← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

Commentary 46 – Bình giảng 46

Trích nội dung chương

409. When there is identification with a ‘field in need’, there results a “taking over” which is to lead to: 411. The manner in which we must serve any unit or group in need is immediately revealed through identification. Thus the motive is supplied for the inevitable sacrifice. The deeper the power to identify, the greater the inclination to sacrifice, to “take over” the task of salvage, of revitalization and of presenting opportunity.


409. When there is identification with a ‘field in need’, there results a “taking over” which is to lead to:

409. Khi có sự đồng hóa với một ‘lĩnh vực đang cần trợ giúp’, sẽ xuất hiện sự “đảm nhận”, dẫn đến:

a. Engagement in the task of salvage

a. Tham gia vào nhiệm vụ cứu vớt

b. Engagement in the task of revitalization

b. Tham gia vào nhiệm vụ tái tiếp sinh lực

c. Engagement in the process of presenting opportunity

c. Tham gia vào tiến trình đem lại cơ hội

410. Our sacrificial task as disciples involves these three types of engagement.

410. Nhiệm vụ hi sinh của chúng ta với tư cách đệ tử bao gồm ba hình thức tham gia này.

411. The manner in which we must serve any unit or group in need is immediately revealed through identification. Thus the motive is supplied for the inevitable sacrifice. The deeper the power to identify, the greater the inclination to sacrifice, to “take over” the task of salvage, of revitalization and of presenting opportunity.

411. Cách chúng ta phải phụng sự bất kỳ đơn vị hay nhóm nào đang cần trợ giúp sẽ lập tức hiển lộ thông qua sự đồng hóa. Như vậy, động cơ cho sự hi sinh tất yếu được cung cấp. Khả năng đồng hóa càng sâu sắc, khuynh hướng hi sinh càng lớn, khuynh hướng “đảm nhận” nhiệm vụ cứu vớt, tái tiếp sinh lực và đem lại cơ hội càng mạnh.

3. The Monad is to the planetary Logos what the third eye is to man, esoterically understood. This is a most abstruse statement for all of you and will require much concentrated reflection and serene meditation.

3. Theo nghĩa huyền bí, Chân thần có vai trò đối với Hành Tinh Thượng đế như con mắt thứ ba đối với con người. Đây là một lời phát biểu hết sức thâm áo đối với tất cả các bạn, đòi hỏi nhiều suy tư tập trung và tham thiền tĩnh lặng.

412. We are being told that revelation cannot be forced from this statement by an impatient demand.

412. Chúng ta đang được cho biết rằng không thể dùng một đòi hỏi thiếu kiên nhẫn để cưỡng ép sự mặc khải xuất hiện từ phát biểu này.

413. Serene meditation may reveal to the concentrated consciousness that the Monad is an “Eye”—an aperture through which the Planetary Logos is able both to see and to direct.

413. Tham thiền trong tĩnh lặng có thể mặc khải cho tâm thức tập trung rằng Chân thần là một “Con Mắt”—một cửa mở mà qua đó Hành Tinh Thượng đế có thể vừa thấy vừa định hướng.

414. If we think of the potentialities of man’s “third eye”, we may analogize to the functions of the Monad in relation to the Planetary Logos.

414. Nếu nghĩ về những tiềm năng của “con mắt thứ ba” ở con người, chúng ta có thể suy ra bằng phép tương đồng những chức năng của Chân thần trong mối liên hệ với Hành Tinh Thượng đế.

415. From this perspective, the entire Pilgrimage of the Monad through the lower worlds may be conceived as an ‘act of vision’ and the sutratma may be conceived as the ‘eye beam’.

415. Từ góc nhìn này, toàn bộ Cuộc Hành Hương của Chân thần qua các cõi thấp có thể được quan niệm là một ‘hành vi thấy biết’, và sutratma có thể được quan niệm là ‘tia sáng từ con mắt’.

416. Who is “man, esoterically understood”? When the term “esoteric” is used, it can point to the monadic level. Are we, in fact, saying that the Monad is to the Planetary Logos as the “third eye” is to man considered esoterically as the Monad? If this were so, man-the Monad would ‘see’ through the third eye as the Planetary Logos sees through the Monad. Obviously, we must ponder deeply on this and all potentially illuminating interpretations related to this Third Point of Revelation.

416. “Con người, hiểu theo nghĩa huyền bí” là ai? Khi thuật ngữ “nội môn” được sử dụng, nó có thể chỉ cấp độ chân thần. Thực ra, có phải chúng ta đang nói rằng Chân thần đối với Hành Tinh Thượng đế cũng như “con mắt thứ ba” đối với con người được xem xét theo nghĩa huyền bí là Chân thần? Nếu đúng như vậy, con người—Chân thần sẽ ‘thấy’ qua con mắt thứ ba cũng như Hành Tinh Thượng đế thấy qua Chân thần. Hiển nhiên, chúng ta phải suy ngẫm sâu sắc về điều này và mọi cách diễn giải có khả năng soi sáng liên quan đến Điểm Mặc Khải Thứ Ba này.

The vision of the solar Logos and of the planetary Logos is closely related to intention and purpose, and is the cause of the Plan. It is, however, beyond and different to the Plan. I leave this thought for your consideration and meditation, but can assure you that you will come to no easy or early comprehension.

Tầm nhìn của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế liên hệ mật thiết với ý định và mục đích, và là nguyên nhân của Thiên Cơ. Tuy nhiên, tầm nhìn ấy vượt ngoài và khác với Thiên Cơ. Tôi để lại tư tưởng này cho các bạn suy xét và tham thiền, nhưng có thể bảo đảm rằng các bạn sẽ không dễ dàng hay sớm lĩnh hội được.

417. The depth of what is being presented is quite extraordinary. In the attempt to throw light upon these statements, patient, reflective brooding may evoke the intuition.

417. Chiều sâu của những điều đang được trình bày thật phi thường. Trong nỗ lực làm sáng tỏ những phát biểu này, sự suy tư kiên nhẫn và sâu lắng có thể khơi dậy trực giác.

418. May we say that the Planetary Logos ( or Solar Logos) holds a vision which embodies His intention and purpose? He sees that which He intends shall be or shall manifest. His “Fixed Design” is seen.

418. Chúng ta có thể nói rằng Hành Tinh Thượng đế ( hoặc Thái dương Thượng đế) nắm giữ một tầm nhìn thể hiện ý định và mục đích của Ngài chăng? Ngài thấy điều mà Ngài định cho sẽ hiện hữu hoặc biểu hiện. Ngài thấy “Thiết Kế Cố Định” của mình.

419. That which He perceives as inevitable is registered by the agents of the Plan (the members of the Hierarchy) Who then attempt to fulfill through Their plans that which the Planetary Logos envisions.

419. Các tác nhân của Thiên Cơ (các thành viên của Thánh đoàn) ghi nhận điều Ngài nhận biết là tất yếu, rồi Các Ngài cố gắng thực hiện điều Hành Tinh Thượng đế hình dung thông qua các kế hoạch của mình.

420. The power of the Planetary Logos’ sustained vision impels the Plan, but His vision is more closely related to Purpose than to the resultant activity of the Plan.

420. Quyền năng của tầm nhìn mà Hành Tinh Thượng đế duy trì thúc đẩy Thiên Cơ, nhưng tầm nhìn của Ngài liên hệ mật thiết với Thiên Ý hơn là với hoạt động phát sinh từ Thiên Cơ.

Later on, as the years slip away and as students come and go, a clearer grasp of the techniques of comprehension—these emerging Points of Revelation—will form themes for prolonged meditation and doors of entrance to the new occultism.

Về sau, khi năm tháng trôi qua và các đạo sinh đến rồi đi, việc nắm bắt rõ hơn những kỹ thuật lĩnh hội—những Điểm Mặc Khải đang xuất hiện này—sẽ tạo thành các chủ đề cho sự tham thiền lâu dài và những cánh cửa đi vào huyền bí học mới.

421. DK is seeking far into the future to a time when occultism can become an established world view of proven value.

421. Chân sư DK đang hướng tầm nhìn xa vào tương lai, đến một thời kỳ khi huyền bí học có thể trở thành một thế giới quan vững chắc với giá trị đã được chứng minh.

422. He speaks like an ‘Old Teacher’ (for instance a college professor) who has seen many students come and go—into His Lamasery and out?

422. Ngài nói như một ‘Huấn Sư Lâu Năm’ (chẳng hạn một giáo sư đại học), người đã thấy nhiều đạo sinh đến rồi đi—vào rồi ra khỏi tu viện của Ngài chăng?

