← Commentary DINA II (webinar 24-35)

Commentary 29

Trích nội dung chương

175. This reminder cuts at the roots of rugged individualism. In the Rules of the Road we learn that disciple “travels not alone”. This is an important reminder for all those who are involved in the cultivation of true group consciousness. 175. Lời nhắc nhở này đánh vào tận gốc chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Trong Các Quy Luật của Đường Đạo, chúng ta học rằng người đệ tử “không đi một mình”. Đây là lời nhắc nhở quan trọng đối với tất cả những ai đang vun bồi tâm thức nhóm chân chính.


175. This reminder cuts at the roots of rugged individualism. In the Rules of the Road we learn that disciple “travels not alone”. This is an important reminder for all those who are involved in the cultivation of true group consciousness.

175. Lời nhắc nhở này đánh vào tận gốc chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Trong Các Quy Luật của Đường Đạo, chúng ta học rằng người đệ tử “không đi một mình”. Đây là lời nhắc nhở quan trọng đối với tất cả những ai đang vun bồi tâm thức nhóm chân chính.

176. The brothers “stand with” and the Master stands “by your side”. The implication is that the responsibility to move forward belongs to the individual chela but that he/she is supported.

176. Các huynh đệ “đứng cùng”, và Chân sư đứng “bên cạnh các bạn”. Điều này hàm ý rằng trách nhiệm tiến bước thuộc về từng đệ tử, nhưng người đệ tử ấy luôn có sự hỗ trợ.

5. That there is no task which is insuperable, and no way that is too long for you to tread it. You are a soul with all the powers of the soul and—as you are linked with the Hierarchy—you are facing toward success.

5. Không có nhiệm vụ nào không thể vượt qua, và không có con đường nào quá dài khiến các bạn không thể bước hết. Các bạn là một linh hồn với mọi quyền năng của linh hồn, và—vì các bạn thực sự liên kết với Thánh đoàn—các bạn đang hướng tới thành công.

177. This is a reminder of great power. The chelas are reminded that they are essentially souls with all the power of the soul and therefore can accomplish much that to the normal human being looks impossible. They have the power of endurance because they are souls and they will succeed. Such reminder are strengthening and heartening.

177. Đây là một lời nhắc nhở đầy sức mạnh. Các đệ tử được nhắc rằng về bản chất, họ là những linh hồn với mọi quyền năng của linh hồn, và do đó có thể hoàn thành nhiều điều mà người bình thường thấy là bất khả thi. Họ có sức bền bỉ vì họ là những linh hồn và họ sẽ thành công. Những lời nhắc nhở như vậy tiếp thêm sức mạnh và khích lệ tinh thần.

As I earlier said, I at this time shall not deal with certain points connected with the growth of the human family and its stabilisation into a new civilisation. I shall begin to do so as soon as the war is over. When the needs of humanity are changed, and they will then be radically different to the conditions and demands prior to the war, then I will consider them.

Như Tôi đã nói trước đây, lúc này Tôi sẽ không bàn đến một số điểm liên quan đến sự tăng trưởng của gia đình nhân loại và việc gia đình ấy ổn định trong một nền văn minh mới. Tôi sẽ bắt đầu làm điều đó ngay khi chiến tranh kết thúc. Khi nhu cầu của nhân loại thay đổi, và khi ấy chúng sẽ khác hẳn những điều kiện và đòi hỏi trước chiến tranh, Tôi sẽ xem xét chúng.

178. DK tells of the kind of instruction He will offer after the war is over. By the time this was written it had become clear that the war would be won by the representatives of the Forces of Light.

178. Chân sư DK nói về loại huấn thị mà Ngài sẽ đưa ra sau khi chiến tranh kết thúc. Vào thời điểm những lời này được viết ra, đã rõ rằng những đại diện của các Mãnh Lực Ánh Sáng sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến.

179. We see the constant need for adaptation on the part of the Hierarchy. Human needs following the war would be radically different than before it, and to those changing needs Hierarchy must adapt its teaching and service.

179. Chúng ta thấy Thánh đoàn luôn cần thích ứng. Nhu cầu của nhân loại sau chiến tranh sẽ khác hẳn trước chiến tranh, và Thánh đoàn phải điều chỉnh giáo huấn cùng công việc phụng sự của mình cho phù hợp với những nhu cầu đang thay đổi ấy.

With the period of reconstruction, in which the New Group of World Servers will be active, we shall later deal in detail, and I will give two series of instructions which can act as a guide for all your reconstruction work.

Về thời kỳ tái thiết, trong đó Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ hoạt động tích cực, sau này chúng ta sẽ bàn chi tiết, và Tôi sẽ đưa ra hai loạt huấn thị có thể làm kim chỉ nam cho toàn bộ công việc tái thiết của các bạn.

180. The Problems of Humanity may be considered in this instructional stream.

180. Có thể xem tác phẩm Những Vấn Đề của Nhân Loại là thuộc dòng huấn thị này.

One instruction will be for my disciples, and through them for the New Group of World Servers, of which they are a part; another will be for the men and women of goodwill, and through them for the world of thinking men.

Một loạt huấn thị sẽ dành cho các đệ tử của Tôi, và thông qua họ, dành cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà họ là một bộ phận; loạt kia sẽ dành cho những người nam và nữ có thiện chí, và thông qua họ, dành cho giới những người biết suy nghĩ.

181. DK is cognizant of the need to teach on two levels—one for the inner group and one for those who are simply workers in the world and have no esoteric background.

181. Chân sư DK nhận biết nhu cầu giảng dạy ở hai cấp độ—một cấp độ dành cho nhóm bên trong và một cấp độ dành cho những người chỉ là những người hoạt động trên thế gian và không có nền tảng huyền bí học.

However, I might state that the background or groundwork of all that you may be asked to do is the Triangle work. In the subjective work, the New Group of World Servers will be peculiarly active, creating the network of light; in the objective work, the men and women of goodwill will bestir themselves, creating the network of goodwill.

Tuy nhiên, Tôi có thể nói rằng nền tảng hay cơ sở của tất cả những gì các bạn có thể được yêu cầu thực hiện là công việc Tam Giác. Trong công việc chủ quan, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ hoạt động đặc biệt tích cực, tạo nên mạng lưới ánh sáng; trong công việc khách quan, những người nam và nữ có thiện chí sẽ tích cực hành động, tạo nên mạng lưới thiện chí.

182. DK emphasizes the value of the Triangles work. It is of fundamental importance and still is more than sixty years after this instruction was written.

182. Chân sư DK nhấn mạnh giá trị của công việc Tam Giác. Công việc này có tầm quan trọng nền tảng và vẫn giữ nguyên tầm quan trọng ấy sau hơn sáu mươi năm kể từ khi huấn thị này được viết ra.

The function of the New Group of World Servers is dynamically to”force” the energy of the will-to-good into the world; the average man and woman, responding unconsciously, will express goodwill.

Chức năng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là mạnh mẽ “thúc đẩy” năng lượng của Ý Chí-hướng Thiện vào thế giới; những người nam và nữ bình thường, đáp ứng một cách vô thức, sẽ biểu lộ thiện chí.

183. DK offers a rather Vulcanian definition of the first ray duties of the NGWS—they are to “force” the energy of the will-to-good into the world. Had we thought of such a dynamic and forceful approach? What implications doe this forcing process have for us who are supposedly members of the NGWS?

183. Chân sư DK đưa ra một định nghĩa khá đậm tính Vulcan về các bổn phận cung một của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—họ phải “thúc đẩy” năng lượng của Ý Chí-hướng Thiện vào thế giới. Chúng ta đã từng nghĩ đến một cách tiếp cận năng động và mạnh mẽ như vậy chưa? Tiến trình thúc đẩy này có những hàm ý gì đối với chúng ta, những người được cho là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian?

Disciples, such as you are, must perforce work in both fields, creating and building both types of network.

Những đệ tử như các bạn tất yếu phải hoạt động trong cả hai lĩnh vực, tạo lập và xây dựng cả hai loại mạng lưới.

184. The networks spoken of here will be the Network of Light and the Network of Goodwill—two types of triangular formations.

184. Các mạng lưới được nói đến ở đây sẽ là Mạng lưới Ánh sáng và Mạng lưới Thiện chí—hai loại cấu trúc tam giác.

185. Once could also conceive a network for the specific transmission of the Will-to-Good.

185. Cũng có thể hình dung một mạng lưới chuyên truyền dẫn Ý Chí-hướng Thiện.

This you can do now, and you can form thus the nucleus of that great interwoven [39] pattern of light and of goodwill which must underlie or “substand” all exoteric work of renovation, renewal, rehabilitation and reconstruction.

Các bạn có thể làm điều này ngay bây giờ, và nhờ đó hình thành hạt nhân của mô hình đan kết rộng lớn [39] gồm ánh sáng và thiện chí, vốn phải làm nền tảng hay “nâng đỡ từ bên dưới” cho mọi công việc ngoại môn về cải tạo, đổi mới, phục hồi và tái thiết.

186. World service work does not emerge from nothing; the substanding networks of light and goodwill are crucial to the success of the outer service efforts.

186. Công việc phụng sự thế gian không xuất hiện từ hư không; các mạng lưới ánh sáng và thiện chí làm nền tảng bên dưới giữ vai trò thiết yếu đối với thành công của những nỗ lực phụng sự bên ngoài.

187. Notice the prefix “re” attached to each of the activities to ensure “renovation, renewal, rehabilitation and reconstruction”. A Uranian impulse is on the way.

187. Hãy lưu ý tiền tố “re” gắn với mỗi hoạt động nhằm bảo đảm sự “cải tạo, đổi mới, phục hồi và tái thiết”. Một xung lực của Sao Thiên Vương đang đến.

188. From a historical perspective we can see that it, indeed, occurred, but not with sufficient thoroughness, we may now judge.

188. Từ góc nhìn lịch sử, chúng ta có thể thấy rằng quả thực điều ấy đã xảy ra, nhưng giờ đây chúng ta có thể nhận định rằng nó chưa diễn ra đủ triệt để.

I ask you and other disciples, therefore, again to work with renewed interest at the forming of triangles, reaching people who are already active, and seek to aid them in forming new triangles. This is a work of major importance and has the endorsement of the Hierarchy.

Vì vậy, một lần nữa Tôi yêu cầu các bạn và những đệ tử khác làm việc với sự quan tâm mới trong việc hình thành các tam giác, tiếp cận những người đã hoạt động và tìm cách hỗ trợ họ hình thành các tam giác mới. Đây là một công việc có tầm quan trọng lớn và được Thánh đoàn tán thành.

189. Does it seem that Master DK is offering the group an outer project which could unify their efforts and answer the critique, earlier given, concerning the non-effectiveness of the group?

189. Phải chăng Chân sư DK đang trao cho nhóm một dự án bên ngoài có thể hợp nhất những nỗ lực của họ và đáp lại lời phê bình trước đó về tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của nhóm?

As regards our sixth subject, my personal instructions to each of you, you will find them as usual after this group instruction and after the teaching which I shall give you on the building of the antahkarana.*

Về chủ đề thứ sáu của chúng ta, những huấn thị riêng của Tôi dành cho từng người trong các bạn, như thường lệ, các bạn sẽ thấy chúng sau huấn thị nhóm này và sau giáo huấn Tôi sẽ trao cho các bạn về việc xây dựng antahkarana.

190. We see that the personal instructions are always the least important (though still important) and this is reflected in the order of presentation— after the group instructions and the teaching on the building of the antahkarana.

190. Chúng ta thấy rằng những huấn thị riêng luôn ít quan trọng nhất (dù vẫn quan trọng), và điều này thể hiện qua thứ tự trình bày— sau những huấn thị nhóm và giáo huấn về việc xây dựng antahkarana.

Your personal instructions are fuller this time and I would ask you to accept them as instructions to be followed. Constant reading and consciousness of instructions and teaching which are not carried through into action upon the outer plane, simply present a way of escape from reality. Unless a Master’s instructions meet with an experimental response, they loosen the ashramic tie and eventually the disciple slips into an interlude (sometimes of great length and involving several lives) of drifting, of reading and thinking and not working, of the pleasure of attention without the pain of accomplishment. This has happened in the case of several who have been temporarily suspended from active work in my Ashram. See that it happens not to you.

[ii]* Lần này, những huấn thị riêng của các bạn đầy đủ hơn, và Tôi muốn yêu cầu các bạn tiếp nhận chúng như những huấn thị phải tuân theo. Việc liên tục đọc và nhận biết các huấn thị cùng giáo huấn mà không đưa chúng thành hành động trên cõi bên ngoài chỉ tạo ra một cách trốn tránh thực tại. Nếu các huấn thị của Chân sư không nhận được sự đáp ứng qua thực nghiệm, chúng sẽ làm lỏng mối liên kết ashram, và cuối cùng người đệ tử rơi vào một thời kỳ trôi dạt—đôi khi rất dài và kéo qua nhiều kiếp sống—chỉ đọc và suy nghĩ mà không làm việc, hưởng niềm vui được quan tâm mà không chịu nỗi nhọc nhằn của việc hoàn thành. Điều này đã xảy ra với một số người tạm thời bị đình chỉ công việc tích cực trong ashram của Tôi. Hãy bảo đảm điều ấy không xảy đến với các bạn.

