Tóm lược chương
Ảo cảm che khuất thực tại bằng dục vọng sai lệch, trong khi sự pha trộn giữa dục vọng và trí tuệ khiến con người khó suy nghĩ mà không xen cảm xúc, hoặc cảm nhận mà không xen tư tưởng. Việc vượt qua trạng thái trí–cảm đòi hỏi khả năng trừu xuất và tập trung trí tuệ mạnh mẽ, ngay cả khi chưa đạt sự phân cực trí tuệ. Sự phân cực này được đặt vào khoảng giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba; tập trung trí tuệ là khả năng có thể rèn luyện trước đó. Giới nhân loại thuộc cung bốn thường học qua những va chạm đau đớn, dù kinh nghiệm và khả năng suy xét trước có thể giúp tránh nhiều khó khăn. Ảo cảm của sự yêu thích được yêu có thể khiến con người hy…
Commentary GAW 125
Tóm Tắt
Ảo cảm và sự pha trộn trí–cảm
Ảo cảm che khuất thực tại bằng dục vọng sai lệch, trong khi sự pha trộn giữa dục vọng và trí tuệ khiến con người khó suy nghĩ mà không xen cảm xúc, hoặc cảm nhận mà không xen tư tưởng. Việc vượt qua trạng thái trí–cảm đòi hỏi khả năng trừu xuất và tập trung trí tuệ mạnh mẽ, ngay cả khi chưa đạt sự phân cực trí tuệ. Sự phân cực này được đặt vào khoảng giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba; tập trung trí tuệ là khả năng có thể rèn luyện trước đó. Giới nhân loại thuộc cung bốn thường học qua những va chạm đau đớn, dù kinh nghiệm và khả năng suy xét trước có thể giúp tránh nhiều khó khăn.
Những biểu hiện chia rẽ của cung hai
Ảo cảm của sự yêu thích được yêu có thể khiến con người hy sinh nguyên tắc, còn Ảo cảm của sự nổi tiếng làm suy giảm khả năng thâm nhập thực tại vì quá hài lòng với sự tán thưởng. Ảo cảm về minh triết cá nhân biểu hiện qua niềm tin rằng điều mình đã suy nghĩ kỹ tất nhiên phải đúng. Người cung hai có thể cảm nhận tính toàn thể nhưng vẫn sống cách biệt, thậm chí khinh thường những giới hạn trí tuệ của người khác. Hướng chuyển đổi là xây dựng theo Thiên Cơ thay vì dục vọng, thay sự cách biệt bằng tính bao gồm, và thay nhu cầu an toàn vật chất bằng lòng khao khát minh triết cùng chân lý.
Những đường hướng trong Bác Ái – Minh Triết
Ba đường hướng cung hai được phân biệt qua Đức Phật, Đức Christ và Chân sư DK: minh triết thuần túy, bác ái thuần túy, và sự kết hợp biểu hiện qua tính toàn vẹn tỉ mỉ cùng sự hợp nhất đầy chi tiết. Khả năng còn có bốn đường hướng khác được nêu như một giả thuyết để suy xét. Cung hai được xác định là cung chủ yếu đang nổi lên trên hành tinh qua linh hồn, dù cung ba chi phối phàm ngã hành tinh. Sự tái lâm của Đức Christ và Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn có vai trò đưa ảnh hưởng linh hồn ấy ra biểu hiện mạnh mẽ hơn.
Hiểu biết quá mức và sự trì hoãn hành động
Ảo cảm muốn thấu hiểu quá đầy đủ có thể ngăn cản hành động đúng: kiến thức liên tục tích lũy nhưng không chuyển thành ứng dụng. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, tính nhạy cảm của cung hai có thể tạo nỗi sợ chịu va chạm khi hành động, khiến việc học trở thành nơi trú tránh; kinh nghiệm từng học 10–14 giờ mỗi ngày được dùng để tự kiểm điểm khuynh hướng này. Hình ảnh con lừa mang cả thư viện và những lời cảnh tỉnh của Chân sư Morya về việc đọc nhiều mà không hưởng lợi làm rõ khoảng cách giữa mang kiến thức và tiêu hóa kiến thức. Kiến thức không sử dụng có thể tạo hệ quả nghiệp quả, khiến khả năng tiếp nhận tương tự về sau khó khăn hơn cho đến khi người học chứng minh được năng lực ứng dụng.
