← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

151. Today the Master treats the disciple as a rather independent, Self-determining agent.

Trích nội dung chương

152. It is as if the “adept” or the Master already sleeps within us. It is as if we inherently are that, and have but to demonstrate the fact. This is what is meant by the phrase “his own essential adeptship”. The Monad is essentially the “adept”. What is necessary is to become the adept in expression on the five planes of human and superhuman evolution. 152. Dường như “chân sư” hay Chân sư đã ngủ sẵn bên trong chúng ta. Dường như chúng ta vốn dĩ là như vậy, và chỉ cần chứng minh sự thật ấy. Đó là ý nghĩa của cụm từ “quả vị chân sư vốn có trong bản chất của chính y”. Chân thần về bản chất là “chân sư”. Điều cần thiết là trở thành chân sư…


151. Today the Master treats the disciple as a rather independent, Self-determining agent.

151. Ngày nay, Chân sư đối đãi với đệ tử như một tác nhân khá độc lập, có khả năng tự quyết.

152. It is as if the “adept” or the Master already sleeps within us. It is as if we inherently are that, and have but to demonstrate the fact. This is what is meant by the phrase “his own essential adeptship”. The Monad is essentially the “adept”. What is necessary is to become the adept in expression on the five planes of human and superhuman evolution.

152. Dường như “chân sư” hay Chân sư đã ngủ sẵn bên trong chúng ta. Dường như chúng ta vốn dĩ là như vậy, và chỉ cần chứng minh sự thật ấy. Đó là ý nghĩa của cụm từ “quả vị chân sư vốn có trong bản chất của chính y”. Chân thần về bản chất là “chân sư”. Điều cần thiết là trở thành chân sư trong sự biểu hiện trên năm cõi tiến hoá của con người và siêu nhân.

153. What is the “great hierarchical task”:

153. “Nhiệm vụ vĩ đại của Thánh đoàn” là gì:

a. To illumine, correlated with the second ray

a. Soi sáng, tương ứng với cung hai

b. To precipitate correlated with the third ray

b. Ngưng tụ, tương ứng với cung ba

c. To life or uplift, correlated with Hercules and the first ray.

c. Nâng lên hay nâng cao, tương ứng với Hercules và cung một.

154. It is important for humanity to be restored to a sense of its own extraordinary inner potential. A number of the sixth ray religions have separated man from the sense of his potential.

154. Điều quan trọng là nhân loại cần khôi phục cảm nhận về tiềm năng phi thường bên trong chính mình. Một số tôn giáo cung sáu đã khiến con người xa rời cảm nhận về tiềm năng của mình.

Today the Master—having done the above—leaves the disciple to work through to knowledge and cooperative usefulness;

Ngày nay, sau khi làm những điều trên, Chân sư để đệ tử tự nỗ lực đạt đến tri thức và sự hữu ích trong hợp tác;

155. The approach of the Master encourages Self-reliance in His disciple. This one of the Buddha’s great injunctions: “Rely upon yourself.”

155. Cách tiếp cận của Chân sư khuyến khích tinh thần tự lực nơi đệ tử của Ngài. Đây là một trong những lời huấn thị vĩ đại của Đức Phật: “Hãy nương tựa vào chính mình.”

He neither pushes him into premature action nor constantly supervises him;

Ngài không thúc đẩy y hành động quá sớm, cũng không giám sát y liên tục;

156. The approach of the Master to the disciple is balanced. Those who imagine that they are receiving constant prompting and supervision from the Master are indulging in fantasy.

156. Cách Chân sư tiếp cận đệ tử mang tính cân bằng. Những ai tưởng rằng mình liên tục nhận được sự thúc giục và giám sát của Chân sư đều đang chìm đắm trong hoang tưởng.

He surrounds him with the aura of His presence and the protection and [301] stimulation of His Ashram;

Ngài bao bọc y trong hào quang hiện diện của Ngài, cùng sự bảo vệ và [301] kích thích của ashram Ngài;

157. The disciple has the benefit of working within a kind of protected field, but within this field it is up to the disciple to be resourceful and to make progress based upon the wise use of his own faculties.

157. Đệ tử được hưởng lợi ích của việc làm việc trong một trường được bảo vệ ở mức độ nào đó, nhưng trong trường này, chính đệ tử phải chủ động tìm phương cách và tiến bộ nhờ sử dụng minh triết những năng lực của mình.

He gives him occasional hints, and as the disciple acts and works upon the hinted suggestions, the hint becomes a clear direction and a luminous area of enlightenment.

thỉnh thoảng Ngài đưa ra những lời gợi ý, và khi đệ tử hành động, nỗ lực theo những điều được hé mở ấy, lời gợi ý trở thành một chỉ dẫn rõ ràng và một vùng giác ngộ rực sáng.

158. Here is a wonderful description on how hints may be unfolded—i.e., what they may become if treated properly.

158. Đây là một mô tả tuyệt vời về cách những gợi ý có thể khai mở—nghĩa là chúng có thể trở thành điều gì nếu được tiếp cận đúng cách.

a. The hint becomes a clear direction

a. Gợi ý trở thành một phương hướng rõ ràng

b. The hint becomes a luminous area of enlightenment

b. Gợi ý trở thành một vùng giác ngộ rực sáng

159. The first unfoldment “(the hint becomes a clear direction”) suggests the first ray and the action (of the third ray) which will follow the clear revelation of direction

159. Sự khai mở thứ nhất “(gợi ý trở thành một phương hướng rõ ràng”) gợi đến cung một và hành động của cung ba sẽ theo sau sự mặc khải rõ ràng về phương hướng

160. The second unfoldment suggests the second ray with its potential to become aware of the light and to carry the light.

160. Sự khai mở thứ hai gợi đến cung hai với tiềm năng nhận biết ánh sáng và mang ánh sáng.

ON HINTS

VỀ NHỮNG LỜI GỢI Ý

I have been working with all of you in this manner for more than ten years now; I have sought to bring about a definite awakening to latent possibilities and to those capacities for cooperation which must be eventually realised by the disciple. I am not discouraged, because apart from my realisation of the inevitable limitations which encompass each of you individually, I am also aware that you have placed yourselves in my Ashram for training in the most difficult period in the entire history of humanity—a period in which the whole of humanity is passing through the reorientation required by the time cycle and through an entirely new adjustment to a higher rhythm and area of expression.

Đến nay, Tôi đã làm việc với tất cả các bạn theo cách này hơn mười năm; Tôi đã tìm cách tạo ra một sự thức tỉnh rõ rệt đối với những khả năng tiềm ẩn và những năng lực hợp tác mà cuối cùng đệ tử phải nhận biết và thực hiện được. Tôi không nản lòng, vì ngoài việc nhận biết những giới hạn tất yếu bao quanh từng người trong các bạn, Tôi còn ý thức rằng các bạn đã tự đặt mình vào ashram của Tôi để được huấn luyện trong thời kỳ khó khăn nhất của toàn bộ lịch sử nhân loại—một thời kỳ mà toàn thể nhân loại đang trải qua sự tái định hướng do chu kỳ thời gian đòi hỏi, và một sự điều chỉnh hoàn toàn mới theo một nhịp điệu và lĩnh vực biểu lộ cao hơn.

161. DK reviews His efforts with His disciples. He began His work with some of the disciples in 1931. Some joined later, and thus at the time of this writing, it had been at least ten years since the last of the present disciples had joined the group.

161. Chân sư DK nhìn lại những nỗ lực của Ngài với các đệ tử. Ngài bắt đầu làm việc với một số đệ tử vào năm 1931. Một số người gia nhập sau đó, vì vậy vào thời điểm viết đoạn này, đã ít nhất mười năm kể từ khi người cuối cùng trong số các đệ tử hiện có gia nhập nhóm.

162. DK’s work has been to awaken His disciples to their latent possibilities and to their capacities for cooperation in His enterprises.

162. Công việc của Chân sư DK là thức tỉnh các đệ tử của Ngài trước những khả năng tiềm ẩn của họ và khả năng hợp tác của họ trong các công việc của Ngài.

163. This section was written, apparently, well before the time when DK stated that His disciples had not really profited much from what He had attempted to offer them.

163. Dường như phần này được viết khá lâu trước thời điểm Chân sư DK nói rằng các đệ tử của Ngài thực sự chưa thu được nhiều lợi ích từ những gì Ngài đã cố gắng trao cho họ.

164. Although He is stating that He is not discouraged, neither is He stating that He is encouraged.

164. Mặc dù Ngài nói rằng mình không nản lòng, Ngài cũng không nói rằng mình được khích lệ.

165. He does share that He realizes the limitations under which His disciples are working, individually, and also that they are working at the “most difficult period in the entire history of humanity”. Can it be said that we are still in that period, even now at the beginning of the twenty-first century?