191. This is an amazing paragraph carrying a strong warning.

191. Đây là một đoạn văn đáng kinh ngạc, mang một lời cảnh báo mạnh mẽ.

192. DK really wants His instructions to be carried out and, apparently, there are a number of His disciples who have not done so.

192. Chân sư DK thực sự muốn các đệ tử thực hiện những huấn thị của Ngài, và dường như một số đệ tử của Ngài đã không làm như vậy.

193. The occult teaching can become a “way of escape from reality”. This we know and have frequently seen.

193. Giáo huấn huyền bí học có thể trở thành một “cách trốn tránh thực tại”. Chúng ta biết điều này và đã thường xuyên chứng kiến.

194. The instructions are to meet with “experimental response”. If not, the very instructions will “loosen the ashramic tie”, and the disciple may slip into an interlude of several relatively ineffective live of not working.

194. Những huấn thị phải nhận được “sự đáp ứng qua thực nghiệm”. Nếu không, chính những huấn thị ấy sẽ “làm lỏng mối liên kết ashram”, và người đệ tử có thể rơi vào một thời kỳ kéo dài vài kiếp sống tương đối kém hiệu quả vì không làm việc.

195. DK has offered an arresting phrase to which we may well attend: He speaks of the “pleasure of attention without the pain of accomplishment”. When higher principles are applied to and through the resistant world of outer form, there will be pain—at least on this planet.

195. Chân sư DK đã đưa ra một cụm từ gây chú ý mà chúng ta rất nên lưu tâm: Ngài nói đến “niềm vui được quan tâm mà không chịu nỗi nhọc nhằn của việc hoàn thành”. Khi các nguyên khí cao hơn được áp dụng vào và thông qua thế giới hình tướng bên ngoài đầy sức kháng cự, sẽ có đau đớn—ít nhất là trên hành tinh này.

196. Let us attend to these words and take action.

196. Chúng ta hãy chú tâm đến những lời này và hành động.

197. DK hints that the reason for the suspension of several of the group members has been their inability or refusal to carry His instructions into action.

197. Chân sư DK hàm ý rằng một số thành viên trong nhóm đã bị đình chỉ vì họ không có khả năng hoặc từ chối đưa các huấn thị của Ngài vào hành động.

May I remind you that your brothers’ instructions may be interesting to you and should be read by you in an endeavour to understand him and work with him, but that they may convey to him a meaning which is not open to you at all and that, therefore, your conclusions may prove entirely erroneous.

Xin nhắc các bạn rằng những huấn thị dành cho các huynh đệ của các bạn có thể khiến các bạn quan tâm và các bạn nên đọc chúng nhằm cố gắng thấu hiểu và làm việc với người huynh đệ ấy; nhưng chúng có thể truyền đạt cho bạn ấy một ý nghĩa mà các bạn hoàn toàn không thể tiếp cận, và do đó những kết luận của các bạn có thể hoàn toàn sai lầm.

198. The correct attitude towards a brother’s instructions is stated. They should be read, with understanding and an attitude of intended helpfulness, but with the realization that the reader will not capture all that was intended for the brother to whom the instruction was addressed.

198. Thái độ đúng đắn đối với những huấn thị dành cho một huynh đệ đã được nêu rõ. Chúng ta nên đọc những huấn thị ấy với sự thấu hiểu và ý hướng giúp đỡ, nhưng đồng thời nhận biết rằng người đọc sẽ không nắm bắt được tất cả những gì dành cho người huynh đệ nhận huấn thị.

199. As this is occult work, there is ever an emphasis on the power of thought which may be helpful or an interference depending upon its quality and its light content.

199. Vì đây là công việc huyền bí, quyền năng của tư tưởng luôn được nhấn mạnh; tư tưởng có thể giúp ích hoặc gây cản trở tùy theo phẩm tính và lượng ánh sáng mà nó chứa đựng.

These personal instructions are, as you may realise, exoteric instructions within the field of esoteric relationships.

Như các bạn có thể nhận ra, những huấn thị riêng này là những huấn thị ngoại môn trong lĩnh vực các mối quan hệ nội môn.

200. This means that DK imparts much esoteric instruction (to be intuited by the receiver) by means of the words exoterically presented. Studying these instructions from that point of view is most illuminating. We gain a deeper appreciation for how a Master works, even though we cannot possibly fathom all He intended for the recipient.

200. Điều này có nghĩa là Chân sư DK truyền đạt nhiều huấn thị nội môn (để người tiếp nhận lĩnh hội bằng trực giác) qua những lời trình bày theo hình thức ngoại môn. Nghiên cứu những huấn thị này từ góc nhìn ấy đem lại rất nhiều sự soi sáng. Chúng ta hiểu sâu sắc hơn cách một Chân sư làm việc, dù không thể nào thấu suốt tất cả những điều Ngài muốn truyền đạt cho người tiếp nhận.

They can be read and studied by all of you.

Tất cả các bạn đều có thể đọc và nghiên cứu chúng.

201. We, who are far less concerned with the personnel of the original group, realize how much we gain from this study. We can always find ourselves in what is said to them.

201. Chúng ta, những người ít quan tâm hơn nhiều đến các cá nhân trong nhóm ban đầu, nhận ra mình thu nhận được biết bao điều từ việc nghiên cứu này. Chúng ta luôn có thể tìm thấy chính mình trong những lời dành cho họ.

However, I also deal with you in a purely esoteric and subjective manner, and this is a point upon which few of you, if any, ponder. Do you at any time register such teaching or recognise its source?

Tuy nhiên, Tôi cũng làm việc với các bạn theo một cách hoàn toàn nội môn và chủ quan, và đây là một điểm mà rất ít người trong các bạn, nếu có, từng suy ngẫm. Có bao giờ các bạn ghi nhận giáo huấn như thế hoặc nhận biết nguồn gốc của nó không?

202. DK is stating that His work with His chelas is not confined to the letters He writes them, but is also conveyed “in a purely esoteric and subjective manner”. He asks them if they register His subjective influence. Do we?

202. Chân sư DK đang nói rằng công việc của Ngài với các đệ tử không chỉ giới hạn trong những lá thư Ngài viết cho họ, mà còn được truyền đạt “theo một cách hoàn toàn nội môn và chủ quan”. Ngài hỏi họ có ghi nhận ảnh hưởng chủ quan của Ngài hay không. Chúng ta có ghi nhận không?

You need to learn to make careful distinction between:

Các bạn cần học cách phân biệt cẩn thận giữa:

203. Below are listed several kinds of teaching or instruction which it would be well for us to discriminate.

203. Dưới đây là một số loại giáo huấn hay huấn thị mà chúng ta nên phân biện.

204. 2. [40]

204. 2. [40]

1. Teaching which comes to you directly from your own soul, via your mind.

1. Giáo huấn đến trực tiếp từ chính linh hồn các bạn, qua thể trí.

205. To this type of teaching we all need to be attentive, noting especially that it comes via the mind, perhaps in the form of new bright ideas, the origin of which is definitely interior.

205. Tất cả chúng ta đều cần chú tâm đến loại giáo huấn này, đặc biệt lưu ý rằng nó đến qua thể trí, có lẽ dưới dạng những ý tưởng mới mẻ, sáng rõ, có nguồn gốc chắc chắn từ bên trong.

2. Instruction given by me to you in my inner Ashram, at which time you are also subjected to the stimulation of disciples senior to you.

2. Huấn thị Tôi trao cho các bạn trong ashram bên trong của Tôi, khi ấy các bạn cũng chịu sự kích thích từ những đệ tử thâm niên hơn mình.

206. When does such teaching occur? At all hours of the day or, perhaps, at night? How much of it is brought through into the brain consciousness?

206. Sự giảng dạy như vậy diễn ra khi nào? Vào mọi giờ trong ngày hay có lẽ vào ban đêm? Có bao nhiêu nội dung trong đó được chuyển vào tâm thức não bộ?

207. We note that not only does the Master teach and stimulate but so do senior disciples.

207. Chúng ta lưu ý rằng không chỉ Chân sư giảng dạy và kích thích, mà các đệ tử thâm niên cũng làm như vậy.

208. The members of the outer group are, in this case, part of the Ashram and receive teaching emanating therefrom, even if they do not realize it. The implications of what is here said is that DK’s chelas (though they are in an outer group) have some access to this “inner Ashram”.

208. Trong trường hợp này, các thành viên của nhóm bên ngoài là một phần của ashram và tiếp nhận giáo huấn phát ra từ đó, ngay cả khi họ không nhận ra điều ấy. Những điều nói ở đây hàm ý rằng các đệ tử của Chân sư DK (dù họ ở trong một nhóm bên ngoài) vẫn có thể tiếp cận phần nào với “ashram bên trong” này.

3. Impression which comes to you from the great aggregate of all Ashrams, the Hierarchy.

3. Ấn tượng đến với các bạn từ tập hợp vĩ đại của tất cả các ashram, tức Thánh đoàn.

209. These would, perhaps, be the most potent of the impressions. Our task is to discriminate between these teaching streams.

209. Có lẽ đây là những ấn tượng mạnh mẽ nhất. Nhiệm vụ của chúng ta là phân biện giữa các dòng giáo huấn này.

Later I will give you some training on this matter, but you are not yet ready for it.

Sau này, Tôi sẽ huấn luyện các bạn đôi chút về vấn đề này, nhưng các bạn chưa sẵn sàng.

210. This would be, presumably, teaching on the discrimination between these three types of instruction and the manner in which such instruction could be rightly used.

210. Có thể giả định rằng đây là sự giảng dạy về cách phân biện giữa ba loại huấn thị này và cách sử dụng đúng đắn những huấn thị ấy.

The final point, which concerns the externalising of the Ashrams, will be given to you when the Ashram of which you are a part is more real to you than it is at present.

Điểm cuối cùng, liên quan đến sự ngoại hiện của các ashram, sẽ được trao cho các bạn khi ashram mà các bạn là một bộ phận trở nên thực hơn đối với các bạn so với hiện tại.

211. The implication is that we must do all in our power to make the Ashram, its purposes and its projects, increasingly real to ourselves. The Ashram is to be on the “front burner” of our consciousness.

211. Điều này hàm ý rằng chúng ta phải làm hết sức mình để ashram, các mục đích và các dự án của ashram ngày càng trở nên có thực đối với chúng ta. Ashram phải là mối quan tâm hàng đầu trong tâm thức chúng ta.

212. DK is economical. He does not give that which cannot be used.

212. Chân sư DK rất tiết kiệm. Ngài không trao những gì không thể sử dụng.

I would have you remember that when the war ends two great conditions will emerge for which you must be prepared and for which you should now begin to prepare others. These are:

Tôi muốn các bạn nhớ rằng khi chiến tranh kết thúc, hai tình trạng lớn sẽ xuất hiện, và các bạn phải sẵn sàng đón nhận cũng như ngay từ bây giờ nên bắt đầu chuẩn bị cho những người khác. Đó là:

213. DK foresees the results of the end of the war. The chelas can share in the Master’s prevision and prepare themselves for constructive involvement in the post-war era.

213. Chân sư DK thấy trước những kết quả của việc chiến tranh kết thúc. Các đệ tử có thể cùng thấy trước những điều Chân sư thấy và chuẩn bị để tham gia một cách xây dựng vào thời kỳ hậu chiến.

1. There will be a great settling back by mankind in an effort to find security, to obliterate the effects of war from their troubled minds, to forget that which has happened, to return to the familiar, and to re-establish the old ways of life. Human beings forget easily, and besides this ancient habit, humanity is very tired. Get ready to deal with this, for it must not happen if it can in any way be prevented.

1. Nhân loại sẽ có một sự quay về nếp cũ trên quy mô lớn nhằm tìm kiếm sự an toàn, xóa bỏ những tác động của chiến tranh khỏi thể trí bất an của mình, quên đi những gì đã xảy ra, trở về với những điều quen thuộc và tái lập những lối sống cũ. Con người dễ quên, và ngoài thói quen lâu đời này, nhân loại còn đang rất mệt mỏi. Hãy sẵn sàng xử lý điều này, vì không được để nó xảy ra nếu có bất kỳ cách nào ngăn chặn.

214. This is a warning, which, of course, proved to be true. The tamas aspect is strong in present humanity and the urge for comfort well established.

214. Đây là một lời cảnh báo mà dĩ nhiên thực tế đã chứng minh là đúng. Phương diện tamas còn mạnh trong nhân loại hiện nay, và sự thôi thúc tìm kiếm tiện nghi đã ăn sâu.

215. DK takes note of this ancient love of comfort and also recognizes the very real fatigue of the human family. Elsewhere He warned that the fatigue must not be allowed to become too deep.

215. Chân sư DK lưu ý đến lòng yêu thích tiện nghi lâu đời này và cũng nhận biết sự mệt mỏi rất thực của gia đình nhân loại. Ở một chỗ khác, Ngài đã cảnh báo rằng không được để sự mệt mỏi trở nên quá sâu sắc.

216. The Master is asking His chelas to work against this expected inertia. Certainly, the least they can do is to ensure that they themselves do not fall victim to it.

216. Chân sư đang yêu cầu các đệ tử của Ngài nỗ lực chống lại tính trì trệ đã được dự liệu này. Chắc chắn, điều tối thiểu họ có thể làm là bảo đảm chính mình không trở thành nạn nhân của nó.

