← Commentary DINA II – Teaching on Initiation

Commentary 41 – Bình giảng 41

Trích nội dung chương

These formulas, when rightly studied and eventually somewhat apprehended, at least intellectually, carry the disciple to the point where that which is new, hitherto unrealised and for which no words exist, is suddenly contacted. Khi được nghiên cứu đúng đắn và cuối cùng phần nào được lĩnh hội, ít nhất về mặt trí tuệ, những công thức này đưa người đệ tử đến điểm đột nhiên tiếp xúc với điều mới mẻ, trước đây chưa nhận ra và chưa có ngôn từ nào để diễn đạt.


These formulas, when rightly studied and eventually somewhat apprehended, at least intellectually, carry the disciple to the point where that which is new, hitherto unrealised and for which no words exist, is suddenly contacted.

Khi được nghiên cứu đúng đắn và cuối cùng phần nào được lĩnh hội, ít nhất về mặt trí tuệ, những công thức này đưa người đệ tử đến điểm đột nhiên tiếp xúc với điều mới mẻ, trước đây chưa nhận ra và chưa có ngôn từ nào để diễn đạt.

264. The work into which we are entering is certainly not a repetition of the kind of spiritual training which has been offered for millennia. We must understand that, as far as present-day humanity is concerned, it is really new.

264. Công việc mà chúng ta đang bước vào chắc chắn không phải là sự lặp lại loại hình huấn luyện tinh thần đã được truyền dạy suốt hàng thiên niên kỷ. Chúng ta phải thấu hiểu rằng, đối với nhân loại ngày nay, công việc ấy thực sự mới mẻ.

265. This work leads us into the realm of the intuition; how we know this relates to DK’s description of arriving at a point of contact which hitherto has been unrealized and for which no words exist. Where words already exist, formulation has occurred. Formulations may exist in the abstract mind, but the intuition, per se, is beyond formulation. The task of those who contact the intuition is faithful registration followed by serviceable formulation.

265. Công việc này dẫn chúng ta vào lĩnh vực trực giác; chúng ta biết điều này qua mô tả của Chân sư DK về việc đạt đến một điểm tiếp xúc mà trước đó chưa từng được nhận biết và chưa có ngôn từ nào diễn đạt. Ở đâu đã có ngôn từ, ở đó đã có sự diễn đạt thành khái niệm. Những cách diễn đạt thành khái niệm có thể tồn tại trong trí trừu tượng, nhưng chính trực giác thì vượt ngoài sự diễn đạt thành khái niệm. Nhiệm vụ của những người tiếp xúc với trực giác là ghi nhận trung thực, rồi diễn đạt thành khái niệm có thể dùng vào việc phụng sự.

266. DK stresses the value of even an intellectual apprehension of the formulas. Complete revelation is impossible to the intellect alone, and yet clear, intellectual apprehension represents a beginning.

266. Chân sư DK nhấn mạnh giá trị của việc lĩnh hội các công thức ngay cả chỉ bằng trí tuệ. Chỉ riêng trí tuệ không thể đạt đến sự mặc khải trọn vẹn, tuy nhiên, sự lĩnh hội rõ ràng bằng trí tuệ vẫn là một bước khởi đầu.

267. The factor of sudden contact is to be noted, implying the importance to the process of the ‘planet of sudden revelation’, Uranus.

267. Cần lưu ý yếu tố tiếp xúc đột ngột, vốn hàm ý tầm quan trọng của ‘hành tinh của sự mặc khải đột ngột’, Sao Thiên Vương, đối với tiến trình này.

St. Paul had reached such a point when he referred to "the third heaven as it veiled the seventh" (which was the original wording, deleted by the recipients of his message at that time as utterly meaningless).

Thánh Phaolô đã đạt đến một điểm như vậy khi ông nói đến “cõi trời thứ ba khi nó che phủ cõi trời thứ bảy” (đó là cách diễn đạt nguyên thủy, nhưng những người tiếp nhận thông điệp của ông vào thời ấy đã xóa đi vì cho là hoàn toàn vô nghĩa).

268. The idea here is that St. Paul penetrated into an area of divine livingness for which he had no words.

268. Ý tưởng ở đây là Thánh Paul đã thâm nhập vào một lĩnh vực của tính sống động thiêng liêng mà ông không có ngôn từ nào để diễn đạt.

269. We may presume that the “third heaven” is the higher mental plane (and probably, for St. Paul, the highest level of the higher mental plane). The “seventh heaven” may be considered the logoic plane, which, in some manner, Paul ‘felt’ by means of his penetration into the third.

269. Chúng ta có thể giả định rằng “cõi trời thứ ba” là cõi thượng trí (và có lẽ, đối với Thánh Paul, là cấp độ cao nhất của cõi thượng trí). Có thể xem “cõi trời thứ bảy” là cõi Thượng đế, mà theo một cách nào đó, Paul đã ‘cảm nhận’ được nhờ thâm nhập vào cõi thứ ba.

270. DK speaks of a deletion of the original wording by those who received Paul’s message. The transmission of world scripture is full of deletions, modifications and even, according to HPB, deliberate distortions—disfigurations.

270. Chân sư DK nói đến việc những người tiếp nhận thông điệp của Paul đã xóa bỏ cách diễn đạt nguyên thủy. Quá trình lưu truyền kinh điển trên thế giới đầy những sự lược bỏ, sửa đổi và thậm chí, theo Bà HPB, cả những xuyên tạc có chủ ý—những sự bóp méo.

Eye has not seen nor has ear heard the inexpressible revelation which comes to the initiate who can penetrate into certain high places where the nature of the divine Will suddenly assumes a different and amazing significance, where the purposes being worked out in the Council Chamber of Shamballa are visioned—not in detail but as [275] a suddenly contacted inspiration;

Mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe sự mặc khải không thể diễn tả đến với điểm đạo đồ có thể thâm nhập một số cảnh giới cao, nơi bản chất của Ý Chí thiêng liêng đột nhiên mang một thâm nghĩa khác biệt và kỳ diệu, nơi những mục đích đang được thực hiện trong Phòng Hội Đồng của Shamballa được thấy bằng linh thị—không phải trong chi tiết, mà như [275] một cảm hứng vừa bất chợt tiếp xúc;

271. The material presented is of such moment that it must be tabulated for impressive registration.

271. Nội dung được trình bày quan trọng đến mức cần được lập thành bảng để ghi nhận sâu sắc.

272. We are to learn to penetrate into areas of vibration which are beyond customary registration. These areas of ineffable.

272. Chúng ta phải học cách thâm nhập vào những vùng rung động vượt ngoài khả năng ghi nhận thông thường. Những vùng của điều bất khả ngôn này.

273. When penetrating into these high places, what is revealed?

273. Khi thâm nhập vào những chốn cao siêu này, điều gì được mặc khải?

1. The nature of the divine Will suddenly assumes a different and amazing significance. (What had it meant to us to begin with?)

1. Bản chất của Ý Chí thiêng liêng đột nhiên mang một thâm nghĩa khác biệt và đáng kinh ngạc. (Thoạt đầu, điều ấy có ý nghĩa gì đối với chúng ta?)

2. The purposes being worked out in the Council Chamber of Shamballa are visioned. When we contact such visions (even though not in detail) inspiration is the result. Again, the factor of suddenness pertains.

2. Các mục đích đang được thực hiện trong Phòng Hội Đồng Shamballa hiện ra trong linh thị. Khi chúng ta tiếp xúc với những linh thị ấy (dù không thấy từng chi tiết), kết quả là cảm hứng. Một lần nữa, yếu tố đột ngột có vai trò ở đây.

274. In a way, revelation is always new, and yet always timeless. That which is to be revealed (we are told) is always present and has always been present. We are always surrounded by potential revelation.

274. Theo một nghĩa nào đó, sự mặc khải luôn mới mẻ, nhưng cũng luôn phi thời gian. Chúng ta được cho biết rằng điều sẽ được mặc khải luôn hiện diện và đã luôn hiện diện. Chúng ta luôn được bao quanh bởi tiềm năng mặc khải.

then for the first time the initiate becomes consciously receptive to the energy pouring into the Hierarchy from the Great White Lodge on Sirius.

khi ấy, lần đầu tiên điểm đạo đồ trở nên thụ nhận một cách hữu thức năng lượng đang tuôn vào Thánh đoàn từ Thánh đoàn trên Sirius.

275. A very definite connection is being made between shamballic inspiration and the conscious reception of energy from the Great White Lodge on Sirius. The penetrating initiate is not actually penetrating into Shamballa but into those areas of hierarchical life from which shamballic inspiration can be accessed.

275. Một mối liên hệ rất rõ ràng đang được xác lập giữa cảm hứng từ Shamballa và việc tiếp nhận một cách hữu thức năng lượng từ Thánh đoàn trên Sirius. Điểm đạo đồ đang thâm nhập thực ra không thâm nhập vào Shamballa, mà vào những lĩnh vực trong đời sống của Thánh đoàn từ đó có thể tiếp cận cảm hứng từ Shamballa.

276. While Sanat Kumara is said not to be on the Sirian line, it would seem that Sirian energy is only accessed when Shamballic inspiration is accessed.