165. Ngài có chia sẻ rằng Ngài nhận biết những giới hạn mà từng đệ tử của Ngài đang phải làm việc trong đó, đồng thời cũng nhận biết họ đang làm việc vào “giai đoạn khó khăn nhất của toàn bộ lịch sử nhân loại”. Có thể nói rằng chúng ta vẫn đang ở trong giai đoạn ấy, ngay cả lúc này, vào đầu thế kỷ hai mươi mốt không?

166. His disciples were living through a period in which humanity was reorienting itself to a higher rhythm and area of expression. In short, humanity was (through the agency of its more enlightened members) preparing to take the first planetary initiation and thus to enter the Kingdom of Souls.

166. Các đệ tử của Ngài đang sống qua một giai đoạn mà nhân loại tái định hướng theo một nhịp điệu và phạm vi biểu hiện cao hơn. Nói ngắn gọn, thông qua những thành viên giác ngộ hơn của mình, nhân loại đang chuẩn bị trải qua lần điểm đạo hành tinh thứ nhất và nhờ đó bước vào Giới Linh Hồn.

167. Do we notice the interesting thought that “you have placed yourselves in my Ashram for training”? From this sentence we gain the perspective that disciples place themselves in the Master’s Ashram, and are not simply placed there. We are dealing with the idea that it is the qualifications of the disciples and their willingness for training which determine their membership in an Ashram (and of course the Masters’ willingness to have them there).

167. Chúng ta có nhận thấy ý tưởng thú vị rằng “các bạn đã tự đặt mình vào ashram của Tôi để được huấn luyện” không? Từ câu này, chúng ta có được góc nhìn rằng các đệ tử tự đặt mình vào ashram của Chân sư, chứ không đơn thuần được đặt vào đó. Chúng ta đang bàn đến ý tưởng rằng chính những phẩm chất hội đủ điều kiện của các đệ tử cùng sự sẵn lòng tiếp nhận huấn luyện của họ quyết định tư cách thành viên trong một ashram, và dĩ nhiên còn có sự sẵn lòng của các Chân sư tiếp nhận họ vào đó.

This has greatly enhanced all your difficulties, and mine also, as I work with you.

Điều này đã làm tăng đáng kể mọi khó khăn của các bạn, và cả của Tôi nữa, khi Tôi làm việc với các bạn.

168. DK soberly assesses why there have been so many difficulties (a number of which He has recounted before this writing, and many of which He summarizes in later instructions).

168. Chân sư DK điềm tĩnh đánh giá lý do vì sao đã có nhiều khó khăn đến vậy, trong đó có những khó khăn Ngài đã kể lại trước khi viết đoạn này, và nhiều khó khăn được Ngài tổng kết trong những huấn thị về sau.

169. We may wonder how long the difficult period will last. We may recall that disciples are due to enter the Aquarian Age under the pressure of the ‘planet of difficulty’, Saturn, and that the entire first decanate of Aquarius will (as far as disciples are concerned) be ruled by Saturn and will last some seven hundred years and a bit more.

169. Chúng ta có thể tự hỏi giai đoạn khó khăn này sẽ kéo dài bao lâu. Chúng ta có thể nhớ rằng các đệ tử sẽ bước vào Kỷ Nguyên Bảo Bình dưới áp lực của ‘hành tinh khó khăn’, Sao Thổ, và toàn bộ thập độ thứ nhất của Bảo Bình, xét đối với các đệ tử, sẽ do Sao Thổ cai quản và kéo dài khoảng hơn bảy trăm năm.

However, the next one hundred years will see great developments in my Ashram.

Tuy nhiên, một trăm năm tới sẽ chứng kiến những bước phát triển lớn trong ashram của Tôi.

170. We may enquire whether those of us who are seeking to work closely with the Tibetan’s Teaching are contributing to those “great developments”.

170. Chúng ta có thể tự hỏi liệu những người trong chúng ta đang tìm cách làm việc mật thiết với Giáo Huấn của Chân sư Tây Tạng có đang đóng góp vào những “bước phát triển lớn” ấy hay không.

171. We would be misguided if we were to look for such developments only among those with whom we may be familiar. The Tibetan’s Ashram is international and involves a number of fields in which progressive disciples may have no conscious knowledge that they are members of His Ashram.

171. Chúng ta sẽ sai lầm nếu chỉ tìm kiếm những bước phát triển ấy trong số những người mình quen biết. Ashram của Chân sư Tây Tạng mang tính quốc tế và bao gồm một số lĩnh vực mà trong đó, những đệ tử tiến bộ có thể không hề ý thức rằng mình là thành viên ashram của Ngài.

It is, as I have told you, one of the newest of the Ashrams and is only now finding its own format, enunciating its own note, and taking on its own quality. This situation has also greatly increased your problem, for you are helping me to form something new.

Như Tôi đã nói với các bạn, đây là một trong những ashram mới nhất và chỉ đến lúc này mới đang tìm ra hình thức riêng, xướng lên âm điệu riêng và mang lấy phẩm tính riêng của mình. Tình trạng này cũng làm tăng đáng kể vấn đề của các bạn, vì các bạn đang giúp Tôi hình thành một điều mới mẻ.

172. The following concerning the formation of Master DK’s Ashram is of interest:

172. Đoạn sau đây về sự hình thành ashram của Chân sư DK rất đáng chú ý:

Senior disciples in the major Ashrams are now beginning to form subsidiary Ashrams, as I began to do in the year 1925. (DINA II 64)

Các đệ tử cao niên trong những ashram chính hiện đang bắt đầu hình thành những ashram phụ thuộc, như Tôi đã bắt đầu làm vào năm 1925. (DINA II 64)

173. DK is calling Himself a “senior disciple” in a major Ashram.

173. Chân sư DK đang tự gọi mình là một “đệ tử cao niên” trong một ashram chính.

174. We realize that this formation occurred just about fifty years after Master DK became Master DK. A fifty year ‘waiting period’ is interesting in light of the important meaning of the numbers five or fifty to those who work upon the second ray. The number five and its expansions (fifty, five hundred, five thousand, etc.) determines the cycle of the second ray.

174. Chúng ta nhận ra rằng sự hình thành này diễn ra khoảng năm mươi năm sau khi Chân sư DK trở thành Chân sư DK. Một ‘thời gian chờ đợi’ kéo dài năm mươi năm thật đáng chú ý khi xét ý nghĩa quan trọng của số năm hoặc năm mươi đối với những người làm việc trên cung hai. Số năm và những bội số của nó như năm mươi, năm trăm, năm nghìn, v.v. quyết định chu kỳ của cung hai.

175. Master DK is now in process of formulating His Ashram such that this Ashram may

175. Chân sư DK hiện đang trong tiến trình định hình ashram của Ngài để ashram này có thể

a. Find its own format

a. Tìm ra hình thức tổ chức riêng

b. Enunciate its own note

b. Xướng lên âm điệu riêng

c. Take on its own quality

c. Mang lấy phẩm tính riêng

176. We may presume that over the last half century Master DK’s Ashram has grown in strength and effectiveness, but during this time He was not working externally (so it seems) on a broad scale as He did at the time AAB was in her last incarnation.

176. Chúng ta có thể giả định rằng trong nửa thế kỷ vừa qua, ashram của Chân sư DK đã gia tăng sức mạnh và hiệu quả, nhưng dường như trong thời gian này, Ngài không làm việc ở bên ngoài trên quy mô rộng lớn như khi Bà AAB đang trong kiếp lâm phàm cuối cùng.

177. Some of the earlier plans of the Masters, hinted by Master DK, suggested that They would be working openly among humanity before the close of the twentieth century, and that the Great Lord (the Christ) might even be with us (externalized) by that time. This has not happened for various reasons.

177. Một số kế hoạch trước đây của các Chân sư, qua những gợi ý của Chân sư DK, cho thấy Các Ngài sẽ công khai làm việc giữa nhân loại trước khi thế kỷ hai mươi khép lại, và thậm chí Chúa Tể Vĩ Đại, tức Đức Christ, có thể đã hiện diện giữa chúng ta trong trạng thái ngoại hiện vào thời điểm ấy. Điều này đã không xảy ra vì nhiều lý do.

178. Of course the “great developments” in His Ashram (mentioned by Master DK) need not be external developments. Internal developments always precede their effective externalization.

178. Dĩ nhiên, những “bước phát triển lớn” trong ashram của Ngài mà Chân sư DK đề cập không nhất thiết phải là những bước phát triển bên ngoài. Những bước phát triển bên trong luôn đi trước sự ngoại hiện hữu hiệu của chúng.

Up to the present time, I have given you four hints which might be summarised as follows:

Cho đến nay, Tôi đã đưa ra cho các bạn bốn lời gợi ý, có thể tóm tắt như sau:

179. Here, for the sake of clarity and to refresh our minds, Master DK offers the four hints He has thus far imparted.

179. Ở đây, để làm sáng tỏ và giúp chúng ta nhớ lại, Chân sư DK trình bày bốn gợi ý mà cho đến nay Ngài đã truyền đạt.

