thêm cảm thức về tính đúng đắn này.
It is not easy for the disciple in training to associate the sense of synthesis and the use of the will together and to realise that a cultivation of this first ray perception is a potent mode by which the highest aspects of the spiritual will (as yet embryonic within him) can be unfolded. Elsewhere I deal in greater detail with the will, its nature and what it is.
Đối với đệ tử đang được huấn luyện, không dễ liên kết ý thức tổng hợp với việc sử dụng ý chí và nhận ra rằng việc vun bồi khả năng tri giác cung một này là một phương thức mạnh mẽ để khai mở những phương diện cao nhất của ý chí tinh thần (vẫn còn ở dạng phôi thai trong y). Ở nơi khác, Tôi bàn chi tiết hơn về ý chí, bản chất của nó và nó là gì.
121. We have been assigned our task. We are to…
121. Chúng ta đã được giao nhiệm vụ. Chúng ta phải…
a. Cultivate a sense of synthesis
a. Vun bồi cảm thức tổng hợp
b. Learn the nature of the will and its use (largely through a study of the Divine Plan), and then associate the nature and use of the will with the growing sense of synthesis
b. Học về bản chất của ý chí và cách sử dụng nó (chủ yếu thông qua việc nghiên cứu Thiên Cơ), rồi liên kết bản chất và việc sử dụng ý chí với cảm thức tổng hợp ngày càng phát triển
c. Realize that in so doing, we are cultivating a “first ray perception”.
c. Nhận ra rằng khi làm như vậy, chúng ta đang vun bồi một “tri giác cung một”.
d. Realize that the cultivation of this first ray perception (i.e., the sense of synthesis) along with the right use of the more clearly understood will, will unfold the highest aspects of the spiritual will within us. We might call this the unfoldment of atma within us.
d. Nhận ra rằng việc vun bồi tri giác cung một này (tức cảm thức tổng hợp), cùng với việc sử dụng đúng đắn ý chí mà chúng ta đã thấu hiểu rõ hơn, sẽ khai mở những phương diện cao nhất của ý chí tinh thần trong chúng ta. Chúng ta có thể gọi đây là sự khai mở atma trong chúng ta.
6. The sense of that which is imminent. This concerns the "raincloud of knowable things." I would call your attention to the word knowable. It is not the recognition of that which is imminent in man, in nature, or latent in manifestation. Speculation along this line might be and frequently is of no true importance. It is what is spiritually imminent which concerns the true disciple, if I may be permitted this play on words.
6. Ý thức về những gì sắp xuất hiện. Điều này liên quan đến “đám mây mưa của những điều khả tri”. Tôi muốn các bạn chú ý đến từ khả tri. Đây không phải là sự nhận biết những gì sắp xuất hiện trong con người, trong thiên nhiên, hay còn tiềm ẩn trong biểu hiện. Sự suy đoán theo hướng này có thể không mang tầm quan trọng thực sự nào, và thường đúng là như vậy. Điều mà người đệ tử chân chính quan tâm là những gì sắp xuất hiện về mặt tinh thần, nếu Tôi được phép chơi chữ như thế.
122. Master DK is not dealing with the “raincloud of unknowable things”, which also exists, and is discussed elsewhere.
122. Chân sư DK không bàn đến “đám mây mưa của những điều bất khả tri”, vốn cũng hiện hữu và được bàn đến ở nơi khác.
There is a higher condensation awaiting precipitation, but to humanity that will form a "raincloud of unknowable things" and necessitates not, therefore, your consideration. (DINA II 161)
Có một sự cô đọng cao hơn đang chờ ngưng tụ, nhưng đối với nhân loại, điều đó sẽ tạo thành một “đám mây mưa của những điều bất khả tri”, và do đó không đòi hỏi các bạn phải xem xét. (DINA II 161)
123. The awareness of that which is merely “imminent” is not sufficient. There is much in man and nature which is very near to precipitation but is not of an especially spiritual nature.
123. Nhận biết điều chỉ đơn thuần “sắp xảy đến” là chưa đủ. Có nhiều điều trong con người và thiên nhiên đã rất gần sự ngưng tụ nhưng không mang bản chất đặc biệt tinh thần.
124. That which is of spiritual imminence concerns the Divine Plan and has to do with the next spiritual unfoldment possible for humanity (and especially that unfoldment with which any particular disciple may cooperate given his sphere of influence and his spiritual status).
