← Commentary DINA II (webinar 24-35)

Commentary 30

Trích nội dung chương

b. Relegate the Dweller to its rightful place as part of the Great Illusion. It is naught but an aspect of the great phantasmagoria of existence. b. Đặt Kẻ Chận Ngõ vào đúng vị trí của nó như một phần của Đại Ảo Tưởng. Nó chẳng qua chỉ là một phương diện của màn huyễn cảnh rộng lớn của sự hiện tồn.


86. DK gives potent advice for overcoming the individual Dweller.

86. Chân sư DK đưa ra lời khuyên đầy uy lực để chiến thắng Kẻ Chận Ngõ của cá nhân.

87. The process is as follows:

87. Tiến trình như sau:

a. Accept the fact of the Dweller

a. Chấp nhận sự hiện hữu của Kẻ Chận Ngõ

b. Relegate the Dweller to its rightful place as part of the Great Illusion. It is naught but an aspect of the great phantasmagoria of existence.

b. Đặt Kẻ Chận Ngõ vào đúng vị trí của nó như một phần của Đại Ảo Tưởng. Nó chẳng qua chỉ là một phương diện của màn huyễn cảnh rộng lớn của sự hiện tồn.

c. Proceed upon a planned life of service

c. Tiến bước trong một đời sống phụng sự có kế hoạch

d. Act as if the Dweller existed not thus achieving a degree of freedom from all personality influence.

d. Hành động như thể Kẻ Chận Ngõ không tồn tại, qua đó đạt được một mức độ tự do khỏi mọi ảnh hưởng của phàm ngã.

88. DK interposes a question which we must answer: “What definite plan or plans have you, my brother?”

88. Chân sư DK xen vào một câu hỏi mà chúng ta phải trả lời: “Huynh đệ của tôi, các bạn có kế hoạch hay những kế hoạch cụ thể nào?”

I could perhaps word it another way. When your interest in hierarchical work and the programme of the Ashram with which you are [48] connected is adequately strong, it will then dominate all your actions, and all your thoughts (waking or sleeping); you will then find that the grip of the Dweller will be broken, that its life has been destroyed by the force of attrition and its form destroyed in the fires of sacrifice.Such, briefly, is the story; I waste no time with elaborations, for there is much I seek to give you in this instruction.

Có lẽ Tôi có thể diễn đạt theo cách khác. Khi sự quan tâm của các bạn đối với công việc của Thánh đoàn và chương trình của Ashram mà các bạn [48] có liên hệ đủ mạnh, sự quan tâm ấy sẽ chi phối mọi hành động và mọi tư tưởng của các bạn, dù thức hay ngủ; bấy giờ, các bạn sẽ thấy rằng sự kìm giữ của Kẻ Chận Ngõ đã bị phá vỡ, sự sống của nó đã bị mãnh lực tiêu hao hủy diệt, và hình tướng của nó đã bị hủy diệt trong những ngọn lửa hi sinh. Đó là câu chuyện được trình bày vắn tắt; Tôi không dành thời gian diễn giải dài dòng, vì còn nhiều điều Tôi muốn truyền đạt cho các bạn trong huấn thị này.

89. Another way of achieving the conquest of the Dweller is to become so interested in the “programme of the Ashram” that the hold of the Dweller will be broken. It will receive no energy from which to sustain itself.

89. Một cách khác để chinh phục Kẻ Chận Ngõ là quan tâm đến “chương trình của Ashram” mạnh mẽ đến mức phá vỡ sự kìm giữ của nó. Nó sẽ không nhận được năng lượng để duy trì sự tồn tại của mình.

90. This is a very practical method of procedure, is it not?

90. Đây là một phương pháp tiến hành rất thiết thực, phải vậy không?

91. When our mind and heart are full of the Plan, we shall be well in process of destroying the hold which the Dweller has upon us.

91. Khi thể trí và trái tim chúng ta tràn đầy Thiên Cơ, chúng ta sẽ tiến xa trong tiến trình phá hủy sự kìm giữ của Kẻ Chận Ngõ đối với chúng ta.

I desire to give you the help you need for the coming year which faces you. Above all, however, I am endeavouring to make clear to future generations certain basic principles and certain aspects of hierarchical truth which must in the New Age govern those who seek to tread the Path of Discipleship and who are willing to be prepared for initiation.

Tôi mong muốn mang đến cho các bạn sự trợ giúp cần thiết cho năm sắp tới. Tuy nhiên, trên hết, Tôi đang cố gắng làm sáng tỏ cho các thế hệ tương lai một số nguyên tắc căn bản và một số phương diện của chân lý Thánh đoàn, vốn phải chi phối những ai tìm cách bước trên Con Đường Đệ Tử trong Kỷ Nguyên Mới và sẵn lòng chuẩn bị cho điểm đạo.

92. DK declares His intention to offer instruction for future generations. Perhaps He had already seen the impossibility of continuing with His present group; we cannot know. But less than two year later He discontinued the experiment with the New Seed Group, which had been in process for almost seven years by that time.

92. Chân sư DK tuyên bố ý định ban huấn thị cho các thế hệ tương lai. Có lẽ Ngài đã thấy rằng không thể tiếp tục với nhóm hiện tại của Ngài; chúng ta không thể biết được. Nhưng chưa đầy hai năm sau, Ngài đã chấm dứt cuộc thử nghiệm với Nhóm Hạt Giống Mới, vốn đã diễn ra gần bảy năm tính đến thời điểm ấy.

Changes in curriculum and in techniques are being made by the Hierarchy; the adaptation of old methods to modern needs and to more highly developed men is under way. I write not for you in reality. You have already had more than you have used. I write for the coming disciples and initiates of the next two generations.

Thánh đoàn đang thay đổi chương trình huấn luyện và các kỹ thuật; việc điều chỉnh những phương pháp cũ cho phù hợp với nhu cầu hiện đại và với những người phát triển cao hơn đang được tiến hành. Thực ra, Tôi không viết cho các bạn. Các bạn đã nhận được nhiều hơn những gì các bạn đã vận dụng. Tôi viết cho các đệ tử và điểm đạo đồ tương lai thuộc hai thế hệ kế tiếp.

93. Here he is precisely explicit concerning His motives. DK anticipates the entry into incarnation of “more highly developed men” and, in truth, much of what He has written is for them.

93. Ở đây, Ngài nói hết sức cụ thể và rõ ràng về những động cơ của mình. Chân sư DK dự liệu việc “những người phát triển cao hơn” sẽ lâm phàm và quả thực, phần lớn những gì Ngài đã viết là dành cho họ.

94. He said of His group members at that time, “you have already had more than you have used”. What would He say of us? Have we “used” all that we have been given? Certainly it is unlikely.

94. Khi ấy, Ngài nói về các thành viên trong nhóm của Ngài: “Các bạn đã nhận được nhiều hơn những gì các bạn đã vận dụng”. Ngài sẽ nói gì về chúng ta? Chúng ta đã “vận dụng” tất cả những gì mình nhận được chưa? Chắc chắn điều đó khó có thể xảy ra.

It is essential that disciples in all Ashrams consider these days what humanity’s problems are, what they mean and what their solution entails; they must know what the Masters of the Wisdom want done and then they must talk and write, act and live so that others too may understand.

Trong những ngày này, điều thiết yếu là các đệ tử trong mọi Ashram phải xem xét những vấn đề của nhân loại là gì, chúng hàm ý gì và việc giải quyết chúng đòi hỏi những gì; họ phải biết các Chân sư Minh Triết muốn thực hiện điều gì, rồi phải nói và viết, hành động và sống sao cho những người khác cũng có thể thấu hiểu.

95. I would like to insert a short selection on the present problems of humanity gathered from the spiritual internet groups. I think you will find this perspective illumining.

95. Tôi muốn đưa vào đây một đoạn tuyển trích ngắn về những vấn đề hiện nay của nhân loại, được tập hợp từ các nhóm tinh thần trên internet. Tôi nghĩ các bạn sẽ thấy góc nhìn này đem lại sự soi sáng.

In assessing the application of The Plan, as outlined by DK, to contemporary problems, how might today’s top problems be identified? Of the problems facing humanity, which are most urgent?

Khi đánh giá việc áp dụng Thiên Cơ, như Chân sư DK đã phác thảo, vào những vấn đề đương thời, chúng ta có thể xác định những vấn đề hàng đầu hiện nay như thế nào? Trong số những vấn đề mà nhân loại đang đối mặt, vấn đề nào cấp bách nhất?

Enter the Copenhagen Consensus. (www.copenhagenconsensus.com). In the Copenhagen Consensus top economists from around the world gathered in 2004 in an attempt to come to a consensus on the ten major challenges of humanity. Next they evaluated and ranked projects which they believed had the best chance of making a difference.

Đây là lúc Đồng Thuận Copenhagen xuất hiện. (www.copenhagenconsensus.com). Trong khuôn khổ Đồng Thuận Copenhagen, các nhà kinh tế hàng đầu từ khắp thế giới đã tập hợp vào năm 2004 nhằm cố gắng đi đến đồng thuận về mười thách thức lớn của nhân loại. Tiếp đó, họ đánh giá và xếp hạng những dự án mà họ tin là có nhiều khả năng nhất để tạo ra chuyển biến.

They tried to identify the top-ten problems facing the world — everything from infectious diseases to financial instability, to subsidies and trade barriers, to hunger and malnutrition. They brought together the top economists in each of these fields, and they wrote special overview papers on all of these areas, looking at the cost-benefit analyses for solutions to these problems.

Họ cố gắng xác định mười vấn đề hàng đầu mà thế giới đang đối mặt — từ các bệnh truyền nhiễm đến bất ổn tài chính, từ trợ cấp và rào cản thương mại đến nạn đói và suy dinh dưỡng. Họ tập hợp những nhà kinh tế hàng đầu trong từng lĩnh vực này, và các chuyên gia ấy viết những báo cáo tổng quan chuyên biệt về tất cả các lĩnh vực đó, xem xét các phân tích chi phí–lợi ích của những giải pháp cho các vấn đề này.

And then they had nine of the world’s top economists, including four Nobel Prize winners, meet for five days and hear all the evidence and go through the position papers in closed sessions on each of these ten issues. Then they put costs and benefits on each of these. And created ranked list of opportunities for the world. What follows is a summary of their conclusions. These are, of course, controversial. I would recommend reading the following interview with the organizer of the Copenhagen Consensus to get his perspective:

Sau đó, họ mời chín nhà kinh tế hàng đầu thế giới, trong đó có bốn người đoạt giải Nobel, họp trong năm ngày để nghe toàn bộ bằng chứng và xem xét các báo cáo trình bày quan điểm trong những phiên họp kín về từng vấn đề trong số mười vấn đề này. Tiếp đó, họ định lượng chi phí và lợi ích cho từng vấn đề, rồi lập một danh sách xếp hạng các cơ hội dành cho thế giới. Phần tiếp theo là bản tóm lược những kết luận của họ. Dĩ nhiên, những kết luận này gây tranh cãi. Tôi khuyên các bạn đọc cuộc phỏng vấn sau đây với người tổ chức Đồng thuận Copenhagen để hiểu quan điểm của ông:

http://www.crisismagazine.com/april2004/interview.htm

http://www.crisismagazine.com/april2004/interview.htm

What follows are the conclusions of the Copenhagen Consensus. The rankings of projects on a scale of good to bad might is perhaps the most controversial. I for one am surprised that the Kyoto Protocol, for which George Bush has been so criticized for not signing, is considered a bad project in terms of cost-benefit analysis by the Copenhagen Consensus.

Sau đây là những kết luận của Đồng thuận Copenhagen. Việc xếp hạng các dự án theo thang từ tốt đến xấu có lẽ là điều gây tranh cãi nhiều nhất. Riêng tôi ngạc nhiên khi Đồng thuận Copenhagen xem Nghị định thư Kyoto, mà George Bush đã bị chỉ trích rất nhiều vì không ký, là một dự án kém xét về phân tích chi phí–lợi ích.

