Trích nội dung chương
38. Understanding, therefore, is to be directed not only to the presented fact but to that within us which asserts the fact—i.e., to the monad! DK’s wording is full of hints. It is only through and achieved understanding of the spirit/monad that the revelations of the spirit/monad can descend. 38. Do đó, sự thấu hiểu cần hướng không chỉ đến sự kiện được trình bày mà còn đến điều bên trong chúng ta vốn khẳng định sự kiện ấy—tức là chân thần! Cách diễn đạt của Chân sư DK chứa đầy những gợi ý. Chỉ khi đạt được sự thấu hiểu về tinh thần/chân thần, những mặc khải của tinh thần/chân thần mới có thể giáng xuống.
38. Understanding, therefore, is to be directed not only to the presented fact but to that within us which asserts the fact—i.e., to the monad! DK’s wording is full of hints. It is only through and achieved understanding of the spirit/monad that the revelations of the spirit/monad can descend.
38. Do đó, sự thấu hiểu cần hướng không chỉ đến sự kiện được trình bày mà còn đến điều bên trong chúng ta vốn khẳng định sự kiện ấy—tức là chân thần! Cách diễn đạt của Chân sư DK chứa đầy những gợi ý. Chỉ khi đạt được sự thấu hiểu về tinh thần/chân thần, những mặc khải của tinh thần/chân thần mới có thể giáng xuống.
39. If we have to “brace” ourselves for revelation, it cannot be easy to bear. Nothing from the realm of spirit is easy to bear, as it carries the ‘shocking’ energy of electric fire. The contrast between archetype and actuality is a tremendous shock to consciousness, and maybe to the actual energy system.
39. Nếu chúng ta phải “chuẩn bị vững vàng” để đón nhận sự mặc khải, hẳn không dễ chịu đựng sự mặc khải ấy. Không điều gì đến từ lĩnh vực tinh thần lại dễ chịu đựng, vì nó mang năng lượng ‘gây chấn động’ của lửa điện. Sự tương phản giữa nguyên mẫu và thực tế là một cú sốc dữ dội đối với tâm thức, và có lẽ cả đối với hệ thống năng lượng thực tế.
Each of you has to initiate your own individual crises; there is no one else who is responsible.
Mỗi người trong các bạn phải khởi phát những cuộc khủng hoảng riêng; không ai khác chịu trách nhiệm.
40. This is a remarkable thought. It requires that we purposefully create the right kind of disturbance in our lives by imposing the energy of spirit/monad upon conditions. We cannot expect that the Master will cause such crises, or even that the Solar Angel will. We, ourselves, the soul in incarnation, are the precipitator of crisis.
40. Đây là một tư tưởng đáng chú ý. Nó đòi hỏi chúng ta chủ đích tạo ra loại xáo trộn đúng đắn trong đời mình bằng cách áp đặt năng lượng của tinh thần/chân thần lên các hoàn cảnh. Chúng ta không thể trông đợi Chân sư sẽ gây ra những cuộc khủng hoảng như thế, hay ngay cả Thái dương Thiên Thần cũng vậy. Chính chúng ta, linh hồn đang nhập thể, là tác nhân làm ngưng tụ khủng hoảng.
41. If we follow the promptings of the Solar Angel (which can be interpreted as the mediated promptings of spirit) we can be assured that crisis will eventuate—principally soul crises, but necessarily involving the personality. To follow such promptings is always disruptive of comfort. The Solar Angel has much to wrestle with when considering the personal man.
41. Nếu chúng ta làm theo những thôi thúc của Thái dương Thiên Thần (có thể hiểu là những thôi thúc của tinh thần qua trung gian), chúng ta có thể chắc chắn rằng khủng hoảng sẽ xảy ra—chủ yếu là những khủng hoảng linh hồn, nhưng tất yếu liên quan đến phàm ngã. Làm theo những thôi thúc như vậy luôn phá vỡ sự thoải mái. Thái dương Thiên Thần có nhiều điều phải vật lộn khi xét đến con người phàm ngã.
Each of you together initiates the activity for which the group is responsible and for which you have been brought together; each of you initiates himself into the Presence, through the medium of the Angel, and into the shadow of the Dweller on the Threshold. Through this process, full consciousness is achieved.
Từng người trong các bạn cùng khởi phát hoạt động mà nhóm chịu trách nhiệm và vì đó các bạn đã được tập hợp lại; mỗi người tự điểm đạo để bước vào Hiện Diện, qua trung gian của Thiên Thần, và bước vào bóng của Kẻ Chận Ngõ. Qua tiến trình này, tâm thức trọn vẹn được thành tựu.
42. The various ways in which we are initiators are brought to our attention. It is we who have to take the initiative to initiate. The value of passivity or any purely expectant attitude is negated.
42. Đoạn này lưu ý chúng ta về những cách khác nhau mà qua đó chúng ta là những người khởi xướng. Chính chúng ta phải chủ động khởi xướng. Giá trị của sự thụ động hay bất kỳ thái độ thuần túy chờ đợi nào đều bị phủ nhận.
43. If we wish to reach the Presence which is the monad, we must do so through the relationship we initiate with the Angel. This is, at least, one mode of approach. The Presence can also be reached more directly through the antahkarana process, but let us remember how much the ‘Angel-as-soul participates’ in that process, for we appropriate its energy in order to project consciousness into the spiritual triad.
43. Nếu muốn đạt đến Hiện Diện vốn là chân thần, chúng ta phải thực hiện điều đó qua mối quan hệ mà chúng ta khởi lập với Thiên Thần. Ít nhất, đây là một phương thức tiếp cận. Cũng có thể đạt đến Hiện Diện một cách trực tiếp hơn qua tiến trình antahkarana, nhưng chúng ta hãy nhớ ‘Thiên Thần với tư cách là linh hồn tham gia’ sâu rộng đến mức nào vào tiến trình ấy, vì chúng ta thu dụng năng lượng của Thiên Thần để phóng chiếu tâm thức vào Tam Nguyên Tinh Thần.
44. It is interesting and important that we, ourselves, must precipitate a confrontation with the Dweller. Only if we are willing to do so will “full consciousness” be achieved.
44. Một điều thú vị và quan trọng là chính chúng ta phải thúc đẩy cho cuộc đối diện với Kẻ Chận Ngõ xảy ra. Chỉ khi chúng ta sẵn lòng làm như vậy mới có thể đạt được “tâm thức trọn vẹn”.
The work of this group, and of other groups similarly motivated, is to achieve these undertakings together: Together to face the Dweller and triumph; together to arrive at understanding; together to stand before the Presence because the Angel’s light reveals “that which the eye has never seen;” together to walk the Path of Revelation; together to [15] serve and together to aid the faltering steps of humanity, the world aspirant; together to stand with your backs to the light because you comprehend the ancient aphorism which states:
Công việc của nhóm này, và của những nhóm khác có động lực tương tự, là cùng nhau hoàn thành những nhiệm vụ sau: Cùng nhau đối diện với Kẻ Chận Ngõ và chiến thắng; cùng nhau đạt đến sự thấu hiểu; cùng nhau đứng trước Hiện Diện vì ánh sáng của Thiên Thần mặc khải “điều mắt chưa từng thấy”; cùng nhau bước trên Con Đường Mặc Khải; cùng nhau [15] phụng sự và cùng nhau trợ giúp những bước đi chập chững của nhân loại, người chí nguyện thế gian; cùng nhau đứng quay lưng về phía ánh sáng vì các bạn thấu hiểu câu cách ngôn cổ xưa rằng:
45. This is a beautiful paragraph inspiring us to true group service. What is here enjoined is no longer an individual matter, but must be undertaken in a concerted manner by the group.
45. Đây là một đoạn văn đẹp, truyền cảm hứng cho chúng ta hướng đến việc phụng sự nhóm đích thực. Điều được yêu cầu ở đây không còn là chuyện cá nhân, mà nhóm phải cùng phối hợp thực hiện.
46. So that we may see the requirements more distinctly, let us tabulate them:
46. Để thấy rõ hơn các yêu cầu, chúng ta hãy liệt kê chúng:
1. together to face the Dweller and triumph
1. cùng nhau đối diện với Kẻ Chận Ngõ và chiến thắng
2. together to arrive at understanding
2. cùng nhau đạt đến sự thấu hiểu
3. together to stand before the Presence because the Angel’s light reveals “that which the eye has never seen”
3. cùng nhau đứng trước Hiện Diện vì ánh sáng của Thiên Thần mặc khải “điều mắt chưa từng thấy”
4. together to walk the Path of Revelation
4. cùng nhau bước trên Con Đường Mặc Khải
5. together to serve and together to aid the faltering steps of humanity, the world aspirant
5. cùng nhau phụng sự và cùng nhau trợ giúp những bước đi chập chững của nhân loại, người chí nguyện thế gian
6. together to stand with our backs to the light
6. cùng nhau đứng quay lưng về phía ánh sáng
47. What does the Angel’s light reveal?— “that which the eye has never seen”. This is another name for the spirit, and it gives us the hint that spirit cannot be treated as objective, i.e., capable of being “seen” by the eye. One must be spirit rather than see it.
47. Ánh sáng của Thiên Thần mặc khải điều gì?—“điều mắt chưa từng thấy”. Đây là một tên gọi khác của tinh thần, và cho chúng ta một gợi ý rằng không thể xem tinh thần là một đối tượng khách quan, nghĩa là một thứ mà mắt có thể “nhìn thấy”. Người ta phải là tinh thần thay vì nhìn thấy tinh thần.
48. Below is an aphorism well worthy of memorization, understanding and application.
48. Dưới đây là một câu cách ngôn rất đáng để ghi nhớ, thấu hiểu và áp dụng.
“He who faces the light and stands within its radiance is blinded to the issues of the world of men; he passes on the lighted way to the great Centre of Absorption. But he who feels the urge to pass that way, yet loves his brother on the darkened path, revolves upon the pedestal of light and turns the other way.
“Người hướng mặt về ánh sáng và đứng trong hào quang của nó sẽ không còn thấy những vấn đề của thế giới loài người; y tiến trên con đường được soi sáng đến Trung Tâm Thu Nhiếp vĩ đại. Nhưng người cảm thấy thôi thúc bước trên con đường ấy, mà vẫn yêu thương huynh đệ mình trên lối đi tăm tối, sẽ xoay mình trên bệ ánh sáng và quay về hướng khác.
49. The Bodhisattva’s Path is distinguished from the path of those aspirants (be they initiates or Buddhas) who think more of themselves and their ability to reach the goal.
49. Con Đường Bồ Tát khác với con đường của những người chí nguyện (dù họ là điểm đạo đồ hay các vị Phật) vốn nghĩ nhiều hơn đến bản thân và khả năng đạt đến mục tiêu của mình.
50. We notice that there is an inherent division in the lives of those who tread the Bodhisattva Path. They are drawn toward the Great Centre of Absorption (which, for the moment, we can consider as Shamballa) and yet they are also drawn towards suffering humanity, still imprisoned in the lower three worlds.
50. Chúng ta nhận thấy rằng trong cuộc sống của những người bước trên Con Đường Bồ Tát vốn có một sự phân chia. Họ chịu sức thu hút hướng về Trung Tâm Thu Nhiếp Vĩ Đại (mà lúc này chúng ta có thể xem là Shamballa), nhưng đồng thời cũng chịu sức thu hút hướng về nhân loại đau khổ, vẫn còn bị giam hãm trong ba cõi thấp.
51. The pedestal of light may well be considered the achieved result of initiation, most specifically, the third initiation.
51. Có thể xem bệ ánh sáng là thành quả đạt được qua điểm đạo, cụ thể nhất là lần điểm đạo thứ ba.
52. We have the choice; we avail ourselves of either option—to pass directly to the Great Center or to revolve upon the “pedestal of light” in order to serve the darkened world.
52. Chúng ta có quyền lựa chọn; chúng ta chọn một trong hai khả năng—tiến thẳng đến Trung Tâm Vĩ Đại hoặc xoay mình trên “bệ ánh sáng” để phụng sự thế giới tăm tối.
“He faces towards the dark and then the seven points of light within himself transmit the outward streaming light, and lo! the face of those upon the darkened way receives that light. For them, the way is not so dark. Behind the warriors—twixt the light and dark—blazes the light of Hierarchy.”
“Y hướng mặt về bóng tối, rồi bảy điểm ánh sáng bên trong y truyền đi ánh sáng tuôn ra ngoài, và kìa! gương mặt những người trên con đường tăm tối đón nhận ánh sáng ấy. Đối với họ, con đường không còn tối tăm đến thế. Phía sau những chiến sĩ—giữa ánh sáng và bóng tối—ánh sáng của Thánh đoàn rực cháy.”
53. The dark is the dark of the lower three worlds in which the mass of humanity is trapped.
53. Bóng tối ấy là bóng tối của ba cõi thấp mà đại đa số nhân loại đang mắc kẹt trong đó.
54. The seven points of light may be considered the seven chakras but, more specifically, the seven head centers which are directing chakras.
54. Có thể xem bảy điểm ánh sáng là bảy luân xa, nhưng cụ thể hơn là bảy trung tâm ở đầu, vốn là những luân xa chỉ đạo.
55. We note that it is the “face” of those upon the darkened way that receives the light. When light falls upon the face, it serves to reorient the traveler, for it reaches his eyes, of course.
