← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

My one effort today is to indicate the relation between initiation and revelation.

Trích nội dung chương

140. This very sentence is the one which DK includes as part of Hint VI. Thus, the foregoing sentence is part of the Hint for which we have been searching intuitively. 140. Chính câu này là câu mà Chân sư DK đưa vào như một phần của Gợi ý VI. Như vậy, câu trên là một phần của Gợi ý mà chúng ta đã tìm kiếm bằng trực giác.


My one effort today is to indicate the relation between initiation and revelation.

Hôm nay, nỗ lực duy nhất của Tôi là chỉ ra mối liên hệ giữa điểm đạo và mặc khải.

140. This very sentence is the one which DK includes as part of Hint VI. Thus, the foregoing sentence is part of the Hint for which we have been searching intuitively.

140. Chính câu này là câu mà Chân sư DK đưa vào như một phần của Gợi ý VI. Như vậy, câu trên là một phần của Gợi ý mà chúng ta đã tìm kiếm bằng trực giác.

141. The Path of Initiation is a path of progressive unveiling. Do we know the nature of the veil before us? Do we recognize when we have lifted a veil?

141. Con Đường Điểm Đạo là con đường dần dần vén mở các bức màn. Chúng ta có biết bản chất của bức màn trước mắt mình không? Chúng ta có nhận ra khi mình đã vén được một bức màn không?

The revelation—induced by right orientation and right thinking—is a part of the training of the initiate, and many thus in training delay their progress by not recognising the revelation when it tops the line of their spiritual horizon.

Sự mặc khải—do định hướng đúng đắn và tư duy đúng đắn khơi lên—là một phần trong việc huấn luyện điểm đạo đồ, và nhiều người đang được huấn luyện như vậy làm chậm sự tiến bộ của mình vì không nhận ra sự mặc khải khi nó nhô lên trên đường chân trời tinh thần của họ.

142. Here is an amazing thought. The next revelation may have already topped the line of one’s spiritual horizon, and yet remain unrecognized.

142. Đây là một ý nghĩ đáng kinh ngạc. Sự mặc khải tiếp theo có thể đã nhô lên trên đường chân trời tinh thần của một người, nhưng vẫn chưa được nhận biết.

143. It is as if a revelation is not a revelation until it is recognized as such.

143. Dường như một sự mặc khải chưa phải là sự mặc khải cho đến khi người ta nhận biết nó đúng là như vậy.

144. We note that if we wish to induce revelation, we will have to demonstrate “right orientation and right thinking”. We could pause here to inquire as to the nature of a rightly oriented consciousness. As well, the words “right thinking” seem easy of apprehension, but what, really, do they mean?

144. Chúng ta lưu ý rằng nếu muốn khơi dậy sự mặc khải, chúng ta sẽ phải thể hiện “định hướng đúng đắn và tư duy đúng đắn”. Chúng ta có thể dừng lại ở đây để tìm hiểu bản chất của một tâm thức được định hướng đúng đắn. Tương tự, những từ “tư duy đúng đắn” có vẻ dễ nắm bắt, nhưng thực sự chúng hàm ý gì?

145. May it be that “right thinking” will not be achieved unless the abstract mind is activated and fertilized by the impression of pure reason?

145. Có thể nào “tư duy đúng đắn” sẽ không đạt được trừ khi trí trừu tượng được kích hoạt và nuôi dưỡng bằng ấn tượng của lý trí thuần khiết chăng?

Five hints have already been given to you, and I would like you to get their sequence, for it may prove valuable to you and to other disciples:

Năm gợi ý đã được trao cho các bạn, và Tôi muốn các bạn nắm được trình tự của chúng, vì điều đó có thể hữu ích cho các bạn và cho những đệ tử khác:

146. We have both an advantage and a disadvantage in studying this material after it has been completed. We are not in a position to work through the process because it is almost impossible for us to prevent ourselves from reading through the entirety of the assembled material. And yet, we have the advantage of an overview of the assembled thoughts.

146. Chúng ta có cả một thuận lợi lẫn một bất lợi khi nghiên cứu tài liệu này sau khi nó đã hoàn tất. Chúng ta không có điều kiện tự mình đi qua toàn bộ tiến trình, bởi gần như không thể ngăn mình đọc hết toàn bộ tài liệu đã được tập hợp. Tuy nhiên, chúng ta có lợi thế là nhìn bao quát được những tư tưởng đã tập hợp ấy.

147. Hereafter DK presents the first five Hints.

147. Sau đây, Chân sư DK trình bày năm Gợi ý đầu tiên.

1. That the changes brought about in the Hierarchy have been the work of the disciples of the world. Have you asked yourself (in studying this hint), Why the disciples?

1. Những thay đổi diễn ra trong Thánh đoàn là công việc của các đệ tử trên thế giới. Khi nghiên cứu gợi ý này, các bạn đã tự hỏi: Tại sao lại là các đệ tử?

148. Our great responsibility as disciples should be realized.

148. Chúng ta nên nhận ra trách nhiệm lớn lao của mình với tư cách là đệ tử.

2. That human world planning is today the first indication of the emergence of the will aspect. Why is this rightly so?

2. Việc hoạch định của nhân loại trên thế giới ngày nay là dấu hiệu đầu tiên cho thấy phương diện ý chí đang xuất hiện. Tại sao điều này lại đúng như vậy?

149. The factor of atma is entering human awareness. On the plane of atma we find both will and intelligence.

149. Yếu tố atma đang đi vào sự nhận biết của nhân loại. Trên cõi atma, chúng ta thấy cả ý chí lẫn trí thông tuệ.

150. We are led to inquire concerning the relationship between human planning and the Divine Plan.

150. Chúng ta được dẫn đến việc tìm hiểu mối liên hệ giữa sự hoạch định của nhân loại và Thiên Cơ.

[320]

[320]

3. That disciples in all the Ashrams have the task simultaneously of "modifying, qualifying and adapting the divine Plan." Why is this so? Why is the Plan not imposed?

3. Các đệ tử trong mọi ashram đều có nhiệm vụ đồng thời “điều chỉnh, phú thêm phẩm tính và thích nghi Thiên Cơ”. Tại sao lại như vậy? Tại sao Thiên Cơ không được áp đặt?

151. Speaking in alchemical terms, how would the “central electric life” ever be evoked in power if the Plan were imposed?

151. Nói theo thuật luyện kim, làm sao “sự sống điện trung tâm” có thể được gợi lên một cách mạnh mẽ nếu Thiên Cơ bị áp đặt?

152. Do we find ourselves involved with one or other of these acts—modifying, qualifying or adapting—or with all three simultaneously? Can we identify those events in our lives which reveal that we are engaging in one or another (or all) of these processes incumbent upon disciples?

152. Chúng ta có thấy mình đang tham gia vào một trong những hành động này—sửa đổi, phú phẩm tính hay thích ứng—hoặc đồng thời cả ba không? Chúng ta có thể nhận diện những sự kiện trong đời mình cho thấy chúng ta đang tham gia vào một hay một số (hoặc tất cả) những tiến trình thuộc trách nhiệm của đệ tử này không?

4. That the initiate knows because he works. What does this hint mean to you?

4. Điểm đạo đồ biết vì y làm việc. Gợi ý này hàm ý gì đối với các bạn?

153. Can we relate this hint to the fact that the initiate, upon entering the chamber of initiation, must move forward blindly?

153. Chúng ta có thể liên hệ gợi ý này với sự kiện rằng khi bước vào phòng điểm đạo, điểm đạo đồ phải tiến lên trong tình trạng không nhìn thấy gì không?

154. Do we think it is possible even to be told something which, merely because of the telling, will have deep and abiding significance for us? Will hearing, per se, and alone, ever lead to deep knowing?

154. Chúng ta có nghĩ rằng thậm chí mình có thể được cho biết một điều gì đó mà chỉ nhờ việc được cho biết, điều ấy sẽ mang thâm nghĩa sâu xa và bền vững đối với chúng ta không? Liệu chỉ riêng chính việc nghe có bao giờ dẫn đến sự biết sâu sắc không?

5. A key to the correct interpretation of a hint lies in its association with the idea of direction in time and space.

5. Một chìa khóa để diễn giải đúng một gợi ý nằm ở sự liên kết của nó với ý tưởng về phương hướng trong thời gian và không gian.

155. If we encounter an occult statement of great interest, yet it is dissociated from any sense of direction, can we consider that statement a hint?

155. Nếu gặp một phát biểu huyền bí rất đáng quan tâm nhưng lại tách rời mọi ý thức về phương hướng, liệu chúng ta có thể xem phát biểu ấy là một gợi ý không?

156. Do we recognize those occult statements which inspire in us a sense of inevitable direction in time and space?

156. Chúng ta có nhận biết những phát biểu huyền bí khơi dậy nơi mình ý thức về một phương hướng tất yếu trong thời gian và không gian không?

