← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

chapter 001 07

Trích nội dung chương

141. The true needs of humanity are other than its desires. This must be thought through and understood. Humanity today chases after artificial values prompted by distorted desires. All this must be adjusted; the adjustment will mean the end of the worst aspects of human glamor and illusion. 141. Những nhu cầu đích thực của nhân loại khác với những dục vọng của nhân loại. Cần suy xét thấu đáo và thấu hiểu điều này. Ngày nay, nhân loại chạy theo những giá trị giả tạo do những dục vọng méo mó thúc đẩy. Tất cả những điều này phải được điều chỉnh; sự điều chỉnh ấy sẽ đồng nghĩa với việc chấm dứt những phương diện tệ hại nhất của ảo cảm và ảo…


141. The true needs of humanity are other than its desires. This must be thought through and understood. Humanity today chases after artificial values prompted by distorted desires. All this must be adjusted; the adjustment will mean the end of the worst aspects of human glamor and illusion.

141. Những nhu cầu đích thực của nhân loại khác với những dục vọng của nhân loại. Cần suy xét thấu đáo và thấu hiểu điều này. Ngày nay, nhân loại chạy theo những giá trị giả tạo do những dục vọng méo mó thúc đẩy. Tất cả những điều này phải được điều chỉnh; sự điều chỉnh ấy sẽ đồng nghĩa với việc chấm dứt những phương diện tệ hại nhất của ảo cảm và ảo tưởng nơi con người.

Their plans, Their thinking and Their living potency pour out ceaselessly and affect the consciousness of Their disciples;

Những kế hoạch, tư tưởng và tiềm lực sống động của Các Ngài không ngừng tuôn ra và tác động đến tâm thức các đệ tử của Các Ngài;

142. DK refers to the Hierarchy as the source of our inspiration. Have we attuned to the source of this inspiration? Have we realized how sustained we are by Their thinking and Their living potency? Indeed, for all our labors, we are upheld spiritually, or we could not accomplish what we do.

142. Chân sư DK nói đến Thánh đoàn như nguồn cảm hứng của chúng ta. Chúng ta đã hòa điệu với nguồn cảm hứng này chưa? Chúng ta đã nhận ra tư tưởng và uy lực sống động của Các Ngài nâng đỡ chúng ta đến mức nào chưa? Quả thực, trong mọi nỗ lực của mình, chúng ta đều được nâng đỡ về mặt tinh thần; nếu không, chúng ta đã không thể hoàn thành những gì mình đang làm.

these latter step down the inflowing energies so that the thinkers and idealists can grasp these new emerging truths more accurately.

những đệ tử này hạ mức các năng lượng đang tuôn vào để các nhà tư tưởng và những người duy tâm có thể nắm bắt chính xác hơn những chân lý mới đang xuất hiện.

143. The ‘stepping-down’ process (consisting of modifying, qualifying and adapting the Plan) is indispensable if the Divine Circulatory Flow is to be reestablished, as it should be in the Aquarian Age—Aquarius being the sign of circulation.

143. Tiến trình ‘hạ giảm’ (gồm việc điều chỉnh, tạo phẩm tính riêng và thích nghi Thiên Cơ) là điều không thể thiếu nếu Dòng Lưu Chuyển Thiêng Liêng được tái lập, như điều phải diễn ra trong Kỷ Nguyên Bảo Bình—Bảo Bình là dấu hiệu của sự lưu chuyển.

Eventually the truths thus grasped change the consciousness of humanity as a whole and raise it—if you like that phrase;

Cuối cùng, những chân lý được nắm bắt như vậy làm thay đổi tâm thức toàn nhân loại và nâng cao tâm thức ấy—nếu các bạn muốn dùng cách nói đó;

144. It used to take fifty years for a new idea to implant itself and flourish within the consciousness of humanity. Now the time is much shorter.

144. Trước kia, phải mất năm mươi năm để một ý tưởng mới bén rễ và phát triển mạnh trong tâm thức nhân loại. Giờ đây, thời gian ấy ngắn hơn nhiều.

thus modes of daily living, civilised methods of conduct and cultural developments eventuate. All this is traceable to the group of initiates upon the inner side who thus serve their fellowmen and carry forward, consciously and with intent, the Law of Evolution.

nhờ vậy mà xuất hiện những lối sống hằng ngày, những cách ứng xử văn minh và những phát triển văn hóa. Tất cả điều này đều có thể truy nguyên về nhóm điểm đạo đồ ở phía bên trong, những vị qua đó phụng sự đồng loại và xúc tiến Định luật Tiến Hóa một cách hữu thức, có chủ đích.

145. DK emphasizes the source of change in culture and civilization. Were we to study the “History of Ideas”, our investigations would lead to the ‘Portal of Hierarchy’.

145. Chân sư DK nhấn mạnh nguồn gốc của sự thay đổi trong văn hóa và văn minh. Nếu nghiên cứu “Lịch Sử Các Ý Tưởng”, những khảo cứu của chúng ta sẽ dẫn đến ‘Cánh Cổng Thánh Đoàn’.

Whilst doing this, They Themselves are preparing to tread the "Way of the Higher Evolution."

Trong khi làm điều này, chính Các Ngài cũng đang chuẩn bị bước trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”.

146. The members of the Hierarchy “help below”, and the help They offer is one of Their methods of preparation for the still greater work They will undertake when They tread the “Way of Higher Evolution”.

146. Các thành viên của Thánh đoàn “trợ giúp phía dưới”, và sự trợ giúp Các Ngài dành cho phía dưới là một trong những phương pháp chuẩn bị cho công việc còn lớn lao hơn mà Các Ngài sẽ đảm nhận khi bước trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”.

147. The law is ever the same: sacrifice prepares the way for greater livingness.

147. Định luật luôn như vậy: hi sinh mở đường cho sức sống lớn lao hơn.

What that Way is I cannot tell you, for you would be unable to grasp its meaning; it is related to the spiritual condition and purpose of the Monad whose goal is not expansion of consciousness, but of that which such expansions of consciousness will reveal—a very different matter and one which is as yet entirely meaningless to anyone who has not taken the third initiation.

Tôi không thể nói cho các bạn biết Con Đường ấy là gì, vì các bạn sẽ không thể nắm bắt ý nghĩa của nó; nó liên quan đến trạng thái tinh thần và mục đích của Chân thần, mà mục tiêu không phải là sự mở rộng tâm thức, mà là sự mở rộng của điều những lần mở rộng tâm thức ấy sẽ mặc khải—một vấn đề rất khác, hiện vẫn hoàn toàn vô nghĩa đối với bất kỳ ai chưa tiếp nhận lần điểm đạo thứ ba.

148. This is an important section. The “Way of Higher Evolution” is related to the Monad—its spiritual condition and purpose.

148. Đây là một đoạn quan trọng. “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” liên quan đến chân thần—trạng thái tinh thần và mục đích của chân thần.

149. Who is it that treads the “Way of Higher Evolution”; it is the Monad.

149. Ai bước trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”? Đó là chân thần.

150. The goal of the Monad is the increased livingness which expansions of consciousness will reveal. Expansion prepares the way for livingness.

150. Mục tiêu của chân thần là sức sống gia tăng mà những sự mở rộng tâm thức sẽ mặc khải. Sự mở rộng mở đường cho sức sống.

151. The third initiation brings the initiate more intimately in relation to the “life aspect” of divinity. The true “meaning of life” is veiled to all below that point of achievement.

151. Lần điểm đạo thứ ba đưa điểm đạo đồ vào mối liên hệ mật thiết hơn với “phương diện sự sống” của thiên tính. “Ý nghĩa đích thực của sự sống” vẫn bị che khuất đối với tất cả những ai chưa đạt đến mức thành tựu ấy.

Forget not, the Christ and His great Brothers, and all of an even higher initiate-rank than They possess, have a definite goal, but it is one which will only define itself clearly in the third solar system, the system in which the Will of God is the dominant idea, as the Love of God conditions this system in which we now function.

Đừng quên rằng Đức Christ và các Huynh Đệ vĩ đại của Ngài, cùng tất cả những vị có cấp bậc điểm đạo còn cao hơn Các Ngài, đều có một mục tiêu rõ rệt, nhưng mục tiêu ấy chỉ tự xác định rõ ràng trong hệ mặt trời thứ ba, hệ thống mà Ý Chí của Thượng Đế là ý tưởng chủ đạo, cũng như Tình thương của Thượng đế đang định hình hệ thống nơi chúng ta hiện hoạt động.

152. DK speaks of a destined, far distant fulfillment. The true goal of the Christ, the Hierarchy and even of the Members of Shamballa will only be realized in the third major solar system—the ‘Will system’.