55. Chúng ta lưu ý rằng chính “gương mặt” của những người trên con đường tăm tối đón nhận ánh sáng. Khi ánh sáng chiếu lên gương mặt, nó giúp người lữ hành định hướng lại, vì dĩ nhiên ánh sáng ấy chiếu đến mắt y.
56. We are to be as light bearers, as shafts of light penetrating the darkness, somewhat lighting the way of those who grope in darkness.
56. Chúng ta phải là những người mang ánh sáng, như những tia sáng xuyên vào bóng tối, phần nào soi đường cho những người đang dò dẫm trong bóng tối.
57. We receive a new definition of ourselves: we are “warriors—twixt the light and dark”. Let every disciple take this description to heart. The battle is often for the light. Let what we do contribute to the necessary enlightenment and in no way feed illusion, glamor and maya.
57. Chúng ta nhận được một định nghĩa mới về chính mình: chúng ta là những “chiến sĩ—giữa ánh sáng và bóng tối”. Mong mỗi đệ tử khắc ghi lời mô tả này trong lòng. Cuộc chiến thường là vì ánh sáng. Mong những việc chúng ta làm góp phần vào sự giác ngộ cần thiết và tuyệt nhiên không nuôi dưỡng ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực.
I have been thinking of you all with tenderness and love. The struggle is so hard and oft you feel alone. There is strength in all of you or I would not have chosen you to serve your fellowmen with me; there is weakness in all of you which can evoke your brothers’ strength and thus you will be strong; there is love in all of you but it needs expression, and for that the group exists; there is light in all of you and with that light you serve.
Tôi đã nghĩ đến tất cả các bạn với lòng trìu mến và tình thương. Cuộc đấu tranh quá gian nan và các bạn thường cảm thấy cô đơn. Trong tất cả các bạn đều có sức mạnh, nếu không Tôi đã chẳng chọn các bạn để phụng sự đồng loại cùng Tôi; trong tất cả các bạn đều có sự yếu đuối có thể khơi dậy sức mạnh nơi các huynh đệ, và nhờ đó các bạn sẽ mạnh mẽ; trong tất cả các bạn đều có tình thương nhưng tình thương ấy cần được biểu lộ, và đó là lý do nhóm hiện hữu; trong tất cả các bạn đều có ánh sáng, và các bạn phụng sự bằng ánh sáng ấy.
58. The Master is many things to His chelas. He cannot be only one thing and have only one attitude. Psychological states are continually changing and the Master must have the adaptability to respond to such changing states. From Him may also emanate tenderness and love as well as injunctions to greater effort.
58. Chân sư đảm nhận nhiều vai trò đối với các đệ tử của Ngài. Ngài không thể chỉ đảm nhận một vai trò và chỉ có một thái độ. Các trạng thái tâm lý không ngừng thay đổi, và Chân sư phải có khả năng thích ứng để đáp ứng những trạng thái biến đổi ấy. Từ Ngài cũng có thể toát ra lòng trìu mến và tình thương, cũng như những lời yêu cầu nỗ lực nhiều hơn.
59. Is DK not demonstrating the very understanding and identification of which He has been speaking in this instruction?
59. Chẳng phải Chân sư DK đang thể hiện chính sự thấu hiểu và đồng hoá mà Ngài đã nói đến trong huấn thị này sao?
60. In this section He strengthens us and even identifies our weakness as a factor which may invoke strength, if not in us, then in those who care about us and the group process. Have we ever thought of the usefulness (to our group brothers) of our own weakness?
60. Trong phần này, Ngài tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta và thậm chí còn xác định sự yếu đuối của chúng ta là một yếu tố có thể khẩn cầu sức mạnh, nếu không phải nơi chúng ta thì nơi những người quan tâm đến chúng ta và tiến trình của nhóm. Chúng ta đã bao giờ nghĩ đến sự hữu ích của chính sự yếu đuối của mình đối với các huynh đệ trong nhóm chưa?
61. We are possessed of strength, weakness, love and light. What is said here of His chelas (at that time) can doubtlessly be said of us.
61. Chúng ta có sức mạnh, sự yếu đuối, tình thương và ánh sáng. Chắc chắn những điều nói ở đây về các đệ tử của Ngài (vào thời điểm ấy) cũng có thể nói về chúng ta.
62. It stands out that love, though existent in His chelas, needs expression, and that the group exists for this purpose (at least this is one of the purposes of the group).
62. Điều nổi bật là tình thương, dù hiện hữu trong các đệ tử của Ngài, vẫn cần được biểu lộ, và nhóm tồn tại vì mục đích này (ít nhất đây là một trong những mục đích của nhóm).
63. We see that the Master is indeed a master at facilitating necessary changes of energy. In other words, He knows just what to say to “turn things around” and beneficently alter present, inadequate energy states.
63. Chúng ta thấy rằng Chân sư quả thực là bậc thầy trong việc tạo điều kiện cho những thay đổi cần thiết về năng lượng. Nói cách khác, Ngài biết chính xác cần nói gì để “xoay chuyển tình thế” và thay đổi theo hướng tốt lành những trạng thái năng lượng hiện tại còn bất cập.
As the Hierarchy stands as a centre of light and strength to humanity, so do your souls stand to you, and—as your Master—I blend my light with yours and thus increase the efficiency of your service;
Như Thánh đoàn là một trung tâm ánh sáng và sức mạnh đối với nhân loại, linh hồn các bạn cũng như thế đối với các bạn, và—với tư cách Chân sư của các bạn—Tôi hòa ánh sáng của Tôi với ánh sáng của các bạn, nhờ đó gia tăng hiệu quả phụng sự của các bạn;
64. An important analogy is given: Hierarchy’s light and strength/humanity = the soul’s light and strength/the disciple.
64. Một phép tương đồng quan trọng được nêu ra: ánh sáng và sức mạnh của Thánh đoàn/nhân loại = ánh sáng và sức mạnh của linh hồn/người đệ tử.
65. A mode in which the Master serves is given—the blending of light. Have we ever felt as we meditated, studied or offered service, that the Master’s light was blending with our own? Let us be alert to the possibility of such blendings.
65. Một phương thức phụng sự của Chân sư được nêu ra—sự hòa trộn ánh sáng. Khi tham thiền, học tập hay phụng sự, chúng ta đã bao giờ cảm thấy ánh sáng của Chân sư đang hòa với ánh sáng của chính mình chưa? Chúng ta hãy lưu tâm đến khả năng có những sự hòa trộn như thế.
66. We note the result of the blending of the Master’s light with our own—efficiency in service. This is to be pondered.
66. Chúng ta ghi nhận kết quả của sự hòa trộn ánh sáng của Chân sư với ánh sáng của chúng ta—hiệu quả trong phụng sự. Đây là điều cần suy ngẫm.
I blend my love with the love which pours forth from the soul towards each of you, and thus I deepen the relation of love between each and all of you.
Tôi hòa tình thương của Tôi với tình thương tuôn trào từ linh hồn đến từng người trong các bạn, qua đó làm sâu sắc thêm mối quan hệ yêu thương giữa từng người và tất cả các bạn.
67. The Master also blends his love with the love of the soul pouring forth to us. Thus we see the cooperation of the Master with the Solar Angel who pours forth love upon soul in incarnation manifesting through the personality.
67. Chân sư cũng hòa tình thương của Ngài với tình thương của linh hồn đang tuôn trào đến chúng ta. Như vậy, chúng ta thấy sự hợp tác giữa Chân sư và Thái dương Thiên Thần, Đấng tuôn đổ tình thương xuống linh hồn đang nhập thể và biểu hiện qua phàm ngã.
68. Have we noticed that there are times when the love between group members seems to increase? Have we thought that the presence of the Master’s love could be responsible for this augmentation?
68. Chúng ta có nhận thấy rằng có những lúc tình thương giữa các thành viên trong nhóm dường như gia tăng không? Chúng ta có nghĩ rằng sự hiện diện của tình thương từ Chân sư có thể là nguyên nhân của sự gia tăng này không?
69. We are given to understand some small aspect of the Master’s subjective work in relation to each of us and to the ashramically-related groups of which we may be a part.
69. Chúng ta được giúp thấu hiểu một phương diện nhỏ trong công việc chủ quan của Chân sư đối với mỗi người chúng ta và đối với các nhóm có liên hệ với ashram mà chúng ta có thể là thành viên.
It is not often that I speak to you in this manner, but in the process of freeing you for increased service I have drawn nearer to you and my love surrounds you.
Tôi không thường nói với các bạn theo cách này, nhưng trong tiến trình giải phóng các bạn để phụng sự nhiều hơn, Tôi đã đến gần các bạn hơn, và tình thương của Tôi bao bọc các bạn.
70. Yes, this is a rare instance, if one but compares Master DK’s usual mode of address.
70. Đúng vậy, đây là một trường hợp hiếm hoi, chỉ cần so sánh với cách nói chuyện thông thường của Chân sư DK là thấy.
71. He has assessed the situation and, being a Master in energy manipulation, has decided that this closer approach is now needed.
71. Ngài đã đánh giá tình hình và, là một Chân sư tinh thông việc vận dụng năng lượng, Ngài đã quyết định rằng lúc này cần đến sự tiếp cận gần gũi hơn ấy.
72. One can sense the effect which such a drawing-near must have had.
72. Chúng ta có thể cảm nhận được tác động mà sự đến gần như thế hẳn đã tạo ra.
73. Many there are who wish that the Master could always act in this manner, but it would not serve the development of His chelas.
73. Có nhiều người mong Chân sư luôn có thể hành động theo cách này, nhưng điều đó sẽ không giúp ích cho sự phát triển của các đệ tử của Ngài.
Learn, my brothers, the meaning of words, their transmitting potency and their spiritual significance.
Hỡi các huynh đệ của Tôi, hãy học ý nghĩa của ngôn từ, tiềm lực truyền đạt và thâm nghĩa tinh thần của chúng.
74. DK has used words in a manner which will convey to those who “learn”—their meaning, their transmitting potency and their spiritual significance.
74. Chân sư DK đã dùng từ ngữ theo cách truyền đạt cho những ai “học hỏi” ý nghĩa, năng lực truyền dẫn và thâm nghĩa tinh thần của chúng.
75. Has He not transmitted much to the chelas through the potent words just written? Have we not sensed His blending light and love through the foregoing paragraphs? His words carry the energies of light and love.
75. Chẳng phải Ngài đã truyền đạt rất nhiều điều cho các đệ tử qua những lời đầy quyền năng vừa viết đó sao? Chẳng phải chúng ta đã cảm nhận được sự hòa quyện ánh sáng và tình thương của Ngài qua những đoạn trên sao? Lời Ngài mang những năng lượng của ánh sáng và tình thương.
76. He is asking us to consider words in three ways: from the perspective of meaning, transmitting potency and spiritual significance. Can we differentiate these three levels as they pertain to mind, soul and spirit?
76. Ngài yêu cầu chúng ta xem xét từ ngữ theo ba cách: từ góc độ ý nghĩa, năng lực truyền dẫn và thâm nghĩa tinh thần. Chúng ta có thể phân biệt ba cấp độ này trong mối liên hệ của chúng với thể trí, linh hồn và tinh thần không?
I am going to take the time and spare the needed energy to get in touch with the group during the coming full moons, prior to that of May. I ask you, at no matter what hour the [16] full moon each month may fall, to endeavour to keep half an hour free so that you can attempt to enter into my consciousness.
Tôi sẽ dành thời gian và phần năng lượng cần thiết để tiếp xúc với nhóm vào những kỳ trăng tròn sắp tới, trước kỳ trăng tròn tháng Năm. Tôi yêu cầu các bạn, bất kể kỳ [16] trăng tròn mỗi tháng rơi vào giờ nào, hãy cố gắng dành riêng nửa giờ để có thể thử đi vào tâm thức của Tôi.
77. Is such contact with the Master still possible or did it refer only to His group at that time? I think it would be the course of wisdom to “act-as-if” it were still possible—today. It would be at precisely such a time that the Master would be alert to the possibility of contacting or inspiring His chelas—even if they do not know that they are His chelas.
77. Liệu sự tiếp xúc như thế với Chân sư vẫn còn khả thi, hay điều đó chỉ dành cho nhóm của Ngài vào thời ấy? Tôi nghĩ cách hành xử khôn ngoan là “hành động như thể” điều đó vẫn còn khả thi—ngày nay. Chính vào thời điểm như thế, Chân sư sẽ lưu tâm đến khả năng tiếp xúc với các đệ tử của Ngài hoặc truyền cảm hứng cho họ—ngay cả khi họ không biết mình là đệ tử của Ngài.
I realise that it may not always be possible for you in your busy Western lives to keep the exact minute free, but you can attempt to find some time, as near to the full moon period as is reasonably possible in your own particular circumstances.
Tôi nhận ra rằng trong cuộc sống bận rộn ở phương Tây, không phải lúc nào các bạn cũng có thể dành đúng thời điểm ấy, nhưng các bạn có thể cố gắng tìm một khoảng thời gian gần kỳ trăng tròn nhất có thể, trong chừng mực hợp lý với hoàn cảnh riêng của mình.
78. I assume that we do likewise. If it were not important for the ashramically related work, Master DK would not insist upon it.
78. Tôi cho rằng chúng ta cũng làm như vậy. Nếu điều đó không quan trọng đối với công việc liên quan đến ashram, Chân sư DK đã không nhấn mạnh yêu cầu ấy.
This, my brother, is to be a group effort, and not an individual one, and it is as a group that I shall seek to contact you. Therefore it is necessary for you to have this in your mind as you prepare for that moment.