276. Tuy người ta nói rằng Sanat Kumara không thuộc tuyến Sirius, dường như chỉ khi tiếp cận được cảm hứng từ Shamballa thì mới tiếp cận được năng lượng Sirius.

6. Sanat Kumara is not on the Sirian line but—to speak in symbols, not too deeply veiled—Lucifer, Son of the Morning, is closely related, and hence the large number of human beings who will become disciples in the Sirian Lodge. (R&I 415)

6. Sanat Kumara không thuộc tuyến Sirius, nhưng—nói bằng những biểu tượng không bị che phủ quá sâu—Lucifer, Con của Bình Minh, có liên hệ mật thiết, và vì vậy sẽ có đông đảo con người trở thành đệ tử trong Thánh đoàn Sirius. (R&I 415)

277. Again, we see that we shall not truly contact Sirian energy without the assistance of the antahkarana.

277. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng chúng ta sẽ không thực sự tiếp xúc với năng lượng Sirius nếu thiếu sự trợ giúp của antahkarana.

It is at this point of revelation and in relation to this symbol that the initiate eventually stands.

Cuối cùng, điểm đạo đồ đứng tại điểm mặc khải này và trong mối quan hệ với biểu tượng này.

278. The spiritualized human consciousness has been carried into “realms of hierarchical experience in relation to Shamballa”. This penetration has provided for him a “point of revelation”.

278. Tâm thức con người đã được tinh thần hóa đã được đưa vào “những lĩnh vực trải nghiệm của Thánh đoàn trong mối liên hệ với Shamballa”. Sự thâm nhập này đã mang lại cho điểm đạo đồ một “điểm mặc khải”.

279. DK takes up discussion of the square and the rectangle as seen within this context.

279. Chân sư DK bắt đầu bàn về hình vuông và hình chữ nhật trong bối cảnh này.

Then the "many lines of force within the square become the seven paths of light which claim His choice, leading Him on to the sevenfold Path of initiate evolution."

Bấy giờ, “nhiều đường mãnh lực bên trong hình vuông trở thành bảy con đường ánh sáng đòi hỏi Ngài lựa chọn, dẫn Ngài tiến vào Đường Đạo thất phân của sự tiến hóa điểm đạo đồ”.

280. We see that a higher significance of the square with sixteen lines speaks of the resolution of the many (i.e., the sixteen) into the seven (which is numerologically accurate). These are the seven “Paths of Higher Evolution”, one of which (at the sixth initiation) demands his choice. Actually, now there are nine Paths now—so we are told.

280. Chúng ta thấy rằng một thâm nghĩa cao hơn của hình vuông với mười sáu đường nói đến việc quy nhiều (tức mười sáu) về bảy (điều này chính xác về mặt số học huyền bí). Đây là bảy “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”, mà tại lần điểm đạo thứ sáu, Ngài phải chọn một trong số đó. Thực ra, hiện nay có chín Con Đường—theo như chúng ta được cho biết.

Thus the Masters will have nine choices to face when They face Their decision; there will then be no need for Those on certain rays to pass to certain already determined Paths, but They can move forward under Their Own inspiration and with greater freedom. The cosmic mental plane is not barred to Them, as has hitherto been the case. (R&I 412)

Như vậy, các Chân sư sẽ đứng trước chín lựa chọn khi Các Ngài phải quyết định; khi ấy, những Vị thuộc một số cung nhất định sẽ không còn cần đi vào một số Con Đường đã được định sẵn, mà Các Ngài có thể tiến bước theo cảm hứng riêng của Chính Mình và với tự do lớn hơn. Cõi trí vũ trụ không còn đóng kín đối với Các Ngài như trước đây. (R&I 412)

281. It would seem that the two new Paths which may now be chosen lead to the cosmic mental plane. However, if we consult R&I 399, we shall see that three of the original Paths are described as leading to the cosmic mental plane!

281. Dường như hai Con Đường mới hiện có thể được lựa chọn đều dẫn đến cõi trí vũ trụ. Tuy nhiên, nếu tham khảo R&I 399, chúng ta sẽ thấy rằng ba trong số các Con Đường ban đầu được mô tả là dẫn đến cõi trí vũ trụ!

282. The "Way of Higher Evolution" is the “sevenfold Path of initiate evolution”.

282. "Con đường Tiến Hóa Cao Siêu" là “Con Đường thất phân của sự tiến hoá điểm đạo đồ”.

283. As we see from the diagram below, the original square has undergone a modification one this high point of evolution is reached..

283. Như chúng ta thấy trong sơ đồ bên dưới, hình vuông ban đầu đã biến đổi khi đạt đến điểm tiến hoá cao này.

This is the Way of the Higher Evolution of which man knows nothing.

Đây là Con đường Tiến Hóa Cao Siêu mà con người chưa biết gì.

284. Interestingly, man may know nothing, but the Chohans do. Chohans are no longer men as Masters are. We might wonder, now that requirements have been tightened, how much the Masters know—in that they are still “men”.

284. Điều thú vị là con người có thể không biết gì, nhưng các Chohan thì biết. Các Chohan không còn là con người như các Chân sư. Giờ đây, khi các yêu cầu đã trở nên nghiêm ngặt hơn, chúng ta có thể tự hỏi các Chân sư biết đến mức nào—bởi Các Ngài vẫn là “con người”.

They are no longer men as are the Masters. (Rule VII for Disciples and Initiates—R&I 21)

Các Ngài không còn là con người như các Chân sư. (Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ—R&I 21)

The words refer to the seven paths which the Master has to consider and from which He has to choose His future Way. Then the symbol takes on the following form:

Những lời này nói đến bảy con đường mà Chân sư phải xem xét để từ đó lựa chọn Con Đường tương lai của Ngài. Khi ấy, biểu tượng mang hình thức sau:

285. This is the modified square.

285. Đây là hình vuông đã biến đổi.

[picture]

[picture]

"All paths meet at the centre. The many become the seven and the eight. From point to point the lines converge. They stretch from point to point. The outer square, the circle of the One and the point of unity are seen as one, and the Master passes on His way."

“Mọi con đường đều gặp nhau tại trung tâm. Cái nhiều trở thành bảy và tám. Từ điểm này đến điểm kia, các đường hội tụ. Chúng trải dài từ điểm này đến điểm kia. Hình vuông bên ngoài, vòng tròn của Đấng Duy Nhất và điểm hợp nhất được thấy là một, và Chân sư tiếp bước trên đường của Ngài.”

286. In the original square there were sixteen lines which sum, numerologically, to seven.

286. Trong hình vuông ban đầu có mười sáu đường, mà theo số học huyền bí, tổng các chữ số là bảy.

287. However, eight is exactly half of the original sixteen.

287. Tuy nhiên, tám chính xác là một nửa của mười sáu ban đầu.

288. We are dealing (in this relation between seven and eight) with the sevenfold "Jewel in the Lotus"

288. Trong mối liên hệ giữa bảy và tám này, chúng ta đang đề cập đến "Bảo Ngọc Trong Hoa Sen" thất phân

Every jewel has seven facets which are the seven doorways to the seven Paths. (TCF 1245)

Mỗi bảo ngọc có bảy mặt, là bảy cửa ngõ dẫn đến bảy Con Đường. (TCF 1245)

and its eight forms of radiation.

và tám hình thức bức xạ của nó.

The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold energy is atma-buddhi. (TCF 1118-1119)

Chính Bảo Ngọc vẫn tĩnh tại theo nghĩa huyền bí và không lưu chuyển. Nó là một điểm bình an; nó đập theo nhịp điệu như trái tim con người, và từ đó tỏa ra tám dòng lửa sống vươn đến chóp của bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh. Năng lượng bát phân này là atma-Bồ đề. (TCF 1118-1119)

289. The sevenfold Jewel expresses in eight forms of radiation.

289. Bảo Ngọc thất phân biểu lộ qua tám hình thức bức xạ.

290. The Master is the “Point within the Circle” which we see represented above. He also functions within the square of humanity.

290. Chân sư là “Điểm bên trong Vòng Tròn” mà chúng ta thấy biểu thị ở trên. Ngài cũng hoạt động bên trong hình vuông của nhân loại.

291. The square represents the matter aspect; the circle (in this instance) the consciousness of soul; the point is the point of Spirit. Notice how small the central circle has become; it now appears almost as a point. However, a larger circle has appeared.

291. Hình vuông biểu thị phương diện vật chất; vòng tròn (trong trường hợp này) biểu thị tâm thức của linh hồn; điểm là điểm của Tinh thần. Hãy lưu ý vòng tròn trung tâm đã trở nên nhỏ bé đến mức nào; giờ đây nó gần như chỉ là một điểm. Tuy nhiên, một vòng tròn lớn hơn đã xuất hiện.

292. Eight are the radiations from the central point. These radiations are the “eight-fold energy [of] atma-buddhi”. The Monad, from one perspective, is atma-buddhi and the Master is the Monad.

292. Có tám luồng bức xạ từ điểm trung tâm. Những luồng bức xạ này là “năng lượng bát phân [của] atma-Bồ đề”. Theo một góc nhìn, Chân thần là atma-Bồ đề, và Chân sư là Chân thần.

