← Commentary DINA II (webinar 24-35)

Commentary 31

Trích nội dung chương

This third stage can (like the two previous ones) be divided into the following activities, which require to be mentally grasped by the group: Giai đoạn thứ ba này, cũng như hai giai đoạn trước, có thể chia thành những hoạt động sau đây mà nhóm cần nắm bắt bằng trí tuệ:


This third stage can (like the two previous ones) be divided into the following activities, which require to be mentally grasped by the group:

Giai đoạn thứ ba này, cũng như hai giai đoạn trước, có thể chia thành những hoạt động sau đây mà nhóm cần nắm bắt bằng trí tuệ:

107. We are outlining the processes to be followed during the third of three years.

107. Chúng ta đang phác thảo những tiến trình cần tuân theo trong năm thứ ba của chu kỳ ba năm.

108. We note that the activities are to be “mentally grasped by the group”— mentally, and by the group, not just by the individuals in the group.

108. Chúng ta lưu ý rằng các hoạt động cần được “nhóm nắm bắt bằng trí tuệ”—bằng trí tuệ, và do nhóm, chứ không chỉ do những cá nhân trong nhóm.

1. That certain realisations become possible. These are two in number:

1. Một số sự chứng nghiệm trở nên khả hữu. Có hai sự chứng nghiệm như vậy:

[56]

[56]

a. Realisation one: That entrance upon the Path of Approach is possible for individuals, for groups, and for humanity as a whole, as a unit.

a. Chứng nghiệm thứ nhất: Các cá nhân, các nhóm và toàn thể nhân loại như một đơn vị đều có thể bước vào Con Đường Tiếp Cận.

109. There are three type of entrance possible: individual approach, group approach and approach for humanity as a whole.

109. Có ba hình thức bước vào khả hữu: sự tiếp cận cá nhân, sự tiếp cận nhóm và sự tiếp cận của toàn thể nhân loại.

110. The encompassing utility of the Full Moon Approach is thus revealed.

110. Như vậy, công dụng bao quát của Sự Tiếp Cận vào kỳ Trăng Tròn được hé lộ.

b. Realisation two: That energies, not usually or normally contacted, can be touched, grasped and utilised at the time of these Approaches, provided that they are contacted in group formation.Thus the individual, the group and humanity are enriched and vitalised.

b. Chứng nghiệm thứ hai: Vào thời điểm của những kỳ Tiếp Cận này, có thể chạm đến, nắm bắt và sử dụng những năng lượng vốn ít khi hoặc thông thường không được tiếp xúc, với điều kiện việc tiếp xúc với chúng được thực hiện trong đội hình nhóm. Nhờ vậy, cá nhân, nhóm và nhân loại được làm phong phú và tiếp sinh lực.

111. The uniqueness of the opportunity is accentuated.

111. Tính độc nhất của cơ hội này được nhấn mạnh.

112. The necessity of contact in group formation is also stressed. Group approach provides the necessary intensification. Even if the meditator is working apparently alone, he must approach as a group (i.e., as if he were the group ). Is this possible to understand?

112. Sự cần thiết phải tiếp xúc trong đội hình nhóm cũng được nhấn mạnh. Sự tiếp cận theo nhóm tạo ra mức tăng cường cần thiết. Ngay cả khi người hành thiền có vẻ đang làm việc một mình, y vẫn phải tiếp cận với tư cách một nhóm (nghĩa là, như thể y là chính nhóm ấy). Chúng ta có thể thấu hiểu điều này chăng?

2. That the spiritual Hierarchy can, at these times, be approached, verified and known, thus leading to active conscious cooperation with the Plan which the Hierarchy serves.

2. Vào những thời điểm này, có thể tiếp cận, xác chứng và nhận biết Thánh đoàn, qua đó dẫn đến sự hợp tác tích cực, có ý thức với Thiên Cơ mà Thánh đoàn phụng sự.

113. We are dealing with the possibility of verifying the reality of the Spiritual Hierarchy. The following three words are to be pondered as indicating the type of opportunity available to individuals, groups and to humanity as a whole:

113. Chúng ta đang bàn đến khả năng xác chứng thực tại của Thánh đoàn. Cần suy ngẫm ba từ sau đây vì chúng chỉ ra loại cơ hội dành cho các cá nhân, các nhóm và toàn thể nhân loại:

a. Approach

a. Tiếp cận

b. Verification

b. Xác chứng

c. Knowledge

c. Tri thức

It must be remembered that, on the side of the Hierarchy, a Technique of Approach to humanity will also be employed, and thus we have an essential dual activity.

Cần nhớ rằng về phía Thánh đoàn, một Kỹ thuật Tiếp Cận nhân loại cũng sẽ được sử dụng, và như vậy chúng ta có một hoạt động kép thiết yếu.

114. A vital consideration is brought forward. Hierarchy, on its side, is also approaching the individual, groups and humanity. This is sometimes forgotten, it is not?

114. Một điều cần cân nhắc có tầm quan trọng thiết yếu được nêu ra. Về phía mình, Thánh đoàn cũng đang tiếp cận cá nhân, các nhóm và nhân loại. Đôi khi chúng ta quên điều này, phải không?

The first stage of this dual activity took place millions of years ago at the time of Individualisation, and produced the emergence of the fourth kingdom in nature, the human family.

Giai đoạn đầu tiên của hoạt động kép này đã diễn ra cách đây hàng triệu năm vào thời kỳ Biệt ngã hóa, và tạo nên sự xuất hiện của giới thứ tư trong thiên nhiên, gia đình nhân loại.

115. At the time of individualization there was on the part of animal man an unconscious, inchoate up-reaching or aspiration towards participation in a new kingdom of nature, accompanied by a response from the fifth Creative Hierarchy of nature—that of the Solar Angels.

115. Vào thời kỳ biệt ngã hóa, nơi người thú đã có một sự vươn lên hay khát vọng còn phôi thai, vô thức, hướng tới việc tham gia vào một giới mới trong thiên nhiên, đi kèm với sự đáp ứng từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm trong thiên nhiên—Huyền Giai của các Thái dương Thiên Thần.

The second stage is being rapidly worked out today, and will produce the emergence of Initiation.

Giai đoạn thứ hai hiện đang nhanh chóng được triển khai và sẽ tạo nên sự xuất hiện của Điểm đạo.

116. The approach by animal man to Hierarchy (in this case the Hierarchy of Solar Angels) produced a new kingdom in nature, the fourth or human kingdom.

116. Việc người thú tiếp cận Huyền Giai (trong trường hợp này là Huyền Giai của các Thái dương Thiên Thần) đã tạo nên một giới mới trong thiên nhiên, giới thứ tư hay giới nhân loại.

117. Today’s approach to Hierarchy by conscious humanity is also producing (where man is concerned) a new kingdom—the Kingdom of Souls or fifth kingdom. Of course the Kingdom of Souls already exists; it is, for one thing, formed of those human beings who have ‘graduated’ from the human kingdom. The Kingdom of Souls, however, is (with respect to our humanity) very small compared to what it will one day be.

117. Ngày nay, việc nhân loại có ý thức tiếp cận Thánh đoàn cũng đang tạo nên (xét về con người) một giới mới—Giới các Linh Hồn hay giới thứ năm. Dĩ nhiên, Giới các Linh Hồn đã tồn tại; một trong những thành phần của giới này là những con người đã ‘tốt nghiệp’ giới nhân loại. Tuy nhiên, Giới các Linh Hồn (xét trong phạm vi nhân loại chúng ta) hiện còn rất nhỏ bé so với tầm vóc mà một ngày kia giới này sẽ đạt tới.

The intermediate stage is that of Integration.

Giai đoạn trung gian là giai đoạn Tích hợp.

118. We learn that Integration is considered to lie midway between Individualization and Initiation. We might compare Individualization, Integration and Initiation, to Isolated Individuality, Isolated Identity and Isolated Unity respectively.

118. Chúng ta biết rằng sự Tích Hợp được xem là nằm ở giữa sự Biệt Ngã Hóa và sự Điểm Đạo. Chúng ta có thể lần lượt so sánh sự Biệt Ngã Hóa, sự Tích Hợp và sự Điểm Đạo với Cá Thể Cô Lập, Bản Sắc Cô Lập và Hợp Nhất Cô Lập.

119. Integration is a capacity emerging in relation to the Aryan rootrace; it arises through the influence of Venus and the fifth ray.

119. Tích hợp là một năng lực xuất hiện trong mối liên hệ với giống dân gốc Arya; năng lực này phát sinh qua ảnh hưởng của Sao Kim và cung năm.

We have therefore the germ of a new scientific religion, called (as I have earlier pointed out) the Science of Approach.

Vì vậy, chúng ta có mầm mống của một tôn giáo khoa học mới, được gọi, như Tôi đã chỉ ra trước đây, là Khoa học Tiếp Cận.

120. The point to be grasped is that the new religion prepared through the Science of Approach is a scientific religion. Contact with the higher energies and even with what has been called “God” will occur consciously, predictably and under law.

120. Điểm cần nắm bắt là tôn giáo mới được chuẩn bị thông qua Khoa học Tiếp Cận là một tôn giáo mang tính khoa học. Sự tiếp xúc với các năng lượng cao hơn và ngay cả với điều từng được gọi là “Thượng đế” sẽ diễn ra một cách có ý thức, có thể dự đoán và tuân theo định luật.

It is one in which humanity can now consciously share, for their stage in evolution warrants it. Men can today grasp the objective, share in the united aspiration, and carry out the needed requirements.

Đây là một khoa học mà giờ đây nhân loại có thể tham gia một cách có ý thức, vì giai đoạn tiến hoá của họ cho phép điều đó. Ngày nay, con người có thể nắm bắt mục tiêu, cùng chia sẻ khát vọng hợp nhất và thực hiện những yêu cầu cần thiết.

121. It is apparent that humanity is now sufficiently mature to approach Deity through the mind as well as through emotion and aspiration.

121. Hiển nhiên, giờ đây nhân loại đã đủ trưởng thành để tiếp cận Thượng Đế qua thể trí cũng như qua cảm xúc và khát vọng.

122. Because human development has now reached this relative maturity, the emergence of a New World Religion is not only desirable but necessary. The Spirit will not long tolerate the continuance of outmoded and limiting practices in any field of human development.

122. Vì sự phát triển của nhân loại giờ đây đã đạt đến mức trưởng thành tương đối này, sự xuất hiện của một Tôn Giáo Thế Giới Mới không chỉ đáng mong muốn mà còn cần thiết. Tinh Thần sẽ không dung thứ lâu dài cho việc tiếp tục những phương thức thực hành lỗi thời và hạn chế trong bất kỳ lĩnh vực phát triển nào của nhân loại.

3. The time to be given, at this stage of the training, to the Full Moon Approach was shortened, but tremendously intensified, and the objective was to produce a far more dynamic activity.

3. Ở giai đoạn huấn luyện này, thời gian dành cho kỳ Tiếp Cận Trăng Tròn được rút ngắn, nhưng cường độ tăng lên rất mạnh, và mục tiêu là tạo nên một hoạt động năng động hơn nhiều.

123. Given a sufficient point of tension, far more may be accomplished than prolonged work at a lower point of tension.

123. Khi đạt một điểm tập trung nhất tâm đủ cao, chúng ta có thể hoàn thành nhiều hơn hẳn so với việc làm việc kéo dài ở một điểm tập trung nhất tâm thấp hơn.

124. We are living in times when “time is running out”. The way to accomplish that which remains to be done before the advent of Hierarchy (and that amount is relatively great) is through intensified tension.

124. Chúng ta đang sống trong thời kỳ mà “thời gian đang cạn dần”. Cách hoàn thành những gì còn phải làm trước khi Thánh đoàn xuất hiện (và khối lượng công việc ấy tương đối lớn) là tăng cường sự tập trung nhất tâm.

A state of tension had to be achieved, which would eventually release dynamic energy from—if possible—levels higher than that of the soul. Hence the need for group integration and work. This period was divided as follows:

Phải đạt đến một trạng thái tập trung nhất tâm, để cuối cùng giải phóng năng lượng năng động từ những cấp độ, nếu có thể, cao hơn cấp độ linh hồn. Vì vậy, cần có sự tích hợp nhóm và công việc nhóm. Giai đoạn này được phân chia như sau:

125. We see that a state of heightened tension is a requirement—we might almost say a planetary requirement, given the condition of the times.