TOP TEN CHALLENGES

MƯỜI THÁCH THỨC HÀNG ĐẦU

1. Climate change

1. Biến đổi khí hậu

2. Communicable diseases

2. Các bệnh truyền nhiễm

3. Conflicts

3. Xung đột

4. Education

4. Giáo dục

5. Financial instability

5. Bất ổn tài chính

6. Governance and corruption

6. Quản trị và tham nhũng

7. Malnutrition and hunger

7. Suy dinh dưỡng và nạn đói

8. Population migration

8. Di cư dân số

9. Sanitation and water

9. Vệ sinh và nước

10. Subsidies and trade barriers

10. Trợ cấp và rào cản thương mại

SOLUTIONS BASED ON COST-BENEFIT ANALYSIS

CÁC GIẢI PHÁP DỰA TRÊN PHÂN TÍCH CHI PHÍ–LỢI ÍCH

Very good projects:

Các dự án rất tốt:

1. Diseases (control of HIV / AIDS

1. Bệnh tật (kiểm soát HIV / AIDS

2. Malnutrition (providing micronutrients)

2. Suy dinh dưỡng (cung cấp vi chất dinh dưỡng)

3. Subsidies and Trade Barriers (Trade liberalization)

3. Trợ cấp và rào cản thương mại (tự do hóa thương mại)

4. Diseases (control of malaria)

4. Bệnh tật (kiểm soát bệnh sốt rét)

Good projects:

Các dự án tốt:

5. Malnutrition (develop new agriculture technologies)

5. Suy dinh dưỡng (phát triển các công nghệ nông nghiệp mới)

6. Water and Sanitation (small scale water technology)

6. Nước và vệ sinh (công nghệ nước quy mô nhỏ)

7. Water and Sanitation (community-managed water supply & sanitation

7. Nước và vệ sinh (cấp nước & vệ sinh do cộng đồng quản lý

8. Water and Sanitation (research on water productivity in food production)

8. Nước và vệ sinh (nghiên cứu hiệu quả sử dụng nước trong sản xuất lương thực)

9. Governance and Corruption (lowering of cost of starting a new business)

9. Quản trị và tham nhũng (giảm chi phí thành lập doanh nghiệp mới)

Fair Projects:

Các dự án khá:

10. Migration (lowering barriers to migration for skilled workers)

10. Di cư (giảm rào cản di cư đối với lao động có tay nghề)

11. Malnutrition (improving infant and child nutrition)

11. Suy dinh dưỡng (cải thiện dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ em)

12. Malnutrition (reducing prevalence of low birth weight)

12. Suy dinh dưỡng (giảm tỷ lệ trẻ nhẹ cân khi sinh)

13. Diseases (scaled up basic health services

13. Bệnh tật (mở rộng quy mô các dịch vụ y tế cơ bản

Bad Projects

Các dự án kém hiệu quả

14. Migration (guest worker programs for unskilled)

14. Di cư (các chương trình lao động khách dành cho người lao động không có tay nghề)

15. Climate (optimal carbon tax)

15. Khí hậu (thuế carbon tối ưu)

16. Climate (Kyoto protocol)

16. Khí hậu (Nghị định thư Kyoto)

17. Climate (value-at-risk carbon tax)

17. Khí hậu (thuế carbon dựa trên giá trị chịu rủi ro)

Humanity has never really lived up to the teaching given to it. Spiritual impression, whether conveyed by the Christ, by Krishna or by Buddha (and passed on to the masses by Their disciples) has not yet been expressed as it was hoped. Men do not live up to what they already know; they fail to make practical their information; they short-circuit the light; they do not discipline themselves; greedy desire and unlawful ambition control and not the inner knowledge.

Nhân loại chưa bao giờ thực sự sống đúng với giáo huấn đã nhận được. Ấn tượng tinh thần, dù do Đức Christ, Đức Krishna hay Đức Phật truyền đạt, rồi được các đệ tử của Các Ngài truyền lại cho quần chúng, vẫn chưa biểu hiện như mong đợi. Con người không sống đúng với những gì mình đã biết; họ không đưa kiến thức của mình vào thực hành; họ làm đoản mạch ánh sáng; họ không tự rèn luyện kỷ luật; dục vọng tham lam và tham vọng bất chính nắm quyền chi phối, thay vì tri thức bên trong.

96. This is DK’s analysis of humanity’s response to the teaching given to it by great Teachers such as the Christ, Krishna and the Buddha.

96. Đây là phân tích của Chân sư DK về sự đáp ứng của nhân loại đối với giáo huấn mà các Huấn sư vĩ đại như Đức Christ, Đức Krishna và Đức Phật đã trao cho họ.

97. Apparently the Spiritual Hierarchy had certain hopes concerning humanity’s response, but the response has simply not measured up to Hierarchy’s hope. We have, in some ways, all been implicated in this failure, for all of us have been in incarnation numerous times during the past five thousand years since the time of Krishna.

97. Dường như Thánh đoàn đã có những hy vọng nhất định về sự đáp ứng của nhân loại, nhưng sự đáp ứng ấy đơn giản là chưa đạt được điều Thánh đoàn hy vọng. Theo một vài phương diện, tất cả chúng ta đều có phần trách nhiệm trong thất bại này, vì tất cả chúng ta đều đã lâm phàm nhiều lần trong năm nghìn năm qua, kể từ thời Đức Krishna.

98. We are given very strong advice here; hopefully it is not coming too late for the redemption of humanity:

98. Ở đây, chúng ta nhận được lời khuyên rất mạnh mẽ; hy vọng lời khuyên ấy chưa đến quá muộn đối với công cuộc cứu chuộc nhân loại:

a. Live up to what you already know

a. Hãy sống đúng với những gì các bạn đã biết

b. Make practical application of the spiritual information give to you

b. Hãy áp dụng vào thực tiễn những kiến thức tinh thần đã truyền cho các bạn

c. Do not short-circuit the light

c. Đừng làm đoản mạch ánh sáng

d. Discipline yourselves

d. Hãy tự rèn luyện kỷ luật

e. Let inner knowledge control and not unlawful ambition and greedy desire

e. Hãy để tri thức bên trong nắm quyền chi phối, thay vì tham vọng bất chính và dục vọng tham lam

99. DK’s words amount to an indictment of humanity’s response to a great gift of light. In the horrors of the history of the last several thousand years we can see the results of humanity’s refusal to use and apply that which it has been given.

99. Những lời của Chân sư DK chẳng khác nào một bản cáo trạng về sự đáp ứng của nhân loại trước một món quà ánh sáng vĩ đại. Trong những điều kinh hoàng của lịch sử suốt mấy nghìn năm qua, chúng ta có thể thấy những hậu quả của việc nhân loại khước từ sử dụng và áp dụng những gì họ đã nhận được.

To put it scientifically and from the esoteric angle: Spiritual impression has been interrupted and there has been interference with the divine circulatory flow. It is the task of the disciples of the world to restore this flow and to stop this interference. This is the major problem facing the Ashrams at this time.

Nói một cách khoa học và từ góc độ nội môn: Ấn tượng tinh thần đã bị gián đoạn và dòng lưu chuyển thiêng liêng đã gặp sự cản trở. Nhiệm vụ của các đệ tử trên thế giới là khôi phục dòng lưu chuyển này và chấm dứt sự cản trở ấy. Đây là vấn đề chủ yếu mà các Ashram đang đối diện vào lúc này.

100. From an occult perspective we are given an insight into a major problem of humanity—the restoration of the Divine Circulatory Flow.

100. Từ góc nhìn huyền bí học, chúng ta có được sự thấu hiểu về một vấn đề chủ yếu của nhân loại—việc khôi phục Dòng Lưu Chuyển Thiêng Liêng.

101. We can recognize that this “flow” is related to the sign Aquarius (which rules all manner of circulation), and it will be the task of humanity (and especially of the disciples in humanity) aided by Hierarchy to restore this flow during the Aquarian Age.

101. Chúng ta có thể nhận ra rằng “dòng lưu chuyển” này liên quan đến dấu hiệu Bảo Bình (vốn cai quản mọi hình thức lưu chuyển), và trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, nhân loại (đặc biệt là các đệ tử trong nhân loại), với sự trợ giúp của Thánh đoàn, sẽ có nhiệm vụ khôi phục dòng lưu chuyển này.

102. We all realize that should the circulation in a human physical body be interrupted, many types of disease may result and the body, itself, may be in peril of its life. The same is true of humanity and today we are directly witnessing this jeopardy.

102. Tất cả chúng ta đều nhận ra rằng nếu sự tuần hoàn trong thể xác con người bị gián đoạn, nhiều loại bệnh có thể phát sinh và chính thể xác ấy có thể lâm nguy đến tính mạng. Điều này cũng đúng với nhân loại, và ngày nay chúng ta đang trực tiếp chứng kiến mối nguy ấy.

This year, I will make clear to you what work is asked of the group in relation to the planned group work, the group [49] meditation and the group thinking; the rules then laid down will hold good for all future years, though their fulfilment is necessarily optional, as you are free disciples, working under the new rules, and are adult aspirants.

Năm nay, Tôi sẽ làm rõ cho các bạn công việc mà nhóm được yêu cầu thực hiện liên quan đến công việc nhóm theo kế hoạch, việc tham thiền [49] nhóm và tư duy nhóm; những quy luật được đề ra khi ấy sẽ tiếp tục có hiệu lực trong mọi năm về sau, dù việc thực hiện chúng tất nhiên là tùy chọn, vì các bạn là những đệ tử tự do, làm việc theo các quy luật mới và là những người chí nguyện trưởng thành.

103. DK is planning now for the future. He will no longer supervise His group so closely. They are now “free disciples” and “adult aspirants”; He seems to be cutting the spiritual umbilical cord which is not the same as releasing the disciples from their ashramic affiliation.

103. Giờ đây, Chân sư DK đang hoạch định cho tương lai. Ngài sẽ không còn giám sát nhóm của Ngài sát sao như vậy nữa. Giờ đây, họ là những “đệ tử tự do” và những “người chí nguyện trưởng thành”; dường như Ngài đang cắt đứt sợi dây rốn tinh thần, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc giải phóng các đệ tử khỏi mối liên kết của họ với ashram.

104. What may be the nature of these “new rules” under which the chelas are working? The new process certainly seems to involve more independence.

104. Những “quy luật mới” mà các đệ tử đang tuân theo khi làm việc có thể có bản chất như thế nào? Tiến trình mới chắc chắn dường như đòi hỏi tính độc lập cao hơn.

105. The Hierarchy knows it can trust a disciple when that disciple will perform in the same manner without supervision as he would with supervision.

105. Thánh đoàn biết rằng mình có thể tin cậy một đệ tử khi người đệ tử ấy sẽ hành động theo cùng một cách khi không có sự giám sát cũng như khi y hành động dưới sự giám sát.

Your full moon work remains unchanged and I will again send a phrase chosen out of the set of phrases already given. I will change my technique somewhat and in speaking the phrase each month at our full moon contact, I will do it the day before, on the day of the full moon, and on the following day, and will also lay the emphasis upon the leading word in the phrases. If this leading word is recorded by you, the effort can be regarded as successful.

Công việc vào kỳ trăng tròn của các bạn vẫn giữ nguyên, và Tôi sẽ lại gửi một câu được chọn từ tập hợp những câu đã trao trước đây. Tôi sẽ thay đổi kỹ thuật của mình đôi chút, và khi đọc câu ấy mỗi tháng vào dịp tiếp xúc giữa chúng ta trong kỳ trăng tròn, Tôi sẽ đọc vào ngày hôm trước, vào chính ngày trăng tròn và vào ngày hôm sau; đồng thời, Tôi cũng sẽ nhấn mạnh từ chủ đạo trong các câu ấy. Nếu các bạn ghi nhận được từ chủ đạo này, có thể xem nỗ lực ấy là thành công.

106. DK is modifying the telepathic experiment. The number or days on which the phrase is spoken will be increased from one to three, and there will be an emphasis upon a leading word in the phrase. This added emphasis my give the word more telepathic ‘carrying power’.

