Trích nội dung chương
The three directives, therefore, already dealt with, embody and express the oldest invocative appeal in the world and (because of the age of this appeal) these three formulas have given a direction that naught can offset; the resultant conditions are inevitable: Do đó, ba chỉ hướng đã được bàn đến thể hiện và biểu đạt lời khẩn cầu cổ xưa nhất trên thế giới, và (vì lời khẩn cầu này đã có từ rất lâu) ba công thức ấy đã định ra một phương hướng mà không gì có thể hoá giải; những điều kiện phát sinh là tất yếu:
280. We must continue to ponder the ideas suggested.
280. Chúng ta phải tiếp tục suy ngẫm những ý tưởng được gợi ra.
The three directives, therefore, already dealt with, embody and express the oldest invocative appeal in the world and (because of the age of this appeal) these three formulas have given a direction that naught can offset; the resultant conditions are inevitable:
Do đó, ba chỉ hướng đã được bàn đến thể hiện và biểu đạt lời khẩn cầu cổ xưa nhất trên thế giới, và (vì lời khẩn cầu này đã có từ rất lâu) ba công thức ấy đã định ra một phương hướng mà không gì có thể hoá giải; những điều kiện phát sinh là tất yếu:
281. The “directives” are, as well, invocations— for light, for reality, for immortality.
281. Các “chỉ thị” đồng thời cũng là những lời khẩn cầu— cầu ánh sáng, cầu thực tại, cầu sự bất tử.
282. The formulas seem to have been in effect ever since the beginning of self-consciousness in man. Perhaps the formulas are inherent within Nature itself and condition even the rise of the lower kingdoms towards that which man recognizes as the light, as reality as immortality.
282. Dường như các công thức đã có hiệu lực ngay từ khi ngã thức bắt đầu xuất hiện ở con người. Có lẽ các công thức vốn có ngay trong chính Thiên Nhiên và tác động cả đến sự vươn lên của các giới thấp hướng tới điều mà con người nhận biết là ánh sáng, là thực tại, là sự bất tử.
[305]
[305]
283. Below are listed three of the directives. We can recognize them as pleas, as implorations, as appeals, as invocations, as demands.
283. Dưới đây là ba chỉ thị được liệt kê. Chúng ta có thể nhận ra chúng là những lời cầu xin, những lời khẩn nài, những lời kêu gọi, những lời khẩn cầu, những yêu cầu.
Formula I.... Lead us from darkness to Light.
Công thức I.... Xin dẫn chúng con từ bóng tối đến Ánh sáng.
Formula II....Lead us from the unreal to the Real.
Công thức II....Xin dẫn chúng con từ cái không thực đến cái Chân Thực.
Formula III... Lead us from death to Immortality.
Công thức III... Xin dẫn chúng con từ cái chết đến sự Bất Tử.
This brings us to a statement of the next formula and a consideration of its meaning:
Điều này đưa chúng ta đến việc trình bày công thức tiếp theo và xem xét ý nghĩa của nó:
284. The evolving life (even unconsciously to itself) is sounding these three (let us call them) ‘demands’, even when passing through the lower kingdoms.
284. Sự sống đang tiến hoá (ngay cả khi bản thân không ý thức điều đó) đang xướng lên ba điều này (chúng ta hãy gọi là) ‘yêu cầu’, ngay cả khi đi qua các giới thấp.
285. We can see how definite directions are established
285. Chúng ta có thể thấy những phương hướng rõ rệt được xác lập như thế nào
a. The direction which leads from darkness to Light
a. Phương hướng dẫn từ bóng tối đến Ánh sáng
b. The direction which leads from the unreal to the Real
b. Phương hướng dẫn từ cái không thực đến Cái Thực
c. The direction which leads from death to Immortality
c. Phương hướng dẫn từ cái chết đến Sự Bất Tử
286. DK is telling us that through the conscious or unconscious use of these formulas during the evolutionary process and irreversible directions have been set for evolving life.
286. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng qua việc sử dụng các công thức này một cách có ý thức hoặc vô thức trong tiến trình tiến hoá, những phương hướng không thể đảo ngược đã được xác lập cho sự sống đang tiến hoá.
Formula IV... Lead us from chaos to Beauty.
Công thức IV... Xin dẫn chúng con từ hỗn loạn đến Cái Đẹp.
287. Finally, we reach the fourth formula. We can see immediately its relation to the Fourth Ray of Harmony, Beauty and Art.
287. Cuối cùng, chúng ta đến với công thức thứ tư. Chúng ta có thể thấy ngay mối liên hệ của nó với Cung Bốn của Hài Hòa, Cái Đẹp và Nghệ Thuật.
This formula is presented in the form of a symbol—one which is in such constant movement that it is most difficult to describe or to make it live before you.
Công thức này được trình bày dưới dạng một biểu tượng—một biểu tượng chuyển động không ngừng đến mức rất khó mô tả hay làm cho nó hiện lên sống động trước các bạn.
288. We see that in the “occult world” there is nothing static. The form of perception which is common to us is a lower and limited form and conveys to us the illusion of stasis.
288. Chúng ta thấy rằng trong “thế giới huyền bí” không có gì tĩnh tại. Hình thức tri giác quen thuộc với chúng ta là một hình thức thấp hơn và có giới hạn, đem đến cho chúng ta ảo tưởng về trạng thái bất động.
There lies before the investigator a square or oblong,
Trước người khảo cứu là một hình vuông hay hình chữ nhật,
289. Which shall it be? The square or oblong have different significances.
289. Đó sẽ là hình nào? Hình vuông và hình chữ nhật có những thâm nghĩa khác nhau.
composed of a kaleidoscopic mass of inchoate colours, moving, pulsating and in constant indescribable confusion.
gồm một khối màu sắc chưa thành hình như trong kính vạn hoa, đang chuyển động, rung nhịp và không ngừng hỗn loạn đến mức không thể mô tả.
290. This is the portrayal of chaos.
290. Đây là sự khắc họa hỗn mang.
Superimposed upon this square is a radiant sun with a penumbra composed of the seven prismatic colours;
Chồng lên hình vuông này là một mặt trời rực rỡ với vùng nửa tối gồm bảy màu quang phổ;
291. Here, as opposed to an image of chaos, we have an image of cosmos, or of beauty and order.
291. Ở đây, đối lập với hình ảnh hỗn mang, chúng ta có một hình ảnh về vũ trụ có trật tự, hay về cái đẹp và trật tự.
these radiate from the sun in regular rhythmic bands and produce a marvellous blaze of colour.
những màu này toả ra từ mặt trời thành các dải đều đặn, nhịp nhàng và tạo nên một quầng màu chói lọi kỳ diệu.
292. The regularity of the rhythm suggests the rhythm of the ray cycles, for rays are (from one perspective) spheres of color.
292. Sự đều đặn của nhịp điệu gợi lên nhịp điệu của các chu kỳ cung, vì xét từ một góc độ, các cung là những khối cầu màu sắc.
The background of the square appears to have its confusion of colours shown of a heavy, brilliant kind and quality;
Sự hỗn loạn màu sắc trên nền hình vuông dường như mang tính chất và phẩm tính nặng nề, rực chói;
293. Upon the square are the cruder, denser colors. These colors are opaque. The light cannot pass through them. They represent the quality of energies as experienced in the lower worlds.
293. Trên hình vuông là những màu sắc thô hơn, đậm đặc hơn. Những màu sắc này mờ đục. Ánh sáng không thể xuyên qua chúng. Chúng biểu thị phẩm tính của các năng lượng như được trải nghiệm trong những cõi thấp.
the scheme of beauty emerging (even if it appears as superimposed) is translucent and delicate and radiantly living in hue.
bố cục đẹp đẽ đang xuất hiện (dù có vẻ chồng lên trên) lại trong mờ, tinh tế, với sắc màu rạng rỡ đầy sức sống.
294. The spiritual world characterized by translucence is symbolized by the superimposed sun and its seven-colored penumbra.
294. Thế giới tinh thần với đặc tính trong mờ được biểu tượng hóa bằng mặt trời chồng lên trên cùng vùng nửa tối bảy màu của nó.
295. The superimposed scheme is filled with the power to transform.
295. Bố cục chồng lên trên tràn đầy quyền năng chuyển đổi.
The heavier background can be distinctly seen through the translucence.
Có thể nhìn rõ phần nền nặng nề hơn qua lớp trong mờ ấy.
296. From the spiritual world the dense world can be envisioned.
296. Từ thế giới tinh thần, có thể nhìn thấy thế giới đậm đặc.
This formula differs according to the polarisation of the one who visions it and who studies it. If he is focussed in the personality, and is therefore conditioned by his personality ray, one type of energy will impinge upon his consciousness;
Công thức này thay đổi tuỳ theo sự phân cực của người nhìn thấy và nghiên cứu nó. Nếu y tập trung trong phàm ngã và do đó chịu ảnh hưởng của cung phàm ngã, một loại năng lượng sẽ tác động lên tâm thức y;
297. It becomes clear that as this formula is contemplated an energy impact is experienced.
297. Rõ ràng là khi chiêm ngưỡng công thức này, người ta trải nghiệm một tác động năng lượng.
298. This formula is versatile (as are the other formulas). The quality of the beholder conditions the quality of the energy impact arising from the use of the formula.