125. Chúng ta thấy rằng một trạng thái tập trung nhất tâm cao độ là một yêu cầu—xét tình hình thời đại, chúng ta gần như có thể nói đó là một yêu cầu mang tính hành tinh.

126. Again, it is not only desirable that energy from levels higher than that of the soul be accessed, but a necessity.

126. Một lần nữa, việc tiếp cận năng lượng từ những cấp độ cao hơn cấp độ linh hồn không chỉ là điều đáng mong muốn, mà còn là một điều cần thiết.

127. If triadal energies are to be accessed, a truly achieved group integration is required.

127. Muốn tiếp cận các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần, nhóm phải thực sự đạt được sự tích hợp.

a. There were two days of intensive preparation.

a. Có hai ngày chuẩn bị chuyên sâu.

128. The period has been shortened from three days of preparation to two. The two days of preparation are, however, to be intensive.

128. Thời gian chuẩn bị đã được rút ngắn từ ba ngày xuống còn hai ngày. Tuy nhiên, hai ngày chuẩn bị này phải mang tính chuyên sâu.

This involved the achieving of a right attitude of a dual kind:

Điều này bao hàm việc đạt được một thái độ đúng đắn mang tính kép:

129. The duality required is both fusion and constant recollection.

129. Tính nhị nguyên cần có là cả sự dung hợp lẫn sự hồi tưởng liên tục.

The group member fused his outer activity and [57] his inner orientation into one blended concentrated spiritual activity.

Thành viên nhóm dung hợp hoạt động bên ngoài và [57] định hướng nội tâm của mình thành một hoạt động tinh thần hòa quyện và tập trung.

130. The outer activity is included in what is called “concentrated spiritual activity”.

130. Hoạt động bên ngoài nằm trong điều được gọi là “hoạt động tinh thần tập trung”.

He proceeded with his usual avocations, but at no time—whilst so occupied—was he to lose sight of the inner orientation and specific recollection.

Y tiếp tục những công việc thường ngày, nhưng trong khi bận rộn như vậy, không lúc nào được quên định hướng nội tâm và sự hồi tưởng cụ thể.

131. There is an interesting suggestion in this sentence—that that which usually preoccupies the disciple (in terms of outer activity) is really an avocation rather than a vocation.

131. Câu này gợi ra một điều thú vị—rằng điều thường khiến người đệ tử bận tâm (về mặt hoạt động bên ngoài) thực ra là một công việc phụ hơn là một thiên chức.

132. It is as if the disciple’s true vocation is the inner work required at such a time of intensified availability of energy.

132. Dường như thiên chức đích thực của người đệ tử là công việc nội tâm cần thực hiện vào thời điểm năng lượng sẵn có ở mức gia tăng như vậy.

133. The requirement of a sustained dual activity seems simple enough to understand; can we sustain it, however?

133. Yêu cầu duy trì một hoạt động kép dường như khá dễ hiểu; tuy nhiên, chúng ta có thể duy trì hoạt động ấy không?

All the time he was outwardly busy, he was simultaneously occupied with a constant realisation of a retreat inward, a heightening of his vibration, and a raising of his consciousness.

Suốt thời gian bận rộn bên ngoài, y đồng thời luôn nhận biết việc lui vào nội tâm, nâng cao rung động và nâng cao tâm thức của mình.

134. Let us tabulate the requirements for sustaining the necessary dual activity:

134. Chúng ta hãy liệt kê các yêu cầu để duy trì hoạt động kép cần thiết:

a. A constant realization of a retreat inward

a. Liên tục nhận biết việc lui vào nội tâm

b. A heightening of the vibration

b. Nâng cao rung động

c. The raising of consciousness

c. Nâng cao tâm thức

135. The members of Hierarchy are ever capable of dual consciousness (in fact, of multiple consciousness). The periods of the Full Moon make it possible for us to rehearse the dual consciousness of which we must, eventually, become masters.

135. Các thành viên của Thánh đoàn luôn có khả năng duy trì tâm thức kép (thực ra là tâm thức đa diện). Các kỳ Trăng Tròn tạo điều kiện để chúng ta tập luyện tâm thức kép mà cuối cùng chúng ta phải làm chủ.

b. On the day of the full moon, you were asked to go through a symbolic performance in the realm of the creative imagination, and through the medium of its agent, visualisation. This performance involved the following steps:

b. Vào ngày trăng tròn, các bạn được yêu cầu thực hiện một nghi thức mang tính biểu tượng trong lĩnh vực của sự tưởng tượng sáng tạo, thông qua tác nhân của nó là sự hình dung. Nghi thức này bao gồm các bước sau:

136. An interesting thought emerges here: that visualisation is the agent of the creative imagination.

136. Ở đây xuất hiện một ý tưởng thú vị: sự hình dung là tác nhân của sự tưởng tượng sáng tạo.

1. The recognition that in the blue disk, at the end of the golden pathway, was an ivory door which was slowly opening into a room with three windows.

1. Nhận biết rằng trong đĩa màu lam ở cuối con đường vàng kim có một cánh cửa bằng ngà đang từ từ mở vào một căn phòng có ba cửa sổ.

137. The symbolism of blue and gold has been suggested. Ivory suggests the elephant who is the head of the second ray line of animals. The elephant is a symbol of wisdom (and of strength).

137. Ý nghĩa biểu tượng của màu lam và màu vàng kim đã được gợi ra. Ngà gợi đến con voi, loài đứng đầu dòng cung hai trong giới động vật. Voi là biểu tượng của minh triết (và của sức mạnh).

138. Ivory suggests white, yet it is more closely related to life in form than is pure white. There is some tincture of yellow in ivory. Yellow is mental and buddhic, depending on one’s point of view. This must be pondered.

138. Ngà gợi đến màu trắng, nhưng có liên hệ mật thiết với sự sống trong hình tướng hơn màu trắng tinh khiết. Trong màu ngà có một chút sắc vàng. Màu vàng thuộc về trí tuệ và Bồ đề, tùy theo góc nhìn của mỗi người. Cần suy ngẫm về điều này.

139. The slow opening of the door suggests the gradual entry into the Master’s Ashram.

139. Việc cánh cửa mở chậm rãi gợi đến sự gia nhập dần dần vào Ashram của Chân sư.

140. The three windows suggest the three aspects of the spiritual triad and, in general, all aspects of the trinity.

140. Ba cửa sổ gợi đến ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần và, nói chung, mọi phương diện của Ba Ngôi.

2. The recognition that the group, as a unit, was advancing into that room and there, united in an act of solemn dedication, stands ready for revelation.

2. Nhận biết rằng nhóm, như một đơn vị, đang tiến vào căn phòng ấy và tại đó, hợp nhất trong một hành vi hiến dâng trang nghiêm, đứng sẵn sàng đón nhận sự mặc khải.

141. Those who enter the room do not enter as individuals. They enter as a group, a unit, ready to dedicate themselves unitedly to the purposes of the Master, and together to stand ready for revelation.

141. Những người bước vào căn phòng không bước vào với tư cách cá nhân. Họ bước vào như một nhóm, một đơn vị, sẵn sàng hiến dâng bản thân trong sự hợp nhất cho các mục đích của Chân sư, và cùng nhau đứng sẵn sàng đón nhận sự mặc khải.

3. The recognition, by the group, of me, your teacher and Tibetan brother, and the saying by all of us together of the Great Invocation. This produces fusion and releases something from “that which lies above to that which lies below,” speaking in the words of symbolism.

3. Nhóm nhận biết Tôi, huấn sư và người huynh đệ Tây Tạng của các bạn, rồi tất cả chúng ta cùng đọc Đại Khấn Nguyện. Điều này tạo nên sự dung hợp và giải phóng một điều gì đó từ “cái ở trên xuống cái ở dưới”, nếu nói bằng ngôn ngữ biểu tượng.

142. The imaginative pronouncing of the Great Invocation with the Tibetan may seem simply an inner exercise, but apparently it is specifically and occultly effective to release an energy from “that which lies above to that which lies below”. What may be the occult modus operandi of this release we do not know, but those who have attempted this exercise realize that there is something remarkable about it.

142. Việc dùng sự tưởng tượng để cùng Chân sư Tây Tạng đọc Đại Khấn Nguyện có vẻ chỉ là một bài tập nội tâm, nhưng dường như việc này có hiệu lực cụ thể về mặt huyền bí trong việc giải phóng một năng lượng từ “cái ở trên xuống cái ở dưới”. Chúng ta không biết cơ chế vận hành huyền bí của sự giải phóng này có thể là gì, nhưng những ai đã thử thực hành bài tập này đều nhận ra rằng nó có điều gì đó đáng chú ý.

It will be obvious to you that in this symbolic ritual there is typified, first of all the Path, the goal, the kingdom of God, distinguished by spiritual mind, spiritual love and spiritual will (the three windows, atma-buddhi-manas, or the three aspects of the soul). Secondly, the focussing of the consciousness in that of the soul, followed by a group dedication; and, finally, that humanity (symbolised by the group) and the Hierarchy (symbolised by me) and the subsequent voicing by me of certain Words of Power were all intended to produce the fusion of the objective and subjective worlds, and the consequent emergence of the fifth kingdom in nature. Thus the skeleton structure of the new religious ceremonial [58] can be dimly seen and inadequately sensed.

Các bạn hẳn sẽ thấy rõ rằng trong nghi thức biểu tượng này, trước hết là sự biểu thị Đường Đạo, mục tiêu, Thiên Giới, được đặc trưng bởi trí tuệ tinh thần, bác ái tinh thần và ý chí tinh thần, tức ba cửa sổ, atma-Bồ đề-manas, hay ba phương diện của linh hồn. Thứ hai là sự tập trung tâm thức vào tâm thức linh hồn, tiếp theo là sự hiến dâng của nhóm; và cuối cùng, nhân loại, được nhóm tượng trưng, cùng Thánh đoàn, do Tôi tượng trưng, và việc sau đó Tôi xướng lên một số Quyền năng từ, tất cả đều nhằm tạo nên sự dung hợp giữa các thế giới khách quan và chủ quan, cùng sự xuất hiện tiếp theo của giới thứ năm trong thiên nhiên. Như vậy, có thể nhìn thấy lờ mờ và cảm nhận chưa đầy đủ bộ khung của nghi lễ tôn giáo mới [58]. Tiếp theo giai đoạn này là:

143. In this paragraph the Tibetan has given a complete summary of the purpose of the symbolic ritual/visualization assigned to His chelas.

143. Trong đoạn này, Chân sư Tây Tạng đã tóm lược đầy đủ mục đích của nghi thức biểu tượng/bài hình dung mà Ngài giao cho các đệ tử của Ngài.

144. The ritual contains at least two distinct levels of significance. It is interesting that the much larger groups, humanity and Hierarchy, are represented in this relatively simple visualization—humanity by the group and Hierarchy by the Tibetan.

144. Nghi thức chứa đựng ít nhất hai cấp độ thâm nghĩa riêng biệt. Điều thú vị là các nhóm lớn hơn rất nhiều, tức nhân loại và Thánh đoàn, lại có đại diện trong bài hình dung tương đối đơn giản này—nhóm đại diện cho nhân loại và Chân sư Tây Tạng đại diện cho Thánh đoàn.

145. Something really extraordinary is being said—that the “skeleton structure of the new religious ceremonial can be dimly seen and inadequately sensed”.

145. Một điều thật sự phi thường đang được nêu ra—rằng “có thể nhìn thấy lờ mờ và cảm nhận chưa đầy đủ bộ khung của nghi lễ tôn giáo mới”.

146. Those who are interested in the form which religious ceremonial will take in coming centuries have been presented an essential seed which may be developed.

146. Những ai quan tâm đến hình thức mà nghi lễ tôn giáo sẽ mang lấy trong những thế kỷ sắp tới đã được trao một hạt giống thiết yếu có thể phát triển.

4. Two days of intensive recollection by the group in their brain consciousness. This involves:

4. Hai ngày nhóm tập trung hồi tưởng trong tâm thức bộ não của mình. Điều này bao gồm:

147. We note that the final two days of the five involve the full use of the brain consciousness. This is not the case with the first two days.