106. Chân sư DK đang điều chỉnh cuộc thử nghiệm viễn cảm. Số ngày Ngài đọc câu ấy sẽ tăng từ một lên ba, và một từ chủ đạo trong câu sẽ được nhấn mạnh. Sự nhấn mạnh thêm này có thể giúp từ ấy có “sức truyền tải” viễn cảm lớn hơn.

107. We see DK resourcefully attempting to bring His chelas (esoterically) closer to Him.

107. Chúng ta thấy Chân sư DK đang khéo léo tìm cách đưa các đệ tử của Ngài đến gần Ngài hơn (về mặt huyền bí).

I suggest that you continue with the work, as hitherto given and undertaken, but I will give you a fuller picture of the full moon activity and purpose with some of the implications which may enable you to work with greater interest and understanding.

Tôi đề nghị các bạn tiếp tục công việc như đã được trao và thực hiện từ trước đến nay, nhưng Tôi sẽ mang đến cho các bạn một bức tranh đầy đủ hơn về hoạt động và mục đích của kỳ trăng tròn, cùng một số hàm ý có thể giúp các bạn làm việc với sự quan tâm và thấu hiểu sâu sắc hơn.

108. DK enlarges upon the Full Moon work, to deepen the interest and understanding of the chelas.

108. Chân sư DK trình bày chi tiết hơn về công việc vào kỳ Trăng Tròn, nhằm làm sâu sắc thêm sự quan tâm và thấu hiểu của các đệ tử.

The first time, my brothers, that I outlined for you the work I sought to have you do at the time of the full moon, I undertook to work with you along these lines for a preliminary period of three years, each year expanding the work somewhat until the full moon of May of the third year.

Các huynh đệ của Tôi, lần đầu tiên khi phác thảo cho các bạn công việc Tôi muốn các bạn thực hiện vào kỳ trăng tròn, Tôi đã cam kết làm việc cùng các bạn theo những đường hướng này trong một giai đoạn sơ bộ kéo dài ba năm, mỗi năm mở rộng công việc đôi chút cho đến kỳ trăng tròn tháng Năm của năm thứ ba.

109. The Full Moon work undertaken by Master DK had a definite, expansive structure. It is now time for evaluation.

109. Công việc vào kỳ Trăng Tròn mà Chân sư DK đảm nhận có một cấu trúc rõ ràng, với mức độ mở rộng dần. Giờ đây đã đến lúc đánh giá.

This period of time is now nearly completed, and today I ask you two questions:

Giai đoạn ấy nay gần hoàn tất, và hôm nay Tôi đặt cho các bạn hai câu hỏi:

1. What has this work meant to you?

1. Công việc này có ý nghĩa gì đối với các bạn?

2. Have you grasped the importance of the work to be done?

2. Các bạn đã nắm bắt được tầm quan trọng của công việc cần thực hiện chưa?

110. The questions are straightforward. In asking them, DK is hinting that His disciples have not yet fully grasped what He has attempted to do with this type of work.

110. Những câu hỏi này rất thẳng thắn. Khi đặt ra những câu hỏi ấy, Chân sư DK đang ngụ ý rằng các đệ tử của Ngài vẫn chưa nắm bắt đầy đủ điều Ngài đã cố gắng thực hiện qua loại công việc này.

There has been a purpose behind all this effort which I have made, and an experiment of importance has been carried forward in preparation for the coming New Age activity.

Đằng sau mọi nỗ lực này của Tôi đều có một mục đích, và một cuộc thử nghiệm quan trọng đã được tiến hành để chuẩn bị cho hoạt động trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến.

111. This is as we might expect. One of the methods used by the Masters is to introduce an activity explaining it somewhat; ask that that activity be carried out by His chelas; later question the chelas on their understanding of what they have done; and then, suggest a deeper import to the activity than had been anticipated by any of them.

111. Điều này đúng như chúng ta có thể dự liệu. Một trong những phương pháp các Chân sư sử dụng là giới thiệu một hoạt động và giải thích phần nào về hoạt động ấy; yêu cầu các đệ tử của mình thực hiện hoạt động đó; sau này hỏi các đệ tử xem họ hiểu thế nào về những gì mình đã làm; rồi gợi ra rằng hoạt động ấy có một ý nghĩa sâu xa hơn điều mà bất kỳ ai trong số họ đã dự liệu.

In some of the earlier instructions* I indicated that the coming world religion would be based upon a new Science of Approach and that this would, in time, supersede the present world religious formulas and ceremonials.

Trong một số huấn thị trước đây [iii]*, Tôi đã chỉ ra rằng tôn giáo thế giới tương lai sẽ dựa trên một Khoa học Tiếp Cận mới, và theo thời gian, khoa học này sẽ thay thế những công thức và nghi lễ tôn giáo hiện nay trên thế giới.

112. When thinking of the New World Religion and its contrast from old forms of religious procedure, a new Science of Approach is the distinguishing factor. It will be a scientific Approach and we shall see science and religion joining forces to strengthen humanity’s spirituality.

112. Khi suy xét về Tôn Giáo Thế Giới Mới và sự khác biệt của tôn giáo ấy so với những hình thức thực hành tôn giáo cũ, một Khoa học Tiếp Cận mới chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt. Đó sẽ là một sự Tiếp Cận mang tính khoa học và chúng ta sẽ thấy khoa học cùng tôn giáo hợp lực để củng cố đời sống tinh thần của nhân loại.

Hence the importance of the efforts now being made by disciples in these new seed groups. They are in reality occupied with the [50] process of anchoring upon earth a new religious idea or concept, a seed thought or germ of a new activity which (at some later date) will bear fruit and inaugurate a new method of drawing nearer to God.

Vì vậy, những nỗ lực mà các đệ tử trong các nhóm hạt giống mới này đang thực hiện có tầm quan trọng lớn lao. Thực ra, họ đang tham gia vào [50] tiến trình neo giữ trên Trái Đất một ý tưởng hay quan niệm tôn giáo mới, một tư tưởng hạt giống hay mầm sống của một hoạt động mới, mà về sau sẽ đơm hoa kết quả và mở ra một phương pháp mới để đến gần Thượng đế hơn.

113. DK links the Seed Group efforts with “a new religious idea or concept”. All such processes will help humanity draw closer to God.

113. Chân sư DK liên kết những nỗ lực của Nhóm Hạt Giống với “một ý tưởng hay quan niệm tôn giáo mới”. Mọi tiến trình như vậy sẽ giúp nhân loại đến gần Thượng đế hơn.

114. These words seem to place the religious dimension of the Seed Group Initiative in a high place.

114. Những lời này dường như đề cao phương diện tôn giáo của Sáng Kiến Nhóm Hạt Giống.

115. We know that there exists a triangle between humanity, Hierarchy and Shamballa, but that this triangle is incomplete and not equilibrised. We can think of the completion of this triangle as the union of God with man and man with God. We can also think of it in terms of establishing the planetary prototype of the Divine Circulatory Flow.

115. Chúng ta biết rằng có một tam giác giữa nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa, nhưng tam giác này chưa hoàn chỉnh và chưa cân bằng. Chúng ta có thể xem việc hoàn thiện tam giác này là sự hợp nhất của Thượng đế với con người và của con người với Thượng đế. Chúng ta cũng có thể suy xét điều ấy theo nghĩa thiết lập nguyên mẫu hành tinh của Dòng Lưu Chuyển Tuần Hoàn Thiêng Liêng.

It might be of value to all disciples if I here analysed the three years’ work intended to be done during the full moon periods as outlined to you by me. Each year saw an addition to or expansion of the work and an enlargement of the concept. I seek now to make it all clearer to you, thus laying the foundation for the work to be done during the coming years, if you desire to continue with the work.

Có lẽ sẽ hữu ích cho mọi đệ tử nếu tại đây Tôi phân tích công việc dự định thực hiện trong ba năm vào các kỳ trăng tròn, như Tôi đã phác thảo cho các bạn. Mỗi năm đều có sự bổ sung hoặc mở rộng công việc và mở rộng quan niệm. Giờ đây, Tôi muốn làm sáng tỏ tất cả những điều ấy cho các bạn, qua đó đặt nền móng cho công việc cần thực hiện trong những năm sắp tới, nếu các bạn mong muốn tiếp tục công việc này. Để được rõ ràng, chúng ta hãy sắp xếp các huấn thị này thành từng mục.

116. We note how much responsibility DK is placing upon the shoulders of His chelas. He is saying that it is up to them if they wish to continue the work. Clearly, it is His hope that they will do so.

116. Chúng ta nhận thấy Chân sư DK đang đặt lên vai các đệ tử của Ngài trách nhiệm lớn đến mức nào. Ngài đang nói rằng việc họ có muốn tiếp tục công việc hay không là tùy ở họ. Rõ ràng, Ngài hy vọng họ sẽ tiếp tục.

117. We note as well the procedure of clearly analyzing the past so that it will provide a proper foundation for new initiatives.

117. Chúng ta cũng ghi nhận phương pháp phân tích rõ ràng những gì đã qua để tạo nền tảng thích hợp cho những sáng kiến mới.

118. We break the commentary here, and will resume the discussion of the three year’s work when we undertake the preparation of Commentary #30.

118. Chúng ta tạm dừng phần bình giảng tại đây và sẽ tiếp tục thảo luận về công việc trong ba năm khi bắt tay vào soạn Bài Bình Giảng #30.

119. Our next section will continue an analysis of the meditation work which accompanies the New Seed Group Work

119. Phần tiếp theo của chúng ta sẽ tiếp tục phân tích công việc tham thiền đi kèm với Công Việc của Nhóm Hạt Giống Mới

Commentary 30

[51-59]

(Underlining, Highlighting and Bolding, MDR)

(Read this Material Carefully as it holds the key to really understanding the Full Moon Work)

1. We now continue from Commentary #29: DK is reviewing the structure of the Full Moon work intended to be done in the three years ending in November of 1944, thus taking us back to 1941.

1. Giờ đây, chúng ta tiếp tục từ Bài Bình Giảng #29: Chân sư DK đang xem xét lại cấu trúc công việc Trăng Tròn dự kiến thực hiện trong ba năm kết thúc vào tháng Mười Một năm 1944, qua đó đưa chúng ta trở lại năm 1941.

2. Please refer back to Commentary #29 to pick up the threads of the discussion.

2. Xin xem lại Bài Bình Giảng #29 để nối lại mạch thảo luận.

3. The following is a repeat of the paragraph which introduced this section:

3. Sau đây là phần nhắc lại đoạn văn mở đầu phần này:

4. It might be of value to all disciples if I here analysed the three years’ work intended to be done during the full moon periods as outlined to you by me. Each year saw an addition to or expansion of the work and an enlargement of the concept. I seek now to make it all clearer to you, thus laying the foundation for the work to be done during the coming years, if you desire to continue with the work.

4. Có lẽ sẽ hữu ích cho tất cả các đệ tử nếu ở đây Tôi phân tích công việc của ba năm dự kiến thực hiện trong các kỳ trăng tròn như Tôi đã phác thảo cho các bạn. Mỗi năm, công việc lại có thêm một phần bổ sung hoặc mở rộng, và quan niệm cũng được mở rộng hơn. Giờ đây, Tôi tìm cách làm cho tất cả những điều này trở nên rõ ràng hơn với các bạn, qua đó đặt nền tảng cho công việc sẽ thực hiện trong những năm tới, nếu các bạn mong muốn tiếp tục công việc này.

Let us get these instructions into tabular form for the sake of clarity.

Chúng ta hãy trình bày những huấn thị này dưới dạng bảng cho rõ ràng.

1. The first thing which I emphasised to you was that this was a group endeavour, and that its success depended upon the group fusion, the group love and the group understanding.

1. Điều đầu tiên Tôi nhấn mạnh với các bạn là đây là một nỗ lực nhóm, và thành công của nó tùy thuộc vào sự dung hợp nhóm, tình thương nhóm và sự thấu hiểu của nhóm.

5. Always and ever in these instructions the group idea is inescapable. The energies of group fusion, group love and group understanding are indispensable. We should remember this as we seek for the methods of success in our own group work.