293. For the Master, the five and eight blend. He is the thirteen, or the Sun amidst His planets, just as was the Christ. He is also symbolically the Sun surrounded by the twelve signs of the zodiac.

293. Đối với Chân sư, năm và tám hòa quyện. Ngài là mười ba, hay Mặt Trời giữa các hành tinh của Ngài, cũng như Đức Christ đã là như vậy. Theo nghĩa biểu tượng, Ngài cũng là Mặt Trời được mười hai dấu hiệu hoàng đạo bao quanh.

294. In the transformed square, we notice, as well, the Aquarian Cross (passing through zero degrees of the cardinal signs), and the St. Andrew’s Cross, (passing through fifteen degrees of the fixed signs).

294. Trong hình vuông đã chuyển đổi, chúng ta cũng nhận thấy Thập Giá Bảo Bình (đi qua không độ của các dấu hiệu chủ yếu), và Thập Giá Thánh Andrew (đi qua mười lăm độ của các dấu hiệu cố định).

295. The Cardinal Cross represents atma, and the St. Andrew’s Cross, buddhi (because it is associated with the fixed signs—the signs of the soul, which is sustained by buddhi).

295. Thập Giá Chủ Yếu biểu thị atma, còn Thập Giá Thánh Andrew biểu thị Bồ đề (vì nó liên kết với các dấu hiệu cố định—những dấu hiệu của linh hồn, vốn được Bồ đề nâng đỡ).

296. The Master has made a great at-one-ment, and of this at-one-ment, the transformed square is the symbol. We can see how much more developed is the transformed square than the original one (with sixteen lines) with which we were presented on p. 272.

296. Chân sư đã thực hiện một sự hợp nhất lớn lao, và hình vuông đã chuyển đổi là biểu tượng của sự hợp nhất ấy. Chúng ta có thể thấy hình vuông đã chuyển đổi phát triển hơn biết bao so với hình vuông ban đầu (có mười sáu đường) được trình bày ở trang 272.

He has penetrated to the centre by passing along the antahkarana which He has Himself constructed.

Ngài đã thâm nhập đến trung tâm bằng cách đi dọc theo antahkarana do chính Ngài xây dựng.

297. The antahkarana is sevenfold and, thus, reasonably represented by the sixteen lines which become the seven, which become the eight—the number of the planet Mercury, which rules the antahkarana.

297. Antahkarana là thất phân, vì vậy, mười sáu đường là một cách biểu thị hợp lý: chúng trở thành bảy, rồi trở thành tám—con số của Sao Thủy, hành tinh cai quản antahkarana.

There He polarises Himself and takes His stand, and from thence—at the centre of the circle and within the square of service—He precipitates the energies and forces which that service demands.

Tại đó, Ngài tự phân cực và đứng vững, rồi từ đó—ở trung tâm vòng tròn và bên trong hình vuông phụng sự—Ngài ngưng tụ những năng lượng và mãnh lực mà việc phụng sự ấy đòi hỏi.

298. It is the Master Who stands at the center of the circle; no initiate of lesser degree can do this.

298. Chính Chân sư đứng tại trung tâm vòng tròn; không điểm đạo đồ nào có cấp độ thấp hơn có thể làm được điều này.

299. The center of the square and of the circle inscribed within the square, is the ‘point of precipitation’; it is also a ‘point of revelation’, for it demands a penetration of the previously ineffable if the Master is to make His way to the center.

299. Trung tâm của hình vuông và của vòng tròn nội tiếp hình vuông là ‘điểm ngưng tụ’; đó cũng là một ‘điểm mặc khải’, vì để đến được trung tâm, Chân sư phải thâm nhập vào điều trước đó còn bất khả ngôn.

From these few hints you can grasp the nature of this symbol and the quality of its meaning, plus the potency of the force which (through its correct apprehension) can carry the initiate-disciple from "the unreal to the Real."

Từ vài gợi ý này, các bạn có thể nắm bắt bản chất của biểu tượng, phẩm tính của ý nghĩa mà nó mang, cùng tiềm lực của mãnh lực có thể (nhờ lĩnh hội đúng biểu tượng) đưa người đệ tử-điểm đạo đồ từ “cái không thực đến cái Thực”.

300. We recall the five phrases:

300. Chúng ta nhớ lại năm câu:

1. Lead me from darkness to light

1. Xin dẫn dắt con từ bóng tối đến ánh sáng

2. Lead me from the unreal to the real

2. Xin dẫn dắt con từ cái không thực đến cái thực

3. Lead me from death to immortality

3. Xin dẫn dắt con từ sự chết đến sự bất tử

4. Lead me from chaos to beauty

4. Xin dẫn dắt con từ hỗn mang đến vẻ đẹp

5. Lead me from the individual to the universal

5. Xin dẫn dắt con từ cá nhân đến toàn thể

301. We can see how each formula can be correlated with one of these ancient phrases.

301. Chúng ta có thể thấy mỗi công thức có thể tương ứng với một trong những câu cổ xưa này như thế nào.

302. We see that it is the antahkarana that is required to lead the advancing initiate from the unreal to the real.

302. Chúng ta thấy rằng chính antahkarana là điều cần thiết để dẫn điểm đạo đồ đang tiến bước từ cái không thực đến cái thực.

The first formula was basically concerned with the monadic significance of the words "from darkness to Light," leading to vision and illumined purpose;

Về căn bản, công thức thứ nhất liên quan đến thâm nghĩa chân thần của những lời “từ bóng tối đến Ánh Sáng”, dẫn đến tầm nhìn và mục đích được soi sáng;

303. We are not speaking of soul light, but of the monadic significance of this ancient phrase. The light of the spiritual triad and of the Monad is far more intense than that of the soul.

303. Chúng ta không nói đến ánh sáng linh hồn, mà nói đến thâm nghĩa chân thần của câu cổ xưa này. Ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần và của Chân thần mãnh liệt hơn ánh sáng linh hồn rất nhiều.

304. The mantram can be used in relation to soul light, but in this context its meaning is higher.

304. Mantram này có thể được sử dụng trong mối liên hệ với ánh sáng linh hồn, nhưng trong bối cảnh này, nó có ý nghĩa cao hơn.

305. We may suppose that truly illumined purpose dawns at the third degree when the presence of the Monad starts to become an increasingly conscious factor.

305. Chúng ta có thể giả định rằng mục đích thực sự được soi sáng bắt đầu ló rạng ở cấp điểm đạo thứ ba, khi sự hiện diện của Chân thần bắt đầu trở thành một yếu tố ngày càng được nhận biết một cách hữu thức.

the second formula gives the higher significance to the words "from the unreal to the Real," whilst the third we shall find expresses the true [276] meaning of the words "from death to Immortality."

công thức thứ hai đem lại thâm nghĩa cao hơn cho những lời “từ cái không thực đến cái Thực”, trong khi chúng ta sẽ thấy công thức thứ ba diễn đạt ý nghĩa [276] đích thực của những lời “từ sự chết đến sự Bất Tử”.

306. In relating the ancient mantrams or phrases to the formulas, a profound subject for meditation is suggested.

306. Việc liên hệ các mantram hay các câu cổ xưa với những công thức gợi ra một chủ đề tham thiền sâu sắc.

307. For instance, the many kinds of “eyes” found in the first formula are to be related to the phrase: “Lead us from darkness to light”.

307. Chẳng hạn, nhiều loại “mắt” trong công thức thứ nhất cần được liên hệ với câu: “Xin dẫn dắt chúng con từ bóng tối đến ánh sáng”.

308. The sixteen, seven or eight Paths leading from the periphery to the center and from the center to the periphery of the square and rectangle are to be related to the phrase: “Lead us from the unreal to the real”. Obviously, unreality is found upon the perimeter of the square or rectangle; reality at the central circle or, even more, at the point (of the transformed square).

308. Mười sáu, bảy hoặc tám Con Đường dẫn từ chu vi đến trung tâm và từ trung tâm ra chu vi của hình vuông và hình chữ nhật cần được liên hệ với câu: “Xin dẫn dắt chúng con từ cái không thực đến cái thực”. Hiển nhiên, cái không thực nằm trên chu vi của hình vuông hay hình chữ nhật; cái thực nằm tại vòng tròn trung tâm, hoặc hơn thế nữa, tại điểm (của hình vuông đã chuyển đổi).

Thus this prayer of the ancient past becomes the present effort of the distant future. Can you understand this statement, brother of mine?

Như vậy, lời cầu nguyện của quá khứ xa xưa này trở thành nỗ lực hiện tại của tương lai xa xôi. Huynh đệ của tôi, các bạn có thể thấu hiểu lời khẳng định này không?

309. The prayer of the ancient past becomes possible of realization in a new manner through the technique of the antahkarana—meant as it is to bring some real fulfillment to the new spiritual impulse inaugurated in 1425.

309. Lời cầu nguyện từ quá khứ xa xưa có thể thành hiện thực theo một cách mới thông qua kỹ thuật antahkarana—vốn nhằm đem lại sự thành tựu thực sự nào đó cho xung lực tinh thần mới được khởi xướng vào năm 1425.

310. The present effort is directly linked to the distant future (found at the ‘higher limits’—if one might word it so—of the antahkarana).