124. Điều sắp xảy đến về mặt tinh thần liên quan đến Thiên Cơ và gắn với sự khai mở tinh thần kế tiếp có thể có đối với nhân loại (và đặc biệt là sự khai mở mà một đệ tử cụ thể có thể hợp tác, xét theo phạm vi ảnh hưởng và vị thế tinh thần của y).
One of the first lessons in the esoteric field is the sense of timing, with which that which is imminent or impending is connected;
Một trong những bài học đầu tiên trong lĩnh vực huyền bí là ý thức về thời điểm, gắn liền với những gì sắp xuất hiện hay sắp xảy ra;
125. We can understand how a knowledge of ray cycles and astrological cycles would help with this sense of timing.
125. Chúng ta có thể thấu hiểu kiến thức về các chu kỳ cung và chu kỳ chiêm tinh sẽ giúp ích như thế nào cho cảm thức về thời điểm này.
126. Of course, the true intuition will prove infallible in this regard.
126. Dĩ nhiên, trực giác đích thực sẽ tỏ ra không sai lầm về phương diện này.
127. We are discussing those skills and faculties which are the property of the white magician.
127. Chúng ta đang bàn về những kỹ năng và năng lực thuộc về nhà huyền thuật chánh đạo.
the disciple has to awaken to that which is on the very verge of precipitation into human thinking, life and circumstance; he has to take those occult steps which will enable him to recognise not only that which is hovering over humanity on the point of revelation or of karmic usefulness (note the phrase), but also enable him to handle himself so correctly and wisely that he becomes a cooperator, step by step, in the process of aiding in this task of revelation.
đệ tử phải thức tỉnh trước những gì đang ở ngay ngưỡng ngưng tụ vào tư duy, đời sống và hoàn cảnh của nhân loại; y phải thực hiện những bước huyền bí giúp y nhận biết không chỉ những gì đang lơ lửng trên nhân loại, sắp được mặc khải hay sắp trở nên hữu ích về mặt nghiệp quả (hãy lưu ý cụm từ này), mà còn giúp y hành xử đúng đắn và minh triết đến mức từng bước trở thành người hợp tác trong tiến trình hỗ trợ công việc mặc khải này.
128. Here we have some very specific instructions. Some disciples call these energies “on the very verge of precipitation” by the phrase “what is trying to happen”.
128. Ở đây, chúng ta có một số huấn thị rất cụ thể. Một số đệ tử gọi những năng lượng “đang ở ngay ngưỡng ngưng tụ” này bằng cụm từ “điều đang cố gắng xảy ra”.
129. Precipitations can occur both into human thinking and human circumstance and both types of precipitation are important.
129. Sự ngưng tụ có thể xảy ra cả trong tư duy lẫn hoàn cảnh của con người, và cả hai loại ngưng tụ đều quan trọng.
130. The disciple is enjoined to take certain “occult steps” which will allow certain recognitions:
130. Người đệ tử được yêu cầu thực hiện một số “bước đi huyền bí” để có thể đạt được những nhận biết nhất định:
a. The recognition of that which is hovering over humanity on the point of revelation. Humanity needs certain revelations and not others.
a. Nhận biết điều đang lơ lửng trên nhân loại, sắp được mặc khải. Nhân loại cần những sự mặc khải nhất định, chứ không phải những sự mặc khải khác.
b. The recognition of that which is hovering and is of “karmic usefulness”. Not all that may precipitate is ‘karmically fit’ for the progress of humanity. What sorts of patterns (if precipitated) would hasten the expiation of karma and the enhancement of consciousness through this expiation? There is always a choice concerning which patterns should be assisted in their precipitation and which might be profitably held back until a more propitious moment.
b. Nhận biết điều đang lơ lửng và “hữu ích về nghiệp quả”. Không phải mọi điều có thể ngưng tụ đều “phù hợp về nghiệp quả” cho sự tiến bộ của nhân loại. Những loại mô hình nào (nếu ngưng tụ) sẽ đẩy nhanh sự thanh toán nghiệp quả và sự nâng cao tâm thức thông qua việc thanh toán ấy? Luôn có sự lựa chọn về việc những mô hình nào cần được hỗ trợ ngưng tụ, và những mô hình nào nên được giữ lại đến một thời điểm thuận lợi hơn để mang lại lợi ích.
131. In the midst of these recognitions, the disciple must learn to “handle himself” so that he may act wisely and cooperatively with that which should happen in order to facilitate the best expression of the Divine Plan. No disciple can ever escape the necessity of control (both of himself and of circumstance) as he attempts to assist in the precipitation of revelations or of patterns which will be karmically useful.