423. We are not yet engaged in the “new occultism”. In fact as we ponder the formulas and “points of revelation” presented, we may begin to appreciate the great ‘distance’ between our present approach to occultism and the “new occultism” of which DK speaks.

423. Chúng ta vẫn chưa thực hành “huyền bí học mới”. Thực ra, khi suy ngẫm về các công thức và những “điểm mặc khải” được trình bày, chúng ta có thể bắt đầu nhận thức được ‘khoảng cách’ lớn lao giữa cách chúng ta hiện đang tiếp cận huyền bí học và “huyền bí học mới” mà Chân sư DK nói đến.

424. The points of revelation are not to be grasped through any superficial approach to meditation. Even later in the development of human spirituality, these points will form themes for prolonged meditation.

424. Không thể nắm bắt các điểm mặc khải bằng bất kỳ cách tiếp cận hời hợt nào đối với tham thiền. Ngay cả về sau trong sự phát triển tinh thần của nhân loại, những điểm này vẫn sẽ tạo thành các chủ đề để tham thiền lâu dài.

425. We are to remember that these points of revelation can be understood as “techniques of comprehension”. Through their use, emerging revelations can be better comprehended.

425. Chúng ta cần nhớ rằng có thể hiểu các điểm mặc khải này là những “kỹ thuật thấu hiểu”. Nhờ sử dụng chúng, chúng ta có thể thấu hiểu rõ hơn những mặc khải đang xuất hiện.

426. We note as well that the Points of Revelation are “emerging”—they are not yet emergent nor receiving the type of intelligent attention they one day will.

426. Chúng ta cũng lưu ý rằng các Điểm Mặc Khải “đang xuất hiện”—chúng chưa xuất hiện trọn vẹn, cũng chưa nhận được sự chú tâm sáng suốt mà một ngày kia chúng sẽ nhận được.

The foundations for this new occultism are well and soundly laid; the superstructure can be erected now, slowly and with due care, in conformity with the divine blueprints and in response to a sensitive reaction to spiritual impression.

Nền móng cho huyền bí học mới này đã được đặt vững chắc; giờ đây có thể xây dựng phần kiến trúc bên trên, chậm rãi và cẩn trọng đúng mức, phù hợp với các bản thiết kế thiêng liêng và đáp ứng một cách nhạy cảm với ấn tượng tinh thần.

427. Would we be correct in thinking that one of Master DK’s principle tasks is to lay “the foundations for this new occultism”? There is reason to believe so.

427. Liệu chúng ta có đúng khi nghĩ rằng một trong những nhiệm vụ chính của Chân sư DK là đặt “nền móng cho huyền bí học mới này”? Có lý do để tin như vậy.

428. Probably many of the foundational elements are not yet even detected (even by earnest students) but lie embedded in the Teaching.

428. Có lẽ nhiều yếu tố nền tảng thậm chí vẫn chưa được phát hiện (ngay cả các đạo sinh nhiệt thành cũng chưa nhận ra), mà vẫn nằm ẩn trong Giáo Huấn.

429. We note DK’s call for a slow and careful second ray method of building.

429. Chúng ta lưu ý lời kêu gọi của Chân sư DK về một phương pháp xây dựng chậm rãi và cẩn trọng của cung hai.

430. Via the antahkarana the “divine blueprints” can be somewhat apprehended and spiritual impression accessed.

430. Thông qua antahkarana, chúng ta có thể phần nào lĩnh hội các “bản thiết kế thiêng liêng” và tiếp cận ấn tượng tinh thần.

431. DK is not telling us how to build the superstructure. There will be guidance (of course) but, as well, the need for much spiritual Self-reliance as we slowly begin to register (through our increasing sensitivity) the finer aspects of the Divine Plan.

431. Chân sư DK không nói cho chúng ta biết cách xây dựng phần kiến trúc bên trên. Tất nhiên sẽ có sự hướng dẫn, nhưng cũng cần rất nhiều sự tự lực về tinh thần khi chúng ta chậm rãi bắt đầu ghi nhận (qua sự nhạy bén ngày càng tăng của mình) những phương diện tinh tế hơn của Thiên Cơ.

I have also told you that, in connection with these Points of Revelation, there are three stages of activity which, when properly carried forward, will make that which is revealed of service to the disciple in his contribution to the salvaging of humanity. These three are Penetration, Polarisation and Precipitation. Let us now consider these three for a short reflective period.

Tôi cũng đã nói với các bạn rằng liên quan đến những Điểm Mặc Khải này, có ba giai đoạn hoạt động mà khi được thực hiện đúng đắn sẽ khiến điều được mặc khải trở nên hữu ích cho đệ tử trong sự đóng góp của y vào việc cứu vớt nhân loại. Ba giai đoạn ấy là Thâm Nhập, Phân Cực và Ngưng Tụ. Giờ đây, chúng ta hãy dành một khoảng thời gian ngắn để suy ngẫm về ba giai đoạn này.

432. The formula “Penetration, Polarisation and Precipitation” is intimately associated with rendering the points of revelation effective in service and salvage.

432. Công thức “Thâm Nhập, Phân Cực và Ngưng Tụ” liên hệ mật thiết với việc khiến các điểm mặc khải phát huy hiệu quả trong phụng sự và cứu vớt.

433. The phrase “short reflective period” seems to point, precisely, to the kind of activity in which Penetration, Polarisation and Precipitation are employed.

433. Cụm từ “khoảng suy tư ngắn” dường như chỉ chính xác loại hoạt động trong đó Thâm Nhập, Phân Cực và Ngưng Tụ được vận dụng.

You should realise that all phases of training—those that are associated with life itself and that specialised training which is given to initiates—are interlocking and interdependent.

Các bạn nên nhận ra rằng mọi giai đoạn huấn luyện—những giai đoạn gắn liền với chính đời sống và việc huấn luyện chuyên biệt dành cho các điểm đạo đồ—đều đan xen và phụ thuộc lẫn nhau.

434. Normal life processes represent an indispensable phase of discipleship training. We must not avoid the training offered through such processes, thinking that specialized training in occultism is all that is required of us.

434. Các tiến trình bình thường của cuộc sống là một giai đoạn không thể thiếu trong việc huấn luyện đệ tử. Chúng ta không được né tránh sự huấn luyện mà những tiến trình ấy mang lại, vì nghĩ rằng chúng ta chỉ cần sự huấn luyện chuyên biệt về huyền bí học.

It is training, brother of mine, not strictly education.

Huynh đệ của tôi, đó là huấn luyện, chứ không hẳn là giáo dục.

435. Training demands application and offers structured experience which habituates the trainee to application. On the other hand, a person may receive an extensive education and not apply it.

435. Huấn luyện đòi hỏi sự vận dụng và mang lại những trải nghiệm có cấu trúc, giúp người được huấn luyện hình thành thói quen vận dụng. Mặt khác, một người có thể tiếp nhận nền giáo dục sâu rộng mà không vận dụng nó.

Educational processes, concerning knowledge as they do, may be specialised, and teaching can be taken in such isolated fields as conchology, biology or history.

Các tiến trình giáo dục, vì liên quan đến tri thức, có thể mang tính chuyên môn, và việc giảng dạy có thể diễn ra trong những lĩnh vực riêng biệt như nhuyễn thể học, sinh học hay lịch sử.

436. DK is speaking of isolated studies which may or may not be related to each other or applied to the process of living.

436. Chân sư DK đang nói đến những ngành nghiên cứu riêng biệt, có thể có hoặc không liên hệ với nhau, hay được vận dụng vào tiến trình sống.

437. When considering esoteric training DK is clearly indicating a synthetic approach.

437. Khi xem xét sự huấn luyện nội môn, Chân sư DK rõ ràng đang chỉ ra một cách tiếp cận tổng hợp.

But in initiate [311] training, where the objective is wisdom and (above all else) the development of spiritual sensitivity, every phase of approach to the divine unfoldment, and all expansions of consciousness, develop so that divinity is embraced, and every unfoldment of the understanding reveals to the initiate one major Reality—the fact of Being.

Nhưng trong việc huấn luyện [311] điểm đạo đồ, nơi mục tiêu là minh triết và (trên hết) sự phát triển tính nhạy cảm tinh thần, mỗi giai đoạn tiếp cận sự khai mở thiêng liêng và mọi sự mở rộng tâm thức đều phát triển để bao quát thiên tính, và mỗi sự khai mở của khả năng thấu hiểu đều mặc khải cho điểm đạo đồ một Thực Tại trọng yếu—sự thật về Bản Thể.

