← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

PART VI

Trích nội dung chương

In my last instruction to you I dealt with some aspects of the new approach to discipleship and to initiation; it is essential that the old concepts—profoundly useful in their day—should be forgotten and the newer methods and techniques should be substituted. Trong huấn thị trước gửi các bạn, Tôi đã bàn đến một số phương diện của cách tiếp cận mới đối với địa vị đệ tử và điểm đạo; điều thiết yếu là phải quên đi những quan niệm cũ—vốn vô cùng hữu ích trong thời đại của chúng—và thay bằng những phương pháp cùng kỹ thuật mới hơn.


PART VI

PHẦN VI

In my last instruction to you I dealt with some aspects of the new approach to discipleship and to initiation; it is essential that the old concepts—profoundly useful in their day—should be forgotten and the newer methods and techniques should be substituted.

Trong huấn thị trước gửi các bạn, Tôi đã bàn đến một số phương diện của cách tiếp cận mới đối với địa vị đệ tử và điểm đạo; điều thiết yếu là phải quên đi những quan niệm cũ—vốn vô cùng hữu ích trong thời đại của chúng—và thay bằng những phương pháp cùng kỹ thuật mới hơn.

1. This was written some sixty year ago; if it was essential then that new methods of approach to discipleship and initiation be substituted for old, how much more so is it now!

1. Đoạn này được viết khoảng sáu mươi năm trước; nếu khi ấy việc thay thế các phương pháp cũ bằng những phương pháp tiếp cận mới đối với địa vị đệ tử và điểm đạo đã là thiết yếu, thì ngày nay điều ấy còn thiết yếu đến mức nào!

2. Yet, one can wonder whether this substitution has taken place in any measurable degree. The fact that the Hierarchy did not externalize in the 20th century (and there was certainly the suggestion that it might) has perhaps placed the needed acts of substation somewhat “on hold”.

2. Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi liệu sự thay thế này đã diễn ra đến một mức độ đáng kể nào chưa. Việc Thánh đoàn không hiển lộ trong thế kỷ 20 (và chắc chắn đã có gợi ý rằng điều đó có thể xảy ra) có lẽ đã khiến những hành động thay thế cần thiết phần nào bị “tạm hoãn”.

This is now necessary on account of the surprising unfoldment of the human consciousness during the past twenty-five years.

Giờ đây, điều này là cần thiết do sự khai mở đáng kinh ngạc của tâm thức nhân loại trong hai mươi lăm năm qua.

3. DK is speaking approximately of the years 1920-1945. To whom was the unfoldment “surprising”? It appears that it was so to the Hierarchy.

3. Chân sư DK đang nói về khoảng thời gian từ năm 1920 đến năm 1945. Sự khai mở ấy “đáng kinh ngạc” đối với ai? Dường như đối với Thánh đoàn.

The steps taken at the Conclave in Shamballa in 1925 (based on tentative conclusion at the previous centennial Conclave) and the pressures exerted by the Hierarchy have proved most successful, and out of the chaos of the world war (precipitated by humanity itself) there is developing a structure of truth and a paralleling responsiveness of the human mechanism which guarantees the perpetuation and the rapid unfoldment of the next stage of the teaching of the Ageless Wisdom.

Những bước đi tại Mật Nghị ở Shamballa năm 1925—dựa trên kết luận sơ bộ tại Mật Nghị một trăm năm một lần trước đó—cùng những áp lực do Thánh đoàn tạo ra đã chứng tỏ rất thành công; và từ sự hỗn loạn của cuộc thế chiến do chính nhân loại làm ngưng tụ, một cấu trúc chân lý đang phát triển, cùng với khả năng đáp ứng song hành của bộ máy con người, bảo đảm cho sự tiếp nối và khai mở nhanh chóng của giai đoạn kế tiếp trong giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời.

4. We may presume that by “the world war”, DK means the combined conflicts of WWI and WWII considered as one.

4. Chúng ta có thể cho rằng khi nói “cuộc thế chiến”, Chân sư DK muốn nói đến các cuộc xung đột của Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai gộp lại, được xem như một cuộc chiến duy nhất.

5. We may wish to note that the centennial Conclaves are held “in Shamballa”. From one perspective, we can view Shamballa as the four etheric levels of the cosmic physical plane.

5. Chúng ta có thể lưu ý rằng các Mật Nghị bách niên diễn ra “ở Shamballa”. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể xem Shamballa là bốn cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ.

6. One presumes that provisions are made so that those Masters Who are not permanent members of Shamballa can participate.

6. Có thể cho rằng đã có sự sắp xếp để những Chân sư không phải là thành viên thường trực của Shamballa vẫn có thể tham dự.

7. We note, as well, that humanity seems to be responsible for precipitating its own wars. Certainly they are not forced upon humanity by Hierarchy.

7. Chúng ta cũng lưu ý rằng nhân loại dường như chịu trách nhiệm gây ra những cuộc chiến của chính mình. Chắc chắn Thánh đoàn không áp đặt chúng lên nhân loại.

I used a phrase in my last instruction to which I would like to call your attention. I spoke of the coming ability of mankind to "share in the great hierarchical task of illuminating, precipitating and lifting." These words signify far more than their obvious meaning, and I would like somewhat to elucidate.

Trong huấn thị trước, Tôi đã dùng một cụm từ mà Tôi muốn lưu ý các bạn. Tôi đã nói đến khả năng sắp tới của nhân loại trong việc “chia sẻ nhiệm vụ vĩ đại của Thánh đoàn là soi sáng, ngưng tụ và nâng cao”. Những từ này hàm chứa nhiều hơn hẳn ý nghĩa hiển nhiên của chúng, và Tôi muốn làm sáng tỏ phần nào.

8. We are given three words which characterize the redemptive hierarchical processes in which humanity may soon participate: illuminating, precipitating and lifting. DK is alerting us to the necessity of being aware of the more occult meanings of these terms.

8. Chúng ta được trao ba từ đặc trưng cho những tiến trình cứu chuộc của Thánh đoàn mà nhân loại có thể sớm tham gia: soi sáng, ngưng tụ và nâng lên. Chân sư DK đang nhắc chúng ta về sự cần thiết phải nhận biết những ý nghĩa huyền bí sâu xa hơn của các thuật ngữ này.

Men are apt to think that the entire objective of the work of the Hierarchy is to find and admit men into hierarchical contact. It is that minor phase of hierarchical activity which appears paramount in your consciousness; is it not so? Your main hope is that as you unfold your latent possibilities, you will be able to help others to do the same.

Con người thường nghĩ rằng toàn bộ mục tiêu công việc của Thánh đoàn là tìm kiếm con người và tiếp nhận họ vào sự tiếp xúc với Thánh đoàn. Chính giai đoạn nhỏ ấy trong hoạt động của Thánh đoàn lại có vẻ tối quan trọng trong tâm thức các bạn; chẳng phải vậy sao? Hy vọng chủ yếu của các bạn là khi khai mở những tiềm năng của mình, các bạn sẽ có thể giúp người khác làm điều tương tự.

9. DK is pointing out the limitations in our point of view. There seems nothing basically wrong with these objectives, yet from the wider perspective they are limited.

9. Chân sư DK đang chỉ ra những giới hạn trong quan điểm của chúng ta. Về cơ bản, những mục tiêu này dường như không có gì sai, nhưng từ góc nhìn rộng hơn, chúng vẫn hạn hẹp.

10. That the objective of entering the Hierarchy seems the primary objective of so many disciples reveals their continuing self-centeredness.

10. Việc gia nhập Thánh đoàn dường như là mục tiêu hàng đầu của rất nhiều đệ tử cho thấy họ vẫn tiếp tục tập trung vào bản thân.

This is indeed a worthy thought, but is nevertheless based entirely on misapprehension. Let me, therefore, throw light upon the matter by quoting the Old Commentary:

Đây quả là một tư tưởng đáng quý, tuy nhiên, nó hoàn toàn dựa trên một sự hiểu lầm. Vì vậy, hãy để Tôi làm sáng tỏ vấn đề bằng cách trích dẫn Cổ Luận:

11. Ever the Master widens our point of view, often when we least expect that it needs widening.

11. Chân sư luôn mở rộng quan điểm của chúng ta, thường vào lúc chúng ta ít ngờ nhất rằng quan điểm ấy cần được mở rộng.

"When light illuminates the minds of men and stirs [315] the secret light within all other forms, then the One in Whom we live reveals His hidden, secret lighted Will.

“Khi ánh sáng soi sáng thể trí con người và khơi động [315] ánh sáng bí mật trong mọi hình tướng khác, bấy giờ Đấng mà trong Ngài chúng ta sống sẽ mặc khải Ý Chí ngời sáng, bí mật và ẩn giấu của Ngài.

12. We seem to see that the illumination of humanity will occur simultaneously with the illumination of the other kingdoms in nature. This illumination is presently in process. The stirring of the “secret light” with the mineral kingdom can be noticed and runs parallel to the illumination of human minds. The two are closely interrelated.

12. Dường như chúng ta thấy rằng sự soi sáng nhân loại sẽ diễn ra đồng thời với sự soi sáng các giới khác trong thiên nhiên. Sự soi sáng này hiện đang diễn ra. Có thể nhận thấy sự khơi động “ánh sáng bí mật” trong giới kim thạch, và điều đó diễn ra song song với sự soi sáng thể trí con người. Hai điều có liên hệ mật thiết với nhau.

13. This process will, it seems, evoke the revelation of the Will of Sanat Kumara—the “One in Whom we live”. In this context, we would be considering Sanat Kumara as the Planetary Logos (as sometimes He can be considered).

13. Dường như tiến trình này sẽ gợi lên sự mặc khải Ý Chí của Sanat Kumara—“Đấng mà trong Ngài chúng ta sống”. Trong ngữ cảnh này, chúng ta xem Sanat Kumara là Hành Tinh Thượng đế (như đôi khi có thể xem Ngài như vậy).

14. This section from the Old Commentary points to the greater meaning of the term “illuminating” to which DK referred.

14. Đoạn này trong Cổ Luận chỉ ra ý nghĩa rộng lớn hơn của thuật ngữ “soi sáng” mà Chân sư DK đã đề cập.