2. There will also come the cessation of the “great sounds of the material aspects”—the sounds of war, the noise of explosion, and the cry of suffering humanity. This will create a curious false peace, but it will at the same time create a channel of approach for new spiritual forces and energies which—directed by the Hierarchy—will pour into the human family, causing spiritual stimulation, spiritual receptivity, spiritual aspiration and a great readiness for that which is new.

2. Đồng thời, “những âm thanh lớn của các phương diện vật chất”—âm thanh chiến tranh, tiếng nổ và tiếng kêu than của nhân loại đau khổ—cũng sẽ chấm dứt. Điều này sẽ tạo nên một sự bình an giả tạo kỳ lạ, nhưng đồng thời cũng mở ra một kênh tiếp cận cho những mãnh lực và năng lượng tinh thần mới, vốn—dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn—sẽ tuôn vào gia đình nhân loại, tạo ra sự kích thích tinh thần, khả năng tiếp nhận tinh thần, khát vọng tinh thần và một sự sẵn sàng lớn lao đón nhận cái mới. Vì vậy,

217. The prophecies are extremely occult in nature. When the “great sounds of the material aspects” cease, the seeming peace produced will be a “false peace’ but still, in a way, useful to Hierarchy, for through the relative quite, “new spiritual forces and energies” can be directed by Hierarchy to humanity.

217. Những lời tiên tri này có bản chất vô cùng huyền bí. Khi “những âm thanh lớn của các phương diện vật chất” chấm dứt, sự bình an có vẻ xuất hiện sẽ là một “sự bình an giả tạo”, nhưng theo một cách nào đó, vẫn hữu ích cho Thánh đoàn, vì qua sự yên tĩnh tương đối ấy, Thánh đoàn có thể hướng “những mãnh lực và năng lượng tinh thần mới” đến nhân loại.

218. That the supervening peace was “false” has certainly been proven by the events of the last half century.

218. Những sự kiện trong nửa thế kỷ qua chắc chắn đã chứng minh rằng nền hòa bình xuất hiện sau đó là “giả tạo”.

You will therefore have two opposing conditions to consider, with which to deal, and you will need much wisdom.

các bạn sẽ phải xem xét và xử lý hai tình trạng đối lập, và sẽ cần rất nhiều minh triết.

219. The great settling back occurred in the 1950’s. The tremendous spiritual stimulation from Hierarchy began in the 1960’s and may have been coincident with the assumption by the Christ of the Buddha’s “vestures” in 1966.

219. Sự quay trở lại nếp cũ trên quy mô lớn đã diễn ra trong thập niên 1950. Sự kích thích tinh thần mãnh liệt từ Thánh đoàn bắt đầu trong thập niên 1960 và có thể đã trùng với việc Đức Christ khoác lấy những “pháp y” của Đức Phật vào năm 1966.

You will have to assist in the task of preventing the relapse of a tired humanity into the state of mind of [41] which inertia, a reverting to the old, and a demand for the ancient ways are characteristic.

Các bạn sẽ phải hỗ trợ công việc ngăn nhân loại mệt mỏi rơi trở lại trạng thái trí tuệ [41] mà tính trì trệ, sự quay về cái cũ và đòi hỏi những nếp sống xưa là các đặc trưng.

220. DK is asking for vigorous work against an expected inertia. The planet Vulcan, so closely related to the NGWS and a planet of spiritual will, would have to be used, and still today it must be used, for the inertia among the spiritually minded is still much greater than it should be.

220. Chân sư DK đang yêu cầu nỗ lực mạnh mẽ để chống lại tính trì trệ đã được dự liệu. Cần vận dụng hành tinh Vulcan, vốn liên hệ mật thiết với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và là một hành tinh của ý chí tinh thần; ngay cả ngày nay vẫn phải vận dụng hành tinh này, vì tính trì trệ nơi những người hướng về tinh thần vẫn còn lớn hơn nhiều so với mức đáng có.

You will also have to aid in the directing of the registered spiritual energies into avenues and channels of usefulness where they can accomplish the greatest good. Ponder on this.

Các bạn cũng sẽ phải giúp hướng những năng lượng tinh thần đã ghi nhận vào những con đường và kênh hữu ích, nơi chúng có thể đem lại điều thiện lớn nhất. Hãy suy ngẫm về điều này.

221. The second responsibility enjoined upon the group is that of director— and it, too, is related to the ajna center (a center connected with Taurus and the NGWS, which is considered an ajna center within the energy demonstration of Sanat Kumara).

221. Trách nhiệm thứ hai giao cho nhóm là trách nhiệm của người định hướng— và trách nhiệm này cũng liên quan đến trung tâm ajna (một trung tâm liên hệ với Kim Ngưu và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, vốn được xem là một trung tâm ajna trong sự biểu hiện năng lượng của Sanat Kumara).

222. New energies may pour into humanity, but will they be properly used?

222. Những năng lượng mới có thể tuôn vào nhân loại, nhưng liệu nhân loại có sử dụng chúng đúng cách không?

223. As we look back upon the last half of the twentieth century, we can see mixed results. Some of these new energies created a great revolution in consciousness among those of sufficient spiritual advancement to register them. For other human beings, the new energies caused only fear and retrenchment in the material aspect.

223. Khi nhìn lại nửa sau thế kỷ hai mươi, chúng ta có thể thấy những kết quả trái chiều. Một số năng lượng mới này đã tạo nên một cuộc cách mạng lớn trong tâm thức của những người có mức tiến bộ tinh thần đủ để ghi nhận chúng. Đối với những người khác, những năng lượng mới chỉ gây ra nỗi sợ hãi và sự co cụm trong phương diện vật chất.

I have given you much in this instruction.

Tôi đã trao cho các bạn nhiều điều trong huấn thị này.

224. Part of our work is to appreciate just how much the Tibetan really does give!

224. Một phần công việc của chúng ta là nhận thức đầy đủ rằng Chân sư Tây Tạng thực sự trao cho chúng ta nhiều đến mức nào!

I seek to make my Ashram useful at this time of crisis.

Tôi tìm cách làm cho ashram của Tôi trở nên hữu ích trong thời kỳ khủng hoảng này.

225. All of us are living through a time of crisis and we, too, must be useful—as a group!

225. Tất cả chúng ta đều đang sống qua một thời kỳ khủng hoảng, và chúng ta cũng phải trở nên hữu ích—với tư cách một nhóm!

We have had a great crisis of materialism and the powers of darkness have very nearly assumed control.

Chúng ta đã trải qua một cuộc khủng hoảng lớn của chủ nghĩa duy vật, và các quyền lực bóng tối đã suýt nắm được quyền kiểm soát.

226. How very close they were to doing to, none of us can yet truly appreciate.

226. Chưa ai trong chúng ta có thể thực sự nhận biết chúng đã tiến gần đến việc đó đến mức nào.

227. The use of the word “have” instead of “had” shows the critical situation which existed even at the time this instruction was written.

227. Việc dùng từ “have” thay vì “had” cho thấy tình thế nguy cấp vẫn tồn tại ngay cả vào thời điểm huấn thị này được viết ra.

But we are seeing the slow domination of the good. Humanity has been the battleground for a major conflict between the two great Lodges—the great White Lodge and the Black Lodge. The former is now gradually gaining control.

Nhưng chúng ta đang chứng kiến điều thiện dần chiếm ưu thế. Nhân loại đã là chiến trường của một cuộc xung đột lớn giữa hai Đoàn vĩ đại—Thánh đoàn và Hắc đoàn. Đoàn thứ nhất hiện đang dần nắm quyền kiểm soát.

228. DK tells us that the White Lodge is now (1943) gradually gaining control. Let us evaluate the present moment; do we think this is still the case? Why or why not?

228. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng Thánh đoàn hiện đang (năm 1943) dần nắm quyền kiểm soát. Chúng ta hãy đánh giá thời điểm hiện tại; chúng ta có nghĩ rằng tình hình vẫn như vậy không? Vì sao có hoặc vì sao không?

229. We know that it is imperative that the White Lodge be in increasing control, and very definitely by the end of the 21st century. What are we willing to give in order that this may be the case?

229. Chúng ta biết rằng Thánh đoàn nhất thiết phải ngày càng nắm quyền kiểm soát, và chắc chắn phải như vậy vào cuối thế kỷ 21. Chúng ta sẵn lòng cống hiến những gì để điều này có thể thành hiện thực?

The withdrawal (quite imminent in time, my brothers) of the evil group will leave humanity relieved but bewildered, beaten to the ground, but with enough strength to rise to greater heights than ever before. For this withdrawal I ask you to prepare—with intelligence, wise understanding and deep love.

Sự rút lui của nhóm ác—đã khá cận kề về thời gian, các huynh đệ của Tôi—sẽ khiến nhân loại nhẹ nhõm nhưng hoang mang, bị quật ngã nhưng vẫn còn đủ sức mạnh để vươn lên những tầm cao lớn hơn bao giờ hết. Tôi yêu cầu các bạn chuẩn bị cho sự rút lui này—bằng trí thông minh, sự thấu hiểu minh triết và tình thương sâu sắc.

230. Who is the “evil group”? Probably, the black leaders who directed the war; there were twelve of them, so it seems, six in the East and six in the West.

230. “Nhóm ác” là ai? Có lẽ là những thủ lĩnh hắc đạo đã chỉ đạo cuộc chiến; dường như có mười hai tên, sáu ở phương Đông và sáu ở phương Tây.

“The dark forces are ruled on the physical plane by a group of six oriental leaders and six occidental leaders; of these the oriental are the most powerful because they are the oldest racially and therefore the most experienced. (EP II 577-578)

“Trên cõi hồng trần, một nhóm gồm sáu thủ lĩnh phương Đông và sáu thủ lĩnh phương Tây cai quản các mãnh lực bóng tối; trong số này, các thủ lĩnh phương Đông hùng mạnh nhất vì xét về giống dân, chúng cổ xưa nhất và do đó giàu kinh nghiệm nhất. (EP II 577-578)

231. The withdrawal of their representatives is only secondary. In other words, the fact that Hitler and his evil gang came to destruction is secondary to the withdrawal of those evil entities who worked through an outer group of servitors.

231. Sự rút lui của những kẻ đại diện cho chúng chỉ là thứ yếu. Nói cách khác, việc Hitler cùng bè lũ gian ác của hắn đi đến diệt vong là thứ yếu so với sự rút lui của những thực thể tà ác đã hoạt động thông qua một nhóm tay sai bên ngoài.

232. The prediction is that humanity, though beaten to the ground, will rise. It has risen, indeed, but new dangers now confront us because the “door where evil dwells” was not entirely sealed.

232. Lời tiên đoán là nhân loại, dù bị quật ngã, vẫn sẽ vươn lên. Quả thực, nhân loại đã vươn lên, nhưng giờ đây những hiểm nguy mới đang đối diện với chúng ta vì “cửa vào nẻo ác” chưa hoàn toàn được đóng kín.

233. All of this relates to the unexpiated karma lingering from the first solar system. That expiation must soon be accomplished.

233. Tất cả những điều này đều liên quan đến nghiệp quả chưa được thanh toán còn lưu lại từ hệ mặt trời thứ nhất. Việc thanh toán nghiệp quả ấy phải sớm hoàn tất.

The work to be done by the world disciples, the world aspirants, the New Group of World Servers and the men and women of goodwill can be a determining factor in the New Age and can tip the scales between a static and retrogressive activity and a steadily planned moving forward into light. You can play your part in this determination, if you so will.

Công việc mà các đệ tử thế giới, những người chí nguyện thế giới, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cùng những người nam và nữ có thiện chí phải thực hiện có thể là một yếu tố quyết định trong Kỷ Nguyên Mới, và có thể làm nghiêng cán cân giữa hoạt động trì trệ, thoái bộ với sự tiến bước được hoạch định vững vàng vào ánh sáng. Các bạn có thể góp phần vào sự định đoạt này nếu các bạn muốn.

234. DK sees a vital decision lying immediately ahead—after the end of the war. Shall humanity fall victim to stasis and even to a retrogressive activity or shall there be a “steadily planned forward moving into the light”.

234. Chân sư DK thấy một quyết định sống còn đang ở ngay trước mắt—sau khi chiến tranh kết thúc. Liệu nhân loại sẽ trở thành nạn nhân của sự đình trệ và thậm chí của hoạt động thoái bộ, hay sẽ có một “sự tiến bước được hoạch định vững vàng vào ánh sáng”.

235. As we review developments in the latter part of the 20th century, we can see that both types of movement took place. Some moved steadily into the light; the United Nations was formed and has attempted to carry forth its mission. Others not only retrogressed but seemed deliberately to entrench themselves in values which are antithetical to the values of the New Age. There is now an internal war between such retrogressive values and the newer values which simply must emerge if humanity is not to be defeated or destroyed. Fortunately, time is on the side of the Forces of Light, if certain critical phases can be passed without destruction.