147. Chúng ta lưu ý rằng hai ngày cuối trong năm ngày đòi hỏi vận dụng đầy đủ tâm thức bộ não. Hai ngày đầu thì không như vậy.

a. The development of the power to recall the Words of Power which had been spoken by me, and later, the listening for a Word of Power.This recognition of the Words will be one of the major objectives of the new world religion, and hence our effort (not particularly successful hitherto) to do something symbolically analogous in our group activity.

a. Phát triển khả năng nhớ lại những Quyền năng từ mà Tôi đã xướng lên, và về sau là lắng nghe một Quyền năng từ. Việc nhận biết các Linh từ này sẽ là một trong những mục tiêu chủ yếu của tôn giáo thế giới mới; vì vậy, chúng ta cố gắng thực hiện trong hoạt động nhóm một điều tương tự về mặt biểu tượng, dù cho đến nay chưa đặc biệt thành công.

148. The Tibetan arranged a telepathic experiment with His chelas. The period of the Full Moon was that period during which He spoke a particular Word of Power for the month. The chelas were to attempt to receive this Word telepathically. The ability so to receive was, it turns out, not very highly developed amongst the majority.

148. Chân sư Tây Tạng đã tổ chức một cuộc thử nghiệm viễn cảm với các đệ tử của Ngài. Thời kỳ Trăng Tròn là khoảng thời gian Ngài xướng một Quyền năng từ cụ thể cho tháng đó. Các đệ tử phải cố gắng tiếp nhận Linh từ này bằng viễn cảm. Hóa ra, ở đa số các đệ tử, khả năng tiếp nhận theo cách ấy chưa phát triển cao.

149. We see a focus on the capacity for recollection. The exact moment of the Tibetan’s speaking of a Word of Power may not have been registered by any or all, but He asked the group to attempt to recall, during the last two days of the five, the nature of the Word of Power.

149. Chúng ta thấy khả năng hồi tưởng được chú trọng. Có thể một số người hoặc tất cả đều không ghi nhận được chính xác thời điểm Chân sư Tây Tạng xướng một Quyền năng từ, nhưng Ngài yêu cầu nhóm cố gắng nhớ lại bản chất của Quyền năng từ trong hai ngày cuối cùng của năm ngày ấy.

150. It is fascinating and thought-provoking to think that the “recognition of the Words will be one of the major objectives of the new world religion”. By such Words of Power the Divine Plan is progressed.

150. Thật hấp dẫn và gợi nhiều suy ngẫm khi nghĩ rằng “việc nhận biết các Linh từ sẽ là một trong những mục tiêu chủ yếu của tôn giáo thế giới mới”. Những Quyền năng từ như thế thúc đẩy việc thực hiện Thiên Cơ.

b. A subsequent definite intensification of the life processes, and a spiritual demonstration upon the physical plane as a result.

b. Sau đó, các tiến trình sự sống được tăng cường rõ rệt, và kết quả là có sự biểu hiện tinh thần trên cõi hồng trần.

151. The energy system of the chelas involved in the Full Moon process is to be greatly stimulated as a result of their participation. Their capacity to more demonstrably live a spiritual life is to be heightened.

151. Việc tham gia tiến trình Trăng Tròn sẽ kích thích mạnh mẽ hệ thống năng lượng của các đệ tử tham dự. Khả năng sống một đời sống tinh thần với những biểu hiện rõ rệt hơn của họ sẽ được nâng cao.

The above elucidation should give you a new and more intelligent grasp of the symbolic significances of the work we are now attempting.

Phần giải thích trên hẳn sẽ giúp các bạn nắm bắt một cách mới mẻ và sáng suốt hơn những thâm nghĩa biểu tượng của công việc mà hiện nay chúng ta đang cố gắng thực hiện.

152. Much is condensed into a few short pages. Anyone truly interested in participating fully and intelligently in the Full Moon process should ponder the foregoing pages with care.

152. Rất nhiều nội dung được cô đọng trong vài trang ngắn. Bất cứ ai thực sự quan tâm đến việc tham gia đầy đủ và sáng suốt vào tiến trình Trăng Tròn đều nên suy ngẫm kỹ những trang trên.

I am going to ask you to go over the whole process in these first three major stages, studying with care my interpretation.

Tôi sẽ yêu cầu các bạn xem lại toàn bộ tiến trình trong ba giai đoạn chính đầu tiên này, nghiên cứu kỹ cách diễn giải của Tôi.

1. During the months of January and February, please study what I have said, reading and rereading it until it is clear and fixed in your minds.

1. Trong tháng Một và tháng Hai, xin hãy nghiên cứu những gì Tôi đã nói, đọc đi đọc lại cho đến khi những điều ấy trở nên rõ ràng và in sâu trong thể trí các bạn.

2. During March take the first stage and work faithfully at it.

2. Trong tháng Ba, hãy thực hiện giai đoạn thứ nhất và chuyên tâm làm việc với giai đoạn ấy.

3. During April take the second stage.

3. Trong tháng Tư, hãy thực hiện giai đoạn thứ hai.

4. During May, take the third stage. Then for the remainder of the time, until October, work at this third stage. In October, if you have faithfully fulfilled requirement, I will outline the work next to be done.May I ask for your real interest, service and cooperation?

4. Trong tháng Năm, hãy thực hiện giai đoạn thứ ba. Sau đó, trong thời gian còn lại cho đến tháng Mười, hãy làm việc với giai đoạn thứ ba này. Vào tháng Mười, nếu các bạn đã chuyên tâm đáp ứng yêu cầu, Tôi sẽ phác thảo công việc tiếp theo cần thực hiện. Tôi có thể mong đợi ở các bạn sự quan tâm thực sự, sự phụng sự và hợp tác chăng?

153. The Tibetan has described the Full Moon process in detail. His objective has been to spark a renewed and more intelligent interest in the purpose and objective of the Full Moon work. Has a refreshed and more eager interest arisen in us as a result of the Tibetan’s instruction?

153. Chân sư Tây Tạng đã mô tả chi tiết tiến trình Trăng Tròn. Mục tiêu của Ngài là khơi dậy sự quan tâm mới mẻ và sáng suốt hơn đối với mục đích và mục tiêu của công việc Trăng Tròn. Nhờ huấn thị của Chân sư Tây Tạng, trong chúng ta đã nảy sinh sự quan tâm mới mẻ và thiết tha hơn chưa?

Your personal instructions I have placed at the end to indicate to you its relative importance and so impress upon you the necessity for your individual teaching taking a secondary [59] place; it is of less importance than the group development and the service of humanity.

Tôi đã đặt những huấn thị cá nhân của các bạn ở cuối để chỉ cho các bạn thấy tầm quan trọng tương đối của chúng, và qua đó khắc sâu nơi các bạn sự cần thiết phải dành vị trí thứ yếu [59] cho giáo huấn cá nhân; giáo huấn ấy ít quan trọng hơn sự phát triển của nhóm và việc phụng sự nhân loại.

154. It seems the Tibetan must always work to impress upon the consciousness of His chelas that their individual work is secondary to the group work. After so many years of group collaboration it would seem unnecessary, but the personal ego is stubborn and persistently demanding.

154. Dường như Chân sư Tây Tạng luôn phải nỗ lực khắc sâu vào tâm thức các đệ tử của Ngài rằng công việc cá nhân của họ đứng ở vị trí thứ yếu so với công việc nhóm. Sau ngần ấy năm cộng tác trong nhóm, việc này dường như không còn cần thiết, nhưng phàm ngã vẫn ngoan cố và không ngừng đòi hỏi.

You will all awaken some day to the realisation that the Science of Service is of greater importance than the Science of Meditation, because it is the effort and the strenuous activity of the serving disciple which evokes the soul powers, makes meditation an essential requirement, and is the mode—ahead of all others—which invokes the Spiritual Triad, brings about the intensification of the spiritual life, forces the building of the antahkarana, and leads in a graded series of renunciations to the Great Renunciation, which sets the disciple free for all eternity.

Một ngày nào đó, tất cả các bạn sẽ tỉnh thức để nhận ra rằng Khoa học Phụng Sự có tầm quan trọng lớn hơn Khoa học Tham Thiền, vì chính nỗ lực và hoạt động bền bỉ, mạnh mẽ của người đệ tử phụng sự gợi lên các quyền năng linh hồn, khiến tham thiền trở thành một yêu cầu thiết yếu, và là phương thức vượt trên mọi phương thức khác để khẩn cầu Tam Nguyên Tinh Thần, tăng cường đời sống tinh thần, thúc đẩy việc xây dựng antahkarana, và dẫn qua một chuỗi từ bỏ theo từng cấp độ đến Sự Từ Bỏ Vĩ Đại, giải thoát người đệ tử mãi mãi.

155. There is little that need be said of this extraordinary summation. A brief tabulation may suffice:

155. Không cần nói nhiều về phần tổng kết phi thường này. Một bảng liệt kê ngắn gọn có lẽ là đủ:

a. Effort and strenuous activity evoke soul powers

a. Nỗ lực và hoạt động bền bỉ, mạnh mẽ gợi lên các quyền năng linh hồn.

b. In the rendering of service, meditation is an essential requirement. Without meditation there will be no true service.

b. Trong việc phụng sự, tham thiền là một yêu cầu thiết yếu. Không có tham thiền thì sẽ không có phụng sự đích thực.

c. Service invokes the Spiritual Triad, moreso than even meditation.

c. Phụng sự khẩn cầu Tam Nguyên Tinh Thần, thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả tham thiền.

d. Service brings about an intensification of the spiritual life.

d. Phụng sự tăng cường đời sống tinh thần.

e. Service forces the building of the antahkarana. Note the word “forces” and its implications.

e. Phụng sự thúc đẩy việc xây dựng antahkarana. Hãy lưu ý từ “thúc đẩy” và những hàm ý của nó.

f. Service leads to a graded series of renunciations.

f. Phụng sự dẫn đến một chuỗi từ bỏ theo từng cấp độ.

g. These renunciations necessitated by service lead eventually to the Great Renunciation.

g. Những sự từ bỏ mà phụng sự đòi hỏi này cuối cùng dẫn đến Sự Từ Bỏ Vĩ Đại.

h. The Great Renunciation sets the disciple free for all eternity.

h. Sự Từ Bỏ Vĩ Đại giải thoát người đệ tử mãi mãi.

156. Surely we should ponder on this summation as it holds the key to successful spiritual living.

156. Chắc chắn chúng ta nên suy ngẫm về phần tổng kết này, vì nó chứa đựng chìa khóa để sống đời sống tinh thần một cách thành công.

I am giving you here certain needed hints and much upon which to ponder. I give you of my time and of my love, of my interest and my understanding. Let us together serve.

Ở đây, Tôi trao cho các bạn một số gợi ý cần thiết và nhiều điều để suy ngẫm. Tôi dành cho các bạn thời gian và tình thương của Tôi, sự quan tâm và thấu hiểu của Tôi. Chúng ta hãy cùng nhau phụng sự.

157. Simply reading through the summation should have alerted us to its great import. The Tibetan, nevertheless, declares its importance.

157. Chỉ cần đọc qua phần tổng kết cũng đủ để chúng ta nhận thấy tầm quan trọng lớn lao của nó. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng vẫn khẳng định tầm quan trọng ấy.

158. He ends with a great reassurance of His gifts to us—of His time, His love, His interest and His understanding.

158. Ngài kết thúc bằng lời bảo đảm đầy sức khích lệ về những gì Ngài trao cho chúng ta—thời gian, tình thương, sự quan tâm và sự thấu hiểu của Ngài.

159. Just as He asked that His chelas recite the Great Invocation with Him in the visualized, symbolic Full Moon ritual, here He asks that they and He may serve together. The implication is that His group of chelas has a golden opportunity to act in concert with their Master. How many of us, when we serve, realize that we are serving with our inner group and even with our Master? The depth and effectiveness of our service would be magnified significantly could we but realize this.

159. Cũng như Ngài đã yêu cầu các đệ tử của Ngài đọc Đại Khấn Nguyện cùng Ngài trong nghi lễ Trăng Tròn mang tính biểu tượng được hình dung, ở đây Ngài yêu cầu họ và Ngài có thể cùng nhau phụng sự. Hàm ý là nhóm đệ tử của Ngài có một cơ hội vàng để hành động phối hợp với Chân sư của họ. Có bao nhiêu người trong chúng ta, khi phụng sự, nhận ra rằng chúng ta đang phụng sự cùng nhóm bên trong của mình và thậm chí cùng Chân sư của mình? Chiều sâu và hiệu quả phụng sự của chúng ta sẽ gia tăng đáng kể nếu chúng ta có thể nhận ra điều này.