152. Chân sư DK nói đến một sự thành tựu đã được định trước trong tương lai xa xôi. Mục tiêu đích thực của Đức Christ, Thánh đoàn và ngay cả các Thành Viên của Shamballa sẽ chỉ được thực hiện trong hệ mặt trời chính yếu thứ ba—‘hệ mặt trời Ý Chí’.

153. The implication is that the goal of these great Beings is not yet clearly defined to Them. They know the direction, but the details are not yet entirely clear.

153. Điều này hàm ý rằng mục tiêu của các Đấng vĩ đại ấy vẫn chưa được xác định rõ ràng đối với Các Ngài. Các Ngài biết phương hướng, nhưng các chi tiết vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng.

154. There is a very interesting implication in the section above: namely, that the Christ, the Hierarchy and the members of Shamballa (i.e., those “of an even higher initiate-rank then They possess” will all be associated with the third solar system.

154. Đoạn trên có một hàm ý rất thú vị: đó là Đức Christ, Thánh đoàn và các thành viên của Shamballa (tức những vị “có cấp bậc điểm đạo còn cao hơn Các Ngài” đều sẽ liên hệ với hệ mặt trời thứ ba.

155. We could ask how this statement fits with the idea that those upon the "Way of Higher Evolution" will tread a Path which in most instances leads out of the solar system altogether! Do They return for participation in the third solar system? Or is the process which releases them from the development of our Solar Logos not completed until the last solar system is completed?

155. Chúng ta có thể hỏi phát biểu này phù hợp thế nào với ý tưởng rằng những vị trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” sẽ bước trên một Con Đường mà trong phần lớn trường hợp dẫn hoàn toàn ra ngoài hệ mặt trời! Các Ngài có trở lại để tham gia vào hệ mặt trời thứ ba không? Hay tiến trình giải phóng Các Ngài khỏi sự phát triển của Thái dương Thượng đế chúng ta chỉ hoàn tất khi hệ mặt trời cuối cùng hoàn tất?

But this is not consciousness or awareness; it is a stage of Being which is connected with the Law of Sacrifice—the law which governs those states of being which grow out of the establishment of right human relations.

Nhưng đây không phải là tâm thức hay sự nhận biết; đó là một giai đoạn của Bản Thể có liên hệ với Định luật Hy Sinh—định luật cai quản những trạng thái hiện tồn phát sinh từ việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

156. The goal of these great Beings might be described as ‘greater livingness in being’.

156. Có thể mô tả mục tiêu của các Đấng vĩ đại ấy là ‘sức sống lớn lao hơn trong bản thể’.

157. The method of treading the "Way of Higher Evolution" is obviously based on the Law of Sacrifice.

157. Phương pháp bước trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” hiển nhiên dựa trên Định luật Hi Sinh.

158. Success in the practice of Right Human Relations is the basis of all such progress. We can see why one of the major themes advanced by Shamballa at this time is Right Human Relations.

158. Thành công trong việc thực hành các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người là nền tảng của mọi sự tiến bộ như thế. Chúng ta có thể thấy vì sao một trong những chủ đề chính mà Shamballa thúc đẩy vào lúc này là các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người.

159. The ideas of Right Human Relations, the Law of Sacrifice, Being, the Monad and the "Way of Higher Evolution" must be contemplated together to induce further revelation.

159. Cần cùng nhau chiêm ngưỡng các ý tưởng về Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người, Định luật Hi Sinh, Bản Thể, chân thần và “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” để khơi mở sự mặc khải sâu hơn.

160. We have here another example of how Love leads more deeply into Being.

160. Ở đây, chúng ta có thêm một ví dụ về cách Tình thương dẫn sâu hơn vào Bản Thể.

Purpose can only be revealed and understood when such right relations are the firmly fixed habits of all "points of [272] divine expression."

Thiên Ý chỉ có thể được mặc khải và thấu hiểu khi những mối quan hệ đúng đắn ấy trở thành thói quen vững chắc của mọi “điểm [272] biểu lộ thiêng liêng”.

161. If we wish to understand Divine Purpose, we must love.

161. Nếu muốn thấu hiểu Thiên Ý, chúng ta phải yêu thương.

162. Self-conscious units are “points of divine expression”. We are “points of divine expression”. Are Right Human Relations firmly fixed habits in the way we live our lives?

162. Các đơn vị có ngã thức là những “điểm biểu hiện thiêng liêng”. Chúng ta là những “điểm biểu hiện thiêng liêng”. Các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người đã trở thành những thói quen vững chắc trong cách sống của chúng ta chưa?

163. Can we see how the processes of building and utilizing the antahkarana are both based on Right Human Relations and on the Law of Sacrifice?

163. Chúng ta có thấy các tiến trình kiến tạo và sử dụng antahkarana đều dựa trên các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người và Định luật Hi Sinh như thế nào không?

You can see, therefore, why it is not possible for those in process of grasping the need for right human relations to understand more than that a great possibility lies ahead. Of the nature of this possibility only the higher ranks of initiates are aware, and towards it they strive.

Vì thế, các bạn có thể thấy vì sao những người đang dần nắm bắt sự cần thiết của các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người không thể hiểu gì hơn ngoài việc có một khả năng lớn lao đang ở phía trước. Chỉ những điểm đạo đồ cấp cao mới biết bản chất của khả năng này, và Các Ngài nỗ lực hướng đến đó.

164. The enhancement of the revelation possible to us is based considerably upon the cultivation and expression of Right Human Relations.

164. Việc mở rộng sự mặc khải mà chúng ta có thể đón nhận phụ thuộc đáng kể vào việc vun bồi và thể hiện các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người.

165. DK speaks of a “great possibility” that “lies ahead”. If a greater degree of universality entered our consciousness (through the proper utilization of the antahkarana) we would understand far more of that great possibility.

165. Chân sư DK nói đến một “khả năng lớn lao” đang “ở phía trước”. Nếu một mức độ phổ quát lớn hơn đi vào tâm thức chúng ta (qua việc sử dụng antahkarana đúng đắn), chúng ta sẽ thấu hiểu nhiều hơn về khả năng lớn lao ấy.

166. The foundation of this potential realization is the expression of Right Human Relations as a firmly established spiritual habit in our lives.

166. Nền tảng của sự nhận biết tiềm tàng này là việc thể hiện các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người như một thói quen tinh thần đã được thiết lập vững chắc trong đời sống chúng ta.

THE FORMULAS

CÁC CÔNG THỨC

We now come to the second of the great Formulas which give the initiate the key to the next stage of his work. These curious and ancient sets of phrases or symbols are endowed with power, owing to the potency of the minds which have reflected upon them, which have constructed thoughtforms anent them, and which have used them as modes or methods of focussing triadal light upon the personality.

Giờ đây, chúng ta đến với công thức thứ hai trong số những Công Thức vĩ đại trao cho điểm đạo đồ chìa khóa vào giai đoạn tiếp theo của công việc. Những tập hợp câu chữ hay biểu tượng cổ xưa và kỳ lạ này mang quyền năng nhờ tiềm lực của những thể trí đã suy ngẫm về chúng, kiến tạo những hình tư tưởng về chúng và sử dụng chúng như những cách thức hay phương pháp tập trung ánh sáng tam nguyên tinh thần vào phàm ngã.

167. We enter into a consideration of Formula Two—the second Formula of Revelation.

167. Chúng ta bắt đầu xem xét Công Thức Hai—Công Thức Mặc Khải thứ hai.

168. Let us tabulate why these ancient formulas are so potent:

168. Chúng ta hãy lập bảng liệt kê những lý do khiến các công thức cổ xưa này có uy lực đến vậy:

1. The potency of the minds that have reflected upon them

1. Uy lực của những thể trí đã suy ngẫm về chúng

2. The potent effect of the minds that have constructed thoughtforms anent them

2. Tác động mạnh mẽ của những thể trí đã kiến tạo các hình tư tưởng về chúng

3. The utilization by such individuals of the formulas as modes or methods of focussing triadal light upon the personality

3. Việc những cá nhân ấy sử dụng các công thức như những cách thức hay phương pháp tập trung ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần vào phàm ngã

169. The formulas may seem to us curious and even remote. Nonetheless, they are powerful and demand penetration by the intuition. The concrete mind alone will not serve to reveal their meaning nor provide access to their potency.

169. Đối với chúng ta, các công thức có thể có vẻ lạ lùng và thậm chí xa vời. Tuy nhiên, chúng mang quyền năng và đòi hỏi sự thâm nhập bằng trực giác. Chỉ riêng trí cụ thể sẽ không thể mặc khải ý nghĩa của chúng, cũng không giúp tiếp cận uy lực của chúng.