"When the purpose of the Lords of Karma can find no more to do, and all the weaving and close-related plans are all worked out, then the One in Whom we live can say: `Well done! Naught but the beautiful remains.'

“Khi mục đích của các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả không còn điều gì để thực hiện, và mọi sự đan dệt cùng những kế hoạch liên hệ mật thiết đều đã hoàn tất, bấy giờ Đấng mà trong Ngài chúng ta sống có thể nói: ‘Tốt lắm! Chỉ còn lại cái đẹp.’

15. From all the conflict involved in our earthly process, the purpose is the emergence of “naught but the beautiful”.

15. Từ mọi xung đột trong tiến trình của chúng ta trên Trái Đất, mục đích là sự xuất hiện của trạng thái “chỉ còn lại cái đẹp”.

16. We see how so much that is produced by the third ray (all the “weaving and close-related plans”) must be worked out before the Lords of Karma can find no more to do. This will not occur for Ages, but in the completion of the process humanity is involved. Can we, even today, see the outlines of a greater beauty emerging? The 20th century has been a time of great karmic consequence for humanity.

16. Chúng ta thấy biết bao điều do cung ba tạo ra (mọi “sự đan dệt cùng những kế hoạch liên hệ chặt chẽ”) phải được hoàn tất trước khi các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả không còn điều gì để thực hiện. Điều này sẽ chưa xảy ra trong nhiều thời đại nữa, nhưng nhân loại có tham gia vào việc hoàn tất tiến trình ấy. Ngay cả hôm nay, liệu chúng ta có thể thấy những đường nét của một vẻ đẹp lớn lao hơn đang xuất hiện không? Thế kỷ 20 là thời kỳ mang lại những hệ quả nghiệp quả lớn lao cho nhân loại.

17. This section from the Old Commentary points, perhaps, to the greater meaning of the term “precipitating” which relates, apparently, to the precipitation of karma which, once precipitated, reveals the inherent beauty of the Plan.

17. Có lẽ đoạn này trong Cổ Luận chỉ ra ý nghĩa rộng lớn hơn của thuật ngữ “ngưng tụ”, dường như liên quan đến sự ngưng tụ nghiệp quả; một khi ngưng tụ, nghiệp quả ấy sẽ bộc lộ vẻ đẹp vốn có của Thiên Cơ.

"When the lowest of the low, the densest of the dense, and the highest of the high have all been lifted through the little wills of men, then can the One in Whom we live raise into radiating light the vivid lighted ball of Earth, and then another greater Voice can say to Him: `Well done! Move on. Light shines.'"

“Khi điều thấp nhất trong những gì thấp kém, điều đậm đặc nhất trong những gì đậm đặc, và điều cao nhất trong những gì cao cả đều đã được nâng lên nhờ những ý chí nhỏ bé của con người, bấy giờ Đấng mà trong Ngài chúng ta sống có thể nâng quả cầu Trái Đất rực sáng, sống động vào ánh sáng tỏa rạng, và khi ấy một Tiếng Nói khác vĩ đại hơn có thể nói với Ngài: ‘Tốt lắm! Hãy tiến lên. Ánh sáng chiếu soi.’”

18. Here we have described in symbolic terms the consummation of the planetary process. The “One in Whom we live” is the Planetary Logos and the “greater Voice” belongs (it is reasonable to infer) to the Solar Logos.

18. Ở đây, sự viên mãn của tiến trình hành tinh được mô tả bằng ngôn ngữ biểu tượng. “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống” là Hành Tinh Thượng đế, còn “Âm Thanh vĩ đại hơn” thuộc về Thái dương Thượng đế (có thể suy luận như vậy một cách hợp lý).

19. In the light that will shine through and from the “lighted ball of Earth”, a still greater solar Light shall be seen.

19. Trong ánh sáng sẽ chiếu xuyên qua và toả ra từ “quả cầu Trái Đất rực sáng”, người ta sẽ thấy một Ánh sáng thái dương còn vĩ đại hơn nữa.

20. We note that not only must the “lowest of the low [and] the densest of the dense” be lifted but so must “the highest of the high”, for these spiritual strata are but relative in their ‘altitude’, and all is low compared to the greater points of tension yet to be achieved.

20. Chúng ta lưu ý rằng không chỉ “cái thấp nhất trong những gì thấp [và] cái đậm đặc nhất trong những gì đậm đặc” cần được nâng lên, mà cả “cái cao nhất trong những gì cao” cũng vậy, vì ‘độ cao’ của các tầng tinh thần này chỉ mang tính tương đối, và tất cả đều thấp so với những điểm tập trung nhất tâm lớn lao hơn còn chưa đạt tới.

21. We can see the extraordinary processes in which humanity will be able to participate—far beyond the service presently anticipated.

21. Chúng ta có thể thấy những tiến trình phi thường mà nhân loại sẽ có khả năng tham gia—vượt xa sự phụng sự hiện đang được hình dung.

22. These three objectives present a much broader view of hierarchical intention than the intention simply to admit human beings into the ranks o the Hierarchy.

22. Ba mục tiêu này trình bày một cái nhìn rộng lớn hơn nhiều về ý định của Thánh đoàn so với ý định đơn thuần là thu nhận con người vào hàng ngũ Thánh đoàn.

You will note that the emphasis in these words is placed upon human accomplishment and not upon what the Hierarchy does for man. When men achieve illumination, intelligently precipitate the karmic quota of their time, and lift the subhuman kingdoms (with its reflex activity of lifting the Highest simultaneously), then they can and then they do share in the work of the Hierarchy.

Các bạn sẽ lưu ý rằng những lời này nhấn mạnh thành tựu của con người, chứ không phải những gì Thánh đoàn làm cho con người. Khi con người đạt được sự soi sáng, ngưng tụ một cách thông minh phần nghiệp quả của thời đại mình và nâng cao các giới dưới nhân loại—với hoạt động phản hồi đồng thời nâng cao Đấng Tối Cao—thì họ có thể và thực sự chia sẻ công việc của Thánh đoàn.

23. Here there is a completely clear presentation of what it means to illumine, precipitate and lift:

23. Ở đây có sự trình bày hoàn toàn rõ ràng về ý nghĩa của việc soi sáng, ngưng tụ và nâng lên:

a. Man achieves illumination. This suggests the eventual transfiguration of humanity.

a. Con người đạt được sự soi sáng. Điều này gợi ý sự Biến hình sau cùng của nhân loại.

b. Man intelligently precipitates the karmic quota of his era. The precipitation of this karma will lead, at length, to the emergence or revelation of the beautiful.

b. Con người ngưng tụ một cách sáng suốt phần nghiệp quả của thời đại mình. Sự ngưng tụ nghiệp quả này cuối cùng sẽ dẫn đến sự xuất hiện hay mặc khải của cái đẹp.

c. Man lifts the subhuman kingdoms but discovers that, through this lifting, he (in his highest nature) is also lifted.

c. Con người nâng các giới dưới nhân loại lên, nhưng khám phá rằng qua việc nâng lên này, chính mình (trong bản chất cao nhất) cũng được nâng lên.

24. It is clear that humanity is being invited (as it fulfills requirements) to participate in the hierarchical task of planetary redemption.

24. Rõ ràng nhân loại đang được mời gọi (khi đáp ứng các yêu cầu) tham gia vào nhiệm vụ cứu chuộc hành tinh của Thánh đoàn.

25. Another way of saying this is that humanity is entering the fifth kingdom of nature and will function as that greater kingdom functions.

25. Một cách diễn đạt khác là nhân loại đang bước vào giới thứ năm trong thiên nhiên và sẽ hoạt động như giới cao hơn ấy hoạt động.

That cycle of sharing

chu kỳ chia sẻ ấy

26. I.e., sharing in the hierarchical work…

26. Nghĩa là, chia sẻ công việc của Thánh đoàn…

has seemed for aeons too far away to be considered; when, however, humanity precipitated the war, they automatically and somewhat surprisingly brought the final achievement much nearer.

Suốt nhiều đại kỳ, dường như quá xa vời để có thể xem xét; tuy nhiên, khi nhân loại làm ngưng tụ cuộc chiến tranh, họ đã tự động và khá bất ngờ đưa thành tựu cuối cùng đến gần hơn nhiều.

27. We see how through travail and great suffering the pace of human unfoldment can be greatly accelerated.

27. Chúng ta thấy rằng qua gian truân và đau khổ lớn lao, nhịp độ khai mở của nhân loại có thể được đẩy nhanh rất nhiều.

28. Is it suggested that it was not expected that humanity would precipitate such a war?

28. Phải chăng điều này gợi ý rằng người ta đã không dự liệu nhân loại sẽ gây ra một cuộc chiến như thế?

29. Can the precipitation of the war have indicated that a new phase of the will was becoming active in humanity?

29. Liệu việc gây ra cuộc chiến có thể cho thấy một giai đoạn mới của ý chí đang trở nên hoạt động trong nhân loại không?

The illumination of men's minds will rapidly follow. The process of lifting the subhuman kingdoms has been amazingly forwarded by science—the crowning accomplishment of which was the fission of the atom and the penetration of the "spiritual interfering" aspect of the human spirit into the very depths of the mineral world. Ponder on this.

Sự soi sáng thể trí con người sẽ nhanh chóng theo sau. Khoa học đã thúc đẩy một cách đáng kinh ngạc tiến trình nâng cao các giới dưới nhân loại—thành tựu tột đỉnh của khoa học là sự phân hạch nguyên tử và sự thâm nhập của phương diện “can thiệp tinh thần” của tinh thần con người vào tận những chiều sâu của thế giới kim thạch. Hãy suy ngẫm điều này.

30. All three developments are well in process. The precipitation of karma is utterly apparent. The growing illumination is seen by all who have eyes to see.

30. Cả ba sự phát triển đều đang diễn ra tốt đẹp. Sự ngưng tụ nghiệp quả hết sức hiển nhiên. Tất cả những ai có mắt để thấy đều nhận ra sự soi sáng ngày càng tăng.