157. What have hints to do with the process of taking the next step upon the Path?

157. Các gợi ý có liên quan gì đến tiến trình bước bước tiếp theo trên Đường Đạo?

158. If a sense of direction is involved in the recognition of a hint, what have hints to do with stimulating the spiritual will?

158. Nếu việc nhận biết một gợi ý có liên quan đến ý thức về phương hướng, thì các gợi ý có liên quan gì đến việc kích thích ý chí tinh thần?

159. It would seem that the intuition should ever be in process, working upon the resolution-into-light of some obscurity. Do we sense that our intuition is thus employed as a background consideration to the more obvious processes occurring within our consciousness?

159. Dường như trực giác phải luôn hoạt động, chuyển một điều còn tối tăm nào đó thành ánh sáng. Chúng ta có cảm nhận rằng trực giác của mình đang được vận dụng như vậy, như một hoạt động nền phía sau những tiến trình rõ rệt hơn đang diễn ra trong tâm thức mình không?

Study these and see what is their relationship and what you feel is the inner meaning which they are intended to convey.

Hãy nghiên cứu những gợi ý này và xem chúng liên hệ với nhau như thế nào, cũng như các bạn cảm nhận đâu là ý nghĩa bên trong mà chúng nhằm truyền đạt.

160. We see that it is not enough to study this hints singly; rather they must be studied in relationship to each other.

160. Chúng ta thấy rằng nghiên cứu riêng từng gợi ý này là chưa đủ; đúng hơn, phải nghiên cứu chúng trong mối liên hệ với nhau.

161. Do we see that all of them seem to involve the will aspect, and that all of them are intended to move the disciple forward in time and space?

161. Chúng ta có thấy rằng tất cả dường như đều liên quan đến phương diện ý chí, và tất cả đều nhằm thúc đẩy đệ tử tiến lên trong thời gian và không gian không?

162. Do not all of them concern the disciple as an active, intelligent, willing agent of Hierarchy?

162. Chẳng phải tất cả đều liên quan đến đệ tử với tư cách một tác nhân tích cực, thông tuệ, có ý chí của Thánh đoàn sao?

THE FORMULAS

CÁC CÔNG THỨC

It might sometimes be remarked that these formulas are attempts by advanced aspirants to confine within due limits some of these escaped revelations.

Đôi khi có thể nhận xét rằng những công thức này là nỗ lực của các người chí nguyện tiến bộ nhằm giữ trong những giới hạn thích hợp một số sự mặc khải đã thoát ra này.

163. A startling thought! Who is the advanced aspirant? Surely the ones who conceived of the formulas were initiates of quite high degree as some of the formulas relate directly to the higher initiations.

163. Một ý nghĩ gây sửng sốt! Ai là người chí nguyện tiến bộ? Chắc hẳn những vị đã hình thành các công thức này là những điểm đạo đồ ở cấp độ khá cao, vì một số công thức liên quan trực tiếp đến những cuộc điểm đạo cao hơn.

164. What is the difference between an “escaped” and a “confined” revelation? Is it not an act of service to confine a revelation so that it will be more readily recognized and assimilable by those who follow after?

164. Có gì khác nhau giữa một sự mặc khải đã “thoát ra” và một sự mặc khải được “giới hạn”? Chẳng phải giới hạn một sự mặc khải để những người đến sau dễ nhận biết và lĩnh hội hơn là một hành động phụng sự sao?

165. This brings us to the question of the degree to which we can be assisted in the task of recognizing revelation. Probably, to some degree we can be helped. For this reason, the Teaching of the Ageless Wisdom exists.

165. Điều này đưa chúng ta đến câu hỏi: chúng ta có thể được trợ giúp đến mức nào trong nhiệm vụ nhận biết sự mặc khải? Có lẽ chúng ta có thể được trợ giúp ở một mức độ nào đó. Chính vì lý do này mà Giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời hiện hữu.

166. Is it dawning upon the consciousness that we are dealing with matters both extremely subtle and internal? An understanding of revelation and initiation is approached in this manner.

166. Có phải tâm thức đang bắt đầu nhận ra rằng chúng ta đang đề cập đến những vấn đề vừa cực kỳ vi tế vừa thuộc nội giới? Chúng ta tiếp cận sự thấu hiểu về mặc khải và điểm đạo theo cách này.

They express a past, indicate a revelation, and ground the thinking aspirant in the world of meaning because it is in that world that he must learn to work and live;

Chúng diễn đạt một quá khứ, chỉ ra một sự mặc khải và giúp người chí nguyện biết suy nghĩ đứng vững trong Thế giới của ý nghĩa, bởi chính trong thế giới ấy y phải học cách làm việc và sống;

167. Let us tabulate three functions of the formulas:

167. Chúng ta hãy liệt kê ba chức năng của các công thức:

a. They express a past

a. Chúng biểu đạt một quá khứ

b. They indicate a revelation

b. Chúng chỉ ra một sự mặc khải

c. They ground the thinking aspirant in the world of meaning

c. Chúng đặt nền tảng vững chắc cho người chí nguyện biết tư duy trong Thế giới của ý nghĩa

168. The aspirant must think; this is apparent.

168. Người chí nguyện phải tư duy; điều này là hiển nhiên.

169. The world of meaning is the world of the soul. For entry into that world, thought is necessary, for what we usually call the soul is focussed on the higher mental plane.

169. Thế giới của ý nghĩa là thế giới của linh hồn. Để bước vào thế giới ấy, tư tưởng là điều cần thiết, bởi điều chúng ta thường gọi là linh hồn tập trung trên Cõi thượng trí.

170. The formulas indicate a Path of Revelation which many have trodden—in the past. These formulas present to the inquiring consciousness the potential to experience a revelation which many have experienced before.

170. Các công thức chỉ ra một Con Đường Mặc Khải mà nhiều người đã bước qua—trong quá khứ. Những công thức này mở ra cho tâm thức đang tìm hiểu khả năng trải nghiệm một sự mặc khải mà nhiều người trước đây đã trải nghiệm.

171. The formulas, therefore, guide the consciousness towards revelation without imposing revelation.

171. Vì vậy, các công thức dẫn dắt tâm thức hướng đến sự mặc khải mà không áp đặt sự mặc khải.

172. It is not only aspirants who work in the world of meaning. The average disciple must also work within that world. The more advanced disciple must begin to work within the world of significance, which is triadal.

172. Không chỉ những người chí nguyện mới làm việc trong Thế giới của ý nghĩa. Đệ tử ở trình độ trung bình cũng phải làm việc trong thế giới ấy. Đệ tử tiến bộ hơn phải bắt đầu làm việc trong Thế giới của thâm nghĩa, vốn thuộc Tam Nguyên Tinh Thần.

it is from that world that he must begin now to work in two directions in time and space, for the world of meaning is the antechamber to the "Circle of Liberation."

chính từ thế giới ấy, giờ đây y phải bắt đầu làm việc theo hai hướng trong thời gian và không gian, bởi Thế giới của ý nghĩa là tiền sảnh của “Vòng Tròn Giải Thoát”.

173. Let us link the “Circle of Liberation” to the world of significance. When one can be truly polarized within that part of the spiritual triad which is found within the cosmic ethers, one has achieved liberation.

173. Chúng ta hãy liên kết “Vòng Giải Thoát” với Thế giới của thâm nghĩa. Khi một người có thể thực sự phân cực trong phần của Tam Nguyên Tinh Thần nằm trong các dĩ thái vũ trụ, người ấy đã đạt được giải thoát.

174. Sometimes we read of the “circle of buddhic life” and it is also possible to relate the “Circle of Liberation” to this buddhic circle. The fourth degree initiate, liberated from the need to incarnate in the human family, is free and polarized upon the buddhic plane.

174. Đôi khi chúng ta đọc thấy “vòng sự sống Bồ đề”, và cũng có thể liên hệ “Vòng Giải Thoát” với vòng Bồ đề này. Điểm đạo đồ bậc bốn, đã thoát khỏi nhu cầu nhập thể trong gia đình nhân loại, được tự do và phân cực trên cõi Bồ đề.

This "Circle of Liberation" is ever entered by the individual initiate, and has been down the ages, but now, for the first time, it is being entered by humanity itself and as a whole.

Từng điểm đạo đồ vẫn luôn bước vào “Vòng Tròn Giải Thoát” này, và đã như vậy qua các thời đại, nhưng giờ đây, lần đầu tiên, chính nhân loại với tư cách một toàn thể đang bước vào đó.

175. It would seem that the outer periphery of the “Circle of Liberation” includes the entire Kingdom of the Soul, entered at the first initiation—the Birth.

175. Dường như chu vi bên ngoài của “Vòng Giải Thoát” bao gồm toàn bộ Giới Linh Hồn, nơi người ta bước vào ở lần điểm đạo thứ nhất—Giáng Sinh.

176. There are also those advanced human beings who are entering the inner part of the Circle because they are polarizing their consciousness within the spiritual triad.

176. Cũng có những người tiến bộ đang bước vào phần bên trong của Vòng này, vì họ đang phân cực tâm thức mình trong Tam Nguyên Tinh Thần.