310. Nỗ lực hiện tại liên kết trực tiếp với tương lai xa (nằm ở những ‘giới hạn cao hơn’—nếu có thể diễn đạt như thế—của antahkarana).

311. Have we understood the Tibetan’s statement? Perhaps, only to a degree.

311. Chúng ta đã thấu hiểu phát biểu của Chân sư Tây Tạng chưa? Có lẽ chỉ đến một mức độ nào đó.

Into that light, that reality and that life the initiate penetrates.

Điểm đạo đồ thâm nhập vào ánh sáng ấy, thực tại ấy và sự sống ấy.

312. At this level of spirituality, light and life are equivalent. The initiate is entering the “Light of Life”, which is (relatively) reality.

312. Ở cấp độ tinh thần này, ánh sáng và sự sống tương đương nhau. Điểm đạo đồ đang bước vào “Ánh sáng của Sự sống”, vốn (một cách tương đối) là thực tại.

In that light of reality and life, he polarises himself, and from that point of universal life, reality and light he works.

Trong ánh sáng của thực tại và sự sống ấy, y tự phân cực, và từ điểm sự sống, thực tại và ánh sáng phổ quát ấy, y hoạt động.

313. We are speaking of nothing less that monadic polarization—of polarization within the Monad and as the Monad.

313. Chúng ta đang nói đến chính sự phân cực chân thần—sự phân cực bên trong Chân thần và với tư cách là Chân thần.

314. The Master stands within light, life and reality. These are just words to us, but in the state of Isolated Unity, these words will become deeply significant.

314. Chân sư đứng trong ánh sáng, sự sống và thực tại. Đối với chúng ta, đây chỉ là những từ ngữ, nhưng trong trạng thái Hợp Nhất Cô Lập, những từ ngữ này sẽ mang thâm nghĩa sâu sắc.

315. Towards this we strive through the building of the antahkarana. We have been told whither it will lead; the task of discovering whether we have been correctly informed remains with us. It is as good bet that the imparted information is utterly reliable.

315. Chúng ta nỗ lực hướng đến điều này thông qua việc xây dựng antahkarana. Chúng ta đã được cho biết nó sẽ dẫn đến đâu; nhiệm vụ khám phá xem thông tin chúng ta nhận được có đúng hay không vẫn thuộc về chúng ta. Có thể tin tưởng khá chắc chắn rằng thông tin được truyền đạt ấy hoàn toàn đáng tin cậy.

Commentary 41 – Bình giảng 41

DINA II Studies

Nghiên cứu DINA II

Sagittarius FMN/SFF 2006

Nhân Mã FMN/SFF 2006

LAWS-Living Ageless Wisdom School

LAWS-Trường Sống Minh Triết Ngàn Đời

[It is advised that you have either you DINA II book open to the pages on which this Commentary focusses or that you set up a situation on your computer in which you can toggle between the Commentary and the original text in electronic form. This will preserve the continuity of your understanding, as the Commentary is quite analytical and divides paragraphs into many parts.]

[Các bạn nên mở sách DINA II đến những trang mà bài Bình giảng này tập trung vào, hoặc thiết lập trên máy tính để có thể chuyển qua lại giữa bài Bình giảng và nguyên tác ở dạng điện tử. Điều này sẽ giúp duy trì sự liên tục trong việc thấu hiểu, vì bài Bình giảng có tính phân tích khá cao và chia các đoạn văn thành nhiều phần.]

[All underlining, bolding and enlargements—MDR]

[Mọi phần gạch chân, in đậm và phóng to—MDR]

Teachings on Meditation

Giáo Huấn về Tham Thiền

PART VII

PHẦN VII

April 1945

Tháng Tư năm 1945

MY BROTHERS:

CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

As this world catastrophe draws to its inevitable close and the Forces of Light triumph over the forces of evil, the time of restoration opens up.

Khi thảm họa thế giới này tiến gần đến hồi kết tất yếu và các Mãnh Lực Ánh Sáng chiến thắng những mãnh lực tà ác, thời kỳ phục hồi mở ra.

1. The Forces of Restoration are associated with the energies of the sign Aries; the Forces of Enlightenment with the sign Taurus; the Forces of Reconstruction with the sign, Gemini.

1. Các Mãnh Lực Phục Hồi liên kết với những năng lượng của dấu hiệu Bạch Dương; các Mãnh Lực Giác Ngộ với dấu hiệu Kim Ngưu; các Mãnh Lực Tái Thiết với dấu hiệu Song Tử.

2. The following quotation offers us something of value on the Forces of Restoration.

2. Đoạn trích sau cung cấp cho chúng ta điều có giá trị về các Mãnh Lực Phục Hồi.

There is first of all the phase, now in progress, which will culminate at the time of the Easter Full Moon. This is dedicated to planning for an inflow of the Forces of Restoration. Do not misunderstand these words. The Hierarchy is not occupied with the restoration of the old order, with the state of life prior to the war, or with the renewal of the theologies (religious, political and social) which have governed the past and which have been largely responsible for the war. The restoration referred to is psychological in nature, but will work out in the restoration of the will-to-live and the will-to-good. It will consequently be foundational, and will guarantee the new civilisation and culture. This is a very different matter.

Trước hết là giai đoạn hiện đang diễn ra, sẽ đạt đỉnh điểm vào kỳ Trăng Tròn Phục Sinh. Giai đoạn này dành cho việc lập kế hoạch đón nhận một dòng tuôn vào của các Mãnh Lực Phục Hồi.Đừng hiểu sai những từ này. Thánh đoàn không lo việc khôi phục trật tự cũ, tình trạng đời sống trước chiến tranh, hay phục hưng các hệ thống thần học (tôn giáo, chính trị và xã hội) từng chi phối quá khứ và phần lớn phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến. Sự phục hồi được nói đến có bản chất tâm lý, nhưng sẽ biểu lộ qua việc phục hồi ý chí sống và Ý Chí-hướng Thiện. Do đó, sự phục hồi ấy sẽ mang tính nền tảng và bảo đảm cho nền văn minh và văn hóa mới. Đây là một vấn đề rất khác.

These Forces of Restoration are concerned with human vision, human integrity and human relations as they underlie the entire problem of the brotherhood of man. These [Page 457] energies, if released upon the Earth, will render futile the efforts of the old order (in politics, religion and education) to restore what was and to bring back that which existed prior to the war. (EXC 456-457)

Các Mãnh Lực Phục Hồi này liên quan đến tầm nhìn của con người, sự chính trực của con người và các mối quan hệ giữa con người, vì những yếu tố ấy là nền tảng của toàn bộ vấn đề tình huynh đệ nhân loại. Những năng lượng [Page 457] này, nếu được giải phóng trên Trái Đất, sẽ khiến các nỗ lực của trật tự cũ (trong chính trị, tôn giáo và giáo dục) nhằm khôi phục những gì đã có và đưa trở lại những gì từng tồn tại trước chiến tranh trở nên vô ích. (EXC 456-457)

For each of you this indicates a renewed time of service and of activity. I send you herewith the final stanza of the Great Invocation, as per my promise. I gave you the first about nine years ago and the second during the course of the war. I would ask you to use it daily and as many times a day as you can remember to do so; you will thus create a seed thought or a clear-cut thoughtform [Page 149] which will make the launching of this Invocation among the masses of men a successful venture when the right time comes. That time is not yet.

Đối với mỗi người trong các bạn, điều này báo hiệu một thời kỳ phụng sự và hoạt động mới. Kèm theo đây, Tôi gửi đến các bạn khổ cuối của Đại Khấn Nguyện như đã hứa. Tôi đã trao cho các bạn khổ đầu cách đây khoảng chín năm, và khổ thứ hai trong thời gian chiến tranh. Tôi mong các bạn sử dụng khổ này hằng ngày và nhiều lần trong ngày, bất cứ khi nào nhớ đến; như vậy, các bạn sẽ tạo ra một tư tưởng hạt giống hoặc một hình tư tưởng rõ nét [149] giúp cho việc phổ biến bài Khấn Nguyện này trong quần chúng nhân loại trở thành một công cuộc thành công khi đúng thời điểm. Thời điểm ấy vẫn chưa đến.

3. We see the method of occult work. A trusted group of esoteric students is given the invocation for understanding, enunciation and empowerment. Later, it is given to a still wider group of esoteric students and then to the members of the public.

3. Chúng ta thấy phương pháp làm việc huyền bí. Một nhóm đạo sinh huyền bí học đáng tin cậy được trao bài khấn nguyện để thấu hiểu, xướng đọc và tăng cường uy lực cho nó. Về sau, bài khấn nguyện được trao cho một nhóm đạo sinh huyền bí học rộng lớn hơn nữa, rồi đến công chúng.

4. We see that this letter was of great importance as it was for DK students their first introduction to what we have come to know as The Great Invocation—really the third stanza of a three-part Great Invocation (1936, 1940, 1945)

4. Chúng ta thấy bức thư này có tầm quan trọng lớn lao, vì đối với các đạo sinh của Chân sư DK, đây là lần đầu họ được giới thiệu điều mà chúng ta ngày nay biết đến là Đại Khấn Nguyện—thực ra là khổ thứ ba của một bài Đại Khấn Nguyện gồm ba phần (1936, 1940, 1945)

5. The Second World War was coming to a close and the Great Mantram, largely due to a momentous decision on the part of the Christ, was released for the use of humanity.