I would call your attention to the form of words just used. These formulas do not release the light of the soul into the attentive waiting mind. They release the light of electric fire (and therefore not solar fire) into the integrated personality,

Tôi muốn các bạn chú ý đến cách diễn đạt vừa dùng. Những công thức này không giải phóng ánh sáng linh hồn vào thể trí đang chú tâm chờ đợi. Chúng giải phóng ánh sáng của lửa điện (và do đó không phải lửa thái dương) vào phàm ngã tích hợp,

170. Lest we forget, in the use of these formulas we are not dealing with the cultivation of soul consciousness within the personality, but with the release of the “light of electric fire” into the integrated personality.

170. Đừng quên rằng khi sử dụng những công thức này, chúng ta không bàn đến việc vun bồi tâm thức linh hồn trong phàm ngã, mà bàn đến việc giải phóng “ánh sáng của Lửa Điện” vào phàm ngã tích hợp.

171. Now, what is the “integrated personality”? May we say that it is the personality which is already to a significant degree soul-infused?

171. Vậy, “phàm ngã tích hợp” là gì? Chúng ta có thể nói rằng đó là phàm ngã đã được linh hồn thấm nhuần ở một mức độ đáng kể chăng?

172. Notice the phrase, “the light of electric fire”. It is not electric fire pure and simple that is released into the personality, but the light of this highest fire. May we consider, then, that it is the third aspect of electric fire that is thus released?

172. Hãy chú ý đến cụm từ “ánh sáng của Lửa Điện”. Điều được giải phóng vào phàm ngã không phải chỉ đơn thuần là Lửa Điện, mà là ánh sáng của ngọn lửa cao nhất này. Vậy, chúng ta có thể xem điều được giải phóng như thế là phương diện thứ ba của Lửa Điện chăng?

173. Whenever there is a release of light, a new phase of detection becomes possible for the indwelling consciousness.

173. Mỗi khi ánh sáng được giải phóng, tâm thức nội tại có khả năng bước vào một giai đoạn phát hiện mới.

174. It is becoming clear how very much Master DK is training His advancing disciples in the use of the Will. It is definitely a new stage of discipleship for which He is attempting to train us.

174. Ngày càng rõ rằng Chân sư DK đang huấn luyện sâu rộng đến mức nào cho các đệ tử đang tiến bước của Ngài về việc sử dụng Ý Chí. Chắc chắn đó là một giai đoạn mới của địa vị đệ tử mà Ngài đang cố gắng huấn luyện chúng ta để bước vào.

so that the entire man—now become the oriented mechanism of the Monad—is flooded with this higher form of energy—an aspect of the energy of will and related to the carrying forward of divine purpose.

để toàn bộ con người—giờ đã trở thành bộ máy có định hướng của Chân thần—tràn ngập dạng năng lượng cao hơn này—một phương diện của năng lượng ý chí, liên hệ với việc thực hiện Thiên Ý.

175. A powerful concept is offered. The disciple who responds properly to this new mode of training is becoming “the oriented mechanism of the Monad”. He is the “one-pointed disciple”, oriented towards the spiritual triad and the Monad, and oriented as well towards the service of humanity.

175. Một khái niệm đầy sức mạnh được đưa ra. Người đệ tử đáp ứng đúng đắn với phương thức huấn luyện mới này đang trở thành “bộ máy được định hướng của chân thần”. Y là “người đệ tử nhất tâm”, hướng về Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần, đồng thời cũng hướng về việc phụng sự nhân loại.

176. This “higher form of energy” is the “light of electric fire”. It is only one aspect of the energy of will.

176. “Dạng năng lượng cao hơn” này là “ánh sáng của Lửa Điện”. Nó chỉ là một phương diện của năng lượng ý chí.

177. Might we say that the “light of electric fire” is released potently at the third initiation; that the ‘love of electric fire’ is released at the fourth initiation; and that the ‘power of electric power’ is released at the fifth?

177. Liệu chúng ta có thể nói rằng “ánh sáng của Lửa Điện” được giải phóng mạnh mẽ ở lần điểm đạo thứ ba; rằng ‘tình thương của Lửa Điện’ được giải phóng ở lần điểm đạo thứ tư; và rằng ‘quyền năng của quyền năng điện’ được giải phóng ở lần điểm đạo thứ năm chăng?

178. We are no longer dealing with solar fire, yet, from a higher point of view, all these will-related energies are subsidiary aspects of the solar fire of the Solar Logos.

178. Chúng ta không còn bàn đến Lửa Thái dương, tuy nhiên, từ một góc nhìn cao hơn, tất cả những năng lượng liên hệ với ý chí này đều là những phương diện phụ thuộc của Lửa Thái dương thuộc Thái dương Thượng đế.

You can appreciate, consequently, how relatively impossible it is for any of you to do more than register the more obvious significances of these formulas and then await the time when your inner growth warrants a fresh approach to their interpretation.

Do đó, các bạn có thể hiểu rằng đối với bất kỳ ai trong các bạn, việc làm gì hơn ngoài ghi nhận những thâm nghĩa dễ nhận thấy hơn của các công thức này là điều tương đối bất khả; rồi các bạn phải chờ đến lúc sự tăng trưởng bên trong cho phép mình tiếp cận việc diễn giải chúng theo một cách mới.

179. DK offers us a humbling thought about our limited capacity to register higher significances, but, indeed, this is to be expected, as these formulas can be used during the period preceding the fifth initiation and even (perhaps) preceding the seventh.

179. Chân sư DK đưa ra một ý nghĩ khiến chúng ta khiêm nhường về khả năng hạn chế của mình trong việc ghi nhận những thâm nghĩa cao hơn, nhưng quả thực, đó là điều có thể dự liệu, vì những công thức này có thể được sử dụng trong giai đoạn trước lần điểm đạo thứ năm, và thậm chí (có lẽ) trước lần điểm đạo thứ bảy.

180. If we sense that we are having difficulty interpreting them, we will know why, and should be patient with ourselves until we can grow into the possibility of deeper apprehension.

180. Nếu cảm thấy mình gặp khó khăn khi diễn giải chúng, chúng ta sẽ biết vì sao, và nên kiên nhẫn với bản thân cho đến khi có thể trưởng thành đủ để lĩnh hội sâu hơn.

This formula is seen by the disciple inscribed upon the plates of the unknown metal, described by me on page 249.

Người đệ tử thấy công thức này khắc trên những tấm kim loại chưa biết tên mà Tôi đã mô tả ở trang 249.

181. By an “unknown metal” is meant the “allotrope of silver” which is to silver what diamond is to carbon.

181. “Kim loại chưa được biết đến” hàm ý “dạng thù hình của bạc”, có mối quan hệ với bạc tương tự như kim cương với cacbon.

It is formed of a series of lines which meet at a circle within a square, such as that depicted below:

Nó gồm một chuỗi đường gặp nhau tại một vòng tròn bên trong một hình vuông, như hình dưới đây:

[picture]

[picture]

182. We see both the square and the rectangle. The square is a more archetypal figure according more with the first ray, just as the triangle (including in it the idea of ratio or proportion) accords more with the second ray.

182. Chúng ta thấy cả hình vuông lẫn hình chữ nhật. Hình vuông mang tính nguyên mẫu hơn, tương ứng nhiều hơn với cung một, cũng như hình tam giác (bao hàm ý tưởng về tỉ số hay tỉ lệ) tương ứng nhiều hơn với cung hai.

183. Interestingly, in considering the dimensions of the two figures, the rectangle is very close to being two squares. If the proportions of the first figure are 1x1x1x1, the proportions of the rectangle are 2x1x2x1 (or very close to this).

183. Điều thú vị là khi xét kích thước của hai hình, hình chữ nhật gần bằng hai hình vuông. Nếu tỉ lệ các cạnh của hình thứ nhất là 1x1x1x1, thì tỉ lệ các cạnh của hình chữ nhật là 2x1x2x1 (hoặc rất gần như vậy).

184. We notice that each figure has sixteen rays and, thus, the relation to the sixteen-petalled throat center is suggested.

184. Chúng ta nhận thấy mỗi hình có mười sáu tia, qua đó gợi ra mối liên hệ với trung tâm cổ họng có mười sáu cánh hoa.

185. These figures relate to the antahkarana, the building of which is dependent upon the third ray, Mercury and the throat center.

185. Những hình này liên hệ với antahkarana, mà việc kiến tạo phụ thuộc vào cung ba, Sao Thủy và trung tâm cổ họng.

186. The circle in the center is larger in the square and smaller in the rectangle. From one perspective, the rectangle represents an earlier phase of development in which Spirit is less emergent.

186. Vòng tròn ở trung tâm lớn hơn trong hình vuông và nhỏ hơn trong hình chữ nhật. Từ một góc nhìn, hình chữ nhật biểu thị một giai đoạn phát triển sớm hơn, trong đó Tinh thần ít hiển lộ hơn.