Huynh đệ của tôi, đây phải là một nỗ lực nhóm, chứ không phải nỗ lực cá nhân, và Tôi sẽ tìm cách tiếp xúc với các bạn với tư cách một nhóm. Vì vậy, các bạn cần ghi nhớ điều này khi chuẩn bị cho thời điểm ấy. Trước hết,
79. When we approach the Master in mediation at the time of the Full Moon, do we do so as individuals, or as a group? Or as the individual identified with and, better, as the group?
79. Khi đến với Chân sư trong tham thiền vào thời điểm Trăng Tròn, chúng ta đến với tư cách những cá nhân, hay với tư cách một nhóm? Hay với tư cách cá nhân đồng hóa với nhóm và, đúng hơn, là nhóm?
You must link up first with all the group members, pouring yourself out in love to each of them, and to all collectively, and associating yourself with them as a part with the whole.
các bạn phải liên kết với mọi thành viên trong nhóm, tuôn tràn tình thương đến từng người và toàn thể nhóm, đồng thời kết nối mình với họ như một phần với toàn thể.
80. It is to be remembered that if we wish to link up with our fellow group members, the most expedient way of doing so is to pour ourselves out in love to each group member. This is so utterly simple. Do we work in this manner? If not, we are missing a great opportunity.
80. Cần nhớ rằng nếu muốn liên kết với những thành viên đồng nhóm, cách hữu hiệu nhất là tuôn tràn tình thương của mình đến từng thành viên trong nhóm. Điều này thật vô cùng đơn giản. Chúng ta có làm việc theo cách ấy không? Nếu không, chúng ta đang bỏ lỡ một cơ hội lớn.
81. A very powerful Full Moon Meditation is given immediately below.
81. Ngay dưới đây là một bài thiền Trăng Tròn rất mạnh mẽ.
Then in united effort attempt the following procedure:
Sau đó, trong nỗ lực hợp nhất, hãy thử thực hiện tiến trình sau:
1. Having linked up with all your group brothers, and having raised your consciousness as high as you possibly can, endeavour then to hold steady, holding the mind unwaveringly “in the light,” and letting the brain consciousness and its registration drop below the level of consciousness.
1. Sau khi đã liên kết với mọi huynh đệ trong nhóm và nâng tâm thức lên cao nhất có thể, hãy cố gắng giữ vững trạng thái ấy, giữ thể trí không dao động “trong ánh sáng”, và để tâm thức bộ não cùng những ghi nhận của nó lắng xuống dưới ngưỡng tâm thức.
82. A mind held unwaveringly “in the light” will drop the testimony of the senses, i.e., cognizance of the immediate material surroundings.
82. Một thể trí được giữ không dao động “trong ánh sáng” sẽ buông bỏ những gì các giác quan cho biết, tức là sự nhận biết về môi trường vật chất ngay xung quanh.
83. It is, indeed, possible to be so much in the mind that one has no sense of being in the brain. Of course the brain is at work but its normal testimony is silenced—at least consciousness does not perceive it. In general, right intensification silences a vibratory domain which is to be tuned out.
83. Quả thực, chúng ta có thể ở trong thể trí sâu đến mức không còn cảm thấy mình ở trong bộ não. Dĩ nhiên, bộ não vẫn hoạt động, nhưng những gì nó thường cho biết đã lắng im—ít nhất tâm thức không nhận biết những điều ấy. Nói chung, sự tăng cường đúng đắn làm lắng im một miền rung động mà chúng ta cần ngừng bắt nhận.
2. Then initiate a new effort. Realise that, on my side, I also stand steady, pouring out upon you my love and strength and endeavouring to lift you up into a higher state of consciousness.
2. Sau đó, hãy khởi sự một nỗ lực mới. Hãy nhận biết rằng, về phía Tôi, Tôi cũng đứng vững, tuôn đổ tình thương và sức mạnh của Tôi xuống các bạn, đồng thời cố gắng nâng các bạn lên một trạng thái tâm thức cao hơn.
84. We see how the creative imagination is used to augment realization.
84. Chúng ta thấy sự tưởng tượng sáng tạo được sử dụng như thế nào để tăng cường sự nhận biết.
85. Occult work is extremely subtle. The energy transfers required are, for the most part, subjective.
85. Công việc huyền bí vô cùng tinh tế. Những sự chuyển dịch năng lượng cần thiết phần lớn đều mang tính chủ quan.
3. Visualise ahead of you (if I may use so inadequate a word) a disk or sphere of indigo blue, a deep electric blue. In the centre of that disk imagine that I, your Tibetan brother, am standing. My appearance and personality matter not.
3. Hãy hình dung phía trước các bạn (nếu Tôi có thể dùng một từ không đủ sức diễn tả như vậy) một đĩa tròn hoặc khối cầu màu xanh chàm, một màu xanh điện thẫm. Ở trung tâm đĩa tròn ấy, hãy tưởng tượng rằng Tôi, huynh đệ Tây Tạng của các bạn, đang đứng. Diện mạo và phàm ngã của Tôi không quan trọng.
86. We see that spatial terms are not really accurate but must, perforce, be used. The imagination may see the disk as if it were ahead, but the visualization is only symbolic and not to be taken literally.
86. Chúng ta thấy rằng các thuật ngữ không gian không thực sự chính xác, nhưng vẫn buộc phải sử dụng. Sự tưởng tượng có thể thấy đĩa tròn như thể nó ở phía trước, nhưng sự hình dung này chỉ mang tính biểu tượng và không nên hiểu theo nghĩa đen.
87. We find indigo blue described in other terms as a “deep electric blue”. For some types of imaginations, this may prove helpful.
87. Chúng ta thấy màu xanh chàm được mô tả bằng một cách diễn đạt khác là “màu xanh điện thẫm”. Đối với một số kiểu tưởng tượng, cách diễn đạt này có thể hữu ích.
88. The visualization of certain colors summons certain energies, and, in this case, puts the one who visualizes en rapport with the second ray of Love Wisdom and with the Tibetan who, in His soul nature, at least, is on this ray.
88. Việc hình dung những màu sắc nhất định triệu gọi những năng lượng nhất định, và trong trường hợp này, đưa người hình dung vào sự giao cảm với cung hai Bác Ái – Minh Triết và với Chân sư Tây Tạng, Đấng mà ít nhất về bản chất linh hồn của Ngài, thuộc cung này.
89. One wonders about the “electric” nature of the blue, as this may suggest the first ray. We remember that that Tibetan has somewhat of the first ray in His triadal nature.
89. Chúng ta tự hỏi về bản chất “điện” của màu xanh ấy, vì điều này có thể gợi đến cung một. Chúng ta nhớ rằng bản chất Tam Nguyên Tinh Thần của Chân sư Tây Tạng có phần thuộc cung một.
“Bear in mind that first ray disciples are in my Ashram, and that there are aspects of my nature which are of first ray origin, but when you remember this, bear also in mind that the aspect to which I refer is Triadal.” (DINA II 761)
“Hãy ghi nhớ rằng trong Ashram của Tôi có các đệ tử cung một, và có những phương diện trong bản chất của Tôi có nguồn gốc từ cung một; nhưng khi nhớ điều này, cũng hãy ghi nhớ rằng phương diện mà Tôi đề cập đến thuộc Tam Nguyên Tinh Thần.” (DINA II 761)
90. The Tibetan refers to Himself as a “brother” rather than as His chelas’ Master. This reference must be deliberate and is productive of unity with the aspiring group.
90. Chân sư Tây Tạng tự xưng là một “huynh đệ” thay vì là Chân sư của các đệ tử của Ngài. Cách xưng hô này hẳn là có chủ ý và tạo nên sự hợp nhất với nhóm đang hướng nguyện.
91. A direct statement is here offered about the secondary nature of “appearance and personality”. At one point Master DK does, somewhat, describe His appearance, but He seems to want to avoid too much emphasis upon the outer form. It is attunement with the quality of the Master that counts.
91. Ở đây có một lời khẳng định trực tiếp rằng “diện mạo và phàm ngã” chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Ở một chỗ, Chân sư DK quả có mô tả phần nào diện mạo của Ngài, nhưng dường như Ngài muốn tránh nhấn mạnh quá nhiều vào hình tướng bên ngoài. Điều quan trọng là sự hòa điệu với phẩm tính của Chân sư.
4. When you have visualised me thus standing waiting, then endeavour to see—stretching between yourself, the group and me—a band of golden light and know this to be the symbol of the Path which we are all treading.
4. Khi đã hình dung Tôi đứng chờ như vậy, hãy cố gắng nhìn thấy một dải ánh sáng vàng kim trải dài giữa các bạn, nhóm và Tôi, và biết rằng đây là biểu tượng của Đường Đạo mà tất cả chúng ta đang bước đi.
92. We are dealing with the blue and the gold (or yellow), said by some to be the colors particularly associated with Master DK.
92. Chúng ta đang bàn đến màu xanh và màu vàng kim (hoặc vàng), mà theo một số người, là những màu đặc biệt gắn liền với Chân sư DK.
93. The golden band of light is symbolic of the Path which all true disciples must tread. It is a path devoid of lunar control. The Moon is symbolically silvery; the Sun-as-soul is golden.
93. Dải ánh sáng vàng kim tượng trưng cho Đường Đạo mà mọi đệ tử chân chính đều phải bước đi. Đó là một con đường không chịu sự kiểm soát của Mặt Trăng. Về mặt biểu tượng, Mặt Trăng có màu bạc; Mặt Trời với tư cách là linh hồn có màu vàng kim.
94. DK reminds us that He, too, continues to tread the Path—something we must not forget.
94. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng Ngài cũng tiếp tục bước trên Đường Đạo—một điều chúng ta không được quên.
95. The band also is a kind of antahkarana leading to buddhic levels (color yellow). The Master’s Ashram is on the buddhic level of the spiritual triad.
95. Dải sáng ấy cũng là một loại antahkarana dẫn đến các cấp độ Bồ đề (màu vàng). Ashram của Chân sư nằm ở cấp độ Bồ đề của Tam Nguyên Tinh Thần.
See this path gradually shortening, thus bringing us closer together, slowly and steadily, until you enter into the heart of the blue disk.
Hãy thấy con đường này dần ngắn lại, đưa chúng ta đến gần nhau hơn, chậm rãi và vững vàng, cho đến khi các bạn đi vào tâm của đĩa tròn màu xanh.
96. This shortening reminds me of the statement that “Mercury and the Sun are one”. The intermediary function of Mercury gradually lessens and we find ourselves in a state of identification within the Sun of our life—the monad, eventually.
96. Sự rút ngắn này khiến tôi nhớ đến lời khẳng định rằng “Sao Thủy và Mặt Trời là một”. Chức năng trung gian của Sao Thủy dần giảm đi, và cuối cùng chúng ta thấy mình ở trong trạng thái đồng nhất bên trong Mặt Trời của sự sống chúng ta—chân thần.
97. Let us remember, too, that our Solar Logos (of which all lesser intra-systemic suns are reflections) is called the “Blue Logos”.
97. Chúng ta cũng hãy nhớ rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta (mà mọi mặt trời nhỏ hơn bên trong hệ mặt trời đều là những phản chiếu của Ngài) được gọi là “Thượng đế Xanh”.
Whilst doing this, hold the mind positive and attentive, using simultaneously the faculties of imagination and of [17] visualisation.
Trong khi thực hiện điều này, hãy giữ thể trí chủ động và chú tâm, đồng thời sử dụng các năng lực tưởng tượng và [17] hình dung.
98. Are the faculties of imagination and visualization distinct? We might say that visualization corrects and moulds imagination, which is more free and spontaneous and less mind-directed.
98. Năng lực tưởng tượng và năng lực hình dung có khác biệt nhau không? Chúng ta có thể nói rằng sự hình dung điều chỉnh và định hình sự tưởng tượng, vốn tự do và tự phát hơn, đồng thời ít chịu sự chỉ đạo của thể trí hơn.
99. To use imagination we must relax the grip which the mind often has over the image-making faculty, but, then, the images which suggest themselves must be appropriately shaped.
99. Để sử dụng sự tưởng tượng, chúng ta phải nới lỏng sự kiềm giữ mà thể trí thường áp đặt lên năng lực tạo hình ảnh, nhưng sau đó, những hình ảnh tự xuất hiện phải được định hình cho thích hợp.
This triple activity will test and tax your powers but will be good training in active esoteric work.
Hoạt động tam phân này sẽ thử thách và đòi hỏi nhiều ở năng lực của các bạn, nhưng sẽ là sự rèn luyện tốt cho công việc nội môn tích cực.
100. The work is triple because:
100. Công việc này mang tính tam phân vì:
1. The mind is positive and attentive
1. Thể trí chủ động và chú tâm
2. The imagination is suggesting images on the theme
2. Sự tưởng tượng gợi ra những hình ảnh theo chủ đề
3. The power of visualization is shaping and purposefully moving the images suggested.
3. Quyền năng hình dung định hình và chuyển động những hình ảnh đã được gợi ra một cách có chủ đích.
Regard this always as a united group effort and remember that in doing it you aid each other, and may facilitate the work to be done at the time of the Wesak moon.
Hãy luôn xem đây là một nỗ lực nhóm hợp nhất, và nhớ rằng khi thực hiện, các bạn trợ giúp lẫn nhau, đồng thời có thể tạo thuận lợi cho công việc cần làm vào kỳ trăng tròn Wesak.
101. We are reminded of the group nature of the work and the fact that when the individual chela performs it successfully, it is of value to all chelas and to the group as a whole.