438. “Initiate training” is something far more intensive and thorough-going than normal educational processes. Let us tabulate some of the objectives:

438. “Huấn luyện điểm đạo đồ” là điều chuyên sâu và toàn diện hơn rất nhiều so với các tiến trình giáo dục thông thường. Chúng ta hãy liệt kê một số mục tiêu:

a. Wisdom

a. Minh triết

b. Spiritual sensitivity

b. Tính nhạy cảm tinh thần

c. Divine unfoldment

c. Sự khai mở thiêng liêng

d. Expansion of consciousness

d. Sự mở rộng tâm thức

e. The embrace of divinity

e. Sự bao hàm thiên tính

f. The revelation of the “One major Reality—the fact of Being”

f. Sự mặc khải về “Một Thực Tại trọng yếu—sự thật về Bản Thể”

439. The factors of integration, wisdom, synthesis, and realized Reality and Being are integral to “initiate training”. No process of normal, daily living is excluded even though specialized occult training is required. The initiate is not divorced from the processes in which all human beings must participate. Thus the “sanctified normality” of the initiate’s life.

439. Các yếu tố tích hợp, minh triết, tổng hợp, cùng Thực Tại và Bản Thể đã được chứng nghiệm, là những thành phần thiết yếu của “sự huấn luyện điểm đạo đồ”. Không một tiến trình nào của cuộc sống bình thường hằng ngày bị loại trừ, dù sự huấn luyện huyền bí chuyên biệt quả thực là cần thiết. Điểm đạo đồ không tách rời những tiến trình mà mọi con người đều phải tham gia. Do đó mới có “tính bình thường được thánh hóa” trong cuộc sống của điểm đạo đồ.

Therefore, this consideration of our Points of Revelation is closely related to another of our themes: Training in Telepathy or the Science of Impression. Certain aspects of these two activities are the same, particularly the three points which we are considering here.

Do đó, việc xem xét Các Điểm Mặc Khải của chúng ta liên hệ mật thiết với một chủ đề khác: Huấn Luyện Viễn Cảm hay Khoa Học Ấn Tượng. Một số phương diện của hai hoạt động này là như nhau, đặc biệt là ba điểm chúng ta đang xem xét ở đây.

440. DK is relating two themes: Points of Revelation and Training in Telepathy or the Science of Impression.

440. Chân sư DK đang liên hệ hai chủ đề: các Điểm Mặc Khải và Huấn Luyện Viễn Cảm hay Khoa Học Ấn Tượng.

441. The three points here considered are “Penetration, Polarisation and Precipitation”.

441. Ba điểm được xem xét ở đây là “Thâm Nhập, Phân Cực và Ngưng Tụ”.

442. As well, the first three points of revelation can be considered closely related to the telepathic training.

442. Ngoài ra, có thể xem ba điểm mặc khải đầu tiên là có liên hệ mật thiết với sự huấn luyện viễn cảm.

a. The directing of thought is clearly part of the telepathic process

a. Việc định hướng tư tưởng rõ ràng là một phần của tiến trình viễn cảm

b. Those who truly carry out the Will of God are those who can telepathically receive knowledge of the Divine Plan because they live sacrificially. Right sacrifice is the guarantee of telepathic reception of the Divine Plan and of the strengthening of one’s spiritual will so that one may execute one’s portion of the Plan.

b. Những người thực sự thực hiện Ý Chí của Thượng Đế là những người có thể tiếp nhận tri thức về Thiên Cơ qua viễn cảm vì họ sống một đời hi sinh. Sự hi sinh đúng đắn bảo đảm việc tiếp nhận Thiên Cơ qua viễn cảm và củng cố ý chí tinh thần của mỗi người để họ có thể thực hiện phần việc của mình trong Thiên Cơ.

c. Through telepathy one may eventually ‘see’ that which the Planetary Logos ‘sees’ through the Monad.

c. Thông qua viễn cảm, cuối cùng người ta có thể ‘thấy’ điều mà Hành Tinh Thượng đế ‘thấy’ qua Chân thần.

The difficulty consists in this, that in relation to the Points of Revelation the initiate is presumed to work from a more advanced standpoint of comprehension than does the man who is taking the training which makes him sensitive to Impression.

Khó khăn nằm ở chỗ, trong mối liên hệ với Các Điểm Mặc Khải, điểm đạo đồ được xem là làm việc từ một lập trường lĩnh hội tiến bộ hơn người đang trải qua việc huấn luyện để trở nên nhạy cảm với Ấn Tượng.

443. Here is the important distinction which separates the initiate who works with the Points of Revelation from the disciple who is learning to be sensitive to telepathic impression.

443. Đây là sự khác biệt quan trọng giữa điểm đạo đồ làm việc với các Điểm Mặc Khải và người đệ tử đang học cách trở nên nhạy cảm với ấn tượng viễn cảm.

He knows the technique of Penetration, comprehends the process of Polarisation at the point penetrated, and—after due acceptance—understands how to utilise it and precipitate it into the human field of service;

Y biết kỹ thuật Thâm Nhập, lĩnh hội tiến trình Phân Cực tại điểm đã thâm nhập, và—sau khi tiếp nhận đúng mức—thấu hiểu cách sử dụng nó và làm cho nó ngưng tụ vào lĩnh vực phụng sự nhân loại;

444. This is definitely the work of the initiate. The worker attempting to become telepathic may just be learning the “technique of Penetration” of which the initiate is assured.

444. Đây chắc chắn là công việc của điểm đạo đồ. Người hoạt động đang cố gắng phát triển khả năng viễn cảm có thể chỉ mới học “kỹ thuật Thâm Nhập” mà điểm đạo đồ đã nắm vững.

he consciously employs that which he has learnt, grasped and appropriated. It matters not, in this case, what word you use.

y sử dụng một cách có ý thức những gì đã học, nắm bắt và tiếp thu thành của mình. Trong trường hợp này, các bạn dùng từ nào cũng không quan trọng.

445. The initiate is both skillful and effective. He has far surpassed the phase of simply trying to become sensitive to telepathic impression.

445. Điểm đạo đồ vừa thành thạo vừa hiệu quả. Y đã vượt xa giai đoạn chỉ cố gắng trở nên nhạy cảm với ấn tượng viễn cảm.

It should therefore be borne in mind that in this connection we are considering the point of experience where light pours in, bringing revelation, conveying information, evoking the intuition and drawing into the waiting consciousness of the initiate those spiritual laws, those rules of the creative process, those ray conditions and those new energies and forces for which the humanity of any particular period waits, and which are fundamentally needed if the race of men is to move forward into greater spiritual culture and out of the relative darkness in which it at present moves.

Do đó, cần ghi nhớ rằng trong mối liên hệ này, chúng ta đang xem xét điểm kinh nghiệm nơi ánh sáng tuôn vào, đem đến sự mặc khải, truyền đạt thông tin, gợi lên trực giác và thu hút vào tâm thức đang chờ đợi của điểm đạo đồ những định luật tinh thần, những quy luật của tiến trình sáng tạo, những điều kiện của các cung cùng những năng lượng và mãnh lực mới mà nhân loại ở bất kỳ thời kỳ cụ thể nào đang chờ đợi, và vốn là những điều cần thiết về căn bản nếu nhân loại muốn tiến tới một nền văn hoá tinh thần cao hơn và thoát khỏi bóng tối tương đối mà hiện nay họ đang vận động trong đó.

446. Here is a monumental, synthetic sentence.

446. Đây là một câu văn đồ sộ, mang tính tổng hợp.