187. Each symbol can be understood as depicting the sixteen rays of the Sun, which reduce to the seven rays of the Sun, each carrying (qualitatively) one of the seven rays.

187. Có thể hiểu mỗi biểu tượng là hình ảnh mô tả mười sáu tia của Mặt Trời, quy về bảy tia của Mặt Trời, mỗi tia mang (về phẩm tính) một trong bảy cung.

188. Interestingly, the egoic lotus is analogous to the Sun and is comprised of sixteen major factors:

188. Điều thú vị là Hoa Sen Chân Ngã tương đồng với Mặt Trời và gồm mười sáu yếu tố chính:

1. The "Jewel in the Lotus"

1. “Bảo Ngọc Trong Hoa Sen”

2. The three synthesizing petals

2. Ba cánh hoa tổng hợp

3. The three sacrifice petals

3. Ba cánh hoa hi sinh

4. The three love petals

4. Ba cánh hoa bác ái

5. The three knowledge petals

5. Ba cánh hoa tri thức

6. The three members of the atomic triangle—mental unit, astral permanent atom, and physical permanent atom.

6. Ba thành phần của tam giác nguyên tử—đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần.

[273]

[273]

Curiously enough, it is this ancient symbol, with its indicated reference to the emotional nature, and therefore to the Atlantean consciousness, which points to a basis for progress, which is the subtle force behind the "flags of all nations."

Điều khá kỳ lạ là chính biểu tượng cổ xưa này, với mối liên hệ đã chỉ ra với bản chất cảm xúc, và do đó với tâm thức Atlantis, lại chỉ đến một nền tảng cho sự tiến bộ, vốn là mãnh lực tinh tế đằng sau “quốc kỳ của mọi quốc gia”.

189. Flags of nations are more rectangular than square. Flags accord with the second ray line of force (2-4-6), just as the rectangle does.

189. Quốc kỳ thường có dạng hình chữ nhật hơn là hình vuông. Cũng như hình chữ nhật, những lá cờ tương ứng với tuyến mãnh lực cung hai (2-4-6).

190. We remember that although each formula can be used before any of the major initiations (perhaps, including even the first), each is also more specifically related to one of these initiations. This formula is related most to the second initiation, and hence, deals with the emotional nature, its orientation, its aspirational animation, and eventual subjugation.

190. Chúng ta nhớ rằng mặc dù mỗi công thức đều có thể dùng trước bất kỳ cuộc điểm đạo chính yếu nào (có lẽ kể cả lần thứ nhất), mỗi công thức cũng liên hệ cụ thể hơn với một trong những cuộc điểm đạo ấy. Công thức này liên hệ mật thiết nhất với lần điểm đạo thứ hai, và do đó đề cập đến bản chất cảm xúc, sự định hướng của nó, sức sống do khát vọng khơi dậy nơi nó, và việc cuối cùng chế ngự nó.

191. If the first initiation is, symbolically, the ‘Lemurian Initiation’, then the second is the ‘Atlantean’ and the third the ‘Aryan’.

191. Nếu theo nghĩa biểu tượng, lần điểm đạo thứ nhất là “Cuộc Điểm Đạo Lemuria”, thì lần thứ hai là “Atlantis” và lần thứ ba là “Arya”.

192. There is a subtle force behind the “flags of all nations” and it is a basis for human progress. Have we sensed this subtle force? If so can we understand its power to induce aspiration and correct orientation?

192. Có một mãnh lực tinh tế đằng sau “những lá cờ của mọi quốc gia”, và đó là nền tảng cho sự tiến bộ của con người. Chúng ta đã cảm nhận được mãnh lực tinh tế này chưa? Nếu đã cảm nhận, liệu chúng ta có thể thấu hiểu quyền năng khơi dậy khát vọng và sự định hướng đúng đắn của nó không?

Flags are symbols of the devotion of a people to their national soil and to their national spiritual objectives.

Quốc kỳ là biểu tượng cho lòng tận tụy của một dân tộc đối với đất nước và những mục tiêu tinh thần của quốc gia mình.

193. We notice that there is devotion to both the material (“soil”) and spiritual aspects of the nation. The “soil” represents the past and the “national spiritual objectives” the future.

193. Chúng ta nhận thấy có lòng sùng kính đối với cả phương diện vật chất (“đất đai”) lẫn phương diện tinh thần của quốc gia. “Đất đai” đại diện cho quá khứ, còn “những mục tiêu tinh thần của quốc gia” đại diện cho tương lai.

They have of course been prostituted to signify national separativeness and selfishness and national patriotism, but behind the flag is a point of power which is the point of inspiration to the soul of the people.

Dĩ nhiên, chúng đã bị lạm dụng để biểu thị tính chia rẽ, sự ích kỷ và lòng ái quốc của các quốc gia, nhưng đằng sau lá cờ là một điểm quyền năng, nguồn cảm hứng cho linh hồn dân tộc.

194. It would seem that the circle in the center of the two figures could be understood as the “point of inspiration to the soul of the people”.

194. Dường như có thể hiểu vòng tròn ở trung tâm của hai hình là “điểm truyền cảm hứng cho linh hồn của dân tộc”.

195. Or we could conceive of a point (not depicted) within the circle as that “point of inspiration”.

195. Hoặc chúng ta có thể quan niệm một điểm (không được vẽ ra) bên trong vòng tròn là “điểm truyền cảm hứng” ấy.

196. Associated with each such flag may be found what we might call a ‘National Deva’—the great Deva who embodies the soul nature of the nation.

196. Gắn với mỗi lá cờ như thế có thể có một Đấng mà chúng ta tạm gọi là “Thiên Thần Quốc Gia”—vị Thiên Thần vĩ đại hiện thân cho bản chất linh hồn của quốc gia.

Not yet, equally of course, is the "point moving forward into the circle of the people's life";

Cũng hiển nhiên như vậy, “điểm ấy” vẫn chưa “tiến vào vòng tròn đời sống của dân tộc”;

197. Might we assume that the point moves forward along the rays which are depicted (representing the sixteen potencies of the soul expressed in the seven ray energies).

197. Liệu chúng ta có thể giả định rằng điểm ấy tiến theo các tia được vẽ ra (đại diện cho mười sáu tiềm năng của linh hồn biểu lộ qua bảy năng lượng cung) hay không.

198. For some nations the point has entered more fully into the people’s lives.

198. Đối với một số quốc gia, điểm ấy đã đi vào đời sống của dân chúng một cách trọn vẹn hơn.

as yet, you have only the square of the personality reactions of the people and the lines of their evolutionary approach to a deeper consciousness;

cho đến nay, các bạn mới chỉ có hình vuông biểu thị những phản ứng phàm ngã của dân tộc và những đường biểu thị sự tiến hóa của họ hướng đến một tâm thức sâu sắc hơn;

199. This is yet another way of conceiving the first figure—as the “square of personality life”. Instead of conceiving the lines as emanating from the central circle, DK considers them as “lines of their evolutionary approach to a deeper consciousness”—i.e., the approach of the people.

199. Đây lại là một cách khác để quan niệm hình thứ nhất—như “hình vuông của đời sống phàm ngã”. Thay vì quan niệm các đường phát ra từ vòng tròn trung tâm, Chân sư DK xem chúng là “những đường biểu thị sự tiếp cận, qua tiến hoá, của họ với một tâm thức sâu sắc hơn”—tức là sự tiếp cận của dân chúng.

200. It would seem that from this perspective, the first figure represents a lesser stage of development than the second rather than a more archetypal phase.

200. Dường như từ góc nhìn này, hình thứ nhất đại diện cho một giai đoạn phát triển thấp hơn hình thứ hai, thay vì một giai đoạn mang tính nguyên mẫu hơn.

201. But just as the circle is a more perfect figure than an oval, so is a square more perfect than a rectangle. A different mode of interpretation, however, appears to be in effect.

201. Nhưng cũng như hình tròn hoàn hảo hơn hình bầu dục, hình vuông cũng hoàn hảo hơn hình chữ nhật. Tuy nhiên, ở đây dường như đang áp dụng một cách diễn giải khác.

202. The square, however, (if it means simply the material square of life) can represent a lesser idea than the rectangle (which embraces the idea of the soul and the number two).

202. Tuy nhiên, hình vuông (nếu nó chỉ hàm ý hình vuông vật chất của đời sống) có thể đại diện cho một ý tưởng thấp hơn hình chữ nhật (vốn bao hàm ý tưởng về linh hồn và con số hai).

this developing consciousness we call the "soul of the people."

chúng ta gọi tâm thức đang phát triển này là “linh hồn dân tộc”.