298. Công thức này có nhiều khả năng vận dụng (cũng như các công thức khác). Phẩm tính của người chiêm ngưỡng ảnh hưởng đến phẩm tính của tác động năng lượng phát sinh từ việc sử dụng công thức.
if he is soul conscious and soul focussed, another type of energy will have its effect. Thus two different pictures will emerge. Both will be correct, but the interpreting agent will be different.
nếu y có tâm thức linh hồn và tập trung trong linh hồn, một loại năng lượng khác sẽ gây ảnh hưởng. Như vậy, hai hình ảnh khác nhau sẽ xuất hiện. Cả hai đều đúng, nhưng tác nhân diễn giải sẽ khác nhau.
299. The perceiver interacts with that which is perceived. The quality of the perceiver determines the effect resulting from the contemplation of the moving image.
299. Người tri giác tương tác với đối tượng được tri giác. Phẩm tính của người tri giác quyết định hiệu quả phát sinh từ việc chiêm ngưỡng hình ảnh đang chuyển động.
300. We have entered upon the prospect of a most subtle transformation.
300. Chúng ta đã bước vào triển vọng của một sự chuyển đổi hết sức tinh tế.
301. One could see that this type of formula could easily be portrayed through modern computer graphics. Otherwise (so it seems) it would have to be contemplated imaginatively.
301. Có thể thấy rằng loại công thức này có thể dễ dàng được thể hiện bằng đồ họa máy tính hiện đại. Nếu không, dường như người ta sẽ phải chiêm ngưỡng nó bằng sự tưởng tượng.
This formula, if carefully considered and studied for a number of years, will become a key form by means of which aspects of the creative process will come to the attention of the student,
Nếu được suy xét và nghiên cứu cẩn thận trong nhiều năm, công thức này sẽ trở thành một hình tướng then chốt, qua đó đạo sinh sẽ nhận biết những phương diện của tiến trình sáng tạo,
302. We see that contemplation of such formulas cannot be rushed. The process is slow and does not yield to the concrete mind, impatient to understand.
302. Chúng ta thấy rằng việc chiêm ngưỡng những công thức như thế không thể vội vã. Tiến trình này diễn ra chậm rãi và không chiều theo trí cụ thể vốn nóng lòng muốn thấu hiểu.
303. The relation of this formula to the fourth ray is again suggested. The fourth method of inducing soul control (which is, of course, related to the fourth ray) is the “Urge to Creative Life” (cf. EP II 222)
303. Mối liên hệ của công thức này với cung bốn một lần nữa được gợi ra. Phương pháp thứ tư để khơi dậy sự kiểm soát của linh hồn (dĩ nhiên có liên hệ với cung bốn) là “Sự Thôi Thúc Hướng Đến Đời Sống Sáng Tạo” (xem Tâm Lý Học Nội Môn II, 222)
plus revelation as to some of the divine objectives which are wider and of greater and richer implication than has yet been realised.
cùng sự mặc khải về một số mục tiêu thiêng liêng rộng lớn hơn, mang hàm nghĩa lớn lao và phong phú hơn những gì cho đến nay đã được nhận ra.
304. The incentive for contemplation is great. The results will be:
304. Động lực để chiêm ngưỡng thật lớn lao. Những kết quả sẽ là:
a. Aspects of the creative process will come to the attention of the student
a. Các phương diện của tiến trình sáng tạo sẽ thu hút sự chú ý của đạo sinh
b. The revelation of divine objectives, which are wide, great and rich
b. Sự mặc khải về những mục tiêu thiêng liêng rộng lớn, vĩ đại và phong phú
I would here remind you that these formulas are not symbols of what already is, but are [306] indicatory key forms of what may or shall be—a very different matter and one which you should bear in mind.
Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng những công thức này không phải là biểu tượng của những gì đã hiện hữu, mà là [306] những hình tướng then chốt chỉ ra những gì có thể hoặc sẽ hiện hữu—một điều rất khác mà các bạn nên ghi nhớ.
305. The term “key forms” is suggestive. The formulas, each of them, turn a key to revelation.
305. Thuật ngữ “những hình tướng then chốt” gợi nhiều suy ngẫm. Mỗi công thức đều xoay một chiếc chìa khóa mở vào sự mặc khải.
306. They are key forms which unlock the future and aid in its precipitation.
306. Chúng là những hình tướng then chốt mở ra tương lai và hỗ trợ sự ngưng tụ của tương lai ấy.
307. The formulas are thus related to the intuition which is that which reveals the impending future. We recall how the intuition is related to that which is “spiritually imminent”.
307. Như vậy, các công thức liên hệ với trực giác, vốn mặc khải tương lai đang đến gần. Chúng ta nhớ lại trực giác liên hệ như thế nào với điều “sắp hiển lộ về mặt tinh thần”.
They are symbols of the future and not of the past; they are predictive and not consummating; they reveal what is on the way as the result of the divine thought and are not pictorial presentations of what already is.
Chúng là những biểu tượng của tương lai chứ không phải quá khứ; chúng mang tính tiên báo chứ không phải hoàn tất; chúng mặc khải những gì đang đến như kết quả của tư tưởng thiêng liêng, chứ không phải những hình ảnh trình bày điều đã hiện hữu.
308. DK could not be clearer in His description of the nature of the formulas.
308. Chân sư DK không thể mô tả bản chất của các công thức rõ ràng hơn nữa.
309. The formulas are, indeed, a “bridge to the future”. They invoke the descent of the Divine Purpose through the Divine Plan.
309. Quả thật, các công thức là một “cây cầu dẫn đến tương lai”. Chúng khẩn cầu sự giáng xuống của Thiên Ý thông qua Thiên Cơ.
Therefore, they are not easy to grasp and interpret, because it is only the activity of the intuition which will enable you to understand and move forward into the new impulsive causal area.
Do đó, không dễ nắm bắt và diễn giải chúng, vì chỉ hoạt động của trực giác mới giúp các bạn thấu hiểu và tiến vào lĩnh vực nguyên nhân mới đang phát động.
310. Here DK emphasizes the importance of the intuition in the interpretation of the formulas.
310. Ở đây, Chân sư DK nhấn mạnh tầm quan trọng của trực giác trong việc diễn giải các công thức.
311. He speaks of the “new impulsive causal area”. The formulas are living formulas—new to the consciousness of the interpreter and endowed with the capacity to impel and cause the appearance of patterns new to the lower worlds.
311. Ngài nói về “lĩnh vực nguyên nhân mới mang sức thúc đẩy”. Các công thức là những công thức sống động —mới mẻ đối với tâm thức của người diễn giải và có khả năng thúc đẩy, làm xuất hiện những mô hình mới đối với các cõi thấp.
312. Every higher plane is causal to a lower. The formulas promote the penetration of consciousness into higher levels of vibration considered causal from the perspective of the penetrating consciousness.
312. Mỗi cõi cao hơn đều là nguyên nhân đối với một cõi thấp hơn. Các công thức thúc đẩy tâm thức thâm nhập vào những cấp độ rung động cao hơn, được xem là nguyên nhân từ góc nhìn của tâm thức đang thâm nhập.
Difficult though this task may be (and, my brother, is), it is of major importance to disciples in training for initiation, because it will steadily tend to facilitate their entry into the world of causes and their emergence from the world of effects.
Dù nhiệm vụ này có khó khăn đến đâu (và quả thực là khó, huynh đệ của tôi), nó vẫn có tầm quan trọng lớn đối với các đệ tử đang được huấn luyện để điểm đạo, vì nó sẽ dần tạo thuận lợi cho họ đi vào thế giới nguyên nhân và thoát khỏi thế giới kết quả.
313. At times the “world of causes” is related to the logoic plane, but not in this context. That would be a ‘location’ too ‘high’.
313. Đôi khi “thế giới nguyên nhân” được liên hệ với cõi Thượng đế, nhưng không phải trong ngữ cảnh này. Đó sẽ là một ‘vị trí’ quá ‘cao’.
314. The formulas are a bridge into the world of causes and lead us from the past (which is the world of effects) into the future (governed by the intuition).
314. Các công thức là một cây cầu dẫn vào thế giới nguyên nhân và đưa chúng ta từ quá khứ (vốn là thế giới hệ quả) đến tương lai (do trực giác chi phối).
315. DK has presented us with formulas which can only be interpreted by the intuition. He therefore demands the use of a faculty but little developed in His average reader.
315. Chân sư DK đã trình bày cho chúng ta những công thức mà chỉ trực giác mới có thể diễn giải. Do đó, Ngài đòi hỏi việc sử dụng một năng lực còn ít phát triển nơi độc giả thông thường của Ngài.