235. Khi nhìn lại những diễn biến trong nửa sau thế kỷ 20, chúng ta có thể thấy rằng cả hai kiểu vận động đều đã diễn ra. Một số người đã vững bước vào ánh sáng; Liên Hợp Quốc đã được thành lập và đã cố gắng thực hiện sứ mệnh của mình. Những người khác không chỉ thoái bộ mà dường như còn cố tình cố thủ trong những giá trị đối nghịch với các giá trị của Kỷ Nguyên Mới. Hiện đang có một cuộc chiến nội bộ giữa những giá trị thoái bộ ấy và những giá trị mới hơn vốn nhất thiết phải xuất hiện để nhân loại không bị đánh bại hoặc hủy diệt. May thay, thời gian đứng về phía các Mãnh Lực Ánh Sáng, nếu có thể vượt qua một số giai đoạn then chốt mà không xảy ra sự hủy diệt.

That you will do so, and that you will have the opened eye which will see the dawning light and the fading darkness is my earnest wish for you.

Điều Tôi tha thiết mong cho các bạn là các bạn sẽ làm như vậy, và có con mắt đã mở để nhìn thấy ánh sáng đang ló rạng cùng bóng tối đang tan dần.

236. DK is addressing His group members as if they were members of the New Group of World Servers, ruled by Taurus, and possessed of the gradually opening “Eye of Wisdom”.

236. Chân sư DK đang nói với các thành viên trong nhóm của Ngài như thể họ là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, do Kim Ngưu cai quản, và sở hữu “Mắt Minh Triết” đang dần mở ra.

237. The issue is so simple, in a way. The dawning light of the Age of Aquarius is the great necessity. The darkness of ignorance and resultant materialism must fade.

237. Theo một phương diện, vấn đề thật đơn giản. Ánh sáng đang ló rạng của Kỷ Nguyên Bảo Bình là điều hết sức cần thiết. Bóng tối của vô minh và chủ nghĩa duy vật phát sinh từ đó phải tan dần.

238. This is still the present necessity. May the Tibetan’s earnest wish be accomplished in us!

238. Đây vẫn là điều cần thiết trong hiện tại. Cầu mong ước nguyện tha thiết của Chân sư Tây Tạng thành tựu trong chúng ta!

Commentary 29

[42-50]

(Underlining, Highlighting and Bolding, MDR)—

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

TO MY GROUP OF AFFILIATED DISCIPLES:

GỬI NHÓM ĐỆ TỬ LIÊN KẾT CỦA TÔI:

1. We note DK’s manner of address. He writes “to my group of affiliated disciples”. Earlier He said that this group was definitely a part of His Ashram. This form of address might seem to confirm it; on the other hand, it could indicate more affiliation with the Ashram rather than membership within it.

1. Chúng ta lưu ý cách xưng hô của Chân sư DK. Ngài viết “gửi nhóm đệ tử liên kết của Tôi”. Trước đó, Ngài nói rằng nhóm này chắc chắn là một phần trong Ashram của Ngài. Cách xưng hô này dường như xác nhận điều ấy; mặt khác, nó có thể cho thấy mối liên kết với Ashram hơn là tư cách thành viên trong đó.

It is more than a year since you received your last set of instructions from me—a year of momentous happenings upon earth and ofsignificant changes in the hierarchical relation to humanity.

Đã hơn một năm kể từ khi các bạn nhận loạt huấn thị gần nhất của Tôi—một năm với những biến cố trọng đại trên Trái Đất và những thay đổi đầy ý nghĩa trong mối quan hệ của Thánh đoàn với nhân loại.

2. Already the outer ending of the war was in sight. The Russians were making irresistible advances on the eastern front and the Allies on the western after the Normandy Invasion six months earlier.

2. Hồi kết của chiến tranh trên bình diện bên ngoài đã hiện rõ. Quân Nga đang tiến công với sức mạnh không gì ngăn cản nổi trên mặt trận phía đông, còn quân Đồng Minh cũng đang tiến công như vậy trên mặt trận phía tây sau cuộc đổ bộ Normandy sáu tháng trước đó.

There is, as a result of the war, a much closer rapport and spiritual confidence apparent between those pledged disciples who have been faithful to their assignments [42] and Those of Us Who are seeking to use them in the service of world betterment;

Do chiến tranh, giờ đây có thể thấy sự gắn bó và tin cậy về tinh thần mật thiết hơn nhiều giữa những đệ tử đã cam kết và trung thành với nhiệm vụ được giao [42] với những Vị trong Chúng Tôi đang tìm cách sử dụng họ để phụng sự việc cải thiện thế giới;

3. There seems to be a question in the air: which of the disciples in His group had been “truly faithful to their assignments”.

3. Dường như có một câu hỏi đang lơ lửng: những đệ tử nào trong nhóm của Ngài đã “thực sự trung thành với nhiệm vụ được giao”.

4. The war had cleared much on the inner planes as well as the outer, thus the possibility of closer rapport.

4. Chiến tranh đã dọn sạch nhiều điều trên các cõi bên trong cũng như bên ngoài, do đó mở ra khả năng gắn bó mật thiết hơn.

there is a more definite recognition of emerging spiritual values among aspirants everywhere and a greater readiness to relinquish hindrances to service;

những người chí nguyện khắp nơi nhận biết rõ ràng hơn các giá trị tinh thần đang xuất hiện và sẵn sàng hơn trong việc từ bỏ những chướng ngại đối với phụng sự;

5. This is as a result of the enthusiasm which comes with anticipated victory.

5. Đây là kết quả của lòng nhiệt thành nảy sinh khi người ta trông đợi chiến thắng.

the plans of the Christ for humanity’s release are more matured for these had to wait until such time that the trend of human aspiration became more clearly emphatic;

những kế hoạch của Đức Christ nhằm giải phóng nhân loại đã chín muồi hơn, vì chúng phải chờ cho đến khi chiều hướng khát vọng của nhân loại trở nên rõ rệt hơn;

6. It appears that the Christ had determined that He would reappear in physical form. Not long after the writing of this instruction, the third stanza of the Great Invocation was released placing the seal of certainty on the Christ’s physical reappearance.

6. Dường như Đức Christ đã quyết định rằng Ngài sẽ tái lâm trong hình tướng hồng trần. Không lâu sau khi huấn thị này được viết, khổ thứ ba của Đại Khấn Nguyện đã được công bố, xác nhận chắc chắn sự tái lâm của Đức Christ trong hình tướng hồng trần.

the new era, with its latent possibilities, can be seen upon the horizon, stripped of the veils of glamour and wishful thinking which obscured it ten years ago.

có thể thấy kỷ nguyên mới cùng những khả năng tiềm ẩn của nó ở chân trời, không còn những tấm màn ảo cảm và tư tưởng mơ ước từng che khuất nó mười năm trước.

7. Shamballa had spoken through the destructive processes of the war, though it, itself, was not directly involved in the war. Certain Shamballic beings called the “Lords of Liberation” were, however, involved, and it was due to their intercession that the Allies prevailed.

7. Shamballa đã lên tiếng qua các tiến trình hủy diệt của chiến tranh, dù bản thân Shamballa không trực tiếp tham gia chiến tranh. Tuy nhiên, một số Sinh Mệnh của Shamballa được gọi là “các Đấng Giải Thoát” đã tham gia, và chính nhờ sự can thiệp của Các Ngài mà quân Đồng Minh đã giành thắng lợi.

The significant spiritual effects of the war can now be clearly seen, and I can begin to consider with you (earlier than I had anticipated) some of the problems with which you—as potential servers of the race and pledged disciples—can now deal.

Giờ đây, có thể thấy rõ những tác động tinh thần đầy ý nghĩa của chiến tranh, và Tôi có thể bắt đầu cùng các bạn xem xét—sớm hơn Tôi đã dự tính—một số vấn đề mà hiện nay các bạn, với tư cách những người phụng sự tiềm năng của nhân loại và những đệ tử đã cam kết, có thể xử lý.

8. We remember that in the last instruction, the Tibetan said He would not enter into such considerations until after the war.

8. Chúng ta nhớ rằng trong huấn thị trước, Chân sư Tây Tạng nói Ngài sẽ chỉ đi vào xem xét những vấn đề như vậy sau chiến tranh.

9. Are His chelas true servers of the race or only “potential servers”? Obviously, the occasion to prove their mettle is immediately ahead.

9. Các đệ tử của Ngài là những người phụng sự nhân loại thực sự hay chỉ là những “người phụng sự tiềm năng”? Hiển nhiên, cơ hội để họ chứng tỏ bản lĩnh đang ở ngay trước mắt.

I could wish, as far as the immediate present is concerned, that you were all younger and had availed yourselves more definitely of the teaching I have sought to give you these past years.

Xét về hiện tại trước mắt, Tôi ước tất cả các bạn trẻ hơn và đã tận dụng rõ rệt hơn giáo huấn mà Tôi cố gắng trao cho các bạn trong những năm qua.

10. This is one of those unforgettable statements. There was not much the Tibetan could do about either of these wishes. The disciples were as old as they were and they had not availed themselves of the teaching as DK had hoped.

10. Đây là một trong những lời không thể nào quên. Chân sư Tây Tạng chẳng thể làm được bao nhiêu để thực hiện một trong hai ước muốn ấy. Các đệ tử đã ở độ tuổi như thế, và họ đã không tận dụng giáo huấn như Chân sư DK từng hy vọng.

11. Although we are not outwardly as directly connected with Him, let Him have no cause to say this of us!

11. Dù về mặt bên ngoài, chúng ta không gắn kết trực tiếp với Ngài bằng họ, chúng ta hãy đừng để Ngài có lý do nói điều này về mình!

Above everything else, I wish you were more courageous. Does that word surprise you, my brothers? In considering this year as a whole, I question not your devotion or your steadfastness; I have confidence in the depth of your aspiration and your desire for the will-to-good; I know that naught will turn you for any length of time from the pursuit of your goal.

Trên hết mọi điều, Tôi ước các bạn can đảm hơn. Từ ấy có khiến các bạn ngạc nhiên không, các huynh đệ của Tôi? Khi xem xét toàn bộ năm nay, Tôi không nghi ngờ lòng sùng tín hay sự kiên định của các bạn; Tôi tin tưởng vào chiều sâu khát vọng và mong muốn Ý Chí-hướng Thiện của các bạn; Tôi biết không điều gì có thể khiến các bạn từ bỏ việc theo đuổi mục tiêu của mình trong một thời gian dài.

12. This is another ‘blockbuster’ statement. Of many things concerning His disciples, DK is sure:

12. Đây là một lời “chấn động” nữa. Chân sư DK tin chắc nhiều điều về các đệ tử của Ngài:

a. Of their devotion

a. Về lòng sùng tín của họ

b. Of their steadfastness

b. Về sự kiên định của họ

c. Of the depth of their aspiration

c. Về chiều sâu khát vọng của họ

13. And of their desire for the will-to-good; note it is the desire for the will-to-good of which He is confident and not of the presence of that will in their lives.

13. Và về mong muốn Ý Chí-hướng Thiện của họ; hãy lưu ý rằng điều Ngài tin tưởng là mong muốn Ý Chí-hướng Thiện, chứ không phải sự hiện diện của ý chí ấy trong cuộc sống của họ.

14. He also appears to be confident of their steadfastness and their inability to be deterred for any length of time.

14. Dường như Ngài cũng tin tưởng vào sự kiên định của họ và tin rằng không điều gì có thể khiến họ chùn bước trong một thời gian dài.

I do, however, question your courage. It takes courage to make spiritual decisions and to abide by them; it takes courage to adjust your lives—daily and in all relations—to the need of the hour and to the service of mankind; it takes courage to demonstrate to those around you that the present world catastrophe is of more importance to you than the petty affairs of your individual lives and your humdrum contacts; it takes courage to discard the alibis which have prevented you from participating to date in the all-out effort which characterises today the activities of the Hierarchy; it takes courage to make sacrifices, to refuse time to nonessential activities and to deal with the physical body as if it were free from all impediments; it takes courage to ignore frailties which may be present, the tiredness incident to a long life, the physical tendencies which handicap and limit your [43] service, the sleeplessness which comes from world pressures or from a badly regulated life programme, and the nervousness and strain which are the common lot today; it takes courage to attack life on behalf of others, and to obliterate your own wishes in the emergency and need.

Tuy nhiên, Tôi nghi ngờ lòng can đảm của các bạn. Cần có can đảm để đưa ra những quyết định tinh thần và kiên trì theo đuổi chúng; cần có can đảm để điều chỉnh cuộc sống của các bạn—hằng ngày và trong mọi mối quan hệ—cho phù hợp với nhu cầu của thời cuộc và việc phụng sự nhân loại; cần có can đảm để chứng tỏ với những người xung quanh rằng đối với các bạn, thảm họa thế giới hiện nay quan trọng hơn những chuyện vụn vặt trong đời sống cá nhân và những mối giao tiếp tẻ nhạt của mình; cần có can đảm để loại bỏ những lý do bào chữa đã ngăn các bạn tham gia, cho đến nay, vào nỗ lực toàn diện vốn là đặc trưng của các hoạt động của Thánh đoàn ngày nay; cần có can đảm để hy sinh, không dành thời gian cho những hoạt động không thiết yếu và đối xử với thể xác như thể nó không có bất kỳ trở ngại nào; cần có can đảm để không chú tâm đến những yếu đuối có thể hiện hữu, sự mệt mỏi đi kèm một cuộc đời dài, những khuynh hướng hồng trần cản trở và giới hạn sự [43] phụng sự của các bạn, tình trạng mất ngủ do áp lực thế giới hoặc do một chương trình sinh hoạt thiếu điều độ, cùng sự bồn chồn và căng thẳng vốn là tình cảnh chung ngày nay; cần có can đảm để xông vào cuộc sống vì người khác và gạt bỏ những mong muốn riêng trước tình thế khẩn cấp và nhu cầu.