203. Let us define the matter clearly: the people’s “evolutionary approach to a deeper consciousness” (i.e., their “developing consciousness”) is called the “soul of the people”.

203. Chúng ta hãy xác định rõ vấn đề: “sự tiếp cận, qua tiến hoá, của dân chúng với một tâm thức sâu sắc hơn” (tức là “tâm thức đang phát triển” của họ) được gọi là “linh hồn của dân tộc”.

204. There is the developing “soul of the people” (this is one level of consciousness) and another level of the “soul of the people” which is on its own plane, and far more fully in accord with the National Deva of that particular people.

204. Có “linh hồn của dân tộc” đang phát triển (đây là một cấp độ tâm thức) và một cấp độ khác của “linh hồn của dân tộc” vốn ở trên cõi riêng của nó, và hoà hợp trọn vẹn hơn nhiều với vị Thiên Thần Quốc Gia của dân tộc cụ thể ấy.

Some day, the point will take its place in the centre of the square and all the lines will converge upon that point;

Một ngày kia, điểm ấy sẽ ở đúng vị trí tại trung tâm hình vuông và mọi đường sẽ hội tụ vào điểm đó;

205. Another way of looking at the central circle is as a figure which is eventually to become a point. In this case, a larger circle found within the square would represent a lesser stage of development than a smaller circle, and a smaller circle a lesser stage than a point.

205. Một cách nhìn khác về vòng tròn trung tâm là xem nó như một hình cuối cùng sẽ trở thành một điểm. Trong trường hợp này, một vòng tròn lớn hơn nằm trong hình vuông sẽ đại diện cho một giai đoạn phát triển thấp hơn một vòng tròn nhỏ hơn, và một vòng tròn nhỏ hơn đại diện cho một giai đoạn thấp hơn một điểm.

206. When we think of the circle, the thought of the “soul of the people” is associated. When we think of a point, would the thought of the Spirit of the people be more appropriate?

206. Khi nghĩ đến vòng tròn, chúng ta liên tưởng đến “linh hồn của dân tộc”. Khi nghĩ đến một điểm, liệu ý tưởng về Tinh Thần của dân tộc có thích hợp hơn không?

we shall then have a nation, galvanised into activity by interior spiritual energy, and the lines which have hitherto converged inwards towards the centre will become channels or pathways along which spiritual energy will flow into every phase of a nation's civilisation and culture;

khi ấy chúng ta sẽ có một quốc gia được năng lượng tinh thần bên trong thúc đẩy mạnh mẽ vào hoạt động, và những đường trước đây hội tụ vào trong, hướng đến trung tâm, sẽ trở thành các kênh hay lối dẫn để năng lượng tinh thần tuôn vào mọi phương diện của nền văn minh và văn hóa quốc gia;

207. Aspiration (represented by the converging lines oriented towards the central circle or point) will be replaced by the inspiration (the out-flow from the center). “Lines’ become “channels”.

207. Khát vọng (mà những đường hội tụ hướng về vòng tròn hay điểm trung tâm biểu thị) sẽ nhường chỗ cho cảm hứng (dòng tuôn ra từ trung tâm). “Những đường” trở thành “những kênh”.

208. We note that the outflowing energy is called “spiritual energy” which may be understood as connecting the center with something higher than the soul—i.e., the Spirit.

208. Chúng ta lưu ý rằng năng lượng tuôn ra được gọi là “năng lượng tinh thần”, điều này có thể được hiểu là sự kết nối trung tâm với một điều gì cao hơn linh hồn—tức là Tinh Thần.

the nation will then be linked up—through the point at the centre—with the source of divine inspiration, which is one for all types, all nations and all races in time and space.

bấy giờ quốc gia ấy sẽ liên kết—qua điểm ở trung tâm—với nguồn cảm hứng thiêng liêng, vốn là một đối với mọi loại hình, mọi quốc gia và mọi thành phần nhân loại trong thời gian và không gian.

209. Via the central point, it would seem that the nation will be linked up with Shamballa, which can be considered the one “source of divine inspiration” for the nations of the world.

209. Dường như qua điểm trung tâm, quốc gia sẽ kết nối với Shamballa, có thể xem là “nguồn cảm hứng thiêng liêng” duy nhất cho các quốc gia trên thế giới.

210. The source of inspiration is beyond the qualities which differentiate the various nations.

210. Nguồn cảm hứng vượt lên trên những phẩm tính tạo nên sự biến phân giữa các quốc gia.

I have used the exoteric symbol of the flag to convey to you a hint as to the esoteric meaning of this very simple but most potent form.

Tôi đã dùng biểu tượng ngoại môn của lá cờ để truyền cho các bạn một gợi ý về ý nghĩa nội môn của hình tướng rất đơn giản nhưng vô cùng mạnh mẽ này.

211. One would think that DK’s approach to the esoteric meaning of the flag would inspire us to new realization when we contemplate the flag of our own particular nation—whatever nation it might be.

211. Có thể nghĩ rằng cách Chân sư DK tiếp cận ý nghĩa nội môn của lá cờ sẽ truyền cảm hứng cho chúng ta đạt đến nhận thức mới khi chiêm ngưỡng quốc kỳ của chính quốc gia mình—bất kể đó là quốc gia nào.

Four words, or rather phrases, are found written, deep in the metal, around each side of the square:

Có bốn từ, hay đúng hơn là bốn cụm từ, khắc sâu vào kim loại, dọc theo mỗi cạnh của hình vuông:

[Picture]

[Picture]

[274]

[274]

212. We could ponder long and hard on the implications of these four words and all such pondering will be preliminary.

212. Chúng ta có thể suy ngẫm lâu dài và sâu sắc về những hàm ý của bốn từ này, và mọi suy ngẫm như thế vẫn chỉ là bước sơ khởi.

213. The terms surrounding the rectangle are not given in order of the elements: fire, earth, air, and water.

213. Các thuật ngữ bao quanh hình chữ nhật không được trình bày theo thứ tự của các nguyên tố: lửa, đất, khí và nước.

214. From the astrological perspective, the only term in the ‘correct’ placement is Oceanic Synthesis which correlates with the archetypal placement of the sign Cancer.

214. Từ góc nhìn chiêm tinh học, thuật ngữ duy nhất ở vị trí “đúng” là Tổng Hợp Đại Dương, tương ứng với vị trí nguyên mẫu của dấu hiệu Cự Giải.

215. All four of these terms can be correlated to three general meanings: essential unity, related synthesis and cooperative understanding.

215. Cả bốn thuật ngữ này đều có thể liên hệ với ba ý nghĩa chung: tính hợp nhất về bản thể, sự tổng hợp trong tương quan và sự thấu hiểu trong hợp tác.

216. The term “Fiery Relations” relates most directly to the fire of Spirit and is placed in the uppermost position where Spirit (per se, and as fire) belongs.

216. Thuật ngữ “Các Quan Hệ Lửa” liên hệ trực tiếp nhất với lửa của Tinh Thần và nằm ở vị trí cao nhất, nơi thuộc về Tinh Thần (chính Tinh Thần, và Tinh Thần với tư cách là lửa).

217. “Fiery Relations” occur specifically between Monad and Monad, even though all Monads are one.

217. “Các Quan Hệ Lửa” diễn ra cụ thể giữa Chân Thần với Chân Thần, mặc dù mọi Chân Thần đều là một.

218. We might consider the vertical axis as the axis most related to Spirit and the horizontal axis more related to expression and implementation.

218. Chúng ta có thể xem trục dọc là trục liên hệ mật thiết nhất với Tinh Thần, còn trục ngang liên hệ nhiều hơn với sự biểu lộ và thực hiện.

219. If “Fiery Relations” represent the realm of purity of Spirit and the synthesis of Spirit, then “Oceanic Synthesis”, represents the synthesis within the realm of Matter. Synthesis is not only of Spirit. There is also a material synthesis, and “water” is another name for “matter”.

219. Nếu “Các Quan Hệ Lửa” đại diện cho lĩnh vực thuần khiết của Tinh Thần và sự tổng hợp của Tinh Thần, thì “Tổng Hợp Đại Dương” đại diện cho sự tổng hợp trong lĩnh vực Vật Chất. Sự tổng hợp không chỉ thuộc về Tinh Thần. Cũng có một sự tổng hợp vật chất, và “nước” là một tên gọi khác của “vật chất”.

220. We are all swimming within the great “Ocean of Matter”, from which we extract ourselves when re-becoming the fiery Monad.

220. Tất cả chúng ta đều đang bơi trong “Đại Dương Vật Chất” rộng lớn, từ đó chúng ta tự thoát ra khi trở lại là Chân Thần lửa.

221. From one perspective, “Fiery Relations” could occur within the “Sea of Fire” on the logoic plane, in relation to which all the lesser six planes are within the “Ocean of Matter”.