131. Giữa những nhận biết này, đệ tử phải học cách “làm chủ bản thân” để có thể hành động minh triết và hợp tác với điều nên xảy ra nhằm tạo thuận lợi cho sự biểu hiện tốt nhất của Thiên Cơ. Không đệ tử nào có thể tránh được yêu cầu phải kiểm soát cả bản thân lẫn hoàn cảnh khi cố gắng hỗ trợ sự ngưng tụ của những mặc khải hoặc mô hình hữu ích về mặt nghiệp quả.
132. We note that DK emphasizes the value of phased, linear action, “step by step”; the disciple must learn to work with continuity and patience.
132. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nhấn mạnh giá trị của hành động tuần tự theo từng giai đoạn, “từng bước một”; đệ tử phải học cách làm việc liên tục và kiên nhẫn.
133. We can see that the type of consciousness required of the new disciple is far beyond that which places the little self at the center of attention and which makes contact with the Ashram the major objective.
133. Chúng ta có thể thấy rằng loại tâm thức mà người đệ tử mới cần có vượt xa loại tâm thức đặt cái tôi nhỏ bé vào trung tâm của sự chú ý và lấy việc tiếp xúc với ashram làm mục tiêu chính yếu.
More light on this subject will come as we study the Science of Impression.
Chúng ta sẽ hiểu sáng tỏ hơn về chủ đề này khi nghiên cứu Khoa Học Ấn Tượng.
134. This is the major theme of the book, Telepathy and the Etheric Vehicle.
134. Đây là chủ đề chính của cuốn sách Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái.
The point, however, I seek to make here is that sensitivity to the overshadowing cloud presupposed the subjective existence of a power or divine faculty hitherto not consciously used by disciples but which can now be intelligently developed, producing more rapid vision and a more acute revelatory perception. [300] That power has always been present; it is an aspect of the force of evolution and has led man on from one point of revelation to another, from one power to another, one sense to another, and from point to point of understanding. It first of all produced the physical senses; it led man on to emotional expression and to mental development; it is the secret behind spiritual understanding, but it has never yet been consciously employed. It is to the mind what the mind, as the common-sense, has been to all the five senses. Think that out.
Tuy nhiên, điểm Tôi muốn nêu ở đây là sự nhạy cảm với đám mây phủ bóng hàm định sự hiện hữu chủ quan của một quyền năng hay năng lực thiêng liêng mà cho đến nay các đệ tử chưa sử dụng một cách có ý thức, nhưng giờ đây có thể phát triển một cách thông tuệ, tạo ra tầm nhìn nhanh nhạy hơn và khả năng tri giác mặc khải sắc bén hơn. [300] Quyền năng ấy vẫn luôn hiện hữu; nó là một phương diện của mãnh lực tiến hoá và đã dẫn dắt con người từ điểm mặc khải này đến điểm mặc khải khác, từ quyền năng này đến quyền năng khác, từ giác quan này đến giác quan khác, và từ mức thấu hiểu này đến mức thấu hiểu khác. Trước hết, nó tạo ra các giác quan hồng trần; nó dẫn dắt con người đến sự biểu lộ cảm xúc và sự phát triển trí tuệ; nó là bí mật đằng sau sự thấu hiểu tinh thần, nhưng chưa bao giờ được sử dụng một cách có ý thức. Nó có vai trò đối với thể trí như vai trò mà thể trí, với tư cách giác quan tổng hợp, đã có đối với cả năm giác quan. Hãy suy ngẫm cho thấu đáo điều này.
135. DK seems to be talking of the synthetic “esoteric sense”, deeply connected to the intuition. It is a faculty which ever forges into new vibratory spheres.
135. Dường như Chân sư DK đang nói về “giác quan nội môn” mang tính tổng hợp, có mối liên hệ sâu sắc với trực giác. Đó là một năng lực luôn tiến vào những khối cầu rung động mới.
136. A faculty, long present unconsciously, is to be consciously and intelligently developed. With the development of this faculty there will come:
136. Một năng lực từ lâu đã hiện hữu mà con người không ý thức được nay cần được phát triển một cách có ý thức và thông minh. Sự phát triển năng lực này sẽ mang lại:
a. More rapid vision
a. Linh thị nhanh nhạy hơn
b. A more acute revelatory perception
b. Tri giác mặc khải sắc bén hơn
137. DK is perhaps speaking of the aspect of the will related to the third ray: “The Will to Evolve”. As with all aspects of the will, it is an aspect of the Monad (which is, ultimately, the driving force behind evolution).