This is the result of the experience of the war, 1914-1945.

Đây là kết quả của kinh nghiệm chiến tranh, 1914-1945.

177. It would seem that we owe much to the war; dreadful as it was, it seems to have liberated humanity into a far greater depth and expanse of consciousness, even enabling it to step within the “Circle of Liberation”.

177. Dường như chúng ta chịu ơn cuộc chiến rất nhiều; dù khủng khiếp đến vậy, nó dường như đã giải phóng nhân loại vào một tâm thức sâu rộng hơn rất nhiều, thậm chí giúp nhân loại bước vào “Vòng Giải Thoát”.

178. We cannot dissociate from this thought the fact that one of the Lords of Liberation in Shamballa was instrumental in influencing the positive conclusion of the war. He was invoked and He responded in a manner which decided the issue in favor of the Forces of Light.

178. Chúng ta không thể tách rời ý nghĩ này khỏi sự kiện rằng một trong các Đấng Giải Thoát ở Shamballa đã góp phần quyết định vào việc đưa cuộc chiến đến kết cục tích cực. Ngài đã được khẩn cầu và đã đáp ứng theo một cách định đoạt cục diện có lợi cho các Mãnh Lực Ánh Sáng.

Humanity, entering this circle, will be confronted by the first major lesson: the Unity of the One Life.

Khi bước vào vòng tròn này, nhân loại sẽ đối diện với bài học lớn đầu tiên: Sự Hợp Nhất của Sự Sống Duy Nhất.

179. Something of this unity may be grasped at the first initiation, but it is a realization which belongs particularly to the third initiation, and deepening with every successive initiation.

179. Ở lần điểm đạo thứ nhất, người ta có thể nắm bắt được phần nào sự hợp nhất này, nhưng đó là một sự chứng nghiệm đặc biệt thuộc về lần điểm đạo thứ ba, và càng sâu sắc hơn qua mỗi lần điểm đạo kế tiếp.

180. For this reason, the “Circle of Liberation” would seem related to the spiritual triad, focus within the manasic part of which begins at the third degree.

180. Vì lý do này, “Vòng Giải Thoát” dường như có liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần, mà sự tập trung trong phần manas của Tam Nguyên ấy bắt đầu ở bậc ba.

This form of presentation will be more easily recognised by the masses than such phrases as Brotherhood, Relationship, Fraternity.

Quần chúng sẽ dễ nhận ra hình thức trình bày này hơn những cụm từ như Tình Huynh Đệ, Mối Quan Hệ, Tình Anh Em.

181. Here is an important piece of information for those who would evoke in humanity an approach to the hierarchical consciousness. The Unity of the One Life is an idea to be presented. It will have more meaning to the masses than the phrases Brotherhood, Relationship and Fraternity.

181. Đây là một thông tin quan trọng đối với những ai muốn khơi dậy nơi nhân loại một cách tiếp cận tâm thức của Thánh đoàn. Sự Hợp Nhất của Sự Sống Duy Nhất là một ý tưởng cần được trình bày. Nó sẽ có ý nghĩa đối với quần chúng hơn những cụm từ Tình Huynh Đệ, Mối Quan Hệ và Tình Anh Em.

182. Indeed, we have seen a tremendous growth in the recognition of the Unity of the One Life.

182. Thật vậy, chúng ta đã thấy sự nhận biết về sự Hợp Nhất của Sự Sống Duy Nhất gia tăng mạnh mẽ.

183. Of course, the revelation of this Unity is particularly the capacity and prerogative of the initiate of the third degree.

183. Dĩ nhiên, sự mặc khải về sự Hợp Nhất này đặc biệt là khả năng và đặc quyền của điểm đạo đồ bậc ba.

Life and its balancing partner, Death, are old and familiar aspects of general livingness to the masses, and their starting point in all revelation is life, and the result of all revelation is death or the disappearance of veils.

Sự Sống và đối tác cân bằng của nó, Sự Chết, là những phương diện lâu đời và quen thuộc của sức sống nói chung đối với quần chúng; và điểm khởi đầu của họ trong mọi sự mặc khải là sự sống, còn kết quả của mọi sự mặc khải là sự chết hay sự biến mất của các bức màn.

184. Here death is being defined as a process of unveiling. It is an important and inviting definition.

184. Ở đây, sự chết đang được định nghĩa là một tiến trình vén màn. Đây là một định nghĩa quan trọng và hấp dẫn.

185. Life seems to be the great fact from which all attempts to induce revelation must begin.

185. Sự sống dường như là thực tại lớn lao mà mọi nỗ lực khơi dậy sự mặc khải đều phải bắt đầu từ đó.

186. Life is the immediate, ineluctable fact for the masses. If death can be explained and demonstrated as an enhancement of life, great progress can be made in the reduction of fear.

186. Đối với quần chúng, sự sống là thực tại trực tiếp, không thể né tránh. Nếu sự chết có thể được giải thích và chứng minh là một sự nâng cao sự sống, thì có thể đạt được tiến bộ lớn trong việc giảm bớt nỗi sợ hãi.

187. If revelation is death and initiation is sustained revelation, then initiation is death. Surely initiation is the lifting of the veil. We are being presented with important perspectives.

187. Nếu mặc khải là sự chết và điểm đạo là sự mặc khải được duy trì liên tục, thì điểm đạo là sự chết. Chắc chắn điểm đạo là việc vén màn. Chúng ta đang được giới thiệu những góc nhìn quan trọng.

The formula with which I present you today consists of three closely related words, and the theme with which the student must concern himself is the nature of the relationship which is indicated—not by the words but by the very [321] nature of that which relates them.

Công thức mà Tôi trình bày với các bạn hôm nay gồm ba từ liên hệ mật thiết với nhau, và chủ đề mà đạo sinh phải quan tâm là bản chất của mối liên hệ được chỉ ra—không phải qua các từ ngữ, mà qua chính [321] bản chất của điều liên kết chúng.

188. Presumably, a deep esoteric process relates these words. The words have variable meanings according to their position in the process.

188. Có lẽ một tiến trình nội môn sâu xa liên kết những từ này. Ý nghĩa của các từ thay đổi tùy theo vị trí của chúng trong tiến trình.

189. There is really one process of revelation here under discussion, but it has a number of phases, and according to the arrangement of the words so will particular phases be indicated.

189. Thực sự chỉ có một tiến trình mặc khải đang được bàn đến ở đây, nhưng tiến trình ấy có một số giai đoạn, và cách sắp xếp các từ sẽ chỉ ra những giai đoạn cụ thể tương ứng.

This is not an obvious relation but the esoteric and subtle meaning which the intuition will reveal and that the outer words hide.

Đây không phải một mối liên hệ hiển nhiên, mà là ý nghĩa nội môn tinh tế mà trực giác sẽ mặc khải và những từ ngữ bên ngoài che giấu.

190. Again we are alerted to the need for the release of the intuition. Words often conceal the truth. We are meant to move behind the words and, through the use of the intuition, find the truth.

190. Một lần nữa, chúng ta được lưu ý về sự cần thiết phải giải phóng trực giác. Từ ngữ thường che giấu chân lý. Chúng ta cần đi vào phía sau từ ngữ và vận dụng trực giác để tìm ra chân lý.

THE SUN... BLACK... ANTAHKARANA

MẶT TRỜI... ĐEN... ANTAHKARANA

These words constitute, and when placed in their correct order create, a most potent magical and mantric formula.

Những từ này cấu thành, và khi được đặt theo đúng thứ tự sẽ tạo nên, một công thức huyền thuật và mantram có uy lực mạnh mẽ nhất.

191. We seem to be told that the order of the words here presented is not the “correct order”.

191. Dường như chúng ta được cho biết rằng thứ tự các từ được trình bày ở đây chưa phải là “thứ tự đúng”.

192. Is there only one correct order? Students of these words have found at least six.

192. Có phải chỉ có một thứ tự đúng không? Những đạo sinh nghiên cứu các từ này đã tìm thấy ít nhất sáu thứ tự.

193. Maybe for the discovery of the mantric formula which DK has in mind, only one order of the words will do.

193. Có lẽ để khám phá công thức mantram mà Chân sư DK đang nghĩ đến, chỉ một thứ tự các từ mới phù hợp.

194. Sun—Black—Antahkarana: The Sun represents the ahamkaric state of the lower ego. Black is the spiritually benighted consciousness in which the ahamkaric ego dwells and also the result of leaving familiar ignorance behind. Antahkarana is the means of escape from the blackness of egoity.

194. Mặt Trời—Đen—Antahkarana: Mặt Trời biểu trưng cho trạng thái chấp ngã của phàm ngã. Đen là tâm thức tối tăm về tinh thần mà cái ngã chấp ngã cư ngụ trong đó, đồng thời cũng là kết quả của việc bỏ lại phía sau sự vô minh quen thuộc. Antahkarana là phương tiện thoát khỏi bóng tối của ngã tính.