5. Trong những huấn thị này, lúc nào và bao giờ cũng không thể tách rời ý tưởng nhóm. Các năng lượng của sự dung hợp nhóm, tình thương nhóm và sự thấu hiểu của nhóm đều không thể thiếu. Chúng ta nên nhớ điều này khi tìm kiếm những phương pháp để thành công trong công việc nhóm của chính mình.

The success of the desired inner contact was based upon a realised group relation. It was intended to be an endeavour which would be the outgrowth of a love, stabilised in and accentuated by all the group members.

Thành công của sự tiếp xúc nội tâm mong muốn dựa trên một mối quan hệ nhóm đã được nhận biết. Nỗ lực ấy phải là kết quả tự nhiên của một tình thương mà mọi thành viên trong nhóm đều củng cố và làm sâu sắc thêm. Vì vậy,

6. We remind ourselves that this “love” is necessarily group love.

6. Chúng ta tự nhắc mình rằng “tình thương” này nhất thiết phải là tình thương nhóm.

Hence my constant reiteration of the need of love between the group members. Towards the establishing of this loving relationship, I have been working for years with all of you.

Tôi luôn nhắc lại sự cần thiết của tình thương giữa các thành viên trong nhóm. Suốt nhiều năm, Tôi đã làm việc với tất cả các bạn để thiết lập mối quan hệ thương yêu này.

7. For all his amazing knowledge, Master DK is a Master on the second ray of Love-Wisdom. It is the love energy which lies at the root of all He is attempting.

7. Dù có tri thức đáng kinh ngạc đến đâu, Chân sư DK vẫn là một Chân sư thuộc cung hai Bác Ái – Minh Triết. Chính năng lượng bác ái là nền tảng của mọi điều Ngài đang nỗ lực thực hiện.

You may perhaps have believed that I did so in order that your group work in relation to your individual endeavour might be successful. That was not the major intent.

Có lẽ các bạn đã tin rằng Tôi làm như vậy để công việc nhóm của các bạn, trong mối liên hệ với nỗ lực cá nhân, có thể thành công. Đó không phải là ý định chủ yếu.

8. The disciples were ever ready to interpret the Master’s instructions in terms of their potential individual progress. Is this how we interpret?

8. Các đệ tử luôn sẵn sàng diễn giải những huấn thị của Chân sư theo sự tiến bộ cá nhân mà họ có thể đạt được. Chúng ta có diễn giải theo cách này không?

The forming of units for special service in organising the life forces, processes and forms for the new technique of Approach to God or to the Hierarchy (which is the intermediary between spiritual reality and human life) was and is the major objective.

Việc hình thành các đơn vị phụng sự chuyên biệt nhằm tổ chức các mãnh lực sự sống, các tiến trình và hình tướng cho kỹ thuật mới để Tiếp Cận Thượng đế hay Thánh đoàn, vốn là trung gian giữa thực tại tinh thần và đời sống con người, đã và vẫn là mục tiêu chủ yếu.

9. Master DK discriminates between major and minor objectives. Individual objectives are always secondary.

9. Chân sư DK phân biệt các mục tiêu chính và phụ. Các mục tiêu cá nhân luôn là thứ yếu.

10. We note the meaning of “spiritual reality” and that it is (interestingly) not found on the plane on which Hierarchy functions. “Spiritual reality” often pertains to the spiritual triad (on which plane the Hierarchy does function) but (in this instance) it pertains more specifically to the Monad and to Shamballa (implicating the first two subplanes of the cosmic physical plane—planes on which Hierarchy is not focussed).

10. Chúng ta lưu ý ý nghĩa của “thực tại tinh thần” và điều thú vị là thực tại ấy không hiện diện trên cõi mà Thánh đoàn hoạt động. “Thực tại tinh thần” thường liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần (trên cõi ấy, Thánh đoàn quả có hoạt động), nhưng (trong trường hợp này) thực tại ấy liên quan cụ thể hơn đến Chân thần và Shamballa (hàm ý hai cõi phụ đầu tiên của cõi hồng trần vũ trụ—những cõi mà Thánh đoàn không tập trung hoạt động).

Upon this statement I would ask you to ponder with renewed interest. Your interpretations are so often motivated by an unrealised spiritual selfishness and an undue emphasis upon your specific group importance.

Tôi đề nghị các bạn suy ngẫm về lời khẳng định này với sự quan tâm mới mẻ. Những cách diễn giải của các bạn rất thường xuất phát từ một sự ích kỷ tinh thần mà các bạn chưa nhận ra, cùng với việc nhấn mạnh quá mức tầm quan trọng của nhóm riêng mình.

11. Spiritual selfishness would not be so great a threat to our work together if it were realized. The Master sees much more in us than we see of ourselves. We tend to think that our problems are not so deep or that we are more aware of them than we really are; He knows otherwise. When the true sources of our motivation are revealed to us (either by the Master or by an increasing depth of self-understanding) we are often shocked.

11. Sự ích kỷ tinh thần sẽ không đe dọa lớn đến thế đối với công việc chung của chúng ta nếu chúng ta nhận ra nó. Chân sư thấy ở chúng ta nhiều điều hơn hẳn những gì chúng ta tự thấy ở mình. Chúng ta có xu hướng nghĩ rằng những vấn đề của mình không sâu xa đến thế, hoặc rằng mình nhận biết chúng rõ hơn mức thực sự nhận biết; Ngài biết sự thật khác hẳn. Khi chúng ta thấy rõ những nguồn gốc thực sự của động cơ thúc đẩy mình (nhờ Chân sư chỉ ra hoặc nhờ sự thấu hiểu bản thân ngày càng sâu sắc), chúng ta thường sửng sốt.

12. It is the group that is of importance; it is not we who are of importance in relation to the group. The subduing of the ego is a tremendous process; metaphorically (and in the language of the Labours of Hercules ) the “Lion” is ever escaping from the second entrance of the ‘cave of confrontation’. Our own egoism so often escapes detection.

12. Chính nhóm mới quan trọng; trong mối quan hệ với nhóm, điều quan trọng không phải là chúng ta. Việc chế ngự cái tôi là một tiến trình vô cùng lớn lao; theo nghĩa ẩn dụ (và theo ngôn ngữ của Các Kỳ Công của Hercules), “Sư Tử” luôn thoát ra qua lối vào thứ hai của ‘hang động đối diện’. Chúng ta rất thường không phát hiện được tính vị kỷ của chính mình.

The groups are simply the field for hierarchical expression, and weare not yet convinced that the expenditure of force on our part is warranted by the results achieved.

Các nhóm chỉ đơn giản là lĩnh vực để Thánh đoàn biểu hiện, và chúng tôi vẫn chưa tin chắc rằng những kết quả đạt được xứng đáng với mãnh lực mà chúng tôi đã bỏ ra.

13. The word “we”, as used here, means the Masters who are supervising this project. Among them would be, certainly, Masters KH and M.

13. Từ “chúng tôi” dùng ở đây chỉ các Chân sư đang giám sát dự án này. Chắc chắn trong số đó có Chân sư KH và Chân sư M.

The group members have been primarily [51] occupied with the registering of the more phenomenal results and with what they, as individuals, sensed, and have neglected to pay due attention to the inner group relation which is the only thing of major importance.

Các thành viên trong nhóm chủ yếu [51] bận tâm ghi nhận những kết quả mang tính hiện tượng nổi bật hơn và những gì họ cảm nhận với tư cách cá nhân, mà đã lơ là việc chú ý đúng mức đến mối quan hệ nội tâm của nhóm, vốn là điều duy nhất có tầm quan trọng chủ yếu.

14. The advice here given by the Master applies directly to our own approach. Students tend to emphasize the phenomenal and not the essential or noumenal.

14. Lời khuyên Chân sư đưa ra ở đây áp dụng trực tiếp cho cách tiếp cận của chính chúng ta. Các đạo sinh có xu hướng nhấn mạnh khía cạnh hiện tượng mà không chú trọng khía cạnh cốt yếu hay bản thể.

15. Over and again the importance of the theme of “group relation” is emphasized.

15. Tầm quan trọng của chủ đề “mối quan hệ nhóm” được nhấn mạnh hết lần này đến lần khác.

It is the only thing which will release the stored up energy on the subjective side.

Đó là điều duy nhất sẽ giải phóng năng lượng tích trữ ở phương diện chủ quan.

16. This is an interesting sentence. Apparently there is considerable energy which can be released if right group relation is cultivated. This is an Aquarian idea; the wholeness of the rightly functioning group can release an energy far greater than that released by the sum of its parts.

16. Đây là một câu thú vị. Dường như có một lượng năng lượng đáng kể có thể được giải phóng nếu vun bồi mối quan hệ nhóm đúng đắn. Đây là một ý tưởng mang tính Bảo Bình; tính toàn vẹn của một nhóm hoạt động đúng đắn có thể giải phóng một năng lượng lớn hơn nhiều so với năng lượng do tổng các thành phần của nhóm giải phóng.

2. The second factor of importance is deep recognition of the subjective reality of the spiritual world. I, in myself, as you thought of me, am only the symbol of that world, as are other Masters, focussed—as channels of contact and service—in the Hierarchy.

2. Yếu tố quan trọng thứ hai là sự nhận biết sâu sắc về thực tại chủ quan của thế giới tinh thần. Bản thân Tôi, theo cách các bạn hình dung về Tôi, chỉ là biểu tượng của thế giới ấy, cũng như các Chân sư khác, quy tụ trong Thánh đoàn với vai trò những kênh tiếp xúc và phụng sự.

17. We have a most interesting point of view concerning the nature of a Master—the Master as a symbol of the spiritual world. This is far from consideration of the Master as an object of devotion or as an end in Himself.

17. Chúng ta có một quan điểm hết sức thú vị về bản chất của một Chân sư—Chân sư như một biểu tượng của thế giới tinh thần. Quan điểm này khác xa với việc xem Chân sư là đối tượng của lòng sùng tín hay xem chính Ngài là mục đích tối hậu.

You, as a group, unitedly and together, were asked to approach me and to contact me just as, in the coming New Age, the churches of the future will (at the full moon period) make a definite approach to the Hierarchy in order to

Với tư cách một nhóm, các bạn đã được yêu cầu hợp nhất và cùng nhau tiếp cận Tôi, tiếp xúc với Tôi, cũng như trong Kỷ Nguyên Mới sắp tới, các giáo hội tương lai sẽ thực hiện một sự tiếp cận rõ rệt với Thánh đoàn vào kỳ trăng tròn, nhằm

18. We see the manner in which the requirements placed before the group by Master DK prefigured an aspect of the New World Religion—the correct approach of the churches to the Hierarchy.

18. Chúng ta thấy những yêu cầu Chân sư DK đặt ra cho nhóm đã báo trước một phương diện của Tôn Giáo Thế Giới Mới như thế nào—sự tiếp cận đúng đắn của các giáo hội với Thánh đoàn.

a. Intensify their spiritual life by the bringing in of spiritual force, with deliberation and consciously.

a. Tăng cường đời sống tinh thần bằng cách đưa mãnh lực tinh thần vào một cách có chủ đích và có ý thức.

19. One great advantage of correctly approaching the Hierarchy is given. This is so for both groups of disciples and, later, for the churches of the future.

19. Một lợi ích lớn của việc tiếp cận Thánh đoàn đúng đắn đã được nêu ra. Điều này đúng với cả các nhóm đệ tử lẫn các giáo hội tương lai về sau.

20. In case anyone had wondered whether there would actually be churches in the future, the question seems answered.

20. Nếu có ai từng tự hỏi liệu trong tương lai có thực sự còn các giáo hội hay không, thì dường như câu hỏi ấy đã có lời giải đáp.

21. We note that the churches will definitely be active at the time of the Full Moon. Most church members today would find this a fanciful idea—at best.

21. Chúng ta lưu ý rằng các giáo hội chắc chắn sẽ hoạt động vào thời điểm Trăng Tròn. Ngày nay, phần lớn tín đồ các giáo hội có lẽ sẽ cho rằng ý tưởng này, cùng lắm, cũng chỉ là chuyện viển vông.