1. That the great changes being brought about in the Hierarchy, and in order to make the work of the New Age adequate and to establish a closer rapport with Shamballa, have been the result of the work done by the working disciples of the world. Why the working disciples, brother of mine, and not by the Masters? A hint ever evokes a question, and it is in the answering of these questions that the disciples learn and eventually become Masters.

1. Những thay đổi lớn đang diễn ra trong Thánh đoàn, nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu công việc của Kỷ Nguyên Mới và thiết lập sự tương thông mật thiết hơn với Shamballa, là kết quả của công việc do các đệ tử đang hoạt động trên thế giới thực hiện. Huynh đệ của tôi, tại sao lại là các đệ tử đang hoạt động, mà không phải các Chân sư? Một lời gợi ý luôn khơi lên một câu hỏi, và chính qua việc trả lời những câu hỏi ấy mà các đệ tử học hỏi và cuối cùng trở thành Chân sư.

[302]

[302]

180. We note that the “great changes” are brought about by working disciples. The emphasis upon work is significant.

180. Chúng ta lưu ý rằng chính các đệ tử đang hoạt động tạo ra những “thay đổi lớn”. Sự nhấn mạnh vào công việc rất có ý nghĩa.

181. Here, again, we realize how much responsibility rests upon us. Had we realized how responsible we are for changes (great changes) which are occurring not only in humanity but in Hierarchy? A great interdependence within the ‘hierarchical household’ is thus revealed.

181. Ở đây, một lần nữa, chúng ta nhận ra trách nhiệm lớn lao đặt lên vai mình. Chúng ta đã nhận ra mình chịu trách nhiệm đến mức nào đối với những thay đổi, những thay đổi lớn, đang diễn ra không chỉ trong nhân loại mà cả trong Thánh đoàn chưa? Như vậy, một sự phụ thuộc lẫn nhau sâu rộng trong ‘đại gia đình Thánh đoàn’ được hé lộ.

182. In a system in which service is so important, those who are ‘below’ impel changes ‘above’. Those who attend in service to those ‘below’ will adapt Their methods (‘above’) to meet the needs of those ‘below’.

182. Trong một hệ thống mà việc phụng sự có tầm quan trọng đến vậy, những người ở ‘dưới’ thúc đẩy những thay đổi ở ‘trên’. Các Ngài đang phụng sự và chăm lo cho những người ở ‘dưới’ sẽ điều chỉnh các phương pháp của Các Ngài ở ‘trên’ để đáp ứng nhu cầu của những người ở ‘dưới’.

183. For every hint, there is a question. When we do not completely understand a hint, a question will always come to mind.

183. Mỗi gợi ý đều có một câu hỏi. Khi chúng ta chưa hoàn toàn thấu hiểu một gợi ý, một câu hỏi sẽ luôn nảy sinh trong tâm trí.

184. DK tells us the method by which we may become Masters—by the answering of questions arising in relation to hints (whether the hints are imparted by a Master or whether they arise in the process of reading and study).

184. Chân sư DK cho chúng ta biết phương pháp để có thể trở thành các Chân sư—bằng cách trả lời những câu hỏi nảy sinh liên quan đến các gợi ý, dù những gợi ý ấy do một Chân sư truyền đạt hay nảy sinh trong quá trình đọc và nghiên cứu.

2. That human planning and thinking, as the future is faced, are the first indications in the history of mankind of the emergence of the will aspect. Can you answer the question: Why is this indicated?

2. Việc lập kế hoạch và tư duy của con người khi hướng tới tương lai là những dấu hiệu đầu tiên trong lịch sử nhân loại về sự xuất hiện của phương diện ý chí. Các bạn có thể trả lời câu hỏi: Tại sao điều này được chỉ ra không?

185. DK has previously reviewed some of these hints with us, but He is attempting to see if a true understanding has been established.

185. Trước đây, Chân sư DK đã cùng chúng ta xem lại một số gợi ý này, nhưng Ngài đang cố gắng xem liệu sự thấu hiểu chân thực đã hình thành hay chưa.

186. We recall from a section earlier in this instruction that one of the best ways to evoke the will is to study and understand the Divine Plan and attempt to work for its expression.

186. Chúng ta nhớ lại từ một phần trước trong huấn thị này rằng một trong những cách tốt nhất để gợi lên ý chí là nghiên cứu và thấu hiểu Thiên Cơ, đồng thời cố gắng làm việc để Thiên Cơ biểu hiện.

187. We gather that before the present era, the will aspect had not yet emerged within humanity.

187. Chúng ta suy ra rằng trước thời đại hiện nay, phương diện ý chí chưa xuất hiện trong nhân loại.

188. The important link between the first and third rays is suggested and the emphasis in this hint is placed upon the faculty of atma— the faculty of intelligent, purposeful spiritual will.

188. Mối liên hệ quan trọng giữa cung một và cung ba được gợi ra, và gợi ý này nhấn mạnh năng lực atma— năng lực của ý chí tinh thần thông minh, có chủ đích.

189. This planning and thinking is not proceeding only on an individual level; large groups of people (even nations and federations of nations) are planning and thinking.

189. Việc hoạch định và suy nghĩ này không chỉ diễn ra ở cấp độ cá nhân; những nhóm người đông đảo, thậm chí các quốc gia và các liên bang, cũng đang hoạch định và suy nghĩ.

190. The will is a faculty which always has to do with the precipitation of future possibilities. When one plans for the future, the understanding of the nature of purpose becomes a prime objective.

190. Ý chí là một năng lực luôn liên quan đến sự ngưng tụ của những khả năng tương lai. Khi hoạch định cho tương lai, việc thấu hiểu bản chất của mục đích trở thành một mục tiêu hàng đầu.

191. We recall, in a recent definition of will, how intimately it is concerned with an understanding of purpose.

191. Chúng ta nhớ lại qua một định nghĩa gần đây về ý chí rằng nó liên quan mật thiết biết bao đến việc thấu hiểu mục đích.

…the will is that divine aspect in man that puts him en rapport with and then controlled by divine purpose, intelligently understood in time and space and implemented by the soul as the expression of loving application. (DINA II 298)

…ý chí là phương diện thiêng liêng trong con người, đưa y vào mối tương thông với Thiên Ý rồi chịu sự chi phối của Thiên Ý, vốn được thấu hiểu một cách thông minh trong thời gian và không gian, và được linh hồn thực thi như biểu hiện của sự vận dụng đầy tình thương. (DINA II 298)

3. That disciples in all Ashrams have the task of "modifying, qualifying, and adapting the divine plan." Why has this to be so? This is a most significant and useful question. Why, brother of mine, is the plan not imposed? What are the distinctions between quality, modifications, and adaptations—for there is a distinction in each and every one of them.

3. Các đệ tử trong mọi ashram có nhiệm vụ “điều chỉnh, phú cho phẩm tính và thích ứng Thiên Cơ”. Tại sao phải như vậy? Đây là một câu hỏi hết sức có ý nghĩa và hữu ích. Huynh đệ của tôi, tại sao Thiên Cơ không được áp đặt? Có những khác biệt nào giữa phẩm tính, những điều chỉnh và những thích ứng—vì mỗi điều trong số ấy đều có sự khác biệt.

192. Again, responsibility falls upon the disciples within the Ashrams.

192. Một lần nữa, trách nhiệm đặt lên các đệ tử trong các ashram.

193. What would happen if the Plan were imposed? Would humanity grow in consciousness and capacity? A little pondering would reveal a violation of an essential occult law of Sirian origin—the “Law of Freedom”.

193. Điều gì sẽ xảy ra nếu Thiên Cơ được áp đặt? Nhân loại có phát triển về tâm thức và năng lực không? Chỉ cần suy ngẫm một chút sẽ thấy điều đó vi phạm một định luật huyền môn cốt yếu có nguồn gốc từ Sao Thiên Lang—“Định luật Tự Do”.

194. The following statement has bearing on this section:

194. Phát biểu sau đây có liên quan đến phần này:

There are two thoughts which should be here considered. First of all, it should be realised that the disciple, under the Law, has to master the technique of spiritual compromise, and secondly that the three words: modify, qualify and adapt, have definite reference to the three worlds wherein the Plan must manifest. (DINA II 390)

Ở đây có hai ý cần xem xét. Trước hết, cần nhận ra rằng theo Định luật, đệ tử phải làm chủ kỹ thuật thoả hiệp tinh thần; và thứ hai, ba từ: sửa đổi, phú phẩm tính và điều chỉnh, có liên hệ xác định với ba cõi giới mà trong đó Thiên Cơ phải biểu hiện. (DINA II 390)

195. It is clear that the qualifying of the Plan takes place in relation to the astral plane. What of modification and adaptation?

195. Rõ ràng, việc phú phẩm tính cho Thiên Cơ diễn ra trong mối liên hệ với cõi cảm dục. Còn việc sửa đổi và điều chỉnh thì sao?

196. An explanation of these two activities occurs in DINA II around p. 392, but perhaps one should dwell on the matter a bit before seeking out the Tibetan’s explanation.