221. Từ một góc nhìn, “Các Quan Hệ Lửa” có thể diễn ra trong “Biển Lửa” trên cõi Thượng đế; so với cõi ấy, cả sáu cõi thấp hơn đều nằm trong “Đại Dương Vật Chất”.

222. Fire and Water (in this diagram) seem to relate to essences. Air and Earth seem to relate to the manner in which these essences may be expressed.

222. Lửa và Nước (trong sơ đồ này) dường như liên hệ với những tinh tuý. Khí và Đất dường như liên hệ với cách thức biểu lộ những tinh tuý này.

223. The province of the Monad is really the three lower ethers of the cosmic physical plane (the monadic, atmic and buddhic planes of the cosmic physical plane). The Monad (as we usually consider it) does not extend to the logoic plane. But what shall we say of the Christ (focussed as He is on the logoic plane) or of the Buddha (Who is in Shamballa). The Realm of Shamballa comprises the four cosmic ethers. From another perspective, Shamballa encompasses the entire cosmic physical plane (cf. TCF 344). Shamballa is ‘inhabited’ by Those Who live in monadic awareness, minimally.

223. Phạm vi của Chân Thần thực ra là ba cõi dĩ thái thấp của cõi hồng trần vũ trụ (các cõi chân thần, atma và Bồ đề của cõi hồng trần vũ trụ). Chân Thần (theo cách chúng ta thường quan niệm) không vươn đến cõi Thượng đế. Nhưng chúng ta sẽ nói gì về Đức Christ (Ngài vốn tập trung trên cõi Thượng đế) hay về Đức Phật (Ngài ở Shamballa). Cảnh Giới Shamballa bao gồm bốn cõi dĩ thái vũ trụ. Từ một góc nhìn khác, Shamballa bao trùm toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ (xem TCF 344). Những Đấng “cư ngụ” tại Shamballa sống ít nhất trong sự nhận biết chân thần.

224. The term “Airy Expansion” seems to be related to the sixth law of the soul: the “Law of Expansive Response”. The buddhic plane is the realm of air, but we cannot be sure that “Airy Expansion” should be related directly to this plane. The dynamism of the planet Jupiter seems suggested in the dynamic of expansion.

224. Thuật ngữ “Mở Rộng của Khí” dường như liên hệ với định luật thứ sáu của linh hồn: “Định luật Đáp Ứng Mở Rộng”. Cõi Bồ đề là lĩnh vực của khí, nhưng chúng ta không thể chắc rằng nên liên hệ “Mở Rộng của Khí” trực tiếp với cõi này. Động lực mở rộng dường như gợi đến sức năng động của Sao Mộc.

225. Monadic awareness is, if anything, expansive and all pervasive. The usual ring-pass-nots are abrogated; the usual boundaries do not inhibit.

225. Đặc tính nổi bật của sự nhận biết chân thần là tính mở rộng và thấm nhuần khắp nơi. Những vòng-giới-hạn thông thường bị xoá bỏ; những ranh giới thông thường không còn ngăn trở.

226. The Self (found astrologically at the position where “Airy Expansion” is placed) is the ever expanding factor, ultimately disdainful of all ring-pass-nots.

226. Bản Ngã (theo chiêm tinh học, nằm ở vị trí đặt “Mở Rộng của Khí”) là yếu tố không ngừng mở rộng, cuối cùng xem nhẹ mọi vòng-giới-hạn.

227. The last term is “Earthy Contact”. One factor correlates with what might be expected from the astrological perspective: the placement of the term “Earthly Contact” is found at that section of the rectangle where the seventh house of the astrological chart would be found, and that house governs relations through which contact comes.

227. Thuật ngữ cuối cùng là “Tiếp Xúc của Đất”. Một yếu tố phù hợp với điều có thể dự kiến từ góc nhìn chiêm tinh học: thuật ngữ “Tiếp Xúc của Đất” nằm ở phần hình chữ nhật tương ứng với vị trí nhà bảy của lá số chiêm tinh, và nhà ấy cai quản các mối quan hệ mà qua đó sự tiếp xúc diễn ra.

228. “Earthly Contact” seems the most specific and concrete of the four terms. It is definitely not the point at which any process was inaugurated, but rather that which represents a result.

228. “Tiếp Xúc của Đất” dường như là thuật ngữ cụ thể và rõ rệt nhất trong bốn thuật ngữ. Chắc chắn đó không phải điểm khởi đầu của bất kỳ tiến trình nào, mà là điều đại diện cho một kết quả.

229. That which is limited expands (“Airy Expansion”); that which is limited makes contact (“Earthy Contact”). The horizontal axis presents more limited factors than the vertical axis.

229. Cái hữu hạn mở rộng (“Mở Rộng của Khí”); cái hữu hạn thực hiện sự tiếp xúc (“Tiếp Xúc của Đất”). Trục ngang trình bày những yếu tố hữu hạn hơn trục dọc.

230. We recall the in the Formula One, that the four elements were initially presented:

230. Chúng ta nhớ rằng trong Công Thức Một, bốn nguyên tố đã được trình bày ngay từ đầu:

"A line of fire between two blazing points. A stream of water blue—again a line—emerging from the earth—and ending in the ocean. A tree with root above and flowers below.

“Một đường lửa giữa hai điểm rực cháy. Một dòng nước xanh—lại là một đường—trào lên từ đất—và kết thúc trong đại dương. Một cây có rễ ở trên và hoa ở dưới.

"Out of the fire, and always at the midway point, appears the eye of God (Shiva). Upon the stream, between the two extremes, there floats the eye of vision—a thread of light unites the two.

“Từ trong lửa, và luôn ở điểm ở giữa, xuất hiện con mắt của Thượng đế (Shiva). Trên dòng nước, giữa hai đầu cực, con mắt linh thị trôi nổi—một sợi dây ánh sáng nối liền cả hai.

"Deep in the tree, between the root and flowers, the eye again is seen. The eye that knows, the eye that sees, the directing eye—one made of fire, one fluid as the sea, and two which look from here to there. Fire, water and the earth—all need the vital air. The air is life. The air is God." (DINA II 250-251)

“Sâu trong cây, giữa rễ và hoa, con mắt lại hiện ra. Con mắt biết, con mắt thấy, con mắt chỉ đạo—một mắt bằng lửa, một mắt linh động như biển cả, và hai mắt nhìn từ đây đến đó. Lửa, nước và đất—tất cả đều cần khí mang sinh lực. Khí là sự sống. Khí là Thượng đế.” (DINA II 250-251)

231. Comparing the significances of the elements in these two formulas would be of value.

231. Việc so sánh thâm nghĩa của các nguyên tố trong hai công thức này sẽ có giá trị.

232. In Formula One, as well, it seems that fire is above and water below. The air, in Formula One, may be all pervading.

232. Trong Công Thức Một cũng vậy, dường như lửa ở trên và nước ở dưới. Khí trong Công Thức Một có thể thấm nhuần khắp nơi.

233. The term “Oceanic Synthesis” suggests that which lies beyond encapsulated limitation. “Fiery Relations” suggest relations between essences rather than between bounded things (more related to air and earth).

233. Thuật ngữ “Tổng Hợp Đại Dương” gợi đến điều vượt ngoài giới hạn khép kín. “Các Quan Hệ Lửa” gợi đến những mối quan hệ giữa các tinh tuý hơn là giữa những sự vật có ranh giới (vốn liên hệ nhiều hơn với khí và đất).

234. The vertical axis emphasizes matrices of fire and water; ring-pass-nots are not emphasized.

234. Trục dọc nhấn mạnh những môi trường nền tảng của lửa và nước; các vòng-giới-hạn không được nhấn mạnh.

235. The horizontal axis suggests not so much fiery or watery matrices as the actions of the entities contained within matrices.

235. Trục ngang gợi đến những hoạt động của các thực thể nằm trong những môi trường nền tảng, hơn là chính các môi trường nền tảng của lửa hay nước.

236. A Monad, it would seem, is capable of all four types of elemental expression.

236. Dường như một Chân Thần có khả năng biểu lộ theo cả bốn loại nguyên tố.

237. Is there a progression to be found in relation to this flag symbol—any ‘starting point’, suggesting a cycle?

237. Liệu có thể tìm thấy một trình tự tiến triển liên quan đến biểu tượng lá cờ này—một “điểm khởi đầu” nào gợi ra một chu kỳ hay không?

238. Astrologically we always begin at the nine o’clock position, but it does not seem advisable here. When dealing with diagrams representing the relationships between chains, we begin at a position more elevated.

238. Trong chiêm tinh học, chúng ta luôn bắt đầu ở vị trí chín giờ, nhưng ở đây dường như không nên làm như vậy. Khi bàn đến những sơ đồ biểu thị các mối quan hệ giữa các dãy, chúng ta bắt đầu ở một vị trí cao hơn.