195. Black—Sun—Antahkarana: Black represents the normal ignorant consciousness. Sun represents soul consciousness which can supersede darkened personality consciousness. Antahkarana represents the way forward into a consciousness beyond the limitations of soul consciousness.

195. Đen—Mặt Trời—Antahkarana: Đen biểu trưng cho tâm thức vô minh thông thường. Mặt Trời biểu trưng cho tâm thức linh hồn có thể thay thế tâm thức phàm ngã tối tăm. Antahkarana biểu trưng cho con đường tiến vào một tâm thức vượt ngoài những giới hạn của tâm thức linh hồn.

196. Sun—Antahkarana—Black: The Sun represents causal consciousness. Antahkarana represents the extension and liberation of causal consciousness. Black represents contact with the dark light of Shamballa—a light so intense that it is, as if, “black”.

196. Mặt Trời—Antahkarana—Đen: Mặt Trời biểu trưng cho tâm thức nguyên nhân. Antahkarana biểu trưng cho sự mở rộng và giải phóng tâm thức nguyên nhân. Đen biểu trưng cho sự tiếp xúc với ánh sáng tối của Shamballa—một ánh sáng mãnh liệt đến mức dường như là “đen”.

197. Antahkarana—Sun—Black: The Antahkarana is itself—the bridge to effulgence. The Sun represents the glory of the Monad in which the Antahkarana ‘ends’. Black represents all that lies beyond the monadic sphere when the inner life of the Monad is translated beyond the monadic vehicle. First, Black can represent the glory of the Sea of Fire and later the unknown (hence, “black”) cosmic dimension called the cosmic astral plane.

197. Antahkarana—Mặt Trời—Đen: Antahkarana là chính nó—cây cầu dẫn đến sự huy hoàng. Mặt Trời biểu trưng cho sự vinh quang của Chân thần, nơi Antahkarana “kết thúc”. Đen biểu trưng cho tất cả những gì nằm ngoài khối cầu chân thần khi sự sống bên trong của Chân thần chuyển vượt ra ngoài hiện thể chân thần. Trước hết, Đen có thể biểu trưng cho sự vinh quang của Biển Lửa, rồi sau đó là chiều kích vũ trụ chưa biết (vì thế là “đen”) được gọi là cõi cảm dục vũ trụ.

198. Black—Antahkarana—Sun: Black represents darkened personal consciousness. Antahkarana (in its first stage) represents the bridge to the soul. Sun represents the soul, egoic lotus, causal body.

198. Đen—Antahkarana—Mặt Trời: Đen biểu trưng cho tâm thức cá nhân tối tăm. Antahkarana (ở giai đoạn đầu) biểu trưng cho cây cầu dẫn đến linh hồn. Mặt Trời biểu trưng cho linh hồn, Hoa Sen Chân Ngã, thể nguyên nhân.

199. Antahkarana—Black—Sun: The Antahkarana bypasses the soul. The Black symbolizing the destruction of the causal body supervenes. The Sun is the resultant glory of triadal and eventually monadic life.

199. Antahkarana—Đen—Mặt Trời: Antahkarana đi vượt qua linh hồn. Tiếp đó là Đen, tượng trưng cho sự hủy diệt thể nguyên nhân. Mặt Trời là sự vinh quang phát sinh từ sự sống Tam Nguyên Tinh Thần và cuối cùng là sự sống chân thần.

200. These, at least, are some ways of interpreting these three most powerful words. Which is the order for which DK is searching and which provides the most potent and magical formula?

200. Ít nhất, đây là một số cách diễn giải ba từ đầy quyền năng này. Đâu là thứ tự mà Chân sư DK đang tìm kiếm và tạo nên công thức mạnh mẽ nhất, có hiệu lực huyền thuật cao nhất?

201. I would suggest that although all six forms can be understood as meaningful, perhaps the most compelling is Sun—Antahkarana—Black. From the causal body (and its destruction) to ascent via the Antahkarana, leading to the termination of the Antahkarana in the Monad (i.e., in the Black Light of Shamballa—so intensely bright that it is as blackness to the ascending consciousness).

201. Tôi xin gợi ý rằng mặc dù cả sáu hình thức đều có thể được thấu hiểu là có ý nghĩa, có lẽ hình thức thuyết phục nhất là Mặt Trời—Antahkarana—Đen. Từ thể nguyên nhân (và sự hủy diệt thể ấy) đến sự thăng lên qua Antahkarana, dẫn đến sự kết thúc của Antahkarana trong Chân thần (tức là trong Ánh Sáng Đen của Shamballa—sáng rực mãnh liệt đến mức đối với tâm thức đang thăng lên, ánh sáng ấy giống như bóng tối).

202. In this formula we are, as it were, led from the third initiation, through the fourth and to the fifth—even to the sixth—in which we enter pure monadic life which is, at this point in our evolution, inconceivable or “Black” to us.

202. Trong công thức này, có thể nói chúng ta được dẫn từ lần điểm đạo thứ ba, qua lần thứ tư đến lần thứ năm—thậm chí đến lần thứ sáu—trong đó chúng ta bước vào sự sống chân thần thuần khiết, vốn ở thời điểm tiến hoá hiện nay là điều không thể quan niệm được, hay là “Đen”, đối với chúng ta.

203. When thinking of blackness we are reminded of Rule IX for Disciples and Initiates:

203. Khi nghĩ đến bóng tối, chúng ta nhớ đến Quy luật IX dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ:

Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed.

Hãy để nhóm biết rằng không có những bản ngã khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để bóng tối thay chỗ ánh sáng, che khuất mọi khác biệt, xóa đi mọi hình tướng. Khi ấy—tại nơi tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy—hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo; và trong ngọn lửa ấy (ngay tại chính tâm của nó), hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng có ngôi sao chiếu rạng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua.

204. This Rule, which can be interpreted as indicating the consummation of the fifth initiation, leads to a Revelation which, at this stage in our development, can only be conceived as blackness.

204. Quy luật này, có thể được diễn giải là chỉ sự hoàn tất của lần điểm đạo thứ năm, dẫn đến một Sự Mặc Khải mà ở giai đoạn phát triển hiện nay, chúng ta chỉ có thể quan niệm là bóng tối.

205. The following statement is also significant in relation to the Formula V:

205. Phát biểu sau đây cũng có thâm nghĩa đối với Công thức V:

Ashrams on atmic levels are under the control of the Master M., Who fosters the will aspect within the developed forms and Who (as the Old Commentary expresses it) "adds darkness unto light so that the stars appear, for in the light the stars shine not, but in the darkness light diffused is not, but only focussed points of radiance." The symbolism will be obvious to you though not the full significance. (R&I 170)

Các ashram trên những cấp độ atma nằm dưới sự điều hành của Chân sư M., Ngài nuôi dưỡng phương diện ý chí trong những hình tướng đã phát triển và (như Cổ Luận diễn tả) “thêm bóng tối vào ánh sáng để các vì sao xuất hiện, bởi trong ánh sáng, các vì sao không chiếu sáng, nhưng trong bóng tối không có ánh sáng khuếch tán, mà chỉ có những điểm chói rạng tập trung.” Biểu tượng này sẽ rõ ràng đối với các bạn, dù toàn bộ thâm nghĩa thì chưa. (Cung và Điểm Đạo 170)

It has a tenuous yet definite connection with the third initiation, but it is not this angle with which you are asked to concern yourselves but with the triangle created and the lines of force set in motion when the right word finds itself at the apex of the triangle.

Nó có một mối liên hệ mong manh nhưng rõ ràng với lần điểm đạo thứ ba, nhưng các bạn được yêu cầu quan tâm đến tam giác được tạo ra và các tuyến mãnh lực được khởi động khi từ thích hợp nằm ở đỉnh tam giác, chứ không phải phương diện này.

206. If we are to interpret the words in relation to the third initiation, perhaps the order should be as follows: Black—Antahkarana—Sun. From the Black of personality consciousness (indicated by both Mars and the Moon which must be overcome), through the Antahkarana considered as a triangle, and at length to the union of three minds, which result a mentally effulgent glory represented by the Sun.

206. Nếu diễn giải các từ này trong mối liên hệ với lần điểm đạo thứ ba, có lẽ thứ tự nên như sau: Đen—Antahkarana—Mặt Trời. Từ sắc Đen của tâm thức phàm ngã (được chỉ ra qua cả Sao Hỏa lẫn Mặt Trăng, những ảnh hưởng phải được vượt qua), qua Antahkarana được xem là một tam giác, và cuối cùng đến sự hợp nhất của ba trí, tạo nên sự huy hoàng rực rỡ về trí tuệ mà Mặt Trời biểu trưng.

207. The Tibetan was not training His disciples for the third degree—at least very few of them. If they are not to concern themselves with the third degree, with what are they to concern themselves? Are they to consider higher degrees theoretically or to work towards an initiatory outcome immediately relevant to their present condition?