22. We also note that the approach of the churches to the Hierarchy will be deliberate (definitely willed) and conscious.

22. Chúng ta cũng lưu ý rằng các giáo hội sẽ tiếp cận Thánh đoàn một cách có chủ đích (bằng ý chí rõ rệt) và hữu thức.

b. Achieve spiritual illumination through contact with the powerhouse of light, the Hierarchy.

b. Đạt được sự soi sáng tinh thần qua việc tiếp xúc với nguồn phát ánh sáng đầy uy lực là Thánh đoàn.

23. The membership of the many churches does not usually think, today, in terms of access to light. This spiritual illumination will descend from soul, triad and Hierarchy.

23. Ngày nay, tín đồ của nhiều giáo hội thường không nghĩ đến việc tiếp cận ánh sáng. Sự soi sáng tinh thần này sẽ giáng xuống từ linh hồn, Tam Nguyên Tinh Thần và Thánh đoàn.

24. It would seem that the churches will pay much more attention to the mental dimension than is presently the case.

24. Dường như các giáo hội sẽ chú trọng đến chiều kích trí tuệ nhiều hơn hẳn hiện nay.

25. We should remember that Hierarchy is also a great source of power. This is not only true for Shamballa. Hierarchy is a “powerhouse of light”. This is a great idea.

25. Chúng ta nên nhớ rằng Thánh đoàn cũng là một nguồn quyền năng lớn lao. Điều này không chỉ đúng với Shamballa. Thánh đoàn là một “nguồn phát ánh sáng đầy uy lực”. Đây là một ý tưởng lớn lao.

c. Store up strength for increased dynamic activity for an ensuing period of service.

c. Tích trữ sức mạnh để gia tăng hoạt động năng động cho một giai đoạn phụng sự tiếp theo.

26. The first ray aspects of Hierarchy are being emphasized. Hierarchy is not only a source of light and love but of great strength.

26. Những phương diện cung một của Thánh đoàn đang được nhấn mạnh. Thánh đoàn không chỉ là nguồn ánh sáng và tình thương mà còn là nguồn sức mạnh lớn lao.

27. We should perhaps remember that our empowerment descends from above.

27. Có lẽ chúng ta nên nhớ rằng quyền năng mà chúng ta nhận được tuôn xuống từ bên trên.

d. Bring about a fusion between the objective and subjective life of humanity.

d. Tạo nên sự dung hợp giữa đời sống khách quan và chủ quan của nhân loại.

28. Hierarchy holds the secret of fusion. The objective and subjective life of humanity are presently quite split. To use the common illustration, many people go to church on Sunday, and then live the rest of the week as if they had not been there at all.

28. Thánh đoàn nắm giữ bí quyết dung hợp. Hiện nay, đời sống khách quan và chủ quan của nhân loại khá tách biệt. Lấy một ví dụ quen thuộc, nhiều người đến nhà thờ vào Chủ nhật, rồi sống những ngày còn lại trong tuần như thể họ chưa hề đến đó.

29. Hierarchy seeks to promote a factual fusion of ‘inner’ and ‘outer’ in the lives of its disciples and, eventually, in the churches (by which so many people are conditioned).

29. Thánh đoàn tìm cách thúc đẩy một sự dung hợp thực sự giữa ‘bên trong’ và ‘bên ngoài’ trong đời sống các đệ tử của mình, và cuối cùng, trong các giáo hội (vốn có ảnh hưởng định hình rất nhiều người).

30. The question of a successful fusion of ‘inner’ and ‘outer’ is a question of integrity.

30. Vấn đề dung hợp thành công ‘bên trong’ và ‘bên ngoài’ là vấn đề về tính toàn vẹn.

3. This leads to a Technique of Approach, based upon the realisation of the above objectives, to an effort to see me (as I symbolise for you the spiritual vision), and to the establishing of a pathway of Approach, symbolised in the ritual I gave you as a golden band of light.

3. Điều này dẫn đến một Kỹ thuật Tiếp Cận, dựa trên sự nhận biết những mục tiêu nêu trên, đến một nỗ lực nhìn thấy Tôi, vì đối với các bạn, Tôi tượng trưng cho tầm nhìn tinh thần, và đến việc thiết lập một con đường Tiếp Cận, được biểu thị trong nghi thức Tôi đã trao cho các bạn bằng một dải ánh sáng vàng kim.

31. Hierarchy is interested in teaching its disciples to approach it correctly. On a slightly lower turn of the spiral, the Master is interested in teaching His disciples to approach Him and His Ashram correctly.

31. Thánh đoàn quan tâm đến việc dạy các đệ tử của mình tiếp cận Thánh đoàn đúng cách. Trên một vòng xoắn ốc thấp hơn đôi chút, Chân sư quan tâm đến việc dạy các đệ tử của Ngài tiếp cận Ngài và Ashram của Ngài đúng cách.

32. The Ashram and the outer groups of disciples are to be fused and blended. To simply speak of the Ashram without merging with it proves that the Ashram is not a real factor in the life of the one speaking.

32. Ashram và các nhóm đệ tử bên ngoài phải dung hợp và hòa quyện với nhau. Chỉ đơn thuần nói về ashram mà không hòa nhập với ashram chứng tỏ rằng ashram không phải là một yếu tố thực sự trong đời sống của người đang nói.

This you were to visualise as extending between yourselves, as a group, to your Tibetan brother.

Các bạn phải hình dung dải ánh sáng này trải dài từ chính các bạn, với tư cách một nhóm, đến người huynh đệ Tây Tạng của các bạn.

33. We notice the word, “brother”. DK keeps before His students the notion that He is to them both a Master and a brother.

33. Chúng ta chú ý đến từ “huynh đệ”. Chân sư DK luôn nhắc các môn sinh của Ngài nhớ rằng đối với họ, Ngài vừa là một Chân sư vừa là một huynh đệ.

This pathway of Approach is the Path which it is planned should constitute a more familiar symbol than has hitherto been the case in the religious life of the race.

Con đường Tiếp Cận này là Đường Đạo mà theo dự định sẽ trở thành một biểu tượng quen thuộc hơn trước đây trong đời sống tôn giáo của nhân loại.

34. We can see that Master DK is proposing for His discipleship groups the use of certain symbols which will later gain a far broader utility.

34. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đang đề xuất cho các nhóm đệ tử của Ngài việc sử dụng một số biểu tượng mà sau này sẽ có phạm vi ứng dụng rộng lớn hơn nhiều.

35. We are given hints, therefore, concerning the method of work pursued by a Master. Experimentation on a small scale will proceed the full-blown offering of a technique to greater numbers of people.

35. Do đó, chúng ta nhận được những gợi ý về phương pháp làm việc của một Chân sư. Việc thử nghiệm trên quy mô nhỏ sẽ đi trước việc giới thiệu một kỹ thuật hoàn chỉnh đến đông đảo mọi người hơn.

4. This pathway of light leads to the heart of a dark blue disk at the very centre of which you were told I could be contacted.

4. Con đường ánh sáng này dẫn đến tâm điểm của một đĩa màu lam sẫm, và các bạn đã được cho biết rằng ngay tại trung tâm của đĩa ấy, các bạn có thể tiếp xúc với Tôi.

36. Whether or not dark blue (or indigo) is to be considered an “exoteric” color with respect to the second ray, at least as it is used here, it has a very esoteric significance.

36. Dù màu lam sẫm (hay màu chàm) có được xem là một màu “ngoại môn” đối với cung hai hay không, thì ít nhất theo cách sử dụng ở đây, màu ấy mang một thâm nghĩa rất nội môn.

Those of you who are in any way adept at meditation work know well that the light in the head—when seen and [52] recognised—passes usually through three stages of intensification:

Những ai trong các bạn có phần thành thạo công việc tham thiền đều biết rõ rằng ánh sáng trong đầu, khi được nhìn thấy và [52] nhận biết, thường trải qua ba giai đoạn tăng cường:

37. DK now relates the blue disk to the growth of the phenomenon of the light in the head.

37. Giờ đây, Chân sư DK liên hệ đĩa màu lam với sự phát triển của hiện tượng ánh sáng trong đầu.

38. Is the Master suggesting that those who are in any way “adept” at meditation will definitely experience this light? Are we “adept” at meditation?

38. Có phải Chân sư đang gợi ý rằng những ai có phần “thành thạo” tham thiền chắc chắn sẽ trải nghiệm ánh sáng này? Chúng ta có “thành thạo” tham thiền không?

a. It is, first of all, a diffused light, surrounding the head, discovered later within the head and producing an inner radiance, which is the rudimentary halo.

a. Trước hết, đó là một ánh sáng khuếch tán bao quanh đầu, về sau được phát hiện bên trong đầu và tạo nên một sự tỏa sáng bên trong, vốn là hào quang sơ khai.

39. A nebular state precedes a more concentrated demonstration.

39. Một trạng thái dạng tinh vân xuất hiện trước một sự biểu hiện tập trung hơn.

40. We are here given the rudiments of the “halo” by which, in the popular mind, the saints are distinguished.

40. Ở đây, chúng ta được cho biết những nét sơ khai của “hào quang” mà trong quan niệm phổ biến, người ta dùng để nhận biết các vị thánh.

41. It becomes clear that whatever light demonstration may appear in a diffused manner surrounding the head originates within the head.

41. Điều này cho thấy rõ rằng bất kỳ biểu hiện ánh sáng nào xuất hiện theo cách khuếch tán quanh đầu đều bắt nguồn từ bên trong đầu.

b. This diffused light then consolidates and becomes an inner radiant sun.

b. Sau đó, ánh sáng khuếch tán này tập trung lại và trở thành một mặt trời rạng rỡ bên trong.

42. The process is very similar to the development of a sun or planet from a preliminary nebular state.

42. Tiến trình này rất giống với sự phát triển của một mặt trời hay hành tinh từ trạng thái tinh vân sơ khởi.

c. Finally, at the centre of that sun, a point of dark blue, or a small indigo disk, appears. This is, in reality, the exit in the head through which the soul passes out of the world of phenomenal existence, and it is the symbol of the path or the door into the kingdom of God. This is the symbolical interpretation of the phenomena.

c. Cuối cùng, tại trung tâm mặt trời ấy xuất hiện một điểm màu lam sẫm, hay một đĩa nhỏ màu chàm. Thực ra, đây là lối thoát trong đầu mà qua đó linh hồn rời khỏi thế giới hiện tồn mang tính hiện tượng, và đó là biểu tượng của con đường hay cánh cửa vào Thiên Giới. Đây là cách diễn giải mang tính biểu tượng về các hiện tượng ấy.

43. An important piece of occultism is here given.

43. Ở đây, một nội dung huyền bí học quan trọng được trình bày.

44. The two colors, yellow and dark blue, both pertain to the buddhic energy. Buddhi (ruled in part by Neptune) is an energy through which exit or escape can be effected.

44. Hai màu vàng và lam sẫm đều liên quan đến năng lượng Bồ đề. Bồ đề (do Sao Hải Vương cai quản một phần) là một năng lượng mà qua đó có thể thực hiện việc thoát ra hay giải thoát.

45. We are reminded that the “kingdom of God” does not exist in the world of phenomenal existence and that, to enter it, one must escape from this lower world.

45. Điều này nhắc chúng ta nhớ rằng “Thiên Giới” không tồn tại trong thế giới hiện tồn mang tính hiện tượng và muốn bước vào đó, người ta phải thoát khỏi thế giới thấp này.

46. By telling us that there is a “symbolical interpretation of the phenomena”, DK also suggests that there is a literal, factual interpretation.

46. Khi cho chúng ta biết rằng có một “cách diễn giải mang tính biểu tượng về các hiện tượng”, Chân sư DK cũng gợi ý rằng có một cách diễn giải theo nghĩa đen, dựa trên sự thực.

47. A deep search for revelation within the “indigo disk” would probably repay most meditators with increasing insight.

47. Việc tìm kiếm sâu xa sự mặc khải bên trong “đĩa màu chàm” có lẽ sẽ đem lại cho phần lớn những người hành thiền sự thấu suốt ngày càng sâu sắc.