239. We could move in a counter-clockwise manner, from “Fiery Relations”, to “Airy Expansion”, to “Oceanic Synthesis” to “Earthy Contact”. Perhaps a case could be made for this mode of progression, but it would not be easy.

239. Chúng ta có thể đi ngược chiều kim đồng hồ, từ “Các Quan Hệ Lửa” đến “Mở Rộng của Khí”, đến “Tổng Hợp Đại Dương”, rồi đến “Tiếp Xúc của Đất”. Có lẽ có thể lập luận để ủng hộ cách tiến triển này, nhưng điều đó sẽ không dễ dàng.

240. If we want to conform to elemental progression, we could proceed clockwise:

240. Nếu muốn tuân theo trình tự các nguyên tố, chúng ta có thể đi theo chiều kim đồng hồ:

1. As our starting point, the logoic plane is a plane of fire, the “Sea of Fire” and so, “Fiery Relations” would be well-correlated with this “Sea”. The logoic plane is ruled by the sign Leo.

1. Là điểm khởi đầu của chúng ta, cõi Thượng đế là một cõi lửa, “Biển Lửa”, và vì thế “Các Quan Hệ Lửa” sẽ tương ứng thích hợp với “Biển” này. Dấu hiệu Sư Tử cai quản cõi Thượng đế.

2. The monadic plane, interestingly, is ruled by an earth sign, Virgo, and so, “Earthy Contact” could be considered appropriate.

2. Điều thú vị là cõi chân thần do một dấu hiệu hành thổ, Xử Nữ, cai quản, và vì thế có thể xem “Tiếp Xúc của Đất” là thích hợp.

3. Curiously enough, one view of the atmic plane (cf. EA 35) suggests that “Water” is to be considered in relation to this plane. “Oceanic Synthesis”? Perhaps, but the assignment is not entirely satisfying.

3. Điều khá lạ là một quan điểm về cõi atma (xem EA 35) gợi ý rằng cần xem xét “Nước” trong mối liên hệ với cõi này. “Tổng Hợp Đại Dương” chăng? Có lẽ, nhưng sự quy gán này chưa hoàn toàn thoả đáng.

4. Finally, the buddhic plane is always known as the plane of air, and could be considered as correlated with “Airy Expansion”.

4. Cuối cùng, cõi Bồ đề luôn được biết đến là cõi của khí, và có thể xem là tương ứng với “Mở Rộng của Khí”.

241. One other point of view might be offered. It has the advantage of a certain logic correlating the four terms with the four cosmic etheric planes.

241. Có thể đưa ra một góc nhìn khác. Góc nhìn này có ưu điểm là mang một tính hợp lý nhất định khi liên hệ bốn thuật ngữ với bốn cõi dĩ thái vũ trụ.

242. Suppose we utilize the sign of the cross, moving from top to bottom and then from left to right.

242. Giả sử chúng ta dùng dấu thập giá, đi từ trên xuống dưới rồi từ trái sang phải.

1. The process would begin with “Fiery Relations” taken in relation to the “Sea of Fire”.

1. Tiến trình sẽ bắt đầu với “Các Quan Hệ Lửa”, xét trong mối liên hệ với “Biển Lửa”.

2. “Oceanic Synthesis” would come second, and would accord with the monadic plane. If the first plane represents the fiery essence, the second plane represents the material vehicle and matter is “water”. Further, the monadic plane is definitely a synthetic plane. The highest synthesis of archetypal forms is there found. The great spheres (seven of them) would be as great ‘water drops’.

2. “Tổng Hợp Đại Dương” sẽ đứng thứ hai và tương ứng với cõi chân thần. Nếu cõi thứ nhất đại diện cho tinh tuý lửa, thì cõi thứ hai đại diện cho hiện thể vật chất, và vật chất là “nước”. Hơn nữa, cõi chân thần chắc chắn là một cõi tổng hợp. Nơi đó có sự tổng hợp cao nhất của các hình tướng nguyên mẫu. Những khối cầu lớn (có bảy khối cầu như thế) sẽ giống như những “giọt nước” lớn.

3. Moving to the left and, thus, to the horizontal arm, we would have “Airy Expansion” correlated to the atmic plane. The atmic plane is a plane of universal mentality and it is ruled by Libra, an air sign. Mentality can be correlated with air as well as with fire.

3. Di chuyển sang trái, và do đó đến nhánh ngang, chúng ta sẽ có “Mở Rộng của Khí” tương ứng với cõi atma. Cõi atma là một cõi của trí tuệ phổ quát và do Thiên Bình, một dấu hiệu hành khí, cai quản. Trí tuệ có thể tương ứng với khí cũng như với lửa.

4. The final point, on the horizontal right of the flag, would be “Earthy Contact”, and would correlate with the buddhic plane. The buddhic plane is the most ‘material’ of all the cosmic ethers, and is, in a way, vehicular to the first three cosmic ethers. The number four is easily correlated with earth and with matter. Upon the plane of earth, concrete or material contact is made. “Earthy Contact” would be the final phase of this fourfold process relating to the cross, and it would be final, as well, if we began with “Fiery Relations” and proceeded in a counterclockwise manner.

4. Điểm cuối cùng, ở phía bên phải của nhánh ngang trên lá cờ, sẽ là “Tiếp Xúc của Đất”, và sẽ tương ứng với cõi Bồ đề. Cõi Bồ đề mang tính “vật chất” nhất trong tất cả các cõi dĩ thái vũ trụ, và theo một cách nào đó, đóng vai trò hiện thể cho ba cõi dĩ thái vũ trụ đầu tiên. Con số bốn dễ dàng tương ứng với đất và với vật chất. Trên cõi đất, sự tiếp xúc cụ thể hay vật chất diễn ra. “Tiếp Xúc của Đất” sẽ là giai đoạn cuối cùng của tiến trình tứ phân liên hệ với thập giá, và cũng sẽ là giai đoạn cuối cùng nếu chúng ta bắt đầu với “Các Quan Hệ Lửa” rồi đi ngược chiều kim đồng hồ.

243. When attempting to understand and assign ‘location’ to these four terms, the reason why attention is focussed on the four cosmic ethers is that these ethers are the Realm of Shamballa and the Realm of the Monad. In attempting to understand the four terms, we are speaking of monadic life and the qualities which arise when the Monad is in expression.

243. Khi cố gắng thấu hiểu và xác định “vị trí” cho bốn thuật ngữ này, lý do chúng ta tập trung chú ý vào bốn cõi dĩ thái vũ trụ là vì những cõi dĩ thái này là Cảnh Giới của Shamballa và Cảnh Giới của Chân Thần. Khi cố gắng thấu hiểu bốn thuật ngữ, chúng ta đang nói về sự sống chân thần và những phẩm tính nảy sinh khi Chân Thần biểu lộ.

244. Perhaps, one of the best and simplest ways to deal with this symbol is simply to contemplate the nature of the Monad, and how each term suggests an aspect of monadic life and awareness. One would have to enter a state approximating monadic awareness if the monadic meaning of these terms were to be understood intuitively. This method would avoid the intricacies of working with the Law of Correspondences.

244. Có lẽ một trong những cách tốt nhất và đơn giản nhất để tiếp cận biểu tượng này chỉ là chiêm ngưỡng bản chất của Chân Thần và cách mỗi thuật ngữ gợi ra một phương diện của sự sống và sự nhận biết chân thần. Muốn thấu hiểu bằng trực giác ý nghĩa chân thần của các thuật ngữ này, người ta phải đi vào một trạng thái gần với sự nhận biết chân thần. Phương pháp này sẽ tránh được những điều phức tạp khi vận dụng định luật tương ứng.

245. We can see that utilization of the antahkarana is necessary if understanding is to achieved.

245. Chúng ta có thể thấy rằng muốn đạt đến sự thấu hiểu thì cần sử dụng antahkarana.

These words convey the highly inadequate and even unsuitable translation of certain phrases in the ancient Sensa which are intended to convey the essential union, the related synthesis and the cooperative understanding which will some day distinguish a humanity, composed of many aspects which are nevertheless expressions of the One Life.

Những lời này là bản dịch hết sức thiếu sót, thậm chí không thích hợp, của một số cụm từ trong ngôn ngữ Sensa cổ xưa, nhằm diễn đạt sự hợp nhất cốt yếu, sự tổng hợp trong mối quan hệ và sự thấu hiểu mang tính hợp tác mà một ngày kia sẽ là đặc trưng của nhân loại, gồm nhiều phương diện nhưng vẫn là những biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất.

246. We are considering a monadically-inspired humanity. If monadic influence is already being felt in present-day humanity increasingly aware of universality and synthesis, the future holds even more of this type of realization related to Spirit.