196. Có phần giải thích về hai hoạt động này trong DINA II, khoảng trang 392, nhưng có lẽ chúng ta nên suy ngẫm đôi chút về vấn đề này trước khi tìm đọc lời giải thích của Chân sư Tây Tạng.

197. What does modification suggest to us and why, and where might it occur? What does adaptation suggest to us and why, and where might it occur?

197. Sự điều chỉnh gợi cho chúng ta điều gì và tại sao, và nó có thể diễn ra ở đâu? Sự thích nghi gợi cho chúng ta điều gì và tại sao, và nó có thể diễn ra ở đâu?

198. One is clearly a mental process and the other a physical. Which is which and why?

198. Rõ ràng một hoạt động là tiến trình trí tuệ, còn hoạt động kia là tiến trình hồng trần. Hoạt động nào thuộc tiến trình nào và tại sao?

199. These hints must be pondered over and again. DK gives us this opportunity because whenever He presents a new hint, He reviews those He has already given, still seeking to evoke from His chelas some growth in their understanding of the hints.

199. Cần suy ngẫm nhiều lần về những gợi ý này. Chân sư DK cho chúng ta cơ hội ấy vì mỗi khi trình bày một gợi ý mới, Ngài đều ôn lại những gợi ý đã đưa ra, vẫn tìm cách khơi dậy nơi các đệ tử của Ngài sự tăng trưởng trong khả năng thấu hiểu các gợi ý.

4. That the initiate knows because he works. Christ gave the same hint to His disciples when He told them that if they wanted to know the doctrine they must carry out God's will. Do these words convey any true meaning to you?

4. Điểm đạo đồ biết vì y làm việc. Đức Christ đã đưa ra cùng lời gợi ý này cho các đệ tử của Ngài khi bảo họ rằng nếu muốn biết giáo lý, họ phải thực hiện Ý Chí của Thượng Đế. Những lời này có truyền đạt ý nghĩa thực sự nào cho các bạn không?

200. Why should this be so? May we say that the atmic plane is a plane both of will and knowledge?

200. Tại sao lại như vậy? Chúng ta có thể nói rằng cõi atma là cõi của cả ý chí lẫn tri thức chăng?

201. To be aligned with the Divine Will puts the one aligned within a great stream of both love and knowledge.

201. Sự chỉnh hợp với Ý Chí thiêng liêng đặt người đã chỉnh hợp vào một dòng chảy lớn lao của cả tình thương lẫn tri thức.

202. Knowing arises through doing. Even in conventional educational circles we have the modern method of “learning by doing”.

202. Sự hiểu biết nảy sinh qua hành động. Ngay cả trong giới giáo dục thông thường, chúng ta cũng có phương pháp hiện đại là “học qua thực hành”.

203. The knowledge which comes to the willing doer of the will is not simply theoretical; it is experiential and comes on a stream of will energy. It is not associated with the usual cognitive limitations (i.e., it is not simply “book knowledge”)

203. Tri thức đến với người sẵn lòng thực thi ý chí không đơn thuần mang tính lý thuyết; đó là tri thức qua trải nghiệm và đến theo một dòng năng lượng ý chí. Nó không gắn với những giới hạn nhận thức thông thường (nghĩa là không đơn thuần là “kiến thức sách vở”)

204. To engage in an act of will without full knowledge requires daring, and daring, itself, opens many doors.

204. Thực hiện một hành vi ý chí khi chưa có tri thức đầy đủ đòi hỏi sự quả cảm, và chính sự quả cảm mở ra nhiều cánh cửa.

205. To engage in such an act of will acts as an invocation, and draws forth from one’s own inner recesses and resources the knowledge to cope with the new situation engendered.

205. Việc thực hiện một hành vi ý chí như vậy có tác dụng như một sự khẩn cầu, và khơi dậy từ những nơi sâu kín cùng các nguồn lực bên trong chính mình tri thức để ứng phó với tình huống mới phát sinh.

You will note that all of these four hints or seed ideas (for much expanded thinking, leading to renewed activity) have to do with humanity and not with the individual man.

Các bạn sẽ nhận thấy rằng cả bốn lời gợi ý hay ý tưởng hạt giống này (dành cho sự suy tư mở rộng sâu xa, dẫn tới hoạt động đổi mới) đều liên quan đến nhân loại chứ không phải con người cá nhân.

206. This is an important and relates to the fact that the illumination sought has to do with the Divine Plan and Purpose and not with the petty affairs of the individual personality.

206. Đây là một điểm quan trọng và liên quan đến sự thật rằng sự soi sáng mà chúng ta tìm kiếm gắn với Thiên Cơ và Thiên Ý chứ không phải với những chuyện nhỏ nhặt của phàm ngã cá nhân.

207. The one who seeks knowledge for himself alone (and independently of humanity’s need) will not find himself able to access the illumination stored within the Divine Plan.

207. Người tìm kiếm tri thức chỉ cho riêng mình (và tách biệt với nhu cầu của nhân loại) sẽ thấy mình không thể tiếp cận sự soi sáng tiềm tàng trong Thiên Cơ.

208. We note that hints are called “seed ideas” and this is an important way to think of them. They are meant not only to promote expansion of thought but to serve as an impetus for “renewed activity”.

208. Chúng ta lưu ý rằng các gợi ý được gọi là “ý tưởng hạt giống”, và đây là một cách nhìn nhận quan trọng về chúng. Chúng không chỉ nhằm thúc đẩy sự mở rộng tư tưởng mà còn tạo động lực cho “hoạt động được đổi mới”.

209. In this respect, hints are both illuminative and propulsive.

209. Về phương diện này, các gợi ý vừa soi sáng vừa thúc đẩy.

This is a point of importance to bear in mind, for it again indicates the distinction between the training being given now and that which was given in the past.

Đây là một điểm quan trọng cần ghi nhớ, vì một lần nữa nó cho thấy sự khác biệt giữa việc huấn luyện hiện nay và việc huấn luyện trước kia.

210. In fact we see that the training given in the past had to deal with disciples who were far more self-centered than their present counterparts.

210. Thật vậy, chúng ta thấy rằng việc huấn luyện trước kia phải đề cập đến những đệ tử tập trung vào bản thân nhiều hơn hẳn các đệ tử ngày nay.

I, for instance, am not (in these group instructions) giving you individual hints as to your own lives. This I have done in the past, as have all Ashrams today, as they make their transition between the old and the new, emerging techniques;

Chẳng hạn, trong những huấn thị nhóm này, Tôi không đưa ra cho các bạn những lời gợi ý riêng về cuộc sống của từng người. Trước đây Tôi đã làm điều này, cũng như mọi ashram ngày nay vẫn làm, khi chuyển tiếp giữa những kỹ thuật cũ và những kỹ thuật mới đang xuất hiện;

211. Hints regarding the disciples’ own individual/personal life have largely to be gathered by the disciple himself. It is time for disciples to grow up by growing towards a more decentralized attitude.

211. Phần lớn những gợi ý về đời sống cá nhân riêng tư của đệ tử phải do chính người đệ tử thu thập. Đã đến lúc các đệ tử trưởng thành bằng cách hướng tới một thái độ phi tập trung vào bản thân hơn.

212. When DK (through His many letters) gave more individual instructions to his group members, He did offer straight advice and a number of hints with individual/personal application.

212. Khi Chân sư DK (qua nhiều bức thư của Ngài) đưa ra những huấn thị riêng hơn cho các thành viên trong nhóm của Ngài, Ngài quả có đưa ra lời khuyên thẳng thắn cùng một số gợi ý áp dụng cho đời sống cá nhân riêng tư.

they have to employ compromise and adapt to that which is coming;

các ashram phải dung hoà và thích ứng với những gì đang đến;

213. We may gather that the giving of individual/personal hints occurs because there are limitations in the outer personnel associated with an Ashram. It is implied that the practice may be outgrown.

213. Chúng ta có thể hiểu rằng việc đưa ra những gợi ý cá nhân riêng tư là do những giới hạn của đội ngũ nhân sự bên ngoài gắn với một ashram. Điều này hàm ý rằng khi trưởng thành hơn, người ta có thể không còn cần đến cách làm ấy.

the future will see, therefore, a gradual cessation of personality hints.

do đó, trong tương lai, những lời gợi ý về phàm ngã sẽ dần chấm dứt.

214. As stated. The disciples themselves will be well equipped to chart their own way forward.

214. Như đã nói. Chính các đệ tử sẽ có đầy đủ khả năng tự vạch ra con đường tiến tới của mình.

In the future, the true method will be to develop in the disciple the sense of synthesis and of "place" in the One World, and thus decentralise him.

Trong tương lai, phương pháp chân chính sẽ là phát triển nơi đệ tử ý thức tổng hợp và ý thức về “vị trí” trong Thế Giới Duy Nhất, qua đó giúp y phi tập trung vào bản thân.