207. Chân sư Tây Tạng không huấn luyện các đệ tử của Ngài cho bậc ba—ít nhất thì rất ít người trong số họ. Nếu họ không cần quan tâm đến bậc ba, thì họ cần quan tâm đến điều gì? Họ cần xem xét những bậc cao hơn trên lý thuyết, hay làm việc hướng đến một kết quả điểm đạo có liên quan trực tiếp đến tình trạng hiện nay của mình?

208. Perhaps the order Black—Sun—Antahkarana would be appropriate for the majority of disciples. Black would represent the darkness of personality consciousness from which they are emerging. Sun would represent the onset of soul consciousness and the soul-infusion process which they must pursue. Antahkarana would represent a process which they must pursue simultaneously with the process of soul infusion, for, indeed, students of the Tibetan are engaged in a dual curriculum— working on the task of soul-infusion simultaneously with the task of building and utilizing the Antahkarana.

208. Có lẽ thứ tự Đen—Mặt Trời—Antahkarana sẽ phù hợp với đa số đệ tử. Đen sẽ biểu trưng cho bóng tối của tâm thức phàm ngã mà họ đang thoát ra. Mặt Trời sẽ biểu trưng cho sự khởi đầu của tâm thức linh hồn và tiến trình linh hồn thấm nhuần mà họ phải theo đuổi. Antahkarana sẽ biểu trưng cho một tiến trình mà họ phải theo đuổi đồng thời với tiến trình linh hồn thấm nhuần, bởi quả thật, các đạo sinh của Chân sư Tây Tạng đang theo một chương trình học kép— thực hiện nhiệm vụ để linh hồn thấm nhuần đồng thời với nhiệm vụ xây dựng và sử dụng Antahkarana.

The clue to rightly orienting your thinking lies in the realisation of the threefold aspect of the Sun,

Manh mối để định hướng đúng tư duy của các bạn nằm ở sự nhận biết phương diện tam phân của Mặt Trời,

209. The Sun can represent the integrated personality, the ‘vain-glorious’ lower ego. The Sun can additionally represent the glory of the causal body. The Sun can also represent the still greater glory of the Monad on the second systemic plane of our solar system.

209. Mặt Trời có thể biểu trưng cho Phàm ngã tích hợp, cái phàm ngã “tự phụ, háo danh”. Mặt Trời còn có thể biểu trưng cho sự vinh quang của thể nguyên nhân. Mặt Trời cũng có thể biểu trưng cho sự vinh quang còn lớn lao hơn của Chân thần trên cõi thứ hai thuộc hệ mặt trời của chúng ta.

210. The important thing to realize is that the Sun need not represent only one thing.

210. Điều quan trọng cần nhận ra là Mặt Trời không nhất thiết chỉ biểu trưng cho một điều duy nhất.

the unity of the reality and the dual nature of the antahkarana.

tính hợp nhất của thực tại và bản chất kép của antahkarana.

211. The “unity of the reality” relates to Spirit which, again, can be symbolized by the Sun or by the blackness in which no distinction appears; thus unity is revealed.

211. “Sự hợp nhất của thực tại” liên quan đến Tinh thần, mà một lần nữa có thể được tượng trưng bằng Mặt Trời hoặc bằng bóng tối trong đó không có sự phân biệt nào xuất hiện; nhờ đó, sự hợp nhất được mặc khải.

212. As for the Antahkarana, it is dual or even triple. It has two dualities:

212. Về Antahkarana, nó có tính kép, thậm chí tam phân. Nó có hai cặp:

a. The first duality is the link to the soul plus the greater link from the mental unit to the manasic permanent atom

a. Cặp thứ nhất là mối liên kết với linh hồn cộng với mối liên kết lớn hơn từ đơn vị hạ trí đến Nguyên tử trường tồn manas

b. The second duality is the link from the egoic lotus to the manasic permanent atom plus the link from the mental unit to the manasic permanent atom

b. Cặp thứ hai là mối liên kết từ Hoa Sen Chân Ngã đến Nguyên tử trường tồn manas cộng với mối liên kết từ đơn vị hạ trí đến Nguyên tử trường tồn manas

213. We have a three, two, one set up—the triple Sun, the dual Antahkarana and the unity of blackness.

213. Chúng ta có một cấu trúc ba, hai, một—Mặt Trời tam phân, Antahkarana kép và sự hợp nhất của bóng tối.

214. The first three rows the Tetraktys are, thus, represented. As well, the sequence we suggested as the one which the Tibetan might be indicating seems emphasized: Sun—Antahkarana—Black. From the third aspect, through the second to the first.

214. Như vậy, ba hàng đầu tiên của Tetrakys được biểu trưng. Đồng thời, trình tự mà chúng ta đã đề xuất là trình tự Chân sư Tây Tạng có thể đang chỉ ra dường như được nhấn mạnh: Mặt Trời—Antahkarana—Đen. Từ phương diện thứ ba, qua phương diện thứ hai đến phương diện thứ nhất.

More I must not say; it is for you to wrestle with the formula and unearth or bring to the surface its hidden significance.

Tôi không được nói thêm; các bạn phải tự vật lộn với công thức và khai quật hay đưa lên bề mặt thâm nghĩa ẩn giấu của nó.

215. This we have been attempting to do. If we utilized the formula in various ways, convincing conviction could emerge for us individually or as a group.

215. Đây là điều chúng ta đang cố gắng làm. Nếu vận dụng công thức theo nhiều cách khác nhau, một niềm xác tín đầy sức thuyết phục có thể nảy sinh nơi mỗi chúng ta hoặc trong cả nhóm.

In line with the hints given in connection with the other four formulas, the keynote of this one would be:

Phù hợp với những gợi ý đã đưa ra liên quan đến bốn công thức kia, chủ âm của công thức này sẽ là:

Lead us from the individual to the Universal.

Xin dẫn dắt chúng con từ cá nhân đến Toàn Thể.

216. We can understand how “Black” as a final term could represent the “Universal”. The Sun is so often a symbol of individuality. The Antahkarana would be the bridge which would lead from the individual to the Universal (the first aspect).

216. Chúng ta có thể thấu hiểu vì sao “Đen”, với tư cách từ cuối cùng, có thể biểu trưng cho “Toàn Thể”. Mặt Trời rất thường là biểu tượng của cá thể tính. Antahkarana sẽ là cây cầu dẫn từ cá nhân đến Toàn Thể (phương diện thứ nhất).

217. We recall the four foregoing keynotes:

217. Chúng ta nhớ lại bốn chủ âm trước đó:

a. Lead us from darkness to Light

a. Xin dẫn chúng con từ bóng tối đến Ánh Sáng

b. Lead us from the unreal to the Real

b. Xin dẫn chúng con từ điều không thực đến Chân Thực

c. Lead us from death to Immortality

c. Xin dẫn chúng con từ sự chết đến Bất Tử

d. Lead us from chaos to Beauty

d. Xin dẫn chúng con từ hỗn loạn đến Cái Đẹp

e. And, finally, lead us from the individual to the Universal.

e. Và cuối cùng, xin dẫn chúng con từ cá nhân đến Toàn Thể.

POINTS OF REVELATION

CÁC ĐIỂM MẶC KHẢI

I would like at this point to call more directly to your attention the three stages of revelation; you have been dealing with them and considering them, if you have succeeded in following this work closely, and may already have achieved something of the automatic and the essential in their activity.

Ở đây, Tôi muốn trực tiếp lưu ý các bạn hơn về ba giai đoạn mặc khải; các bạn đã làm việc với chúng và suy xét về chúng nếu đã theo sát công việc này, và có thể đã đạt được phần nào tính tự động cùng yếu tố thiết yếu trong hoạt động của chúng.

218. The question will often arise— “How does revelation occur?” Is it sudden or gradual, or can it be either or neither?”

218. Câu hỏi này sẽ thường nảy sinh—“Sự mặc khải xảy ra như thế nào? Nó đột ngột hay từ từ, hoặc có thể theo một trong hai cách ấy, hay không theo cách nào cả?”

Revelation seldom breaks in all its completed beauty into the consciousness of the disciple; it is a gradual and steadily unfolding process.

Sự mặc khải hiếm khi đột ngột đi vào tâm thức người đệ tử trong toàn bộ vẻ đẹp hoàn chỉnh của nó; đó là một tiến trình dần dần và không ngừng khai mở.

219. DK answers the question from His perspective. In an analogical statement that may throw some light on the matter, we could say that the Sun does not suddenly achieve its highest position at . Dawn must first occur and then the slow steady rising of the Sun towards culmination.

219. Chân sư DK trả lời câu hỏi từ góc nhìn của Ngài. Để dùng một phép loại suy có thể làm sáng tỏ phần nào vấn đề, chúng ta có thể nói rằng Mặt Trời không đột nhiên đạt đến vị trí cao nhất vào lúc . Trước hết phải có bình minh, rồi Mặt Trời mới từ từ và đều đặn lên đến đỉnh cao.

The three words I have given you as descriptive of the stages concern the individual disciple or initiate and express the stages of the impact of the revelation upon his mind.