31. DK speaks highly (though obliquely) of the work of the fifth ray Ashram which achieved the “fission of the atom”. It also achieved a degree of “spiritual interfering” into the very depths of the mineral world. We are told that radioactivity is the result of an intense stimulation of the “central electrical life”. Can it be that through the labors of the fifth ray Ashram, the Spirit of man penetrated to the very depths of matter and that the intense stimulation of the “central electrical life” of the atom and the release of immense energy through atomic fission are evidence of this penetration?

31. Chân sư DK đánh giá cao (dù chỉ nói gián tiếp) công việc của ashram cung năm đã thực hiện được việc “phân hạch nguyên tử”. Ashram này cũng đạt được một mức độ “can thiệp tinh thần” vào tận những chiều sâu của thế giới kim thạch. Chúng ta được cho biết rằng tính phóng xạ là kết quả của sự kích thích mãnh liệt đối với “sự sống điện trung tâm”. Phải chăng qua những nỗ lực của ashram cung năm, tinh thần con người đã thâm nhập vào tận những chiều sâu của vật chất, và sự kích thích mãnh liệt đối với “sự sống điện trung tâm” của nguyên tử cùng việc giải phóng năng lượng khổng lồ qua sự phân hạch nguyên tử là bằng chứng của sự thâm nhập này?

32. We have learned elsewhere that the successful “penetration of the ‘spiritual interfering’ aspect of the human spirit into the very depths of the mineral world” was unsuspected by Hierarchy which anticipated that such an ‘interference’ would occur in the Age of Capricorn.

32. Ở nơi khác, chúng ta đã học rằng Thánh đoàn không ngờ tới sự thành công của việc “phương diện ‘can thiệp tinh thần’ của tinh thần con người thâm nhập vào tận những chiều sâu của thế giới kim thạch”; Thánh đoàn đã dự liệu rằng một sự “can thiệp” như thế sẽ xảy ra trong Kỷ Nguyên Ma Kết.

33. Perhaps the release of atomic energy by humanity has been an act of Spirit— the Spirit of man reaching into the Spirit aspect of matter.

33. Có lẽ việc nhân loại giải phóng năng lượng nguyên tử là một hành động của tinh thần— tinh thần con người vươn vào phương diện tinh thần của vật chất.

34. This work has the stamp of Vulcan and Uranus upon it—both planets of the will and closely associated with the Spirit aspect of man.

34. Công việc này mang dấu ấn của Vulcan và Sao Thiên Vương—cả hai đều là những hành tinh của ý chí và liên hệ chặt chẽ với phương diện tinh thần của con người.

35. No wonder we are told that developments have occurred along these lines which were not expected until the far more material Age of Capricorn!

35. Không có gì lạ khi chúng ta được cho biết rằng những diễn biến theo các hướng này đã xảy ra, dù người ta từng cho rằng chúng chỉ xuất hiện vào Kỷ Nguyên Ma Kết mang tính vật chất hơn nhiều!

36. Just as former retardations (slowing the progress of the race of men) may not have been foreseen (in ancient Moon-chain days), so new accelerations to balance those retardations have apparently occurred in a surprising manner.

36. Cũng như những sự trì hoãn trước đây (làm chậm bước tiến của nhân loại) có thể đã không được tiên liệu (vào thời Dãy Mặt Trăng xa xưa), dường như những sự tăng tốc mới nhằm cân bằng các trì hoãn ấy cũng đã xảy ra một cách bất ngờ.

Therefore, if you could see things as they truly exist in the world of today and view them in their true perspective (and this—as far as you are concerned—is from the angle of the Master), you would know that a great step has been taken towards:

Vì vậy, nếu các bạn có thể thấy sự vật đúng như chúng thực sự tồn tại trong thế giới ngày nay và nhìn chúng theo đúng phối cảnh—mà đối với các bạn, đó là từ góc nhìn của Chân sư—thì các bạn sẽ biết rằng một bước tiến lớn đã được thực hiện hướng đến:

37. We are constantly faced with the limitations of our own consciousness. The wonder of the Teaching we are receiving is that it truly comes from one of the Great Ones Whose purview is so much greater than our own.

37. Chúng ta không ngừng đối diện với những giới hạn của tâm thức mình. Điều kỳ diệu của Giáo Huấn mà chúng ta đang tiếp nhận là nó thực sự đến từ một trong Các Đấng Cao Cả, Đấng có tầm bao quát rộng lớn hơn chúng ta rất nhiều.

38. Master DK reports of an encouraging vision revealed from His point of view.

38. Chân sư DK trình bày một tầm nhìn đầy khích lệ, được hé lộ từ góc nhìn của Ngài.

39. DK hints that a really “true perspective” cannot be achieved even by a Master, but that (for the purposes of humanity) a Master’s perspective is of sufficient clarity to be considered “true”.

39. Chân sư DK gợi ý rằng ngay cả một Chân sư cũng không thể đạt được một “phối cảnh chân thực” theo nghĩa trọn vẹn, nhưng đối với các mục đích của nhân loại, phối cảnh của một Chân sư đủ sáng rõ để được xem là “chân thực”.

1. The institution of more rapid initiation, and that in group form.

1. Việc thiết lập tiến trình điểm đạo nhanh hơn, và theo hình thức nhóm.

40. This will be the new method of initiation (i.e., group initiation) and it is already underway even if we have some difficulty detecting the workings of the process.

40. Đây sẽ là phương pháp điểm đạo mới (tức là điểm đạo nhóm), và phương pháp này đã bắt đầu được thực hiện, dù chúng ta phần nào khó nhận ra cách tiến trình ấy vận hành.

[316]

[316]

2. The possession of a much closer and a more widespread contact between the Hierarchy and humanity.

2. Việc có được sự tiếp xúc mật thiết hơn nhiều và rộng khắp hơn giữa Thánh đoàn và nhân loại.

41. The emergence of the Teaching given by Master DK is a signal that this development has occurred.

41. Sự xuất hiện của Giáo Huấn do Chân sư DK ban truyền là một dấu hiệu cho thấy bước phát triển này đã diễn ra.

3. The revelation of the true significance of initiation.

3. Sự mặc khải thâm nghĩa đích thực của điểm đạo.

42. There were so many glamors and misconceptions. The work of Master DK has set straight much that has been in error.

42. Đã có quá nhiều ảo cảm và quan niệm sai lầm. Công trình của Chân sư DK đã chỉnh đốn nhiều điều sai lệch.

This true significance lies still behind the curtain of that which veils the ultimate truth. The great secrets of Sanat Kumara are there to be found in due time, and the truth anent initiation is one of them.

Thâm nghĩa đích thực này vẫn nằm sau bức màn che phủ chân lý tối hậu. Những bí nhiệm vĩ đại của Sanat Kumara nằm ở đó, chờ được khám phá vào đúng thời điểm, và chân lý về điểm đạo là một trong số ấy.

43. Where is this “curtain” to be found?

43. Có thể tìm thấy “bức màn” này ở đâu?

44. If we examine the four greater Veils found in Chapter X of The Rays and the Initiations (pp. 199—200), I think we shall find that the Veil in question is Veil III:

44. Nếu khảo sát bốn Bức Màn lớn hơn trong Chương X của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo (tr. 199—200), tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy Bức Màn đang được nói tới là Bức Màn III:

VEIL III. That mysterious blindness which overwhelms the initiate when—as the Embodiment of all the forces of the Spiritual Triad—He faces the Monad and is impelled forward by the "devastating Will" of the first aspect. Of this I may not write. It concerns the sixth and seventh initiations. (R&I 199)

BỨC MÀN III. Sự mù lòa huyền nhiệm ấy bao trùm điểm đạo đồ khi—với tư cách là Hiện Thân của mọi mãnh lực thuộc Tam Nguyên Tinh Thần—Ngài đối diện với chân thần và được “Ý Chí hủy diệt” của phương diện thứ nhất thúc đẩy tiến tới. Tôi không được phép viết về điều này. Nó liên quan đến các lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy. (R&I 199)

45. We will also remember that the deeper Purposes of Sanat Kumara are discussed beginning p. 241 of R&I, and should be reviewed in light of the foregoing section.

45. Chúng ta cũng sẽ nhớ rằng những Thiên Ý sâu xa hơn của Sanat Kumara được bàn đến từ trang 241 của R&I, và cần được xem xét lại dưới ánh sáng của phần vừa trình bày.

46. Apparently our conceptions of the meaning of initiation are nothing like its real meaning and purpose. We ascend through by climbing a ladder of lessening illusions.

46. Dường như những quan niệm của chúng ta về ý nghĩa của điểm đạo hoàn toàn khác với ý nghĩa và mục đích thực sự của nó. Chúng ta đi lên bằng cách leo trên một chiếc thang mà ở mỗi bậc, ảo tưởng lại vơi dần.

47. ‘Where’ is ultimate truth to be found? This is for us an unanswerable question. As far as humanity is presently concerned, we may speak of ultimate truth in terms of Shamballa which has its ‘location’, especially, on the higher two levels of the cosmic physical plane—the ‘home’ of Sanat Kumara and of the Monads.

47. Có thể tìm thấy chân lý tối hậu ở “đâu”? Đối với chúng ta, đây là một câu hỏi không thể trả lời. Xét theo tầm hiểu biết hiện nay của nhân loại, chúng ta có thể nói về chân lý tối hậu qua Shamballa, vốn có “vị trí” đặc biệt trên hai cấp độ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ—“quê hương” của Sanat Kumara và các chân thần.

When the Hierarchy withdrew behind the separating curtain in Atlantean times,

Khi Thánh đoàn rút lui sau bức màn ngăn cách vào thời Atlantis,

48. There is a curtain or veil which separates the Inner Council Chamber from the Hierarchy and, also, a curtain or veil which separates the Hierarchy from humanity.

48. Có một bức màn hay màn che ngăn cách Nội Điện Hội Đồng với Thánh đoàn, và cũng có một bức màn hay màn che ngăn cách Thánh đoàn với nhân loại.

49. We might say that the kind of “separating curtain” here discussed is deliberately created, both for the protection of Hierarchy and humanity.