215. The disciple will sense the whole and his place within that whole— “the One World”. Thus He will sense (with a developed “esoteric sense”) how he is to direct himself and what he must do.

215. Đệ tử sẽ cảm nhận được toàn thể và vị trí của mình trong toàn thể ấy—“Thế Giới Duy Nhất”. Nhờ đó, với “giác quan nội môn” đã phát triển, y sẽ cảm nhận được mình phải tự định hướng như thế nào và phải làm gì.

The theme of direction underlies the system of instructing by means of hints. It is apparently a slow technique, but there is a point which esotericists would do well to remember. If information as to the nature of the microcosm and the macrocosm, as to divine Purpose and the spiritual Plan, as to occult events in time and space, and as to future or immediate possibilities were given out in plain terms (even if the needed language were available) there would be little understanding.

Chủ đề phương hướng làm nền tảng cho hệ thống huấn thị bằng những lời gợi ý. Đây có vẻ là một kỹ thuật chậm chạp, nhưng có một điểm mà các nhà bí truyền học nên ghi nhớ. Nếu những thông tin về bản chất của tiểu thiên địa và đại thiên địa, về Thiên Ý và Thiên Cơ tinh thần, về các sự kiện huyền bí trong thời gian và không gian, và về những khả năng tương lai hay trước mắt được trình bày bằng lời lẽ minh bạch (ngay cả khi đã có sẵn ngôn ngữ cần thiết), thì sự thấu hiểu cũng chẳng được bao nhiêu.

216. DK is suggesting why the technique of the giving of hints is not really a “slow technique”.

216. Chân sư DK đang gợi ra lý do vì sao kỹ thuật đưa ra các gợi ý thực ra không phải là một “kỹ thuật chậm chạp”.

217. Intuitive understanding must grow within the disciples’ consciousness or he will be unable to understand…

217. Sự thấu hiểu bằng trực giác phải phát triển trong tâm thức của đệ tử, nếu không y sẽ không thể thấu hiểu…

a. Information as to the nature of the microcosm and macrocosm

a. Thông tin về bản chất của tiểu thiên địa và đại thiên địa

b. The divine Purpose and the spiritual Plan (note that the term “divine” refers to the monadic level and the term “spiritual” to the triadal whereon the Plan is focussed). This is a hint as to the dimensional levels on which Purpose and Plan are to be occultly ‘located’.

b. Thiên Ý và Thiên Cơ tinh thần (lưu ý rằng từ “thiêng liêng” chỉ cấp độ chân thần và từ “tinh thần” chỉ cấp độ tam nguyên tinh thần nơi Thiên Cơ tập trung). Đây là một gợi ý về các cấp độ chiều kích mà xét về mặt huyền bí, Thiên Ý và Thiên Cơ được “định vị” trên đó.

c. Occult events in time and space

c. Những sự kiện huyền bí trong thời gian và không gian

d. Future and immediate possibilities

d. Những khả năng trong tương lai và trước mắt

even if such ideas could be put into clear language

ngay cả khi có thể diễn đạt những ý tưởng ấy bằng ngôn ngữ rõ ràng

218. The idea is that the secrets of occultism cannot be revealed in straightforward language. Only a certain state of mind or of consciousness will disclose them, and that state is built through the conferral of hints and the disciple’s due pondering upon them.

218. Ý ở đây là không thể tiết lộ những bí mật của huyền bí học bằng ngôn ngữ trực tiếp. Chỉ một trạng thái nhất định của thể trí hoặc tâm thức mới có thể làm chúng hiển lộ, và trạng thái ấy được xây dựng qua việc trao truyền các gợi ý và sự suy ngẫm đúng mức của đệ tử về chúng.

I could, for [303] instance, tell you much that would be as useful to you as the following statement might have been to unevolved prehistoric man: "There is naught in the world but energy. The Atom of atoms is only energy and God Himself is naught but energy." The phrases would have conveyed to their slow-moving brains absolutely nothing. Primitive man had not the mechanism whereby comprehension would have been possible.

Chẳng hạn, Tôi có thể [303] nói với các bạn nhiều điều mà mức hữu ích đối với các bạn cũng chỉ như lời phát biểu sau đây đối với con người tiền sử chưa tiến hoá: “Trên thế giới chẳng có gì ngoài năng lượng. Nguyên Tử của các nguyên tử chỉ là năng lượng, và chính Thượng đế cũng chẳng là gì ngoài năng lượng.” Những lời ấy sẽ hoàn toàn không truyền đạt được gì cho những bộ não chậm chạp của họ. Con người nguyên thuỷ chưa có bộ máy giúp họ có thể lĩnh hội.

219. A vivid comparison is offered. Master DK knows much that would be absolutely meaningless to us. In relation to such information we are as prehistoric man would be if confronted with modern, scientific statements and hypotheses.

219. Ở đây có một sự so sánh sống động. Chân sư DK biết nhiều điều hoàn toàn vô nghĩa đối với chúng ta. Đối với những thông tin như thế, chúng ta cũng giống như con người tiền sử khi đối diện với những phát biểu và giả thuyết khoa học hiện đại.

220. By implication, our brains are far too “slow moving” to grasp what is known by a Master such as DK, and, even if He were to speak in clear language (supposing the appropriate words could be found) His speech would convey “absolutely nothing” to us. This should give us pause and may help put man’s present day vaunted knowledge in perspective.

220. Điều này hàm ý rằng bộ não của chúng ta quá “chậm chạp” để nắm bắt những gì một Chân sư như Chân sư DK biết; và ngay cả khi Ngài nói bằng ngôn ngữ rõ ràng (giả sử có thể tìm được những từ ngữ thích hợp), lời Ngài cũng sẽ “hoàn toàn không” truyền đạt được gì đến chúng ta. Điều này nên khiến chúng ta dừng lại suy ngẫm và có thể giúp chúng ta nhìn nhận đúng mức tri thức mà con người ngày nay vẫn thường tự hào.

221. Hopefully, the time span necessary to induce comprehension in us will be shorter than the span required of prehistoric man to evolve to the point at which he could understand the kind of scientific statement given above by DK.

221. Hy vọng rằng khoảng thời gian cần thiết để khơi dậy khả năng lĩnh hội nơi chúng ta sẽ ngắn hơn khoảng thời gian mà con người tiền sử cần để tiến hoá đến mức có thể thấu hiểu loại phát biểu khoa học mà Chân sư DK đã đưa ra ở trên.

222. Actually, there is much to ponder in the phrase, “the Atom of atoms”. Perhaps we are speaking of an essential energy unit which is deeply interior to the energy structure of what we normally call an atom.

222. Thật ra, có nhiều điều đáng suy ngẫm trong cụm từ “Nguyên Tử của các nguyên tử”. Có lẽ chúng ta đang nói đến một đơn vị năng lượng cốt yếu nằm sâu bên trong cấu trúc năng lượng của cái mà chúng ta thường gọi là một nguyên tử.

A key to the correct interpretation of a hint lies in its association with the idea of direction in time and space. And, my brother, in the above sentence I give you the hint which I have in mind for your consideration this year.

Một chìa khoá để diễn giải đúng một lời gợi ý nằm trong mối liên hệ của lời gợi ý ấy với ý tưởng về phương hướng trong thời gian và không gian. Và, huynh đệ của tôi, trong câu trên Tôi trao cho các bạn lời gợi ý mà Tôi muốn các bạn suy xét trong năm nay.

223. A hint is not a hint unless it embodies (for the interpreter) the possibility of understanding a direction which may be taken in time and space.

223. Một gợi ý chỉ thực sự là gợi ý khi nó chứa đựng, đối với người diễn giải, khả năng thấu hiểu một phương hướng có thể đi theo trong thời gian và không gian.

224. This suggests that a hint is meant to be a very practical ‘energy unit’, for it is to render the interpreter of the hint effective in his expression (which, at this stage of evolution, necessarily occurs in time and space).

224. Điều này gợi ra rằng một gợi ý phải là một “đơn vị năng lượng” rất thực tiễn, vì nó nhằm giúp người diễn giải gợi ý đạt hiệu quả trong sự biểu lộ của mình (mà ở giai đoạn tiến hoá này, tất yếu diễn ra trong thời gian và không gian).

The word "direction" is the key to the evolutionary process,

Từ “phương hướng” là chìa khoá của tiến trình tiến hoá,

225. The third ray expresses the Will to Evolve. Those upon the third ray learn to ‘travel’ from here to there.

225. Cung ba biểu lộ Ý Chí Tiến Hoá. Những người thuộc cung ba học cách “du hành” từ đây đến đó.

He who works upon the third ray must reach the path from here to there. (R&I 507)

Người hoạt động trên cung ba phải đến được con đường từ đây đến đó. (R&I 507)

226. Not all directions are evolutionary directions. Only those which direct the rising life towards the Source are evolutionary.

226. Không phải mọi phương hướng đều là những phương hướng tiến hoá. Chỉ những phương hướng dẫn sự sống đang vươn lên về phía Cội Nguồn mới là tiến hoá.