Commentary 31

[60-73]

(Underlining, Highlighting and Bolding, MDR)

January 1946

Tháng Một năm 1946

TO MY GROUP OF AFFILIATED DISCIPLES:

GỬI NHÓM ĐỆ TỬ CÓ LIÊN KẾT VỚI TÔI:

1. The group was a group of accepted disciples. They are also affiliated with the Ashram of Master DK. Does the form of address, “Affiliated Disciples”, represent in some way, a lowering of status. Near the end of the year 1946, Master DK disbanded the New Seed Group for a number of reasons—insufficient responsiveness being one.

1. Nhóm này là một nhóm đệ tử được chấp nhận. Họ cũng có liên kết với Ashram của Chân sư DK. Liệu cách xưng gọi “Các Đệ Tử Có Liên Kết” có biểu thị một sự hạ thấp địa vị theo cách nào đó không? Gần cuối năm 1946, Chân sư DK đã giải thể Nhóm Hạt Giống Mới vì một số lý do—một trong số đó là sự đáp ứng chưa đầy đủ.

Since I last communicated with you the outer aspects of the world war, the carnage and the slaughter are over, except in a few sporadic instances. The struggle now being waged is to reach a point of stabilisation in human thinking and understanding from which a true and reliable peace can emerge.

Kể từ lần cuối Tôi liên lạc với các bạn, những phương diện bên ngoài của cuộc chiến tranh thế giới, cảnh đổ máu và tàn sát, đã chấm dứt, ngoại trừ một vài trường hợp lẻ tẻ. Cuộc đấu tranh hiện đang diễn ra là để đạt đến một điểm ổn định trong tư duy và sự thấu hiểu của con người, từ đó một nền hòa bình đích thực và đáng tin cậy có thể xuất hiện.

2. We know how much Libra has to do with balance and detached observation upon the mental plane. Interestingly, Libra is also, particularly, the sign of peace. Libran poise and balance (“stabilization in human thinking”) is intimately related to Libran peace.

2. Chúng ta biết Thiên Bình liên quan mật thiết đến mức nào với sự cân bằng và việc quan sát không dính mắc trên cõi trí. Điều thú vị là Thiên Bình cũng đặc biệt là dấu hiệu của hòa bình. Sự điềm tĩnh và cân bằng của Thiên Bình (“sự ổn định trong tư duy của con người”) có liên hệ mật thiết với hòa bình của Thiên Bình.

3. The Tibetan is not speaking only of a temporary peace, but of a “true and reliable” peace. This requires some degree of maturity in human thinking.

3. Chân sư Tây Tạng không chỉ nói đến một nền hòa bình tạm thời, mà là một nền hòa bình “đích thực và đáng tin cậy”. Điều này đòi hỏi tư duy của con người phải có một mức độ trưởng thành nhất định.

On the emotional plane, there is as yet no peace. On the mental plane, a great and deep-seated cleavage is going on and the occult significance of certain words, enunciated by the Christ when in Palestine, is being worked out. He gave them as the keynote for the particular subjective happening which is taking place at this time. He said: ”He that is not with Me is against Me.”

Trên cõi cảm xúc, vẫn chưa có hòa bình. Trên cõi trí, một sự chia rẽ sâu sắc và rộng lớn đang diễn ra, và thâm nghĩa huyền môn của một số lời Đức Christ đã nói khi ở Palestine đang được thể hiện. Ngài đã đưa ra những lời ấy như chủ âm cho diễn biến chủ quan đặc biệt đang xảy ra vào lúc này. Ngài nói: “Ai không cùng Ta là chống lại Ta.”

4. This cleavage is still evident. In today’s world, as well, there is no peace upon the emotional plane. Violent idealisms clash with little hope of immediate reconciliation. On the mental plane, the forces which are for the Christ and the new civilization are sharply divided from those which seek to perpetuate the old ways of enslavement on many levels.

4. Sự chia rẽ này vẫn còn rõ rệt. Trong thế giới ngày nay cũng vậy, trên cõi cảm xúc vẫn chưa có hòa bình. Những chủ nghĩa lý tưởng bạo liệt xung đột với nhau, với rất ít hy vọng hòa giải ngay trước mắt. Trên cõi trí, những mãnh lực ủng hộ Đức Christ và nền văn minh mới phân chia rõ rệt với những mãnh lực tìm cách duy trì các phương thức nô dịch cũ trên nhiều cấp độ.

This refers to the after-effects of the conflict between the Forces of Light and the Forces of Evil.

Điều này đề cập đến những hậu quả của cuộc xung đột giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và các Mãnh Lực Tà Ác.

5. It is interesting that the Christ’s statement refers to the “after-effects” of the great conflict. When this letter was written the war had been won by the Allies and it was, so we see, necessary for each thinking human being to make a choice (again Libra) concerning their orientation towards the Forces of Light or the Forces of Evil.

5. Điều thú vị là lời tuyên bố của Đức Christ đề cập đến những “hậu quả” của cuộc xung đột lớn lao. Khi bức thư này được viết, phe Đồng Minh đã giành chiến thắng trong cuộc chiến và, như chúng ta thấy, mỗi con người biết suy nghĩ đều cần đưa ra một lựa chọn (lại là Thiên Bình) về việc mình hướng về các Mãnh Lực Ánh Sáng hay các Mãnh Lực Tà Ác.

Great decisions have to be made all over the world, as to whether humanity moves forward into a New Age of cooperation and of right human relations or whether the materialistic groups will reassert their control and succeed in winning the day. This great cleavage is now in process of settlement.

Trên khắp thế giới, cần đưa ra những quyết định lớn lao về việc liệu nhân loại sẽ tiến vào một Kỷ Nguyên Mới của sự hợp tác và những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, hay các nhóm duy vật sẽ tái lập quyền kiểm soát và giành thắng lợi. Sự chia rẽ lớn lao này hiện đang trong tiến trình giải quyết.

6. This statement was written almost sixty years ago and the issue is far from decided. That settlement is becoming a crucial issue in today’s world. The materialistic forces are far stronger today than then need have been had humanity acted correctly and selflessly following the war.

6. Lời tuyên bố này được viết cách đây gần sáu mươi năm mà vấn đề vẫn còn lâu mới được định đoạt. Việc giải quyết sự chia rẽ ấy đang trở thành một vấn đề then chốt trong thế giới ngày nay. Ngày nay, các mãnh lực duy vật mạnh hơn rất nhiều so với mức lẽ ra chúng có thể đạt tới nếu nhân loại đã hành động đúng đắn và vị tha sau cuộc chiến.

7. Are we not in the position of the man who swept his house clean of “devils” only to find his situation even worse than it had been?

7. Chẳng phải chúng ta đang ở trong hoàn cảnh của người đã quét sạch “ma quỷ” khỏi nhà mình, để rồi nhận ra tình cảnh của mình còn tồi tệ hơn trước hay sao?

On the other hand, a deeply spiritual division is also taking place. In a peculiar sense, and speaking largely symbolically, [60] the first phase of the Great Judgment is asserting itself.

Mặt khác, một sự phân chia mang tính tinh thần sâu sắc cũng đang diễn ra. Theo một ý nghĩa đặc biệt nào đó, và phần lớn là nói theo nghĩa biểu tượng, [60] giai đoạn đầu tiên của Cuộc Phán Xét Vĩ Đại đang thể hiện rõ.

8. The true Great Judgment is millions of years ahead, but there are already trends towards that which will one day be.

8. Cuộc Phán Xét Vĩ Đại đích thực còn ở phía trước hàng triệu năm, nhưng đã có những xu hướng hướng tới điều một ngày kia sẽ thành hiện thực.

The sheep and the goats are forming into two distinct groups.The judgment being given is not the generally assumed one of assigning penalties or rewards; it is not the negation of all effort as the result of decisive moves, nor will it result in the emergence of major dividing lines. Such interpretations are man-made and are not true interpretations of the parable or word picture which Christ gave to His disciples nearly two thousand years ago.

Chiên và dê đang hình thành hai nhóm riêng biệt. Sự phán xét đang được đưa ra không phải là việc định hình phạt hay ban phần thưởng như người ta thường nghĩ; đó không phải là sự phủ nhận mọi nỗ lực do những bước đi mang tính quyết định, cũng sẽ không dẫn đến sự xuất hiện của những ranh giới phân chia lớn. Những cách diễn giải như vậy là do con người tạo ra và không phải là những cách diễn giải đúng về dụ ngôn hay bức tranh bằng lời mà Đức Christ đã trao cho các đệ tử của Ngài gần hai nghìn năm trước.

9. DK describes the true meaning of the Judgment Day

9. Chân sư DK mô tả ý nghĩa đích thực của Ngày Phán Xét

10. It is not, as the man-made interpretations would have it:

10. Ngày ấy không phải là những điều mà các cách diễn giải do con người tạo ra gán cho nó:

a. The assigning of penalties or rewards

a. Việc ấn định hình phạt hay phần thưởng

b. The negation of all effort as the result of decisive moves

b. Việc phủ nhận mọi nỗ lực do những bước đi mang tính quyết định

c. The emergence of major dividing lines

c. Sự xuất hiện của những ranh giới phân chia lớn

11. When thinking of the Judgment Day let us not forget the relationship between Capricorn and Aries, between those that follow the way of Venus (the hierarchical ruler of Capricorn) and those, more primitive, who follow the way of Mars.

11. Khi nghĩ về Ngày Phán Xét, chúng ta đừng quên mối quan hệ giữa Ma Kết và Bạch Dương, giữa những người đi theo con đường của Sao Kim (chủ tinh huyền giai của Ma Kết) và những người nguyên sơ hơn đi theo con đường của Sao Hỏa.

The judgment referred to has relation to a mysterious process which is going on in the thinking (if one dare use such a word for such a comprehensive process) of the planetary Logos. He is deciding at this time the mode by which a momentous event or happening within the Hierarchy shall take shape; He is timing the process of its externalisation; He is deciding which Ashrams shall be externalised and Who, within those Ashrams, should and must proceed with the purely inner and subjective work, and Who should be chosen to work—consciously and openly—in the outer world of men, thus duplicating in Their numbers what Christ experienced when He “descended into Hell.” Many things have to be considered; the objectives in view of the Masters concerned, the rays in manifestation, and many astrological relationships.

Sự phán xét được đề cập có liên quan đến một tiến trình huyền nhiệm đang diễn ra trong tư duy của Hành Tinh Thượng đế, nếu người ta dám dùng một từ như vậy cho một tiến trình bao quát đến thế. Vào lúc này, Ngài đang quyết định cách thức một sự kiện hay biến cố trọng đại trong Thánh đoàn sẽ thành hình; Ngài đang định thời điểm cho tiến trình ngoại hiện của nó; Ngài đang quyết định những Ashram nào sẽ ngoại hiện, và những Vị nào trong các Ashram ấy nên và phải tiếp tục công việc hoàn toàn nội tâm và chủ quan, cùng những Vị nào nên được chọn để làm việc một cách có ý thức và công khai trong thế giới bên ngoài của con người, qua đó tái hiện trong hàng ngũ Các Ngài điều Đức Christ đã trải nghiệm khi Ngài “xuống Địa Ngục”. Có nhiều điều cần xem xét: các mục tiêu mà những Chân sư hữu quan đang hướng tới, những cung đang biểu hiện và nhiều mối quan hệ chiêm tinh.

12. Quite a different interpretation of the Great Judgment is being offered. As here presented, it is not even the usual dividing of the “Sheep” and the “Goats” which will take place in the fifth round.

12. Một cách diễn giải hoàn toàn khác về Cuộc Đại Phán Xét đang được đưa ra. Theo cách trình bày ở đây, đó thậm chí cũng không phải là sự phân chia thông thường giữa “Cừu” và “Dê” sẽ diễn ra trong cuộc tuần hoàn thứ năm.

13. We learn that the “thinking” of the Planetary Logos is so comprehensive a process that DK hesitates to call it “thinking”.