49. Chúng ta có thể nói rằng loại “bức màn ngăn cách” được bàn đến ở đây được chủ ý tạo ra để bảo vệ cả Thánh đoàn lẫn nhân loại.

50. The ‘curtain’ which separates Shamballa from Hierarchy is likely found on the highest levels of the cosmic physical plane (perhaps between the atmic and monadic planes, or between the monadic and logoic planes).

50. “Bức màn” ngăn cách Shamballa với Thánh đoàn có lẽ nằm trên các cấp độ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ (có thể giữa cõi atma và cõi chân thần, hoặc giữa cõi chân thần và cõi Thượng đế).

51. The ‘curtain’ which separates ordinary humanity from Hierarchy may be considered the division between the lower four sub-planes of the systemic mental plane and the higher three sub-planes.

51. Có thể xem “bức màn” ngăn cách nhân loại thông thường với Thánh đoàn là ranh giới giữa bốn cõi phụ thấp và ba cõi phụ cao của cõi trí thuộc hệ mặt trời.

52. There is another ‘curtain’ separating the causal field from the triadal, and also the rupa levels of the Solar Logos’ expression from the arupa levels (beginning with the buddhic plane).

52. Có một “bức màn” khác ngăn cách trường nguyên nhân với trường tam nguyên tinh thần, đồng thời ngăn cách các cấp độ hữu hình tướng trong sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế với các cấp độ vô hình tướng (bắt đầu từ cõi Bồ đề).

it marked the beginning of an interlude of darkness, of aridity and a cycle of "blank abstraction," which persisted in its crudest form until 1425 A.D.,

điều đó đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ gián đoạn tối tăm, khô cằn và một chu kỳ “trừu xuất trống không”, kéo dài dưới hình thức thô sơ nhất cho đến năm 1425 sau Công nguyên;

53. That “interlude of darkness” still continues but not in its crudest form. It is now an ‘interlude of lessening darkness’.

53. “Thời kỳ chuyển tiếp tối tăm” ấy vẫn tiếp diễn, nhưng không còn dưới hình thức thô sơ nhất. Giờ đây, đó là một “thời kỳ chuyển tiếp với bóng tối đang giảm dần”.

54. In an arid interlude consciousness cannot grow as when it is nourished by light, love and wisdom.

54. Trong một thời kỳ chuyển tiếp khô cằn, tâm thức không thể phát triển như khi được ánh sáng, tình thương và minh triết nuôi dưỡng.

55. Why 1425? May we say that the Renaissance arose because the Hierarchy took steps to end the “interlude of darkness”?

55. Tại sao lại là năm 1425? Liệu chúng ta có thể nói rằng thời Phục Hưng xuất hiện vì Thánh đoàn đã có những bước đi nhằm chấm dứt “thời kỳ chuyển tiếp tối tăm” không?

and since then has sensibly lightened until we reached the year 1925.

từ đó, tình trạng ấy đã giảm nhẹ rõ rệt cho đến năm 1925.

56. The term “sensibly lightened” suggests that the growing light between 1425 and 1925 has been perceptible.

56. Cụm từ “sáng dần lên một cách rõ rệt” gợi ý rằng sự gia tăng ánh sáng từ năm 1425 đến năm 1925 là điều có thể nhận thấy.

57. It is significant that the great ray of intellect—the third ray—began its recent racial cycle in the year 1425.

57. Việc cung trí năng vĩ đại—cung ba—bắt đầu chu kỳ gần đây của nó đối với nhân loại vào năm 1425 là điều đầy thâm nghĩa.

It became possible for the Hierarchy itself to regard the necessity for reorientation and the imminence of the revelation of the first secret—the secret of initiation.

Chính Thánh đoàn đã có thể xem xét nhu cầu tái định hướng và sự mặc khải sắp xảy ra của bí nhiệm thứ nhất—bí nhiệm về điểm đạo.

58. Hierarchy thinks in terms of what we consider long cycles. The revelation of the secret of initiation was (in 1425 and years following) considered immanent, but only today is that secret in process of wide-spread revelation.

58. Thánh đoàn tư duy theo những chu kỳ mà chúng ta xem là dài. Vào năm 1425 và những năm tiếp theo, sự mặc khải bí nhiệm điểm đạo được xem là sắp đến, nhưng chỉ đến ngày nay bí nhiệm ấy mới đang được mặc khải rộng rãi.

59. The reorientation of Hierarchy was dual—towards humanity and towards Shamballa.

59. Sự tái định hướng của Thánh đoàn mang tính kép—hướng về nhân loại và hướng về Shamballa.

Note well what I say here. Humanity had reached a stage where it could do the "abstracting" itself, and could eventually and by sheer force of the spiritual will wrest the secrets from the custody of the Guardians behind the veil.

Hãy chú ý kỹ điều Tôi nói ở đây. Nhân loại đã đạt đến một giai đoạn có thể tự thực hiện sự “trừu xuất”, và cuối cùng có thể, chỉ bằng mãnh lực của ý chí tinh thần, giành lấy những bí nhiệm khỏi sự gìn giữ của các Đấng Bảo Hộ sau bức màn.

60. In some measure humanity had become ready to “take the Kingdom of Heaven by storm”.

60. Ở một mức độ nào đó, nhân loại đã sẵn sàng “chiếm lấy Thiên Quốc bằng sức mạnh”.

61. When humanity gains such invocative power, it is not permissible for Hierarchy to evade humanity’s demand.

61. Khi nhân loại đạt được quyền năng khẩn cầu như thế, Thánh đoàn không được phép né tránh yêu cầu của nhân loại.

This presented the Hierarchy with another problem. How could this be permitted with safety so that, in its avidity for pure truth, humanity could be simultaneously trusted?

Điều này đặt ra cho Thánh đoàn một vấn đề khác. Làm sao có thể cho phép điều này diễn ra an toàn, đồng thời tin cậy nhân loại trong niềm khao khát mãnh liệt của họ đối với chân lý thuần khiết?

62. The problem remains to this day and is especially acute in relation to the secrets of atomic energy.

62. Vấn đề này vẫn còn tồn tại đến ngày nay và đặc biệt gay gắt đối với các bí nhiệm của năng lượng nguyên tử.

Revelation brings responsibility, and ofttimes danger.

Sự mặc khải mang lại trách nhiệm, và thường cả nguy hiểm.

63. We are precisely at the danger point. Immense destructive power is now in the hands of an immature humanity.

63. Chúng ta đang ở chính điểm nguy hiểm ấy. Quyền năng hủy diệt khổng lồ hiện nằm trong tay một nhân loại chưa trưởng thành.

Men, as individuals, can grasp certain of these truths of initiation and use them for themselves with impunity, but their revelation to the unready might involve serious risks.

Với tư cách cá nhân, con người có thể nắm bắt một số chân lý điểm đạo này và sử dụng chúng cho bản thân mà không chịu hậu quả bất lợi, nhưng việc mặc khải chúng cho những người chưa sẵn sàng có thể kéo theo những rủi ro nghiêm trọng.

64. It is not generally appreciated how many lifetimes of development may separate one human being from another. Evolutionary gains are ‘hardly won’ and the necessary training period cannot be unduly hastened.

64. Người ta thường không nhận thức đầy đủ rằng giữa người này với người khác có thể cách nhau nhiều kiếp sống phát triển đến mức nào. Những thành quả tiến hoá phải “khó nhọc mới giành được”, và không thể đẩy nhanh quá mức thời gian huấn luyện cần thiết.

65. We can see the protective nature of one of the aspects of “occult silence”.

65. Chúng ta có thể thấy bản chất bảo vệ của một trong các phương diện của “sự im lặng huyền bí”.

It was therefore decided that a truer picture of the nature of discipleship should be imparted to the waiting aspirant, the misunderstood principle of occult obedience should be "soft-pedalled" (if I may use such a word), and men should be set "free for penetration"—as it is called—and be taught the needed reticence through testing and experience.

Vì vậy, quyết định đã được đưa ra là nên truyền đạt cho người chí nguyện đang chờ đợi một bức tranh chân thực hơn về bản chất của địa vị đệ tử, nên “giảm nhẹ sự nhấn mạnh” vào nguyên khí tuân phục huyền bí vốn đã bị hiểu lầm—nếu Tôi có thể dùng cách nói ấy—và nên để con người được “tự do thâm nhập”, như cách gọi thường dùng, đồng thời dạy họ sự kín tiếng cần thiết qua thử thách và kinh nghiệm.

66. An educational process was undertaken.

66. Một tiến trình giáo dục đã được thực hiện.

67. The Age of Pisces was in some respects the ‘Age of Faith and Obedience’. A more independent type of disciple needed to be cultivated. The principle of “occult obedience” had been misunderstood—understood in an authoritarian manner.

67. Theo một vài phương diện, Kỷ Nguyên Song Ngư là “Kỷ Nguyên của Đức Tin và Sự Tuân Phục”. Cần đào tạo một mẫu đệ tử độc lập hơn. Nguyên khí “tuân phục huyền bí” đã bị hiểu sai—bị hiểu theo cách độc đoán.

68. Reticence is always needed in relation to occult matters, but should that reticence be imposed or should it be learned “through testing and experience”? The latter approach was chosen.

68. Đối với các vấn đề huyền bí, sự kín đáo luôn cần thiết; nhưng nên áp đặt sự kín đáo ấy, hay nên học điều đó “qua thử thách và kinh nghiệm”? Cách tiếp cận thứ hai đã được chọn.

69. Humanity was liberated to ‘test its mettle’. Increasingly this will be the way as humanity’s maturity is recognized.

69. Nhân loại được tự do “thử thách bản lĩnh của mình”. Khi sự trưởng thành của nhân loại được công nhận, cách này sẽ ngày càng được áp dụng.

It is interesting to note that the cycle now being inaugurated in the world is that of "Growth through Sharing,"

Thật đáng chú ý rằng chu kỳ hiện đang khởi đầu trên thế giới là chu kỳ “Tăng Trưởng qua Chia Sẻ”,

70. This is clearly an Aquarian modality—Aquarius, the sign of sharing. The esoteric ruler of Aquarius, Jupiter, is also suggested, as Jupiter is the planet of growth.