15. This is an extraordinary paragraph against which we can all measure ourselves in relation to the quality of courage.

15. Đây là một đoạn văn phi thường mà tất cả chúng ta đều có thể dùng làm thước đo để tự đánh giá về phẩm tính can đảm.

16. Let us tabulate the types of courage to which DK draws our attention:

16. Chúng ta hãy liệt kê các dạng can đảm mà Chân sư DK lưu ý chúng ta:

a. Courage to make spiritual decisions and abide by them

a. Can đảm đưa ra những quyết định tinh thần và kiên trì theo đuổi chúng

b. Courage to adjust the daily lives to the need of the hour and to the service of mankind

b. Can đảm điều chỉnh cuộc sống hằng ngày cho phù hợp với nhu cầu của thời cuộc và việc phụng sự nhân loại

c. Courage to demonstrate to all that the world catastrophe is of the greatest moment rather than the petty affairs of life

c. Can đảm chứng tỏ cho mọi người thấy rằng thảm họa thế giới mới là điều hệ trọng nhất, hơn những chuyện vụn vặt của đời sống

d. Courage to discard the alibis that have prevented one from participating in the all-out effort characteristic of the members of Hierarchy

d. Can đảm gạt bỏ những lý do bào chữa đã ngăn mình tham gia vào nỗ lực hết mình vốn là đặc trưng của các thành viên Thánh đoàn

e. Courage to sacrifice non-essentials

e. Can đảm hi sinh những điều không thiết yếu

f. Courage to deal with the physical body as if it were free from all impediments

f. Can đảm ứng xử với thể xác như thể nó không có bất kỳ trở ngại nào

g. Courage to ignore many frailties incident to a difficult life, obliterating personal wishes in the emergency and need.

g. Can đảm bỏ qua nhiều yếu đuối đi kèm với một cuộc sống khó khăn, xóa bỏ những mong muốn cá nhân trước tình thế khẩn cấp và nhu cầu.

17. Let us measure ourselves against these standards, for the times are still critically serious, and we stand on the brink of a possible war that could be more terrible than anything humanity has ever seen.

17. Chúng ta hãy tự đối chiếu với những tiêu chuẩn này, vì thời cuộc vẫn hết sức nghiêm trọng, và chúng ta đang đứng bên bờ một cuộc chiến có thể xảy ra, khủng khiếp hơn bất cứ điều gì nhân loại từng chứng kiến.

One of the points which disciples need to grasp more clearly is the well-recognised fact (and thus easily overlooked from very familiarity)that the assertion of one’s determination to function as a server and as a disciple brings about a refocussing of all the forces of the personality and the soul (in unison);

Một trong những điểm mà các đệ tử cần nắm bắt rõ hơn là sự thật đã được thừa nhận rộng rãi—và do quá quen thuộc nên dễ bị bỏ qua—rằng việc khẳng định quyết tâm hoạt động như một người phụng sự và một đệ tử sẽ đem lại sự tái tập trung của tất cả các mãnh lực của phàm ngã và linh hồn trong sự đồng bộ;

18. A powerful refocussing is possible for all of us—if we care enough and take advantage of every opportunity.

18. Tất cả chúng ta đều có thể tái tập trung một cách mạnh mẽ—nếu chúng ta đủ quan tâm và tận dụng mọi cơ hội.

19. The propelling incentive is “one’s determination to function as a server”.

19. Động lực thúc đẩy là “quyết tâm của mỗi người muốn hoạt động như một người phụng sự”.

it is, symbolically speaking, a recurrence of the ancient event of individualisation upon a higher turn of the spiral, this time entered into with full conscious cooperation.

nói theo biểu tượng, đó là sự tái diễn của biến cố biệt ngã hóa cổ xưa ở một vòng xoắn cao hơn, lần này được bước vào với sự hợp tác hoàn toàn hữu thức.

20. This is a potent analogy. We are to reenact upon a higher turn of the spiral the ancient event of individualization.

20. Đây là một phép tương đồng đầy sức mạnh. Chúng ta phải tái hiện biến cố biệt ngã hóa cổ xưa ở một vòng xoắn cao hơn.

21. This will mean a definite and focussed participation in the Kingdom of Souls according to the level of our unfoldment.

21. Điều này có nghĩa là chúng ta tham gia một cách rõ ràng và tập trung vào Giới Linh Hồn, tùy theo mức độ khai mở của mình.

This refocussing brings its own difficulties. It leads often to a distressing consciousness of one’s own nature, one’s aims, one’s life theme, one’s aspirations and one’s handicaps, of one’s equipment and experience, plus the various aspects and vehicles through which the soul has perforce to work.

Sự tái tập trung này đem theo những khó khăn riêng. Nó thường dẫn đến sự nhận biết gây khổ sở về bản chất của chính mình, những mục tiêu, chủ đề đời sống, những khát vọng và trở ngại của mình, về sự trang bị và kinh nghiệm của mình, cùng các phương diện và hiện thể khác nhau mà linh hồn tất yếu phải hoạt động thông qua.

22. To refocus in this manner is to refocus as a soul within the personality. The light of the soul will then break into the personality consciousness and much of a distressing nature will be revealed. In short, we will see our shortcomings, so many of which we may not have suspected.

22. Tái tập trung theo cách này là tái tập trung với tư cách linh hồn bên trong phàm ngã. Khi ấy, ánh sáng của linh hồn sẽ xuyên vào tâm thức phàm ngã và nhiều điều gây khổ sở sẽ lộ ra. Nói ngắn gọn, chúng ta sẽ thấy những thiếu sót của mình, trong đó có rất nhiều điều mà có lẽ chúng ta chưa từng ngờ tới.

All this produces an intensification ofttimes of self-interest and of concentration upon one’s self, always with the best of intentions and aspiration. One’s limitations, physical or otherwise, look unduly large; one’s faults are exaggerated in one’s consciousness, though not so oft in expression; the extent of the service needed and demanded by the soul appears so great that the disciple at times refuses cooperation for fear of failure or from undue consciousness of himself; excuses for non-service or for only partial service are easily found and appropriated;

Tất cả điều này thường làm gia tăng sự quan tâm đến bản thân và tập trung vào chính mình, luôn với những ý định và khát vọng tốt đẹp nhất. Những giới hạn của mình, dù thuộc hồng trần hay phương diện khác, có vẻ lớn quá mức; những khuyết điểm của mình bị phóng đại trong tâm thức, dù không thường xuyên như vậy trong biểu hiện; mức độ phụng sự mà linh hồn cần và đòi hỏi có vẻ lớn đến nỗi đôi khi người đệ tử từ chối hợp tác vì sợ thất bại hoặc vì quá chú tâm đến bản thân; những lý do bào chữa cho việc không phụng sự hoặc chỉ phụng sự một phần dễ dàng được tìm ra và nhận làm của mình;

23. The negative effects of refocusing as a soul within the personality are here detailed. It becomes difficult to take the eyes off the little self.

23. Ở đây, những tác động tiêu cực của việc tái tập trung với tư cách linh hồn bên trong phàm ngã được trình bày chi tiết. Việc rời mắt khỏi cái ngã nhỏ bé trở nên khó khăn.

24. The ill effects of a spiritual inferiority complex often arise and the disciple “refuses cooperation for fear of failure” or through undue self-consciousness.

24. Những tác hại của phức cảm tự ti về mặt tinh thần thường nảy sinh, và người đệ tử “từ chối hợp tác vì sợ thất bại” hoặc vì quá chú tâm đến bản thân.

25. It is clear that as a result of the disciple’s determination to function as a server, the disciple looms overlarge in his own field of consciousness.

25. Rõ ràng là do quyết tâm hoạt động như một người phụng sự, người đệ tử trở nên quá lớn trong chính trường tâm thức của mình.

26. As a result the disciple’s capacity for service is temporarily damaged or delayed.

26. Do đó, khả năng phụng sự của người đệ tử tạm thời bị tổn hại hoặc trì hoãn.

postponement of all-out help today, plus complete dedication to human need, is easily condoned on the basis of health, time, home limitations, fear of one kind or another, age, or a belief that this life is preparatory to full service in the next; alibis are easy to discover, some of them even taking the form of believing that the demands of the Master and the programme of the Ashram with which the disciple is affiliated are unreasonable or—as is the case with two of you in this group—that the Oriental does not understand the demands upon the Occidental disciple.

việc trì hoãn sự trợ giúp hết mình ngay hôm nay cùng sự tận hiến hoàn toàn cho nhu cầu nhân loại dễ dàng được dung thứ dựa trên lý do sức khỏe, thời gian, những hạn chế trong gia đình, nỗi sợ này hay nỗi sợ khác, tuổi tác, hoặc niềm tin rằng kiếp sống này là sự chuẩn bị cho việc phụng sự trọn vẹn trong kiếp tới; những lý do bào chữa rất dễ tìm ra, thậm chí một số còn mang hình thức tin rằng những đòi hỏi của Chân sư và chương trình của ashram mà người đệ tử liên kết là không hợp lý, hoặc—như trường hợp hai người trong nhóm này—rằng người phương Đông không thấu hiểu những đòi hỏi đặt lên người đệ tử phương Tây.

27. What an amazing catalogue of alibis and the reasons they are employed!

27. Thật là một danh mục đáng kinh ngạc về những lý do bào chữa và những nguyên do khiến người ta dùng đến chúng!

28. Let us catalogue the alibis. Alibis are adopted—

28. Chúng ta hãy liệt kê những lý do bào chữa ấy. Người ta viện đến chúng—

a. For reasons of health

a. Vì lý do sức khỏe

b. For reasons of insufficient time

b. Vì lý do không đủ thời gian

c. For reasons of home limitations

c. Vì những hạn chế trong gia đình

d. For reason of fear or one kind or another

d. Vì nỗi sợ này hay nỗi sợ khác

e. For reasons of age

e. Vì lý do tuổi tác

29. Because one believes that this life is simply preparatory to fuller service in the next—which surely takes the pressure off the disciple in this life!

29. Vì người ta tin rằng kiếp sống này chỉ là sự chuẩn bị cho việc phụng sự trọn vẹn hơn trong kiếp tới—điều chắc chắn giúp người đệ tử trút bỏ áp lực trong kiếp sống này!

30. Because one believes the demands of the Master are unreasonable, possibly because He is an Oriental who does not understand the Occidental disciple. This has to be the most ludicrous of all. I think we should be reminded that Master DK says He has had two significant incarnations in the West.

30. Vì người ta tin rằng những đòi hỏi của Chân sư là không hợp lý, có lẽ vì Ngài là người phương Đông, không thấu hiểu người đệ tử phương Tây. Đây hẳn là lý do lố bịch nhất trong tất cả. Tôi nghĩ chúng ta cần nhớ rằng Chân sư DK nói Ngài đã có hai kiếp lâm phàm quan trọng ở phương Tây.

31. I think that if we are truthful we can all find ourselves somewhere in the use of these various alibis. Our task would be to eliminate them.

31. Tôi nghĩ rằng nếu thành thật, tất cả chúng ta đều có thể nhận ra mình đã từng viện đến lý do nào đó trong số những lý do bào chữa này. Nhiệm vụ của chúng ta là loại bỏ chúng.

I have for years endeavoured to arouse all of you, and through you the thousands you can as a group reach, to the [44] urgency of the times, but hitherto with only partial or temporary results and as yet (for some of you, though not for all) the work to be done in response to the demands of the Ashram is secondary to your daily life pattern, to the requirements of your business or your home or to what you believe to be the physical limitations, the emotional liabilities and the mental handicaps of your equipment.

Trong nhiều năm, Tôi đã cố gắng thức tỉnh tất cả các bạn, và thông qua các bạn, hàng nghìn người mà các bạn có thể tiếp cận với tư cách một nhóm, trước [44] tính cấp bách của thời cuộc, nhưng cho đến nay chỉ đạt được những kết quả từng phần hoặc tạm thời; và hiện nay, đối với một số người trong các bạn, dù không phải tất cả, công việc cần thực hiện để đáp ứng những đòi hỏi của ashram vẫn đứng sau mô hình sinh hoạt hằng ngày, những yêu cầu của công việc kinh doanh hoặc gia đình, hay những gì các bạn cho là các giới hạn hồng trần, những điểm yếu cảm xúc và những trở ngại trí tuệ trong sự trang bị của mình.

32. DK speaks of His disappointment. He uses a word like “arouse” which alerts us to the prevailing tamasic nature of a number of His disciples.

32. Chân sư DK nói về sự thất vọng của Ngài. Ngài dùng một từ như “thức tỉnh”, khiến chúng ta lưu ý đến bản chất tamas đang chiếm ưu thế nơi một số đệ tử của Ngài.