5. Chiến tranh Thế giới thứ Hai đang đi đến hồi kết, và phần lớn nhờ một quyết định trọng đại của Đức Christ, Mantram Vĩ Đại đã được công bố để nhân loại sử dụng.

This Great Invocation can be expressed in the following words:

Có thể diễn đạt Đại Khấn Nguyện này bằng những lời sau:

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let Light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let Love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the Centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let Purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The Purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the Centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

6. With these words we are all deeply familiar, though there are imbedded meanings which we have far from fathomed.

6. Tất cả chúng ta đều hết sức quen thuộc với những lời này, dù trong đó có những ý nghĩa tiềm ẩn mà chúng ta còn lâu mới thấu triệt.

7. When we come to the section of DINA II (below) dealing with the meditations given by DK to His new seed group, we will explore some of the deeper meanings of this greater stanza of the three-part Great Invocation. There are microcosmic, systemic and cosmic interpretations possible.

7. Khi đến phần trong DINA II (bên dưới) bàn về các bài thiền mà Chân sư DK trao cho Nhóm hạt giống mới của Ngài, chúng ta sẽ khám phá một số ý nghĩa sâu xa hơn của khổ lớn hơn này trong bài Đại Khấn Nguyện gồm ba phần. Có thể diễn giải khổ này ở cấp độ tiểu thiên địa, hệ mặt trời và vũ trụ.

It has been difficult to translate into understandable and adequate phrases the very ancient word-forms which the Christ will employ.

Việc chuyển dịch những hình thức ngôn từ rất cổ xưa mà Đức Christ sẽ sử dụng thành những câu dễ hiểu và thích đáng quả là khó khăn.

8. This is a great mantram for the invocation of power and light.

8. Đây là một mantram vĩ đại để khẩn cầu quyền năng và ánh sáng.

9. Clearly, it was in the Archives of Shamballa for millions of years before its release to humanity was permitted.

9. Rõ ràng, nó đã nằm trong Kho Lưu Trữ của Shamballa hàng triệu năm trước khi được phép công bố cho nhân loại.

These word-forms are only seven in number, and they will constitute His complete, new utterance.

Những hình thức ngôn từ này chỉ có bảy, và sẽ tạo thành toàn bộ lời phát biểu mới của Ngài.

10. Let us for the moment call the third great stanza of the Great Invocation by the name, “The Great Invocation” rather than “The Great Invocation, Part III”. This will simplify our approach in the present Commentary.

10. Tạm thời, chúng ta hãy gọi khổ thứ ba vĩ đại của Đại Khấn Nguyện là “Đại Khấn Nguyện” thay vì “Đại Khấn Nguyện, Phần III”. Điều này sẽ đơn giản hóa cách tiếp cận của chúng ta trong bài Bình giảng hiện tại.

11. When it comes to discussing the internal divisions of The Great Invocation, we can call the parts by the names “sections” or “verses”. Sometimes DK uses the word “stanzas”, although this could cause confusion because the three Great Invocations are all called “stanzas” of one greater Great Invocation in three parts.

11. Khi bàn về các phần bên trong Đại Khấn Nguyện, chúng ta có thể gọi chúng là “phần” hoặc “khổ”. Đôi khi Chân sư DK dùng từ “bài kệ”, mặc dù điều này có thể gây nhầm lẫn vì cả ba bài Đại Khấn Nguyện đều được gọi là những “bài kệ” của một Đại Khấn Nguyện lớn hơn gồm ba phần.

12. That there is an ‘original’ of the Great Invocation is fascinating. Perhaps it is written in the Senza language or perhaps like the “Affirmation of the Disciple” it antedates the appearance of both Sanskrit and Senza.

12. Việc Đại Khấn Nguyện có một “nguyên bản” thật đáng chú ý. Có lẽ nguyên bản ấy được viết bằng ngôn ngữ Senza, hoặc có lẽ, giống như “Lời Khẳng Định của Người Đệ Tử”, nó có trước sự xuất hiện của cả tiếng Phạn lẫn tiếng Senza.

I have only been able to give their general significance. Nothing else was possible.

Tôi chỉ có thể truyền đạt thâm nghĩa tổng quát của chúng. Không thể làm gì hơn.

13. There is no means of translating the original into the modern languages of Western (or Eastern) Civilization.

13. Không có cách nào dịch nguyên bản sang các ngôn ngữ hiện đại của nền văn minh phương Tây hoặc phương Đông.

But even in this longer form, they will be potent in their invocative appeal, if said with mental intensity and ardent purpose.

Nhưng ngay cả trong hình thức dài hơn này, chúng vẫn có sức mạnh khẩn cầu mãnh liệt, nếu được đọc với sự tập trung trí tuệ cao độ và mục đích nhiệt thành.

14. We are given the mode in which the Invocation must be “said”—with “mental intensity and ardent purpose”. These requirements, obviously, do not equate with volume of sound!

14. Chúng ta được chỉ dẫn cách “đọc” bài Khấn Nguyện—với “sự tập trung trí tuệ mãnh liệt và mục đích tha thiết”. Hiển nhiên, những yêu cầu này không đồng nghĩa với âm lượng!

The points of emphasis upon which I would ask you to dwell (once it is permissible to use the phrases) are two in number:

Có hai điểm nhấn mà Tôi mong các bạn suy ngẫm kỹ (khi đã được phép sử dụng những câu này):

15. We note that whether or not the group can use the Great Invocation at a given time is a matter of permission. We judge that DK is accountable to His Superiors Who are, as it were, “Guardians” of the Invocation.

15. Chúng ta lưu ý rằng việc nhóm có thể sử dụng Đại Khấn Nguyện vào một thời điểm nhất định hay không là vấn đề được cho phép. Chúng ta nhận định rằng Chân sư DK chịu trách nhiệm trước các Đấng Bề Trên của Ngài, có thể nói là những “Đấng Hộ Trì” bài Khấn Nguyện.

16. As (we will learn) the Great Invocation reflects the thoughtful “conclusions” of Sanat Kumara, it may be that He is the Source to be consulted for the granting of permission.

16. Vì Đại Khấn Nguyện phản ánh những “kết luận” đã được Sanat Kumara suy xét thấu đáo, như chúng ta sẽ tìm hiểu, nên có thể Ngài chính là Cội Nguồn cần được thỉnh ý để ban sự cho phép.

17. We have learned that when the Christ decided to “reappear on Earth” in physical form, permission was granted to Him (from Sanat Kumara) to utilize this ancient and venerable mantram.

17. Chúng ta đã biết rằng khi Đức Christ quyết định “tái xuất hiện trên Trái Đất” trong hình tướng hồng trần, Sanat Kumara đã cho phép Ngài sử dụng mantram cổ xưa và đáng tôn kính này.

18. The following phrases on which the members of the New Seed Group are asked to dwell are signals for us as well.

18. Những câu sau đây, mà các thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới được yêu cầu suy ngẫm, cũng là những dấu hiệu chỉ dẫn cho chúng ta.

1. May Christ return to Earth. This return must not be understood in its usual connotation and its well-known mystical Christian sense. Christ has never left the Earth.

1. Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian. Không được hiểu sự trở lại này theo hàm nghĩa thông thường và ý nghĩa thần bí quen thuộc của Cơ Đốc giáo. Đức Christ chưa bao giờ rời Trái Đất.

19. Perhaps this is not generally understood because the subtle, planar structure of the planet is not common knowledge.

19. Có lẽ điều này chưa được thấu hiểu rộng rãi vì cấu trúc các cõi vi tế của hành tinh chưa phải là kiến thức phổ biến.

What is referred to is the externalisation of the Hierarchy and its exoteric appearance on Earth. The Hierarchy will eventually, under its Head, the Christ, function openly and visibly on Earth.

Điều được nói đến ở đây là sự hiển lộ của Thánh đoàn và sự xuất hiện công khai của Thánh đoàn trên Trái Đất. Cuối cùng, dưới sự lãnh đạo của Đức Christ, Thánh đoàn sẽ hoạt động công khai và hữu hình trên Trái Đất.

20. The date for that Externalization is not precisely determined, but the Tibetan has told us that, in all probability, plans for the first stages of the Externalization Process will be laid in 2025.

20. Thời điểm của sự Ngoại Hiện ấy chưa được xác định chính xác, nhưng Chân sư Tây Tạng đã cho chúng ta biết rằng, rất có thể, các kế hoạch cho những giai đoạn đầu của Tiến Trình Ngoại Hiện sẽ được đề ra vào năm 2025.

This will happen when the purpose of the divine Will, and the plan which will implement it, are better [Page 150] understood and the period of adjustment, of world enlightenment and of reconstruction has made real headway.

Điều này sẽ xảy ra khi nhân loại thấu hiểu rõ hơn mục đích của Ý Chí thiêng liêng và kế hoạch thực hiện mục đích ấy [150] và khi thời kỳ điều chỉnh, khai sáng thế giới và tái thiết đã có những bước tiến thực sự.

21. We do not know the exact meaning of the words “real headway”. We know that reconstruction (of a kind) has certainly occurred, but it can be questioned to what degree “world enlightenment” has become factual. At the present time a possible regression in consciousness in noticeable in the human race.