101. Chúng ta được nhắc nhở về bản chất nhóm của công việc và về sự thật rằng khi một đệ tử thực hiện thành công công việc này, điều đó có giá trị đối với tất cả các đệ tử và toàn thể nhóm.
102. We see that Master DK begins long before the Wesak Full Moon to prepare for that event.
102. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK bắt đầu chuẩn bị cho sự kiện Trăng Tròn Wesak từ rất lâu trước khi sự kiện ấy diễn ra.
I would like to add that the results of this work will not become apparent to you until the full moon of May, and even then you will only (through the synthesis of the two years’ work) begin to comprehend the fusing and blending and awakening that your own souls are bringing about.
Tôi muốn nói thêm rằng các kết quả của công việc này sẽ chưa trở nên rõ ràng với các bạn trước kỳ trăng tròn tháng Năm, và ngay cả khi ấy, chỉ qua sự tổng hợp công việc của hai năm, các bạn mới bắt đầu thấu hiểu sự dung hợp, hòa quyện và thức tỉnh mà chính linh hồn các bạn đang tạo ra.
103. We are not to be overly eager in looking for results. So much failure in occult meditation derives from the fact that meditators are not willing to do what they are told to do (in this case by the Master), consistently and for a sufficiently long time to arrive at the intended results.
103. Chúng ta không nên quá nôn nóng tìm kiếm kết quả. Rất nhiều thất bại trong tham thiền huyền môn bắt nguồn từ việc những người hành thiền không sẵn lòng thực hiện những điều họ được chỉ dẫn (trong trường hợp này là từ Chân sư) một cách nhất quán và trong thời gian đủ dài để đạt được những kết quả dự định.
104. The soul (principally a second ray factor and faculty in man) brings about fusing and blending. In all group work, fusing and blending are necessitated. The major facilitative act, we remember, is the pouring forth of love upon all group members.
104. Linh hồn (chủ yếu là một yếu tố và năng lực cung hai nơi con người) tạo nên sự dung hợp và hòa quyện. Mọi công việc nhóm đều đòi hỏi sự dung hợp và hòa quyện. Chúng ta nhớ rằng hành động chính giúp tạo thuận lợi cho điều này là tuôn đổ tình thương lên tất cả các thành viên trong nhóm.
I would ask you also to make a careful record every full moon—from two days before until two days after the full moon—of all experiences and visions. Then in June turn in your full moon records along with your other work, for the helping and informing of the group members. Turn them in, my brother, even if there is naught to relate but failure to register anything.
Tôi cũng muốn các bạn ghi chép cẩn thận vào mỗi kỳ trăng tròn—từ hai ngày trước đến hai ngày sau trăng tròn—về mọi trải nghiệm và linh ảnh. Sau đó, vào tháng Sáu, hãy nộp các bản ghi chép trăng tròn cùng với những bài làm khác, để trợ giúp và cung cấp thông tin cho các thành viên trong nhóm. Huynh đệ của tôi, hãy nộp chúng, ngay cả khi không có gì để thuật lại ngoài việc không ghi nhận được điều gì.
105. The Full Moon work is scientific rather than strictly aspirational.
105. Công việc Trăng Tròn mang tính khoa học hơn là thuần túy dựa trên khát vọng.
106. We can see how the spirit of truth prevails in all ashramically related work. Even if there is nothing to say, the individual and the group learn. Egoism is defeated in the light of the group gaze.
106. Chúng ta có thể thấy tinh thần chân thật ngự trị trong mọi công việc liên quan đến ashram. Ngay cả khi không có gì để nói, cá nhân và nhóm vẫn học hỏi. Tính vị kỷ bị đánh bại trong ánh sáng từ cái nhìn của nhóm.
107. Why record experiences and visions? Perhaps to substantiate them? Perhaps to test their quality?
107. Tại sao phải ghi chép những trải nghiệm và linh ảnh? Có lẽ để xác chứng chúng? Có lẽ để kiểm nghiệm phẩm tính của chúng?
I think that there is a certain vagueness in your minds as to the processes which I shall follow in dealing with this group of disciples and in the working out of the experiment hinted at earlier—the experiment of group initiation. I would like, therefore, to make the whole plan clearer and indicate anew the lines along which the training given will go.
Tôi nghĩ rằng trong thể trí các bạn vẫn còn một sự mơ hồ nhất định về những tiến trình Tôi sẽ thực hiện khi làm việc với nhóm đệ tử này và khi triển khai cuộc thử nghiệm đã gợi ra trước đây—cuộc thử nghiệm điểm đạo nhóm. Vì vậy, Tôi muốn làm rõ hơn toàn bộ kế hoạch và một lần nữa chỉ ra những phương hướng huấn luyện.
108. The Master wants His chelas to know exactly what they are doing so they may work with greater power and efficiency and with greater hope that the desired results may be achieved.
108. Chân sư muốn các đệ tử của Ngài biết chính xác họ đang làm gì để họ có thể làm việc với quyền năng và hiệu quả lớn hơn, cùng niềm hy vọng lớn hơn rằng những kết quả mong muốn có thể đạt được.
109. The experiment in which they are all these chelas are engaged is the “experiment of group initiation”. All true disciples are in training for initiation. To see whether group initiation is possible for a group of chelas at this particular time of history was one of the main purposes of Master DK’s experiments with this Groups of Nine and the reorganized New Seed Group.
109. Cuộc thử nghiệm mà tất cả những đệ tử này đang tham gia là “cuộc thử nghiệm điểm đạo nhóm”. Mọi đệ tử chân chính đều đang được huấn luyện để điểm đạo. Một trong những mục đích chính của các cuộc thử nghiệm mà Chân sư DK tiến hành với các Nhóm Chín Người và Nhóm Hạt Giống Mới đã được tổ chức lại là xem liệu điểm đạo nhóm có khả thi đối với một nhóm đệ tử vào thời điểm lịch sử đặc biệt này hay không.
This might be called the exoteric aspect of the esoteric training, formuch must and will transpire upon the inner planes in the inner Ashram about which nothing can be said and which will be individual as well as group expansion. I will outline the outer processes in the order of their present importance, and this in its turn is determined by the group condition—for which you are one and all responsible.
Có thể gọi đây là phương diện ngoại môn của việc huấn luyện nội môn, vì nhiều điều phải và sẽ diễn ra trên các cõi bên trong, trong ashram bên trong, những điều không thể nói ra và sẽ là sự mở rộng của cả cá nhân lẫn nhóm. Tôi sẽ phác thảo các tiến trình bên ngoài theo thứ tự quan trọng hiện tại của chúng; đến lượt mình, thứ tự ấy do tình trạng của nhóm quyết định—mà tất cả các bạn, từng người một, đều chịu trách nhiệm.
110. The true inner ashramic developments are not for exoteric discussion. If we handle the outer requirements with care, the inner developments will unfold rightly.
110. Những sự phát triển thực sự bên trong ashram không phải là điều để bàn luận công khai theo lối ngoại môn. Nếu chúng ta cẩn thận đáp ứng các yêu cầu bên ngoài, những sự phát triển bên trong sẽ khai mở đúng đắn.
111. We note that the outer processes have a certain order of importance, but that order may change, depending upon “the group condition”. DK reminds all that they are responsible for creating that condition.
111. Chúng ta lưu ý rằng các tiến trình bên ngoài có một thứ tự quan trọng nhất định, nhưng thứ tự ấy có thể thay đổi tùy theo “tình trạng của nhóm”. Chân sư DK nhắc nhở tất cả rằng họ có trách nhiệm tạo nên tình trạng ấy.
112. We are about to examine a prioritized outer process related to a hierarchical experiment in inducing the possibility of group initiation in a group of chelas under training by a Master.
112. Chúng ta sắp xem xét một tiến trình bên ngoài được xếp theo thứ tự ưu tiên, liên quan đến một cuộc thử nghiệm của Thánh đoàn nhằm tạo ra khả năng điểm đạo nhóm trong một nhóm đệ tử đang được một Chân sư huấn luyện.
I. Definite and planned Meditation. The theme, if I might so call it, of the work will be threefold:
I. Tham thiền xác định và có kế hoạch. Chủ đề của công việc, nếu Tôi có thể gọi như vậy, sẽ mang tính tam phân:
113. Meditation comes first.
113. Tham thiền đứng đầu tiên.
a. The interior interrelation of the seven centres in the body will be the objective of the meditation, basing the work upon the occult maxim that “energy follows thought.” We have started upon one formula which relates the heart, the higher head centre, and the solar plexus.
a. Mối tương quan bên trong giữa bảy trung tâm trong thân thể sẽ là mục tiêu của việc tham thiền, với công việc dựa trên châm ngôn huyền bí rằng “năng lượng theo sau tư tưởng”. Chúng ta đã bắt đầu với một công thức liên kết trung tâm tim, trung tâm đầu cao hơn và tùng thái dương.
114. DK is referencing Meditation I/II. We note that the work is specifically occult as it deals with the aligning and rightly relating the seven chakras under the Master’s supervision.
114. Chân sư DK đang đề cập đến Bài thiền I/II. Chúng ta lưu ý rằng công việc này mang tính huyền bí rõ rệt vì nó liên quan đến việc chỉnh hợp và thiết lập mối tương quan đúng đắn giữa bảy luân xa dưới sự giám sát của Chân sư.
115. We may also assume that the seven head centers are coming into right relation as well. They are active at the time of the first initiation and all but one of the group members had passed the first degree.
115. Chúng ta cũng có thể cho rằng bảy trung tâm ở đầu đang đi vào mối liên hệ đúng đắn. Chúng hoạt động vào thời điểm lần điểm đạo thứ nhất, và tất cả các thành viên trong nhóm, trừ một người, đều đã vượt qua cấp điểm đạo thứ nhất.
116. In Meditation I/II the ajna center was also involved but is not here mentioned.
116. Trong Bài thiền I/II, trung tâm ajna cũng tham gia nhưng không được đề cập ở đây.
[18]
[18]
b. The subsequent relation of the centres in any one individual to the remainder of the group members, regarding the centres as radiating transmitters of energy to the centres of the other group members.This will result in the forming of seven great centres of energy which will constitute the group centres, fed and enlightened by the energy transmitted by each individual.
b. Tiếp đó là mối liên hệ giữa các trung tâm trong mỗi cá nhân với những thành viên còn lại của nhóm, xem các trung tâm như những bộ truyền phát năng lượng đến các trung tâm của những thành viên khác. Điều này sẽ dẫn đến sự hình thành bảy trung tâm năng lượng lớn, cấu thành các trung tâm của nhóm, được nuôi dưỡng và soi sáng bằng năng lượng do mỗi cá nhân truyền đến.
117. We see that right interrelation of the centers within any chela is only the beginning of a larger process. There must be an interrelation of the centers within any group member to the centers in all other group members.
117. Chúng ta thấy rằng mối liên hệ tương hỗ đúng đắn giữa các trung tâm trong mỗi đệ tử chỉ là bước khởi đầu của một tiến trình rộng lớn hơn. Phải có mối liên hệ tương hỗ giữa các trung tâm trong mỗi thành viên của nhóm với các trung tâm trong tất cả những thành viên khác.
118. It must be clear that the energy pouring through any of our centers will find and influence the same center in our group brothers.
118. Cần hiểu rõ rằng năng lượng tuôn qua bất kỳ trung tâm nào của chúng ta sẽ tìm đến và ảnh hưởng đến trung tâm tương ứng trong các huynh đệ cùng nhóm.
119. The following sentence tells us of the formation of “seven great centers” within a group. This is an important piece of occult information, and alerts us to our responsibility in the formation of such larger group centers.
119. Câu tiếp theo cho chúng ta biết về sự hình thành “bảy trung tâm lớn” trong một nhóm. Đây là một thông tin huyền bí quan trọng, nhắc chúng ta ý thức về trách nhiệm của mình trong việc hình thành những trung tâm nhóm lớn hơn như thế.
120. The formation of these seven great centers suggests an analogy to the formation of a Group Solar Angel.
120. Sự hình thành bảy trung tâm lớn này gợi ra một sự tương đồng với sự hình thành một Thái dương Thiên Thần của Nhóm.
c. The fusion (consciously undertaken) of the individual soul with the group soul and consequently a conscious rapport with the Hierarchy, which is inherently the kingdom of souls.
c. Sự dung hợp (được thực hiện một cách hữu thức) giữa linh hồn cá nhân và hồn nhóm, và do đó là mối giao cảm hữu thức với Thánh đoàn, vốn về bản chất là giới các linh hồn.
121. The group soul can only come to full power when this fusion of the individual souls of the group members with the group soul is accomplished. Of course, there are no strictly individual souls, but the illusion is allowed to persist to designate Soul (i.e., consciousness) in a state of individual limitation.
121. Hồn nhóm chỉ có thể phát huy trọn vẹn quyền năng khi sự dung hợp giữa các linh hồn cá nhân của những thành viên trong nhóm với hồn nhóm đã hoàn tất. Dĩ nhiên, nói một cách chặt chẽ thì không có những linh hồn cá nhân riêng biệt, nhưng ảo tưởng ấy vẫn được phép tồn tại để chỉ Linh hồn (tức tâm thức) trong trạng thái giới hạn cá nhân.
122. We are told that if there is the right merging of the individual soul with the group soul there will result an increasingly conscious rapport with Hierarchy and, presumably, an eventual merging of the group soul with Hierarchy, which, itself, is a Great Soul.