137. Có lẽ Chân sư DK đang nói về phương diện ý chí liên quan đến cung ba: “Ý Chí Tiến Hoá”. Cũng như mọi phương diện của ý chí, đó là một phương diện của chân thần, vốn suy cho cùng là động lực thúc đẩy tiến hoá.
138. This faculty is obviously synthetic, and is always ready to move the consciousness to the next possible stage of synthetic apprehension.
138. Năng lực này rõ ràng mang tính tổng hợp và luôn sẵn sàng đưa tâm thức đến giai đoạn nắm bắt tổng hợp khả hữu kế tiếp.
139. This faculty seeks always to expand the consciousness and seems to produce vehicles which assist in that expansion.
139. Năng lực này luôn tìm cách mở rộng tâm thức và dường như tạo ra những hiện thể hỗ trợ sự mở rộng ấy.
140. Can we come to appreciate the presence of a divine faculty which always seeks to expand the range of our awareness, and can we learn to use it consciously?
140. Liệu chúng ta có thể nhận biết và trân trọng sự hiện diện của một năng lực thiêng liêng luôn tìm cách mở rộng phạm vi nhận biết của mình, và học cách sử dụng nó một cách có ý thức không?
141. This faculty always pushes forward into that which for the developing consciousness is esoteric, not yet apprehended. It leads the disciple, eventually, towards direct and immediate identification with Reality.
141. Năng lực này luôn tiến vào những gì mà đối với tâm thức đang phát triển vẫn còn huyền bí, chưa thể nắm bắt. Cuối cùng, nó dẫn dắt đệ tử đến sự đồng hoá trực tiếp và tức thời với Thực Tại.
This raincloud is hovering, heavy with portent and knowledge, over a world today in process of reorganisation and regeneration.
Đám mây mưa này đang lơ lửng, trĩu nặng điềm báo và tri thức, trên một thế giới ngày nay đang trong tiến trình tái tổ chức và tái sinh.
142. The word “portent” suggests that as the raincloud begins to precipitate it will indicate the possibility of an entirely new way of living for humanity upon this planet. We cannot yet imagine what will be revealed.
142. Từ “điềm báo” gợi ý rằng khi đám mây mưa bắt đầu ngưng tụ, nó sẽ cho thấy khả năng về một lối sống hoàn toàn mới cho nhân loại trên hành tinh này. Chúng ta chưa thể hình dung điều gì sẽ được mặc khải.
143. It does seem that the time of precipitation is imminent. Other factors which are not spiritually imminent may also precipitate to clear the way for the precipitation of the “raincloud”. Humanity will have to ‘live through’ this first precipitation and it will not be easy.
143. Dường như thời điểm ngưng tụ quả thật đã cận kề. Những yếu tố khác vốn không sắp hiển lộ về mặt tinh thần có thể cũng ngưng tụ để dọn đường cho sự ngưng tụ của “đám mây mưa”. Nhân loại sẽ phải ‘sống qua’ sự ngưng tụ đầu tiên này, và điều đó sẽ không dễ dàng.
The Masters are seeking to hasten in Their disciples this recognition of that which is imminent, so that they can be the intelligent agents whereby the needed precipitations can be brought about.
Các Chân sư đang tìm cách thúc đẩy nơi các đệ tử của Các Ngài sự nhận biết những gì sắp xuất hiện, để họ có thể trở thành những tác nhân thông tuệ giúp thực hiện các sự ngưng tụ cần thiết.
144. This naturally involves increasing the spiritual sensitivity of Their disciples. A cultivation of the “esoteric sense” will hasten the needed recognition.
144. Điều này đương nhiên bao hàm việc gia tăng sự nhạy cảm tinh thần của các đệ tử của Các Ngài. Việc trau dồi “giác quan nội môn” sẽ đẩy nhanh sự nhận biết cần thiết.
There is a definite technique for producing this peculiar form of cooperation, but it will not be possible to work with it or apply it for another twenty-five years.
Có một kỹ thuật xác định để tạo ra hình thức hợp tác đặc biệt này, nhưng phải hai mươi lăm năm nữa mới có thể làm việc với nó hoặc áp dụng nó.
145. The presumption may be made that by the late 1960’s this definite technique could be applied. One wonders whether (already hidden in DK’s works) there are important hints concerning the nature of the technique
145. Có thể giả định rằng vào cuối những năm 1960, kỹ thuật xác định này đã có thể được áp dụng. Chúng ta tự hỏi liệu có những gợi ý quan trọng về bản chất của kỹ thuật ấy đã ẩn sẵn trong các tác phẩm của Chân sư DK hay không
146. It may be significant that there is a reasonable inference that the Christ assumed the Buddha’s vestures past the middle point of the 1960’s. The date given is 1966.