227. The many adaptations of form which seem to characterize the evolutionary process are achieved so that the evolving life forms may move closer to the Center from which it once departed.

227. Nhiều sự thích nghi của hình tướng, vốn dường như là đặc trưng của tiến trình tiến hoá, được thực hiện để các hình tướng sự sống đang tiến hoá có thể tiến gần hơn đến Trung Tâm mà sự sống ấy từng rời xa.

to the concept of light, to the secret of Masonry, and to the motivating power behind manifestation. More I will not indicate, but I seek your intelligent assent to that word.

của khái niệm ánh sáng, của bí mật Hội Tam Điểm và của quyền năng thúc đẩy đằng sau biểu hiện. Tôi sẽ không chỉ ra thêm, nhưng Tôi mong các bạn chấp thuận từ ấy một cách thông tuệ.

228. We understand that we are being offered some rather abstruse considerations upon which we are asked to ponder.

228. Chúng ta hiểu rằng ở đây có những điều khá thâm sâu được đưa ra để chúng ta suy ngẫm.

229. What is “that word”? Is it the word “direction” which seems to be the essence of the fifth hint offered?

229. “Từ ấy” là từ gì? Có phải là từ “phương hướng”, dường như là cốt lõi của gợi ý thứ năm được đưa ra không?

230. There is a “direction” which leads the seeker from one level of vibration to a higher level. When the higher vibration is encountered, the experience is one of light.

230. Có một “phương hướng” dẫn người tìm kiếm từ một cấp độ rung động lên một cấp độ cao hơn. Khi tiếp xúc với rung động cao hơn, người ấy trải nghiệm ánh sáng.

231. We are reminded of the faculty (discussed above) which like the esoteric sense, leads the venturing consciousness into fields of increasingly subtle and rapid vibration. This faculty (a monadic faculty) is the driving source of evolution itself.

231. Chúng ta được nhắc đến năng lực (đã bàn ở trên) vốn, giống như giác quan nội môn, dẫn tâm thức đang dấn bước vào những trường rung động ngày càng tinh tế và nhanh hơn. Năng lực này (một năng lực chân thần) chính là nguồn thúc đẩy sự tiến hoá.

232. The Mason is ever in search of both the Lost Word and the Light. He is the eternal seeker and (via a series of initiatory experiences) seeks to return “Home”.

232. Người thuộc Hội Tam Điểm luôn tìm kiếm cả Linh Từ Thất Truyền lẫn Ánh Sáng. Y là người tìm kiếm vĩnh cửu và, qua một chuỗi trải nghiệm điểm đạo, tìm đường trở về “Nhà”.

233. We have discussed (in other words) “the motivating power behind manifestation”. There is an involutionary direction and an evolutionary direction. Manifestation of all kinds occurs so that one or the other of these directions may be pursued.

233. Chúng ta đã bàn đến, bằng những lời khác, “quyền năng thúc đẩy đằng sau sự biểu hiện”. Có một phương hướng giáng hạ tiến hoá và một phương hướng thăng thượng tiến hoá. Mọi loại biểu hiện đều diễn ra để có thể đi theo một trong hai phương hướng này.

234. We recognize “direction” as a concept intimately related to the will and to destiny. We speak of “monadic destiny” but we might also speak of ‘monadic direction’ —that which drives the Jiva ever onwards—towards the Source from whence it came.

234. Chúng ta nhận ra “phương hướng” là một khái niệm gắn bó mật thiết với ý chí và thiên mệnh. Chúng ta nói đến “thiên mệnh chân thần”, nhưng cũng có thể nói đến “phương hướng chân thần”—điều luôn thúc đẩy sinh mệnh cá thể tiến lên, hướng về Cội Nguồn mà từ đó nó đã xuất phát.

235. We can see how much pondering would be required in order to expand upon and deepen the “seed ideas” (hints) with which we have been presented.

235. Chúng ta có thể thấy cần suy ngẫm nhiều đến mức nào để mở rộng và đào sâu những “ý tưởng hạt giống” (các gợi ý) đã được trao cho chúng ta.

It will become increasingly apparent to you that the entire life of a disciple becomes one of reflective meditation.

Các bạn sẽ ngày càng thấy rõ rằng toàn bộ đời sống của một đệ tử trở thành một đời sống tham thiền chiêm nghiệm.

236. This is not the same as saying that the disciple leads an inactive life. He is living a life of “intelligent supervision”, which is one of both observation and control.

236. Điều này không đồng nghĩa với việc nói rằng đệ tử sống một cuộc đời không hoạt động. Y đang sống một đời sống “giám sát thông minh”, bao gồm cả quan sát lẫn kiểm soát.

237. If he is spiritually ‘situated’ in the proper supervisory ‘position’, he may conduct “reflective meditation” even while engaged in many kinds of outer activity.

237. Nếu về mặt tinh thần, y “đứng” đúng “vị trí” giám sát, y có thể thực hiện “tham thiền suy ngẫm” ngay cả khi tham gia nhiều loại hoạt động bên ngoài.

Meditation forms may at some point of unfoldment drop away, but the habit of meditation will become a permanent and considered habit and will know finally no termination;

Ở một thời điểm khai mở nào đó, các hình thức tham thiền có thể mất đi, nhưng thói quen tham thiền sẽ trở thành một thói quen thường trực và có chủ ý, cuối cùng không còn bao giờ chấm dứt;

238. Meditation forms are but scaffolding upon which “a permanent and considered habit” of meditation may be built.

238. Những hình thức tham thiền chỉ là giàn giáo để xây dựng “một thói quen thường xuyên và có chủ đích” về tham thiền.

239. DK’s assertion is that after a certain point of development, meditation “will know finally no termination”. All the greater Lives meditate constantly, we are being told.

239. Chân sư DK khẳng định rằng sau một mức phát triển nhất định, tham thiền “cuối cùng sẽ không bao giờ chấm dứt”. Chúng ta được cho biết rằng tất cả các Sự Sống cao cả hơn đều tham thiền liên tục.

240. Have we experimented with holding the attitude of meditation for the entire day, or even for briefer spans? What does it require to succeed in this task? Surely a keen, flexible yet subtle attentiveness.

240. Chúng ta đã thử duy trì thái độ tham thiền suốt cả ngày, hay ngay cả trong những khoảng thời gian ngắn hơn chưa? Cần điều gì để thành công trong việc này? Chắc chắn là một sự chú tâm sắc bén, linh hoạt mà tinh tế.

when that point is reached, the idea of direction will take on divine significance.

khi đạt đến điểm ấy, ý tưởng về phương hướng sẽ mang thâm nghĩa thiêng liêng.

241. With a properly sustained, meditative attitude, the sense of direction will be keen and it will always lead towards the Center of Life (even though the meditator may be very active on the outer planes).

241. Khi duy trì đúng đắn thái độ tham thiền, ý thức về phương hướng sẽ sắc bén và luôn dẫn về Trung Tâm Sự Sống (dù người hành thiền có thể hoạt động rất tích cực trên các cõi bên ngoài).

242. Right now we all have a sense of direction. Can we be sure that it has a “divine significance”—i.e., that it leads towards that within us which is divine— i.e., towards the Monad and monadic livingness?

242. Ngay lúc này, tất cả chúng ta đều có ý thức về phương hướng. Chúng ta có thể chắc chắn rằng nó mang “thâm nghĩa thiêng liêng”—nghĩa là dẫn đến điều thiêng liêng bên trong chúng ta—tức là hướng đến Chân thần và sức sống chân thần không?

Here is a second hint on the same theme.

Đây là lời gợi ý thứ hai về cùng chủ đề.

243. We have been given two hints, and usually DK will tell us when a hint has been imparted:

243. Chúng ta đã nhận được hai gợi ý, và thường Chân sư DK sẽ cho chúng ta biết khi một gợi ý đã được trao truyền:

a. A key to the correct interpretation of a hint lies in its association with the idea of direction in time and space.

a. Một chìa khóa để diễn giải đúng một gợi ý nằm ở mối liên hệ của nó với ý tưởng về phương hướng trong thời gian và không gian.

b. When there is established a meditative attitude that knows no termination, then the idea of direction will take on divine significance.

b. Khi thiết lập được một thái độ tham thiền không bao giờ chấm dứt, ý tưởng về phương hướng sẽ mang thâm nghĩa thiêng liêng.

244. If we are really alert we shall see that quite a number of hints or “seed ideas” have been ‘dropped’ or ‘planted’ during several of DK’s recent statements.

244. Nếu thực sự tỉnh táo, chúng ta sẽ thấy khá nhiều gợi ý hay “ý tưởng hạt giống” đã được “thả xuống” hoặc “gieo trồng” trong một số phát biểu gần đây của Chân sư DK.