33. His disciples have resisted the call to respond to the urgency of the times for the following reasons:

33. Các đệ tử của Ngài đã cưỡng lại lời kêu gọi đáp ứng tính cấp bách của thời cuộc vì những lý do sau:

a. The demands of the daily life pattern have been put before the demands of the Ashram

a. Họ đã đặt những đòi hỏi của nếp sống hằng ngày lên trước những đòi hỏi của ashram

b. The requirements of business have been put first

b. Họ đã đặt những yêu cầu của công việc kinh doanh lên hàng đầu

c. The requirements of the home been put first

c. Họ đã đặt những yêu cầu của gia đình lên hàng đầu

d. Attention to physical limitations have been put first

d. Họ đã đặt việc chú tâm đến những giới hạn thể chất lên hàng đầu

e. Attention to emotional liabilities have been put first

e. Họ đã đặt việc chú tâm đến những điểm yếu về cảm xúc lên hàng đầu

f. Attention to mental handicaps have been put first

f. Họ đã đặt việc chú tâm đến những trở ngại về trí tuệ lên hàng đầu

My brothers, let me repeat: The disciple has to take himself as he is at any given time, with any given equipment, and under any given circumstances; then he proceeds to subordinate himself, his affairs and his time to the need of the hour, particularly during a phase of group, national or world crisis.

Các huynh đệ của Tôi, xin nhắc lại: Người đệ tử phải chấp nhận chính mình như mình đang là vào bất kỳ thời điểm nào, với bất kỳ sự trang bị nào và trong bất kỳ hoàn cảnh nào; rồi y tiến hành đặt bản thân, công việc riêng và thời gian của mình dưới nhu cầu của thời cuộc, đặc biệt trong một giai đoạn khủng hoảng của nhóm, quốc gia hay thế giới.

34. Here is the demand and it is apparent that a number of His disciples needed its reassertion.

34. Đây là yêu cầu, và rõ ràng một số đệ tử của Ngài cần được nhắc lại yêu cầu ấy.

35. In short, the disciple makes the best of himself and his present circumstances in the attempt to meet the needs of the hour—especially during a time of larger crisis.

35. Tóm lại, người đệ tử tận dụng tối đa bản thân và hoàn cảnh hiện tại của mình để cố gắng đáp ứng những nhu cầu của thời cuộc—đặc biệt trong một thời kỳ khủng hoảng có quy mô lớn hơn.

36. In short, there are simply no excuses to refuse to serve to one’s utmost. No excuses! Let us ponder on this as surely it will have implications for our life of discipleship and the service we are offering or intending to offer.

36. Tóm lại, hoàn toàn không có lý do nào để biện hộ cho việc từ chối phụng sự hết sức mình. Không có lý do nào cả! Chúng ta hãy suy ngẫm về điều này, vì chắc chắn nó sẽ có những hàm ý đối với đời sống đệ tử của chúng ta và sự phụng sự mà chúng ta đang thực hiện hoặc dự định thực hiện.

When he does this within his own consciousness, and is therefore thinking along lines of the true values, he will discover that his own private affairs are taken care of, his capacities are increased and his limitations are forgotten.

Khi y làm điều này trong chính tâm thức của mình, và do đó suy nghĩ theo những giá trị chân chính, y sẽ khám phá rằng những việc riêng của mình được chăm lo, năng lực của mình gia tăng và những giới hạn của mình bị lãng quên.

37. The compensations for the right mode of thought are stated. By putting first things first, the secondary things fall naturally into line and former problems are solved. Do we believe that this is the case? Have we attempted to act as DK advises?

37. Những phần thưởng cho lối suy nghĩ đúng đắn đã được nêu rõ. Khi chúng ta đặt những điều thiết yếu lên hàng đầu, những điều thứ yếu tự nhiên đi vào trật tự và những vấn đề trước đây được giải quyết. Chúng ta có tin rằng thực tế là như vậy không? Chúng ta đã thử hành động theo lời khuyên của Chân sư DK chưa?

38. Access to the greater energy augments and harmonizes lesser energies and forces. This is a principle for living the life of discipleship.

38. Việc tiếp cận năng lượng lớn hơn làm gia tăng và hài hòa những năng lượng và mãnh lực nhỏ hơn. Đây là một nguyên tắc để sống đời đệ tử.

Until this is your experience, a closer relation to my Ashram will not be possible because the heavy and lethargic quality of your group life would entail undue effort on the part of the other disciples in the Ashram (and particularly in the inner Ashram) in order to offset it.

Cho đến khi điều này trở thành kinh nghiệm của các bạn, một mối quan hệ mật thiết hơn với ashram của Tôi vẫn chưa thể có, vì phẩm tính nặng nề và uể oải trong đời sống nhóm của các bạn sẽ đòi hỏi các đệ tử khác trong ashram, đặc biệt là trong ashram bên trong, phải nỗ lực quá mức để hóa giải nó.

39. In saying these things, Master DK is trying, yet again, to arouse His rather lethargic disciples. According to the Law of Economy He cannot bring them any deeper into the Ashram without weakening the Ashram.

39. Khi nói những điều này, một lần nữa Chân sư DK đang cố gắng khơi dậy các đệ tử khá uể oải của Ngài. Theo Định luật Tiết Kiệm, Ngài không thể đưa họ tiến sâu hơn vào ashram mà không làm suy yếu ashram.

40. The main exertion of offsetting energy would have to be summoned from the “inner Ashram” and that source, we are told, cannot afford to expend such energy at a time of world emergency.

40. Phần nỗ lực chủ yếu nhằm huy động năng lượng hóa giải sẽ phải đến từ “Ashram nội tại”, và chúng ta được cho biết rằng nguồn ấy không thể dành năng lượng như vậy trong thời điểm thế giới lâm vào tình trạng khẩn cấp.

I am putting this to you with frankness as we together face the end of the war, and a period of renewed and different opportunity opens before all world servers. It is for you to decide whether your contribution during the war period measured up to your opportunity; it is for you to decide what part you will play, as individuals and as a group, in the coming cycle—a cycle wherein the new ideas and ideals must be stressed, and for which a fight must be made, wherein the wider plans must be understood, endorsed and preached, the new and clearer vision for human living must be grasped and finally brought into being, and a cycle wherein the effort of all members of the New Group of World Servers (and surely you are that!) must be given to the lifting of humanity’s heavy load.

Tôi nói thẳng điều này với các bạn khi chúng ta cùng đối diện với hồi kết của chiến tranh, và một thời kỳ cơ hội mới mẻ, khác biệt mở ra trước tất cả những người phụng sự thế gian. Chính các bạn phải quyết định liệu sự đóng góp của mình trong thời kỳ chiến tranh có tương xứng với cơ hội hay không; chính các bạn phải quyết định mình sẽ đóng vai trò nào, với tư cách cá nhân và một nhóm, trong chu kỳ sắp tới—một chu kỳ trong đó những ý tưởng và lý tưởng mới phải được nhấn mạnh và đấu tranh bảo vệ, những kế hoạch rộng lớn hơn phải được thấu hiểu, tán thành và truyền bá, tầm nhìn mới mẻ và sáng rõ hơn về đời sống nhân loại phải được lĩnh hội và cuối cùng hiện thực hóa, và một chu kỳ trong đó nỗ lực của tất cả các thành viên Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—và chắc chắn các bạn là những thành viên ấy!—phải dành cho việc nâng đỡ gánh nặng của nhân loại.

41. The Master faces His chelas with frankness as they have an important decision to make and it had better be based upon a factual assessment.

41. Chân sư thẳng thắn với các đệ tử của Ngài, vì họ phải đưa ra một quyết định quan trọng, và tốt hơn hết quyết định ấy nên dựa trên sự đánh giá đúng thực tế.

42. He is calling upon them to assess their contribution during the war period and determine whether it has measured up to what might have been expected of them.

42. Ngài kêu gọi họ đánh giá sự đóng góp của mình trong thời kỳ chiến tranh và xác định xem sự đóng góp ấy có tương xứng với những gì người ta có thể kỳ vọng ở họ hay không.

43. The Master outlines the necessary work for the coming cycle. It is interesting that He even uses the word “preached”, which suggests the utilization of sixth ray energy, presumably to reach those who can only be reached in that way.

43. Chân sư phác thảo công việc cần thiết cho chu kỳ sắp tới. Điều thú vị là Ngài thậm chí còn dùng từ “truyền giảng”, gợi ý việc sử dụng năng lượng cung sáu, có lẽ để tiếp cận những người chỉ có thể tiếp cận bằng cách ấy.

44. DK is attempting to mobilize His group. He seems to suggest that the group as a whole and some of the members are doing even less for humanity than the members of the New Group of World Servers. Obviously, the members of any outer ashramic group are at least members of the NGWS.

44. Chân sư DK đang cố gắng huy động nhóm của Ngài. Dường như Ngài gợi ý rằng toàn nhóm và một số thành viên đang làm cho nhân loại còn ít hơn cả các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Hiển nhiên, các thành viên của bất kỳ nhóm ashram bên ngoài nào ít nhất cũng là thành viên của NGWS.

No definite assignments were given in the last instruction, as I felt I would like to see whether the rhythm of the past—reporting on the meditation work and on the Full Moon Approach which has been carried on now for many years—was so strongly established that, for the sake of the [45] group, it would be carried on, even if not specifically demanded.

Trong huấn thị vừa qua, Tôi không giao những nhiệm vụ cụ thể, vì Tôi muốn xem liệu nhịp điệu trước đây—báo cáo về công việc tham thiền và về việc Tiếp Cận Trăng Tròn vốn đã được thực hiện nhiều năm nay—đã được thiết lập vững chắc đến mức, vì lợi ích của [45] nhóm, nó vẫn được duy trì ngay cả khi không có yêu cầu cụ thể hay chưa.

45. The Tibetan submitted His group to a test, and they did not succeed, it appears. Only a few carried out the past rhythm of reporting when it was specifically demanded.

45. Chân sư Tây Tạng đặt nhóm của Ngài trước một thử thách, và dường như họ đã không vượt qua. Chỉ một vài người tiếp tục nhịp điệu báo cáo trước đây khi có yêu cầu cụ thể.

46. A Master will test His groups from time to time and one never knows from whence the test will come. A test that is named as a test is no test.

46. Thỉnh thoảng, một Chân sư sẽ thử thách các nhóm của Ngài, và người ta không bao giờ biết thử thách sẽ đến từ đâu. Một thử thách được gọi rõ là thử thách thì không còn là thử thách nữa.

Only a few have kept the group meditation; the work of interpreting the Formula, as outlined earlier and not specifically discontinued by me, has received no attention, and the group is the loser thereby.

Chỉ một vài người duy trì việc tham thiền nhóm; công việc diễn giải Công Thức, như đã phác thảo trước đây và chưa từng được Tôi chỉ thị ngừng lại, đã không nhận được sự chú ý, và do đó nhóm chịu thiệt thòi.

47. DK makes comment upon the sorry result. Only a few have kept the group meditation and all have totally ignored the work on interpreting the Formulas. As a result there has been group loss.

47. Chân sư DK bình luận về kết quả đáng buồn này. Chỉ một vài người duy trì việc tham thiền nhóm, và tất cả đều hoàn toàn bỏ qua công việc diễn giải các Công Thức. Do đó, nhóm đã chịu tổn thất.

I point out these factors because I would have you realise that this is group work, and that it is the group which is the teacher of the group,under inspiration from me, when you—as individuals—reach me, and under the inspiration of your own souls and of the Spiritual Triad when these contacts are made and utilised.

Tôi nêu những yếu tố này vì muốn các bạn nhận ra rằng đây là công việc nhóm, và chính nhóm là huấn sư của nhóm, dưới cảm hứng từ Tôi khi các bạn—với tư cách cá nhân—tiếp xúc được với Tôi, và dưới cảm hứng từ chính linh hồn các bạn cùng Tam Nguyên Tinh Thần khi những tiếp xúc ấy được thiết lập và vận dụng.

48. An important and seldom realized point is made: the group is the teacher of the group.

48. Một điểm quan trọng nhưng hiếm khi được nhận ra đã được nêu lên: chính nhóm là huấn sư của nhóm.

49. The Master may inspire the group but the group is still the teacher. When the sources of inspiration are the souls of the group members and the spiritual triad, it is still the group that is the teacher of the group.

49. Chân sư có thể truyền cảm hứng cho nhóm, nhưng nhóm vẫn là huấn sư. Khi nguồn cảm hứng là linh hồn của các thành viên trong nhóm và Tam Nguyên Tinh Thần, chính nhóm vẫn là huấn sư của nhóm.

In my previous instruction I stressed three points to which I would like again to refer in the light of the emerging opportunity. My task is not to change you or to give you orders and commands.

Trong huấn thị trước, Tôi đã nhấn mạnh ba điểm mà giờ đây Tôi muốn đề cập lại dưới ánh sáng của cơ hội đang xuất hiện. Nhiệm vụ của Tôi không phải là thay đổi các bạn hay ban cho các bạn những mệnh lệnh và chỉ thị.

50. Here is a definite statement regarding the Master’s method of instruction. He will not force change nor give orders and commands. This would compromise the will of His chelas and in the long run lead to a weakening rather than a strengthening of their service and cooperation with the Plan.

50. Đây là một lời khẳng định rõ ràng về phương pháp huấn thị của Chân sư. Ngài sẽ không ép buộc sự thay đổi, cũng không ban mệnh lệnh và chỉ thị. Làm như vậy sẽ phương hại đến ý chí của các đệ tử của Ngài và, về lâu dài, khiến việc phụng sự và hợp tác với Thiên Cơ của họ suy yếu thay vì được củng cố.

I have only one task, and that is to find and test out those who can serve the race under inspiration from the Ashrams of the Masters.