Ba từ Tôi đã trao cho các bạn để mô tả các giai đoạn liên quan đến từng đệ tử hoặc điểm đạo đồ, và diễn đạt các giai đoạn tác động của sự mặc khải lên thể trí của y.

220. We are told of another way to find revelation in the words: Penetration, Polarization, Precipitation. These words, we are told, “express the stages of the impact of the revelation upon his mind” (the mind of the disciple).

220. Chúng ta được cho biết một cách khác để tìm thấy sự mặc khải qua các từ: Xuyên Thấu, Phân Cực, Ngưng Tụ. Chúng ta được cho biết rằng những từ này “diễn đạt các giai đoạn tác động của sự mặc khải lên thể trí của y” (thể trí của người đệ tử).

221. We recall, however, that He told us in a previous instruction that there was not a great sequentiality in their relationship—in other words, that once Penetration occurs, Polarization and Precipitation are virtually automatic processes.

221. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng trong một huấn thị trước, Ngài đã nói với chúng ta rằng mối quan hệ giữa chúng không mang tính tuần tự rõ rệt—nói cách khác, một khi sự Xuyên Thấu xảy ra, Phân Cực và Ngưng Tụ hầu như là những tiến trình tự động.

222. Yet the sequence is preserved.

222. Tuy vậy, trình tự vẫn được duy trì.

There are paralleling inner causes which are responsible for the outer stages of Penetration, Polarisation and Precipitation. These are:

Có những nguyên nhân bên trong diễn ra song song, tạo nên các giai đoạn bên ngoài là Thâm Nhập, Phân Cực và Ngưng Tụ. Đó là:

223. Now we move into a more advanced occult perspective explaining how Penetration, Polarisation and Precipitation come to be.

223. Giờ đây, chúng ta chuyển sang một góc nhìn huyền bí học cao hơn, giải thích cách Xuyên Thấu, Phân Cực và Ngưng Tụ hình thành.

224. Even though associated with “outer stages”, Penetration, Polarisation and Precipitation do not seem like very external processes.

224. Dù gắn liền với “các giai đoạn bên ngoài”, Xuyên Thấu, Phân Cực và Ngưng Tụ dường như không phải là những tiến trình quá thiên về bên ngoài.

225. Since we are given three spiritual causes of three outer stages, we shall be able more readily to induce the appearance of these outer states.

225. Vì chúng ta được cho biết ba nguyên nhân tinh thần của ba giai đoạn bên ngoài, chúng ta sẽ có thể dễ dàng hơn trong việc khiến những trạng thái bên ngoài này xuất hiện.

[322]

[322]

1. The stage of the "advancing point of light."

1. Giai đoạn “điểm ánh sáng tiến tới”.

226. The “advancing point of light” is that which penetrates.

226. “Điểm ánh sáng tiến tới” chính là cái xuyên thấu.

2. The stage of right direction or the focussing of the "advancing" potency.

2. Giai đoạn định hướng đúng đắn, hay tập trung uy lực “tiến tới”.

227. The “advancing point of light” has penetrated, and as it orients itself and focusses, it becomes a point of “advancing potency”. It grows it power as it stabilizes within the penetrated vibrational field.

227. “Điểm ánh sáng tiến tới” đã xuyên thấu, và khi tự định hướng rồi tập trung, nó trở thành một điểm “tiềm năng tiến tới”. Quyền năng của nó gia tăng khi nó ổn định trong trường rung động mà nó đã xuyên thấu.

3. The stage of spiritual impact.

3. Giai đoạn tác động tinh thần.

228. The consciousness is impacted by the new field and an immediate downflow occurs resulting in what we call Precipitation. The impact becomes more outwardly effective, touching the outer world of the disciple’s consciousness.

228. Trường mới tác động lên tâm thức và lập tức có một dòng tuôn xuống, dẫn đến điều chúng ta gọi là Ngưng Tụ. Tác động ấy trở nên hữu hiệu hơn ở bên ngoài, chạm đến thế giới bên ngoài của tâm thức người đệ tử.

Again here (if you could but see it) you have an illustration of the processes and interaction of Invocation and Evocation and of the establishing of a triple relation between an inner reality and the outer man, the disciple on his own plane;

Một lần nữa, ở đây—nếu các bạn có thể thấy được—các bạn có một minh họa về các tiến trình và sự tương tác của Khẩn Cầu và Gợi Lên, cùng việc thiết lập một mối liên hệ tam phân giữa một thực tại bên trong và con người bên ngoài, người đệ tử trên cõi riêng của y;

229. It would seem that the disciple’s own plane is the plane of mind, with a focus in the area of the mental unit. In this context, the disciple is considered the “outer man”.

229. Dường như cõi riêng của người đệ tử là cõi trí, với một tiêu điểm trong khu vực của đơn vị hạ trí. Trong ngữ cảnh này, người đệ tử được xem là “con người bên ngoài”.

230. From within the blackness of the unknown, a new energy (being touched by the “advancing point of light”) descends via the antahkarana and brings greater illumination to the Sun below (the field of the disciple’s consciousness). This, at least, is one way to look at the process.

230. Từ trong bóng đen của điều chưa biết, một năng lượng mới (mà “điểm ánh sáng tiến tới” chạm đến) giáng xuống qua antahkarana và mang lại sự soi sáng lớn hơn cho Mặt Trời bên dưới (trường tâm thức của người đệ tử). Ít nhất, đây cũng là một cách nhìn về tiến trình ấy.

231. The disciple on his own (outer) plane invokes (and, in antahkaranic terminology— projects ). In doing so he penetrates the blackness of the unknown. Anchoring his questing consciousness in the unknown, an evocative response arises. The potency of the new energy contacted increases and precipitates ‘down’ the antahkarana and brings illumination—greater light to the Sun below.

231. Người đệ tử trên cõi riêng (bên ngoài) của mình khẩn cầu (và, theo thuật ngữ về antahkarana— phóng chiếu ). Khi làm như vậy, y xuyên thấu bóng đen của điều chưa biết. Khi y neo tâm thức đang tìm kiếm của mình vào điều chưa biết, một đáp ứng được gợi lên. Tiềm năng của năng lượng mới mà y tiếp xúc gia tăng và ngưng tụ ‘xuống’ theo antahkarana, mang lại sự soi sáng—ánh sáng lớn hơn cho Mặt Trời bên dưới.

232. The relationship is threefold: the invoking one ‘below’—i.e., the disciple; the higher anchor of the invoking one polarized in a new field ‘above’; the evocative response which connects the higher one and the lower one.

232. Mối quan hệ này mang tính tam phân: người khẩn cầu ở ‘bên dưới’—tức là người đệ tử; điểm neo trên cao của người khẩn cầu, phân cực trong một trường mới ở ‘bên trên’; đáp ứng được gợi lên, kết nối chủ thể ở trên với chủ thể ở dưới.

you have an evocative activity of so potent a nature that it produces corresponding exoteric attitudes and expressions.

các bạn có một hoạt động gợi lên với uy lực mạnh mẽ đến mức tạo ra những thái độ và biểu hiện ngoại môn tương ứng.

233. This is the result of the impact of the higher upon the lower.

233. Đây là kết quả của tác động từ phần cao lên phần thấp.

234. We are shown how a deeply esoteric process has tangible, exoteric results.

234. Chúng ta được chỉ cho thấy một tiến trình nội môn sâu xa tạo ra những kết quả ngoại môn hữu hình như thế nào.

In reality, you have here a phase of the working of the Law of Cause and Effect, demonstrated in a most illustrative manner.

Trên thực tế, ở đây các bạn có một giai đoạn hoạt động của Định luật Nhân Quả, được thể hiện theo một cách minh họa hết sức rõ ràng.

235. The Cause descends from above (having been evoked through the invocation of that which resides below).

235. Nguyên Nhân giáng xuống từ bên trên (sau khi được gợi lên qua sự khẩn cầu của cái hiện hữu bên dưới).

236. The effect below is the result of the descending of that which has been evoked.

236. Kết quả bên dưới là hệ quả của sự giáng xuống của cái đã được gợi lên.

As the Law of Karma makes its presence felt upon the outer physical plane, you have the evidence before your eyes of the three stages of Penetration, Polarisation and Precipitation. At the same time, on the inner planes, and because of the existence of the inner reality, you have the three corresponding stages of Advancing Light, Right Direction, Impact.

Khi Định luật Nghiệp Quả khiến người ta cảm nhận sự hiện diện của nó trên cõi hồng trần bên ngoài, các bạn có bằng chứng ngay trước mắt về ba giai đoạn Thâm Nhập, Phân Cực và Ngưng Tụ. Đồng thời, trên các cõi bên trong, và do sự tồn tại của thực tại bên trong, các bạn có ba giai đoạn tương ứng là Ánh Sáng Tiến Tới, Định Hướng Đúng Đắn, Tác Động.