You will recollect that in my last Instruction the whole subject of meditation was summarised for you as follows:

Các bạn sẽ nhớ rằng trong Huấn Thị trước, Tôi đã tóm tắt toàn bộ chủ đề tham thiền cho các bạn như sau:

245. We are conducting a short review.

245. Chúng ta đang ôn lại ngắn gọn.

1. A preliminary stage wherein the theme of meditation was recognised.

1. Một giai đoạn sơ khởi trong đó chủ đề tham thiền được nhận biết.

246. At the beginning of the meditation process, we acknowledge the theme of our meditation. We isolate it from other thoughts and prepare to concentrate upon it.

246. Khi bắt đầu tiến trình tham thiền, chúng ta xác định chủ đề tham thiền của mình. Chúng ta tách nó ra khỏi những tư tưởng khác và chuẩn bị tập trung vào đó.

2. Receptivity in attitude, so that the possible and esoteric teaching may be recognised and absorbed.

2. Thái độ tiếp nhận, để có thể nhận biết và hấp thu giáo huấn huyền bí có thể được truyền đến.

247. We develop an attitude of esoteric receptivity so that truly esoteric teaching may make its impression, and being impressed may be recognized and absorbed.

247. Chúng ta phát triển thái độ tiếp nhận nội môn để giáo huấn thực sự mang tính nội môn có thể tạo ấn tượng; và khi đã tạo ấn tượng, giáo huấn ấy có thể được nhận biết và hấp thụ.

248. Esoteric receptivity is a more sensitive state than normal receptivity. In a state of esoteric receptivity, we are seeking to be impressed from formless realms.

248. Sự tiếp nhận nội môn là một trạng thái nhạy cảm hơn sự tiếp nhận thông thường. Trong trạng thái tiếp nhận nội môn, chúng ta tìm cách tiếp nhận ấn tượng từ các cõi vô hình tướng.

3. The transmission of ideas in some form or another to the brain after they have been registered by the mind in the form of seed thoughts, hints or presented themes and concepts.

3. Truyền các ý tưởng dưới hình thức này hay hình thức khác đến bộ não, sau khi thể trí đã ghi nhận chúng dưới dạng tư tưởng hạt giống, lời gợi ý, hay những chủ đề và khái niệm được đưa ra.

249. If we are truly receptive, ideas from the formless worlds will make their impression upon our mind. There they will take form as—

249. Nếu chúng ta thực sự có khả năng tiếp nhận, các ý tưởng từ những thế giới vô hình tướng sẽ tạo ấn tượng lên thể trí của chúng ta. Tại đó, chúng sẽ thành hình dưới dạng—

a. Seed thoughts

a. Tư tưởng hạt giống

b. Hints

b. Gợi ý

c. Presented themes

c. Những chủ đề được trình bày

d. Presented concepts

d. Những khái niệm được trình bày

250. The goal is for subtle energy patterns to be impressed upon the brain after they have been impressed upon the mind. The extremely subtle impressions from the cosmic ethers must reach the levels of density (represented by the physical brain).

250. Mục tiêu là để những mô hình năng lượng tinh tế ghi dấu ấn lên bộ não sau khi đã ghi dấu ấn lên thể trí. Những ấn tượng cực kỳ tinh tế từ các dĩ thái vũ trụ phải đến được những cấp độ đậm đặc (mà bộ não hồng trần đại diện).

4. The deliberate focussing of thought upon these ideas.

4. Tập trung tư tưởng một cách có chủ ý vào những ý tưởng này.

251. Impression has been received and now the meaning and implications of the impression may be discovered through the focussing of thought upon the mental formulation of the ideas—formulations which appear as seed-thoughts, hints, presented themes and concepts.

251. Ấn tượng đã được tiếp nhận, và giờ đây có thể khám phá ý nghĩa cùng những hàm ý của ấn tượng bằng cách tập trung tư tưởng vào cách các ý tưởng thành hình trong thể trí—những hình thức xuất hiện dưới dạng tư tưởng hạt giống, gợi ý, các chủ đề và khái niệm được trình bày.

5. As these ideas are considered and developed, they are subjected to analysis and take shape eventually as created thoughtforms.

5. Khi được suy xét và phát triển, những ý tưởng này trải qua sự phân tích và cuối cùng thành hình như những hình tư tưởng được tạo dựng.

252. Through the power of thought, the ideas which have been registered and have taken mental form are worked into more elaborated forms— “created thoughtforms”.

252. Qua quyền năng tư tưởng, những ý tưởng đã được ghi nhận và đã thành hình trong thể trí được phát triển thành những hình thức chi tiết hơn—“những hình tư tưởng được tạo ra”.

6. They are then subjected to a process of unification through the conscious and constant use of a mantram.

6. Sau đó, chúng trải qua một tiến trình hợp nhất nhờ việc sử dụng một mantram liên tục và có ý thức.

[304]

[304]

253. Once (though analysis and correlation) the ideas have been worked into elaborated thoughtforms, they are ready to be turned into a mantram or mantrams. Mantrams essentialize the thoughtform and give it power in various worlds, including the material world.

253. Một khi các ý tưởng đã được phát triển thành những hình tư tưởng chi tiết (qua phân tích và liên hệ), chúng sẵn sàng để chuyển thành một hay nhiều mantram. Các mantram cô đọng tinh túy của hình tư tưởng và ban cho nó quyền năng trong nhiều thế giới, kể cả thế giới vật chất.

254. The formulation of the appropriate mantrams is an act of essentialization and empowerment.

254. Việc xây dựng các mantram thích hợp là một hành động cô đọng tinh túy và tăng cường quyền năng.

If this outline for thinking is carefully considered, it will be apparent to you that it is suitable for all true thought processes, all mental moods, and all analysis and application of occult hints.

Nếu suy xét cẩn thận dàn ý tư duy này, các bạn sẽ thấy rõ rằng nó thích hợp với mọi tiến trình tư tưởng chân chính, mọi trạng thái trí tuệ, và mọi sự phân tích, vận dụng những lời gợi ý huyền bí.

255. DK has presented us with an “outline for thinking”. He seeks to see us apply it to—

255. Chân sư DK đã trình bày cho chúng ta một “đề cương tư duy”. Ngài mong thấy chúng ta áp dụng nó vào—

a. All thought processes

a. Mọi tiến trình tư tưởng

b. All mental moods

b. Mọi trạng thái của thể trí

c. All analysis and application of occult hints

c. Mọi sự phân tích và áp dụng các gợi ý huyền bí

256. It is always possible to search for greater light upon any subject and this will come through occult impression.

256. Chúng ta luôn có thể tìm kiếm ánh sáng lớn hơn về bất kỳ chủ đề nào, và ánh sáng ấy sẽ đến qua ấn tượng huyền bí.

257. Into the midst of this process, the process of building and using the antahkarana can be woven.

257. Có thể đan xen tiến trình xây dựng và sử dụng antahkarana vào trong tiến trình này.

258. All we need to know can be accessed from within ourselves, which does not mean that we should reject valuable knowledge when it comes to us through more exoteric means.

258. Chúng ta có thể tiếp cận mọi điều cần biết từ bên trong chính mình; điều này không có nghĩa là chúng ta nên khước từ tri thức quý giá khi nó đến với chúng ta qua những phương tiện ngoại môn hơn.

I wanted you to realise the essential simplicity of all divine processes and to note the ultimate fact that such processes culminate in a spiritual identification, proving past all controversy that separateness is fundamentally non-existent. This is true also of the formulas which we have been considering.

Tôi muốn các bạn nhận ra tính đơn giản cốt yếu của mọi tiến trình thiêng liêng và lưu ý sự thật tối hậu rằng những tiến trình ấy đạt đến đỉnh cao trong một sự đồng hoá tinh thần, chứng minh không còn gì để tranh cãi rằng về căn bản, sự chia rẽ không tồn tại. Điều này cũng đúng với các công thức mà chúng ta đang xem xét.

259. DK is presenting to us a meditative process by means of which we can access higher impression.

259. Chân sư DK đang trình bày cho chúng ta một tiến trình tham thiền giúp chúng ta tiếp cận những ấn tượng cao hơn.

260. The search for new light is not the final culmination of such a process. Rather such processes culminate in a “spiritual identification” which negates all sense of separateness.

260. Việc tìm kiếm ánh sáng mới không phải là đỉnh điểm cuối cùng của một tiến trình như thế. Đúng hơn, những tiến trình ấy đạt đến đỉnh điểm trong một “sự đồng hoá tinh thần”, phủ nhận mọi cảm thức về sự chia rẽ.

261. When the meditative approach is wisely followed it leads to an intuitive apprehension of Divine Unity.

261. Khi được thực hành một cách minh triết, phương pháp tham thiền dẫn đến sự lĩnh hội trực giác về sự Hợp Nhất Thiêng Liêng.

262. The formulas, we are told, lead to the same result.

262. Chúng ta được cho biết rằng các công thức cũng dẫn đến cùng một kết quả.

263. Many disciples (for all their aspiration and intelligent self-direction) labor still under the perception of a separateness that seems real. Through meditative processes they can overcome the “Great Heresy of Separateness”.