447. Let us tabulate the major factors in the experience of the initiate who has learned to work with the processes of Penetration, Polarization and Precipitation which are integral to the use of the Points of Revelation:

447. Chúng ta hãy liệt kê những yếu tố chính trong trải nghiệm của điểm đạo đồ đã học cách làm việc với các tiến trình Thâm Nhập, Phân Cực và Ngưng Tụ, vốn là những thành phần thiết yếu trong việc sử dụng các Điểm Mặc Khải:

a. Light is pouring in

a. Ánh sáng đang tuôn vào

b. The incoming light brings revelation

b. Ánh sáng tuôn vào mang lại sự mặc khải

c. The incoming light conveys information

c. Ánh sáng tuôn vào truyền đạt thông tin

d. The incoming light evokes the intuition

d. Ánh sáng tuôn vào khơi dậy trực giác

e. The incoming light draws certain factors into the waiting consciousness of the initiate

e. Ánh sáng tuôn vào thu hút một số yếu tố vào tâm thức đang chờ đợi của điểm đạo đồ

i. Spiritual laws

i. Các định luật tinh thần

ii. Rules of the creative process

ii. Các quy luật của tiến trình sáng tạo

iii. Ray conditions

iii. Những điều kiện của các cung

iv. New energies and forces

iv. Những năng lượng và mãnh lực mới

f. All this is used to help move humanity from darkness to light

f. Tất cả những điều này được sử dụng để giúp đưa nhân loại từ bóng tối đến ánh sáng

What we are dealing with here, in connection with initiate training,

Điều chúng ta đang bàn đến ở đây, liên quan đến việc huấn luyện điểm đạo đồ,

448. Note the level at which this discussion is proceeding: we are speaking of initiate training, and not simply the training of the disciple.

448. Hãy lưu ý cấp độ mà cuộc thảo luận này đang diễn ra: chúng ta đang nói về sự huấn luyện điểm đạo đồ, chứ không chỉ đơn thuần là sự huấn luyện đệ tử.

is the impending realisation for which any opening cycle attests its waiting, and for the new truths and the expanded spiritual presentations which it is the destiny of the initiate to bring to the people.

là sự chứng nghiệm sắp tới mà mỗi chu kỳ mới mở ra đều chứng tỏ mình đang chờ đợi, cùng những chân lý mới và những cách trình bày mở rộng về tinh thần mà điểm đạo đồ có định mệnh mang đến cho dân chúng.

449. Here are some different ways of describing the nature of revelation:

449. Dưới đây là một số cách khác nhau để mô tả bản chất của sự mặc khải:

a. Impending realization

a. Sự chứng nghiệm sắp đến

b. New truths

b. Những chân lý mới

c. Expanded presentations

c. Những cách trình bày mở rộng

450. We are considering the revelation of that which is spiritually imminent.

450. Chúng ta đang xem xét sự mặc khải về điều sắp đến trên phương diện tinh thần.

451. We can realize, perhaps, how important this training is at the dawn of the Aquarian Age, when the imminent new truths must be precipitated and expanded in such a way that human intelligence can appreciate them.

451. Có lẽ chúng ta có thể nhận ra tầm quan trọng của sự huấn luyện này vào buổi bình minh của Kỷ Nguyên Bảo Bình, khi những chân lý mới sắp đến phải được làm ngưng tụ và mở rộng sao cho trí tuệ nhân loại có thể nhận thức được chúng.

You will note that I choose the word "destiny" in preference to the word "karma" because in this type of work the initiate is working and practising and progressing under a Law of Destiny.

Các bạn sẽ lưu ý rằng Tôi chọn từ “định mệnh” thay cho từ “nghiệp quả”, bởi trong loại công việc này, điểm đạo đồ làm việc, thực hành và tiến bộ dưới một Định luật Định Mệnh.

452. The initiate is not karmically compelled to offer revelation. Rather, it is his dharma to do so.

452. Điểm đạo đồ không chịu sự thúc ép của nghiệp quả để mang lại sự mặc khải. Đúng hơn, đó là bổn phận thiêng liêng của y.

453. What DK calls “a Law of Destiny” must be related to the Monad and its “monadic destiny”.

453. Điều Chân sư DK gọi là “một Định Luật Định Mệnh” hẳn phải liên quan đến Chân thần và “định mệnh chân thần” của nó.

This law affects the Ashram and the Hierarchy as a whole, and neither [312] is under the Law of Karma, as usually understood.

Định luật này tác động đến ashram và toàn thể Thánh đoàn, và cả hai đều [312] không chịu Định luật Nghiệp Quả theo cách hiểu thông thường.

454. Members of the Hierarchy have expiated the more usual form of karma. If They participate in the Law of Karma, it is in relation to the karma of the Planetary Logos in which They are now a Self-conscious aspect.

454. Các thành viên của Thánh đoàn đã thanh toán dạng nghiệp quả thông thường hơn. Nếu Các Ngài tham gia vào Định Luật Nghiệp Quả, thì đó là trong mối liên hệ với nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế, mà hiện nay Các Ngài là một phương diện có ngã thức trong Ngài.

This Law of Destiny has been brought into being since the foundation of the Hierarchy on Earth; it is the result of the pledged and united dedication to service which is the outstanding note of the united Ashrams.

Định luật Định Mệnh này đã hình thành từ khi Thánh đoàn được thành lập trên Trái Đất; đó là kết quả của sự tận hiến cho phụng sự trong lời nguyện cam kết và tinh thần hợp nhất, vốn là âm điệu nổi bật của các ashram hợp nhất.

455. We are dealing with an ancient law—the Law of Destiny. No doubt it is far older than the foundation of the Spiritual Hierarchy on our planet, but it was “brought into being” (i.e., into expression on our planet) at the time of this founding.

455. Chúng ta đang bàn đến một định luật cổ xưa—Định Luật Định Mệnh. Chắc chắn định luật này có từ lâu hơn rất nhiều so với sự thành lập Thánh đoàn trên hành tinh chúng ta, nhưng nó đã “ra đời” (tức là bắt đầu biểu lộ trên hành tinh chúng ta) vào thời điểm thành lập ấy.

456. The Law of Destiny is operative in all the seven Ashrams and “is the outstanding note of the united Ashrams”. This means it characterizes the Hierarchy as a whole.

456. Định Luật Định Mệnh hoạt động trong cả bảy ashram và “là âm điệu nổi bật của các ashram hợp nhất”. Điều này có nghĩa là nó là đặc trưng của toàn thể Thánh đoàn.

457. The Law of Destiny must be intimately related to the fulfillment of the Divine Purpose of the Planetary Logos.

457. Định Luật Định Mệnh hẳn phải liên hệ mật thiết với việc hoàn thành Thiên Ý của Hành Tinh Thượng đế.

It is therefore a sevenfold law, for it takes on the seven colours of the seven rays, the seven qualities, modes and methods, techniques and energy expressions of all the seven rays.

Vì vậy, đây là một định luật thất phân, bởi nó mang bảy màu sắc của bảy cung, bảy phẩm tính, các phương thức và phương pháp, các kỹ thuật và những biểu hiện năng lượng của cả bảy cung.

458. We are being told that within the Law of Destiny there is one aspect of expression for each of the seven ray Ashrams. Each aspect is naturally correlated with one of the seven rays and (in extension) with one aspect of the various septenates correlated with the seven ray septenate.

458. Chúng ta được cho biết rằng trong Định Luật Định Mệnh có một phương diện biểu hiện cho mỗi ashram trong bảy ashram của các cung. Mỗi phương diện tự nhiên tương ứng với một trong bảy cung và (mở rộng ra) với một phương diện của các bộ bảy khác nhau tương ứng với bộ bảy cung.

It is therefore, as far as humanity is concerned, free from all evil, because it is selflessly motivated and is—in a measure—a difficult law for you to comprehend.

Do đó, xét về nhân loại, định luật này hoàn toàn không có điều ác, vì động cơ của nó là vô ngã, và ở một mức độ nào đó, đây là một định luật khó để các bạn thấu hiểu.

459. Are there such things as laws which are not free from all evil (as the Law of Destiny is)?

459. Liệu có những định luật không hoàn toàn thoát khỏi điều ác (như Định Luật Định Mệnh) chăng?

460. We are given an important hint. If we would be free from evil, we must be selfless. From this perspective, it is the perception of “self” which is the cause of evil.

460. Chúng ta được trao một gợi ý quan trọng. Nếu muốn thoát khỏi điều ác, chúng ta phải vô ngã. Từ góc nhìn này, chính nhận thức về “cái tôi” là nguyên nhân của điều ác.

461. We can see how the first and fifth rays in relation to the sign Leo (all of them closely related to egoity—as an obstruction) are energy factors which can reinforce the orientation of the Black Lodge.

461. Chúng ta có thể thấy cung một và cung năm trong mối liên hệ với dấu hiệu Sư Tử (tất cả đều liên hệ mật thiết với tính vị ngã—như một chướng ngại) là những yếu tố năng lượng có thể củng cố định hướng của Hắc đoàn.

Pure destiny, devoid of all evil intent, is an enigma to the average disciple.

Định mệnh thuần khiết, không có bất kỳ ác ý nào, là một điều bí ẩn đối với người đệ tử trung bình.