As the group approaches nearer and nearer to reality, the pathway or the band of light shortens (symbolically) and in time, when you are expert in this work and when your spiritual nature is truly intensified, you will enter almost immediately into, or through, the disk of blue and become aware of the higher consciousness, or divinity.

Khi nhóm ngày càng tiến gần thực tại, con đường hay dải ánh sáng sẽ ngắn lại theo nghĩa biểu tượng; và theo thời gian, khi các bạn thành thạo công việc này và bản chất tinh thần của các bạn thực sự được tăng cường, các bạn sẽ gần như lập tức đi vào hoặc xuyên qua đĩa màu lam ấy và nhận biết tâm thức cao hơn, hay thiên tính.

48. The path or band of golden light may be considered symbolic of the antahkarana. It is, astrologically, Mercury leading to the Sun. There naturally comes a time when Mercury and the Sun are one, and the path of approach is no longer needed.

48. Có thể xem con đường hay dải ánh sáng vàng kim là biểu tượng của antahkarana. Về mặt chiêm tinh, đó là Sao Thủy dẫn đến Mặt Trời. Đương nhiên sẽ đến lúc Sao Thủy và Mặt Trời là một, và con đường tiếp cận không còn cần thiết nữa.

49. DK is telling us something interesting about the ‘shortening’ of the antahkarana. It occurs as access to the soul/triad is becoming more immediate. Meditative techniques naturally take longer when first instituted.

49. Chân sư DK đang cho chúng ta biết một điều thú vị về sự ‘rút ngắn’ của antahkarana. Điều này xảy ra khi việc tiếp cận linh hồn/Tam Nguyên Tinh Thần ngày càng trở nên trực tiếp hơn. Đương nhiên, các kỹ thuật tham thiền đòi hỏi nhiều thời gian hơn khi mới bắt đầu áp dụng.

50. We note that, regardless of the soul ray, the colors gold and blue are to be visualized. There is something about the use of these colors which is fundamental to human development.

50. Chúng ta lưu ý rằng, bất kể cung linh hồn là cung nào, các màu vàng kim và lam đều cần được hình dung. Việc sử dụng những màu này có điều gì đó mang tính nền tảng đối với sự phát triển của con người.

51. Through the disk of blue both higher consciousness and divinity may be contacted. Divinity may be considered related to the spiritual triad and, even moreso, to the Spirit itself.

51. Qua đĩa màu lam, có thể tiếp xúc với cả tâm thức cao hơn lẫn thiên tính. Có thể xem thiên tính có liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần và, còn hơn thế nữa, với chính Tinh thần.

5. Three things are, at this stage, essential to success:

5. Ở giai đoạn này, có ba điều thiết yếu để thành công:

a. The mind must be “held steady in the light,” and for this receptive experience all the previous work in meditation has been essential. Its positive, attentive activity has been an essential factor in producing the desired mind control.

a. Thể trí phải được “giữ vững trong ánh sáng”, và đối với trải nghiệm tiếp nhận này, mọi công việc tham thiền trước đó đều thiết yếu. Hoạt động tích cực và chú tâm của thể trí đã là một yếu tố thiết yếu để tạo nên sự kiểm soát thể trí như mong muốn.

52. We learn that there is no way to enter the worlds of higher consciousness and divinity unless the mind can be “held steady in the light”. The flitting mind blocks the doorway with its own unregulated activity.

52. Chúng ta học được rằng không có cách nào bước vào các thế giới của tâm thức cao hơn và thiên tính trừ khi thể trí có thể được “giữ vững trong ánh sáng”. Thể trí dao động liên tục chặn kín cánh cửa bằng chính hoạt động thiếu điều tiết của nó.

b. The creative imagination, involving as it does the power to visualise, has also to be developed and consciously used in obedience to instruction in the early stages. This obedience has to be rendered voluntarily, even though blindly, before the true objectives can be grasped.

b. Sự tưởng tượng sáng tạo, vốn bao hàm quyền năng hình dung, cũng phải được phát triển và sử dụng có ý thức theo đúng huấn thị trong những giai đoạn đầu. Sự tuân phục này phải là tự nguyện, dù còn mù quáng, trước khi có thể nắm bắt các mục tiêu đích thực.

53. A steady mind and a well-controlled creative imagination are both necessary to the task. The imagination is to be used to visualize only certain images—not whatever the imagination might produce on its own.

53. Một thể trí vững vàng và sự tưởng tượng sáng tạo được kiểm soát tốt đều cần thiết cho nhiệm vụ này. Chỉ nên dùng sự tưởng tượng để hình dung những hình ảnh nhất định—không phải bất cứ điều gì mà sự tưởng tượng có thể tự tạo ra.

54. We note the Tibetan’s use of the word “obedience”. One wonders whether His instructions have been followed obediently.

54. Chúng ta lưu ý việc Chân sư Tây Tạng dùng từ “vâng lời”. Chúng ta tự hỏi liệu những huấn thị của Ngài đã được tuân theo một cách vâng lời hay chưa.

55. The Master knows that His chelas cannot know the entirety of the why and wherefore of His instructions. He simply asks for their voluntary acquiescence in the performance of the meditation. Since the exercise is potent, the results will take care of themselves.

55. Chân sư biết rằng các đệ tử của Ngài không thể biết trọn vẹn mọi lý do và căn nguyên đằng sau những huấn thị của Ngài. Ngài chỉ yêu cầu họ tự nguyện chấp thuận thực hành bài thiền. Vì bài tập này có hiệu lực mạnh mẽ, kết quả sẽ tự đến.

56. The Master does not demand that we do what He suggests, but expects that we will.

56. Chân sư không đòi hỏi chúng ta làm điều Ngài gợi ý, nhưng Ngài kỳ vọng rằng chúng ta sẽ làm.

c. Results must be expected and an inner sensitivity developed which will eventually obviate surprise and lead to a conscious recognition of achievement.

c. Phải mong đợi kết quả và phát triển một sự nhạy cảm nội tâm, để cuối cùng không còn ngạc nhiên và tiến đến sự nhận biết có ý thức về thành tựu.

57. We note that in the performance of this exercise, “results must be expected”. The attitude, then, is to be both positive and expectant. One is acting as if the exercise used has potency and will deliver.

57. Chúng ta lưu ý rằng khi thực hành bài tập này, “phải mong đợi kết quả”. Vì vậy, thái độ phải vừa tích cực vừa mong đợi. Chúng ta hành động như thể bài tập đang sử dụng có hiệu lực và sẽ đem lại kết quả.

58. The approach suggested is to become a natural approach, and the results encountered are to become, eventually, no longer the cause of surprise (which can be disruptive of the process).

58. Cách tiếp cận được gợi ý phải trở thành một cách tiếp cận tự nhiên, và cuối cùng, những kết quả đạt được sẽ không còn gây ngạc nhiên nữa (vì sự ngạc nhiên có thể làm gián đoạn tiến trình).

59. DK wants His students to achieve and to know that they have achieved and can achieve at will. They are being led towards occult proficiency in the Technique of Approach.

59. Chân sư DK muốn các môn sinh của Ngài đạt được thành tựu và biết rằng họ đã đạt được thành tựu và có thể đạt được thành tựu theo ý muốn. Ngài đang dẫn dắt họ đến sự thành thạo về mặt huyền bí trong Kỹ Thuật Tiếp Cận.

This sensitivity may differ according to ray and [53] type, but the general indications will be in the field of similarity and of group value.

Sự nhạy cảm này có thể khác nhau tùy theo cung và [53] loại người, nhưng những dấu hiệu chung sẽ có tính tương đồng và mang giá trị nhóm.

60. DK is telling His chelas that though the results of a growing sensitivity may differ according to ray type, the results will have enough in common to be of “group value”. There will be a commonalty of resultant recognitions. The factual presence of the Master should be one such recognition in common.

60. Chân sư DK đang nói với các đệ tử của Ngài rằng dù kết quả của sự nhạy cảm ngày càng tăng có thể khác nhau tùy theo loại cung, những kết quả ấy vẫn sẽ có đủ điểm chung để mang “giá trị nhóm”. Những nhận biết đạt được sẽ có tính chung. Sự hiện diện thực sự của Chân sư hẳn là một trong những điều được cùng nhận biết như thế.

All this was the objective of the work I outlined. Much remained to be done, and each year I have expanded the concept and laid the foundation for future work to be carried forward with steadfastness over a long period of time. A beginning has been made.

Tất cả những điều này là mục tiêu của công việc Tôi đã phác thảo. Vẫn còn nhiều việc phải làm, và mỗi năm Tôi đều mở rộng quan niệm, đặt nền móng cho công việc tương lai sẽ được tiến hành kiên định trong một thời gian dài. Một sự khởi đầu đã được thực hiện.

61. Master DK has reviewed the objective of the initial phases of the Full Moon work.

61. Chân sư DK đã xem xét lại mục tiêu của những giai đoạn đầu trong công việc Trăng Tròn.

62. That “foundation for the future”, again, relates to the use of these approaches in the churches of the future. Foundations are being laid for the establishment of the New World Religion.

62. Một lần nữa, “nền móng cho tương lai” ấy liên quan đến việc sử dụng những cách tiếp cận này trong các giáo hội tương lai. Những nền móng đang được đặt ra cho việc thiết lập Tôn Giáo Thế Giới Mới.

63. We note that that which the Master has established admits of expansion and elaboration.

63. Chúng ta lưu ý rằng những gì Chân sư đã thiết lập đều có thể được mở rộng và phát triển thêm.

64. We do notice how very carefully Master DK allows for the factor of assimilation. In this meditation work he gives only that which can be assimilated. He does not overload His chelas.

64. Chúng ta quả thực nhận thấy Chân sư DK cân nhắc rất cẩn thận yếu tố đồng hóa. Trong công việc tham thiền này, Ngài chỉ trao những gì có thể được đồng hóa. Ngài không khiến các đệ tử của Ngài quá tải.

II

II

In the second stage of the work outlined by me when you had worked for a year at this full moon activity, I began to widen the teaching and I added to the earlier technique. In the religion of the future, three years will always be given to training the youth of the period (from the ages of fifteen to eighteen) in a preparatory technique of Approach.

Trong giai đoạn thứ hai của công việc Tôi đã phác thảo, khi các bạn đã thực hiện hoạt động vào kỳ trăng tròn này được một năm, Tôi bắt đầu mở rộng giáo huấn và bổ sung cho kỹ thuật trước đó. Trong tôn giáo tương lai, người ta sẽ luôn dành ba năm để huấn luyện thanh thiếu niên của thời đại ấy, từ mười lăm đến mười tám tuổi, về một kỹ thuật Tiếp Cận dự bị.

65. The New Seed Group was an experimental group is a number of respects. New techniques were tried out through this group.

65. Nhóm Hạt Giống Mới là một nhóm thực nghiệm trên một số phương diện. Những kỹ thuật mới đã được thử nghiệm thông qua nhóm này.

66. DK seems to be offering the embryo of the three year process which will be utilized in the training of youth within the New World Religion of the future.

66. Dường như Chân sư DK đang đưa ra phôi thai của tiến trình ba năm sẽ được sử dụng để huấn luyện thanh thiếu niên trong Tôn Giáo Thế Giới Mới của tương lai.

67. The fact that the three years of techniques will relate do the training of youth might tell the disciples under training something about their stage of development.

67. Việc ba năm thực hành các kỹ thuật sẽ liên quan đến việc huấn luyện thanh thiếu niên có thể cho các đệ tử đang được huấn luyện biết đôi điều về giai đoạn phát triển của họ.

The stages in the second year’s activity were as follows:

Các giai đoạn trong hoạt động của năm thứ hai như sau:

1. The recognition by the group members of the necessity for a closer group relation within the circle of the group and with me. This is symbolic of the recognition of the world need of love, as exemplified by an attitude of goodwill and understanding, and a closer approach by humanity to the Hierarchy.