70. Đây rõ ràng là một phương thức của Bảo Bình—Bảo Bình, dấu hiệu của sự chia sẻ. Điều này cũng gợi đến chủ tinh nội môn của Bảo Bình là Sao Mộc, vì Sao Mộc là hành tinh của sự phát triển.

and that advanced humanity can now share the work,

và nhân loại tiến bộ giờ đây có thể chia sẻ công việc,

71. Advanced humanity is the humanity that can respond to the esoteric rulers of the signs.

71. Nhân loại tiến bộ là bộ phận nhân loại có thể đáp ứng với các chủ tinh nội môn của những dấu hiệu hoàng đạo.

the responsibility and the trained reticence of the Hierarchy,

trách nhiệm và sự kín tiếng được rèn luyện của Thánh đoàn;

72. Let us tabulate that in which humanity can share:

72. Chúng ta hãy liệt kê những điều nhân loại có thể cùng đảm nhận:

a. The work of Hierarchy

a. Công việc của Thánh đoàn

b. The responsibility of Hierarchy

b. Trách nhiệm của Thánh đoàn

c. The trained reticence of Hierarchy

c. Sự kín đáo đã qua rèn luyện của Thánh đoàn

73. “Trained reticence” is an interesting term as it suggests a reticence that is completely in control and well adapted to all circumstances. It is not the reticence of cowardice or ignorance. Trained reticence and occult silence go hand in hand.

73. “Sự kín đáo đã qua rèn luyện” là một thuật ngữ thú vị vì nó gợi đến một sự kín đáo hoàn toàn có kiểm soát và thích ứng tốt với mọi hoàn cảnh. Đó không phải là sự kín đáo do hèn nhát hay vô minh. Sự kín đáo đã qua rèn luyện và sự im lặng huyền bí luôn đi đôi với nhau.

whilst paralleling this and simultaneously, the mass of men are [317] learning the lessons of economic sharing; and, my brothers, in this lies the sole hope of the world.

song song và đồng thời với điều này, đông đảo con người đang [317] học những bài học về chia sẻ kinh tế; và, các huynh đệ của Tôi, chính trong điều này có niềm hy vọng duy nhất của thế giới.

74. This is a lesson which has not been learnt. Gross economic inequality is a breeding ground for war. It almost seems as if humanity must be forced into sharing as a last resort for survival. Perhaps, Saturn, in relation to Aquarius will do the forcing.

74. Đây là một bài học vẫn chưa được học thấu đáo. Bất bình đẳng kinh tế nghiêm trọng là mảnh đất nuôi dưỡng chiến tranh. Gần như có vẻ nhân loại phải bị buộc chia sẻ như giải pháp cuối cùng để sinh tồn. Có lẽ Sao Thổ, trong mối liên hệ với Bảo Bình, sẽ tạo ra sức ép ấy.

75. If economic sharing cannot be instituted, perhaps the sharing of evil karmic results (generated by mistreatment of the global environment) will be substituted. It will still be sharing— the“Ancient Law of Evil Sharing” (EH 30).

75. Nếu không thể thiết lập việc chia sẻ kinh tế, có lẽ việc cùng gánh chịu những hậu quả nghiệp bất thiện (do sự ngược đãi môi trường toàn cầu gây ra) sẽ thay thế. Đó vẫn sẽ là sự chia sẻ— “Định Luật Cổ Xưa về Việc Cùng Gánh Chịu Điều Ác” (EH 30).

Every initiation to which disciples are admitted permits this closer occult sharing in the hierarchical life.

Mỗi cuộc điểm đạo mà các đệ tử được tiếp nhận đều cho phép sự chia sẻ huyền bí mật thiết hơn này trong đời sống Thánh đoàn.

76. We have here the prescription for the “Life more Abundant”.

76. Ở đây, chúng ta có phương cách để đạt được “Sự Sống Dồi Dào Hơn”.

This involves, for advanced humanity, a noticeable increase in vitality and in vital tension and potency.

Đối với nhân loại tiến bộ, điều này bao hàm sự gia tăng rõ rệt về sinh lực, sức căng sinh lực và uy lực.

77. This increase in vital tension and potency is the result of the great stimulation to which more advanced people are subjected. Can people rightly handle the stimulation—this is the question.

77. Sự gia tăng sức căng sinh lực và sức mạnh này là kết quả của sự kích thích lớn lao mà những người tiến bộ hơn tiếp nhận. Liệu con người có thể xử lý đúng đắn sự kích thích ấy hay không—đó là vấn đề.

Its reflection among the masses is shown in the constant demand for speed and in the enormous speeding up of the life of mankind in every department of living. This speeding up synchronises with the increasing readiness of disciples everywhere for initiation—according to their status and developed ability.

Sự phản ánh của nó trong quần chúng thể hiện qua đòi hỏi không ngừng về tốc độ và sự gia tăng tốc độ to lớn của đời sống nhân loại trong mọi lĩnh vực sinh hoạt. Sự tăng tốc này diễn ra đồng bộ với mức độ sẵn sàng ngày càng cao của các đệ tử ở khắp nơi đối với điểm đạo—tùy theo địa vị và năng lực đã phát triển của họ.

78. We read of the speeding up of time, of individual and racial accomplishment (for good or evil) of far more in a shorter period of time. The Mayan Prophesies have something of great interest to say about this “speeding up”.

78. Chúng ta đọc thấy rằng thời gian đang tăng tốc, rằng cá nhân và nhân loại đạt được nhiều thành quả hơn hẳn (dù thiện hay ác) trong một khoảng thời gian ngắn hơn. Những Lời Tiên Tri của người Maya có những điều rất đáng chú ý về sự “tăng tốc” này.

79. The problem of overstimulation accompanies the problem of ever-increasing speed. Subconsciously, people feel the urgency (and opportunity) of the times. They demand the more be achieved in a time shorter than ever thought possible. They realize, for the most part subconsciously, that “the hour is now” and that such a moment of acceleration may not soon come again.

79. Vấn đề kích thích quá mức đi kèm với vấn đề tốc độ ngày càng gia tăng. Trong tiềm thức, con người cảm nhận sự cấp bách (và cơ hội) của thời đại. Họ đòi hỏi phải đạt được nhiều hơn trong một thời gian ngắn hơn bất cứ điều gì từng được cho là có thể. Phần lớn họ nhận ra một cách vô thức rằng “thời điểm là bây giờ” và một thời khắc tăng tốc như thế có thể sẽ không sớm trở lại.

80. Disciples, especially, should be ready to seize the opportunity presented by the years 1965-2025—the Period of the Forerunner.

80. Đặc biệt, các đệ tử nên sẵn sàng nắm bắt cơ hội mà những năm 1965-2025 mang lại—Thời Kỳ của Đấng Tiền Phong.

The difference, brother of mine, between the past and the present readiness lies in the fact that in the past this readiness was a purely individual matter; today it is something which is closely related to a man's group, and the individual aspect is of secondary importance.

Huynh đệ của tôi, sự khác biệt giữa mức độ sẵn sàng trong quá khứ và hiện tại nằm ở chỗ: trước kia, sự sẵn sàng ấy hoàn toàn là vấn đề cá nhân; ngày nay, đó là điều liên hệ mật thiết với nhóm của một người, và phương diện cá nhân có tầm quan trọng thứ yếu.

81. This is why it is so important for modern spiritual groups to succeed and to realize when they are failing to so do so that they may avert failure.

81. Đó là lý do vì sao các nhóm tinh thần hiện đại cần thành công và cần nhận ra khi mình chưa thành công, để có thể ngăn ngừa thất bại.

82. As we examine today’s spiritual and esoteric groups, what is our assessment? Are they succeeding or failing and why? Or are we not in a position to determine the question?

82. Khi khảo sát các nhóm tinh thần và huyền bí ngày nay, chúng ta đánh giá thế nào? Họ đang thành công hay thất bại, và tại sao? Hay chúng ta chưa đủ khả năng để xác định điều đó?

83. Surely a deepening sense of group responsibility will be awakened by these thoughts.

83. Chắc chắn những suy nghĩ này sẽ đánh thức một ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm nhóm.

As time and speed increase in importance for the masses of men, the disciple (ready for initiation) regards his personal advancement upon the Path as of less importance than his developed capacity to serve his fellowmen, serving them through the group with which he may be affiliated and to which he may be drawn.

Khi thời gian và tốc độ ngày càng trở nên quan trọng đối với đông đảo con người, người đệ tử sẵn sàng cho điểm đạo lại xem sự tiến bộ cá nhân của mình trên Đường Đạo kém quan trọng hơn năng lực phụng sự đồng loại mà y đã phát triển, phụng sự họ thông qua nhóm mà y có thể liên kết và được thu hút đến.

84. Here is a vital statement. A sense of urgency and the realization that greater speed is now possible could increase in the average human being the sense of ambition. This is not allowed in the disciple. The true disciple will withdraw his “application and forget it has been made” in the attempt to aid his fellow human beings. If he succeeds in this, his fitness for initiation will grow rapidly.

84. Đây là một phát biểu thiết yếu. Cảm thức cấp bách và sự nhận biết rằng hiện nay có thể đạt tốc độ lớn hơn có thể làm gia tăng tham vọng nơi người bình thường. Điều này không được phép nơi người đệ tử. Người đệ tử chân chính sẽ rút “đơn xin và quên rằng mình đã nộp đơn” trong nỗ lực trợ giúp đồng loại. Nếu làm được điều này, y sẽ nhanh chóng trở nên xứng đáng hơn với điểm đạo.

85. Ambition is for those who are still personality centered. The disciple, having fulfilled most personality desires and intentions, understands them as completely secondary to the opportunity for successful service which today’s uniquely stressful conditions bring.

85. Tham vọng dành cho những người vẫn lấy phàm ngã làm trung tâm. Sau khi đã thỏa mãn phần lớn những ham muốn và ý định của phàm ngã, người đệ tử thấu hiểu rằng chúng hoàn toàn thứ yếu so với cơ hội phụng sự thành công mà những hoàn cảnh căng thẳng đặc biệt của thời nay mang lại.