13. Chúng ta biết rằng “tư duy” của Hành Tinh Thượng đế là một tiến trình bao quát đến mức Chân sư DK ngần ngại gọi đó là “tư duy”.

14. The Great Judgment refers to intra-hierarchical matters.

14. Cuộc Đại Phán Xét liên quan đến những vấn đề nội bộ của Thánh đoàn.

15. What is the Planetary Logos deciding?

15. Hành Tinh Thượng đế đang quyết định điều gì?

a. He is timing the process of externalization

a. Ngài đang định thời điểm cho tiến trình ngoại hiện

b. He is deciding which Ashrams shall be externalized

b. Ngài đang quyết định những Ashram nào sẽ ngoại hiện

c. He is deciding who within those Ashrams will work subjectively and who objectively.

c. Ngài đang quyết định những ai trong các Ashram ấy sẽ làm việc về mặt chủ quan và những ai sẽ làm việc về mặt khách quan.

16. It becomes clear that the physical plane (and even the lower three worlds) is, from the hierarchical perspective, “Hell”.

16. Điều trở nên rõ ràng là, từ góc nhìn của Thánh đoàn, cõi hồng trần (và thậm chí cả ba cõi thấp) là “Địa Ngục”.

17. What has the Planetary Logos to consider in arriving at the result of His Great Judgment?

17. Hành Tinh Thượng đế phải cân nhắc những gì để đi đến kết quả của Cuộc Đại Phán Xét của Ngài?

a. The objectives in view of the Masters who may be concerned with either the subjective or objective work

a. Những mục tiêu mà các Chân sư có thể đảm trách công việc chủ quan hoặc khách quan đang hướng tới

b. The rays in manifestation at this time

b. Các cung đang biểu hiện vào thời điểm này

c. Many astrological relationship

c. Nhiều mối quan hệ chiêm tinh

18. We are reminded of Libra’s relationship to the third ray and of how many factors—planetary, systemic and even cosmic—must be taken into ‘con-sider-ation’ by the Planetary Logos.

18. Chúng ta được nhắc nhớ về mối quan hệ của Thiên Bình với cung ba và về biết bao yếu tố—thuộc hành tinh, hệ mặt trời và thậm chí vũ trụ—mà Hành Tinh Thượng đế phải đưa vào sự ‘cân-nhắc’.

19. We are also reminded that the Planetary Logos is passing through a period in which the constellation Libra is becoming very powerful in the planetary horoscope.

19. Chúng ta cũng được nhắc nhớ rằng Hành Tinh Thượng đế đang trải qua một thời kỳ trong đó chòm sao Thiên Bình đang trở nên rất mạnh trong lá số chiêm tinh hành tinh.

In this deciding judgment Sanat Kumara is being aided by certain Members of the Great Council at Shamballa, by the Christ and by the seven Masters Who are responsible for the seven groups of Ashrams. He is also reaching certain conclusions as to the groups of disciples who have hitherto been under training during the final stages of the Path of Discipleship. This decision has to take under advisement the rapidity with which the entrance of men and women into the Ashrams can take place; it is also dependent upon the members of the Ashram moving forward according to their degree, and upon the power of the Ashrams to absorb and assimilate the much larger numbers, without upsetting ashramic stability. He has also to consider the ability of the neophyte under training to take and hold the far greater tension necessarily incident to true ashramic life in the New Age.

Trong sự phán xét mang tính quyết định này, một số Thành Viên của Hội Đồng Vĩ Đại tại Shamballa, Đức Christ và bảy Chân sư chịu trách nhiệm về bảy nhóm Ashram đang trợ giúp Sanat Kumara. Ngài cũng đang đi đến một số kết luận về các nhóm đệ tử từ trước đến nay được huấn luyện trong những giai đoạn cuối của Con Đường Đệ Tử. Quyết định này phải cân nhắc tốc độ mà những người nam và nữ có thể gia nhập các Ashram; quyết định ấy cũng tùy thuộc vào việc các thành viên Ashram tiến bước theo cấp độ của mình, và vào khả năng các Ashram thu nhận, đồng hóa số lượng đông hơn nhiều mà không làm xáo trộn sự ổn định của ashram. Ngài cũng phải xem xét khả năng của người sơ cơ đang được huấn luyện trong việc tiếp nhận và duy trì mức tập trung nhất tâm cao hơn nhiều, vốn tất yếu đi kèm đời sống ashram đích thực trong Kỷ Nguyên Mới.

20. Notice how in one breath DK was talking about the Planetary Logos, and in the next, of Sanat Kumara, as if They were the same being. Often, He does this.

20. Hãy lưu ý cách Chân sư DK vừa nói về Hành Tinh Thượng đế, rồi ngay sau đó lại nói về Sanat Kumara, như thể Các Ngài là cùng một Đấng. Ngài thường làm như vậy.

21. Are the Members of the Great Council at Shamballa Who assist Sanat Kumara the three Buddhas of Activity? This would seem reasonable. As well, there are the seven Chohans directing the seven groups of Ashrams, i.e., the Chohans Who direct the major Ashrams.

21. Phải chăng các Thành Viên của Hội Đồng Vĩ Đại tại Shamballa trợ giúp Sanat Kumara là ba vị Phật Hoạt Động? Điều này có vẻ hợp lý. Ngoài ra, còn có bảy vị Chohan chỉ đạo bảy nhóm Ashram, tức là các vị Chohan chỉ đạo những Ashram chính.

22. The Planetary Logos is also, it seems, extending an unusual opportunity in including certain advanced disciples in His deliberations. There are many things to consider in this regard:

22. Dường như Hành Tinh Thượng đế cũng đang ban một cơ hội khác thường khi đưa một số đệ tử tiến hóa cao vào những cuộc nghị bàn của Ngài. Có nhiều điều cần cân nhắc về phương diện này:

a. How rapidly men and women can actually enter the Ashrams.

a. Những người nam và nữ thực sự có thể gia nhập các Ashram nhanh đến mức nào.

b. How rapidly those who are already members of the Ashrams can move forward.

b. Những người đã là thành viên của các Ashram có thể tiến bước nhanh đến mức nào.

c. How well the Ashrams can absorb the greater numbers of those entering. Ashramic stability must be preserved during this absorption.

c. Các Ashram có thể thu nhận số lượng người gia nhập đông hơn tốt đến mức nào. Phải gìn giữ sự ổn định của ashram trong quá trình thu nhận này.

d. The extent to which the neophyte (the new member of the Ashram) can take and hold a much greater tension (incident to ashramic life in the New Age).

d. Người sơ cơ (thành viên mới của Ashram) có thể tiếp nhận và duy trì mức tập trung nhất tâm cao hơn nhiều đến mức nào (mức tập trung đi kèm đời sống ashram trong Kỷ Nguyên Mới).

23. The implication presented is that few neophytes know the demands of “true” ashramic life.

23. Điều được hàm ý ở đây là ít người sơ cơ biết những đòi hỏi của đời sống ashram “đích thực”.

[61]

[61]

These points are all being most carefully considered, because a major expansion of the Hierarchy as a whole, and the consequent reaction upon humanity, again as a whole, is not a thing lightly to be undertaken.

Tất cả những điểm này đều đang được cân nhắc hết sức cẩn thận, vì sự mở rộng lớn lao của toàn thể Thánh đoàn, cùng tác động tiếp theo lên toàn thể nhân loại, không phải là điều có thể tiến hành một cách khinh suất. Nếu muốn tiến hành an toàn,

24. We have here a really important statement. Hierarchy is undergoing a major expansion due to the admission of so many neophytes.

24. Ở đây chúng ta có một phát biểu thật sự quan trọng. Thánh đoàn đang trải qua một đợt mở rộng lớn do tiếp nhận rất nhiều người sơ cơ.

25. Great consideration, deliberation and correct judgment must be given to the manifold variables involved in this process. The fate of the planet, of humanity and of the many kingdoms of nature is at stake.

25. Cần xem xét kỹ lưỡng, cân nhắc thận trọng và phán đoán đúng đắn về vô số biến số liên quan đến tiến trình này. Vận mệnh của hành tinh, của nhân loại và của nhiều giới trong thiên nhiên đang bị đặt vào thế được mất.

Expansion—if it is to be safely undertaken—must proceed hand in hand with consolidation.

sự mở rộng phải đi đôi với việc củng cố.

26. Do we see how, in speaking of Hierarchy’s development, DK suggests the functions of the planetary pair, Jupiter (expansion) and Saturn (consolidation)?

26. Chúng ta có thấy rằng, khi nói về sự phát triển của Thánh đoàn, Chân sư DK gợi đến các chức năng của cặp hành tinh Sao Mộc (mở rộng) và Sao Thổ (củng cố) như thế nào không?

The expansion now contemplated in the highest quarters will greatly alter the potency of the relation of the Hierarchy to Humanity, and therefore of the second divine aspect to the third.

Sự mở rộng hiện đang được cân nhắc ở những cấp cao nhất sẽ làm thay đổi mạnh mẽ uy lực trong mối quan hệ của Thánh đoàn với Nhân loại, và do đó, của phương diện thiêng liêng thứ hai với phương diện thứ ba.

27. This is what we are anticipating—the increase in potency of the second divine aspect in relation to the third.

27. Đây là điều chúng ta đang mong đợi—sự gia tăng uy lực của phương diện thiêng liêng thứ hai trong mối quan hệ với phương diện thứ ba.

28. The third aspect within humanity is often doing what it can to resist the growing impact of the second.

28. Phương diện thứ ba trong nhân loại thường làm mọi điều có thể để chống lại tác động ngày càng tăng của phương diện thứ hai.

Can Humanity take this increased potency correctly and safely?

Liệu Nhân loại có thể tiếp nhận uy lực gia tăng này một cách đúng đắn và an toàn không?

29. This is a real question even though the second divine aspect is that of Love-Wisdom.

29. Đây là một câu hỏi thực sự, dù phương diện thiêng liêng thứ hai là phương diện Bác Ái – Minh Triết.

Will the aspirants of the world—if given opportunity to pass off the Probationary Path on to the Path of Discipleship—be stable enough to stand steady under the impact of hitherto undiscerned spiritual energy?

Nếu có cơ hội rời Con Đường Dự Bị để bước lên Con Đường Đệ Tử, liệu những người chí nguyện trên thế giới có đủ ổn định để đứng vững trước tác động của năng lượng tinh thần mà cho đến nay họ chưa phân biện được không?

30. The spiritual energy is “undiscerned” because it is new to the aspirants—not new to those who are the members of Hierarchy.

30. Năng lượng tinh thần ấy “chưa được phân biện” vì nó còn mới mẻ đối với những người chí nguyện—chứ không mới mẻ đối với các thành viên của Thánh đoàn.

Can the Masters, under the pressure of Their enormous task of world reconstruction, find the needed time to increase Their training of Their disciples?

Dưới áp lực của nhiệm vụ tái thiết thế giới vô cùng lớn lao, liệu các Chân sư có thể tìm được thời gian cần thiết để tăng cường huấn luyện các đệ tử của Các Ngài không?

31. We rarely realize how extraordinarily busy a Master is! We think our schedules are demanding! We remember that DK is not given to exaggeration. He uses the word “enormous”.

31. Chúng ta hiếm khi nhận ra một Chân sư bận rộn đến mức phi thường như thế nào! Chúng ta cứ nghĩ lịch trình của mình thật khắt khe! Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK không có thói quen phóng đại. Ngài dùng từ “vô cùng lớn lao”.

32. The statement above tells us why some of us who have been in the Teaching for some time, may be positioned to assist the Masters in the training of those who are just getting involved in the Teaching.

32. Phát biểu trên cho chúng ta biết vì sao một số người trong chúng ta đã theo học Giáo Huấn một thời gian có thể ở vào vị thế hỗ trợ các Chân sư huấn luyện những người mới bắt đầu tiếp cận Giáo Huấn.

For They are still governed by the time equation where Their disciples are concerned.

Vì trong những việc liên quan đến các đệ tử, Các Ngài vẫn chịu sự chi phối của yếu tố thời gian.

33. Perhaps not, however, in relation to the higher planes. Even the Planetary Logos is governed by the time equation with respect to humanity and the physical planet.