237. Here the inner factors are called, in some instances, by different names:

237. Ở đây, trong một số trường hợp, các yếu tố bên trong được gọi bằng những tên khác:

a. The “advancing point of light” retains its description

a. “Điểm ánh sáng tiến tới” vẫn giữ nguyên cách mô tả

b. The “advancing potency” is called Right Direction

b. “Tiềm năng tiến tới” được gọi là Định Hướng Đúng Đắn

c. The stage of “spiritual impact” retains its description.

c. Giai đoạn “tác động tinh thần” vẫn giữ nguyên cách mô tả.

238. This is a section worthy of prolonged pondering.

238. Đây là một phần đáng để suy ngẫm lâu dài.

239. For the sake of clarity let us put the six phases in proper order:

239. Để làm rõ, chúng ta hãy sắp xếp sáu giai đoạn theo đúng thứ tự:

a. Penetration—Advancing Light

a. Xuyên Thấu—Ánh Sáng Tiến Tới

b. Polarisation—Right Direction

b. Phân Cực—Định Hướng Đúng Đắn

c. Precipitation--Impact

c. Ngưng Tụ--Tác Động

240. Does every higher contact or penetration, every well directed polarisation and spiritual precipitation also evoke the precipitation of karmic patterns which stand in the way of the spiritual precipitation?

240. Liệu mọi sự tiếp xúc hay xuyên thấu cao hơn, mọi sự phân cực được định hướng đúng đắn và mọi sự ngưng tụ tinh thần cũng đều gợi lên sự ngưng tụ của những mô hình nghiệp quả cản trở sự ngưng tụ tinh thần hay không?

241. Is every penetration into a higher dimension accompanied by a penetration into a karmic reservoir which is related to the higher penetration? It would seem so.

241. Liệu mọi sự xuyên thấu vào một chiều kích cao hơn đều đi kèm với sự xuyên thấu vào một kho chứa nghiệp quả có liên quan đến sự xuyên thấu cao hơn ấy hay không? Dường như là vậy.

242. It often seems as if the great light precipitates accompanied by the precipitation of a corresponding karma. The matter is, however, intricate and no easy solution will be found.

242. Thường có vẻ như ánh sáng lớn ngưng tụ cùng với sự ngưng tụ của một nghiệp quả tương ứng. Tuy nhiên, vấn đề này phức tạp và sẽ không dễ tìm ra lời giải.

243. While the disciple from his own plane can achieve the stages of Advancing Light, Right Direction and Impact, it may be that higher aspects of his nature will simultaneously pass through higher expressions of these three stages.

243. Trong khi người đệ tử, từ cõi riêng của mình, có thể đạt đến các giai đoạn Ánh Sáng Tiến Tới, Định Hướng Đúng Đắn và Tác Động, những phương diện cao hơn trong bản chất của y có thể đồng thời trải qua những biểu hiện cao hơn của ba giai đoạn này.

244. We are reminded that as the “Son” goes forth to greet the “Father”, the “Father” comes forth to greet the “Son”. In other words, there are higher correspondences to all processes in which the disciple engages as he ‘reaches’ into higher worlds.

244. Chúng ta được nhắc rằng khi “Con” tiến ra đón “Cha”, thì “Cha” cũng tiến ra đón “Con”. Nói cách khác, mọi tiến trình mà người đệ tử tham gia khi y ‘vươn tới’ các cõi cao hơn đều có những tương ứng cao hơn.

245. We remember that all of these considerations are meant to reveal the workings of the Science of Revelation.

245. Chúng ta nhớ rằng tất cả những điều xem xét này đều nhằm hé lộ cách vận hành của Khoa Học về Sự Mặc Khải.

You have here also an indication of the close interrelation of the outer and the inner, producing a condition wherein the disciple creates a situation analogous to the phase—the long phase—of his creation of karma and its final precipitation in (so-called) "critical" disaster in his physical plane life.

Ở đây, các bạn cũng có một dấu hiệu về mối tương quan mật thiết giữa bên ngoài và bên trong, tạo nên một tình trạng trong đó người đệ tử tạo ra một tình huống tương tự giai đoạn—một giai đoạn lâu dài—y tạo nghiệp quả và sự ngưng tụ cuối cùng của nó thành một tai họa “nguy kịch”, như cách gọi thông thường, trong đời sống cõi hồng trần của y.

246. The teaching has become increasingly occult. Every word must be pondered—every phrase, every sentence.

246. Giáo huấn ngày càng đi sâu vào huyền bí học. Mỗi từ đều phải được suy ngẫm—mỗi cụm từ, mỗi câu.

247. We are speaking not only of the method of achieving a greater revelation (and hence the possibility of initiation) but of a necessary, final precipitation of karma which accompanies the growing revelation.

247. Chúng ta đang nói không chỉ về phương pháp đạt được một sự mặc khải lớn hơn (và do đó có khả năng điểm đạo), mà còn về một sự ngưng tụ nghiệp quả cuối cùng, cần thiết, đi kèm với sự mặc khải ngày càng gia tăng.

248. We may gather that the process of reaching towards and achieving steady contact with the higher energies of his nature, releases the precipitation of residual karma which corresponds in some mysterious manner to the higher energies newly contacted.

248. Chúng ta có thể suy ra rằng tiến trình vươn tới và đạt được sự tiếp xúc ổn định với các năng lượng cao hơn trong bản chất của người đệ tử khơi thông sự ngưng tụ của nghiệp quả còn tồn đọng, vốn tương ứng một cách huyền nhiệm nào đó với những năng lượng cao hơn vừa được tiếp xúc.

249. The reservoirs of higher energy are consequently tapped, but accompanying this tapping is the tapping of the unpurged karmic reservoirs.

249. Do đó, các kho chứa năng lượng cao hơn được khai mở, nhưng cùng với sự khai mở ấy, các kho chứa nghiệp quả chưa được thanh lọc cũng được khai mở.

A study of the three revelations indicated in the earlier instruction will reveal the accuracy of the above statement. I enumerated them for you in my previous instruction and wonder if you have read them often.

Việc nghiên cứu ba sự mặc khải được chỉ ra trong huấn thị trước sẽ cho thấy tính chính xác của phát biểu trên. Tôi đã liệt kê chúng cho các bạn trong huấn thị trước và tự hỏi liệu các bạn có thường đọc chúng hay không.

250. The Teacher speaks.

250. Huấn sư lên tiếng.

251. Here are the three foregoing Points of Revelation:

251. Sau đây là ba Điểm Mặc Khải đã nêu:

1. Energy follows thought and the eye directs the energy.

1. Năng lượng đi theo tư tưởng và con mắt định hướng năng lượng.

Involves the physical plane.

Bao hàm cõi hồng trần.

Relates to the first initiation.

Liên quan đến lần điểm đạo thứ nhất.

Concerns the ajna centre and the so-called third eye.

Liên quan đến trung tâm ajna và cái gọi là con mắt thứ ba.

2. The will is an expression of the Law of Sacrifice.

2. Ý chí là một biểu hiện của Định luật Hi Sinh.

Involves the astral plane.

Bao hàm cõi cảm dục.

Relates to the second initiation.

Liên quan đến lần điểm đạo thứ hai.

Concerns the heart centre, the "advancing point of Light."

Liên quan đến trung tâm tim, “điểm Ánh Sáng tiến tới”.

3. The Monad is to the planetary Logos what the third eye is to man.

3. Chân thần đối với Hành Tinh Thượng đế cũng như con mắt thứ ba đối với con người.

Involves the mental plane.

Bao hàm cõi trí.

Relates to the third initiation.

Liên quan đến lần điểm đạo thứ ba.

Concerns the head centre, the light of Purpose. (DINA II 369-370)

Liên quan đến trung tâm đầu, ánh sáng của Thiên Ý. (DINA II 369-370)

You will find it of value to take these three points of revelation and apply to them the three outer and the three inner stages through which all revelations pass.

Các bạn sẽ thấy hữu ích khi lấy ba điểm mặc khải này và áp dụng cho chúng ba giai đoạn bên ngoài cùng ba giai đoạn bên trong mà mọi sự mặc khải đều trải qua.

252. Presumably, the method of application would be as follows:

252. Có lẽ phương pháp áp dụng sẽ như sau:

a. Energy follows thought and the eye directs the energy—Penetration—Advancing Light

a. Năng lượng đi theo tư tưởng và con mắt định hướng năng lượng—Xuyên Thấu—Ánh Sáng Tiến Tới

b. The will is an expression of the law of sacrifice—Polarisation—Right Direction

b. Ý chí là một biểu hiện của định luật hi sinh—Phân Cực—Định Hướng Đúng Đắn

c. The Monad is to the planetary Logos what the third eye is to man—Precipitation—Impact

c. Chân thần đối với Hành Tinh Thượng đế cũng như con mắt thứ ba đối với con người—Ngưng Tụ—Tác Động

253. And yet since every revelation passes through three inner and three outer stages, it is as if each of the six stages could be applied to each Point of Revelation.

253. Tuy nhiên, vì mọi sự mặc khải đều trải qua ba giai đoạn bên trong và ba giai đoạn bên ngoài, dường như mỗi giai đoạn trong sáu giai đoạn đều có thể được áp dụng vào từng Điểm Mặc Khải.