21. Chúng ta không biết ý nghĩa chính xác của những từ “thực sự đạt được tiến triển”. Chúng ta biết rằng một hình thức tái thiết nào đó chắc chắn đã diễn ra, nhưng vẫn có thể đặt câu hỏi rằng “sự khai sáng thế giới” đã trở thành hiện thực đến mức nào. Hiện nay, có thể nhận thấy dấu hiệu thoái lui về tâm thức trong nhân loại.

This period begins at the San Francisco Conference (hence its major importance), and will move very slowly at first.

Thời kỳ này bắt đầu tại Hội nghị San Francisco (do đó hội nghị này có tầm quan trọng lớn lao), và lúc đầu sẽ tiến triển rất chậm.

22. The Hierarchy is realistic. The words “very slowly” are used.

22. Thánh đoàn rất thực tế. Những từ “rất chậm” đã được sử dụng.

It will take time, but the Hierarchy thinks not in terms of years and of brief cycles (though long to humanity), but in terms of events and the expansion of consciousness.

Điều này cần thời gian, nhưng Thánh đoàn suy nghĩ theo các biến cố và sự mở rộng tâm thức, chứ không theo năm tháng và những chu kỳ ngắn ngủi (dù dài đối với nhân loại).

23. Perhaps, in some ways, we are “on schedule”. It has been some sixty years and a bit more since this instruction was written.

23. Có lẽ, theo một vài phương diện, chúng ta đang “đúng tiến độ”. Đã khoảng sáu mươi năm và hơn một chút kể từ khi huấn thị này được viết ra.

24. We are told the manner of Hierarchy’s thinking—not in terms of years, but in terms of—

24. Chúng ta được cho biết cách Thánh đoàn suy xét—không theo năm tháng, mà theo—

1. Events

1. Các sự kiện

2. Expansion of consciousness.

2. Sự mở rộng tâm thức.

25. We might consider “events” to represent opportunities for significant embodiments of hierarchical energy.

25. Chúng ta có thể xem “các sự kiện” là những cơ hội để năng lượng của Thánh đoàn hiện thân một cách có ý nghĩa.

26. As for “expansions of consciousness”, humanity (with its incredible media development”) is ripe for this possibility.

26. Về “những sự mở rộng tâm thức”, nhân loại, với sự phát triển đáng kinh ngạc của các phương tiện truyền thông, đã chín muồi cho khả năng này.

2. May it seal the door where evil dwells. The sealing up of the evil forces, released during this war, will take place within the immediate future. It will be soon.

2. Cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác. Việc phong bế các mãnh lực tà ác đã được phóng thích trong cuộc chiến này sẽ diễn ra trong tương lai gần. Điều ấy sẽ sớm xảy ra.

27. The evil forces have always been present, but the Second World War saw their explosive release into manifestation. Evil stalked the earth and every eye beheld evil in action.

27. Các mãnh lực tà ác luôn hiện diện, nhưng trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, chúng đã bùng phát vào biểu hiện. Cái ác hoành hành trên Trái Đất và mọi người đều chứng kiến cái ác đang hoạt động.

28. History has shows us that the sealing was incomplete. The terrible conditions now found in the Middle East are testimony to this incomplete sealing.

28. Lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng việc phong kín ấy chưa hoàn tất. Những tình trạng khủng khiếp hiện nay ở Trung Đông là bằng chứng cho việc phong kín chưa hoàn tất này.

The evil referred to has nothing to do with the evil inclinations, the selfish instincts and the separativeness found in the hearts and minds of human beings. These they must overcome and eliminate for themselves.

Tà ác được nói đến ở đây không liên quan đến những khuynh hướng xấu, những bản năng ích kỷ và tính chia rẽ trong trái tim và thể trí con người. Họ phải tự khắc phục và loại bỏ những điều ấy.

29. DK is speaking here of “planetary evil”. It originates because of human ignorance and is naturally defeated over time as human development progresses.

29. Ở đây, Chân sư DK đang nói về “cái ác hành tinh”. Nó bắt nguồn từ sự vô minh của con người và tự nhiên bị đẩy lùi theo thời gian khi con người phát triển.

30. This type of evil can also be called “microcosmic”—to be found within every human being (the microcosm).

30. Loại cái ác này cũng có thể được gọi là “thuộc tiểu thiên địa”—hiện diện trong mỗi con người, tức tiểu thiên địa.

But the reduction to impotency of the loosed forces of evil which took advantage of the world situation, which obsessed the German people and directed the Japanese people, and which worked through barbarity, murder, sadism, lying propaganda, and which prostituted science to achieve their ends, requires the imposition of a power beyond the human.

Nhưng để vô hiệu hóa những mãnh lực tà ác đã được thả lỏng, vốn lợi dụng tình hình thế giới, ám ảnh dân tộc Đức và điều khiển dân tộc Nhật, hoạt động qua sự man rợ, giết chóc, thói bạo dâm, tuyên truyền dối trá và làm băng hoại khoa học để đạt mục đích của chúng, cần có sự áp đặt của một quyền năng vượt trên con người.

31. From this section it becomes clear that humanity itself was not capable of sealing the door to this sort of evil.

31. Từ phần này, rõ ràng chính nhân loại không có khả năng đóng kín cửa vào loại cái ác này.

32. DK is speaking, really, of something called “cosmic evil”. Its origin (we are told) lies in certain cosmic misalignments between stellar sources in the Great Bear and Pleiades.

32. Thực ra, Chân sư DK đang nói về một điều được gọi là “cái ác vũ trụ”. Chúng ta được cho biết rằng nguồn gốc của nó nằm trong một số sự lệch chỉnh hợp ở cấp vũ trụ giữa các nguồn tinh tú trong chòm Đại Hùng và cụm Thất Nữ.

33. We note that there were two principle approaches to the expression of this type of evil:

33. Chúng ta lưu ý rằng có hai phương thức chính để loại cái ác này biểu hiện:

1. The German people were “obsessed”

1. Dân tộc Đức bị “ám nhập”

2. The Japanese people were “directed”.

2. Dân tộc Nhật bị “chỉ đạo”.

34. The more serious condition was one of obsession, because it means that the evil entities behind the war could act in a more direct manner through the leaders of Germany and through the (Piscean) German people as a whole.

34. Tình trạng nghiêm trọng hơn là sự ám nhập, vì điều đó có nghĩa là các thực thể tà ác đứng sau cuộc chiến có thể hành động trực tiếp hơn thông qua các nhà lãnh đạo Đức và thông qua toàn thể dân tộc Đức, vốn thuộc Song Ngư.

35. In the idea of “direction”, as applied to the Japanese people, there is a greater remove than in the process of obsession.

35. Trong ý tưởng về sự “chỉ đạo”, khi áp dụng cho dân tộc Nhật, có một khoảng cách lớn hơn so với trong tiến trình ám nhập.

36. We note that the Italian people were not mentioned. DK considered their cooperation with the forces of evil far less serious.

36. Chúng ta lưu ý rằng dân tộc Ý không được nhắc tới. Chân sư DK xem sự hợp tác của họ với các mãnh lực tà ác là ít nghiêm trọng hơn nhiều.

37. The methods used by these greater forces of evil are, every one of them, repulsive: barbarity, murder, sadism, lying propaganda, and the prostitution of science to selfish ends.

37. Mỗi phương pháp mà các mãnh lực tà ác lớn hơn này sử dụng đều ghê tởm: sự man rợ, giết chóc, bạo dâm, tuyên truyền dối trá và làm tha hóa khoa học để phục vụ những mục đích ích kỷ.

38. As we focus on these methods do we find that they are again being used in today’s world?

38. Khi tập trung vào những phương pháp này, chúng ta có thấy rằng chúng đang lại được sử dụng trong thế giới ngày nay không?

This must be invoked, and the invocation will meet with speedy response.

Phải khẩn cầu quyền năng này, và lời khẩn cầu sẽ nhanh chóng nhận được đáp ứng.

39. DK is speaking of the invocation of a “power beyond the human”.

39. Chân sư DK đang nói về việc khẩn cầu một “quyền năng vượt trên con người”.

40. The implication is that there were ‘attendant forces of Light’ ready to respond to human invocation.

40. Điều này hàm ý rằng có những “mãnh lực Ánh sáng túc trực” sẵn sàng đáp ứng lời khẩn cầu của con người.

41. It may well be that the response of the Lords of Liberation to humanity’s inchoate cry were part of this general response.

41. Rất có thể sự đáp ứng của các Đấng Giải Thoát trước tiếng kêu còn chưa thành hình rõ rệt của nhân loại là một phần của sự đáp ứng chung này.

These evil potencies will be occultly "sealed" within their own place; what this exactly means has naught to do with humanity.

Theo nghĩa huyền bí, những quyền lực tà ác này sẽ bị “phong kín” tại chính nơi của chúng; ý nghĩa chính xác của điều này không liên quan đến nhân loại.

42. This sealing, we have learned, has something to do with a ‘location’ on the astral plane called in the Agni Yoga books, “Marakara”.

42. Chúng ta đã biết rằng việc phong kín này có liên quan đến một “địa điểm” trên cõi cảm dục, được gọi là “Marakara” trong các sách Agni Yoga.