Tôi chỉ có một nhiệm vụ, đó là tìm kiếm và thử thách những người có thể phụng sự nhân loại dưới cảm hứng từ các ashram của các Chân sư.

51. DK is still testing His groups. The chelas are to realize that they are constantly under test, more for the future than for this present moment.

51. Chân sư DK vẫn đang thử thách các nhóm của Ngài. Các đệ tử cần nhận ra rằng họ luôn chịu thử thách, vì tương lai nhiều hơn là vì thời điểm hiện tại này.

(First Point): I referred at that time to the loneliness which is one of the first things that indicates to a disciple that he is being prepared for initiation. It will be apparent, therefore, that the loneliness to which I refer is not that which is incident to those weaknesses of character which repel one’s fellowmen, to an aloof or disagreeable nature, or to any form of self-interest which is so emphasised that it antagonises other people. There is much loneliness in a disciple’s life which is entirely his own fault and which is subject to cure if he employs the right measure of self-discipline. With these he must deal himself, for they concern the personality, and with your personalities I have no affair.

Khi ấy, Tôi đã đề cập đến sự cô đơn, một trong những điều đầu tiên cho người đệ tử biết rằng y đang được chuẩn bị để tiếp nhận điểm đạo. Vì vậy, rõ ràng sự cô đơn mà Tôi đề cập không phải là sự cô đơn bắt nguồn từ những yếu kém trong tính cách khiến đồng loại xa lánh, từ bản chất xa cách hay khó chịu, hoặc từ bất kỳ hình thức quan tâm đến bản thân nào quá mạnh đến mức gây ác cảm nơi người khác. Trong đời sống người đệ tử có nhiều sự cô đơn hoàn toàn do lỗi của chính y, và có thể khắc phục nếu y vận dụng sự tự kỷ luật đúng mức. Y phải tự mình xử lý những điều này, vì chúng liên quan đến phàm ngã, mà Tôi không có việc gì với các phàm ngã của các bạn.

52. The Master speaks of loneliness. There are two types of loneliness and one of them has nothing to do with preparation for initiation. It is the fault or responsibility of the disciple himself and is based, essentially, on the fact that something about him antagonizes or repels others. This type of loneliness can be cured through self-discipline.

52. Chân sư nói về sự cô đơn. Có hai loại cô đơn, và một trong hai loại ấy không liên quan gì đến việc chuẩn bị cho điểm đạo. Đó là lỗi hoặc trách nhiệm của chính người đệ tử và về căn bản bắt nguồn từ việc có điều gì đó nơi y khiến người khác ác cảm hoặc xa lánh. Có thể khắc phục loại cô đơn này bằng sự tự kỷ luật.

53. DK reasserts the point that with the personalities of His disciples he has no affair.

53. Chân sư DK tái khẳng định rằng Ngài không có việc gì với các phàm ngã của những đệ tử của Ngài.

I refer to the loneliness which comes when the accepting disciple becomes the pledged disciple and steps out of a life of physical plane concentration, and of identification with the forms of existence in the three worlds, and finds himself in the midway place, between the world of outer affairs and the inner world of meaning.

Tôi đề cập đến sự cô đơn xuất hiện khi người đệ tử đang chấp nhận trở thành người đệ tử đã cam kết, bước ra khỏi một đời sống tập trung vào cõi hồng trần và đồng hóa với những hình tướng hiện tồn trong ba cõi giới, rồi thấy mình ở nơi giữa thế giới công việc bên ngoài và Thế giới của ý nghĩa bên trong.

54. DK discusses the type of loneliness to which He is referring—that which is incident to preparation for initiation.

54. Chân sư DK bàn về loại cô đơn mà Ngài đang đề cập—loại cô đơn đi kèm với việc chuẩn bị cho điểm đạo.

55. What happens when an accepting disciple becomes a pledged disciple? It is a type of Libran decision which introduces the disciple into a kind of lonely midway point which, too, is characteristic of the Libran experience at a certain point on the Path.

55. Điều gì xảy ra khi một đệ tử đang chấp nhận trở thành một đệ tử đã cam kết? Đó là một loại quyết định mang tính Thiên Bình, đưa người đệ tử vào một điểm ở giữa có phần cô đơn; điểm này cũng là nét đặc trưng của trải nghiệm Thiên Bình tại một điểm nhất định trên Đường Đạo.

56. The disciple experiences loneliness because he is ceasing his identification with “a life of physical plane concentration” and with “the forms of existence in the three worlds”—including many people.

56. Người đệ tử trải nghiệm sự cô đơn vì y đang chấm dứt sự đồng hóa của mình với “một đời sống tập trung vào cõi hồng trần” và với “những hình tướng hiện tồn trong ba cõi giới”—bao gồm nhiều người.

57. Not so many occupy this midway place, and hence the loneliness.

57. Không có nhiều người ở nơi giữa này, và vì thế mà có sự cô đơn.

His first reaction then is that he is alone; he has broken with the past; he is hopeful but not sure of the future; the tangible world to which he is accustomed must, he knows, be superseded by the intangible world of values, involving a new sense of proportion, a new range of values and new responsibilities. This world he believes [46] exists, and he steps forward bravely and theoretically, but it remains for a while wholly intangible; he finds few who think and feel as he does and the mechanism of sure contact only exists within him in embryo.

Khi ấy, phản ứng đầu tiên của y là cảm thấy mình đơn độc; y đã đoạn tuyệt với quá khứ; y hy vọng nhưng không chắc chắn về tương lai; y biết rằng thế giới hữu hình quen thuộc phải nhường chỗ cho thế giới vô hình của các giá trị, bao hàm một ý thức mới về tỉ lệ, một phạm vi giá trị mới và những trách nhiệm mới. Y tin rằng thế giới này [46] hiện hữu, và can đảm bước tới trên phương diện lý thuyết, nhưng trong một thời gian, thế giới ấy vẫn hoàn toàn không thể nắm bắt; y tìm thấy rất ít người suy nghĩ và cảm nhận như mình, và bộ máy tiếp xúc chắc chắn mới chỉ tồn tại trong y ở dạng phôi thai.

58. DK describes the uncertain condition of the disciple who has stepped into the midway place. The new world ahead of him remains somewhat intangible, for all his belief that it exists. He has not within himself yet developed the mechanism of contact which will make him surer of the reality of the, to him, intangible spiritual world.

58. Chân sư DK mô tả tình trạng bất định của người đệ tử đã bước vào nơi giữa. Thế giới mới phía trước y vẫn phần nào không thể nắm bắt, dù y hết sức tin rằng nó hiện hữu. Y chưa phát triển được trong mình bộ máy tiếp xúc sẽ giúp y chắc chắn hơn về tính hiện thực của thế giới tinh thần mà đối với y vẫn chưa thể nắm bắt.

59. He is moving from Mars (outer life) towards Venus (the planet characterizing the world of the soul with its new values and necessary new sense of proportion).

59. Y đang chuyển từ Sao Hỏa (đời sống bên ngoài) hướng tới Sao Kim (hành tinh đặc trưng cho thế giới linh hồn với những giá trị mới và ý thức mới cần có về tỉ lệ).

60. One must of course step forward “bravely and theoretically” or the certainty of experience will never be achieved.

60. Dĩ nhiên, mỗi người phải bước tới “một cách can đảm và trên phương diện lý thuyết”, nếu không sẽ chẳng bao giờ đạt được sự chắc chắn do trải nghiệm mang lại.

He is breaking loose from the mass consciousness with which he has been merged hitherto, but has not yet found his group, into which he will eventually be consciously absorbed. Therefore, he is lonely and feels deserted and bereft.

Y đang thoát khỏi tâm thức quần chúng mà cho đến nay y vẫn hòa lẫn vào, nhưng chưa tìm thấy nhóm của mình, nơi cuối cùng y sẽ được thu nhận một cách hữu thức. Vì vậy, y cô đơn và cảm thấy bị bỏ rơi, mất chỗ nương tựa.

61. The results of leaving the old behind will befall one and all who succeed in breaking loose from the habitual.

61. Những hệ quả của việc bỏ lại cái cũ sẽ đến với tất cả những ai thành công trong việc thoát khỏi những gì đã thành thói quen.

62. The one who does so is, initially, no longer a self-concentrated individual, but neither is he a convinced and inwardly affiliated group member.

62. Thoạt đầu, người làm như vậy không còn là một cá nhân tập trung vào bản thân, nhưng cũng chưa phải là một thành viên nhóm có niềm xác tín và gắn kết từ bên trong.

63. Again we see that Master DK may be hinting at the courage required of all those who break free in this manner. We remember that a few paragraphs ago He stated His wish for greater courage among His chelas.

63. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng Chân sư DK có thể đang ám chỉ lòng can đảm cần có ở tất cả những ai tự giải thoát theo cách này. Chúng ta nhớ rằng cách đây vài đoạn, Ngài đã bày tỏ mong muốn các đệ tử của Ngài có lòng can đảm lớn hơn.

Some of you feel this loneliness; few of you have, for instance, reached the point where you feel yourselves to be a definite, integral part of the group; only two or three of you realise—briefly and fleetingly at times—the close link with the Ashram; your attitude is largely one of hope, coupled with the idea that it is your physical limitations which prevent your realising all that truly is, in connection with your inner affiliations.

Một số người trong các bạn cảm thấy sự cô đơn này; chẳng hạn, rất ít người trong các bạn đã đạt đến điểm cảm thấy mình là một bộ phận xác định, không thể tách rời của nhóm; chỉ hai hoặc ba người trong các bạn đôi lúc nhận ra—ngắn ngủi và thoáng qua—mối liên kết mật thiết với ashram; thái độ của các bạn phần lớn là hy vọng, đi kèm ý tưởng rằng chính những giới hạn hồng trần ngăn các bạn nhận ra tất cả những gì thực sự hiện hữu liên quan đến các mối liên kết bên trong của mình.

64. DK is dealing with a perception which afflicts a number in the group. They have broken free of matter and form—relatively—but do not yet feel themselves to be an integral part of the group. Their sense of the Ashram is relatively weak and fleeting.

64. Chân sư DK đang đề cập đến một cảm nhận khiến một số người trong nhóm khổ sở. Họ đã thoát khỏi vật chất và hình tướng—một cách tương đối—nhưng vẫn chưa cảm thấy mình là một bộ phận không thể tách rời của nhóm. Cảm nhận của họ về ashram còn tương đối yếu ớt và thoáng qua.

65. They tend to think that their physical limitations prevent a more vivid realization of their inner affiliations.

65. Họ có khuynh hướng nghĩ rằng những giới hạn hồng trần của mình ngăn họ nhận biết sống động hơn về các mối liên kết bên trong của mình.

But, my brothers, such a sense of loneliness is only another form of self-consciousness, of undue self-interest, and (as you make progress upon the Path) you will find it disappearing.

Nhưng, các huynh đệ của Tôi, cảm giác cô đơn như thế chỉ là một hình thức khác của ngã thức, của sự quan tâm quá mức đến bản thân, và khi tiến bộ trên Đường Đạo, các bạn sẽ thấy nó biến mất.

66. The Tibetan negates the value of the loneliness such chelas seem to experience, calling is but another form of self-consciousness and naming it a state caused by undue self-interest. The one who is really progressing on the Path has not such loneliness.

66. Chân sư Tây Tạng phủ nhận giá trị của sự cô đơn mà những đệ tử ấy dường như đang trải nghiệm, gọi đó chỉ là một hình thức khác của ngã thức và xác định đó là một trạng thái do sự quan tâm quá mức đến bản thân gây ra. Người thực sự tiến bộ trên Đường Đạo không có sự cô đơn như thế.

If you therefore feel lonely, you must learn to look upon it as a glamour or illusion and as a limitation which must be overcome. You must begin to act as if it were not. If only more disciples would learn the value of acting “as if.” There is no time for any of you to be lonely these days, for there is no time for you to think about yourselves.

Vì vậy, nếu cảm thấy cô đơn, các bạn phải học cách xem đó là một ảo cảm hay ảo tưởng và là một giới hạn phải vượt qua. Các bạn phải bắt đầu hành động như thể nó không tồn tại. Ước gì có thêm nhiều đệ tử học được giá trị của việc hành động “như thể.” Những ngày này, không ai trong các bạn có thời gian để cô đơn, vì các bạn không có thời gian để nghĩ về bản thân.

67. DK must have been noticing a state of consciousness shared by a significant number of His group or He would not have paused to discuss the problem.

67. Hẳn Chân sư DK đã nhận thấy một trạng thái tâm thức chung ở khá nhiều người trong nhóm của Ngài, nếu không thì Ngài đã không dừng lại để bàn về vấn đề này.

68. What we gather from the foregoing section is that we are to treat the sense of loneliness as a glamour or illusion which we should seek to overcome.

68. Điều chúng ta rút ra từ phần trên là chúng ta cần xem cảm giác cô đơn như một ảo cảm hay ảo tưởng mà chúng ta nên tìm cách vượt qua.

69. The tried and tested value of “acting as if” is again recommended—probably, simply, acting as if one were not lonely.

69. Một lần nữa, Ngài khuyến nghị giá trị đã qua thử thách và kiểm chứng của việc “hành động như thể”—có lẽ đơn giản là hành động như thể mình không cô đơn.