316. The disciple in training for initiation must emerge into the world of causes from the world of effects. The formulas are bridges between the dense planes of the cosmic physical plane (as seen from the perspective of the Solar Logos) into the cosmic ethers whereon solar logoic life beings.
316. Người đệ tử đang được huấn luyện để điểm đạo phải từ thế giới hệ quả bước vào thế giới nguyên nhân. Các công thức là những cây cầu nối các cõi đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ (nhìn từ góc độ của Thái dương Thượng đế) với các cõi dĩ thái vũ trụ, nơi sự sống của Thái dương Thượng đế bắt đầu.
317. If the formulas live in us, we shall begin to live in the spiritual sense of the term.
317. Nếu các công thức sống trong chúng ta, chúng ta sẽ bắt đầu sống theo ý nghĩa tinh thần của từ này.
You can see also from this that this formula is related to the Law of Karma;
Từ điều này, các bạn cũng có thể thấy rằng công thức này liên quan đến Định luật Nghiệp Quả;
318. The number four is inseparable from the Law of Karma, and the Fourth Path on the "Way of Higher Evolution" leads to Sirius, whereon the Law of Karma is administered for our solar system and our planet.
318. Số bốn không thể tách rời Định luật Nghiệp Quả, và Con Đường Thứ Tư trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” dẫn đến Sirius, nơi Định luật Nghiệp Quả được điều hành cho hệ mặt trời và hành tinh của chúng ta.
319. If the chaotic colors are found upon a square, we have an even closer association with the Law of Karma.
319. Nếu những màu sắc hỗn loạn nằm trên một hình vuông, chúng ta có một mối liên hệ còn chặt chẽ hơn với Định luật Nghiệp Quả.
in fact, in the ancient records from which these formulas are taken, Formula IV has the symbol of one of the four Lords of Karma at the four corners of this square or oblong design.
thực ra, trong các cổ thư lưu giữ những công thức này, Công thức IV có biểu tượng của một trong bốn Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả tại bốn góc của đồ hình vuông hay chữ nhật này.
320. It is clear that one of the chief functions of the Lords of Karma is to bring Beauty out of chaos.
320. Rõ ràng, một trong những chức năng chính của các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả là đưa Cái Đẹp xuất hiện từ hỗn mang.
321. DK persists in speaking of a “square of oblong design” and we can wonder why, for surely it is one or the other (unless it, too, is in movement). Movement from the square to the oblong is like movement from the first to the second ray.
321. Chân sư DK vẫn tiếp tục nói về một “hình vuông có thiết kế hình chữ nhật”, và chúng ta có thể tự hỏi vì sao, bởi chắc chắn nó phải là hình này hoặc hình kia (trừ khi chính nó cũng đang chuyển động). Sự chuyển từ hình vuông sang hình chữ nhật giống như sự chuyển từ cung một sang cung hai.
322. The “four Lords of Karma” may be portrayed in a planetary guise, for DK speaks of certain Planetary Logoi as Lords of Karma.
322. “Bốn Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả” có thể được khắc họa dưới hình thái hành tinh, vì Chân sư DK nói đến một số Hành Tinh Thượng đế như những Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả.
This formula is sometimes called that of "the Sun upon the Square."
Đôi khi, công thức này được gọi là công thức “Mặt Trời trên Hình Vuông”.
323. The ancient mathematical problem of “squaring the circle” comes to mind.
323. Điều này gợi nhớ đến bài toán cổ xưa về việc “cầu phương hình tròn”.
I have no more to say anent this theme at this time or about this formula in this Instruction. All that I am giving you is intended to be suggestive and to develop in you the power to use the interpretive sense—one of the new senses as far as experience and experiment are concerned, but which is latent in every man.
Lúc này, Tôi không có gì để nói thêm về chủ đề này hay về công thức này trong Huấn Thị này. Tất cả những gì Tôi trao cho các bạn đều nhằm gợi mở và phát triển nơi các bạn năng lực sử dụng giác quan diễn giải—một trong những giác quan mới xét về kinh nghiệm và thực nghiệm, nhưng vẫn tiềm ẩn trong mọi người.
324. The interpretive sense is particularly Mercurian and is related to the third ray.
324. Giác quan diễn giải đặc biệt mang tính chất Sao Thủy và liên hệ với cung ba.
325. We have been given a few hints concerning Formula Four. We may not know how to proceed, but it is the intuition which will take us safely and meaningfully into uncharted territory.
325. Chúng ta đã nhận được một vài gợi ý về Công Thức Bốn. Có thể chúng ta chưa biết phải tiến hành thế nào, nhưng chính trực giác sẽ đưa chúng ta vào miền chưa được khám phá một cách an toàn và có ý nghĩa.
326. We have to dare to release this Mercurian potential within ourselves and see if we may not find a way to begin a meaningful or significant approach to interpretation.
326. Chúng ta phải dám giải phóng tiềm năng Sao Thủy này trong chính mình và xem liệu có thể tìm được cách bắt đầu một sự tiếp cận có ý nghĩa hoặc có thâm nghĩa đối với việc diễn giải hay không.
327. As the years pass, we may begin to realize the extraordinary potency of that which Master DK is attempting to reveal to us. Our tools of approach, however, are not those which we may be accustomed to using, and thus our justifiable hesitancy as we face the interpretation of these formulas.
327. Theo năm tháng, chúng ta có thể bắt đầu nhận ra uy lực phi thường của điều mà Chân sư DK đang cố gắng mặc khải cho chúng ta. Tuy nhiên, những công cụ tiếp cận của chúng ta không phải là những công cụ mà chúng ta có lẽ đã quen sử dụng; vì vậy, sự do dự của chúng ta khi đối diện với việc diễn giải các công thức này là có cơ sở.
POINTS OF REVELATION
CÁC ĐIỂM MẶC KHẢI
Little as you may realise it, these words "Points of Revelation" summarise a most definite technique in the training of disciples for initiation. All life is intended to take the form of a progressive series of awakenings. Progress, movement, awakening, expansion, enlightenment, evolution, growth—these words are but a few of those applied to the effects, both within and without, of the creative process.
Dù các bạn có thể ít nhận ra điều đó, những từ “Các Điểm Mặc Khải” tóm lược một kỹ thuật hết sức xác định trong việc huấn luyện các đệ tử để điểm đạo. Toàn bộ sự sống đều nhằm mang hình thức một chuỗi thức tỉnh tăng tiến. Tiến bộ, chuyển động, thức tỉnh, mở rộng, giác ngộ, tiến hoá, tăng trưởng—những từ này chỉ là một số ít trong những từ dùng để chỉ các tác động, cả bên trong lẫn bên ngoài, của tiến trình sáng tạo.
328. DK tells us that we are dealing with “a most definite technique in the training of disciples for initiation.” We remember that that which is found in DINA II is precisely for this purpose. We are being moved progressively into a wider field of receptivity and expression.
328. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng chúng ta đang bàn đến “một kỹ thuật hết sức cụ thể trong việc huấn luyện các đệ tử để điểm đạo”. Chúng ta nhớ rằng những gì có trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II đều nhằm chính mục đích này. Chúng ta đang từng bước được đưa vào một lĩnh vực tiếp nhận và biểu đạt rộng lớn hơn.
What is this creative process but the working out into progressive demonstration of the divine intention as it assumes form?
Tiến trình sáng tạo này là gì, nếu không phải là sự triển khai thành biểu lộ ngày càng rõ nét của ý định thiêng liêng khi ý định ấy khoác lấy hình tướng?
329. We are in the midst of a great creative process, the purpose of which is to provide increasing opportunity for the divine intention to assume form. Divinity is in process of making itself apparent through progressively lower levels of vibration.
329. Chúng ta đang ở giữa một tiến trình sáng tạo vĩ đại, có mục đích cung cấp ngày càng nhiều cơ hội để ý định thiêng liêng khoác lấy hình tướng. Thiên tính đang trong quá trình làm cho mình hiển lộ qua những cấp độ rung động ngày càng thấp hơn.
This intention is a fully comprehended scheme in the Universal Mind;
Ý định này là một đồ án được thấu hiểu trọn vẹn trong Vũ Trụ Trí;
330. For practical purposes, we may consider this Universal Mind, the Mind of the Solar Logos. It can have much vaster meanings as well, as well as a lesser meaning.
330. Về mặt thực tiễn, chúng ta có thể xem Vũ Trụ Trí này là Trí của Thái dương Thượng đế. Nó cũng có thể mang những ý nghĩa bao la hơn nhiều, cũng như một ý nghĩa nhỏ hẹp hơn.
we call it Purpose when considering the grasp by Shamballa of the synthesis of this comprehensive intention, [307] and we call it the Plan when considering the work of the Hierarchy in bringing this Purpose as fully as possible into expression.
chúng ta gọi nó là Thiên Ý khi xem xét sự lĩnh hội của Shamballa về tính tổng hợp của ý định toàn diện ấy, [307] và gọi nó là Thiên Cơ khi xem xét công việc của Thánh đoàn nhằm đưa Thiên Ý này vào biểu lộ đầy đủ nhất có thể.