122. Chúng ta được cho biết rằng nếu linh hồn cá nhân hòa nhập đúng đắn với hồn nhóm, thì kết quả sẽ là một mối giao cảm ngày càng hữu thức với Thánh đoàn và, có lẽ, cuối cùng hồn nhóm sẽ hòa nhập với Thánh đoàn, vốn chính là một Linh Hồn Vĩ Đại.
The first meditation affects the three centres in the individual disciple and also, and consequently, his astral body.
Bài thiền thứ nhất tác động đến ba trung tâm trong người đệ tử cá nhân và do đó cũng tác động đến thể cảm dục của y.
123. Another piece of occultism. If the three centers mentioned—solar plexus, heart and head—are rightly stimulated, there will also follow an effect in the astral body—which has similar centers in astral matter.
123. Thêm một điều nữa về huyền bí học. Nếu ba trung tâm đã đề cập—tùng thái dương, tim và đầu—được kích thích đúng đắn, thì một tác động cũng sẽ diễn ra trong thể cảm dục—vốn có những trung tâm tương tự trong vật chất cảm dục.
They can—when related, awakened and functioning, and when the two points in the solar plexus are balanced and “enlightened,” a word which I shall frequently use in connection with the centres—evoke response from the love-petals of the egoic lotus.
Khi đã liên kết, thức tỉnh và hoạt động, và khi hai điểm trong tùng thái dương đã cân bằng và được “soi sáng”—một từ Tôi sẽ thường xuyên dùng khi nói đến các trung tâm—chúng có thể gợi lên đáp ứng từ các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã.
124. Let us pay close attention to what is being said, as we are being given important information on occult process.
124. Chúng ta hãy chú ý kỹ những điều đang được nói đến, vì chúng ta đang nhận được thông tin quan trọng về tiến trình huyền bí.
125. DK tells us that centers can be “enlightened”—i.e., illumined and stimulated. Probably this relates not only to the material stimulation of the centers but to their potential for becoming increasingly valuable organs of consciousness.
125. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng các trung tâm có thể được “soi sáng”—tức là được chiếu sáng và kích thích. Có lẽ điều này không chỉ liên quan đến sự kích thích các trung tâm về mặt vật chất, mà còn đến tiềm năng trở thành những cơ quan tâm thức ngày càng có giá trị của chúng.
126. With respect to the two points of light within the solar plexus, we note that they must become both balanced and enlightened. On this we may ponder. The higher of the points may supersede the lesser point (in time), however, in the central phase of the process, balancing is required.
126. Về hai điểm ánh sáng trong tùng thái dương, chúng ta lưu ý rằng cả hai phải trở nên cân bằng và được soi sáng. Chúng ta có thể suy ngẫm về điều này. Theo thời gian, điểm cao hơn có thể thay thế điểm thấp hơn; tuy nhiên, trong giai đoạn giữa của tiến trình, cần có sự cân bằng.
127. We have a definite occult sequence given:
127. Chúng ta có một trình tự huyền bí rõ ràng như sau:
1. Solar plexus, heart and head are to be awakened and rightly related
1. Các trung tâm tùng thái dương, tim và đầu cần được đánh thức và liên kết đúng đắn với nhau
2. When this happen the astral body, probably through the corresponding centers within the astral body, will also be brought into the process
2. Khi điều này xảy ra, thể cảm dục cũng sẽ tham gia vào tiến trình, có lẽ thông qua các trung tâm tương ứng trong thể cảm dục
3. The solar plexus points are to be balanced and enlightened
3. Các điểm trong tùng thái dương cần được cân bằng và soi sáng
4. When all this has occurred properly, a response will be evoked form the love petals of the egoic lotus.
4. Khi tất cả những điều này đã diễn ra đúng đắn, một đáp ứng sẽ được gợi lên từ các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã.
128. We can see that the members of the group (though first degree initiates, at least) have not completed the unfoldment of the love petals, or, at least, there is still the need to evoke energy from those petals even though the concentration of such group members may be focussed on the sacrifice petals.
128. Chúng ta có thể thấy rằng các thành viên của nhóm (dù ít nhất cũng là những điểm đạo đồ bậc một) vẫn chưa hoàn tất việc khai mở các cánh hoa bác ái, hoặc ít nhất vẫn cần gợi lên năng lượng từ những cánh hoa ấy, dù các thành viên nhóm như thế có thể đang tập trung vào các cánh hoa hi sinh.
129. But here we are talking about group process, and the group must pass through (as a group) that which its constituent members have already experienced individually.
129. Nhưng ở đây chúng ta đang nói về tiến trình nhóm, và nhóm phải trải qua (với tư cách một nhóm) những gì mà từng thành viên cấu thành nhóm đã trải nghiệm riêng lẻ.
This must happen automatically and need not be regarded as a complicated technicality. Do the required meditation faithfully and correctly and the results will follow spontaneously.
Điều này phải diễn ra tự động và không cần được xem là một vấn đề kỹ thuật phức tạp. Hãy thực hành bài thiền được yêu cầu một cách trung thành và đúng đắn, rồi các kết quả sẽ tự nhiên xuất hiện.
130. We are again reminded that there is no need to attend overly much to occult technicalities. The right results will occur through following the required meditation faithfully and not through deliberate manipulation of the centers.
130. Một lần nữa, chúng ta được nhắc nhở rằng không cần quá chú tâm đến những chi tiết kỹ thuật huyền bí. Những kết quả đúng đắn sẽ xuất hiện nhờ trung thành thực hành bài thiền được yêu cầu, chứ không phải nhờ chủ ý điều khiển các trung tâm.
131. A certain amount of trust is required to produce the successful meditator and group member.
131. Cần có một mức độ tin tưởng nhất định để trở thành người hành thiền và thành viên nhóm thành công.
II. Unfold to you and reveal the techniques of work, preparatory to initiation. I referred to this earlier (in Vol. I, Page 99): “As time goes on, I shall bridge between the old techniques and the newer modes of training by using a part of the ancient technique, now becoming somewhat obsolete, and give you hints as to the nature and methods of educating accepted disciples in the processes of initiation.”
II. Khai mở và mặc khải cho các bạn những kỹ thuật làm việc để chuẩn bị cho điểm đạo. Tôi đã đề cập đến điều này trước đây (trong Tập I, Trang 99): “Theo thời gian, Tôi sẽ bắc cầu giữa các kỹ thuật cũ và những phương thức huấn luyện mới hơn bằng cách sử dụng một phần kỹ thuật cổ xưa, nay đang phần nào trở nên lỗi thời, và gợi ý cho các bạn về bản chất cùng các phương pháp giáo dục những đệ tử được chấp nhận trong các tiến trình điểm đạo.”
132. There are old and new techniques of work which help to prepare the chela or group of chelas for initiation. In the Tibetan’s approach, some of the old techniques are to be retained and some new techniques introduced.
132. Có những kỹ thuật làm việc cũ và mới giúp chuẩn bị cho đệ tử hoặc nhóm đệ tử bước vào điểm đạo. Trong cách tiếp cận của Chân sư Tây Tạng, một số kỹ thuật cũ sẽ được giữ lại và một số kỹ thuật mới sẽ được đưa vào.
133. DK may not be entirely explicit about all of the new techniques. Some of them will have to be approached through the following of hints.
133. Chân sư DK có thể không trình bày hoàn toàn tường minh về tất cả các kỹ thuật mới. Chúng ta sẽ phải tiếp cận một số kỹ thuật ấy bằng cách lần theo các gợi ý.
134. In any case, what He is saying is applicable to “accepted disciples in the process of initiation”. This is a fact we must keep in mind. The processes discussed in DINA II are not for everyone.
134. Dù sao đi nữa, những gì Ngài đang nói đều áp dụng cho “những đệ tử được chấp nhận đang trong tiến trình điểm đạo”. Đây là một sự thật chúng ta phải ghi nhớ. Những tiến trình được bàn đến trong DINA II không dành cho tất cả mọi người.
You will note, therefore, that it is my intention to give you such hints. This I shall do from the angle of initiation and in preparation for the second or the third initiation.
Vì vậy, các bạn sẽ nhận thấy rằng ý định của Tôi là đưa ra những gợi ý như thế. Tôi sẽ thực hiện điều này từ góc độ điểm đạo và nhằm chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai hoặc thứ ba.
135. The hints given in DINA II are, therefore, of specific value in preparing for these two initiations—the second and the third. Training for probationary disciples was, when these instructions were written, handled by means of other processes and by other groups (according to Alice Bailey, groups like the Theosophical Society). This is still the case; different sorts of spiritually-inclined groups have different objectives in the training they offer.
135. Vì vậy, những gợi ý trong DINA II có giá trị cụ thể trong việc chuẩn bị cho hai cuộc điểm đạo này—lần thứ hai và lần thứ ba. Khi những huấn thị này được viết ra, việc huấn luyện các đệ tử dự bị được thực hiện qua những tiến trình khác và do những nhóm khác đảm nhiệm (theo Alice Bailey, đó là những nhóm như Hội Thông Thiên Học). Hiện nay vẫn như vậy; các loại nhóm có khuynh hướng tinh thần khác nhau có những mục tiêu khác nhau trong việc huấn luyện mà họ cung cấp.
136. We see that the second and third initiations faced all group members but one—if not in the present life, then in incarnations immediately ahead.
136. Chúng ta thấy rằng tất cả các thành viên trong nhóm, trừ một người, đều đứng trước lần điểm đạo thứ hai và thứ ba—nếu không phải trong kiếp sống hiện tại thì trong những kiếp nhập thể ngay tiếp sau.
Bear this in mind. Hitherto I have not taught you from that particular angle, but I have instructed you as accepted disciples in training for preparation—a much earlier stage.
Hãy ghi nhớ điều này. Cho đến nay, Tôi chưa giảng dạy các bạn từ góc độ đặc biệt ấy, mà đã huấn luyện các bạn với tư cách những đệ tử được chấp nhận, đang được huấn luyện để chuẩn bị—một giai đoạn sớm hơn nhiều.
137. This is an important technicality. All of DK’s group instruction preceding this was pitched at a lower level. Something new is emerging in the DINA II instructions. We remember that Master DK addressed the group members as “My Brothers”.
137. Đây là một điểm quan trọng về mặt chuyên môn. Tất cả những huấn thị trước đó của Chân sư DK dành cho nhóm đều ở cấp độ thấp hơn. Một điều mới mẻ đang xuất hiện trong những huấn thị của DINA II. Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK đã gọi các thành viên trong nhóm là “Các huynh đệ của Tôi”.
138. So, in this particular series of instructions, a new departure is undertaken.
138. Vì vậy, trong loạt huấn thị cụ thể này, một hướng đi mới được mở ra.
These hints I will convey to you in the ancient symbolic formulas which will require much deep reflection on your part and an effort to evoke the intuition and thus arrive at [19] the three meanings which they hold for you, and for disciples like you.
Tôi sẽ truyền đạt những gợi ý này cho các bạn qua các công thức biểu tượng cổ xưa, đòi hỏi các bạn suy ngẫm sâu sắc và nỗ lực gợi lên trực giác, nhờ đó đạt đến [19] ba ý nghĩa mà chúng hàm chứa đối với các bạn và những đệ tử như các bạn.
139. Those who have read DINA II will recognize that Master DK is speaking of the abstruse formulas presented in this book.
139. Những ai đã đọc DINA II sẽ nhận ra rằng Chân sư DK đang nói đến những công thức thâm áo được trình bày trong cuốn sách này.
140. DK suggests that the hints of which He speaks will be conveyed in ancient symbolic formulas. This He, indeed, does, but He also gives a number of definite and concise verbal hints which are to be read in relation to these formulas.
140. Chân sư DK cho biết rằng những gợi ý mà Ngài nói đến sẽ được truyền đạt qua các công thức biểu tượng cổ xưa. Quả thực, Ngài làm như vậy, nhưng Ngài cũng đưa ra một số gợi ý rõ ràng và súc tích bằng lời, cần được đọc trong mối liên hệ với những công thức này.
141. We note that the formulas will not yield their meaning to the concrete mind alone; the intuition is required.
141. Chúng ta lưu ý rằng chỉ riêng trí cụ thể không thể khám phá ý nghĩa của những công thức này; cần có trực giác.
142. The formulas can be interpreted in three or seven ways. DK advises us to confine ourselves to three.
142. Có thể diễn giải những công thức này theo ba hoặc bảy cách. Chân sư DK khuyên chúng ta chỉ giới hạn ở ba cách.
There are literally seven meanings, but I would advise you to confine yourself to the comprehension of the first three. There will be one meaning for your personality, indicating certain brain and mind realisations which are essential for the right transmission of force upon the physical plane—one of the first things an initiate has to master. There will be the soul meaning which will indicate relation to the Hierarchy, in the same way that the personality significance will indicate relationship to humanity. Then there will be a still higher meaning which will be exceedingly difficult for you to grasp, but for which you must strive and which will necessitate the consciously acquired use of the antahkarana. You will understand, therefore, why the study of the Science of the Antahkarana forms part of my instruction to this group. No major initiation can be taken until there is some measure of conscious use of the antahkarana.