70. Elsewhere, DK likened depression to selfishness. Here He relates loneliness to self-preoccupation. Both of these states arise from a refusal or inability to take one’s eyes off the separated self.

70. Ở nơi khác, Chân sư DK đã ví sự trầm cảm với tính ích kỷ. Ở đây, Ngài liên hệ sự cô đơn với việc mải bận tâm về bản thân. Cả hai trạng thái này đều phát sinh từ việc không chịu hoặc không thể rời mắt khỏi cái ngã chia rẽ.

The second point I made was the need for you to emphasise and develop the Will.

Điểm thứ hai Tôi đã nêu là các bạn cần nhấn mạnh và phát triển Ý Chí.

71. This has been a theme receiving emphasis during this and the last instruction.

71. Đây là một chủ đề được nhấn mạnh trong huấn thị này và huấn thị trước.

Presumably, you have all been working at the task of building the antahkarana, the channel of communication between the brain and the spiritual will, or the Monad, working through the medium of the Spiritual Triad.

Có lẽ tất cả các bạn đều đã làm công việc xây dựng antahkarana, kênh giao tiếp giữa bộ não và ý chí tinh thần, hay chân thần, hoạt động thông qua Tam Nguyên Tinh Thần.

72. Is DK saying that, for us, the ultimate source of spiritual will is the Monad? Spiritual will is often ‘located’ on the atmic plane, but, of course, a truer source of it is the Spirit aspect represented by the Monad.

72. Phải chăng Chân sư DK đang nói rằng, đối với chúng ta, nguồn tối hậu của ý chí tinh thần là chân thần? Ý chí tinh thần thường được ‘định vị’ trên cõi atma, nhưng dĩ nhiên, nguồn đích thực hơn của nó là phương diện Tinh thần mà chân thần đại diện.

If you have been successful, it will be beginning to dawn upon you that there is a great distinction between goodwill which the masses can and often do grasp, and the will-to-good which is the goal of the disciple.

Nếu đã thành công, các bạn sẽ bắt đầu nhận ra rằng có một sự khác biệt lớn giữa thiện chí, điều mà quần chúng có thể và thường nắm bắt được, với Ý Chí-hướng Thiện, vốn là mục tiêu của người đệ tử.

73. Master DK recommends to us a vital distinction—between goodwill and the will-to-good. An understanding of the will-to-good necessitates some idea of what the Good may be (in the Platonic sense), and this is clearly beyond recognition by the masses who do not employ the abstract mind.

73. Chân sư DK khuyên chúng ta lưu ý một sự phân biệt thiết yếu—giữa thiện chí và Ý Chí-hướng Thiện. Muốn thấu hiểu Ý Chí-hướng Thiện, cần có một ý niệm nào đó về điều mà Thiện có thể là (theo nghĩa của Plato), và điều này rõ ràng vượt ngoài khả năng nhận biết của quần chúng, những người không sử dụng trí trừu tượng.

Goodwill is relatively simple of expression and all of you know much about it and express much of it. For that, no commendation is required, for it is a human attribute lying very near the surface of expression in all men.

Thiện chí tương đối dễ biểu lộ, và tất cả các bạn đều biết nhiều về nó cũng như biểu lộ nó khá nhiều. Điều đó không cần được khen ngợi, vì đó là một thuộc tính của con người, rất gần với bề mặt biểu hiện nơi mọi người.

74. We are told that “goodwill is Love in action”—a fusion of the second and third aspects of divinity.

74. Chúng ta được cho biết rằng “thiện chí là Tình thương trong hành động”—một sự dung hợp giữa phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính.

But the will-to-good is far more difficult to express, for it involves the ability not only to use the spiritual will, but to know somewhat the nature of [47] the “good.”

Nhưng Ý Chí-hướng Thiện khó biểu lộ hơn nhiều, vì nó đòi hỏi khả năng không chỉ sử dụng ý chí tinh thần mà còn biết phần nào bản chất của [47] “điều thiện”.

75. As stated. One must become something a philosopher, or a “lover of wisdom” to appreciate what the Good may be.

75. Như đã nêu. Người ta phải phần nào trở thành một triết gia, hay một “người yêu minh triết”, mới có thể nhận thức được điều mà Thiện có thể là.

76. It is interesting and important to realize that without some exercise of the “spiritual will”, the will-to-good cannot be understood. With this we dealt in the last commentary.

76. Thật thú vị và quan trọng khi nhận ra rằng nếu không vận dụng “ý chí tinh thần” ở một mức độ nào đó, chúng ta không thể thấu hiểu Ý Chí-hướng Thiện. Chúng ta đã bàn về điều này trong bài bình giảng trước.

The will-to-good is the basic quality of divine purpose, involving planned activity and a definite goal to be achieved. It necessitates the ability to think in terms of the whole, an appreciation of the next step which humanity must take in the imminent Great Approach (for this must be a reciprocal Approach), an understanding of the lessons of the past and a vision, based—not on love or on soul-sight—but on a conviction as to the immediate purpose of Sanat Kumara, as He works it out through the Christ and the planetary Hierarchy.

Ý Chí-hướng Thiện là phẩm tính căn bản của Thiên Ý, bao hàm hoạt động có hoạch định và một mục tiêu xác định cần đạt tới. Nó đòi hỏi khả năng suy nghĩ trong tương quan với toàn thể, nhận thức được bước tiếp theo mà nhân loại phải thực hiện trong Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại sắp tới, vì đây phải là một Cuộc Tiếp Cận hai chiều, thấu hiểu những bài học quá khứ và có một tầm nhìn dựa trên—không phải tình thương hay linh thị của linh hồn—mà là niềm xác tín về mục đích trước mắt của Sanat Kumara, khi Ngài thực hiện mục đích ấy thông qua Đức Christ và Thánh đoàn hành tinh. Về phía Thánh đoàn,

77. Let us tabulate those factors involved in the understanding and expression of the will-to-good.

77. Chúng ta hãy lập bảng liệt kê những yếu tố liên quan đến việc thấu hiểu và biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện.

a. It is the basic quality of divine purpose

a. Đó là phẩm tính căn bản của Thiên Ý

b. It involves planned activity

b. Nó bao hàm hoạt động có hoạch định

c. It involves a definite goal to be achieved

c. Nó bao hàm một mục tiêu xác định cần đạt tới

d. It involves the ability to think in terms of the whole

d. Nó bao hàm khả năng suy nghĩ trong tương quan với toàn thể

e. It involves an appreciation of the next step which humanity must take in the imminent Great Approach

e. Nó bao hàm việc nhận thức được bước tiếp theo mà nhân loại phải thực hiện trong Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại sắp tới

f. It involves an understanding of the lessons of the past

f. Nó bao hàm việc thấu hiểu những bài học quá khứ

g. It involves a vision based on a conviction as to the immediate purpose of Sanat Kumara, and is not based on love or on soul sight.

g. Nó bao hàm một tầm nhìn dựa trên niềm xác tín về mục đích trước mắt của Sanat Kumara, và không dựa trên tình thương hay linh thị của linh hồn.

78. Obviously, we have to ponder on these factors for a deeper understanding of that aspect of will which all disciples are obliged to cultivate or bring through.

78. Hiển nhiên, chúng ta phải suy ngẫm về những yếu tố này để thấu hiểu sâu sắc hơn phương diện ý chí mà mọi đệ tử đều có bổn phận vun bồi hoặc truyền dẫn qua mình.

79. We also note that the Great Approach of the future is to be a “reciprocal approach”. Hierarchy and its disciples must approach each other.

79. Chúng ta cũng lưu ý rằng Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại trong tương lai sẽ là một “cuộc tiếp cận hai chiều”. Thánh đoàn và các đệ tử của Thánh đoàn phải tiến lại gần nhau.

This conviction is based, as far as the Hierarchy is concerned, on pure reason; it is based, as far as humanity is concerned, through its disciples, on intuitive perception, implemented by love and expressed intelligently. Upon this I would ask you to ponder, and as you ponder, make the needed changes in your personal approach to the problem.

niềm xác tín này dựa trên lý trí thuần khiết; về phía nhân loại, thông qua các đệ tử của mình, niềm xác tín ấy dựa trên tri giác trực giác, được tình thương đưa vào thực hiện và được biểu lộ một cách thông minh. Tôi muốn yêu cầu các bạn suy ngẫm về điều này, và trong khi suy ngẫm, hãy thực hiện những thay đổi cần thiết trong cách tiếp cận cá nhân của mình đối với vấn đề.

80. DK discusses the conviction which all disciples must have as to the immediate purpose of Sanat Kumara.

80. Chân sư DK bàn về niềm xác tín mà mọi đệ tử phải có đối với mục đích trước mắt của Sanat Kumara.

81. When members of the Hierarchy assess the purpose of the Great Kumara their understanding is based on pure reason, a quality of the buddhic plane.

81. Khi các thành viên của Thánh đoàn xem xét mục đích của Đức Kumara Vĩ Đại, sự thấu hiểu của Các Ngài dựa trên lý trí thuần khiết, một phẩm tính của cõi Bồ đề.

82. When human beings assess that purpose, their understanding is based on intuition which marks the beginning of the unfoldment of a dependable pure reason.

82. Khi con người xem xét mục đích ấy, sự thấu hiểu của họ dựa trên trực giác, vốn đánh dấu bước khởi đầu của sự khai mở một lý trí thuần khiết đáng tin cậy.

83. DK seems to be asking His chelas to understand pure reason more deeply and rely upon it in approaching a deeper sense of Sanat Kumara’s purpose.

83. Dường như Chân sư DK đang yêu cầu các đệ tử của Ngài thấu hiểu lý trí thuần khiết sâu sắc hơn và dựa vào đó để tiến đến cảm nhận sâu sắc hơn về mục đích của Sanat Kumara.

The third point grows out of the above. You are all pledged disciples, and as such your immediate personal problem (in which I may not and therefore cannot help you) is to overcome and destroy the hold which the Dweller on the Threshold may have upon you.

Điểm thứ ba phát sinh từ những điều trên. Tất cả các bạn đều là những đệ tử đã cam kết, và với tư cách ấy, vấn đề cá nhân trước mắt của các bạn—trong đó Tôi không được phép và do đó không thể giúp các bạn—là vượt qua và phá hủy sự khống chế mà Kẻ Chận Ngõ có thể đang nắm giữ đối với các bạn.

84. Master DK is making a really important point. Each disciple must destroy (for himself) the hold which his Dweller on the Threshold has upon him. The Master may not and, therefore, cannot help or interfere.

84. Chân sư DK đang nêu lên một điểm thật sự quan trọng. Mỗi đệ tử phải tự mình phá hủy sự khống chế mà Kẻ Chận Ngõ của mình đang nắm giữ đối với mình. Chân sư không được phép và do đó không thể giúp đỡ hay can thiệp.

We are back, therefore, to our starting point, and a question now arises in your minds: ”How can I overcome this Dweller and yet at the same time refuse to concentrate upon myself and my problems? This I am told by you not to do, and yet the Dweller is the sum total of all personality holds and defects, all potencies—emotional, mental and physical—which limit my expression as a soul. What can I therefore do?”

Vì vậy, chúng ta trở lại điểm xuất phát, và giờ đây một câu hỏi nảy sinh trong thể trí các bạn: “Làm sao tôi có thể chiến thắng Kẻ Chận Ngõ này mà đồng thời vẫn không tập trung vào bản thân và những vấn đề của mình? Tôi được Ngài bảo đừng làm điều đó, nhưng Kẻ Chận Ngõ lại là tổng thể mọi sự ràng buộc và khuyết điểm của phàm ngã, mọi tiềm lực—cảm xúc, trí tuệ và hồng trần—giới hạn sự biểu lộ của tôi với tư cách một linh hồn. Vậy tôi có thể làm gì?”

85. A paradoxical question is posed, for if one concentrates on overcoming the Dweller, is not one concentrating upon himself, which he is also advised not to do?

85. Một câu hỏi nghịch lý được đặt ra, vì nếu một người tập trung vào việc chiến thắng Kẻ Chận Ngõ, chẳng phải người ấy đang tập trung vào bản thân, điều mà người ấy cũng được khuyên là không nên làm hay sao?

My answer would be: You must first of all accept the fact of the Dweller, and then relegate that Dweller to its rightful place as part of the Great Illusion, the great phantasmagoria of existence and as an integral part of the life of the three worlds. You must then proceed upon your planned life service (What definite plan or plans have you, my brother?) and act as if the Dweller existed not, thus freeing yourself from all personality influence in due time and leaving your mind free for the task in hand.

Câu trả lời của Tôi sẽ là: Trước hết, các bạn phải chấp nhận sự hiện hữu của Kẻ Chận Ngõ, rồi đặt Kẻ Chận Ngõ ấy vào đúng vị trí của nó như một phần của Đại Ảo Tưởng, màn huyễn cảnh rộng lớn của sự hiện tồn, và như một phần không thể tách rời của sự sống trong ba cõi giới. Sau đó, các bạn phải tiếp tục đời sống phụng sự theo kế hoạch đã định (Huynh đệ của tôi, các bạn có kế hoạch hay những kế hoạch cụ thể nào?) và hành động như thể Kẻ Chận Ngõ không tồn tại, nhờ đó, đến đúng lúc, giải thoát mình khỏi mọi ảnh hưởng của phàm ngã và để thể trí tự do thực hiện nhiệm vụ trước mắt.