331. The “divine intention”, a comprehensive intention in the Universal Mind, is that which is grasped by Shamballa Purpose and by Hierarchy as Plan, as Hierarchy attempts to bring the Purpose as fully as possible into expression by means of the Plan.
331. “Ý định thiêng liêng”, một ý định bao quát trong Vũ Trụ Trí, là điều mà Shamballa nắm bắt như Thiên Ý và Thánh đoàn nắm bắt như Thiên Cơ, khi Thánh đoàn cố gắng đưa Thiên Ý vào biểu đạt một cách trọn vẹn nhất có thể thông qua Thiên Cơ.
332. This section offers an excellent contrast between these two frequently compared terms.
332. Phần này đưa ra một sự đối chiếu rất rõ giữa hai thuật ngữ thường được so sánh ấy.
333. The intention comprehended in the Universal Mind (the Mind of the Solar Logos) is related to the Divine Plan of the Solar Logos and, ultimately, His Purpose—that which He intends to work out through the medium of His solar system.
333. Ý định được thấu hiểu trong Vũ Trụ Trí (Trí của Thái dương Thượng đế) liên hệ với Thiên Cơ của Thái dương Thượng đế và, xét đến cùng, với Thiên Ý của Ngài—điều mà Ngài dự định thực hiện thông qua hệ mặt trời của Ngài.
In our studies over the years and in the books which I have put before the public with the help of A.A.B. and of F.B. and of all of you who have cooperated with them, we have primarily considered the effect of this divine Intention, Purpose and Plan upon Humanity, and this because the Plan—emanating from the Hierarchy—has to be implemented by mankind. Hence the importance of their grasp and their understanding of the entire proposed programme.
Trong những nghiên cứu của chúng ta qua nhiều năm, và trong những cuốn sách mà Tôi đã đưa ra công chúng với sự giúp đỡ của A.A.B., F.B. và tất cả các bạn đã hợp tác với họ, chúng ta chủ yếu xem xét tác động của Ý Định, Thiên Ý và Thiên Cơ thiêng liêng này lên Nhân Loại, bởi vì Thiên Cơ—phát ra từ Thánh đoàn—phải do nhân loại thực hiện. Vì vậy, việc nhân loại nắm bắt và thấu hiểu toàn bộ chương trình đã đề ra là rất quan trọng.
334. DK seems to be telling us that humanity itself (and not just the disciples of Hierarchy) must come to grasp something of the Divine Plan because that Plan depends for its implementation upon humanity.
334. Dường như Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chính nhân loại (chứ không chỉ các đệ tử của Thánh đoàn) phải nắm bắt được phần nào Thiên Cơ, bởi việc thực hiện Thiên Cơ ấy tùy thuộc vào nhân loại.
335. However, it will be the disciples of the world who will first develop an “understanding of the entire proposed programme”. Gradually this understanding will filter through to a greater number of human beings.
335. Tuy nhiên, các đệ tử trên thế giới sẽ là những người đầu tiên phát triển “sự thấu hiểu toàn bộ chương trình được đề ra”. Dần dần, sự thấu hiểu này sẽ lan đến nhiều người hơn.
336. An important aspect of our discipleship labor is to help humanity develop a reasonable understanding of the Divine Plan, and an acknowledgement that something even greater lies behind it.
336. Một phương diện quan trọng trong công việc của chúng ta trên cương vị đệ tử là giúp nhân loại phát triển sự thấu hiểu hợp lý về Thiên Cơ và thừa nhận rằng đằng sau Thiên Cơ còn có một điều vĩ đại hơn nữa.
337. We learn by implication that, although we have been considering the effect of the Divine Intention of the Solar Logos, the Purpose of Shamballa and the Plan of Hierarchy upon Humanity, that there are naturally other important effects with which we as disciples have naught to do.
337. Qua hàm ý, chúng ta biết rằng mặc dù chúng ta đang xem xét tác động của Ý Định Thiêng Liêng của Thái dương Thượng đế, Thiên Ý của Shamballa và Thiên Cơ của Thánh đoàn lên Nhân Loại, dĩ nhiên vẫn có những tác động quan trọng khác không liên quan đến chúng ta trên cương vị đệ tử.
What, therefore, will be the quality of their reaction to what their developed understanding will reveal?
Do đó, phẩm tính trong phản ứng của họ trước những gì sự thấu hiểu đã phát triển của họ sẽ mặc khải là gì?
338. DK is informing us that humanity itself is preparing for a revelation. The implication is that the disciples of the world are helping to convey this revelation.
338. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng chính nhân loại đang chuẩn bị đón nhận một sự mặc khải. Hàm ý ở đây là các đệ tử trên thế giới đang giúp truyền đạt sự mặc khải này.
What can they expect and what aspects or forms can the revelation be expected to take? Are they to look for a sudden blaze of light, or should they expect a gradual and progressive series of lesser lights? What is the relation of these revelations to the life of the occultist, and must he first of all register and accept what is conveyed to him as inexplicable but to be admitted, and to be viewed as incontrovertible though beyond comprehension? Or what?
Họ có thể mong đợi điều gì, và có thể mong đợi sự mặc khải mang những phương diện hay hình thức nào? Họ nên chờ đợi một luồng ánh sáng đột ngột bừng lên, hay nên mong đợi một chuỗi ánh sáng nhỏ hơn xuất hiện dần dần và tăng tiến? Những sự mặc khải này có mối liên hệ gì với đời sống của nhà huyền bí học, và liệu trước hết y phải ghi nhận và chấp nhận những gì được truyền đến như những điều không thể giải thích nhưng phải thừa nhận, phải xem là không thể tranh cãi dù vượt quá khả năng lĩnh hội chăng? Hay là thế nào?
339. DK asks many important questions—and we should ponder them. What is our attitude towards revelation? How do we as disciples of DK expect it to come? Suddenly? Gradually? And when it comes, how are we to relate to it? Can we expect that we will truly understand that which has been revealed to us? Or must we expect to understand very little or even nothing?
339. Chân sư DK đặt ra nhiều câu hỏi quan trọng—và chúng ta cần suy ngẫm về chúng. Thái độ của chúng ta đối với sự mặc khải là gì? Là đệ tử của Chân sư DK, chúng ta trông đợi nó sẽ đến như thế nào? Đột ngột? Dần dần? Và khi nó đến, chúng ta phải đón nhận nó ra sao? Chúng ta có thể trông đợi mình sẽ thực sự thấu hiểu điều đã được mặc khải cho mình không? Hay chúng ta phải trông đợi rằng mình sẽ hiểu rất ít, thậm chí không hiểu gì cả?
340. We have to learn to answer such questions before it will be possible for large numbers of human beings to understand the revelation of the Divine Intention, the Purpose and the Plan and the manner of revelation.
340. Chúng ta phải học cách trả lời những câu hỏi như thế trước khi đông đảo con người có thể thấu hiểu sự mặc khải về Ý Định Thiêng Liêng, Thiên Ý và Thiên Cơ, cũng như cách thức mặc khải.
Let me reiterate to you the well-known truth that no man is an initiate apart from understanding, that the life of the initiate is one of constant registration of new knowledge which must be transmuted into practical wisdom, of occult facts which must take intelligent place in the life-service of the initiate, and of new inclusions of areas of consciousness; these latter must become the normal field of experience and of expression; they then become the ground for further expansion.
Hãy để Tôi nhắc lại với các bạn chân lý quen thuộc rằng không ai là điểm đạo đồ nếu thiếu sự thấu hiểu, rằng đời sống của điểm đạo đồ là sự ghi nhận liên tục những tri thức mới phải được chuyển hoá thành minh triết thực tiễn, những sự thật huyền bí phải có vị trí thích đáng một cách thông tuệ trong đời sống phụng sự của điểm đạo đồ, và sự bao gồm thêm những lĩnh vực tâm thức mới; những lĩnh vực này phải trở thành phạm vi kinh nghiệm và biểu lộ bình thường; rồi chúng trở thành nền tảng cho sự mở rộng tiếp theo.