Thực sự có bảy ý nghĩa, nhưng Tôi khuyên các bạn chỉ nên giới hạn ở việc thấu hiểu ba ý nghĩa đầu tiên. Sẽ có một ý nghĩa dành cho phàm ngã của các bạn, chỉ ra những nhận biết nhất định trong bộ não và thể trí, vốn thiết yếu cho việc truyền mãnh lực đúng đắn trên cõi hồng trần—một trong những điều đầu tiên mà một điểm đạo đồ phải làm chủ. Sẽ có ý nghĩa linh hồn, chỉ ra mối liên hệ với Thánh đoàn, cũng như thâm nghĩa phàm ngã sẽ chỉ ra mối liên hệ với nhân loại. Rồi sẽ có một ý nghĩa còn cao hơn nữa, cực kỳ khó nắm bắt đối với các bạn, nhưng các bạn phải nỗ lực hướng tới, và điều này đòi hỏi việc sử dụng antahkarana mà các bạn đã học được một cách hữu thức. Vì vậy, các bạn sẽ thấu hiểu tại sao việc nghiên cứu Khoa Học về Antahkarana là một phần trong sự huấn thị của Tôi cho nhóm này. Không thể trải qua bất kỳ cuộc điểm đạo lớn nào cho đến khi có một mức độ sử dụng antahkarana hữu thức.
143. The three types of meaning (in relation to the personality, soul and monad) are here somewhat detailed.
143. Ba loại ý nghĩa (trong mối liên hệ với phàm ngã, linh hồn và chân thần) được trình bày phần nào chi tiết ở đây.
144. By “major initiation” DK means those which number from the third. Although the antahkarana can be built by those in training for the second initiation, it must be consciously used by those attempting the third. Of course, it must be remembered that some chelas can take the second and third initiations in the same life! (cf. IHS 84-85)
144. Khi nói “cuộc điểm đạo lớn”, Chân sư DK muốn nói đến những cuộc điểm đạo từ lần thứ ba trở đi. Mặc dù những người đang được huấn luyện cho lần điểm đạo thứ hai có thể xây dựng antahkarana, những người đang nỗ lực đạt lần điểm đạo thứ ba phải sử dụng nó một cách hữu thức. Dĩ nhiên, cần nhớ rằng một số đệ tử có thể trải qua lần điểm đạo thứ hai và thứ ba trong cùng một kiếp sống! (xem IHS 84-85)
145. So we have:
145. Như vậy, chúng ta có:
1. Mind/brain realizations related to right transmission of force upon the physical plane
1. Những nhận biết trong thể trí/bộ não liên quan đến việc truyền mãnh lực đúng đắn trên cõi hồng trần
2. Soul meaning, indicating relationship to Hierarchy
2. Ý nghĩa linh hồn, chỉ ra mối liên hệ với Thánh đoàn
3. And, though it is not explicitly stated, an approach which involves penetration into monadic awareness.
3. Và, dù không được nêu rõ, một cách tiếp cận bao hàm việc thâm nhập vào nhận biết chân thần.
146. If there are really seven types of meaning, there must be one type for each of the seven principles of man.
146. Nếu thực sự có bảy loại ý nghĩa, thì phải có một loại tương ứng với mỗi nguyên khí trong bảy nguyên khí của con người.
147. In this approach, everything beyond the level of soul seems to be combined as one. Neither atma, buddhi nor manas are singled out.
147. Trong cách tiếp cận này, mọi thứ vượt trên cấp độ linh hồn dường như đều được gộp thành một. Cả atma, Bồ đề lẫn manas đều không được xét riêng.
148. If DK is training people for the second and third initiations (re the third He sometimes affirms that He is doing so, and sometimes denies it) the building and use of the antahkarana are a necessity.
148. Nếu Chân sư DK đang huấn luyện những người chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai và thứ ba (về lần thứ ba, đôi khi Ngài xác nhận rằng Ngài đang làm như vậy, và đôi khi lại phủ nhận), thì việc xây dựng và sử dụng antahkarana là điều cần thiết.
The accepted disciple never receives any detailed information or instruction; he is given no list of rules which must govern his daily life and no minute instructions as to what he must do to “take initiation.”
Người đệ tử được chấp nhận không bao giờ nhận được thông tin hay huấn thị chi tiết; y không được trao một danh sách các quy luật phải chi phối đời sống hằng ngày, cũng không có những chỉ dẫn tỉ mỉ về điều y phải làm để “được điểm đạo”.
149. Does this come as a surprising statement? Perhaps such detailed information is for the earlier stages of training.
149. Đây có phải là một phát biểu gây ngạc nhiên không? Có lẽ những thông tin chi tiết như vậy dành cho các giai đoạn huấn luyện ban đầu.
150. It would appear that much is left to the accepted disciple’s own discernment and intuition.
150. Dường như nhiều điều được để cho chính sự phân biện tinh thần và trực giác của người đệ tử được chấp nhận quyết định.
He receives—at specific “points in time”—according to his success in expanding his consciousness, certain definite hints. These hints have, in the past, been given without calling attention to the fact that they are hints. The disciple either recognised them for what they were and profited thereby, or else he failed to sense their import and so delayed his moving forward.
Vào những “thời điểm” cụ thể, tùy theo thành công trong việc mở rộng tâm thức, y nhận được những gợi ý xác định. Trước đây, những gợi ý này được đưa ra mà không lưu ý rằng chúng là các gợi ý. Người đệ tử hoặc nhận ra chúng đúng như bản chất của chúng và nhờ đó được lợi ích, hoặc không cảm nhận được tầm quan trọng của chúng và do vậy làm chậm bước tiến của mình.
151. We are told that, rather than receive detailed information, lists of rules, minute instructions, etc., the accepted disciple receives at certain moments of readiness “definite hints”.
151. Chúng ta được cho biết rằng, thay vì nhận thông tin chi tiết, các danh sách quy luật, những chỉ dẫn tỉ mỉ, v.v., người đệ tử được chấp nhận nhận được những “gợi ý xác định” vào những thời điểm nhất định khi đã sẵn sàng.
152. It is interesting that the hierarchical teachers of the past may have not called attention to the fact that they were giving hints. If the disciple failed to recognize a hint, it indicated the inadequacy of his intuition, and of readiness to profit from the hint.
152. Điều thú vị là các huấn sư thuộc Thánh đoàn trong quá khứ có thể đã không lưu ý người đệ tử rằng Các Ngài đang đưa ra những gợi ý. Nếu người đệ tử không nhận ra một gợi ý, điều đó cho thấy trực giác của y còn bất cập và y chưa đủ sẵn sàng để hưởng lợi từ gợi ý ấy.
153. This counsels us to be alert to the spiritual direction of that which we see and hear and of that which may be imparted to us by a more advanced soul
153. Điều này khuyên chúng ta hãy nhạy bén với sự chỉ dẫn tinh thần trong những gì chúng ta thấy và nghe, cũng như trong những gì một linh hồn tiến hóa hơn có thể truyền đạt cho chúng ta
In this group experiment which I am undertaking, I propose to change this somewhat and I shall let you know which are the hints I give, so that together the group may profit by them, stimulated by each presented idea and thus evoke together the overshadowing soul.
Trong cuộc thử nghiệm nhóm mà Tôi đang thực hiện, Tôi dự định thay đổi điều này phần nào, và Tôi sẽ cho các bạn biết đâu là những gợi ý Tôi đưa ra, để nhóm có thể cùng nhau hưởng lợi từ chúng, được kích thích bởi từng ý tưởng được trình bày và nhờ đó cùng nhau gợi lên linh hồn đang phủ bóng. Cuối cùng,
154. Because He is teaching a group, DK is changing the mode of imparting hints. The group will pour over the hints given and create and present thought in relation to them. These presented thoughts or ideas will assist the other group members and evoke the overshadowing group soul.
154. Vì đang giảng dạy một nhóm, Chân sư DK thay đổi cách truyền đạt các gợi ý. Nhóm sẽ nghiền ngẫm những gợi ý được đưa ra, hình thành và trình bày các tư tưởng liên quan đến chúng. Những tư tưởng hay ý tưởng được trình bày này sẽ hỗ trợ các thành viên khác trong nhóm và gợi lên linh hồn nhóm đang phủ bóng.
This will result, eventually, in an inflow of light from the Spiritual Triad via the group antahkarana, constructed of the “rainbow bridge” of each disciple.
điều này sẽ dẫn đến một luồng ánh sáng tuôn vào từ Tam Nguyên Tinh Thần qua antahkarana của nhóm, được tạo thành từ “cây cầu vồng” của mỗi đệ tử.
155. Firs the soul is to be approached and then the spiritual triad. The spiritual triad is a group organ but must, in group process, be approached by the group antahkarana.
155. Trước hết cần tiếp cận linh hồn, rồi đến Tam Nguyên Tinh Thần. Tam Nguyên Tinh Thần là một cơ quan của nhóm, nhưng trong tiến trình nhóm, phải tiếp cận Tam Nguyên Tinh Thần bằng antahkarana của nhóm.
156. We bear in mind: group soul and group antahkarana.
156. Chúng ta ghi nhớ: nhóm trong linh hồn nhóm và nhóm trong antahkarana của nhóm.
III. Develop in each of you some measure of telepathic rapport—to each other, to me, your Master, and the hierarchical Plan.
III. Phát triển nơi mỗi người trong các bạn một mức độ giao cảm viễn cảm—với nhau, với Tôi, Chân sư của các bạn, và với Thiên Cơ của Thánh đoàn.
157. Three modes of telepathic rapport are presented and they are important:
157. Ba phương thức giao cảm viễn cảm được trình bày, và cả ba đều quan trọng:
1. Telepathic rapport between group members
1. Giao cảm viễn cảm giữa các thành viên trong nhóm
2. Telepathic rapport with the Master
2. Giao cảm viễn cảm với Chân sư
3. Telepathic rapport with the hierarchical Plan. This last must be the most important, but prepared by the achievement of the earlier two.
3. Giao cảm viễn cảm với Thiên Cơ của Thánh đoàn. Phương thức cuối cùng này hẳn là quan trọng nhất, nhưng việc đạt được hai phương thức trước là bước chuẩn bị cho nó.
A Master can give no real teaching (by means of stimulation) to His group until there is established by the disciples—as individuals—a proper relation to each other, [20] free from all criticism (which always severs telepathic interplay) and based on loving understanding in which they—again as individuals—ask nothing for the separated self but only seek to give to each other and to the group.
Một Chân sư không thể thực sự giảng dạy nhóm của Ngài (bằng sự kích thích) cho đến khi các đệ tử, với tư cách cá nhân, thiết lập được mối liên hệ đúng đắn với nhau, [20] không có bất kỳ sự chỉ trích nào (vốn luôn cắt đứt sự tương tác viễn cảm), và dựa trên sự thấu hiểu đầy tình thương, trong đó họ—vẫn với tư cách cá nhân—không đòi hỏi điều gì cho bản ngã chia rẽ mà chỉ tìm cách trao tặng cho nhau và cho nhóm.
158. We are reminded of the value of group love in the process of receiving teaching/stimulation from the Master.
158. Chúng ta được nhắc nhở về giá trị của tình thương nhóm trong tiến trình tiếp nhận sự giảng dạy/kích thích từ Chân sư.
159. If we were not convinced that criticism was a “dire creator of misery” we are here reminded. Criticism severs telepathic interplay and love promotes it.
159. Nếu chúng ta chưa tin chắc rằng sự chỉ trích là một “tác nhân đáng sợ gây ra khổ đau”, thì ở đây chúng ta được nhắc nhở về điều đó. Sự chỉ trích cắt đứt sự tương tác viễn cảm, còn tình thương thúc đẩy sự tương tác ấy.
160. To be properly telepathic there must be an attitude of:
160. Để có khả năng viễn cảm đúng đắn, cần có thái độ:
1. Freedom from criticism
1. Không chỉ trích
2. Loving understanding
2. Thấu hiểu đầy tình thương
3. Asking nothing for the separated self
3. Không đòi hỏi điều gì cho bản ngã chia rẽ
4. Giving to each other and to the group
4. Trao tặng cho nhau và cho nhóm
161. The conclusion is that selflessness produces telepathic rapport (or, rather, reveals the telepathic rapport which always exists on the level of the loving soul).
161. Kết luận là lòng vị tha tạo ra sự giao cảm viễn cảm (hay đúng hơn, làm hiển lộ sự giao cảm viễn cảm vốn luôn hiện hữu trên cấp độ của linh hồn đầy tình thương).
The above concerns and applies to your relation to me, to the Hierarchy (which is “entered” through the process of initiation) and to each other. This relation, which indicates ability to touch the sources of power, love and light, carries with it the implications of service and work for humanity.
Những điều trên liên quan và áp dụng cho mối liên hệ của các bạn với Tôi, với Thánh đoàn (mà người ta “gia nhập” qua tiến trình điểm đạo) và với nhau. Mối liên hệ này, biểu thị khả năng chạm đến các nguồn quyền năng, tình thương và ánh sáng, đồng thời hàm chứa việc phụng sự và làm việc cho nhân loại.
162. We are reminded that Hierarchy is entered through the process of initiation.
162. Chúng ta được nhắc nhở rằng người ta gia nhập Thánh đoàn qua tiến trình điểm đạo.
163. If the group members, through selflessness, succeed in establishing the proper telepathic rapport between themselves, their Master and the Plan, they will touch the source of power, love and light which will greatly increase their service potential.
163. Nếu nhờ lòng vị tha, các thành viên nhóm thành công trong việc thiết lập mối giao cảm viễn cảm thích hợp giữa họ với nhau, với Chân sư của họ và với Thiên Cơ, họ sẽ tiếp xúc với cội nguồn của quyền năng, tình thương và ánh sáng, qua đó gia tăng đáng kể tiềm năng phụng sự của họ.