1. Các thành viên trong nhóm nhận biết sự cần thiết của một mối quan hệ nhóm mật thiết hơn trong vòng tròn của nhóm và với Tôi. Điều này tượng trưng cho sự nhận biết nhu cầu tình thương của thế giới, thể hiện qua thái độ thiện chí và thấu hiểu, cùng sự tiếp cận gần gũi hơn của nhân loại với Thánh đoàn.

68. Whereas the first year’s activity emphasized the creative imagination through the visualization of lighted forms of different colors, the second year’s activity focuses more on love.

68. Trong khi hoạt động của năm thứ nhất nhấn mạnh sự tưởng tượng sáng tạo thông qua việc hình dung các hình tướng có màu sắc khác nhau được chiếu sáng, hoạt động của năm thứ hai tập trung nhiều hơn vào tình thương.

69. A simple idea is put forward. The world stands in need of love. This must always be remembered.

69. Một ý tưởng đơn giản được đưa ra. Thế giới đang cần tình thương. Phải luôn ghi nhớ điều này.

In the past, the religious emphasis upon the esoteric side of instruction has been the approach of the individual man to the God within, to his own higher self, the soul, the first Master. In the future, the emphasis will be upon the united approach of humanity (as represented by an increasing number of groups of aspirants and disciples) to the Hierarchy.

Trong quá khứ, về mặt nội môn của giáo huấn, tôn giáo nhấn mạnh sự tiếp cận của cá nhân với Thượng đế bên trong, với chân ngã của chính mình, tức linh hồn, vị Chân sư đầu tiên. Trong tương lai, trọng tâm sẽ là sự tiếp cận hợp nhất của nhân loại với Thánh đoàn, được đại diện bằng số lượng ngày càng tăng các nhóm người chí nguyện và đệ tử.

70. Before the approach of humanity to the Hierarchy can be well established, those who represented humanity (namely “an increasing number of groups of aspirants and disciples”) must be tried out.

70. Trước khi sự tiếp cận của nhân loại với Thánh đoàn có thể được thiết lập vững chắc, những người đại diện cho nhân loại (cụ thể là “số lượng ngày càng tăng các nhóm người chí nguyện và đệ tử”) phải trải qua thử nghiệm.

71. This entire section deals with group approach. Group approach is something far broader and more beautiful than individual approach. Group approach is also something fundamentally foreign to the thinking and attitude of many, thus, it is easily discussed but put into practice only with difficulty.

71. Toàn bộ phần này bàn về sự tiếp cận của nhóm. Sự tiếp cận của nhóm rộng lớn và đẹp đẽ hơn nhiều so với sự tiếp cận của cá nhân. Sự tiếp cận của nhóm cũng là điều về cơ bản còn xa lạ với lối suy nghĩ và thái độ của nhiều người; do đó, bàn luận thì dễ nhưng đưa vào thực hành lại khó.

According to the status of the groups and their awareness and condition of illumination, so will be the grade of hierarchical Worker with Whom they will be in touch.

Tùy theo trình độ của các nhóm, sự nhận biết và mức độ soi sáng của họ mà cấp bậc của Vị Hoạt Động trong Thánh đoàn mà họ tiếp xúc sẽ tương ứng.

72. The greater the awareness and illumination of the approaching groups, the greater will be the grade of hierarchical worker they can touch. Desire and aspiration alone will not ensure this contact. It is group achievement in the field of consciousness which determines the nature of the higher contact possible.

72. Sự nhận biết và soi sáng của các nhóm đang tiếp cận càng lớn thì cấp bậc của vị hoạt động trong Thánh đoàn mà họ có thể tiếp xúc càng cao. Chỉ riêng dục vọng và khát vọng sẽ không bảo đảm sự tiếp xúc này. Chính thành tựu của nhóm trong lĩnh vực tâm thức quyết định bản chất của sự tiếp xúc cao hơn mà nhóm có thể đạt tới.

2. The recognition that in this work, true occult obedience or the intelligent response to the urge of the group soul and to the “pull” of the Hierarchy, is the next major requirement. This will produce the right carrying out of the required assigned technique and a complete refraining from [54] any interest in phenomenal results or an analysis (at this stage) of any reactions experienced. Individual analysis hinders group recognition and true realisation. This is a point to be considered and remembered.

2. Nhận biết rằng trong công việc này, yêu cầu chủ yếu tiếp theo là sự tuân phục huyền môn đích thực, hay sự đáp ứng thông minh đối với thôi thúc của hồn nhóm và “sức hút” của Thánh đoàn. Điều này sẽ dẫn đến việc thực hiện đúng kỹ thuật cần thiết đã được giao, đồng thời hoàn toàn tránh [54] mọi sự quan tâm đến kết quả hiện tượng hoặc việc phân tích, ở giai đoạn này, bất kỳ phản ứng nào đã trải nghiệm. Sự phân tích cá nhân cản trở sự nhận biết của nhóm và sự chứng nghiệm đích thực. Đây là một điểm cần xem xét và ghi nhớ.

73. “True occult obedience” is defined: “intelligent response to the urge of the group soul and to the ‘pull’ of the Hierarchy.”

73. “Sự tuân phục huyền môn đích thực” được định nghĩa là: “sự đáp ứng thông minh đối với thôi thúc của hồn nhóm và ‘sức hút’ của Thánh đoàn.”

74. It seems clear that phenomena will occur when pursuing the suggested techniques, but that any focal concern with these phenomena is detrimental to the group process.

74. Dường như rõ ràng là các hiện tượng sẽ xảy ra khi thực hành những kỹ thuật được đề nghị, nhưng bất kỳ sự tập trung chú ý nào vào những hiện tượng này đều gây bất lợi cho tiến trình của nhóm.

3. The next step which I indicated to you was that in which I pointed out that these Full Moon Approaches required one entire week of inner activity, divided as follows:

3. Bước tiếp theo Tôi đã chỉ cho các bạn là việc Tôi nêu rõ rằng những kỳ Tiếp Cận Trăng Tròn này đòi hỏi trọn một tuần hoạt động nội tâm, được phân chia như sau:

75. As disciples advance in their development, the amount of time to be given to the Full Moon process increases.

75. Khi các đệ tử tiến bộ trong sự phát triển của mình, thời gian cần dành cho tiến trình Trăng Tròn cũng tăng lên.

a. The three days prior to the full moon were to be dedicated to preparation. This preparation involved confidence, which swept the brain (the focus of the physical plane expression) into the right condition; aspiration, which held the astral body in the right attitude; and dedication, which was the intelligent process, motivated by free will and involving mental concentration, which enabled the confident aspirant to “hold the mind steady in the light.”

a. Ba ngày trước kỳ trăng tròn phải dành cho sự chuẩn bị. Sự chuẩn bị này bao gồm niềm tin vững chắc, đưa bộ não, tiêu điểm biểu hiện trên cõi hồng trần, vào trạng thái thích hợp; khát vọng, giữ thể cảm dục trong thái độ đúng đắn; và sự hiến dâng, vốn là tiến trình thông minh, được thúc đẩy bởi ý chí tự do và bao hàm sự tập trung trí tuệ, giúp người chí nguyện đầy tin tưởng có thể “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng”.

76. Three words are given as important when considering the phase of preparation for the Full Moon Work:

76. Ba từ được nêu là quan trọng khi xem xét giai đoạn chuẩn bị cho Công Việc Trăng Tròn:

a. Confidence—driving out doubt and any inhibition of right reception

a. Niềm tin vững chắc—xua tan nghi ngờ và mọi trở ngại đối với sự tiếp nhận đúng đắn

b. Aspiration—reorienting the astral body. The normal use of the astral body as an organ of lower desire and lower sensitivity will not serve in the treading of this Path of Approach.

b. Khát vọng—tái định hướng thể cảm dục. Việc sử dụng thể cảm dục theo cách thông thường như một cơ quan của dục vọng thấp kém và tính nhạy cảm thấp kém sẽ không đáp ứng được việc tiến bước trên Con Đường Tiếp Cận này.

c. Dedication. We note a rather elaborate description of “dedication”. It is, first of all, an intelligent process, not strictly an emotional one. It involves both will and mind.

c. Sự hiến dâng. Chúng ta lưu ý rằng “sự hiến dâng” được mô tả khá tỉ mỉ. Trước hết, đó là một tiến trình thông minh , không thuần túy là một tiến trình cảm xúc. Nó bao hàm cả ý chí lẫn thể trí.

77. These three requirements represent three correct orientations within the personality—one for each of the personality vehicles.

77. Ba yêu cầu này biểu thị ba sự định hướng đúng đắn trong phàm ngã—mỗi sự định hướng dành cho một vận cụ của phàm ngã.

b. Then, there were the twelve hours on the day of the full moon, wherein a consciously achieved contact (dependent upon the success of the previous three days’ work by the group) became a definitely proven possibility.

b. Tiếp đến là mười hai giờ trong ngày trăng tròn, khi một sự tiếp xúc đạt được có ý thức, tùy thuộc vào thành công của công việc ba ngày trước đó do nhóm thực hiện, trở thành một khả năng đã được chứng minh rõ ràng.

78. We note that contact is to be expected on the fourth day—the actual day of the Full Moon.

78. Chúng ta lưu ý rằng có thể trông đợi sự tiếp xúc vào ngày thứ tư—chính là ngày Trăng Tròn.

79. We note as well that if there is to be true contact with the Master, the Ashram and, in general, with divinity, three days of correct preparation are indispensable.

79. Chúng ta cũng lưu ý rằng để có sự tiếp xúc thực sự với Chân sư, với Ashram và, nói chung, với thiên tính, thì ba ngày chuẩn bị đúng đắn là điều không thể thiếu.

80. Master DK wants to move His chelas from faith and belief into proven knowledge. The Age of Aquarius is to be the ‘Age of the Knower’.

80. Chân sư DK muốn đưa các đệ tử của Ngài từ đức tin và niềm tin đến tri thức đã được kiểm chứng. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ là ‘Kỷ Nguyên của Thức Giả’.

81. We note also that it is the group which must work during the three days of preparation. Work strictly as an individual will not ensure group success in this process.

81. Chúng ta cũng lưu ý rằng chính nhóm phải làm việc trong ba ngày chuẩn bị. Chỉ làm việc với tư cách cá nhân sẽ không bảo đảm thành công của nhóm trong tiến trình này.

By training you in these early stages in the attempt to contact me, I was laying the ground for two eventualities: your future contact with your Master, prior to initiation, and a contact with the Hierarchy. This was intended to be symbolic of humanity’s future contact.

Qua việc huấn luyện các bạn trong những giai đoạn đầu này để cố gắng tiếp xúc với Tôi, Tôi đang đặt nền móng cho hai khả năng về sau: sự tiếp xúc tương lai của các bạn với Chân sư của mình trước điểm đạo, và sự tiếp xúc với Thánh đoàn. Điều này nhằm tượng trưng cho sự tiếp xúc tương lai của nhân loại.

82. It is characteristic of Master DK’s methods of training that He asks His chelas to perform certain processes without telling them the full reason for these processes. Later, He tells them.

82. Một nét đặc trưng trong các phương pháp huấn luyện của Chân sư DK là Ngài yêu cầu các đệ tử của Ngài thực hiện một số tiến trình mà không cho họ biết đầy đủ lý do của những tiến trình ấy. Về sau, Ngài mới cho họ biết.

83. By not telling them initially, He gives them the opportunity to come to their own direct realization of the purposes of the processes. He also tests their faith and occult obedience.

83. Bằng cách không cho họ biết ngay từ đầu, Ngài tạo cơ hội để họ tự mình trực tiếp nhận ra mục đích của các tiến trình ấy. Ngài cũng thử thách đức tin và sự tuân phục huyền môn của họ.

84. We note that prior to initiation, the Master must be contacted. We also recognize that contact with the Master precedes contact with the Hierarchy as a center of force.

84. Chúng ta lưu ý rằng trước khi điểm đạo, cần tiếp xúc với Chân sư. Chúng ta cũng nhận ra rằng sự tiếp xúc với Chân sư đi trước sự tiếp xúc với Thánh đoàn như một trung tâm mãnh lực.