341. What are the requirements which, fulfilled, make a man an initiate?
341. Những yêu cầu nào, khi được đáp ứng, sẽ khiến một người trở thành điểm đạo đồ?
a. An initiate must have understanding or he is not an initiate.
a. Một điểm đạo đồ phải có sự thấu hiểu, nếu không thì y không phải là điểm đạo đồ.
b. An initiate will always register new knowledge and this knowledge must be transmuted into practical wisdom.
b. Một điểm đạo đồ sẽ luôn ghi nhận tri thức mới, và tri thức này phải được chuyển hoá thành minh triết thực tiễn.
c. The initiate will register many new occult facts which must be used intelligently in the initiate’s service.
c. Điểm đạo đồ sẽ ghi nhận nhiều sự kiện huyền bí mới mà y phải vận dụng một cách thông minh trong công việc phụng sự của mình.
d. The initiate will develop an ever more inclusive consciousness; new areas of consciousness must become the normal field of experience and of expression.
d. Điểm đạo đồ sẽ phát triển một tâm thức ngày càng bao gồm rộng hơn; những lĩnh vực tâm thức mới phải trở thành phạm vi trải nghiệm và biểu hiện thông thường.
e. The initiate builds upon all the foregoing attainments which serve as the ground for further expansion.
e. Điểm đạo đồ xây dựng trên tất cả những thành tựu nói trên, lấy đó làm nền tảng cho sự mở rộng hơn nữa.
342. As we read this description of initiated living, we find the themes of expansion and inclusion to be constants. The true initiate is always apprehending, assimilating and applying that which is new. He is not at all preoccupied with the past, but with future patterns which must be evoked into expression and applied to present conditions.
342. Khi đọc phần mô tả này về đời sống của điểm đạo đồ, chúng ta thấy các chủ đề mở rộng và bao gồm luôn hiện diện. Điểm đạo đồ chân chính luôn nắm bắt, đồng hóa và áp dụng những điều mới mẻ. Y hoàn toàn không bận tâm đến quá khứ, mà chú trọng đến những mô hình tương lai cần được gợi lên để biểu hiện và áp dụng vào các điều kiện hiện tại.
Every revelation has to be mastered from four angles:
Mỗi sự mặc khải phải được làm chủ từ bốn góc độ:
343. Here we have some important specifics regarding the theme of revelation.
343. Ở đây, chúng ta có một số chi tiết quan trọng liên quan đến chủ đề mặc khải.
1. The mental, occult, spiritual, hierarchical and triadal facts it embodies. Every revelation has its own format, for all our planes—so steadily being revealed—are the subplanes of the cosmic physical plane.
1. Những sự thật về trí tuệ, huyền bí, tinh thần, Thánh đoàn và Tam nguyên tinh thần mà nó hàm chứa. Mỗi sự mặc khải đều có hình thức riêng, vì tất cả các cõi của chúng ta—đang dần được mặc khải—đều là các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.
344. It is interesting to realize that the same revelation will occur on all the planes, as those planes are steadily and gradually disclosed to the consciousness of man.
344. Thật thú vị khi nhận ra rằng cùng một sự mặc khải sẽ xuất hiện trên tất cả các cõi, khi các cõi ấy dần dần và liên tục hiển lộ trước tâm thức con người.
345. Importantly, the revelation embodies facts of an interior kind.
345. Điều quan trọng là sự mặc khải hàm chứa những sự kiện thuộc về nội giới.
346. When considering this first angle, we inquire about the form or format in which the revelation appears as it presents to the consciousness the facts which it embodies.
346. Khi xem xét góc độ thứ nhất này, chúng ta tìm hiểu hình tướng hay hình thức mà sự mặc khải mang lấy khi trình bày trước tâm thức những sự kiện nó hàm chứa.
2. The meaning which the facts and the format veil and hide and for which the one who is being enlightened must search.
2. Ý nghĩa mà các sự thật và hình thức che phủ, giấu kín, và người đang được soi sáng phải tìm kiếm.
[308]
[308]
347. The format of any particular revelation and the facts which it embodies veil a certain meaning for which search must be made through the use of the intuition.
347. Hình thức của bất kỳ sự mặc khải cụ thể nào cùng những sự kiện nó hàm chứa đều che phủ một ý nghĩa nhất định mà người ta phải tìm kiếm bằng cách sử dụng trực giác.
348. This process is one of esoteric penetration into formless realms.
348. Tiến trình này là sự thâm nhập huyền bí vào các cảnh giới vô hình tướng.
349. Behind the “format” are increasingly subtle ‘forms’ until that Form is reached which may be called an Archetype.
349. Đằng sau “hình thức” là những ‘hình tướng’ ngày càng vi tế, cho đến khi đạt tới Hình Tướng có thể gọi là một Nguyên Mẫu.
3. The effect which the revelation is intended to make in the daily life and service and the ashramic relationships of the disciple or initiate.
3. Tác động mà sự mặc khải nhằm tạo ra trong đời sống hằng ngày, trong việc phụng sự và trong các mối liên hệ ashram của đệ tử hay điểm đạo đồ.
350. The revelation is intended to bring about positive changes in the life of the disciple or initiate. His daily life and service must be affected in a positive manner or the revelation is of no value.
350. Sự mặc khải nhằm đem lại những thay đổi tích cực trong đời sống của đệ tử hoặc điểm đạo đồ. Đời sống hằng ngày và công việc phụng sự của y phải chịu tác động tích cực, nếu không thì sự mặc khải chẳng có giá trị gì.
351. There are three areas of impact for the effect of the revelation:
351. Sự mặc khải tác động đến ba lĩnh vực:
a. The disciple’s or initiate’s daily life
a. Đời sống hằng ngày của đệ tử hoặc điểm đạo đồ
b. The disciple’s or initiate’s service
b. Công việc phụng sự của đệ tử hoặc điểm đạo đồ
c. The disciple’s or initiate’s ashramic relationships
c. Các mối quan hệ ashram của đệ tử hoặc điểm đạo đồ
4. The germ, seed thought, key form and invocative potency of that which has been revealed. Every revelation has its place in a great series of revelations and enlightenments; the disciple has to find, within the form of the revelation, that which he must use in order to achieve the next destined point of attained revelation.
4. Mầm, tư tưởng hạt giống, hình tướng then chốt và tiềm lực khẩn cầu của điều đã được mặc khải. Mỗi sự mặc khải đều có vị trí trong một chuỗi lớn những sự mặc khải và giác ngộ; trong hình thức của sự mặc khải, đệ tử phải tìm ra điều y cần sử dụng để đạt đến điểm mặc khải kế tiếp đã được định sẵn.
352. From this fourth angle, the revelation is being considered a kind of hint, which will point or direct the way to the future.
352. Từ góc độ thứ tư này, sự mặc khải được xem là một dạng gợi ý, sẽ chỉ ra hoặc định hướng con đường đi đến tương lai.
353. What has been revealed within the revelation:
353. Những gì đã hiển lộ trong sự mặc khải:
a. A germ
a. Một mầm mống
b. A seed thought
b. Một tư tưởng hạt giống
c. A key form
c. Một hình tướng then chốt
d. An invocative potency
d. Một tiềm năng khẩn cầu
354. The revelation is part of a graded series of revelations and within itself contains that which will lead to the next in the series of revelations.
354. Sự mặc khải là một phần của một chuỗi mặc khải theo cấp độ, và bên trong nó chứa đựng điều sẽ dẫn đến sự mặc khải kế tiếp trong chuỗi ấy.
355. Let us tabulate in briefest form the essence of the four angles from which a revelation must be considered:
355. Chúng ta hãy liệt kê thật ngắn gọn nội dung cốt yếu của bốn góc độ cần dùng để xem xét một sự mặc khải:
a. Embodied facts
a. Những sự kiện được hàm chứa
b. Inherent meaning
b. Ý nghĩa vốn có
c. Life effect
c. Tác động đến đời sống
d. Germ of future revelation
d. Mầm mống của sự mặc khải tương lai
I have here given you, in a very brief form, one of the new techniques for disciples in the New Age and one of the modes of meditation whereby the processes of revelation can be hastened.
Ở đây, Tôi đã trao cho các bạn, dưới hình thức rất vắn tắt, một trong những kỹ thuật mới dành cho các đệ tử trong Kỷ Nguyên Mới và một trong những phương thức tham thiền giúp đẩy nhanh các tiến trình mặc khải.
356. Something of considerable importance has been conveyed. We have been given four angles from which to view revelation. These points of view will open our consciousness to the full impact of the revelation, assist with its application and reveal its utility as an invocation for further revelation.
356. Một điều có tầm quan trọng đáng kể đã được truyền đạt. Chúng ta đã được chỉ cho bốn góc độ để nhìn nhận sự mặc khải. Những góc nhìn này sẽ mở tâm thức chúng ta trước toàn bộ tác động của sự mặc khải, hỗ trợ việc áp dụng nó và cho thấy công dụng của nó như một lời khẩn cầu để có thêm sự mặc khải.
357. When we consider that we may have had a revelation, we can approach study it, apply it and use it from these four angles.
357. Khi cho rằng mình có thể đã có một sự mặc khải, chúng ta có thể tiếp cận, nghiên cứu, áp dụng và sử dụng nó từ bốn góc độ này.
Hitherto in the past, revelation has come unexpectedly, as it did to Saul of Tarsus in the Biblical narrative.
Cho đến nay, trong quá khứ, sự mặc khải thường đến bất ngờ, như đã đến với Saul ở Tarsus trong câu chuyện Kinh Thánh.