IV. I shall, therefore, endeavour to interpret humanity to you (and to disciples everywhere) so that its present problems and its immediate opportunity may emerge clearly in your minds, and you will be able consequently to work intelligently and understandingly.
IV. Vì vậy, Tôi sẽ cố gắng giải thích về nhân loại cho các bạn (và cho các đệ tử khắp nơi), để những vấn đề hiện tại và cơ hội trước mắt của nhân loại có thể hiện rõ trong thể trí các bạn, nhờ đó các bạn có thể làm việc một cách sáng suốt và thấu hiểu.
164. The Tibetan had not yet written the Problems of Humanity. We can see that the writing of this book became part and parcel of the training He was offering.
164. Khi ấy, Chân sư Tây Tạng chưa viết cuốn Những Vấn Đề của Nhân Loại. Chúng ta có thể thấy rằng việc viết cuốn sách này đã trở thành một phần không thể tách rời của chương trình huấn luyện mà Ngài đang thực hiện.
The Science of Service needs elucidating and the Path of Man needs understanding.
Khoa Học Phụng Sự cần được làm sáng tỏ và Con Đường của Con Người cần được thấu hiểu.
165. A magnificently clear sentence concerning two related factors.
165. Một câu rõ ràng tuyệt vời về hai yếu tố có liên quan với nhau.
166. A close study of the Science of Service and of the Path of Man is an aspect of training for group initiation.
166. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng Khoa Học Phụng Sự và Con Đường của Con Người là một phương diện của việc huấn luyện để điểm đạo nhóm.
The attitude of the initiate consciousness to human problems is not identical with that of the ordinary human being. I do not desire to deal with problems already considered by us in the various pamphlets and in my books. It is the new world which we shall start to study, the new opportunities and the new complexities, as well as the new and coming simplifications in life and being. They concern primarily the service of the initiate; hitherto we have only considered the service which disciples, aspirants and men of goodwill can render.
Thái độ của tâm thức điểm đạo đồ đối với các vấn đề của con người không giống thái độ của người bình thường. Tôi không muốn bàn đến những vấn đề chúng ta đã xem xét trong các tập sách nhỏ và các sách của Tôi. Chúng ta sẽ bắt đầu nghiên cứu thế giới mới, những cơ hội mới và những sự phức tạp mới, cũng như những sự đơn giản hóa mới đang đến trong đời sống và sự hiện tồn. Chúng chủ yếu liên quan đến việc phụng sự của điểm đạo đồ; cho đến nay, chúng ta chỉ xem xét sự phụng sự mà các đệ tử, người chí nguyện và những người thiện chí có thể thực hiện.
167. DK differentiates between the attitude of the ordinary human being to human problems and that of the initiate consciousness (note, He does not say, “initiate”) to the same types of problems.
167. Chân sư DK phân biệt thái độ của người bình thường đối với các vấn đề của con người với thái độ của tâm thức điểm đạo đồ (lưu ý, Ngài không nói “điểm đạo đồ”) đối với cùng những loại vấn đề ấy.
168. We note that the coming age will offer simultaneously its complexities and simplifications, which are not mutually contradictory.
168. Chúng ta lưu ý rằng kỷ nguyên sắp đến sẽ đồng thời mang lại những sự phức tạp và những sự đơn giản hóa, vốn không mâu thuẫn với nhau.
169. As the chelas in the New Seed Group are in training for initiation, an examination of the kind of service to be offered by initiates in the New Age becomes part of their training curriculum.
169. Vì các đệ tử trong Nhóm Hạt Giống Mới đang được huấn luyện để điểm đạo, việc xem xét loại hình phụng sự mà các điểm đạo đồ sẽ thực hiện trong Kỷ Nguyên Mới trở thành một phần trong chương trình huấn luyện của họ.
V. I shall give you some clear and definite instructions anent the uses of the etheric body. This vehicle of vitality or energy is the ultimate conditioning factor in the activity of the physical body. It is an initiator, for there is no physical activity as we understand it unless impulsed by some energy emanating from the etheric body.
V. Tôi sẽ đưa ra cho các bạn những huấn thị rõ ràng và xác định về cách sử dụng thể dĩ thái. Hiện thể sinh lực hay năng lượng này là yếu tố định hình cuối cùng trong hoạt động của thể xác. Nó là tác nhân khởi phát, vì không có hoạt động hồng trần nào, theo cách chúng ta hiểu, mà không được thúc đẩy bởi một năng lượng nào đó phát ra từ thể dĩ thái.
170. We are given a new way to consider the word, “initiator”—in this case, describing the relationship of the etheric body to the physical body.
170. Chúng ta được cung cấp một cách mới để xem xét từ “tác nhân khởi phát”—trong trường hợp này, từ ấy mô tả mối quan hệ của thể dĩ thái với thể xác.
171. The initiator, therefore, is always a positive energy acting upon a negative force.
171. Do đó, tác nhân khởi phát luôn là một năng lượng dương tác động lên một mãnh lực âm.
An understanding of some of the processes of initiation will come from an understanding of the body of vitality.
Sự thấu hiểu một số tiến trình điểm đạo sẽ đến từ việc thấu hiểu thể sinh lực.
172. This is a considerable hint, is it not?
172. Đây là một gợi ý đáng kể, phải không?
173. Let us remember that the etheric body is a solar factor; so is the soul and so is the initiator.
173. Chúng ta hãy nhớ rằng thể dĩ thái là một yếu tố thái dương; linh hồn cũng vậy, và Đấng Điểm Đạo cũng vậy.
The etheric body is the organ whereby personality or soul expression becomes evidenced upon the physical plane. Its potency is that which evokes the physical form. Most of the vehicles have a dual capacity—invocation and evocation. They also have a third function: they ground or focus energy, thus producing a point of tension, of crisis and an interlude, prior to a process of transmission. [21] Ponder on these words.
Thể dĩ thái là cơ quan qua đó sự biểu lộ của phàm ngã hoặc linh hồn trở nên rõ rệt trên cõi hồng trần. Chính tiềm lực của nó gợi lên hình tướng hồng trần. Phần lớn các hiện thể có năng lực kép—khẩn cầu và gợi lên. Chúng còn có chức năng thứ ba: neo giữ hoặc tập trung năng lượng, nhờ đó tạo ra một điểm tập trung nhất tâm, một điểm khủng hoảng và một khoảng gián đoạn trước một tiến trình truyền dẫn. [21] Hãy suy ngẫm về những lời này.
174. The richness of the instruction imparted is amazing.
174. Nội dung huấn thị được truyền đạt phong phú đến kinh ngạc.
175. We are being told that the subjective factors of personality and soul cannot manifest physically without the etheric body. Had we considered the personality as a subjective or recessed factor requiring manifestation?
175. Chúng ta được cho biết rằng các yếu tố chủ quan của phàm ngã và linh hồn không thể biểu hiện trên cõi hồng trần nếu không có thể dĩ thái. Chúng ta đã từng xem phàm ngã là một yếu tố chủ quan hay ẩn sâu bên trong, cần biểu hiện ra ngoài chưa?
176. The dual capacity of a vehicle indicates that it can relate to the vehicle ‘above’ it and the one ‘below’. It invokes the vehicle above and evokes the one below.
176. Năng lực kép của một hiện thể cho thấy nó có thể liên hệ với hiện thể ở ‘trên’ nó và hiện thể ở ‘dưới’. Nó khẩn cầu hiện thể bên trên và gợi lên hiện thể bên dưới.
177. The third function is to “ground or focus energy”: The sequence here given is:
177. Chức năng thứ ba là “neo giữ hoặc tập trung năng lượng”: Trình tự nêu ở đây là:
a. Tension
a. Tập trung nhất tâm
b. Crisis
b. Khủng hoảng
c. Interlude
c. Khoảng gián đoạn
d. Transmission
d. Truyền dẫn
178. This sequence should be compared with crisis, tension, emergence.
178. Cần so sánh trình tự này với trình tự khủng hoảng, tập trung nhất tâm, xuất hiện.
The physical body can be evoked into manifestation and subsequent activity, but it has no power of invocation. Hence it is not a principle (as H.P.B. tells us in The Secret Doctrine) but is basically an automaton.
Có thể gợi thể xác đi vào biểu hiện và hoạt động tiếp theo, nhưng nó không có quyền năng khẩn cầu. Vì vậy, nó không phải là một nguyên khí (như H.P.B. cho chúng ta biết trong Giáo Lý Bí Nhiệm), mà về căn bản là một bộ máy tự động.
179. This is another important hint. No vehicle can be considered a principle unless it is possessed of the power of invocation.
179. Đây là một gợi ý quan trọng khác. Không hiện thể nào có thể được xem là một nguyên khí nếu không có quyền năng khẩn cầu.
180. An automaton can only respond but cannot invoke response.
180. Một bộ máy tự động chỉ có thể đáp ứng, nhưng không thể khẩn cầu sự đáp ứng.
The etheric body invokes and evokes; but it also, in relation to the physical plane, precipitates energy through a process of appropriation. A study of these things will bring to our attention the entire subject of the centres and this we will approach from the angle of invocation and evocation.
Thể dĩ thái khẩn cầu và gợi lên; nhưng trong mối liên hệ với cõi hồng trần, nó cũng làm ngưng tụ năng lượng qua một tiến trình thu nhận. Việc nghiên cứu những điều này sẽ đưa toàn bộ chủ đề về các trung tâm vào sự chú ý của chúng ta, và chúng ta sẽ tiếp cận chủ đề ấy từ góc độ khẩn cầu và gợi lên.
181. There are three functions of the etheric body:
181. Thể dĩ thái có ba chức năng:
1. Invocation (presumably of the higher principles)
1. Khẩn cầu (có lẽ là khẩn cầu các nguyên khí cao hơn)
2. Evocation of the physical body
2. Gợi lên sự đáp ứng của thể xác
3. Precipitation through appropriation. It is, therefore, an active agent of manifestation. This tells us something about the buddhic plane as well, which is the fourth cosmic ether.
3. Ngưng tụ thông qua sự chiếm hữu. Vì vậy, nó là một tác nhân tích cực của sự biểu hiện. Điều này cũng cho chúng ta biết đôi điều về cõi Bồ đề, vốn là cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư.
182. We are alerted to the fact that the chakras or centers can be studied from the point of view of both invocation and evocation.
182. Chúng ta được lưu ý rằng có thể nghiên cứu các luân xa hay trung tâm từ cả góc độ khẩn cầu lẫn gợi lên.
The teaching upon the etheric body naturally follows upon any instructions which I may give anent telepathic communication and the manipulation of energy by the initiate-disciple, via the centres, via the group centres and—when of very high development and initiate degree—via the planetary centres. I have not yet given you much on this theme but there is much that will later be said. I shall, however, have to deal with it only briefly and tentatively, as the majority of aspirants and disciples are not yet ready for this particular study.
Giáo huấn về thể dĩ thái đương nhiên tiếp nối bất kỳ huấn thị nào Tôi có thể đưa ra về giao tiếp viễn cảm và việc điểm đạo đồ-đệ tử vận dụng năng lượng qua các trung tâm, qua các trung tâm của nhóm và—khi đã đạt mức phát triển và cấp bậc điểm đạo rất cao—qua các trung tâm hành tinh. Tôi chưa nói nhiều với các bạn về chủ đề này, nhưng sau này sẽ có nhiều điều được trình bày. Tuy nhiên, Tôi sẽ chỉ có thể bàn đến nó một cách ngắn gọn và sơ bộ, vì phần lớn người chí nguyện và đệ tử chưa sẵn sàng cho việc nghiên cứu đặc biệt này.
183. We are probably being informed of the substance of the book, Telepathy and the Etheric Vehicle
183. Có lẽ chúng ta đang được cho biết nội dung cốt yếu của cuốn sách Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái
184. We are speaking of the “initiate-disciple”. This is the kind of disciple which DK is seeking to create.
184. Chúng ta đang nói đến “điểm đạo đồ-đệ tử”. Đây là kiểu đệ tử mà Chân sư DK đang tìm cách đào tạo.
185. Manipulation of energy can occur in three ways, as here given:
185. Việc vận dụng năng lượng có thể diễn ra theo ba cách, như trình bày ở đây:
a. Via the individual centers
a. Qua các trung tâm cá nhân
b. Via the group centers
b. Qua các trung tâm của nhóm
c. Via the planetary centers. This would, I think, pertain to full members of Hierarchy.
c. Qua các trung tâm hành tinh. Tôi nghĩ điều này áp dụng cho các thành viên chính thức của Thánh đoàn.
186. Of course, the Tibetan had already given much anent the etheric body in A Treatise on Cosmic Fire, but that which is now to be given is of an even more practical nature.
186. Dĩ nhiên, Chân sư Tây Tạng đã trình bày nhiều điều về thể dĩ thái trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nhưng những điều sắp được trình bày còn mang tính thực hành cao hơn nữa.
187. Putting things in proportion, we see that we are dealing with an advanced study, for which more aspirants and disciples are not ready. The ability to manipulate energy rightly assumes that major glamors and illusions have been cleared; for how many is this the case?
187. Khi nhìn nhận mọi việc theo đúng tỉ lệ, chúng ta thấy rằng mình đang đề cập đến một nội dung nghiên cứu cao cấp mà nhiều người chí nguyện và đệ tử chưa sẵn sàng tiếp nhận. Khả năng vận dụng năng lượng đúng đắn đòi hỏi những ảo cảm và ảo tưởng chủ yếu đã được loại bỏ; có bao nhiêu người đã đạt đến điều này?