33. Tuy nhiên, có lẽ điều này không đúng trong mối liên hệ với các cõi cao. Ngay cả Hành Tinh Thượng đế cũng chịu sự chi phối của yếu tố thời gian trong những việc liên quan đến nhân loại và hành tinh hồng trần.

34. Note in the words “time equation” how both Saturn (time) and Libra (equation) are involved.

34. Hãy lưu ý trong cụm từ “phương trình thời gian”, cả Sao Thổ (thời gian) lẫn Thiên Bình (phương trình) đều có liên quan như thế nào.

Can the senior members in any Ashram relieve to some extent the pressures upon the Masters as well as upon the incoming and junior, and therefore inexperienced, disciples?

Liệu các thành viên cao niên trong mỗi Ashram có thể phần nào giảm bớt áp lực cho các Chân sư cũng như cho những đệ tử mới gia nhập và còn ở bậc thấp, do đó còn thiếu kinh nghiệm, hay không?

35. This is the question, and it calls for sacrifice and an appreciation of the enormous task of the Masters. An adjusted sense of right proportion (i.e., humility) is required to appreciate the need.

35. Đây là câu hỏi đặt ra, và nó đòi hỏi sự hi sinh cùng sự thấu hiểu nhiệm vụ vô cùng to lớn của các Chân sư. Cần điều chỉnh ý thức về tỉ lệ cho đúng đắn (tức là đức khiêm nhường) để nhận thức được nhu cầu này.

If, however, the relation between the Hierarchy and Humanity is thus strengthened and there is freer access in both directions, there will clearly emerge the invocational pull or the magnetic potency of these blending centres: the pull will be upon Shamballa, which is the highest centre of all.

Tuy nhiên, nếu mối quan hệ giữa Thánh đoàn và Nhân loại nhờ vậy được củng cố, và sự tiếp cận theo cả hai chiều trở nên thông thoáng hơn, thì sức hút khẩn cầu hay uy lực từ tính của những trung tâm đang hòa quyện này sẽ xuất hiện rõ rệt: sức hút ấy sẽ hướng đến Shamballa, trung tâm cao nhất trong tất cả các trung tâm.

36. We are speaking here of how to generate the desired three-way flow between “The Higher Three”—namely Humanity, Hierarchy and Shamballa.

36. Ở đây, chúng ta đang nói về cách tạo ra dòng lưu chuyển ba chiều như mong muốn giữa “Bộ Ba Cao”—cụ thể là Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa.

37. And it is the same for human beings. If they succeed in creating freer access between soul and personality, the magnetic potency of these blending centers will be invocative of the Spirit within them—the Spirit/Monad as the representative of Shamballa.

37. Con người cũng vậy. Nếu họ thành công trong việc tạo ra sự tiếp cận thông thoáng hơn giữa linh hồn và phàm ngã, uy lực từ tính của những trung tâm đang hòa quyện này sẽ khẩn cầu Tinh thần bên trong họ—Tinh thần/Chân thần với tư cách là đại diện của Shamballa.

Is the etheric web of the planet sufficiently stable and balanced so that it can adequately respond to the new and potent forces which could and will pour through it into objective expression?

Liệu mạng lưới dĩ thái của hành tinh có đủ ổn định và quân bình để đáp ứng thích đáng với những mãnh lực mới đầy uy lực, vốn có thể và sẽ tuôn qua đó để biểu hiện khách quan không?

38. This is perhaps an unsuspected question. We naturally assume that the etheric web can take any sort of impact, but it is not necessarily the case. The reason for the Triangles Work is seen from yet another perspective.

38. Có lẽ đây là một câu hỏi mà chúng ta chưa ngờ tới. Chúng ta tự nhiên cho rằng mạng lưới dĩ thái có thể chịu được mọi loại tác động, nhưng không nhất thiết là như vậy. Lý do thực hiện Công tác Tam Giác lại được nhìn từ một góc độ khác nữa.

I would remind you that the release of atomic energy has had a far more potent effect in the etheric web than in the dense physical vehicle of the planet.

Tôi xin nhắc các bạn rằng việc giải phóng năng lượng nguyên tử đã tác động lên mạng lưới dĩ thái mạnh hơn nhiều so với lên hiện thể hồng trần đậm đặc của hành tinh.

39. This is something we could not normally appreciate unless advised.

39. Đây là điều mà thông thường chúng ta không thể nhận thức được nếu không có lời chỉ dẫn.

Three times the atomic bomb was used, and that fact is itself significant. It was used twice in Japan, thereby disrupting the etheric web in what you erroneously call the Far East; it was used once in what is also universally called the Far West, and each time a great area of disruption was formed which will have future potent, and at present unsuspected, results.

Bom nguyên tử đã được sử dụng ba lần, và chính sự kiện ấy mang thâm nghĩa. Nó được sử dụng hai lần tại Nhật Bản, qua đó gây đứt gãy mạng lưới dĩ thái ở nơi mà các bạn gọi một cách sai lầm là Viễn Đông; nó được sử dụng một lần tại nơi cũng thường được gọi là Viễn Tây, và mỗi lần đều hình thành một vùng đứt gãy rộng lớn, sẽ gây ra những hệ quả mạnh mẽ trong tương lai mà hiện nay chưa ai ngờ tới.

40. We are given something in the nature of prophecy. The use in the Far West was probably the test in Alamogordo, New Mexico. Tremendous etheric disruption was the result of each use.

40. Chúng ta được cho biết một điều mang tính tiên tri. Lần sử dụng ở Viễn Tây có lẽ là vụ thử tại Alamogordo, New Mexico. Mỗi lần sử dụng đều gây ra sự đứt gãy dĩ thái khủng khiếp.

41. If this was the case, what of the incredible disruption which continued through tests of atomic and hydrogen bombs in the 1950’s and 1960’s—in the atmosphere, before underground testing became the norm? With respect to the underground testing, the opportunity for disruption is equally great, in its own way, and in some ways, perhaps greater.

41. Nếu quả là như vậy, thì còn sự đứt gãy kinh hoàng tiếp diễn qua các vụ thử bom nguyên tử và bom khinh khí trong những năm 1950 và 1960—trong khí quyển, trước khi việc thử nghiệm dưới lòng đất trở thành thông lệ—thì sao? Đối với việc thử nghiệm dưới lòng đất, khả năng gây đứt gãy, theo cách riêng của nó, cũng lớn không kém, và về một số phương diện, có lẽ còn lớn hơn.

42. It would seem that we have done great violence to our etheric environment.

42. Dường như chúng ta đã gây tổn hại nghiêm trọng cho môi trường dĩ thái của mình.

The formation of the Triangles of Light and of Goodwill [62] —essentially the manipulation of energy into a desired thought pattern—has a definite relation to this area of disruption.

Việc hình thành các Tam Giác Ánh Sáng và Thiện Chí [62] —về bản chất là điều khiển năng lượng thành một mô hình tư tưởng mong muốn—có mối liên hệ rõ rệt với vùng đứt gãy này.

43. Here, perhaps, we are speaking of the disruption as it appeared in Japan.

43. Ở đây, có lẽ chúng ta đang nói về sự đứt gãy đã xuất hiện tại Nhật Bản.

It will in due time be found that the Japanese people, with their peculiar knowledge of thought power (used along wrong lines in the war period), will respond more intelligently to this type of work than many of the Western peoples.

Đến đúng lúc, người ta sẽ nhận thấy rằng người Nhật, với tri thức đặc biệt của họ về quyền năng tư tưởng, vốn đã được sử dụng sai đường hướng trong thời chiến, sẽ đáp ứng với loại công việc này một cách thông minh hơn nhiều dân tộc phương Tây. Vì vậy,

44. It is interesting that the Japanese have a peculiar knowledge of thought power. Perhaps, it is the ajna center unusually developed, as reflected in the great penchant for photography. Capricorn with its hierarchical ruler Venus is one of the ruling constellations of Japan.

44. Điều thú vị là người Nhật có tri thức đặc biệt về quyền năng tư tưởng. Có lẽ đó là do trung tâm ajna phát triển khác thường, thể hiện qua niềm say mê nhiếp ảnh lớn lao của họ. Ma Kết, với chủ tinh huyền giai là Sao Kim, là một trong những chòm sao cai quản Nhật Bản.

An effort should therefore be made to reach the Japanese along the lines of the Triangle work.

cần nỗ lực tiếp cận người Nhật theo đường hướng của công việc Tam Giác.

45. We put together a few ideas which are interestingly related:

45. Chúng ta tập hợp một vài ý tưởng có mối liên hệ thú vị với nhau:

a. The two atomic bomb blasts in Japan

a. Hai vụ nổ bom nguyên tử ở Nhật Bản

b. The great resultant areas of disruption

b. Những vùng tàn phá rộng lớn do đó gây ra

c. The intelligent thought power of the Japanese

c. Quyền năng tư tưởng thông minh của người Nhật

d. The probability that they will respond to the Triangles Work intelligently

d. Khả năng họ sẽ đáp ứng một cách thông minh với Công Việc Tam Giác

46. In the coalescence of these events and capacities we may get a glimpse of how karma works.

46. Qua sự hội tụ của những sự kiện và năng lực này, chúng ta có thể thoáng thấy cách nghiệp quả vận hành.

I would like to point out that the distinction between the “sheep and the goats” is mainly hierarchical. The term “goats” is esoterically applied to initiated disciples and to those who have climbed the mountain of initiation. The term “sheep” is applied to those who are following blindly the inner urge of their souls and who are groping their way (in relatively large numbers) toward the Hierarchy.

Tôi muốn chỉ ra rằng sự phân biệt giữa “chiên và dê” chủ yếu thuộc về Thánh đoàn. Theo nghĩa nội môn, thuật ngữ “dê” được dùng cho những đệ tử đã được điểm đạo và những ai đã leo lên ngọn núi điểm đạo. Thuật ngữ “chiên” được dùng cho những ai đang mù quáng đi theo sự thôi thúc nội tâm của linh hồn mình và đang dò dẫm tìm đường đến Thánh đoàn với số lượng tương đối đông đảo.

47. Probably there are several meanings to the term “sheep and the goats”. That the phrase is mainly hierarchical is interesting.

47. Có lẽ thuật ngữ “chiên và dê” mang nhiều ý nghĩa. Điều thú vị là cụm từ này chủ yếu thuộc về Thánh đoàn.

48. A “goat” is an initiated disciple, probably of the third degree, though not necessarily exclusively.

48. Một “con dê” là một đệ tử đã được điểm đạo, có lẽ ở bậc ba, dù không nhất thiết chỉ giới hạn ở bậc này.

49. A “sheep” is an aspirant, who does not yet see, but is groping blindly towards the Hierarchy.

49. Một “con chiên” là một người chí nguyện chưa thấy, mà đang mù quáng dò dẫm tiến về phía Thánh đoàn.

50. The first type is guided more by sight, the second type by feeling.

50. Loại thứ nhất được dẫn dắt nhiều hơn bằng cái thấy, loại thứ hai bằng cảm nhận.

51. We see, as well, the distinction in mental polarization and emotional polarization.

51. Chúng ta cũng thấy sự phân biệt giữa sự phân cực trí tuệ và sự phân cực cảm xúc.

52. DK seems to hint that the urge towards the spiritual life is affecting relatively large numbers of human beings. In this there is much cause for hope.

52. Chân sư DK dường như gợi ý rằng sự thôi thúc hướng tới đời sống tinh thần đang tác động đến một số lượng người tương đối đông đảo. Chính trong điều này có nhiều cơ sở để hy vọng.

For them still has to come the great revelation that the “kingdom of God is within you.”

Đối với họ, sự mặc khải lớn lao rằng “Thiên Giới ở trong các ngươi” vẫn còn ở phía trước.

53. The “sheep” under Mars and Aries are largely affected by the sixth ray and look for God without—either “God Transcendent” or God in the form of some divine incarnation which can be adored.

53. Những “con cừu” dưới ảnh hưởng của Sao Hỏa và Bạch Dương chịu tác động phần lớn của cung sáu và tìm kiếm Thượng đế ở bên ngoài—hoặc là “Thượng đế Siêu Việt”, hoặc là Thượng đế dưới hình tướng của một hiện thân thiêng liêng nào đó mà họ có thể tôn thờ.

54. Their psychological naiveté is such that they cannot yet recognize “God Immanent”.

54. Sự ngây thơ về tâm lý của họ khiến họ chưa thể nhận ra “Thượng đế Nội Tại”.

Such is the word for them at this stage in humanity’s history.