246. Chúng ta đang xem xét một nhân loại được chân thần truyền cảm hứng. Nếu ảnh hưởng chân thần đã bắt đầu hiện rõ nơi nhân loại ngày nay, vốn ngày càng nhận biết tính phổ quát và sự tổng hợp, thì tương lai còn hứa hẹn nhiều hơn nữa kiểu nhận thức liên hệ với Tinh Thần này.

247. We note that DK feels He has not succeeded in conveying the meaning of the ancient Sensa phrases. We should remember this as we labor to interpret these phrases.

247. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK cảm thấy Ngài chưa thành công trong việc truyền đạt ý nghĩa của các cụm từ Sensa cổ. Chúng ta nên nhớ điều này khi nỗ lực diễn giải những cụm từ ấy.

248. What are the phrases intended to convey? Let us tabulate them again for clarity. They are phrases describing qualities which will one day distinguish a humanity which understands the inseparability of the Many and the One.

248. Những cụm từ ấy nhằm truyền đạt điều gì? Chúng ta hãy liệt kê lại cho rõ. Đó là những cụm từ mô tả các phẩm tính mà một ngày nào đó sẽ là nét đặc trưng của một nhân loại thấu hiểu tính bất khả phân ly giữa Cái Nhiều và Cái Một.

1. Essential union

1. Sự hợp nhất về bản thể

2. Related synthesis

2. Sự tổng hợp trong tương quan

3. Cooperative understanding.

3. Sự thấu hiểu trong hợp tác.

They are, however, related to or expressions of monadic groupings or universal recognitions, and not of soul consciousness.

Tuy nhiên, chúng liên quan đến, hay là những biểu hiện của, các nhóm chân thần hoặc những sự nhận biết phổ quát, chứ không phải của tâm thức linh hồn.

249. This is the important point.

249. Đây là điểm quan trọng.

250. What are monadic groupings? Can DK be referring to groups of Monads as they are to be found upon the second or monadic plane? Such groups do, indeed, exist, and are far more synthetic than the many soul groupings on lower planes.

250. Các nhóm chân thần là gì? Liệu Chân sư DK có đang nói đến những nhóm Chân Thần trên cõi thứ hai, hay cõi chân thần, không? Quả thực, những nhóm như thế có tồn tại và mang tính tổng hợp cao hơn nhiều so với vô số nhóm linh hồn trên các cõi thấp hơn.

251. Monadic groupings express themselves in ways characterized by the four phrases.

251. Các nhóm chân thần biểu lộ theo những cách mang đặc trưng của bốn cụm từ ấy.

252. Of what is the Monad capable? Of “universal recognitions”. This phrase illuminates the substance of “monadic awareness”.

252. Chân Thần có khả năng gì? Có khả năng đạt đến “những nhận thức phổ quát”. Cụm từ này làm sáng tỏ nội dung của “sự nhận biết chân thần”.

My difficulty in explaining the higher meaning of the external simplicity of these phrases is great;

Tôi gặp khó khăn lớn khi giải thích ý nghĩa cao hơn ẩn sau vẻ đơn giản bên ngoài của những cụm từ này;

253. The phrases are of “external simplicity” which does not mean that they are at all easy to understand.

253. Những cụm từ ấy có “vẻ đơn giản bên ngoài”, nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng dễ hiểu.

you can only arrive at them yourself as you ponder the only three interpretations possible to you at this time: the individual application of the symbol, its national application, and its human application, remembering always that the clue to comprehension lies in the recognition of a "higher Way," of the existence of the "higher evolution," of the light which is distinctive of Shamballa, and of the use of the antahkarana, as it by-passes (if I may use such a term) the soul and so carries the human, yet spiritualised consciousness into the realms of hierarchical experience in relation to Shamballa.

các bạn chỉ có thể tự mình đạt đến những ý nghĩa ấy khi suy ngẫm về ba cách diễn giải duy nhất hiện khả thi đối với các bạn: sự ứng dụng biểu tượng cho cá nhân, cho quốc gia và cho nhân loại; đồng thời luôn nhớ rằng manh mối để lĩnh hội nằm ở sự nhận biết một “Con Đường cao hơn”, sự hiện hữu của “tiến hóa cao hơn”, ánh sáng đặc trưng của Shamballa, và việc sử dụng antahkarana khi nó đi vòng qua (nếu Tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy) linh hồn, nhờ đó đưa tâm thức con người, tuy đã được tinh thần hóa, vào những lĩnh vực trải nghiệm của Thánh đoàn trong mối quan hệ với Shamballa.

254. The information conveyed is compact: Let us tabulate for clarity:

254. Thông tin được truyền đạt rất cô đọng. Chúng ta hãy liệt kê cho rõ:

255. Three interpretations are possible to students (such as we are) at this time:

255. Hiện nay, các đạo sinh (như chúng ta) có thể tiếp cận ba cách diễn giải:

1. The individual application

1. Sự áp dụng cho cá nhân

2. The national application

2. Sự áp dụng cho quốc gia

3. The human application

3. Sự áp dụng cho nhân loại

256. We would presume that the remaining applications are of a higher nature still: Perhaps—

256. Chúng ta có thể giả định rằng những sự áp dụng còn lại có bản chất cao hơn nữa. Có lẽ là—

1. The hierarchical application

1. Sự áp dụng cho Thánh đoàn

2. The shamballic application

2. Sự áp dụng cho Shamballa

3. The Planetary Logoic application

3. Sự áp dụng cho Hành Tinh Thượng đế

4. The Solar Logoic application

4. Sự áp dụng cho Thái dương Thượng đế

257. Let us tabulate what DK calls the “clue to comprehension”. It lies in—

257. Chúng ta hãy liệt kê những gì Chân sư DK gọi là “manh mối để lĩnh hội”. Nó nằm trong—

1. The recognition of a "higher Way"

1. Việc nhận biết một “Con Đường cao hơn”

2. The recognition of the existence of the “higher evolution”

2. Việc nhận biết sự hiện hữu của “tiến hoá cao hơn”

3. The recognition of the light which is distinctive of Shamballa

3. Việc nhận biết ánh sáng đặc trưng của Shamballa

4. The use of the antahkarana.

4. Việc sử dụng antahkarana.

258. If we wish to comprehend, it will definitely not be accomplished with the concrete mind alone. Not just visions but recognitions are required, and the recognitions must be of that which only the antahkarana can reveal.

258. Nếu muốn lĩnh hội, chắc chắn chúng ta không thể chỉ dùng trí cụ thể. Cần có không chỉ những linh thị mà cả những nhận thức, và những nhận thức ấy phải hướng đến điều mà chỉ antahkarana mới có thể mặc khải.

259. The building and utilization of the antahkarana is the very beginning of the "Way of Higher Evolution", which is trodden by the Monad.

259. Việc xây dựng và sử dụng antahkarana chính là bước khởi đầu của "Con đường Tiến Hóa Cao Siêu", con đường mà Chân thần bước đi.

260. What does the correct use of the antahkarana do? It “carries the human, yet spiritualised consciousness into the realms of hierarchical experience in relation to Shamballa”.

260. Việc sử dụng antahkarana đúng đắn mang lại điều gì? Nó “đưa tâm thức con người, vốn đã được tinh thần hóa, vào những lĩnh vực trải nghiệm của Thánh đoàn trong mối liên hệ với Shamballa”.

261. This is an important statement; the spiritualized human consciousness penetrates the realms of Hierarchy, and partakes of that kind of hierarchical experience which relates to Shamballa?

261. Đây là một phát biểu quan trọng; tâm thức con người đã được tinh thần hóa thâm nhập vào những lĩnh vực của Thánh đoàn và dự phần vào loại trải nghiệm của Thánh đoàn có liên hệ với Shamballa?

262. Are we gathering the impression that the antahkarana is a conduit to worlds of vast depth and scope?

262. Có phải chúng ta đang dần có ấn tượng rằng antahkarana là một đường dẫn đến những thế giới có chiều sâu và phạm vi bao la?

POINTS OF REVELATION

CÁC ĐIỂM MẶC KHẢI

This almost brings us automatically to the third aspect of preparation for initiation which I called in an earlier instruction the "presentation of points of revelation."

Điều này gần như tự động đưa chúng ta đến phương diện thứ ba của việc chuẩn bị điểm đạo mà trong một huấn thị trước, Tôi gọi là “việc trình bày các điểm mặc khải”.

263. We recall that the formulas, the hints and the “presentation of points of revelation” are all methods of preparation for initiation.

263. Chúng ta nhớ rằng các công thức, các gợi ý và “sự trình bày các điểm mặc khải” đều là những phương pháp chuẩn bị cho điểm đạo.