254. Each one of the first three Points of Revelation can be related to one of the first three initiations, and each of the three outer and three inner stages also to each of the initiations.

254. Mỗi Điểm trong ba Điểm Mặc Khải đầu tiên đều có thể liên hệ với một trong ba lần điểm đạo đầu tiên, và mỗi giai đoạn trong ba giai đoạn bên ngoài cùng ba giai đoạn bên trong cũng có thể liên hệ với từng lần điểm đạo.

255. We can see this would be an extensive process and an entire unit of study in itself. It should be undertaken by a trained group which (in relation to each of the initiations) could achieve Penetration through Advancing Light, could achieve Polarisation through Right Direction, and could achieve Precipitation through Impact.

255. Chúng ta có thể thấy đây sẽ là một tiến trình sâu rộng và bản thân nó là cả một đơn vị nghiên cứu. Một nhóm đã được huấn luyện nên đảm nhận việc này; nhóm ấy (đối với từng lần điểm đạo) có thể đạt được Xuyên Thấu qua Ánh Sáng Tiến Tới, có thể đạt được Phân Cực qua Định Hướng Đúng Đắn, và có thể đạt được Ngưng Tụ qua Tác Động.

256. Much contemplative brooding and release of the intuition will be required.

256. Điều này sẽ đòi hỏi nhiều sự suy ngẫm trong chiêm ngưỡng và sự khai phóng trực giác.

257. The meaning of each Point of Revelation will be illumined through the application of the six inner and outer stages through which all revelations must pass.

257. Ý nghĩa của mỗi Điểm Mặc Khải sẽ được soi sáng qua việc áp dụng sáu giai đoạn bên trong và bên ngoài mà mọi sự mặc khải đều phải trải qua.

258. Each initiation will require utilization of the sixfold process.

258. Mỗi lần điểm đạo sẽ đòi hỏi việc vận dụng tiến trình lục phân.

259. Thus, in considering the first three Points of Revelation there will be eighteen steps (and really twenty-one if the Points, themselves, are considered.)

259. Vì vậy, khi xem xét ba Điểm Mặc Khải đầu tiên, sẽ có mười tám bước (và thực ra là hai mươi mốt nếu tính cả chính các Điểm ấy.)

260. Eventually the full revelation associated with each Point of Revelation will precipitate with full impact.

260. Cuối cùng, sự mặc khải đầy đủ gắn liền với mỗi Điểm Mặc Khải sẽ ngưng tụ với tác động trọn vẹn.

261. We have been given a new way to approach the illumination of the Points of Revelation. There is no charted approach. The adventuring consciousness must find the way.

261. Chúng ta đã được trao một cách tiếp cận mới để soi sáng các Điểm Mặc Khải. Chưa có lộ trình được vạch sẵn. Tâm thức dấn thân khám phá phải tìm ra con đường.

You may also have noted how one point of revelation leads normally to another.

Các bạn cũng có thể đã lưu ý cách một điểm mặc khải thường dẫn đến một điểm khác.

262. Just as one initiation leads to the next…

262. Cũng như một lần điểm đạo dẫn đến lần kế tiếp…

You will (having studied the three revelations indicated on pages 309-10) note how all of them concern the first divine aspect, starting with the initial energy set in motion by God's thinking; leading to the expression of the Will, which is the great first ray in action, and then focussing itself through the Monad. [323]

Sau khi nghiên cứu ba sự mặc khải được chỉ ra ở các trang 309-10, các bạn sẽ lưu ý rằng tất cả đều liên quan đến phương diện thiêng liêng thứ nhất, khởi đầu bằng năng lượng ban sơ được tư duy của Thượng đế khởi động; dẫn đến sự biểu hiện của Ý Chí, vốn là cung một vĩ đại đang hoạt động, rồi tập trung qua chân thần.

263. Whether or not we have noticed this, it is true. We noticed also that the Hints had much to do with the first aspect.

263. Dù chúng ta có nhận thấy điều này hay không, đó vẫn là sự thật. Chúng ta cũng đã nhận thấy rằng các Gợi Ý có liên quan nhiều đến phương diện thứ nhất.

264. It seems in fact that in this “Manual for Initiation” which the Tibetan has compiled for us, much access of the will is entailed.

264. Thực ra, dường như cuốn “Cẩm Nang Điểm Đạo” mà Chân sư Tây Tạng đã biên soạn cho chúng ta đòi hỏi sự tiếp cận sâu rộng với ý chí.

265. The Path of the Antahkarana is the Path of Will. The methods we are given teach us to tread the ‘Initiatory Path of Will’.

265. Con Đường Antahkarana là Con Đường Ý Chí. Những phương pháp được trao cho chúng ta dạy chúng ta bước trên ‘Con Đường Điểm Đạo của Ý Chí’.

266. The curriculum being offered so subtly in DINA II is invoking the higher reaches of our nature.

266. Chương trình học được trình bày hết sức tinh tế trong DINA II đang khẩn cầu những tầng cao hơn trong bản chất của chúng ta.

Curiously enough, in these three you have—symbolically and factually given you—expression of the three exoteric stages:

Điều khá kỳ lạ là trong ba điều này, các bạn có—cả về mặt biểu tượng lẫn thực tế—sự biểu hiện của ba giai đoạn ngoại môn:

267. The Tibetan is now tying many things together. Are we participating intelligently in the synthesis He is unfolding?

267. Giờ đây, Chân sư Tây Tạng đang liên kết nhiều điều với nhau. Chúng ta có đang tham gia một cách sáng suốt vào sự tổng hợp mà Ngài đang khai mở hay không?

268. The three exoteric stages which accompany every revelation are here related to the first three Points of Revelation.

268. Ba giai đoạn ngoại môn đi kèm với mọi sự mặc khải ở đây được liên hệ với ba Điểm Mặc Khải đầu tiên.

1. Penetration, the descending and circulatory nature of energy.

1. Thâm Nhập, bản chất đi xuống và tuần hoàn của năng lượng.

269. “Energy follows thought and the eye directs the energy”.

269. “Năng lượng đi theo tư tưởng và con mắt định hướng năng lượng”.

270. “The initial energy is set in motion by God’s thinking…

270. “Năng lượng ban đầu do tư duy của Thượng đế khởi động…

271. This outer expression is also related to the “Advancing Light”.

271. Biểu hiện bên ngoài này cũng liên quan đến “Ánh Sáng Tiến Tới”.

2. Polarisation, the effect upon this energy of the polarised will.

2. Phân Cực, tác động của ý chí đã phân cực lên năng lượng này.

272. “The will is an expression of the law of sacrifice.”

272. “Ý chí là một biểu hiện của định luật hi sinh.”

273. “…leading to the expression of the Will, which is the great first ray in action…”

273. “…dẫn đến sự biểu hiện của Ý Chí, tức cung một vĩ đại đang hoạt động…”

274. This outer expression is related to “Right Direction”

274. Biểu hiện bên ngoài này liên quan đến “Định Hướng Đúng Đắn”

3. Precipitation, through the focussed intent and the directed impulse of the Monad.

3. Ngưng Tụ, thông qua ý định tập trung và xung lực có định hướng của chân thần.

275. “The Monad is the planetary Logos what the third eye is to man.”

275. “Chân thần đối với Hành Tinh Thượng đế cũng như con mắt thứ ba đối với con người.”

276. “…and then focussing itself through the Monad…”

276. “…rồi tập trung qua chân thần…”

277. This outer expression is related to “Impact”.

277. Biểu hiện bên ngoài này liên quan đến “Tác Động”.

The next sequential revelation will be that of creativity, the world of thoughtforms and the desire which each human being and humanity as a whole have created, and (note this well) the setting in motion by humanity and in relation to its own destiny, the Law of Cause and Effect, or of Karma.

Sự mặc khải kế tiếp theo trình tự sẽ là về tính sáng tạo, thế giới các hình tư tưởng và dục vọng mà mỗi con người cũng như toàn thể nhân loại đã tạo ra, cùng với—hãy chú ý kỹ điều này—việc nhân loại khởi động Định luật Nhân Quả, hay Nghiệp Quả, trong mối liên hệ với định mệnh của chính mình.

278. DK is looking ahead to the fourth Point of Revelation, concerning the factor or “creativity” and the fourth ray.

278. Chân sư DK đang hướng đến Điểm Mặc Khải thứ tư, liên quan đến yếu tố hay “tính sáng tạo” và cung bốn.

279. There follows the fourth Point of Revelation:

279. Tiếp theo là Điểm Mặc Khải thứ tư:

4. Purpose itself is only an energy, released within the confines of the Council Chamber. There it must take shape.

4. Bản thân Thiên Ý chỉ là một năng lượng, được giải phóng trong phạm vi Phòng Hội Đồng. Tại đó, Thiên Ý phải thành hình.

Involves the buddhic or intuitional plane.

Bao hàm cõi Bồ đề hay cõi trực giác.

Relates to the fourth initiation.

Liên hệ với lần điểm đạo thứ tư.