For the disciple facing the first two initiations, this group will be some exoteric body of men who claim his allegiance and in which he learns group cooperation and methods of working;

Đối với người đệ tử đang đối diện hai lần điểm đạo đầu tiên, nhóm này sẽ là một đoàn thể ngoại môn nào đó đòi hỏi sự trung thành của y, nơi y học sự hợp tác nhóm và các phương pháp làm việc;

86. Here we learn one of the means of distinguishing the disciple in the relatively early stages of training from the advanced disciple.

86. Ở đây, chúng ta học được một trong những cách phân biệt người đệ tử ở các giai đoạn huấn luyện tương đối ban đầu với người đệ tử tiến bộ.

87. The attitude of the advanced disciple is increasingly esoteric.

87. Thái độ của người đệ tử tiến bộ ngày càng mang tính nội môn.

for the more advanced disciple, it is the Ashram and direct service under the instigation of some Master.

đối với người đệ tử tiến bộ hơn, đó là ashram và sự phụng sự trực tiếp theo sự thúc đẩy của một Chân sư nào đó.

88. It is the Ashram which claims the allegiance of the advanced disciple and not, specifically, an exoteric group, though he may certainly work through such a group or groups.

88. Chính ashram đòi hỏi lòng trung thành của người đệ tử tiến bộ, chứ không phải riêng một nhóm ngoại môn nào, dù chắc chắn y có thể làm việc thông qua một hay nhiều nhóm như thế.

89. The average disciple learns from the “exoteric body of men who claim his allegiance”. The advanced disciple learns from the Ashram.

89. Người đệ tử trung bình học từ “đoàn thể ngoại môn đòi hỏi lòng trung thành của y”. Người đệ tử tiến bộ học từ ashram.

I have in the above paragraphs given you a number of ideas which, though not new in their stating, are new in their reference. This is of importance for you to remember—or discover?

Trong các đoạn trên, Tôi đã trao cho các bạn một số ý tưởng, tuy không mới về cách phát biểu, nhưng lại mới về điều chúng quy chiếu đến. Điều này quan trọng để các bạn ghi nhớ—hay khám phá?

90. A familiar subject re-presented from fresh angles of vision can prove illuminating. Have we been at all illumined through our reading of the foregoing?

90. Một chủ đề quen thuộc được trình bày lại từ những góc nhìn mới có thể mang lại sự soi sáng. Liệu việc đọc phần trên đã mang lại chút soi sáng nào cho chúng ta chưa?

The significance of sharing and the relation of spiritual development to speed are points of importance to emphasise. Much that I have said above has a close connection with the hint given on pages 302-3. I suggest that you look it up.

Thâm nghĩa của sự chia sẻ và mối liên hệ giữa sự phát triển tinh thần với tốc độ là những điểm quan trọng cần nhấn mạnh. Phần lớn những điều Tôi đã nói ở trên có liên hệ mật thiết với gợi ý ở các trang 302-3. Tôi đề nghị các bạn tra lại.

91. There are several hints given on pp. 302-303 of DINA II. Perhaps the following hint emphasizing the will fits well with the information given in this section:

91. Có một số gợi ý ở các trang 302-303 của DINA II. Có lẽ gợi ý sau đây, nhấn mạnh ý chí, phù hợp với thông tin trong phần này:

2. That human planning and thinking, as the future is faced, are the first indications in the history of mankind of the emergence of the will aspect. Can you answer the question: Why is this indicated? (DINA II 302)

2. Việc lập kế hoạch và tư duy của con người khi hướng tới tương lai là những dấu hiệu đầu tiên trong lịch sử nhân loại về sự xuất hiện của phương diện ý chí. Các bạn có thể trả lời câu hỏi: Tại sao điều này được chỉ ra không? (DINA II 302)

92. The sacrifice entailed in sharing and the increased inner pressure which works out as the demand for speed are both evidences of the emergence of the will aspect.

92. Sự hi sinh mà việc chia sẻ đòi hỏi và áp lực bên trong gia tăng, biểu hiện thành nhu cầu về tốc độ, đều là bằng chứng cho sự xuất hiện của phương diện ý chí.

ON HINTS

VỀ CÁC GỢI Ý

I have continually laid the emphasis upon the need of [318] disciples to think esoterically, and this is perhaps the most difficult demand that I can make upon you.

Tôi đã liên tục nhấn mạnh sự cần thiết để [318] các đệ tử suy nghĩ một cách huyền bí, và có lẽ đây là yêu cầu khó khăn nhất mà Tôi có thể đặt ra cho các bạn.

93. We may think that we think esoterically, but this would involve the relatively completed antahkarana and a facility for abstract-intuitive thought which is rare to find.

93. Chúng ta có thể nghĩ rằng mình tư duy một cách huyền bí, nhưng điều này đòi hỏi antahkarana tương đối hoàn chỉnh và năng lực tư duy trừu tượng–trực giác vốn hiếm gặp.

A consideration of these hints should teach you much, for they are not what they seem upon superficial reading, and the effort to understand and to interpret should lead you far on your way towards "occult thinking."

Việc suy xét những gợi ý này hẳn sẽ dạy các bạn nhiều điều, bởi chúng không phải như vẻ ngoài khi đọc lướt, và nỗ lực thấu hiểu cũng như diễn giải sẽ đưa các bạn tiến xa trên con đường hướng đến “tư duy huyền bí”.

94. A hint takes us ever into the new by means of uncharted paths. How shall we learn to enter the worlds of meaning, significance, being and cause?

94. Một gợi ý luôn đưa chúng ta vào cái mới qua những con đường chưa được khám phá. Chúng ta sẽ học cách bước vào các thế giới của ý nghĩa, thâm nghĩa, bản thể và nguyên nhân như thế nào?

95. No truly occult thinker is superficial in his thought; we are being warned against superficiality of thought. Perhaps a superficial approach is our first and almost instinctive approach. Caution is advised.

95. Không một nhà tư tưởng huyền bí thực sự nào lại hời hợt trong suy nghĩ; chúng ta đang được cảnh báo tránh sự hời hợt trong tư duy. Có lẽ cách tiếp cận hời hợt là cách tiếp cận đầu tiên và gần như mang tính bản năng của chúng ta. Chúng ta được khuyên nên thận trọng.

The Masters do not convey teaching through the medium of hints which could be safely given in a more open form.

Các Chân sư không dùng gợi ý để truyền đạt những giáo huấn có thể an toàn đưa ra dưới hình thức công khai hơn.

96. To do so would be against the Law of Economy.

96. Làm như vậy sẽ trái với Định luật Tiết Kiệm.

They have no intention at any time to be mysterious or to hold back teaching from the enquirer.

Không bao giờ Các Ngài có ý định tỏ ra bí hiểm hay giữ lại giáo huấn đối với người tìm hiểu.

97. Only superficiality of thought and the inability to understand what may lie concealed in a hint could lead to such an erroneous conclusion.

97. Chỉ sự hời hợt trong tư duy và việc không thể thấu hiểu những điều có thể ẩn trong một gợi ý mới dẫn đến một kết luận sai lầm như thế.

98. Surrounding our teaching is a misapprehension we might call “the glamor of the mysterious”. It is corrected by a clear mind capable of common sense.

98. Bao quanh giáo huấn của chúng ta là một sự ngộ nhận mà chúng ta có thể gọi là “ảo cảm về sự bí ẩn”. Một thể trí sáng rõ, có khả năng suy xét theo lẽ thường, sẽ chỉnh sửa sự ngộ nhận ấy.

Their method is, in reality, threefold:

Trên thực tế, phương pháp của Các Ngài có ba phần:

99. We are speaking of the method of imparting the Teaching.

99. Chúng ta đang nói về phương pháp truyền đạt Giáo Huấn.

1. The presentation of those truths which obviously grow out of a recognition of truths already presented. There is here usually a close adherence to the esoteric teaching of the time, and this method is essentially a linking presentation.

1. Trình bày những chân lý hiển nhiên phát sinh từ sự nhận biết các chân lý đã được trình bày. Ở đây thường có sự tuân thủ chặt chẽ giáo huấn nội môn của thời đại, và về căn bản, phương pháp này là một cách trình bày liên kết.

100. The powers of Saturn and Mercury are here involved. Saturn provides continuity and Mercury the “linking presentation”.

100. Các quyền năng của Sao Thổ và Sao Thủy tham gia vào đây. Sao Thổ mang lại tính liên tục, còn Sao Thủy mang lại “cách trình bày có tính liên kết”.

101. The Masters in Their general presentation do not seek to be radically Uranian—to cause shock and awe. This would only stimulate credulity and an unbalanced love of the sensational. It would also disrupt a necessary access to that which is of established value.

101. Trong cách trình bày chung, các Chân sư không tìm cách thể hiện tính chất Sao Thiên Vương một cách cực đoan—gây chấn động và kinh ngạc. Điều này chỉ kích thích sự cả tin và lòng ham thích mất cân bằng đối với những gì giật gân. Nó cũng sẽ làm gián đoạn sự tiếp cận cần thiết với những điều đã được xác lập là có giá trị.

102. The valuable teaching of the past is not to be discarded. The bridging of the fourth ray (under Mercury) is to be utilized. In this way no dangerous gaps or breaks appear in the sequence of the teaching. Why throw away that which is of value? The Masters ever work for the “preservation of values” (a first ray approach).

102. Không được loại bỏ giáo huấn có giá trị của quá khứ. Cần vận dụng khả năng bắc cầu của cung bốn (dưới Sao Thủy). Bằng cách này, trong trình tự của giáo huấn sẽ không xuất hiện những khoảng trống hay đứt đoạn nguy hiểm. Tại sao lại vứt bỏ điều có giá trị? Các Chân sư luôn làm việc vì sự “bảo tồn các giá trị” (một cách tiếp cận của cung một).

2. Occasionally (usually once in a century after Their Conclave at the close of the first quarter) there is the imparting of a more advanced body of teaching.