43. While the sealing has naught to do with humanity, it may have something to do (in some small measure) with the disciples of the world.

43. Mặc dù việc phong kín không liên quan gì đến nhân loại, nó có thể liên quan, ở một mức độ nhỏ nào đó, đến các đệ tử trên thế giới.

44. A truer source of cosmic evil is the cosmic astral plane. If the sealing process involves the cosmic astral plane, naturally humanity can have nothing to do with it. Only Shamballa could be successfully involved in this higher task.

44. Nguồn gốc đích thực hơn của cái ác vũ trụ là cõi cảm dục vũ trụ. Nếu tiến trình phong kín liên quan đến cõi cảm dục vũ trụ, thì tất nhiên nhân loại không thể có liên hệ gì với việc ấy. Chỉ Shamballa mới có thể tham gia thành công vào nhiệm vụ cao cả hơn này.

Men today must learn the lessons of the past, profit from the discipline of the war, and deal—each in his own life and community—with the weaknesses and errors to which he may find himself prone.

Con người ngày nay phải học những bài học của quá khứ, tiếp thu lợi ích từ sự rèn luyện của chiến tranh, và mỗi người, trong cuộc sống và cộng đồng của mình, phải xử lý những nhược điểm và sai lầm mà mình có thể dễ mắc phải.

45. The War was a great learning experience. It remains to be seen whether humanity—individually and in group form—has benefited, as intended, from this experience.

45. Cuộc Chiến là một trải nghiệm học hỏi lớn lao. Vẫn còn phải chờ xem nhân loại—với tư cách cá nhân và tập thể—đã hưởng lợi từ trải nghiệm này theo đúng dự định hay chưa.

46. The War was a “discipline”—a terrible one. Was it sufficient to safeguard humanity from ‘disciplines’ of an even more terrible nature? Time will tell.

46. Cuộc Chiến là một “sự rèn luyện”—một sự rèn luyện khủng khiếp. Liệu nó đã đủ để bảo vệ nhân loại khỏi những “sự rèn luyện” còn khủng khiếp hơn nữa hay chưa? Thời gian sẽ trả lời.

I would here recall to you what I said last year to ... anent this final stanza of the Invocation:

Ở đây, Tôi muốn nhắc lại với các bạn điều Tôi đã nói năm ngoái với... về khổ cuối này của bài Khấn Nguyện:

47. DK hearkens back to a time before He gave information telling of the impending release of the Invocation.

47. Chân sư DK nhắc lại thời điểm trước khi Ngài cung cấp thông tin về việc sắp công bố bài Khấn Nguyện.

"I am preparing to present to you for wide distribution throughout the world, the last stanza of the Great Invocation. It is by no means easy to translate the words of this stanza in terms which will make it of general appeal and not simply of importance to convinced esotericists....

“Tôi đang chuẩn bị trao cho các bạn khổ cuối của Đại Khấn Nguyện để phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Hoàn toàn không dễ chuyển dịch những lời trong khổ này thành những từ ngữ có sức thu hút chung, thay vì chỉ có tầm quan trọng đối với những nhà bí truyền học đã xác tín....

48. We see that DK intended the Great Invocation for popular distribution. His translation of this ancient mantram was intended to be far more than an esoteric mantram; it was to be a world prayer with great appeal to millions within the human race.

48. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK có ý định phổ biến Đại Khấn Nguyện trong đại chúng. Bản dịch mantram cổ xưa này của Ngài được dự định sẽ vượt xa phạm vi của một mantram nội môn; nó sẽ là một lời cầu nguyện cho thế giới, có sức thu hút lớn lao đối với hàng triệu người trong nhân loại.

It can be so presented that the masses everywhere, the general public, will be prompted to take it up and will use it widely; they will do this on a relatively larger scale than the intuitional, the spiritually minded or even the men of [Page 151] goodwill.

Có thể trình bày khổ này sao cho quần chúng khắp nơi, công chúng nói chung, cảm thấy muốn đón nhận và sử dụng rộng rãi; họ sẽ làm điều này trên một quy mô tương đối lớn hơn những người có trực giác, những người hướng về tinh thần hay thậm chí những người [151] thiện chí.

49. We see that DK had in mind a popular, general distribution of the Great Invocation.

49. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đã nghĩ đến việc phổ biến Đại Khấn Nguyện rộng rãi trong đại chúng.

50. Is it surprising to us that He predicts the “general public” will use it on a greater scale that the “intuitional, the spiritually minded or even the men of goodwill”?

50. Chúng ta có ngạc nhiên khi Ngài dự đoán rằng “công chúng nói chung” sẽ sử dụng bài này trên quy mô lớn hơn “những người có trực giác, những người có thiên hướng tinh thần hoặc ngay cả những người có thiện chí” không?

51. The task of presentation, of course, was left (initially) to the disciples in DK’s group.

51. Dĩ nhiên, nhiệm vụ giới thiệu ban đầu được giao cho các đệ tử trong nhóm của Chân sư DK.

A far wider public will comprehend it. I will give A.A.B. this stanza at the earliest possible moment; this will be conditioned by world affairs and by my understanding of a certain esoteric appropriateness in the setting of a time cycle.

Một công chúng rộng lớn hơn nhiều sẽ thấu hiểu khổ này. Tôi sẽ trao khổ này cho A.A.B. vào thời điểm sớm nhất có thể; thời điểm ấy sẽ tùy thuộc vào tình hình thế giới và sự thấu hiểu của Tôi về một sự thích hợp huyền bí nhất định trong bối cảnh của một chu kỳ thời gian.

52. One wonders about the astrological implications of the statement immediately above. DK was in the process of setting “a time cycle”—probably so that the Great Invocation would be properly launched on its public mission—perhaps properly from the astrological perspective.

52. Người ta không khỏi tự hỏi về những hàm ý chiêm tinh của phát biểu ngay trên. Chân sư DK đang trong tiến trình ấn định “một chu kỳ thời gian”—có lẽ để Đại Khấn Nguyện có thể khởi đầu sứ mệnh đối với công chúng một cách thích hợp—có lẽ là thích hợp theo quan điểm chiêm tinh.

If plans mature as desired by the Hierarchy, the new stanza can receive distribution at the time of the Full Moon of June 1945, as far as the Occident is concerned, and considerably later for the Orient.

Nếu các kế hoạch tiến triển như Thánh đoàn mong muốn, khổ mới có thể được phổ biến ở phương Tây vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945, còn ở phương Đông thì muộn hơn đáng kể.

53. Spiritually, and as strange as it may seem, in the present day, the Occident is more susceptible to esoteric stimulation than the Orient even though the Orient is the source of so much of the Ancient Wisdom.

53. Về mặt tinh thần, dù điều này có vẻ kỳ lạ, hiện nay phương Tây dễ tiếp nhận sự kích thích nội môn hơn phương Đông, mặc dù phương Đông là nguồn của rất nhiều giáo huấn Minh Triết Cổ Xưa.

54. DK is still referring to the statement He made in 1944—“last year” (in His words). It is interesting that the time He predicted for the distribution of the Great Invocation would follow the surrender of Germany, on April 30th 1945.

54. Chân sư DK vẫn đang nhắc đến phát biểu của Ngài vào năm 1944—“năm ngoái”, theo lời Ngài. Điều thú vị là thời điểm Ngài dự đoán cho việc phổ biến Đại Khấn Nguyện sẽ diễn ra sau sự đầu hàng của Đức vào ngày 30 tháng 4 năm 1945.

55. The Full Moon of Gemini is, of course, a period when a great tide of second ray energy is released. Somehow, this fact is appropriate to the release of the Invocation.

55. Dĩ nhiên, kỳ Trăng Tròn Song Tử là thời kỳ một làn sóng năng lượng cung hai lớn lao được phóng thích. Theo một cách nào đó, sự kiện này thích hợp với việc công bố bài Khấn Nguyện.

Prior to these set points in time, the stanza can be used by all esoteric school members, after being used for one clear month by my group, dating that month from the time that the most distant members of the group receive it."

Trước những mốc thời gian đã định này, tất cả thành viên các trường phái huyền bí đều có thể sử dụng khổ ấy, sau khi nhóm của Tôi đã sử dụng trọn một tháng, tính từ lúc những thành viên ở xa nhất của nhóm nhận được khổ này.”

56. We learn more about the occult technique involved in the release of a great Word of Power:

56. Chúng ta biết thêm về kỹ thuật huyền bí liên quan đến việc ban hành một Quyền năng từ vĩ đại:

1. DK’s group is to use the Invocation for “one clear month”. A concerted beginning of all DK’s group members is required. Some cannot begin to use it before all have received it.

1. Nhóm của Chân sư DK phải sử dụng bài Khấn Nguyện trong “trọn một tháng”. Tất cả thành viên trong nhóm của Chân sư DK phải đồng loạt bắt đầu. Một số người không thể bắt đầu sử dụng trước khi tất cả đều nhận được bài.

2. Then the esoteric school members (a larger group) can use it.

2. Sau đó, các thành viên của các trường nội môn, một nhóm lớn hơn, có thể sử dụng bài này.

3. Later, the general public can begin its use.

3. Về sau, công chúng nói chung có thể bắt đầu sử dụng.

57. We note the well-planned release of the Great Invocation. We can learn from this something about the manner in which to launch our own projects.