VI. I shall, once a year, give to each of you a measure of individual help, personal instruction and individual meditation. The clue to your next step towards the door of initiation and towards the Presence will also be indicated by me. This I will do at the time of the Full Moon of May (Taurus) each year.
VI. Mỗi năm một lần, Tôi sẽ dành cho mỗi người trong các bạn một mức độ trợ giúp cá nhân, huấn thị riêng và bài thiền cá nhân. Tôi cũng sẽ chỉ ra manh mối cho bước tiếp theo của các bạn hướng đến cánh cửa điểm đạo và hướng đến Hiện Diện. Tôi sẽ thực hiện điều này vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm (Kim Ngưu) hằng năm. Đôi khi,
188. A number of potent sentences were given to each member of the New Seed Group in August of 1942. They were rich enough to be pondered for the remainder of the disciple’s life.
188. Vào tháng Tám năm 1942, mỗi thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới đã nhận được một số câu đầy uy lực. Những câu ấy hàm chứa đủ ý nghĩa phong phú để người đệ tử suy ngẫm suốt phần đời còn lại.
189. DK sees very clearly the steps to be taken towards initiation; the disciples do not see with such clarity and need the hints imparted.
189. Chân sư DK thấy rất rõ những bước cần thực hiện để tiến tới điểm đạo; các đệ tử không thấy rõ đến thế và cần những gợi ý mà Ngài truyền đạt.
This may involve at times an analysis of your group relation, of the effect that your national and racial thoughtforms have upon you, and also the assets and the liabilities of your personality and egoic rays.
điều này có thể bao gồm việc phân tích mối liên hệ nhóm của các bạn, ảnh hưởng của các hình tư tưởng quốc gia và chủng tộc đối với các bạn, cũng như những ưu điểm và hạn chế của cung phàm ngã và cung chân ngã của các bạn.
190. All group members were subject to exacting analysis.
190. Tất cả các thành viên trong nhóm đều trải qua sự phân tích nghiêm ngặt.
191. If we think we are free individual agents, we have no true idea of how much our national and racial conditioning affects us and, also, how much we are under the sway of certain ray tendencies, not easily controlled.
191. Nếu nghĩ rằng mình là những cá nhân tự do hành động, chúng ta thực sự chưa hiểu những ảnh hưởng định hình từ quốc gia và giống dân tác động đến chúng ta sâu sắc đến mức nào, cũng như chúng ta chịu sự chi phối đến mức nào của một số khuynh hướng cung không dễ kiểm soát.
I shall endeavour to bring to your attention your personal point in evolution.
Tôi sẽ cố gắng giúp các bạn chú ý đến điểm tiến hoá riêng của mình.
192. This was often done with subtlety. The chela had to catch the hint. Sometimes however, explicit information was given, as in the case of ISG-L (preparation for the second initiation) and DHB (preparation for the third initiation).
192. Điều này thường được thực hiện một cách tinh tế. Người đệ tử phải nắm bắt lời gợi ý. Tuy nhiên, đôi khi thông tin rõ ràng cũng được đưa ra, như trong trường hợp của ISG-L (chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai) và DHB (chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba).
I would remind you at this point that these seven rays are sharply different as to colouring and phenomenal effect and, at the same time, I would remark that—under the Law of Occult Paradox—the seven Lords of Being (the seven Rays) are widely different but remain non-separative.
Tại đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng bảy cung này khác biệt rõ rệt về sắc thái và tác động trong thế giới hiện tượng; đồng thời, Tôi muốn lưu ý rằng—theo Định Luật Nghịch Lý Huyền Bí—bảy Chúa Tể của Bản Thể (bảy Cung) rất khác nhau nhưng vẫn không chia rẽ.
193. This is a most important statement. The relevant quotation is the following:
193. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Đoạn trích liên quan như sau:
“The seven Brothers love each other, yet each seeketh for many aeons the path of hatred. They hate and kill each other until they find that which dieth not and is not hurt. Together then they stand and serve and through their service the seven suns burn up.” (TCF 1249)
“Bảy Huynh Đệ yêu thương nhau, tuy vậy, mỗi vị lại tìm kiếm con đường hận thù trong nhiều đại kiếp. Các Ngài căm ghét và giết hại nhau cho đến khi tìm thấy điều không chết đi và không hề tổn thương. Bấy giờ, Các Ngài cùng nhau đứng vững và phụng sự, và qua sự phụng sự của Các Ngài, bảy mặt trời bùng cháy đến tận cùng.” (TCF 1249)
194. If we had any doubts as to the importance of the ray effects (sometimes masked by the rather glib statement— “we all have all the rays”) we should now be set straight.
194. Nếu từng hoài nghi về tầm quan trọng của các tác động cung (đôi khi bị che khuất bởi lời khẳng định khá hời hợt—“tất cả chúng ta đều có tất cả các cung”) thì giờ đây chúng ta hẳn đã hiểu cho đúng.
195. We should pause to realize the power of our conditioning (under Saturn), and the difficulty of releasing ourselves from it, since quite often that conditioning is unconscious. DK raises these unconscious factors to our attention.
195. Chúng ta nên dừng lại để nhận ra sức mạnh của những ảnh hưởng định hình mình (dưới tác động của Sao Thổ), và sự khó khăn khi giải thoát mình khỏi chúng, vì khá thường xuyên chúng ta không ý thức được những ảnh hưởng ấy. Chân sư DK giúp chúng ta chú ý đến những yếu tố vô thức này.
VII. We are also trying the experiment of externalising the Ashram.
VII. Chúng ta cũng đang thực hiện cuộc thử nghiệm ngoại hiện ashram.
196. This occurred in New York City and was a monthly process. Fourteen members of the New Seed Group were involved.
196. Việc này diễn ra tại Thành phố New York và là một tiến trình hằng tháng. Mười bốn thành viên của Nhóm Hạt Giống Mới đã tham gia.
This is an effort which, if successful, will be the prelude to the manifestations of the Hierarchy upon Earth.
Đây là một nỗ lực mà nếu thành công, sẽ là bước mở đầu cho những biểu hiện của Thánh đoàn trên Trái Đất.
197. We can see how much responsibility was laid upon Master DK. Had His efforts succeeded the way would have been paved for the Externalization of a number of hierarchical Ashrams. It is my impression that the dire conditions created by the war, and the creation of the atomic bomb, intervened and prevented the full unfoldment of His intentions.
197. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đã gánh vác trách nhiệm lớn lao đến mức nào. Nếu những nỗ lực của Ngài thành công, con đường ngoại hiện của một số ashram thuộc Thánh đoàn hẳn đã được mở ra. Tôi có cảm tưởng rằng những hoàn cảnh khốc liệt do chiến tranh gây ra, cùng việc chế tạo bom nguyên tử, đã xen vào và ngăn cản các ý định của Ngài khai mở trọn vẹn.
This is one of the next intended undertakings, if and when the Forces of Light have driven the forces of evil and of [22] aggression back to their “dark habitation.”
Đây là một trong những công cuộc tiếp theo đã dự định, nếu và khi các Mãnh Lực Ánh Sáng đẩy các mãnh lực tà ác và [22] xâm lược trở về “nơi cư ngụ tối tăm” của chúng.
198. Let us remember that these words were written before the late months of 1942 when the Hierarchy was almost forced to retreat from its association with a failing humanity. The victory of the Forces of Light was, therefore, at the time of this writing, not a foregone conclusion.
198. Chúng ta hãy nhớ rằng những lời này được viết trước những tháng cuối năm 1942, khi Thánh đoàn gần như buộc phải rút khỏi mối liên hệ với một nhân loại đang thất bại. Vì vậy, vào thời điểm viết những lời này, chiến thắng của các Mãnh Lực Ánh Sáng không phải là một kết cục đã chắc chắn.
As time goes on I will convey information anent the work of the Masters’ Ashrams, their planned externalisation and, eventually, the externalisation of the Hierarchy.
Theo thời gian, Tôi sẽ truyền đạt thông tin về công việc của các ashram của các Chân sư, sự ngoại hiện theo kế hoạch của các ashram ấy và cuối cùng là sự ngoại hiện của Thánh đoàn.
199. This information was collected in some of the essays in The Externalization of the Hierarchy.
199. Thông tin này đã được tập hợp trong một số bài luận trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.
Such, brother of mine, is our appointed task. Out of all that might be said or written by me will eventually emerge a Treatise on Discipleship which will be useful in the New Age.
Huynh đệ của tôi, đó là nhiệm vụ đã định của chúng ta. Từ tất cả những điều Tôi có thể nói hoặc viết, cuối cùng sẽ hình thành một bộ Luận về Địa Vị Đệ Tử hữu ích trong Kỷ Nguyên Mới.
200. This is the hint that suggested the value of preparing and publishing DINA II.
200. Đây là gợi ý cho thấy giá trị của việc chuẩn bị và xuất bản DINA II.
201. We can see that the writings in DINA II are more advanced than those in DINA I, and far more impersonal.
201. Chúng ta có thể thấy rằng các bài viết trong DINA II cao cấp hơn những bài trong DINA I, và mang tính phi cá nhân hơn rất nhiều.
You are accustomed to the teaching of the Piscean Age upon this subject and also to the Piscean interpretation. It is part of my work to begin to indicate the methods and processes and the modes of instruction which will distinguish the Aquarian Age. This will only be possible to aspirants with an open mind. For this you must strive.
Các bạn đã quen với giáo huấn của Kỷ Nguyên Song Ngư về chủ đề này, cũng như cách diễn giải của thời Song Ngư. Một phần công việc của Tôi là bắt đầu chỉ ra những phương pháp, tiến trình và phương thức huấn thị sẽ đặc trưng cho Kỷ Nguyên Bảo Bình. Điều này chỉ khả thi đối với những người chí nguyện có thể trí cởi mở. Các bạn phải nỗ lực đạt được điều ấy.
202. Probably most aspirants and disciples think they have an “open mind”. Subjection to DK’s training often revealed something quite different.
202. Có lẽ phần lớn những người chí nguyện và đệ tử đều nghĩ mình có một “thể trí cởi mở”. Việc trải qua sự huấn luyện của Chân sư DK thường bộc lộ một điều hoàn toàn khác.
203. Disciples of the present era imagine they have left the Piscean Age behind. If we subjected our psyches to analysis, how many Piscean vestiges would we find?
203. Các đệ tử của thời đại hiện nay tưởng rằng họ đã bỏ lại Kỷ Nguyên Song Ngư phía sau. Nếu phân tích tâm lý của chính mình, chúng ta sẽ tìm thấy bao nhiêu tàn dư của thời Song Ngư?
This programme is an ambitious one, my brothers; it will call forth your utmost capacity and staying power but, if persisted in, it will hasten your development; this will also entail obedience.
Các huynh đệ của Tôi, chương trình này có quy mô đầy tham vọng; nó sẽ khơi dậy năng lực và sức bền tối đa của các bạn, nhưng nếu kiên trì theo đuổi, nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các bạn; điều này cũng đòi hỏi sự vâng lời. Về căn bản, dù các bạn có thể ít nhận ra điều đó,
204. The note is one of realism. The disciples in the program would be strained to the utmost, and some would fall away. The note of a necessary obedience is sounded; a number failed in this regard and simply did not do the work assigned.
204. Âm điệu ở đây mang tính thực tế. Các đệ tử trong chương trình sẽ phải gắng sức đến tột độ, và một số sẽ rời bỏ. Âm điệu về sự vâng lời cần thiết được xướng lên; một số đã không đáp ứng được điều này và đơn giản là không làm công việc được giao.
We are basically occupied, little as you may realise it, in compiling an elementary manual for initiation. Ponder on this.
chúng ta đang biên soạn một cẩm nang nhập môn về điểm đạo. Hãy suy ngẫm về điều này.
205. This is what DINA II really is: “an elementary manual for initiation”. Had we realize that? Do we realize it yet?
205. Đây chính là bản chất thực sự của DINA II: “một cẩm nang nhập môn về điểm đạo”. Trước đây chúng ta đã nhận ra điều đó chưa? Đến nay chúng ta đã nhận ra điều đó chưa?
206. We see that the requirement of intuitive thinking is an inescapable part of such preparation. Initiation is not approached via the concrete mind alone.
206. Chúng ta thấy rằng yêu cầu tư duy trực giác là một phần không thể thiếu của sự chuẩn bị như thế. Không thể tiếp cận điểm đạo chỉ bằng trí cụ thể.
Much antagonism will be evoked and an uprising of scepticism will be naturally aroused;
Nhiều sự chống đối sẽ nảy sinh và một làn sóng hoài nghi đương nhiên sẽ dấy lên;
207. Even among the chelas in training?
207. Ngay cả trong số các đệ tử đang được huấn luyện sao?
208. Perhaps, DK is speaking of future readers of DINA II, more habituated to Piscean methods.
208. Có lẽ Chân sư DK đang nói đến những độc giả tương lai của DINA II, vốn quen thuộc hơn với các phương pháp của thời Song Ngư.
those who see no need or possibility for any changing of hierarchical methods, and who are the fundamentalists of the theosophical movement and the narrow theologians among the esotericists, will make an outcry.
những người không thấy cần thiết hay có khả năng thay đổi các phương pháp của Thánh đoàn, những người theo chủ nghĩa giáo điều trong phong trào Thông Thiên Học và những nhà thần học hẹp hòi trong giới bí truyền học, sẽ lên tiếng phản đối.