Đó là lời dành cho họ ở giai đoạn này trong lịch sử nhân loại.

55. This means that they are constantly to be told that “the kingdom of God is within you”.

55. Điều này có nghĩa là họ cần liên tục được nhắc rằng “Thiên Giới ở trong các ngươi”.

Once they have realised that, they are already being absorbed into the Hierarchy.

Một khi đã nhận ra điều ấy, họ đã bắt đầu được thu nhận vào Thánh đoàn. Từ đó,

56. This is interesting. It means that the realization of “God Immanent” is tantamount to absorption into the Hierarchy.

56. Điều này thật thú vị. Nó có nghĩa là việc nhận ra “Thượng đế Nội Tại” tương đương với việc được thu nhận vào Thánh đoàn.

57. Those who are groping forward, therefore, are not yet initiates of the first degree, for such initiates are included within the great circle of Hierarchy (cf. Chart, TCF 1238)

57. Vì vậy, những người đang dò dẫm tiến tới vẫn chưa phải là điểm đạo đồ bậc một, vì những điểm đạo đồ ấy đã thuộc về vòng tròn rộng lớn của Thánh đoàn (xem Biểu đồ, TCF 1238)

58. We might say that the realization of “God Immanent” and the first initiation are contemporaneous. This realization also signals a transference from sixth ray to second ray emphasis.

58. Chúng ta có thể nói rằng việc nhận ra “Thượng đế Nội Tại” và lần điểm đạo thứ nhất diễn ra đồng thời. Sự nhận biết này cũng báo hiệu sự chuyển dịch trọng tâm từ cung sáu sang cung hai.

Life will now for them simplify.

cuộc sống đối với họ sẽ trở nên đơn giản hơn.

59. The first initiation is, in one way, a simplification.

59. Theo một phương diện, lần điểm đạo thứ nhất là một sự đơn giản hóa.

For the “goats” must come the impelling call from the highest aspect of the Spiritual Triad,

Đối với những “con dê”, phải có tiếng gọi thôi thúc từ phương diện cao nhất của Tam Nguyên Tinh Thần:

60. The atmic aspect pointing towards the monadic plane…

60. Phương diện atma hướng về cõi chân thần…

“Seek the way of Ascension”—ascension out of even triadal life into that of pure Being and of monadic existence.

“Hãy tìm con đường Thăng Thiên”—thăng vượt lên ngay cả sự sống tam nguyên để đi vào sự sống của Bản Thể thuần khiết và sự hiện tồn chân thần.

61. These are amazing thoughts and a most occult elaboration on the familiar phrase, “the sheep and the goats”.

61. Đây là những tư tưởng đáng kinh ngạc và là một sự khai triển hết sức huyền bí về cụm từ quen thuộc “những con cừu và những con dê”.

In this Great Judgment all decision lies in the conclusive thinking of Sanat Kumara.

Trong Cuộc Phán Xét Vĩ Đại này, mọi quyết định đều nằm trong tư duy mang tính kết luận của Sanat Kumara.

62. This Judgment is in relation to the Libran aspect of the King. We remember that Shamballa (the true center of peace upon our planet) is Libran in many ways.

62. Sự Phán Xét này liên quan đến phương diện Thiên Bình của Đức Vua. Chúng ta nhớ rằng Shamballa (trung tâm đích thực của hòa bình trên hành tinh chúng ta) mang tính chất Thiên Bình trên nhiều phương diện.

63. The Path of Earth Service (ruled powerfully by Libra) is related to the Libran Nature of Shamballa, and should be studied as such.

63. Con Đường Phụng Sự Trái Đất (chịu sự cai quản mạnh mẽ của Thiên Bình) liên quan đến Bản Chất Thiên Bình của Shamballa, và cần được nghiên cứu theo mối liên hệ ấy.

64. We note in the words “conclusive thinking” the decisive nature of Sanat Kumara’s thought process.

64. Qua những từ “tư duy đi đến kết luận dứt khoát”, chúng ta nhận thấy tính quyết đoán trong tiến trình tư tưởng của Sanat Kumara.

It is His judgment; neither the sheep nor the goats, nor the great mass of men from among whom they have emerged, can affect that decision in the slightest degree.

Đó là sự phán xét của Ngài; cả chiên lẫn dê, cũng như quảng đại quần chúng mà từ đó họ đã xuất hiện, đều không thể ảnh hưởng đến quyết định ấy dù chỉ chút nào.

65. This statement puts things in proportion. We are reminded of the“Unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara” (R&I 241)

65. Phát biểu này đặt mọi sự vào đúng tỉ lệ. Chúng ta được nhắc nhớ về “thiên ý chưa được biết đến, chưa được thấy và chưa được nghe của Sanat Kumara” (R&I 241)

66. Note the pattern of emergence of the sheep and the goats. Neither of them belongs any longer to the masses.

66. Hãy lưu ý mô hình xuất hiện của chiên và dê. Cả hai đều không còn thuộc về quần chúng nữa.

Any moment or climax of decision on the part of the Lord of the World institutes new law and brings into play new energies.

Bất kỳ thời điểm hay cao điểm quyết định nào của Đức Chúa Tể Thế Giới đều thiết lập định luật mới và đưa những năng lượng mới vào hoạt động.

67. This process leading to a determining conclusion must be related to the onset of the Aquarian Age (in both its smaller and larger versions—2,500 years and 25,000 years, approximately).

67. Tiến trình dẫn đến một kết luận có tính định đoạt này hẳn phải liên quan đến sự khởi đầu của Kỷ Nguyên Bảo Bình (ở cả quy mô nhỏ lẫn quy mô lớn—tương ứng khoảng 2.500 năm và 25.000 năm).

Laws are only the unalterable conditions brought about by the activity, the orientation and the emanated decisive thoughts of the One in Whom we live and move and have our being, just as the activities, the orientation and the thinking of a human being carry the cells and the atoms of his body along the line of his wishes.

Các định luật chỉ là những điều kiện bất biến do hoạt động, định hướng và những tư tưởng quyết định được phát xạ của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn tạo nên, cũng như các hoạt động, định hướng và tư duy của một con người đưa những tế bào và nguyên tử trong thân thể y đi theo đường hướng những mong muốn của y.

68. The relative altitude of the origin of Law (relative to humanity, that is) is given.

68. Ở đây, chúng ta được cho biết độ cao tương đối của nguồn gốc Định Luật (nghĩa là so với nhân loại).

69. Just as the cells of our physical body have nothing to say over determinations which we may be making upon the plane of mind, so has the man nothing to say about the determinations and conclusions that Sanat Kumara may be making upon the plane of cosmic mind.

69. Cũng như các tế bào trong thể xác chúng ta không có tiếng nói gì đối với những quyết định mà chúng ta có thể đang đưa ra trên cõi trí, con người cũng không có tiếng nói gì đối với những quyết định và kết luận mà Sanat Kumara có thể đang đưa ra trên cõi trí vũ trụ.

Energies are but the rhythm of His breathing and the results of the systolic and the diastolic action of His heart.

Các năng lượng chỉ là nhịp điệu hơi thở của Ngài và kết quả của hoạt động co bóp, giãn nở nơi trái tim Ngài.

70. We are invited into some rather extraordinary proportional thinking. Well could this magnificent sentence be pondered! The origin of energies—primarily of life and love—are here given.

70. Chúng ta được mời suy ngẫm về những tương quan tỉ lệ khá phi thường. Câu văn tráng lệ này thật đáng để suy ngẫm! Ở đây, chúng ta được cho biết nguồn gốc của các năng lượng—chủ yếu là năng lượng sự sống và tình thương.

71. SK’s breath breathes us; His heart beat is the beating of our hearts.

71. Hơi thở của Sanat Kumara làm cho chúng ta thở; nhịp tim của Ngài chính là nhịp đập của trái tim chúng ta.

From these energies we cannot escape, but—in a mysterious and peculiar [63] manner—the planetary Logos directs them or withholds them to suit the recognised planetary needs of the period.

Chúng ta không thể thoát khỏi những năng lượng này, nhưng theo một cách thức huyền nhiệm và đặc biệt [63], Hành Tinh Thượng đế điều hướng hoặc giữ chúng lại để phù hợp với những nhu cầu của hành tinh trong thời kỳ ấy mà Ngài đã nhận biết.

72. It may be that Sanat Kumara (as a solar system Yogi) knows how to “hold his breath” and “stop his heart” according to the needs of his vehicle of manifestation.

72. Có thể Sanat Kumara (với tư cách một hành giả yoga cấp hệ mặt trời) biết cách “nín thở” và “ngừng tim” tùy theo nhu cầu của vận cụ biểu hiện của Ngài.

At this time the “eye of His direction” is turned towards a needy and waiting world, and particularly towards the large number of waiting people who hold within themselves the potencies of discipleship.

Vào lúc này, “con mắt chỉ đạo của Ngài” đang hướng về một thế giới đầy thiếu thốn và chờ đợi, đặc biệt hướng về đông đảo những người đang chờ đợi, những người mang trong mình các tiềm năng của địa vị đệ tử.

73. One extraordinary sentence after another. Those who hold within themselves “the potencies of discipleship” are receiving at this time the attention of Sanat Kumara.

73. Hết câu phi thường này đến câu phi thường khác. Vào lúc này, Sanat Kumara đang chú ý đến những người mang trong mình “các tiềm năng của địa vị đệ tử”.

74. The phrase “eye of His direction” is not straightforward. It is an occult formulation. In this formulation the first and second rays are inseparable. When the King turns His eye upon a group or aggregation of entities, that turning is equivalent to directing those upon whom the eye is turned.

74. Cụm từ “con mắt chỉ đạo của Ngài” không có nghĩa hiển nhiên. Đây là một cách diễn đạt huyền bí. Trong cách diễn đạt này, cung một và cung hai không thể tách rời. Khi Đức Vua hướng mắt về một nhóm hay một tập hợp các thực thể, việc hướng mắt ấy tương đương với việc chỉ đạo những đối tượng mà ánh mắt Ngài hướng tới.

They are the hope of the world.

Họ là niềm hi vọng của thế giới.

75. Those in whom the potencies of discipleship exist are the “hope of the world”. Usually, we think that Hierarchy is the “hope of the world”.

75. Những người mang trong mình các tiềm năng của địa vị đệ tử là “niềm hi vọng của thế giới”. Thông thường, chúng ta nghĩ rằng Thánh đoàn là “niềm hi vọng của thế giới”.

This outpouring of directed energy means a great stimulation of all sensitive and responsive aspirants; the result is not an easy one for them.

Lần tuôn đổ năng lượng có định hướng này mang đến sự kích thích lớn lao cho mọi người chí nguyện nhạy cảm và biết đáp ứng; kết quả ấy không dễ dàng đối với họ.

76. It is quite an amazing thought that the great stimulation which aspirants and disciples may be experiencing is the result of the fact that Sanat Kumara has turned “the eye of His direction” upon them. This source of stimulation is as occult as it can be—in relation to our planet at least.

76. Quả là một ý nghĩ đáng kinh ngạc: sự kích thích lớn lao mà những người chí nguyện và các đệ tử có thể đang trải nghiệm là kết quả của việc Sanat Kumara hướng “con mắt chỉ đạo của Ngài” về họ. Nguồn kích thích này mang tính huyền bí đến tột độ—ít nhất là đối với hành tinh chúng ta.

Everything in them is raised to the surface of consciousness, and whilst they are faced with a vital and beneficent opportunity, they are also faced with the problem of absorbing more “punishment” (is not that the word I want, my brother?) than they would normally take.

Mọi điều trong họ đều được đưa lên bề mặt tâm thức, và trong khi đứng trước một cơ hội thiết yếu, tốt lành, họ cũng đối diện với vấn đề phải chịu đựng nhiều “đòn đau” hơn mức thông thường—huynh đệ của tôi, chẳng phải đó là từ Tôi muốn dùng sao?

77. If we wonder why the Dweller is exposed to the consciousness of the advancing disciple, we have here the reason.

77. Nếu chúng ta tự hỏi vì sao Kẻ Chận Ngõ lại phơi bày trước tâm thức của người đệ tử đang tiến bước, thì đây chính là lý do.