57. Chúng ta lưu ý rằng việc công bố Đại Khấn Nguyện đã được hoạch định kỹ lưỡng. Từ điều này, chúng ta có thể học hỏi đôi điều về cách khởi động các dự án của chính mình.

I seek to have this Invocation go forth on the power generated by my Ashram and by all of you affiliated with my Ashram: the Ashrams of the Master K.H. and the Master M. are likewise deeply committed to participation in this work.

Tôi mong bài Khấn Nguyện này được truyền đi bằng quyền năng do ashram của Tôi và tất cả các bạn có liên kết với ashram của Tôi tạo ra: các ashram của Chân sư KH và Chân sư M. cũng cam kết sâu sắc tham gia công việc này.

58. DK departs from His reference to an earlier instruction and returns to the present moment.

58. Chân sư DK rời phần nhắc lại một huấn thị trước đó và trở về thời điểm hiện tại.

59. He speaks of the power necessary to launch the Great Invocation.

59. Ngài nói về quyền năng cần thiết để đưa Đại Khấn Nguyện vào hoạt động.

1. His Ashram is behind it,

1. Ashram của Ngài hậu thuẫn cho bài này,

2. Those affiliated with His Ashram are behind it. By “affiliated”, He means (at least) the Group of Twenty-Four—the New Seed Group.

2. Những người có liên kết với ashram của Ngài hậu thuẫn cho bài này. Qua từ “có liên kết”, Ngài muốn nói ít nhất là Nhóm Hai Mươi Bốn—Nhóm Hạt Giống Mới.

3. The Ashrams of Master KH and Master are also deeply supportive.

3. Các ashram của Chân sư KH và Chân sư cũng hỗ trợ sâu sắc.

60. We can see what a powerful impulse was generated. This is understandable as DK has told us that there is no greater instrument with which to prepare for the Reappearance of the Christ than the Great Invocation.

60. Chúng ta có thể thấy một xung lực mạnh mẽ biết bao đã được tạo ra. Điều này dễ hiểu vì Chân sư DK đã cho chúng ta biết rằng không có công cụ nào để chuẩn bị cho sự Tái Lâm của Đức Christ lớn lao hơn Đại Khấn Nguyện.

I would ask you also to read and reread the two Instructions—one dealing with the Cycle of Conferences,* [details to be found in EXH] and the other with the work of the Christ.** [found in the ROC] Master their contents and let the blueprint of the hierarchical plan take shape in your minds. Then you can do your share in implementing it and will be able to recognise those who, in other groups and in different lands, are also a vital part of hierarchical effort.

Tôi cũng mong các bạn đọc đi đọc lại hai bản Huấn Thị—một bản bàn về Chu Kỳ Các Hội Nghị, [ix] [chi tiết có trong EXH] * và bản kia về công việc của Đức Christ. [x]* [có trong ROC] * Hãy nắm vững nội dung của hai bản ấy và để bản phác thảo kế hoạch của Thánh đoàn thành hình trong thể trí các bạn. Khi đó, các bạn có thể góp phần thực hiện kế hoạch ấy và nhận ra những người trong các nhóm khác và ở các quốc gia khác cũng là thành phần thiết yếu trong nỗ lực của Thánh đoàn.

61. DK’s disciples are being given a very specific piece of work. It was and still is of the utmost importance.

61. Các đệ tử của Chân sư DK đang được giao một công việc rất cụ thể. Công việc này đã và vẫn có tầm quan trọng tột bậc.

62. Clarity of mind is of great importance in any such endeavor, as is the recognition of cooperators.

62. Sự sáng suốt của thể trí có tầm quan trọng lớn lao trong bất kỳ nỗ lực nào như vậy, cũng như việc nhận ra những người cộng tác.

63. It seems that DK had given up on promoting a number of the specific subjective plans for His group. Due to dramatic world developments and the Christ’s decision concerning His Own physical return, the emphasis in the utilization of DK’s outer group had become very practical.

63. Dường như Chân sư DK đã từ bỏ việc thúc đẩy một số kế hoạch chủ quan cụ thể dành cho nhóm của Ngài. Do những diễn biến lớn lao của thế giới và quyết định của Đức Christ về sự trở lại của chính Ngài trong thể xác, trọng tâm trong việc sử dụng nhóm bên ngoài của Chân sư DK đã trở nên rất thiết thực.

PART VIII

PHẦN VIII

Before we proceed further with this subject of meditation, I would like to call your attention to the fact that the type of work I am now giving you is formless in comparison with the earlier meditations outlined.

Trước khi tiếp tục đi sâu vào chủ đề tham thiền này, Tôi muốn các bạn lưu ý rằng loại công việc Tôi đang trao cho các bạn là vô hình tướng so với những bài thiền đã phác thảo trước đây.

64. This means that this type of meditation will involve access to the formless or “arupa” worlds of the higher mental plane and, more especially, of the spiritual triad.

64. Điều này có nghĩa là loại tham thiền này sẽ bao gồm việc tiếp cận các thế giới vô hình tướng hay “vô sắc” của cõi thượng trí và đặc biệt hơn là của Tam Nguyên Tinh Thần.

I have already given you five meditations which, as a group, you have been asked to follow. I would like to summarise their objectives for you so that (again) you may intelligently go forward.

Tôi đã trao cho các bạn năm bài thiền và yêu cầu các bạn thực hành với tư cách một nhóm. Tôi muốn tóm tắt mục tiêu của các bài ấy để các bạn có thể (một lần nữa) tiến bước một cách sáng suốt.

65. These are valuable summaries; they provide an essentialization of the process through which DK has been leading the members of His external group.

65. Đây là những bản tóm lược có giá trị; chúng cô đọng những điều cốt yếu của tiến trình mà qua đó Chân sư DK đã dẫn dắt các thành viên trong nhóm bên ngoài của Ngài.

66. Group members may wish to re-read Commentaries focusing on these earlier meditations.

66. Các thành viên trong nhóm có thể muốn đọc lại những bài Bình Giảng tập trung vào các bài thiền trước đây này.

The first meditation was concerned with the transfer of energy from the solar plexus centre to the heart centre, so [Page 152] that the great dividing barrier (of which the diaphragm is the exoteric symbol) could be bridged and the emotional personality be controlled by the heart.

Bài thiền thứ nhất liên quan đến việc chuyển dịch năng lượng từ trung tâm tùng thái dương lên trung tâm tim, để [152] có thể bắc cầu vượt qua hàng rào ngăn cách lớn lao (mà cơ hoành là biểu tượng ngoại môn), và để trái tim kiểm soát phàm ngã cảm xúc.

67. The Tibetan speaks of the liabilities of the emotionalism in no uncertain terms. Does the diaphragm reflect the astral plane as a whole? Does it reflect the solar plexus center?

67. Chân sư Tây Tạng nói hết sức rõ ràng về những bất lợi của tính thiên về cảm xúc. Cơ hoành có phản ánh toàn bộ cõi cảm dục không? Nó có phản ánh trung tâm tùng thái dương không?

68. Whichever way it goes, the personality is considered related more to the emotional nature and the soul more to the mind. That part of the personality which is predominantly emotional must be overcome. In this overcoming, the heart center becomes the organ of control.

68. Dù theo cách nào, phàm ngã được xem là liên hệ nhiều hơn với bản chất cảm xúc, còn linh hồn liên hệ nhiều hơn với thể trí. Phần phàm ngã mà cảm xúc chiếm ưu thế phải được khắc phục. Trong quá trình khắc phục này, trung tâm tim trở thành cơ quan kiểm soát.

By this means, the selfish individuality of the average man could be transmuted into the group awareness of the dedicated disciple. I sought to help you set up a facility of transference which would be of primary importance to you in your daily lives.

Bằng cách này, tính cá nhân ích kỷ của người bình thường có thể chuyển hoá thành sự nhận biết nhóm của người đệ tử tận hiến. Tôi đã tìm cách giúp các bạn thiết lập một khả năng chuyển dịch thuần thục, vốn có tầm quan trọng hàng đầu đối với các bạn trong đời sống hằng ngày.

69. The first meditation was powerful and simple in its objective.

69. Bài thiền thứ nhất có sức mạnh và có mục tiêu đơn giản.

70. The disciples of DK’s group (for all their training) were still possessed of a selfish individuality. The truly dedicated disciple is possessed of group awareness.

70. Các đệ tử trong nhóm của Chân sư DK, dù đã trải qua bao nhiêu huấn luyện, vẫn còn tính cá nhân ích kỷ. Người đệ tử thực sự tận hiến có nhận thức nhóm.

71. We should be impressed by the fact that the expression, “selfish individuality”, is closely related to the solar plexus center.

71. Chúng ta nên ghi nhớ sâu sắc rằng cách diễn đạt “tính cá nhân ích kỷ” có liên hệ chặt chẽ với trung tâm tùng thái dương.

72. We recall that the first and second meditations were involved with the conditioning of the group astral body.

72. Chúng ta nhớ rằng bài thiền thứ nhất và thứ hai liên quan đến việc tác động lên thể cảm dục của nhóm.