2. Thỉnh thoảng—thường là một lần trong mỗi thế kỷ, sau Mật Nghị của Các Ngài vào cuối phần tư đầu tiên—một hệ thống giáo huấn tiến bộ hơn được truyền đạt.

103. It is not always the case. It was so during the 20th century and will be so (so we are told) in the 21st century as well.

103. Không phải lúc nào cũng như vậy. Điều đó đã diễn ra trong thế kỷ 20 và sẽ diễn ra (theo những gì chúng ta được cho biết) trong thế kỷ 21 nữa.

104. I think we can all see the Teaching that came through Alice A. Bailey in this light.

104. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có thể nhìn Giáo Huấn được truyền qua Alice A. Bailey dưới ánh sáng này.

105. The Teaching had begun in 1919 but an entirely more advanced presentation appeared in 1925 with the publishing of A Treatise on Cosmic Fire.

105. Giáo Huấn đã bắt đầu được truyền từ năm 1919, nhưng một cách trình bày ở cấp độ tiến bộ hơn hẳn đã xuất hiện vào năm 1925 với việc xuất bản Luận về Lửa Vũ Trụ.

This teaching will only be recognised by a few of the foremost disciples in the world;

Chỉ một số ít các đệ tử hàng đầu trên thế giới mới nhận ra giáo huấn này;

106. Will this be the case with the Teaching in the 21st century? Let us hope that sufficient numbers of disciples will be trained for more rapid recognition.

106. Liệu điều này cũng sẽ xảy ra với Giáo Huấn trong thế kỷ 21 không? Chúng ta hãy hy vọng rằng sẽ có đủ số lượng đệ tử được huấn luyện để nhận biết nhanh hơn.

107. Still, the number of serious, esoteric disciples in today’s world is relatively small. Can their number be increased significantly by 2025?

107. Tuy vậy, số đệ tử nội môn nghiêm túc trong thế giới ngày nay còn tương đối ít. Liệu số lượng ấy có thể gia tăng đáng kể vào năm 2025 không?

it will, however, prove to be the ordinary form of occult teaching during the next developing cycle. It is this type of work which I have been endeavouring to do with the aid of A.A.B.

tuy nhiên, nó sẽ trở thành hình thức giáo huấn huyền bí thông thường trong chu kỳ phát triển kế tiếp. Đây là loại công việc mà Tôi đã cố gắng thực hiện với sự trợ giúp của A.A.B.

108. Has “the next developing cycle” already occurred? Has the Teaching which the Tibetan provided through AAB become the “ordinary form of occult teaching”, or are we speaking of future developments?

108. “Chu kỳ phát triển kế tiếp” đã diễn ra chưa? Giáo Huấn mà Chân sư Tây Tạng ban truyền qua AAB đã trở thành “hình thức giáo huấn huyền bí thông thường” chưa, hay chúng ta đang nói về những diễn biến trong tương lai?

109. There are still many who think the AAB work is difficult if not impenetrable, so much remains to be done to promote its wider assimilation.

109. Vẫn còn nhiều người cho rằng công trình của AAB khó hiểu, thậm chí không thể thấu hiểu, vì thế còn nhiều việc phải làm để thúc đẩy sự tiếp thu rộng rãi hơn đối với công trình ấy.

3. There is also the teaching which is definitely given within the Ashram, and which is not, at the time when the other two forms are prevalent, reduced to writing;

3. Cũng có giáo huấn được truyền dạy rõ ràng trong ashram, và vào thời điểm hai hình thức kia đang phổ biến, giáo huấn này chưa được ghi thành văn;

110. To discern this manner of teaching requires a conscious ashramic affiliation and a reliable intuition. This type of teaching is of a far more esoteric nature.

110. Để phân biện tinh thần được cách giáo huấn này, cần có sự gắn kết hữu thức với ashram và một trực giác đáng tin cậy. Loại giáo huấn này có bản chất nội môn sâu xa hơn nhiều.

111. We remember that, essentially, an Ashram is “the state of mind of a spiritual group. It is a point of united thought; it is a centre for the clarification of the vision and not of physical plane methods of work.” (DINA I 707) It is a certain point of tension and reflects a certain ray quality. It is important that we de-materialize our conceptions of the nature of an Ashram.

111. Chúng ta nhớ rằng, về bản chất, một ashram là“trạng thái thể trí của một nhóm tinh thần. Đó là một điểm tư tưởng hợp nhất; đó là một trung tâm làm sáng rõ tầm nhìn, chứ không phải các phương pháp làm việc trên cõi hồng trần.” (DINA I 707)Đó là một điểm tập trung nhất tâm nhất định và phản ánh một phẩm tính cung nhất định. Điều quan trọng là chúng ta phải loại bỏ tính vật chất khỏi những quan niệm của mình về bản chất của một ashram.

112. Hence, in the right “state of mind” or at a sufficient “point of tension”, one can receive “teaching which is definitely given within the Ashram” by those who successfully sustain that state of mind or point of tension.

112. Do đó, trong “trạng thái thể trí” đúng đắn hoặc tại một “điểm tập trung nhất tâm” đủ mức, người ta có thể tiếp nhận “giáo huấn được ban truyền riêng trong ashram” từ những người duy trì thành công trạng thái thể trí hay điểm tập trung nhất tâm ấy.

it will find its way out into expression as need arises and as opportunity is offered to the disciples who are its custodians.

nó sẽ tìm đường biểu lộ khi nhu cầu nảy sinh và khi cơ hội đến với những đệ tử gìn giữ nó.

113. Yes—if it is given, it must at length be appropriately be expressed, but it is not for popular, text-book consumption.

113. Đúng vậy—nếu đã được ban truyền, cuối cùng giáo huấn ấy phải được biểu đạt thích hợp, nhưng nó không dành cho việc tiếp thu đại chúng theo dạng sách giáo khoa.

Its presentation is dependent upon the unfoldment—rapid or slow—of the lesser disciples of the world.

Việc trình bày giáo huấn ấy tùy thuộc vào sự khai mở—nhanh hay chậm—của các đệ tử ở trình độ thấp hơn trên thế giới.

114. This is a most interesting statement and one of great importance. The lesser disciples evoke expression of the inner ashramic teaching from the more advanced disciples who are the custodians of that teaching. The advanced disciple is not allowed to come forth with it unless there is a demonstrated need for it. The demonstrated need (demonstrated through the lesser disciples) will call the deeper teaching forth. Otherwise, there would be the imposition of that which was premature and incapable of assimilation.

114. Đây là một phát biểu rất thú vị và hết sức quan trọng. Các đệ tử ở trình độ thấp hơn gợi lên sự biểu đạt giáo huấn nội tại của ashram từ các đệ tử tiến bộ hơn đang gìn giữ giáo huấn ấy. Người đệ tử tiến bộ không được phép đưa giáo huấn ấy ra trừ khi nhu cầu đối với nó đã được thể hiện rõ. Nhu cầu được thể hiện rõ (qua các đệ tử ở trình độ thấp hơn) sẽ khơi gọi giáo huấn sâu xa hơn xuất hiện. Nếu không, đó sẽ là sự áp đặt một điều còn quá sớm và chưa thể tiếp thu.

All these three methods are in use at this present time.

Cả ba phương pháp này hiện đều đang được sử dụng.

115. The three methods could be summarized as characterized by:

115. Có thể tóm tắt đặc điểm của ba phương pháp như sau:

a. Presenting the teaching in such a way as to respect occult continuity

a. Trình bày giáo huấn theo cách tôn trọng tính liên tục huyền bí

b. Release of more advanced teaching perhaps once in a century

b. Ban truyền giáo huấn tiến bộ hơn, có lẽ mỗi thế kỷ một lần

c. The impartation and evocation of internal ashramic teaching

c. Truyền đạt và gợi lên giáo huấn nội tại của ashram

As a man progresses nearer and nearer to his goal, he finds himself beginning to realise that the entire technique of this unfoldment consists of a sequence of revelations which are induced by his recognition of subjective significances which are of a nature entirely different to the usual and apparent meanings.

Khi một người ngày càng tiến gần mục tiêu của mình, y bắt đầu nhận ra rằng toàn bộ kỹ thuật của sự khai mở này gồm một chuỗi những sự mặc khải, được khơi lên do y nhận biết những thâm nghĩa chủ quan có bản chất hoàn toàn khác với các ý nghĩa thông thường và hiển nhiên.

116. As man approaches nearer and nearer to his goal his intuition is rapidly awakening. He is being taught from within— ‘in-tuition’.

116. Khi con người tiến ngày càng gần mục tiêu của mình, trực giác của y nhanh chóng thức tỉnh. Y được dạy từ bên trong—đó là sự dạy dỗ nội tại.

117. The method of teaching cannot be reduced to written form. He simply recognizes relationships and significances which previously escaped his attention.

117. Phương pháp giáo huấn này không thể được ghi thành văn bản. Y chỉ đơn giản nhận biết các mối liên hệ và thâm nghĩa trước đây đã thoát khỏi sự chú ý của mình.

118. That which is revealed is of a far greater depth than that which he had learned in a more conventional manner.

118. Điều được mặc khải có chiều sâu lớn hơn nhiều so với những gì y đã học theo cách thông thường hơn.

119. One must remain alert to the presence of the Inner Teacher and the often wordless ways in which the Teaching is communicated.

119. Cần luôn tỉnh thức trước sự hiện diện của vị Huấn Sư Bên Trong và những cách thức thường không dùng lời mà qua đó Giáo Huấn được truyền đạt.

120. There is an old saying given in A Treatise on White Magic: “Keep silence and the light will enter in.” (TWM 474)

120. Có một câu nói xưa được nêu trong Luận về Chánh Thuật: “Hãy giữ im lặng và ánh sáng sẽ đi vào.” (TWM 474)

121. In this method of teaching, the ‘heart’ is very active. The realm of pure reason is entered yet the teaching occurs through a process other than, and far more immediate than, reasoning as usually understood.

121. Trong phương pháp giáo huấn này, “tâm” hoạt động rất tích cực. Người ta bước vào lĩnh vực lý trí thuần khiết, nhưng giáo huấn diễn ra qua một tiến trình khác với, và trực tiếp hơn nhiều so với suy luận theo cách hiểu thông thường.