146. Có lẽ điều đáng chú ý là có cơ sở hợp lý để suy luận rằng Đức Christ đã khoác lấy các lớp áo của Đức Phật sau thời điểm giữa những năm 1960. Năm được nêu là 1966.
Here I have very briefly outlined for you the new developments which are possible if the disciple is rightly focussed and oriented.
Ở đây, Tôi đã phác thảo rất vắn tắt cho các bạn những bước phát triển mới có thể đạt được nếu đệ tử tập trung và định hướng đúng đắn.
147. Let us close this section by tabulating the six developments which will characterize the expression of the new discipleship:
147. Chúng ta hãy kết thúc phần này bằng cách liệt kê sáu bước phát triển sẽ đặc trưng cho sự biểu hiện của địa vị đệ tử mới:
a. A sense of planetary relationships
a. Cảm quan về các mối quan hệ hành tinh
b. A sense of intelligent supervision
b. Cảm quan về sự giám sát thông minh
c. The sense of orientation to humanity
c. Cảm quan về sự định hướng về nhân loại
d. The sense of registered impression
d. Cảm quan về ấn tượng được ghi nhận
e. The evocation of the will
e. Sự gợi lên ý chí
f. The sense of that which is imminent
f. Cảm quan về điều sắp xảy đến
148. The requirements and possibilities are far wider (we will have to admit) than the requirements and possibilities of the older form of discipleship.
148. Chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng những yêu cầu và khả năng này rộng lớn hơn nhiều so với những yêu cầu và khả năng của hình thức địa vị đệ tử trước đây.
There are within latent possibilities. If you will pause and consider, you will realise that the task of the Master in the past, as He sought to prepare the disciple for initiation, was largely concerned with awakening him to the need for occult obedience, for right orientation, for persistence, and for devotion to his objective. But all that lies far behind the true modern disciple.
Bên trong có những khả năng tiềm ẩn. Nếu dừng lại suy xét, các bạn sẽ nhận ra rằng trước đây, khi tìm cách chuẩn bị đệ tử cho điểm đạo, nhiệm vụ của Chân sư chủ yếu liên quan đến việc thức tỉnh y trước nhu cầu về sự tuân phục huyền bí, định hướng đúng đắn, kiên trì và tận tâm với mục tiêu của mình. Nhưng người đệ tử chân chính thời hiện đại đã vượt xa tất cả những điều ấy.
149. Let us tabulate the type of faculty which the Master of the past sought to awaken in His disciples.
149. Chúng ta hãy liệt kê những năng lực mà Chân sư trước đây tìm cách thức tỉnh nơi các đệ tử của Ngài.
a. Awakening the disciple to the need for occult obedience
a. Thức tỉnh đệ tử trước nhu cầu tuân phục huyền môn
b. Awakening the disciple to the need for right orientation
b. Thức tỉnh đệ tử trước nhu cầu định hướng đúng đắn
c. Awakening the disciple to the need for persistence
c. Thức tỉnh đệ tử trước nhu cầu kiên trì
d. Awakening the disciple to the need for devotion to his objective.
d. Thức tỉnh đệ tử trước nhu cầu tận tâm với mục tiêu của mình.
150. We can see that these are awakenings largely concerning the astral plane; the true modern disciple will have transcended them, i.e., they will have become inherent faculty.
150. Chúng ta có thể thấy rằng những sự thức tỉnh này phần lớn liên quan đến cõi cảm dục; người đệ tử hiện đại chân chính sẽ vượt qua chúng, nghĩa là chúng sẽ trở thành năng lực vốn có.
Today, the Master indicates to him the overshadowing cloud of knowable things; He assures him that he has within him undreamt of powers which will, when brought to the surface of consciousness, demonstrate to him his own essential adeptship and enable him to share in the great hierarchical task of illumining, precipitating, and lifting.
Ngày nay, Chân sư chỉ cho y đám mây phủ bóng của những điều khả tri; Ngài bảo đảm với y rằng bên trong y có những quyền năng chưa từng mơ tới, và khi được đưa lên bề mặt tâm thức, chúng sẽ chứng tỏ cho y địa vị chân sư cốt yếu của chính mình, đồng thời giúp y dự phần vào nhiệm vụ lớn lao của Thánh đoàn là soi sáng, ngưng tụ và nâng cao.