78. The “eye” of Sanat Kumara presents opportunity—the opportunity (under Saturn, the “god of opportunity”) to absorb more than the customary amount of “punishment”. How many would welcome this as an opportunity?

78. “Con mắt” của Sanat Kumara mang đến cơ hội—cơ hội (dưới ảnh hưởng của Sao Thổ, “vị thần của cơ hội”) để chịu đựng nhiều “đòn đau” hơn mức thông thường. Có bao nhiêu người sẽ đón nhận điều này như một cơ hội?

Will they break under the impact of self-discovery and the opportunity to eliminate personality? Or will they rise triumphant from the ashes of their dead selves into living power and beauty?

Liệu họ sẽ gục ngã dưới tác động của việc khám phá chính mình và cơ hội loại bỏ phàm ngã? Hay họ sẽ vươn lên chiến thắng từ tro tàn của những bản ngã đã chết, bước vào quyền năng và vẻ đẹp sống động?

79. The question could not be clearer, for, indeed, it is possible to break under the stress of self-revelation.

79. Câu hỏi không thể rõ ràng hơn, vì quả thực, người ta có thể gục ngã dưới sức ép của việc chính mình được phơi bày.

80. The personality must die; it must become the dead self, from which may emerge living power and beauty.

80. Phàm ngã phải chết; nó phải trở thành bản ngã đã chết, từ đó quyền năng và vẻ đẹp sống động có thể xuất hiện.

Though Sanat Kumara is naturally unaware of the individual disciple or aspirant, He is not unaware of their massed effect, quality or status.

Dù Sanat Kumara tất nhiên không nhận biết từng đệ tử hay người chí nguyện riêng lẻ, Ngài vẫn nhận biết tác động, phẩm tính hay trình độ tổng hợp của họ.

81. It is revealed how we are seen by the ‘eye of the King’. Together we count somewhat; individually, we do not.

81. Điều này cho thấy “con mắt của Đức Vua” nhìn chúng ta như thế nào. Khi hợp lại, chúng ta có phần đáng kể; khi riêng lẻ, chúng ta không đáng kể.

82. Sanat Kumara is taking the gauge of the mass.

82. Sanat Kumara đang thẩm định toàn thể tập hợp ấy.

Contact and relationship are based upon vibratory reaction, and the potency of the united vibration of the disciples and aspirants of the world is today—for the first time in human history—strong enough to reach Shamballa. This is a new and very interesting fact.

Sự tiếp xúc và mối quan hệ dựa trên phản ứng rung động, và ngày nay, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, uy lực của rung động hợp nhất từ các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới đủ mạnh để vươn tới Shamballa. Đây là một sự kiện mới mẻ và rất đáng quan tâm.

83. There must be something to which Sanat Kumara may respond, if He is to respond.

83. Phải có điều gì đó để Sanat Kumara có thể đáp ứng, nếu Ngài muốn đáp ứng.

84. We are told that a new condition now exists in humanity. The united vibration of the disciples and aspirants of the world is sufficiently strong to reach Shamballa. This is a monumental development in the history of the human race upon this planet.

84. Chúng ta được cho biết rằng hiện nay trong nhân loại có một tình trạng mới. Rung động hợp nhất của các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới đủ mạnh để vươn tới Shamballa. Đây là một bước phát triển trọng đại trong lịch sử nhân loại trên hành tinh này.

The Hierarchy therefore is:

Vì vậy, Thánh đoàn đang:

1. In a position of extreme tension.

1. Ở trong một trạng thái tập trung nhất tâm cực độ.

85. They are oriented simultaneously towards Shamballa and towards humanity.

85. Các Ngài đồng thời hướng về Shamballa và nhân loại.

86. Shamballa is putting Hierarchy under extreme pressure, far more so than its effect upon humanity.

86. Shamballa đang đặt Thánh đoàn dưới áp lực cực độ, lớn hơn nhiều so với tác động của Shamballa lên nhân loại.

2. In a condition of quiescent waiting. It awaits:

2. Ở trong trạng thái tĩnh tại chờ đợi. Thánh đoàn chờ đợi:

87. It awaits the precipitation of the Purpose as Plan.

87. Thánh đoàn chờ đợi sự ngưng tụ của Thiên Ý thành Thiên Cơ.

a. The decision which is on the verge of emanating from the judgment seat of Sanat Kumara.

a. Quyết định sắp phát ra từ ngai phán xét của Sanat Kumara.

88. The term “judgment seat” is definitely significant in the context of this discussion on the Great Judgment.

88. Thuật ngữ “ngai phán xét” rõ ràng mang thâm nghĩa trong bối cảnh cuộc thảo luận này về cuộc Đại Phán Xét.

89. We are using Biblical terminology here, but its occult nature is easily seen.

89. Ở đây, chúng ta đang sử dụng thuật ngữ Kinh Thánh, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy bản chất huyền bí của thuật ngữ ấy.

b. Notification as to the period and mode of the coming externalisation.

b. Thông báo về thời kỳ và phương thức của sự ngoại hiện sắp tới.

90. The entire Externalization process is controlled from ‘above’. Hierarchy is not self-determining in this regard.

90. Toàn bộ tiến trình Ngoại Hiện chịu sự kiểm soát từ ‘bên trên’. Về phương diện này, Thánh đoàn không tự quyết định.

91. The Externalization has a duration and a method. It does not last forever and must occur in a specific way.

91. Sự Ngoại Hiện có một khoảng thời gian và một phương pháp. Tiến trình này không kéo dài mãi mãi và phải diễn ra theo một cách thức cụ thể.

c. The proposed influx into its ranks of disciples and aspirants.

c. Làn sóng đệ tử và người chí nguyện dự kiến sẽ gia nhập hàng ngũ của Thánh đoàn.

92. It is Sanat Kumara’s will that aspirants and disciples enter the Hierarchy. For this influx Hierarchy must be prepared as previously stated; it will not be a simple or easy process.

92. Ý chí của Sanat Kumara là để những người chí nguyện và đệ tử gia nhập Thánh đoàn. Như đã nêu trước đây, Thánh đoàn phải chuẩn bị để đón nhận dòng người gia nhập này; đó sẽ không phải là một tiến trình đơn giản hay dễ dàng.

d. The reaction, later to be sensed by Them, of the massed use of the Great Invocation.

d. Đáp ứng đối với việc sử dụng Đại Khấn Nguyện trên quy mô tập thể, mà sau này Các Ngài sẽ cảm nhận được.

93. The Great Invocation is sounding daily and Hierarchy is obliged to respond. But the response must be correct and in line with the will of Sanat Kumara.

93. Đại Khấn Nguyện đang vang lên hằng ngày và Thánh đoàn có bổn phận đáp ứng. Nhưng sự đáp ứng phải đúng đắn và phù hợp với ý chí của Sanat Kumara.

e. The clear sounding of the invocative, though inchoate, [64] cry of the masses of those who are not yet even upon the Probationary Path.

e. Tiếng kêu khẩn cầu vang lên rõ ràng, dù còn phôi thai, [64] của đông đảo những người thậm chí còn chưa bước lên Con Đường Dự Bị.

94. Hierarchy must also be attentive to the inchoate invocation of those who are not yet on the Probationary Path.

94. Thánh đoàn cũng phải chú tâm đến lời khẩn cầu còn phôi thai của những người chưa bước lên Con Đường Dự Bị.

3. Passing through a process of reorganisation. This involves the following:

3. Trải qua một tiến trình tái tổ chức. Tiến trình này bao gồm những điều sau:

95. Thus, it must be subjected to Uranian and Aquarian influences.

95. Do đó, Thánh đoàn phải chịu tác động của các ảnh hưởng từ Sao Thiên Vương và Bảo Bình.

96. We are speaking of how to recognize that Hierarchy is passing through a period of reorganization.

96. Chúng ta đang bàn về cách nhận biết rằng Thánh đoàn đang trải qua một thời kỳ tái tổ chức.

a. Senior disciples in the major Ashrams are now beginning to form subsidiary Ashrams, as I began to do in the year 1925.

a. Hiện nay, các đệ tử cao cấp trong những ashram chính đang bắt đầu thành lập các ashram trực thuộc, như Tôi đã bắt đầu làm vào năm 1925.

97. The meaning of some terminology is clarified. A Master can be considered a “senior disciple”. DK became a Master in 1875 and waited fifty years to form an Ashram subsidiary to the great second ray Ashram of Master KH.

97. Ý nghĩa của một số thuật ngữ được làm sáng tỏ. Có thể xem một Chân sư là một “đệ tử cao cấp”. Chân sư DK trở thành Chân sư vào năm 1875 và đã chờ năm mươi năm để thành lập một ashram trực thuộc ashram cung hai vĩ đại của Chân sư KH.

98. We note that 1925 was the year of the great Hierarchical Conclave, and presumably the year after which the move of Hierarchy to the buddhic plane took place, with Master R. becoming Mahachohan.

98. Chúng ta lưu ý rằng năm 1925 là năm diễn ra Đại Mật Nghị của Thánh đoàn, và có lẽ là năm mà sau đó Thánh đoàn chuyển lên cõi Bồ đề, với việc Chân sư R. trở thành Đức Mahachohan.

b. Owing to the war and the intensive efforts of the world disciples, more people along many and varied lines are being reached.

b. Do chiến tranh và những nỗ lực mạnh mẽ của các đệ tử trên thế giới, ngày càng có nhiều người thuộc nhiều đường hướng khác nhau được tiếp cận.

99. “World disciples” are initiates of the third degree and they are responsible for reaching many individuals.

99. Các “đệ tử thế giới” là những điểm đạo đồ bậc ba và Các Ngài có trách nhiệm tiếp cận nhiều cá nhân.

100. Hierarchy is casting the net wide so that many different types of people can be reached. Salvation is for all humanity, not just the esotericists of the world.

100. Thánh đoàn đang giăng lưới rộng để có thể tiếp cận nhiều loại người khác nhau. Sự cứu rỗi dành cho toàn thể nhân loại, chứ không chỉ dành cho các nhà bí truyền học trên thế giới.

c. The mode, methods and techniques of training (as I have earlier told you) are being remodeled and rearranged in order to suit the modern mind and needs.

c. Cách thức, phương pháp và kỹ thuật huấn luyện (như Tôi đã nói với các bạn trước đây) đang được đổi mới và sắp xếp lại để phù hợp với trí tuệ và nhu cầu hiện đại.

101. There is a great revamping of procedures within Hierarchy. Master DK has presented some of the newer methods of discipleship training.

101. Các quy trình trong Thánh đoàn đang trải qua một cuộc cải tổ lớn. Chân sư DK đã trình bày một số phương pháp mới hơn trong việc huấn luyện đệ tử.

d. Senior disciples are undergoing a forcing process to enable them more rapidly to take the initiation immediately ahead of them. This necessarily brings added strains and risks, sometimes even to the point of death, but also greater spiritual light and life.

d. Các đệ tử cao cấp đang trải qua một tiến trình thúc đẩy mạnh mẽ để có thể nhanh chóng hơn tiếp nhận cuộc điểm đạo ngay trước mắt. Điều này tất nhiên đem lại thêm những căng thẳng và rủi ro, đôi khi thậm chí đến mức tử vong, nhưng cũng đem lại ánh sáng và sự sống tinh thần lớn lao hơn.

102. Here the definition of “senior disciples” is ambiguous. It may not mean one who has achieved the rank of Master.

102. Ở đây, định nghĩa về “các đệ tử cao cấp” chưa rõ ràng. Cụm từ này có thể không chỉ người đã đạt cấp bậc Chân sư.

103. In case we think that the “forcing process” is without strain and risk, our estimation is corrected. Straining forward to take the next initiation may even involve death. It is the consciousness which is of moment and not the fate of the form.

103. Nếu chúng ta cho rằng “tiến trình thúc đẩy mạnh mẽ” không có căng thẳng và rủi ro, thì nhận định ấy của chúng ta được sửa lại. Việc nỗ lực vươn tới để tiếp nhận cuộc điểm đạo kế tiếp thậm chí có thể dẫn đến cái chết. Chính tâm thức mới là điều quan trọng, chứ không phải số phận của hình tướng.

104. This is a very powerful statement and one that must be carefully taken into consideration.

104. Đây là một phát biểu hết sức mạnh mẽ và cần được cân nhắc kỹ lưỡng.