358. In the annals of revelation, Saul’s revelation stands out as a great example.
358. Trong lịch sử mặc khải, sự mặc khải của Saul nổi bật như một ví dụ lớn.
In sincerity, the disciple struggles and works and serves; blindly he goes forward, and oft in much bewilderment he seeks knowledge and receives it at unexpected moments, and these frequently increase, at least temporarily, his bewilderment.
Với lòng chân thành, đệ tử phấn đấu, làm việc và phụng sự; y tiến bước trong mù mịt, và thường giữa nhiều bối rối, y tìm kiếm tri thức rồi nhận được vào những lúc bất ngờ; những điều này thường làm tăng sự bối rối của y, ít nhất là tạm thời.
359. In the past, revelation came unexpectedly, unpredictably. The disciple had no control over the timing of the revelation.
359. Trong quá khứ, sự mặc khải đến một cách bất ngờ, không thể đoán trước. Đệ tử không kiểm soát được thời điểm của sự mặc khải.
But during the coming New Age, disciples will be taught how to work consciously and knowingly for light; they will be shown how to realise what will happen to them before they take the needed steps and follow initiation. This will save much time and "focus the light in the desired place" far more rapidly than hitherto.
Nhưng trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến, các đệ tử sẽ được dạy cách nỗ lực tìm ánh sáng một cách có ý thức và hiểu biết; họ sẽ được chỉ cách nhận biết những gì sẽ xảy đến với mình trước khi thực hiện những bước cần thiết và đi theo tiến trình điểm đạo. Điều này sẽ tiết kiệm nhiều thời gian và “tập trung ánh sáng vào nơi mong muốn” nhanh hơn nhiều so với trước đây.
360. The mystic could not know when revelation would come. He considered it a “gift from God”; the arrival of this “gift” was out of his control.
360. Nhà thần bí không thể biết khi nào sự mặc khải sẽ đến. Y xem đó là một “món quà từ Thượng đế”; sự xuất hiện của “món quà” này nằm ngoài tầm kiểm soát của y.
361. But occultism is a science and with an occultly scientific approach to revelation, it is expected that certain results will follow predictably. When the occult laws of approach are obeyed, the revelatory response of the higher energies/entities is inevitable.
361. Nhưng huyền bí học là một khoa học và với cách tiếp cận sự mặc khải theo khoa học huyền bí, người ta kỳ vọng những kết quả nhất định sẽ xuất hiện theo cách có thể dự đoán. Khi tuân thủ các định luật huyền bí về sự tiếp cận, sự đáp ứng mang tính mặc khải của các năng lượng/thực thể cao hơn là điều tất yếu.
362. We can see that the Tibetan is writing for a new and more mentally polarized type of disciple—one who can learn to adhere to tested occult process.
362. Chúng ta có thể thấy Chân sư Tây Tạng đang viết cho một kiểu đệ tử mới, phân cực trí tuệ hơn—một người có thể học cách tuân theo tiến trình huyền bí đã được kiểm chứng.
363. The objective is to save time—to “focus the light in the desired place”, so that ‘in that light we may see Light’. The planetary process is becoming much more coherent and the Planetary Logos, Himself, is presently taking an initiation through our chain (the fourth chain) and upon our globe (the fourth). He has an initiatory schedule which must be observed and so “time is of the essence”.
363. Mục tiêu là tiết kiệm thời gian—“tập trung ánh sáng vào nơi mong muốn”, để ‘trong ánh sáng ấy, chúng ta có thể thấy Ánh Sáng’. Tiến trình hành tinh đang trở nên gắn kết hơn nhiều, và hiện nay chính Hành Tinh Thượng đế đang trải qua một cuộc điểm đạo thông qua Dãy của chúng ta (Dãy Thứ Tư) và trên bầu hành tinh của chúng ta (bầu thứ tư). Ngài có một lịch trình điểm đạo phải tuân thủ, vì vậy “thời gian là yếu tố cốt yếu”.
364. Revelation comes in the form of light, but revelation is also accessed through the utilization of a lesser light.
364. Sự mặc khải đến dưới dạng ánh sáng, nhưng người ta cũng tiếp cận sự mặc khải bằng cách sử dụng một ánh sáng nhỏ hơn.
365. We note the curious phrase “follow initiation”. It bears pondering.
365. Chúng ta lưu ý cụm từ lạ “đi theo tiến trình điểm đạo”. Cụm từ này đáng để suy ngẫm.
You will see, therefore, why I have included this teaching upon the Points of Revelation in what I have to give you anent the processes of preparing for initiation.
Do đó, các bạn sẽ thấy tại sao Tôi đưa giáo huấn về Các Điểm Mặc Khải vào những điều Tôi phải trao cho các bạn về các tiến trình chuẩn bị cho điểm đạo.
366. The initiate is one who has experienced a certain graded series of revelations and has learned to apply them constructively for the sake of humanity and as an expression of the Divine Plan.
366. Điểm đạo đồ là người đã trải nghiệm một chuỗi mặc khải nhất định theo cấp độ và đã học cách áp dụng chúng một cách xây dựng vì lợi ích của nhân loại và như một biểu hiện của Thiên Cơ.
367. Through this teaching on the Points of Revelation, Master DK is preparing us for a conscious, occultly scientific approach to revelation.
367. Qua giáo huấn này về các Điểm Mặc Khải, Chân sư DK đang chuẩn bị cho chúng ta một cách tiếp cận sự mặc khải một cách hữu thức và theo khoa học huyền bí.
It is essential that the modern disciple no longer goes forward blindly but that he cooperates intelligently in the new systems of training.
Điều thiết yếu là đệ tử hiện đại không còn tiến bước mù quáng mà hợp tác một cách thông tuệ trong những hệ thống huấn luyện mới.
368. We are moving from feeling to sight, from a groping response to spirituality to a far more conscious and sighted approach.
368. Chúng ta đang chuyển từ cảm nhận sang thấy biết, từ sự đáp ứng mò mẫm đối với tinh thần sang một cách tiếp cận hữu thức hơn nhiều và thấy rõ đường đi.
369. Naturally, all this relates to an increasing development of the ajna center in the modern disciple.
369. Dĩ nhiên, tất cả những điều này đều liên quan đến sự phát triển ngày càng tăng của trung tâm ajna ở đệ tử hiện đại.
You will note the relation (if you call it no more than that) between the two phrases "points of revelation" and "mountain of initiation."
Các bạn sẽ nhận thấy mối liên hệ (nếu các bạn chỉ gọi nó như vậy) giữa hai cụm từ “các điểm mặc khải” và “ngọn núi điểm đạo”.
370. Symbolically, every mountain has its topmost “point”, which might be called its greatest “vantage point” or “point of revelation”
370. Theo nghĩa biểu tượng, mỗi ngọn núi đều có “điểm” cao nhất, có thể gọi là “điểm quan sát” tốt nhất hay “điểm mặc khải” lớn nhất của nó
371. As one climbs each particular “mountain of initiation” there occur various “points of revelation” which, taken in sum, equate to the revelation which can be grasped at the topmost point of the mountain of initiation.
371. Khi một người leo lên từng “ngọn núi điểm đạo” cụ thể, nhiều “điểm mặc khải” xuất hiện; xét chung lại, chúng tương đương với sự mặc khải mà người ấy có thể nắm bắt tại điểm cao nhất của ngọn núi điểm đạo.
372. Many smaller revelations equate to that greater revelation we call “initiation”.
372. Nhiều sự mặc khải nhỏ hơn hợp thành sự mặc khải lớn hơn mà chúng ta gọi là “điểm đạo”.
In the Old Commentary, these are brought together in a very illumined statement—illuminating if duly reflected upon:
Trong Cổ Luận, hai điều này được kết hợp trong một lời phát biểu hết sức sáng tỏ—mang lại sự soi sáng nếu được suy ngẫm đúng mức:
373. Light pours through this section from the Old Commentary and, thus, its potential to induce illumination in the one who ponders rightly.
373. Ánh sáng tuôn qua đoạn này của Cổ Luận, và do đó, nó có khả năng đem lại sự soi sáng cho người suy ngẫm đúng cách.
"The disciple climbs the mountain, its five peaks illumined by the Sun and hiding the other two.
“Đệ tử leo lên ngọn núi, năm đỉnh núi được Mặt Trời soi sáng và che khuất hai đỉnh còn lại.
[309]
[309]
374. The “five peaks” are the five usual initiations: the Birth, the Baptism, the Transfiguration, the Great Renunciation, the Revelation.
374. “Năm đỉnh núi” là năm cuộc điểm đạo thông thường: Giáng Sinh, Rửa Tội, Biến hình, Từ Bỏ Vĩ Đại, Mặc Khải.
375. We note the name of the fifth initiation, “the Revelation”, in relation to our present theme. Will it, at last, be a revelation of a very full measure of Divine Purpose (planetarily considered)?