462. This destiny is an expression of the Will of the One Identity which never serves the part in preference to the Whole.

462. Định mệnh này là biểu hiện của Ý Chí của Bản Sắc Duy Nhất, vốn không bao giờ ưu tiên phụng sự bộ phận hơn Toàn Thể.

463. Evil lies in an undue emphasis on partiality.

463. Điều ác nằm ở sự nhấn mạnh quá mức vào tính thiên lệch về bộ phận.

It appears to contravene other laws with which he is familiar. As the race of men achieves increasing purity in the three worlds, this pure destiny will become correspondingly effective. This is an important point upon which to reflect.

Nó dường như đi ngược lại những định luật khác mà y quen thuộc. Khi nhân loại đạt đến sự thanh khiết ngày càng cao trong ba cõi giới, định mệnh thuần khiết này sẽ trở nên hữu hiệu tương ứng. Đây là một điểm quan trọng cần suy ngẫm.

464. The other laws are based upon man as an identity lesser than the Monad.

464. Những định luật khác dựa trên con người như một bản sắc thấp hơn Chân thần.

465. One is reminded of the description of the sixth and seventh degree Initiates—the Initiate who have consciously become the Monad:

465. Điều này gợi nhớ đến sự mô tả về các Điểm Đạo Đồ bậc sáu và bậc bảy—những Điểm Đạo Đồ đã trở thành Chân thần một cách có ý thức:

The remaining two initiations concern only those who are willing to meet certain unusual requirements and to produce that special effort which entitles them to the appellation,"Victors, through the clear pure will." (R&I 208)

Hai cuộc điểm đạo còn lại chỉ liên quan đến những ai sẵn lòng đáp ứng một số yêu cầu khác thường và thực hiện nỗ lực đặc biệt ấy, nhờ đó xứng đáng với danh xưng“Những Người Chiến Thắng, nhờ ý chí trong sáng, thuần khiết.” (R&I 208)

466. “Pure destiny” is “monadic destiny”. Within the human being, only the Monad (the essential Fire) is truly pure.

466. “Định mệnh thuần khiết” là “định mệnh chân thần”. Trong con người, chỉ Chân thần (Lửa bản thể) mới thực sự thuần khiết.

467. We may consider together the Monad, the Founding of Shamballa, the Hierarchy as the Ashram of Sanat Kumara, and the “Law of Destiny”.

467. Chúng ta có thể cùng xem xét Chân thần, sự Thành Lập Shamballa, Thánh đoàn như ashram của Sanat Kumara, và “Định Luật Định Mệnh”.

This penetration makes an event in the life of the initiate.

Sự thâm nhập này tạo nên một sự kiện trong cuộc đời điểm đạo đồ.

468. Penetration means new exposure and new impact—in short, “an event”.

468. Thâm nhập có nghĩa là sự tiếp xúc mới và tác động mới—nói ngắn gọn, “một biến cố”.

It is indicative of success and of contact and presents the opening up of a new opportunity.

Nó biểu thị sự thành công và sự tiếp xúc, đồng thời mở ra một cơ hội mới.

469. Opportunity depends upon new contacts with a new range of vibrations.

469. Cơ hội phụ thuộc vào những tiếp xúc mới với một dải rung động mới.

The two succeeding words indicate effects of this penetration; they are then inevitable and cannot be arrested.

Hai từ tiếp theo chỉ những hiệu quả của sự thâm nhập này; khi ấy, chúng là điều tất yếu và không thể ngăn lại.

470. Penetration is the aspect of the process which is related to the first ray. We may relate Polarization to the second ray and Precipitation to the third.

470. Thâm Nhập là phương diện của tiến trình liên quan đến cung một. Chúng ta có thể liên hệ Phân Cực với cung hai và Ngưng Tụ với cung ba.

By that you may infer that once the initiate has penetrated to the point where revelation becomes possible he automatically attains the needed fixation, concentration, poise, polarisation and focus which will enable him to translate what has been revealed to him in terms and symbols which will convey significance to the intelligentsia with whom all initiates principally work.

Từ đó, các bạn có thể suy ra rằng một khi điểm đạo đồ đã thâm nhập đến điểm mà sự mặc khải trở nên khả hữu, y tự động đạt được sự định trụ, tập trung, quân bình, phân cực và quy tụ cần thiết, giúp y diễn đạt điều đã được mặc khải cho mình bằng những thuật ngữ và biểu tượng có thể truyền đạt thâm nghĩa đến giới trí thức, những người mà mọi điểm đạo đồ chủ yếu làm việc cùng.

471. The foundational part of the process, then, is one of penetration.

471. Vậy phần nền tảng của tiến trình là sự thâm nhập.

472. Polarization is the “needed fixation” and it is automatically attained once penetration has been achieved.

472. Phân Cực là “sự ổn định cần thiết”, và tự động đạt được một khi đã thực hiện sự thâm nhập.

473. The following words, indicative of Polarization, are equivalent:

473. Những từ sau đây, biểu thị Phân Cực, có ý nghĩa tương đương:

a. Fixation

a. Sự ổn định

b. Concentration

b. Sự tập trung

c. Poise

c. Sự thăng bằng

d. Polarisation

d. Sự phân cực

e. Focus

e. Sự quy tụ

474. The initiate does not move from the vibratory ‘area’ into which he has penetrated.

474. Điểm đạo đồ không rời khỏi ‘vùng’ rung động mà y đã thâm nhập.

475. The act of precipitation is, in this context, one of “translation” of the revelation into terms and symbols suitable for the illumination of the intelligentsia. As a result of his Penetration and Polarization, useful terms and symbols precipitate into his waiting consciousness and mind.

475. Trong ngữ cảnh này, hành động ngưng tụ là việc “chuyển dịch” sự mặc khải thành những thuật ngữ và biểu tượng thích hợp để soi sáng giới trí thức. Nhờ sự Thâm Nhập và Phân Cực của y, những thuật ngữ và biểu tượng hữu ích ngưng tụ vào tâm thức và thể trí đang chờ đợi của y.

I wanted to make this clear because students almost inevitably think in terms of sequence.

Tôi muốn làm rõ điều này vì các đạo sinh hầu như luôn suy nghĩ theo trình tự nối tiếp.

476. This is natural, but we have also to learn to think in terms of more simultaneous processes.

476. Điều này là tự nhiên, nhưng chúng ta cũng phải học cách suy nghĩ về những tiến trình diễn ra đồng thời nhiều hơn.

477. The ‘Founding of the Pre-Cosmic Trinity’ must be deeply considered—whether in terms of sequence or of simultaneity.

477. Cần suy xét sâu sắc ‘Sự Thiết Lập Ba Ngôi Tiền Vũ Trụ’—dù xét theo trình tự hay tính đồng thời.

The effects of penetration (in this case two in number) are simultaneous and not sequential. The polarisation of the consciousness of the initiate, and the consequent condensation of truth, produce an unavoidable precipitation which occurs in a flash of time;

Những hiệu quả của sự thâm nhập—trong trường hợp này có hai—diễn ra đồng thời chứ không nối tiếp nhau. Sự phân cực tâm thức của điểm đạo đồ, cùng sự cô đọng chân lý theo sau đó, tạo ra một sự ngưng tụ không thể tránh khỏi, diễn ra trong một thoáng chớp;

478. We judge this to be a Uranian process. The phrase “flash of time” reveals the connection to the occult planet Uranus.

478. Chúng ta nhận định đây là một tiến trình thuộc Sao Thiên Vương. Cụm từ “trong chớp nhoáng” cho thấy mối liên hệ với hành tinh huyền bí Sao Thiên Vương.

479. Although simultaneous, there are four aspects to this process:

479. Dù diễn ra đồng thời, tiến trình này có bốn phương diện:

a. Penetration into a new vibratory dimension

a. Thâm nhập vào một chiều rung động mới

b. The Polarization of the consciousness of the initiate

b. Sự phân cực tâm thức của điểm đạo đồ

c. The consequent condensation of truth

c. Sự cô đặc chân lý theo sau đó

d. An unavoidable precipitation, occurring in a “flash of time”

d. Một sự ngưng tụ không thể tránh khỏi, diễn ra trong một “chớp thời gian”

480. It seems we must discriminate between the “condensation of truth” and the “unavoidable precipitation”. We do know from more material processes that condensation precedes precipitation, though the two processes are sometimes considered more or less identical.