85. Again, we see that the group is performing that which humanity will later perform.

85. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng nhóm đang thực hiện điều mà sau này nhân loại sẽ thực hiện.

c. The three days succeeding the full moon period then were considered. In these days, it was pointed out, the personality could become conscious of the success of the previous work done and the subsequent contact.

c. Sau đó là việc xem xét ba ngày tiếp theo kỳ trăng tròn. Tôi đã chỉ ra rằng trong những ngày này, phàm ngã có thể nhận biết thành công của công việc đã thực hiện trước đó và sự tiếp xúc tiếp theo.

86. The work of the first three days must be performed with confidence, acting “as if” there will be success. Only later, during the last three days of distribution may the success of the earlier three days of approach be made evident.

86. Công việc trong ba ngày đầu phải được thực hiện với lòng tin tưởng, hành động “như thể” sẽ thành công. Chỉ về sau, trong ba ngày phân phối cuối cùng, thành công của ba ngày tiếp cận trước đó mới có thể trở nên rõ ràng.

87. Such coherent reviews of occult processes are of great value in promoting a coherent understanding of the processes.

87. Những sự ôn xét mạch lạc như thế về các tiến trình huyền bí có giá trị lớn trong việc thúc đẩy sự thấu hiểu mạch lạc về các tiến trình ấy.

That realisation would be facilitated by an inner attitude of registration (by the mind) of that which the soul has sought to impress upon it at the moment of attempted or achieved contact;

Sự nhận biết ấy sẽ thuận lợi hơn nhờ một thái độ nội tâm ghi nhận, do thể trí thực hiện, những gì linh hồn đã tìm cách ghi ấn lên thể trí vào thời điểm cố gắng tiếp xúc hoặc đã đạt được tiếp xúc;

88. Here we see that the soul and the Master are one. The period of impression occurs during the twelve hours preceding the Full Moon.

88. Ở đây, chúng ta thấy rằng linh hồn và Chân sư là một. Thời kỳ ghi ấn diễn ra trong mười hai giờ trước thời điểm Trăng Tròn.

89. We come to understand that impression may be occurring and yet brain registration of that impression be wanting.

89. Chúng ta dần thấu hiểu rằng sự ghi ấn có thể đang diễn ra, nhưng bộ não vẫn chưa ghi nhận được ấn tượng ấy.

90. The desired contact occurs, we find, on a level higher than the mind—at least higher than the concrete mind. Later, the concrete mind is impressed by that which has been registered and then formulates its version of the registration.

90. Chúng ta nhận thấy rằng sự tiếp xúc mong muốn diễn ra ở một cấp độ cao hơn thể trí—ít nhất là cao hơn trí cụ thể. Về sau, những gì đã được ghi nhận sẽ ghi ấn lên trí cụ thể, rồi trí cụ thể diễn đạt sự ghi nhận ấy theo cách riêng của nó.

by the sense of expectancy which the emotional nature would be trained to express and experience; and by the acknowledged attitude of the physical brain as it held [55] to the belief of true success, when the requirements had been duly met.

nhờ cảm thức mong đợi mà bản chất cảm xúc sẽ được huấn luyện để biểu lộ và trải nghiệm; và nhờ thái độ chấp nhận của bộ não hồng trần khi nó giữ vững [55] niềm tin vào thành công đích thực, một khi các yêu cầu đã được đáp ứng đúng mức.

91. There are three orientations by the mind, emotional nature and body which facilitate an outer realization of the inner impression:

91. Có ba định hướng của thể trí, bản chất cảm xúc và thân thể giúp cho việc nhận biết ở bên ngoài về ấn tượng bên trong trở nên thuận lợi:

a. The mind maintains an inner attitude of registration.

a. Thể trí duy trì một thái độ nội tâm ghi nhận.

b. The emotional nature is characterized by a sense of expectancy, to be experienced and expressed.

b. Bản chất cảm xúc mang đặc trưng là một cảm thức mong đợi, cần được trải nghiệm và biểu lộ.

c. The brain is to be held to ”the belief of true success”; this is its correct attitude.

c. Bộ não cần giữ vững “niềm tin vào thành công đích thực”; đây là thái độ đúng đắn của nó.

92. An understanding of these requirements necessitates much slow pondering. Each of us should define in his own words what each of these three orientations may mean.

92. Việc thấu hiểu những yêu cầu này đòi hỏi nhiều suy ngẫm chậm rãi. Mỗi người chúng ta nên dùng lời của chính mình để xác định mỗi định hướng trong ba định hướng này có thể hàm ý điều gì.

It will be apparent to you, if you have followed the above in the right spirit, that from the very start I have been working towards objectives unrealised by you.

Nếu các bạn đã theo dõi những điều trên với tinh thần đúng đắn, các bạn sẽ thấy rõ rằng ngay từ đầu Tôi đã làm việc hướng đến những mục tiêu mà các bạn chưa nhận ra.

93. The distant vision of the Master is made apparent. It is clear how much an attitude of faith and trust is required of the chela and group of chelas.

93. Tầm nhìn xa của Chân sư trở nên rõ ràng. Rõ ràng là người đệ tử và nhóm đệ tử cần có thái độ đầy đức tin và tín nhiệm đến mức nào.

I am trusting that the importance of this full moon work will become increasingly clear to you and make you more eager to work as requested by me.

Tôi tin tưởng rằng tầm quan trọng của công việc vào kỳ trăng tròn này sẽ ngày càng rõ ràng hơn đối với các bạn và khiến các bạn tha thiết hơn với việc làm theo yêu cầu của Tôi.

94. This rather detailed explanation of the methods and procedures of the Full Moon work is meant to provide an incentive to an increasing eagerness for right performance amongst chelas—chelas and disciples such as we are.

94. Phần giải thích khá chi tiết này về các phương pháp và quy trình của công việc Trăng Tròn nhằm khích lệ các đệ tử ngày càng tha thiết thực hiện đúng đắn hơn—những đệ tử như chúng ta.

III

III

The third stage, outlined by me during the past year’s work, brought in a far more complicated activity than heretofore. I explained to you, if you will remember, that at the time of the full moon it was as if a door was opened between the Sun and Moon, making certain events of a spiritual nature possible.

Giai đoạn thứ ba, được Tôi phác thảo trong công việc của năm vừa qua, đã đưa vào một hoạt động phức tạp hơn nhiều so với trước đây. Nếu các bạn còn nhớ, Tôi đã giải thích rằng vào thời điểm trăng tròn, dường như có một cánh cửa mở ra giữa Mặt Trời và Mặt Trăng, khiến một số sự kiện mang bản chất tinh thần có thể xảy ra.

95. DK continues to refresh the memory of His chelas. If we analyze the quality of our own memory, we will realize why this refreshing is necessary.

95. Chân sư DK tiếp tục nhắc lại để các đệ tử của Ngài nhớ. Nếu phân tích phẩm chất trí nhớ của chính mình, chúng ta sẽ nhận ra vì sao việc nhắc lại này là cần thiết.

96. The Full Moon periods must not be taken for granted. They are, indeed, moments of great opportunity, unrepeatable at other moments in the month.

96. Không được xem các kỳ Trăng Tròn là điều hiển nhiên. Quả thật, đó là những thời điểm có cơ hội lớn lao, không thể lặp lại vào những thời điểm khác trong tháng.

97. What is the symbolism of the “Sun and Moon” as here presented? Shall we say that the Sun represents the Hierarchy, the Master and the soul, whereas the Moon represents the personality of the disciple and its vehicles?

97. “Mặt Trời và Mặt Trăng” được trình bày ở đây mang ý nghĩa biểu tượng gì? Liệu chúng ta có thể nói rằng Mặt Trời tượng trưng cho Thánh đoàn, Chân sư và linh hồn, còn Mặt Trăng tượng trưng cho phàm ngã của người đệ tử và các hiện thể của nó?

The band of golden light, extending between the Sun and the Moon, completely “irradiated the lunar surface” (to use the ancient formula) and made possible certain revelations. To students such as you, the symbolism should be apparent and can be seen as inviting a dual interpretation:

Dải ánh sáng vàng kim trải dài giữa Mặt Trời và Mặt Trăng đã hoàn toàn “chiếu sáng bề mặt Mặt Trăng”, theo cách diễn đạt cổ xưa, và khiến một số sự mặc khải trở nên khả hữu. Đối với những đạo sinh như các bạn, ý nghĩa biểu tượng hẳn phải rõ ràng và có thể được nhìn nhận là gợi ra hai cách diễn giải:

98. The “lunar surface” suggests that which may be learned about the personality and its nature.

98. “Bề mặt Mặt Trăng” gợi đến những điều có thể học biết về phàm ngã và bản chất của nó.

99. The revelation may also concern that which may be accomplished more broadly within the world of form on behalf of humanity.

99. Sự mặc khải cũng có thể liên quan đến những điều có thể thực hiện trên phạm vi rộng lớn hơn trong thế giới hình tướng vì lợi ích của nhân loại.

100. One wonders whether the depths of the lunar nature might not also be irradiated by the process?

100. Chúng ta tự hỏi liệu những chiều sâu của bản chất thái âm cũng có thể được chiếu sáng qua tiến trình này hay không?

1. It concerns the relation of the Solar Angel to the lunar forces, of the Sun and the Moon and their work in synthesis.

1. Nó liên quan đến mối quan hệ của Thái dương Thiên Thần với các mãnh lực thái âm, của Mặt Trời với Mặt Trăng và công việc tổng hợp của cả hai.

101. DK becomes technical about the meaning of the ancient formula. The Sun is given as representing the Solar Angel, and the Moon, the lunar forces.

101. Chân sư DK đi vào chi tiết chuyên môn về ý nghĩa của công thức cổ xưa. Mặt Trời được nêu là tượng trưng cho Thái dương Thiên Thần, còn Mặt Trăng tượng trưng cho các mãnh lực thái âm.

102. We know they must work together, and the band of golden light may reveal how they are to work.

102. Chúng ta biết cả hai phải cùng làm việc, và dải ánh sáng vàng kim có thể tiết lộ cách cả hai phải làm việc.

2. It concerns the relation of the Hierarchy to humanity and consequently, of the subjective world to the objective worlds, of the realm of causes to the realm of effects. Ponder on this.

2. Nó liên quan đến mối quan hệ của Thánh đoàn với nhân loại, và do đó, của thế giới chủ quan với các thế giới khách quan, của lĩnh vực nguyên nhân với lĩnh vực kết quả. Hãy suy ngẫm về điều này.

103. This is the broader interpretation, the first being more microcosmic. Here is a triple analogy: the Solar Angel/lunar forces = Hierarchy/humanity = subjective world/objective worlds.

103. Đây là cách diễn giải rộng hơn, còn cách thứ nhất mang tính tiểu thiên địa hơn. Đây là một phép tương đồng tam phân: Thái dương Thiên Thần/các mãnh lực thái âm = Thánh đoàn/nhân loại = thế giới chủ quan/các thế giới khách quan.

104. The world of the Sun is a “causal” world; the world of the Moon a realm of effects.

104. Thế giới của Mặt Trời là một thế giới “nguyên nhân”; thế giới của Mặt Trăng là một cõi của các hệ quả.

105. It is clear that the Full Moon opportunity allows us to free ourselves somewhat from the world of effects.

105. Rõ ràng, cơ hội vào kỳ Trăng Tròn cho phép chúng ta phần nào thoát khỏi thế giới của các hệ quả.

Individual approach must be merged into group approach, and the approach of groups will some day be superseded by the organised approach of humanity as a whole.

Sự tiếp cận cá nhân phải hòa vào sự tiếp cận nhóm, và một ngày kia, sự tiếp cận của các nhóm sẽ nhường chỗ cho sự tiếp cận có tổ chức của toàn thể nhân loại.

106. A three stage process is suggested:

106. Một tiến trình ba giai đoạn được gợi ra:

a. Individual approach

a. Sự tiếp cận cá nhân

b. Group approach

b. Sự tiếp cận nhóm

c. Organised approach of humanity as a whole

c. Sự tiếp cận có tổ chức của toàn thể nhân loại