375. Chúng ta lưu ý tên gọi của lần điểm đạo thứ năm, “Mặc Khải”, trong mối liên hệ với chủ đề hiện tại. Liệu cuối cùng, đó có phải là một sự mặc khải về Thiên Ý ở mức độ rất trọn vẹn (xét trên phương diện hành tinh) hay không?
376. The “other two” can be interpreted as the sixth and seventh initiations—the Great Decision and the Resurrection.
376. “Hai đỉnh còn lại” có thể được diễn giải là lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy—Quyết Định Vĩ Đại và Phục Sinh.
377. The “Sun” may be considered the Solar Logos or, for any system, the ultimate Source of illumination.
377. “Mặt Trời” có thể được xem là Thái dương Thượng đế hoặc, đối với bất kỳ hệ thống nào, là Cội Nguồn tối hậu của sự soi sáng.
From point to point he goes and the Way moves upward all the time—out of the dark into the light, from the jungle to the open space, from night to dawn.
Từ điểm này đến điểm khác, y tiến bước, và Đường Đạo không ngừng đi lên—từ bóng tối vào ánh sáng, từ rừng rậm đến khoảng không rộng mở, từ đêm tối đến bình minh.
378. The phrase, “the way moves upward all the time”, signifies that each successive initiation deals with higher dimensions or vibratory spheres.
378. Cụm từ “con đường luôn hướng lên cao” hàm ý rằng mỗi cuộc điểm đạo kế tiếp đều đề cập đến những chiều kích hoặc những khối cầu rung động cao hơn.
379. The “jungle” bears a similarity to the crude, chaotic colors upon the square in Formula Four.
379. “Rừng rậm” có nét tương đồng với những màu sắc thô kệch, hỗn loạn trên hình vuông trong Công Thức Bốn.
380. In a “jungle” there is constant danger as form wars upon form. There is no clear sight because life-forms are crowded together obstructing vision. The “open space” signifies the simplified consciousness of the initiate. For the initiate, the whole is understood and the unity of all life is experienced. The many are resolved into the One.
380. Trong “rừng rậm”, nguy hiểm luôn hiện diện khi hình tướng giao chiến với hình tướng. Không thể nhìn rõ vì các hình thái sự sống chen chúc nhau, cản trở tầm nhìn. “Không gian rộng mở” biểu thị tâm thức đã được đơn giản hóa của điểm đạo đồ. Đối với điểm đạo đồ, toàn thể được thấu hiểu và sự hợp nhất của mọi sự sống được trải nghiệm. Cái đa tạp quy về Đấng Duy Nhất.
381. Each of the five peaks, successively confers greater light and openness.
381. Lần lượt, mỗi đỉnh trong năm đỉnh núi đều đem lại ánh sáng lớn hơn và sự rộng mở hơn.
From point to point he moves and at each point he gets new revelation. Five are the mountain peaks, and as he mounts towards each peak he receives five times the light. Five to the five and so from five to five till five fives have brought him light. Ten lie ahead, but these concern him not as yet."
Từ điểm này đến điểm khác, y tiến bước, và tại mỗi điểm y nhận được sự mặc khải mới. Có năm đỉnh núi, và khi leo lên từng đỉnh, y nhận được ánh sáng gấp năm lần. Năm thêm vào năm, cứ thế từ năm đến năm, cho đến khi năm lần năm đem lại ánh sáng cho y. Mười còn ở phía trước, nhưng chúng chưa liên quan đến y.”
382. Each initiation is inseparable from revelation, but there are lesser revelations along the way.
382. Mỗi cuộc điểm đạo đều không thể tách rời sự mặc khải, nhưng dọc đường còn có những sự mặc khải nhỏ hơn.
383. The phrase “he receives five times the light” can be interpreted in two ways:
383. Cụm từ “y nhận được ánh sáng năm lần” có thể được diễn giải theo hai cách:
a. Each peak reveals to him five times more light than the previous peak, or…
a. Mỗi đỉnh núi mặc khải cho y lượng ánh sáng gấp năm lần đỉnh trước, hoặc…
b. As he mounts from peak to peak there are between peaks five occasions or times at which he receives the light—each of these being, then, a “point of revelation”. It would seem that the second method of interpretation is more correct.
b. Khi y leo từ đỉnh này sang đỉnh khác, giữa các đỉnh núi có năm dịp hay lần y nhận được ánh sáng—khi ấy, mỗi lần như vậy là một “điểm mặc khải”. Dường như cách diễn giải thứ hai đúng hơn.
384. Over the span of the normal five initiations there are twenty-five points of revelation, and thirty five if we consider the seven initiations.
384. Trong suốt năm cuộc điểm đạo thông thường, có hai mươi lăm điểm mặc khải, và ba mươi lăm nếu chúng ta xét cả bảy cuộc điểm đạo.
385. This section of the Old Commentary takes us no farther than Mastership (for “ten lie ahead, but these concern him not as yet”).
385. Đoạn này của Cổ Luận chỉ đưa chúng ta đến địa vị Chân sư (vì “mười còn ở phía trước, nhưng những điều ấy chưa liên quan đến y”).
What is meant here (to bring it down to the bare factual outline)
Điều được hàm ý ở đây (nếu quy về một phác thảo thuần tuý về sự thật)
386. We gather, then, that there are deeper implications…
386. Vậy chúng ta hiểu rằng còn có những hàm ý sâu xa hơn…
is that there are five initiations ahead of the disciple, with two more ahead of the Master, making in all seven initiations, and that prior to each initiation—symbolically or factually speaking—there are five great revelations, making a total of twenty-five, with ten later to be registered by the Master.
là có năm cuộc điểm đạo trước mắt đệ tử, và hai cuộc nữa trước mắt Chân sư, tổng cộng là bảy cuộc điểm đạo; trước mỗi cuộc điểm đạo—nói theo nghĩa biểu tượng hay thực tế—có năm sự mặc khải lớn, tổng cộng là hai mươi lăm, cùng mười sự mặc khải về sau mà Chân sư sẽ ghi nhận.
387. There are five revelations prior to each initiation. If we consider an initiation as a revelation, then for each initiation there are six revelations. There will then be thirty revelations in all for the first five initiations and forty-two for all seven initiations.
387. Có năm sự mặc khải trước mỗi cuộc điểm đạo. Nếu xem một cuộc điểm đạo là một sự mặc khải, thì với mỗi cuộc điểm đạo sẽ có sáu sự mặc khải. Khi ấy, sẽ có tổng cộng ba mươi sự mặc khải cho năm cuộc điểm đạo đầu tiên và bốn mươi hai cho cả bảy cuộc điểm đạo.
388. DK uses the phrase “symbolically or factually speaking”. Probably, the revelations have symbolic value but they are also factual.
388. Chân sư DK sử dụng cụm từ “nói theo nghĩa biểu tượng hay thực tế”. Có lẽ các sự mặc khải mang giá trị biểu tượng, nhưng chúng cũng là những sự kiện thực tế.
389. A Master is characterized by thirty five vortices of fire. In this context, however, the number thirty five is related to a Chohan of the seventh degree.
389. Một Chân sư có đặc trưng là ba mươi lăm xoáy lửa. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này, con số ba mươi lăm liên quan đến một Đấng Chohan cấp bảy.
390. We are learning that the points of revelation have interpretations which can be applied to each of the five (or seven) initiations. Probably particular points of revelation have a closer connection to one initiation than to the others, but all of them are applicable at each.
390. Chúng ta đang học rằng các điểm mặc khải có những cách diễn giải có thể áp dụng cho từng cuộc trong năm (hoặc bảy) cuộc điểm đạo. Có lẽ một số điểm mặc khải cụ thể có mối liên hệ gần gũi với một cuộc điểm đạo hơn những cuộc khác, nhưng tất cả đều có thể áp dụng ở mỗi cuộc điểm đạo.
391. As we study the points of revelation our method of interpretation will depend upon the initiation for which we are preparing.
391. Khi nghiên cứu các điểm mặc khải, phương pháp diễn giải của chúng ta sẽ tùy thuộc vào cuộc điểm đạo mà chúng ta đang chuẩn bị.
I have indicated to you in my past instructions three of these revelations. They are, if you will remember:
Trong những huấn thị trước, Tôi đã chỉ ra cho các bạn ba sự mặc khải trong số này. Nếu các bạn còn nhớ, đó là:
392. For the sake of continuity, DK always presents the “Points of Revelation” the Hints and the Formulas cumulatively. It is easy to forget what they are if we do not study them closely and use them frequently.
392. Để bảo đảm tính liên tục, Chân sư DK luôn trình bày các “Điểm Mặc Khải”, các Gợi Ý và các Công Thức theo cách tích lũy. Chúng ta dễ quên chúng là gì nếu không nghiên cứu kỹ và sử dụng thường xuyên.