480. Dường như chúng ta phải phân biện giữa “sự cô đặc chân lý” và “sự ngưng tụ không thể tránh khỏi”. Qua các tiến trình mang tính vật chất hơn, chúng ta biết rằng sự cô đặc đi trước sự ngưng tụ, dù đôi khi hai tiến trình này được xem là ít nhiều đồng nhất.

it results in an instantaneous intuitive perception, and this is one of the early aspects of this dual process. Think this out and remember in this connection that the initiate—in process of receiving revelation—is working outside of time and space, as you understand it.

nó dẫn đến một nhận thức trực giác tức thời, và đây là một trong những phương diện ban đầu của tiến trình kép này. Hãy suy xét kỹ điều này và trong mối liên hệ ấy, hãy nhớ rằng điểm đạo đồ—trong tiến trình tiếp nhận sự mặc khải—đang hoạt động bên ngoài thời gian và không gian theo cách các bạn hiểu.

481. That which is called “an instantaneous intuitive perception” seems related to the unavoidable precipitation. It is the recognition of that which has been contacted.

481. Điều được gọi là “một nhận thức trực giác tức thời” dường như có liên quan đến sự ngưng tụ không thể tránh khỏi. Đó là sự nhận biết điều đã được tiếp xúc.

482. Time and space may still exist (indeed, must exist) but they are not time and space as the average disciple understands them.

482. Thời gian và không gian có thể vẫn tồn tại (thật vậy, phải tồn tại), nhưng đó không phải là thời gian và không gian theo cách người đệ tử trung bình hiểu.

483. If “instantaneous intuitive perception” is one of the early aspects of the dual process, what are the later aspects?

483. Nếu “nhận thức trực giác tức thời” là một trong những phương diện ban đầu của tiến trình kép, thì những phương diện về sau là gì?

484. The initiate is not working with linear processes but in relation to ongoing patterns (such as are found on archetypal ‘levels’) the apprehension of which is equivalent to revelation.

484. Điểm đạo đồ không hoạt động với những tiến trình tuyến tính, mà trong mối liên hệ với các mô hình đang tiếp diễn (như những mô hình có trên các ‘cấp độ’ nguyên mẫu); việc nắm bắt chúng tương đương với sự mặc khải.

His consciousness is free, as compared with that of the [313] average man, and the most urgent and the most difficult part of his task is correctly to apprehend the precipitating truth, information or revelation, and then to give it an equally correct format so that it can meet the immediate human need.

So với tâm thức của [313] người bình thường, tâm thức của y tự do, và phần cấp thiết nhất cũng như khó khăn nhất trong nhiệm vụ của y là lĩnh hội chính xác chân lý, thông tin hoặc sự mặc khải đang ngưng tụ, rồi trao cho nó một hình thức trình bày cũng chính xác như vậy, để nó có thể đáp ứng nhu cầu trước mắt của con người.

485. The urgency is related to the acutely difficult condition in which humanity now finds itself.

485. Tính cấp thiết này liên quan đến tình cảnh vô cùng khó khăn mà nhân loại hiện đang lâm vào.

486. The initiate is to correctly apprehend that which is being precipitated in his consciousness and then clothe the “truth, information or revelation” correctly so that it may be given out in service to meet human need.

486. Điểm đạo đồ phải nắm bắt chính xác điều đang ngưng tụ trong tâm thức mình, rồi khoác cho “chân lý, thông tin hay sự mặc khải” một hình thức thích hợp, để có thể truyền đạt nó trong sự phụng sự nhằm đáp ứng nhu cầu nhân loại.

487. All this suggest that incorrect apprehension and incorrect creation of a format for presentation to humanity are, indeed, possible.

487. Tất cả điều này cho thấy rằng việc nắm bắt sai lệch và việc tạo ra một hình thức sai lệch để trình bày với nhân loại quả thực đều có thể xảy ra.

488. There seem to be two kinds of precipitation:

488. Dường như có hai loại ngưng tụ:

a. The precipitation of truth, information or revelation into the consciousness of the initiate

a. Sự ngưng tụ của chân lý, thông tin hay sự mặc khải vào tâm thức của điểm đạo đồ

b. The initiate’s precipitation into the world of the translated inner precipitation.

b. Sự ngưng tụ vào thế giới do điểm đạo đồ thực hiện, sau khi chuyển dịch sự ngưng tụ bên trong sang một hình thức có thể truyền đạt.

c. Perhaps the initiate will not view his gift to humanity as a precipitation, but those who receive it will.

c. Có lẽ điểm đạo đồ sẽ không xem món quà mình trao cho nhân loại là một sự ngưng tụ, nhưng những người tiếp nhận sẽ xem như vậy.

You will see, consequently, that the initiate learns to penetrate into the realm of pure reason from the realm of mind, and there he polarises himself, and truth precipitates.

Do đó, các bạn sẽ thấy rằng điểm đạo đồ học cách thâm nhập từ lĩnh vực thể trí vào lĩnh vực lý trí thuần khiết; tại đó, y tự phân cực, và chân lý ngưng tụ.

489. From this perspective, Penetration, Polarization and Precipitation are all internal acts. The first is an act of will and the other two, virtually automatic.

489. Từ góc nhìn này, Thâm nhập, Phân cực và Ngưng tụ đều là những hành động bên trong. Hành động thứ nhất là một hành động của ý chí, còn hai hành động kia hầu như diễn ra tự động.

He has learnt thus to penetrate, and the three stages preceding penetration have been necessarily sequential, until he has gained such facility that they can instantaneously be transcended.

Như vậy, y đã học được cách thâm nhập, và ba giai đoạn trước sự thâm nhập tất yếu đã diễn ra nối tiếp nhau, cho đến khi y đạt được sự thuần thục đến mức có thể tức thời vượt qua chúng.

490. There are three penetrations which precede the penetration into the “realm of pure reason”.

490. Có ba lần thâm nhập đi trước sự thâm nhập vào “lĩnh vực lý trí thuần túy”.

491. These are in sequential order--

491. Theo thứ tự tuần tự, đó là—

a. Penetration into the world of mind

a. Thâm nhập vào thế giới trí tuệ

b. Penetration into the world of the soul

b. Thâm nhập vào thế giới linh hồn

c. Penetration into the abstract mind

c. Thâm nhập vào trí trừu tượng

492. These three preliminary penetrations are elaborated below.

492. Ba lần thâm nhập sơ bộ này được trình bày chi tiết dưới đây.

493. The experienced meditator no longer needs to work through the three preliminary stages sequentially.

493. Người hành thiền có kinh nghiệm không còn cần trải qua ba giai đoạn sơ bộ theo tuần tự nữa.

He has learnt through life in the three worlds, to penetrate into the world of mind and the lower concrete mind has become his instrument, integrating his personality, opening up to him the world of thought, and putting into his power the processes of thoughtform creation;

Qua cuộc sống trong ba cõi giới, y đã học cách thâm nhập vào thế giới thể trí, và hạ trí cụ thể đã trở thành công cụ của y, tích hợp phàm ngã của y, mở ra cho y thế giới tư tưởng và đặt các tiến trình sáng tạo hình tư tưởng vào quyền sử dụng của y;

494. It is that which is learned through life in the three worlds which prepares the man for the penetration into the world of mind.

494. Chính những điều học được qua đời sống trong ba cõi giới chuẩn bị cho con người thâm nhập vào thế giới trí tuệ.

495. Without such penetration there is no possibility of integrating the personality.

495. Không có sự thâm nhập ấy thì không thể tích hợp phàm ngã.

496. The three results of penetration into the world of mind are as follows:

496. Ba kết quả của sự thâm nhập vào thế giới trí tuệ là:

a. Integration of the personality

a. Sự tích hợp phàm ngã

b. Openness to the world of thought

b. Sự mở ra với thế giới tư tưởng

c. The development of the power of thoughtform creation

c. Sự phát triển quyền năng sáng tạo hình tư tưởng

497. Every penetration is an act of detachment or abstraction. In this case there is detachment from involvement with the emotional nature.

497. Mỗi sự thâm nhập đều là một hành động tách rời hay trừu xuất. Trong trường hợp này, đó là sự tách rời khỏi việc vướng mắc vào bản chất cảm xúc.

he has learnt through meditation to make contact with the soul, the Son of Mind, Who is himself, and has in time identified himself with that soul; he becomes the soul in fact, and can create in the world of thought those living forms which bring light and help and truth to others; thus he serves;

qua tham thiền, y đã học cách tiếp xúc với linh hồn, Con của Trí Tuệ, vốn chính là y, và theo thời gian đã đồng hoá với linh hồn ấy; y thực sự trở thành linh hồn và có thể sáng tạo trong thế giới tư tưởng những hình tướng sống động mang ánh sáng, sự trợ giúp và chân lý đến cho người khác; đó là cách y phụng sự;

498. Meditation is the preferred method of making contact with the soul, but normal processes of living inspired by altruistic motive can also provide contact.