In the olden days, as you well know, [319] the Master would say to a disciple: "Here is a hint" and, having stated it, He would proceed to enjoin upon His disciple the necessity to withdraw and search for the true meaning until he found it; then, and only then, could he return for a consequent new hint.

Như các bạn đều biết, vào thời xưa, [319] Chân sư thường nói với một đệ tử: “Đây là một gợi ý”, và sau khi nêu ra, Ngài sẽ tiếp tục căn dặn đệ tử của mình về sự cần thiết phải lui về và tìm kiếm ý nghĩa đích thực cho đến khi tìm được; khi ấy, và chỉ khi ấy, y mới có thể trở lại để nhận một gợi ý mới nảy sinh từ đó.

122. This technique, we can understand, had great value, but in these more rapid and synthetic times is rarely used.

122. Chúng ta có thể hiểu rằng kỹ thuật này có giá trị lớn, nhưng trong thời đại nhanh hơn và mang tính tổng hợp hơn này, nó hiếm khi được sử dụng.

123. The imparted hint was meant to evoke the disciple’s intuition. When he returned to the Master with the result of his ponderings, presumably he would have travelled somewhat further along the Path of Re-cognition.

123. Gợi ý được truyền đạt nhằm khơi gợi trực giác của người đệ tử. Khi trở lại với Chân sư cùng kết quả suy ngẫm của mình, có lẽ y đã tiến xa hơn đôi chút trên Con Đường Tái Nhận Biết.

Today, this method is no longer being used, and this change constitutes one of the modes of training the disciples of the New Age. The modern disciple has to recognise the hint which is related to his point in consciousness and which is to be found in the mass of instruction made available for his use. He has to seek for the—to him—most deeply esoteric statement he encounters in the current teaching; from this isolated hint he has to abstract the significance, after removing it from its context; later, he must learn and profit from its meaning.

Ngày nay, phương pháp này không còn được sử dụng, và sự thay đổi ấy tạo thành một trong những phương thức huấn luyện đệ tử của Kỷ Nguyên Mới. Người đệ tử hiện đại phải nhận ra gợi ý liên hệ với điểm tâm thức của mình, nằm trong khối huấn thị dành cho y sử dụng. Y phải tìm kiếm phát biểu mà đối với y mang tính nội môn sâu xa nhất trong giáo huấn hiện hành; từ gợi ý riêng biệt ấy, sau khi tách nó khỏi văn cảnh, y phải rút ra thâm nghĩa; về sau, y phải học hỏi và thu được lợi ích từ ý nghĩa của nó.

124. One cannot emphasize too strongly the value of the method just presented.

124. Dù nhấn mạnh đến đâu cũng không thể nói hết giá trị của phương pháp vừa trình bày.

125. Let us tabulate the procedure:

125. Chúng ta hãy liệt kê quy trình:

a. The disciple recognizes in the mass of material he is studying a deeply esoteric statement which he takes as a hint

a. Trong khối tài liệu đang nghiên cứu, người đệ tử nhận biết một phát biểu sâu xa về mặt nội môn mà y xem là một gợi ý

b. He extracts from its context that which he recognizes as the hint

b. Y tách điều mình nhận biết là gợi ý ra khỏi ngữ cảnh

c. He abstracts the significance of the extracted hint

c. Y rút ra thâm nghĩa của gợi ý đã tách riêng

d. He learns to profit from the meaning of the hint he has extracted

d. Y học cách hưởng lợi từ ý nghĩa của gợi ý mà mình đã tách ra

126. This new method places great weight on the disciple’s enhanced powers of recognition and on his ability to proceed with the development of the extracted hint— on his own.

126. Phương pháp mới này đặt trọng tâm lớn vào năng lực nhận biết ngày càng cao của đệ tử và khả năng tiếp tục phát triển gợi ý đã rút ra— bằng chính sức mình.

127. This method calls for a new way of reading the occult teaching which has been presented to us; we are called to a new measure of alertness. We read in a manner increasingly alert to implications. May we call this method of reading, “Spiritual Reading”, and may we relate it to the siddhi called “Spiritual Discernment” (related to the third sub-plane of the mental plane)?

127. Phương pháp này đòi hỏi một cách đọc mới đối với giáo huấn huyền bí đã được trình bày cho chúng ta; chúng ta cần có một mức độ tỉnh thức mới. Chúng ta đọc với sự tỉnh thức ngày càng cao trước những hàm ý. Liệu chúng ta có thể gọi phương pháp đọc này là “Đọc theo Tinh thần”, và liên hệ nó với quyền năng gọi là “Phân biện Tinh thần” (có liên quan đến cõi phụ thứ ba của cõi trí) chăng?

128. It seems impossible to follow hints without the utilization of the powers of Mercury. We learn to read utilizing a deeper aspect of the Mercurial consciousness—that which connects to the buddhic realm.

128. Dường như không thể lần theo các gợi ý mà không vận dụng các quyền năng của Sao Thủy. Chúng ta học cách đọc bằng cách vận dụng một phương diện sâu hơn của tâm thức Sao Thủy—phương diện kết nối với cõi Bồ đề.

The hints given at this stage are related to the theme of revelation, or they concern themselves with the techniques which make revelation possible.

Những gợi ý được đưa ra ở giai đoạn này liên hệ với chủ đề mặc khải, hoặc đề cập đến những kỹ thuật khiến sự mặc khải trở nên khả hữu.

129. DK is alerting us to the nature of the hints which we may find imbedded in the material now being presented.

129. Chân sư DK đang lưu ý chúng ta về bản chất của những gợi ý mà chúng ta có thể tìm thấy ẩn trong tài liệu đang được trình bày.

130. As progressive revelations make initiation possible, the hints being imparted (if rightly recognized and developed) will throw light upon the Path of Initiation.

130. Vì những sự mặc khải nối tiếp nhau khiến điểm đạo trở nên khả thi, những gợi ý đang được truyền đạt (nếu được nhận biết và phát triển đúng đắn) sẽ soi sáng Con Đường Điểm Đạo.

The hint, for instance, with which you can work until you receive the next sequence of teaching is contained in this paragraph and the one above; you can discover it if you take each phrase, release your intuition and seek for meaning and significance related to the possibility of revelation.

Chẳng hạn, gợi ý mà các bạn có thể làm việc với cho đến khi nhận được phần giáo huấn tiếp theo nằm trong đoạn này và đoạn ngay trước; các bạn có thể khám phá nó nếu xem xét từng cụm từ, giải phóng trực giác của mình và tìm kiếm ý nghĩa cùng thâm nghĩa liên hệ với khả năng mặc khải.

131. We find the Tibetan using both methods of imparting hints. He has planted a hint in the text presently under consideration but tells us no more. There is a hint he wishes us to recognize, but we shall have to use the more advanced method of coming to terms with hints if recognition is to be ours.

131. Chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng sử dụng cả hai phương pháp truyền đạt gợi ý. Ngài đã đặt một gợi ý trong văn bản hiện đang được xem xét, nhưng không nói thêm điều gì với chúng ta. Có một gợi ý mà Ngài muốn chúng ta nhận biết, nhưng muốn nhận biết được nó, chúng ta sẽ phải sử dụng phương pháp cao hơn để nắm bắt các gợi ý.

132. He has given us the subject which the hint concerns; it will concern revelation or a technique which will make revelation possible.

132. Ngài đã cho chúng ta biết chủ đề mà gợi ý đề cập đến; nó sẽ liên quan đến sự mặc khải hoặc một kỹ thuật giúp sự mặc khải có thể xảy ra.

133. We are presented with a somewhat enigmatic approach and only our intuition will lead us to the correct recognition.

133. Chúng ta được giới thiệu một cách tiếp cận có phần bí ẩn, và chỉ trực giác mới dẫn chúng ta đến sự nhận biết đúng đắn.

134. It would be well to follow the Tibetan’s advice here and see what our intuition reveals. (Please pause here and try what He recommends. Without proceeding further, release your intuition and search for the hint.)

134. Chúng ta nên làm theo lời khuyên của Chân sư Tây Tạng ở đây và xem trực giác của mình mặc khải điều gì. (Xin hãy dừng lại ở đây và thử làm điều Ngài khuyến nghị. Đừng đọc tiếp, hãy giải phóng trực giác và tìm kiếm gợi ý.)

135. Having done so, having poured over the foregoing material, the disciple’s intuitive conclusions should be compared with the following:

135. Sau khi đã làm như vậy, sau khi nghiền ngẫm tài liệu trên, đệ tử nên đối chiếu những kết luận trực giác của mình với điều sau đây:

Hint VI.... The disciple must recognise the hint which is related to his point in consciousness.... My one effort is to indicate the relation between initiation and revelation.

Gợi ý VI.... Đệ tử phải nhận biết gợi ý có liên quan đến mức độ tâm thức của mình.... Nỗ lực duy nhất của Tôi là chỉ ra mối liên hệ giữa điểm đạo và mặc khải.

136. In fact, it will be recognized that the hint given concerns (in part) the recognition of hints.

136. Thực ra, chúng ta sẽ nhận ra rằng gợi ý được đưa ra có liên quan (một phần) đến việc nhận biết các gợi ý.

137. Following Hint VI shall we not discover that our conception of treading the Path of Initiation is altered?

137. Khi lần theo Gợi ý VI, chẳng phải chúng ta sẽ khám phá ra rằng quan niệm của mình về việc bước trên Con Đường Điểm Đạo đã thay đổi sao?

138. How do we pursue revelation? To answer this would be to answer the question, “How do we pursue initiation?”

138. Chúng ta theo đuổi sự mặc khải như thế nào? Trả lời điều này cũng chính là trả lời câu hỏi: “Chúng ta theo đuổi điểm đạo như thế nào?”

139. Have any of us isolated the one hint which is most suitable to lead us to that which is our next intended revelation?

139. Có ai trong chúng ta đã xác định riêng được gợi ý phù hợp nhất để dẫn mình đến sự mặc khải tiếp theo được dự định cho mình chưa?