263. Nhiều đệ tử, dù có đầy khát vọng và biết tự định hướng một cách thông minh, vẫn chịu sự chi phối của nhận thức về một sự chia rẽ dường như có thật. Qua những tiến trình tham thiền, họ có thể vượt qua “Đại Tà thuyết về Sự Chia Rẽ”.

264. This state of perceived Unity is indispensable to the true occultist.

264. Trạng thái nhận thức được sự Hợp Nhất này là điều không thể thiếu đối với nhà huyền bí học chân chính.

THE FORMULAS

CÁC CÔNG THỨC

As I told you in my last Instruction, the meaning and even the format of these formulas are so difficult to convey in words that I have hesitated several times in proceeding even with so brief an attempted elucidation on the subject.

Như Tôi đã nói với các bạn trong Huấn Thị trước, ý nghĩa và ngay cả hình thức của những công thức này cũng khó truyền đạt bằng lời đến mức Tôi đã nhiều lần ngần ngại khi tiếp tục dù chỉ cố gắng giải thích vắn tắt về chủ đề này.

265. DK is attempting to convey to us something which is highly abstruse.

265. Chân sư DK đang cố gắng truyền đạt cho chúng ta điều gì đó hết sức thâm sâu.

266. He must have regarded the impartation as important for future consideration or (gathering from His hesitancy) He might have decided not to proceed.

266. Hẳn Ngài đã xem việc trao truyền này là quan trọng để chúng ta suy xét về sau; nếu không, xét từ sự do dự của Ngài, có lẽ Ngài đã quyết định không tiếp tục.

267. He is obviously taking us into areas which far transcend the reach of the concrete, reasoning mind.

267. Rõ ràng Ngài đang đưa chúng ta vào những lĩnh vực vượt xa tầm với của trí cụ thể có khả năng suy luận.

But even if I can convey but little of their significance, I can at least build in your minds the concept of these formulas.

Nhưng ngay cả khi chỉ có thể truyền đạt đôi chút thâm nghĩa của chúng, ít nhất Tôi vẫn có thể xây dựng trong thể trí các bạn khái niệm về những công thức này.

268. To know that such formulas exist and somewhat of the concept behind them is already a platform upon which a deeper exposition of the formulas can be built at a later time.

268. Việc biết rằng những công thức như thế tồn tại và biết phần nào khái niệm đằng sau chúng đã là một nền tảng để sau này có thể xây dựng một sự trình bày sâu sắc hơn về các công thức.

269. We see how many compromises even a Master must make as He attempts to convey something of the abstruse aspects of the Ageless Wisdom to the dense minds of modern man.

269. Chúng ta thấy ngay cả một Chân sư cũng phải dung hòa nhiều đến mức nào khi Ngài cố gắng truyền đạt đôi điều về những phương diện thâm sâu của Minh Triết Ngàn Đời đến những thể trí đậm đặc của con người hiện đại.

They are second ray presentations of soul ideas.

Chúng là những cách trình bày các ý tưởng của linh hồn thuộc cung hai.

270. They pertain to the second ray, perhaps because so many of them embody patterns which are to be imprinted upon the consciousness of the student. The second ray is the “Ray of the Divine Pattern”.

270. Chúng thuộc về cung hai, có lẽ vì rất nhiều công thức trong số đó thể hiện những mô hình cần được ghi khắc vào tâm thức của đạo sinh. Cung hai là “Cung của Mô Hình Thiêng Liêng”.

271. We may gather that “soul ideas” originate in the realm of the Ego—the realm of the spiritual triad.

271. Chúng ta có thể suy ra rằng “các ý tưởng của linh hồn” bắt nguồn từ lĩnh vực của chân ngã—lĩnh vực của Tam Nguyên Tinh Thần.

We are told that God geometrises, when referring to the activity of the second aspect, and that a subtle geometrical form lies behind the exoteric manifestation. These forms convey to the occult student the symbolism of the world of meaning. Behind the mathematics and the geometrical designs, and behind the numerology which attempts (hitherto quite unsuccessfully) to convey the truth, but which in a mysterious manner conditions the creative work, are certain formulas which—as I have pointed out—express significance, intention, meaning.

Khi đề cập đến hoạt động của phương diện thứ hai, chúng ta được dạy rằng Thượng đế vận dụng hình học và đằng sau biểu hiện ngoại môn có một hình tướng hình học tinh tế. Những hình tướng này truyền đạt cho đạo sinh huyền bí biểu tượng học của Thế giới của ý nghĩa. Đằng sau toán học và các đồ hình hình học, và đằng sau khoa số học đang cố gắng truyền đạt chân lý (cho đến nay vẫn chưa thành công), nhưng lại tác động lên công việc sáng tạo một cách huyền nhiệm, có những công thức nhất định mà—như Tôi đã chỉ ra—biểu đạt thâm nghĩa, ý định và ý nghĩa.

272. We are being told there are “subtle geometrical forms” underlying exoteric manifestations. These symbolic forms bring revelation from the world of meaning. The formulas with which we are presented underlie these geometrical forms.

272. Chúng ta đang được cho biết rằng có những “hình tướng hình học tinh tế” làm nền tảng cho các biểu hiện ngoại môn. Những hình tướng biểu tượng này mang đến sự mặc khải từ Thế giới của ý nghĩa. Các công thức được trình bày cho chúng ta làm nền tảng cho những hình tướng hình học ấy.

273. We are told of mathematics, of geometrical designs and of numerology. All of these have been used to attempt to convey the truth. All of these are related to the “creative work”.

273. Chúng ta được cho biết về toán học, các thiết kế hình học và số học huyền bí. Tất cả những lĩnh vực này đều đã được sử dụng nhằm cố gắng truyền đạt chân lý. Tất cả đều liên quan đến “công việc sáng tạo”.

274. The formulas we have been studying “lie behind” mathematics, geometrical designs and numerology. They express significance, intention and meaning.

274. Những công thức chúng ta đang nghiên cứu “nằm đằng sau” toán học, các thiết kế hình học và số học huyền bí. Chúng biểu đạt thâm nghĩa, ý định và ý nghĩa.

275. We seem to be speaking of three levels:

275. Dường như chúng ta đang nói về ba cấp độ:

a. Exoteric manifestation

a. Sự biểu hiện ngoại môn

b. Subtle geometrical/numerological forms or designs underlying the exoteric manifestation

b. Những hình tướng hoặc thiết kế hình học/số học huyền bí tinh tế làm nền tảng cho sự biểu hiện ngoại môn

c. Formulas which underlie the subtle forms and designs

c. Những công thức làm nền tảng cho các hình tướng và thiết kế tinh tế

With three of the formulas we have spent a short time in consideration. Broadly speaking, these three condition the evolutionary process through the forms which are the result of the correct use of these formulas in such a way that a directive is given. I know not how else to express it.

Chúng ta đã dành một thời gian ngắn để xem xét ba trong số các công thức ấy. Nói khái quát, ba công thức này tác động lên tiến trình tiến hoá thông qua những hình tướng là kết quả của việc sử dụng đúng các công thức ấy theo cách đưa ra một chỉ hướng. Tôi không biết diễn đạt điều này cách nào khác.

276. We can see why DK, having referred to the nature of the first three formulas, says he knows not how else to express what He has said. The formulation is enigmatic.

276. Chúng ta có thể thấy vì sao, sau khi đề cập đến bản chất của ba công thức đầu tiên, Chân sư DK nói rằng Ngài không biết diễn đạt điều Ngài đã nói theo cách nào khác. Cách diễn đạt ấy thật bí ẩn.

277. The formulas underlie and condition the evolutionary process. There is an evolutionary process which proceeds through certain forms. Interestingly, the forms themselves are the result of the correct use of the formulas (but by whom?—certainly not by those types of consciousness which are evolving through the forms).

277. Các công thức làm nền tảng và tác động lên tiến trình tiến hoá. Có một tiến trình tiến hoá diễn ra thông qua một số hình tướng nhất định. Điều thú vị là chính những hình tướng ấy lại là kết quả của việc sử dụng đúng các công thức (nhưng ai sử dụng?—chắc chắn không phải những loại tâm thức đang tiến hoá thông qua các hình tướng ấy).

278. Is DK telling us that the forms through which consciousness proceeds as it evolves are, themselves, the result of the correct use of these formulas—perhaps by advanced intelligences which are guiding the entire evolutionary process?

278. Phải chăng Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chính những hình tướng mà tâm thức đi qua trong quá trình tiến hoá là kết quả của việc sử dụng đúng các công thức này—có lẽ do những trí tuệ tiến hoá cao đang hướng dẫn toàn bộ tiến trình tiến hoá?

279. The correct use of the formulas leads to the apprehension of a “directive” which is given. A “direction” is given which “naught can offset”

279. Việc sử dụng đúng các công thức dẫn đến sự lĩnh hội một “chỉ thị” được ban ra. Một “phương hướng” được đưa ra mà “không gì có thể hóa giải”