1. Energy follows thought and the eye directs that energy. This has been an occult platitude ever since the days of H.P.B., during whose time it was decided that this was the first of the points of revelation which couldsafely be given to the general public.
1. Năng lượng đi theo tư tưởng và con mắt hướng dẫn năng lượng ấy. Đây đã là một điều quen thuộc trong huyền bí học kể từ thời H.P.B.; vào thời Bà, người ta quyết định rằng đây là điểm đầu tiên trong các điểm mặc khải có thể được truyền cho công chúng một cách an toàn.
393. There is power in this point of revelation, as it teaches the disciple how he may direct energy through the power of thought. If thought is focussed in any particular direction, energy will follow that thought towards the point to which the thought is directed. Every thought, therefore, represents a process of energy direction or energy transference. One cannot think without ‘moving’ energy.
393. Điểm mặc khải này chứa đựng quyền năng, vì nó dạy đệ tử cách định hướng năng lượng bằng quyền năng của tư tưởng. Nếu tư tưởng tập trung theo một hướng cụ thể, năng lượng sẽ đi theo tư tưởng ấy đến điểm mà tư tưởng hướng tới. Do đó, mỗi tư tưởng đều biểu thị một tiến trình định hướng hoặc chuyển dịch năng lượng. Người ta không thể suy nghĩ mà không ‘di chuyển’ năng lượng.
The assertion of this revealed fact was an essential piece of knowledge in the world, prior to the externalisation of the Ashrams—or, my brother, of the Hierarchy.
Việc khẳng định sự thật đã được mặc khải này là một phần tri thức thiết yếu trong thế giới trước sự ngoại hiện của các ashram—hay, huynh đệ của tôi, của Thánh đoàn.
394. Why should this be the case? Perhaps, because this planned Externalization requires a great building process within the realm of thought. Disciples had to be taught responsibility for their thoughts and the need to direct those thoughts in line with the objectives of the Divine Plan.
394. Vì sao lại như vậy? Có lẽ vì sự Ngoại Hiện đã được hoạch định này đòi hỏi một tiến trình kiến tạo lớn trong lĩnh vực tư tưởng. Các đệ tử phải được dạy về trách nhiệm đối với tư tưởng của mình và sự cần thiết phải định hướng những tư tưởng ấy phù hợp với các mục tiêu của Thiên Cơ.
395. The Externalization itself takes place through a directed program of thought initiated and engineered from the inner planes.
395. Chính sự Ngoại Hiện diễn ra thông qua một chương trình tư tưởng có định hướng, được khởi xướng và tổ chức từ các cõi bên trong.
396. The Externalization is, in effect, a kind of thought precipitation. Via rightly directed thought, habitations are built for the divine energies which must descend by means of the Externalization processes.
396. Trên thực tế, sự Ngoại Hiện là một dạng ngưng tụ tư tưởng. Thông qua tư tưởng được định hướng đúng đắn, những nơi cư ngụ được kiến tạo cho các năng lượng thiêng liêng phải giáng xuống nhờ các tiến trình Ngoại Hiện.
The thought that all is energy has already been accepted by modern science, and the concept of vision (the first step towards understanding the use of the spiritual eye) is already part of the teaching of modern philosophy and of many of the metaphysical schools.
Khoa học hiện đại đã chấp nhận tư tưởng rằng tất cả đều là năng lượng, và khái niệm về tầm nhìn (bước đầu tiên để thấu hiểu cách sử dụng con mắt tinh thần) đã là một phần trong giáo huấn của triết học hiện đại và nhiều trường phái siêu hình học.
397. The role of the eye or of the perceiver is deeply significant in the quantum mechanical approach to the new physics. The observer is known to affect that which he observes.
397. Vai trò của con mắt hay của người tri giác mang thâm nghĩa sâu xa trong cách tiếp cận vật lý học mới của cơ học lượng tử. Người ta biết rằng người quan sát tác động đến điều mình quan sát.
398. The eye is considered as a director. In this thought, the fifth and first rays are linked.
398. Con mắt được xem là một tác nhân định hướng. Trong tư tưởng này, cung năm và cung một liên kết với nhau.
399. The eye which directs is not only the conventional outer eye(s) but the inner eye of imagination and eventually the “spiritual eye”.
399. Con mắt định hướng không chỉ là con mắt hay đôi mắt bên ngoài thông thường, mà còn là con mắt bên trong của sự tưởng tượng và cuối cùng là “con mắt tinh thần”.
400. The activation of certain triangles of energy precedes the various initiations. In preparation for various initiations, energy can be directed (through thought) to the triangles requiring vivification. This can be accomplished if the disciple is under the supervision of a Master or reliable teacher, or actually knows what he is doing.
400. Sự kích hoạt một số tam giác năng lượng diễn ra trước các cuộc điểm đạo khác nhau. Để chuẩn bị cho những cuộc điểm đạo ấy, người ta có thể định hướng năng lượng (qua tư tưởng) đến các tam giác cần được tiếp sinh lực. Điều này có thể thực hiện nếu đệ tử ở dưới sự giám sát của một Chân sư hay một huấn sư đáng tin cậy, hoặc thực sự biết mình đang làm gì.
401. One wonders about the application of the Rod of Initiation in relation to the First Point of Revelation: “Energy follows thought and the eye directs the energy”.
401. Người ta tự hỏi về việc sử dụng Thần Trượng Điểm đạo trong mối liên hệ với Điểm Mặc Khải Thứ Nhất: “Năng lượng đi theo tư tưởng và con mắt định hướng năng lượng”.
2. The Will is fundamentally an expression of the Law of Sacrifice. Paradoxically we found that when the spiritual will was—even in a small measure—expressing itself, there was no such thing as sacrifice.
2. Về căn bản, Ý Chí là một biểu hiện của Định luật Hi Sinh. Nghịch lý thay, chúng ta đã thấy rằng khi ý chí tinh thần biểu lộ—dù chỉ ở một mức độ nhỏ—thì không còn điều gì gọi là hi sinh.
402. At least, the perception of sacrifice as an inevitable source of pain vanished.
402. Ít nhất, quan niệm cho rằng hi sinh là một nguồn đau khổ tất yếu đã biến mất.
403. Rather, there is the joyous experience of “taking over” on behalf of a greater purpose.
403. Thay vào đó là trải nghiệm hoan hỉ khi “đảm nhận” vì một mục đích lớn hơn.
Incidentally, we considered the great exponents and the great field of sacrifice, considering the great Life in which we all, as well as all other forms, live and move and have our being.
Nhân đó, chúng ta đã xem xét những bậc tiêu biểu vĩ đại và lĩnh vực hi sinh rộng lớn, khi suy xét Sự Sống Vĩ Đại mà trong đó tất cả chúng ta, cũng như mọi hình tướng khác, sống, vận động và hiện hữu.
[310]
[310]
404. We bear in mind that the Logos of our Planetary Scheme (in His expression as Sanat Kumara) is called the “Great Sacrifice”.
404. Chúng ta ghi nhớ rằng Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta (trong biểu hiện của Ngài là Sanat Kumara) được gọi là “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại”.
405. Every great server of the race is a great exponent of sacrifice.
405. Mỗi người phụng sự vĩ đại của nhân loại đều là một tấm gương lớn về sự hi sinh.
406. We realize that if one is to understand and express the Will, its expression will entail sacrifice and will be expressed in accordance with the Law of Sacrifice.
406. Chúng ta nhận ra rằng nếu muốn thấu hiểu và biểu hiện Ý Chí, thì sự biểu hiện ấy sẽ đòi hỏi hi sinh và sẽ diễn ra phù hợp với Định luật Hi Sinh.
407. In the human being, the will petals of the egoic lotus (those stimulated by atma) are called, also, “sacrifice petals”. The connection between will and sacrifice is inherent in our natures
407. Ở con người, các cánh hoa ý chí của Hoa Sen Chân Ngã (những cánh hoa do atma kích thích) còn được gọi là “cánh hoa hi sinh”. Mối liên hệ giữa ý chí và hi sinh vốn có trong bản chất của chúng ta
I would like here to quote something I said to you in connection with this subject: "These few thoughts upon the significance of sacrifice, or upon the `taking over,' through identification, of the task of salvage, of revitalising and of presenting opportunity, are important to all disciples, as a goal and as a vision." (Page 288.)
Ở đây, Tôi muốn trích một điều đã nói với các bạn liên quan đến chủ đề này: “Một vài suy nghĩ này về thâm nghĩa của sự hi sinh, hay về việc ‘đảm nhận’, thông qua sự đồng hoá, nhiệm vụ cứu vớt, tiếp sinh lực trở lại và đem đến cơ hội, đều quan trọng đối với mọi đệ tử, như một mục tiêu và một tầm nhìn.” (Trang 288.)
408. We are reminded that the “taking over” (which is equivalent to sacrifice) is done through identification.
408. Chúng ta được nhắc rằng việc “đảm nhận” (tương đương với hi sinh) được thực hiện thông qua sự đồng hóa.