498. Tham thiền là phương pháp được ưu tiên để tiếp xúc với linh hồn, nhưng những tiến trình sống bình thường được động cơ vị tha khơi nguồn cảm hứng cũng có thể đem lại sự tiếp xúc ấy.

499. Here we are speaking of man’s higher nature on the higher mental plane.

499. Ở đây, chúng ta đang nói về bản chất cao siêu của con người trên cõi thượng trí.

500. The man himself is a “Son of Mind”. Contact with the Son of Mind is, in part, contact with the Solar Angel, Who is far greater than the Son of Mind.

500. Chính con người là một “Con của Trí Tuệ”. Tiếp xúc với Con của Trí Tuệ, một phần, là tiếp xúc với Thái dương Thiên Thần, Đấng cao cả hơn Con của Trí Tuệ rất nhiều.

501. When the meditator identifies himself with the soul, his sense of identity is still focussed within the personality. Eventually, however, through intensified identification he becomes the soul. We change identities through the act of identification.

501. Khi người hành thiền đồng hoá với linh hồn, cảm nhận về bản sắc của y vẫn còn tập trung trong phàm ngã. Tuy nhiên, cuối cùng, qua sự đồng hoá ngày càng sâu đậm, y trở thành linh hồn. Chúng ta thay đổi bản sắc qua hành động đồng hoá.

502. He had learned to create thoughtforms once he had penetrated into the world of mind, but now the thoughtforms created are lighted and far more filled with truth than in earlier days, and have for their purpose not the fulfillment of personal desire but the service of others.

502. Y đã học cách sáng tạo hình tư tưởng một khi đã thâm nhập vào thế giới trí tuệ, nhưng giờ đây những hình tư tưởng được sáng tạo đều được soi sáng và chứa đựng chân lý dồi dào hơn nhiều so với trước kia, và mục đích của chúng là phụng sự người khác chứ không phải thoả mãn dục vọng cá nhân.

503. In this second form of preliminary penetration, he learns to detach himself from the modifications of the lower mind, and finds himself in a strata of the mind filled with meaning, and the power to discern and perceive unity.

503. Trong hình thức thâm nhập sơ bộ thứ hai này, y học cách tách mình khỏi những biến thái của hạ trí, và thấy mình ở trong một tầng trí tuệ tràn đầy ý nghĩa cùng quyền năng phân biện và nhận thức sự hợp nhất.

he learns also, through unfolding perception, to penetrate into the levels of abstract thought, the antechamber to the world of pure reason, and through these three aspects of mind he discovers that he possesses the "three keys" which will permit him to delve into the knowledge, wisdom and reason of the Universal Mind. This is what is revealed to him as he penetrates deeper into what is called the Arcana of Wisdom, the Mind of God, the third divine Aspect.

qua nhận thức đang khai mở, y cũng học cách thâm nhập vào các cấp độ tư tưởng trừu tượng, tiền sảnh của thế giới lý trí thuần khiết, và qua ba phương diện này của thể trí, y khám phá rằng mình sở hữu “ba chìa khóa” cho phép y đi sâu vào tri thức, minh triết và lý trí của Vũ Trụ Trí. Đây là điều được mặc khải cho y khi y thâm nhập sâu hơn vào nơi được gọi là những Bí Nhiệm của Minh Triết, Trí của Thượng đế, Phương diện thiêng liêng thứ ba.

504. What allows penetration into the realm of abstraction mind? Of course, the antahkarana technique is one method of penetration, but also, gradually, through “unfolding perception”, he can also penetrate.

504. Điều gì cho phép thâm nhập vào lĩnh vực trí trừu tượng? Dĩ nhiên, kỹ thuật antahkarana là một phương pháp thâm nhập, nhưng dần dần, qua “sự khai mở nhận thức”, y cũng có thể thâm nhập.

505. In this third preliminary penetration he detaches himself from all things ‘transpersonally-personal’, and enters a form of abstracted perception which perceives planetary patterns in an impersonal manner.

505. Trong lần thâm nhập sơ bộ thứ ba này, y tách mình khỏi mọi điều mang tính ‘vượt cá nhân–cá nhân’, và đi vào một hình thức nhận thức trừu xuất, nhận thức các mô hình hành tinh một cách phi cá nhân.

506. The world of pure reason is the buddhi, and higher manas is the antechamber to this world. Abstract thought when sufficiently refined and sublimated becomes pure reason.

506. Thế giới lý trí thuần túy là Bồ đề, và thượng trí là tiền sảnh của thế giới này. Khi được tinh luyện và thăng hoa đầy đủ, tư tưởng trừu tượng trở thành lý trí thuần túy.

507. The three aspects of mind now possessed are as three keys which allow the initiate to “delve into the knowledge, wisdom and reason of the Universal Mind”.

507. Ba phương diện trí tuệ mà giờ đây y sở hữu giống như ba chìa khoá, cho phép điểm đạo đồ “đi sâu vào tri thức, minh triết và lý trí của Vũ Trụ Trí”.

508. It is sometimes difficult to ‘position’ the Universal Mind. With respect to the Solar Logos it should be considered atma and its associated faculties. For the Planetary Logos, however, Who also can be considered a kind of Universal Mind, the buddhi and its associated faculties may be indicated.

508. Đôi khi khó ‘định vị’ Vũ Trụ Trí. Đối với Thái dương Thượng đế, nên xem đó là atma và các năng lực liên quan. Tuy nhiên, đối với Hành Tinh Thượng đế, Đấng cũng có thể được xem là một dạng Vũ Trụ Trí, điều được nói đến có thể là Bồ đề và các năng lực liên quan.

509. Of course, atma and buddhi are really reflections of the Universal Mind which, more properly, is found upon cosmic mental levels.

509. Dĩ nhiên, atma và Bồ đề thực sự là những phản ánh của Vũ Trụ Trí, vốn, nói chính xác hơn, nằm trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ.

510. Buddhi is “transcendental mind” (cf. TCF 287). If the Planetary Logos has his main etheric focus on the systemic monadic plane, the buddhic plane is the third of three planes beginning with the monadic (thus correlating with the third or mental aspect), just as the atmic plane is the third of three planes beginning with the logoic.

510. Bồ đề là “Trí Tuệ Siêu Việt” (xem TCF 287). Nếu Hành Tinh Thượng đế có tiêu điểm dĩ thái chính trên cõi chân thần của hệ mặt trời, thì cõi Bồ đề là cõi thứ ba trong ba cõi bắt đầu từ cõi chân thần (do đó tương ứng với phương diện thứ ba, hay phương diện trí tuệ), cũng như cõi atma là cõi thứ ba trong ba cõi bắt đầu từ cõi Thượng đế.

511. At length all the three aspects of mind (concrete, Son of Mind and abstract) are fused or united (“Three Minds Unite”), and together form one continuous instrument for use in relation to the Universal Mind (whether buddhi or atma).

511. Cuối cùng, cả ba phương diện trí tuệ (trí cụ thể, Con của Trí Tuệ và trí trừu tượng) đều dung hợp hay hợp nhất (“ba trí hợp nhất”), và cùng nhau tạo thành một công cụ liên tục duy nhất để sử dụng trong mối liên hệ với Vũ Trụ Trí (dù là Bồ đề hay atma).

This is essentially what is covered by the symbolic and pictorial phrase "the raincloud of knowable things." The raincloud is a symbol of that area of the as yet unrevealed purposes of God which can be immediately revealed if the world disciples and initiates care to "penetrate to the point of precipitation."

Về căn bản, đây chính là nội dung mà cụm từ mang tính biểu tượng và hình ảnh “đám mây mưa của những điều khả tri” bao hàm. Đám mây mưa là biểu tượng của lĩnh vực những mục đích còn chưa được mặc khải của Thượng đế, vốn có thể được mặc khải ngay nếu các đệ tử và điểm đạo đồ trên thế gian quan tâm đến việc “thâm nhập đến điểm ngưng tụ”.

512. We note the curious use of the word “care”. This suggests that world disciples and initiate have the capacity to “penetrate to the point of precipitation”, but that they may not exert themselves sufficiently to do so (i.e., they may not care enough to assert themselves sufficiently).

512. Chúng ta lưu ý cách dùng đáng chú ý của từ “quan tâm”. Điều này gợi ý rằng các đệ tử và điểm đạo đồ thế gian có khả năng “thâm nhập tới điểm ngưng tụ”, nhưng có thể họ chưa nỗ lực đủ để làm vậy (nghĩa là, họ có thể chưa quan tâm đủ để quyết tâm nỗ lực đến mức cần thiết).

513. We are given an important definition of “the raincloud of knowable things”: the knowledge, wisdom and reason of the Universal Mind.

513. Chúng ta được trao một định nghĩa quan trọng về “đám mây mưa của những điều khả tri”: tri thức, minh triết và lý trí của Vũ Trụ Trí.

514. The true “Arcana of Wisdom” are found beginning with the cosmic ethers. They are not possessed by the abstract mind which is only an instrument of penetration (though a high one). The “Arcana” (as usually presented by the many esoteric schools) are characterized by many abstract formulations, but the true Arcana themselves are formless (i.e., pertain to the arupa levels of the cosmic physical plane and to the etheric body of the Solar Logos).

514. Những “Bí Nhiệm của Minh Triết” đích thực hiện hữu từ các cõi dĩ thái vũ trụ trở lên. Chúng không thuộc về trí trừu tượng, vốn chỉ là một công cụ thâm nhập (dù là một công cụ cao cấp). Những “Bí Nhiệm” (theo cách nhiều trường phái huyền bí thường trình bày) có đặc trưng là nhiều cách diễn đạt trừu tượng, nhưng chính những Bí Nhiệm đích thực lại vô hình tướng (nghĩa là thuộc về các cấp độ vô hình tướng của cõi hồng trần vũ trụ và thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế).

515. We note also that the “raincloud” relates not only to the mind of God but to His purposes. This confirms the idea that the “area” represented by the raincloud includes the atmic plane as well as the buddhic, for atma is that faculty which (within the spiritual triad) embodies purpose more than any other.

515. Chúng ta cũng lưu ý rằng “đám mây mưa” không chỉ liên quan đến Trí của Thượng đế mà còn đến các mục đích của Ngài. Điều này xác nhận ý tưởng rằng “lĩnh vực” mà đám mây mưa biểu trưng bao gồm cõi atma cũng như cõi Bồ đề, vì atma là năng lực (trong Tam Nguyên Tinh Thần) thể hiện mục đích rõ hơn bất kỳ năng lực nào khác.

516. The purpose of penetration is to bring about revelation. That which is thus far unrevealed must be penetrated if revelation is to be achieved.

516. Mục đích của sự thâm nhập là đem lại sự mặc khải. Muốn đạt được sự mặc khải thì phải thâm nhập vào điều cho đến nay vẫn chưa được mặc khải.

517. It is for each disciple to determine the point of tension necessary to “penetrate to the point of precipitation”. He must also (if he is a world disciple or initiate) determine whether he cares enough to do so.

517. Mỗi đệ tử phải xác định điểm tập trung nhất tâm cần thiết để “thâm nhập tới điểm ngưng tụ”. Y cũng phải (nếu là một đệ tử hay điểm đạo đồ thế gian) xác định xem mình có đủ quan tâm để làm vậy hay không.

This idea should in the future lie behind all you do in your meditation work.

Trong tương lai, ý tưởng này nên làm nền tảng cho mọi điều các bạn thực hiện trong công việc tham thiền.

518. Master DK has enlarged upon higher methods of meditation, useful in forcing revelation.

518. Chân sư DK đã trình bày sâu rộng hơn về những phương pháp tham thiền cao cấp, hữu ích trong việc thúc đẩy sự mặc khải.

Your meditation should now be regarded by you as a process of penetration, carried forward as an act of service, with the intent to bring enlightenment to others.

Giờ đây, các bạn nên xem việc tham thiền của mình là một tiến trình thâm nhập, được tiến hành như một hành động phụng sự, với ý định mang sự giác ngộ đến cho người khác.

519. This is a noble conception of the meditative art.

519. Đây là một quan niệm cao quý về nghệ thuật tham thiền.

520. Meditation conceived in this manner is a spiritual adventure bringing the consciousness in touch with higher and as yet unknown vibratory domains.

520. Tham thiền được quan niệm theo cách này là một cuộc phiêu lưu tinh thần, đưa tâm thức tiếp xúc với những lĩnh vực rung động cao hơn và cho đến nay vẫn chưa được biết đến.

521. Both the first and second rays are involved in this act of service. One is reminded of a description of the way in which Master Morya and Koot-Hoomi work together.

521. Cả cung một lẫn cung hai đều tham gia vào hành động phụng sự này. Điều đó gợi nhớ đến một đoạn mô tả cách Chân sư Morya và Chân sư Koot-Hoomi cùng làm việc.

The first ray penetrates, pierces and produces the line along which Light comes; the second ray is the "light-carrier," and supplements the work of the first ray. A study of the activities and the cooperative endeavours of the Master M. and the Master K.H. may serve to make this clearer. Their work is indispensable to each other, just as life and consciousness are mutually indispensable, and without them form is rendered valueless. (EP II 359)

Cung một thâm nhập, xuyên thấu và tạo ra đường dẫn mà Ánh sáng đi theo; cung hai là “cung mang ánh sáng” và bổ sung cho công việc của cung một. Việc nghiên cứu các hoạt động và những nỗ lực hợp tác của Chân sư M. và Chân sư KH có thể giúp làm sáng tỏ điều này. Công việc của mỗi Ngài đều không thể thiếu đối với Ngài kia, cũng như sự sống và tâm thức đều không thể thiếu đối với nhau; thiếu chúng, hình tướng trở nên vô giá trị. (EP II 359)

I have been dealing with these Points of Revelation today from the angle of vision of the initiate. Process and [314] techniques do their work, and these are followed by the recognition which the disciple accords within himself to that which has been accomplished.

Hôm nay, Tôi đã bàn về những Điểm Mặc Khải này từ góc nhìn của điểm đạo đồ. Tiến trình và [314] các kỹ thuật thực hiện công việc của chúng, và tiếp theo đó là sự ghi nhận trong nội tâm của người đệ tử đối với những gì đã hoàn thành.

522. We recall that the Points of Revelation receive their proper understanding only in the consciousness of the initiate. Yet disciples can also attempt to interpret and apply them.

522. Chúng ta nhớ rằng chỉ trong tâm thức của điểm đạo đồ, những Điểm Mặc Khải mới được thấu hiểu đúng đắn. Tuy nhiên, các đệ tử cũng có thể cố gắng diễn giải và áp dụng chúng.

523. Penetration, Polarization and Precipitation are also applicable (in reflection) to the level of soul consciousness within the causal body, and to the abstract mind. In this instruction, however, the Tibetan has taken us into the exalted realms of the higher two levels of the spiritual triad (the buddhic and atmic planes—considering them both as aspects of the Universal Mind).

523. Thâm nhập, Phân cực và Ngưng tụ cũng có thể áp dụng (theo sự phản ánh) cho cấp độ tâm thức linh hồn trong thể nguyên nhân, và cho trí trừu tượng. Tuy nhiên, trong huấn thị này, Chân sư Tây Tạng đã đưa chúng ta vào những lĩnh vực cao siêu của hai cấp độ cao hơn trong Tam Nguyên Tinh Thần (cõi Bồ đề và cõi atma—xem cả hai là những phương diện của Vũ Trụ Trí).

524. We are engaged in the building of the antahkarana and so the threefold process or activity (PPP) is of immediate value in our work. If the indicated processes are followed properly, the results are inevitable. The disciple who uses these techniques will at length recognize accomplishment within his own consciousness.

524. Chúng ta đang xây dựng antahkarana, nên tiến trình hay hoạt động tam phân (PPP) có giá trị trực tiếp đối với công việc của chúng ta. Nếu thực hiện đúng những tiến trình đã chỉ dẫn, kết quả tất yếu sẽ đến. Người đệ tử sử dụng các kỹ thuật này cuối cùng sẽ nhận biết sự thành tựu trong chính tâm thức mình.

Commentary 46 – Bình giảng 46

[314-323]

[314-323]

Taurus FMN/SFF 2007

Kim Ngưu FMN/SFF 2007

LAWS-Living Ageless Wisdom School

LAWS-Trường Minh Triết Ngàn Đời Sống Động