Tích lũy, tiêu hóa và thiện xảo trong hành động
Sao Mộc, hành tinh cung hai, được liên hệ với sự quá độ trong tích lũy vật chất, cảm xúc và trí tuệ; sự “tham ăn tinh thần” cũng có thể gây ứ đọng khi tiếp nhận nhiều mà không tiêu hóa. Lời khuyên đào một giếng sâu thay vì nhiều hố nông minh họa nhu cầu theo đuổi và thực hành đến nơi đến chốn. Ba chủ âm dành cho Alice Bailey là tách rời, nghỉ ngơi và thiện xảo trong hành động, cho thấy kiến thức cần đi cùng sự điều chỉnh đời sống cụ thể. Hình ảnh không đặt gánh của lạc đà lên lưng lừa nhắc rằng trách nhiệm phải tương ứng với năng lực thực tế.
Tự thương hại và bài học nghiệp quả
Tự thương hại là một ảo cảm căn bản của cung hai, gắn với tính nhạy cảm và khả năng “đau đớn tiến đến mục tiêu” mà Chân sư DK mô tả. Câu hỏi vì sao điều xấu xảy đến với người tốt được đặt trong viễn cảnh nghiệp quả kéo dài qua nhiều kiếp, với những khoảng thời gian 18 triệu hoặc 12 triệu năm được viện dẫn tùy nguồn gốc tiến hóa đang xét. Những liên hệ giữa nghiệp quả thời Lemuria, hình tướng khổng lồ thời cổ và một số khuynh hướng tính dục hiện tại thuộc phần diễn giải huyền bí của Thầy MDR; nhận xét về nghiên cứu bộ gen cũng được nêu nhưng không kèm dẫn chứng. Tiền đề của cách diễn giải này là đời sống nội tâm định hình hình tướng bên ngoài, trái với cách giải thích thuần duy vật.
Tri túc và hoàn cảnh bất lợi
Sự bất mãn kiểu “ở nơi khác hoặc với người khác thì mình sẽ tốt hơn” có thể là một hình thức tự thương hại. Tri túc trong Yoga Sutra không đòi hỏi ngừng phấn đấu, mà đòi hỏi nhìn nhận hoàn cảnh hiện tại có liên hệ với những lựa chọn quá khứ và có thể chứa đúng bài học còn thiếu. Câu chuyện Marpa liên tục yêu cầu Milarepa xây rồi xây lại tháp ở những vị trí khác nhau minh họa quá trình phá vỡ sự chấp trước của phàm ngã và học sức chịu đựng nghịch cảnh. Bất mãn thiêng liêng vẫn có chỗ đứng khi thúc đẩy tiến bộ mà không phủ nhận trách nhiệm đối với hoàn cảnh.
Bản Thể bất tử và sự vượt qua tự thương hại
Một phương cách trung tâm để vượt qua tự thương hại là chứng nghiệm Chân Thần, hay Thượng đế nội tại bất tử, thay vì chỉ chấp nhận điều ấy như lý thuyết. Công thức thứ sáu trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập II, trang 284–285, mô tả cái chết làm tan rã mọi sự và sự hiện hữu biến mất, nhưng Bản Thể vẫn nguyên vẹn, bất biến: Thượng đế HIỆN HỮU. Theo cách tiếp cận riêng của Thầy MDR, nhận biết căn tính chân thật này đem lại nghị lực trước nghịch cảnh vì những tổn thất của phàm ngã không hủy diệt được bản chất sâu xa. Tự thương hại vì thế gắn với việc đánh giá quá thấp điều mình thực sự là.
Trách nhiệm trong một căn tính rộng lớn hơn
Trách nhiệm được mở rộng từ nghiệp quả cá nhân sang sự tham dự trong những Sự sống lớn hơn. Một cách lý giải được đề xuất là cây không hiện hữu vì một con người nhỏ bé nhìn thấy nó, nhưng có thể được hiểu như sự tự tri giác bên trong một Sinh Mệnh rộng lớn mà con người nhận ra khi các màn che lần lượt được tháo bỏ. Theo hướng suy luận ấy, sự đồng nhất sâu xa với Thái dương Thượng đế làm thay đổi cách nhìn về những gì xuất hiện trong trường tri giác. Đây là lập luận siêu hình về căn tính mở rộng, không phải khẳng định rằng tri giác cá nhân tạo ra mọi vật.
Nhận biết Thượng đế nội tại
Sự tĩnh lặng, lòng tin và việc khảo sát kỹ những động cơ nền tảng giúp giảm ảo cảm và củng cố sự nương tựa vào Đấng Cai Quản bên trong. Qua phân biện giữa linh hồn và phàm ngã, con người dần nhận biết mình là một sự hiện hữu bất tử, một Thượng đế vĩnh cửu và một phần của Vô hạn. Các đoạn trích phân biệt sự hướng dẫn qua tiếng nói lương tâm với sự nhận biết trực tiếp bằng linh thị; chuỗi giác quan cũng được mở rộng thành bảy, gồm nghe, chạm, thấy, nếm, ngửi, lương tri và giác quan huyền bí. Tự kỷ luật, kiểm soát thể trí và thanh luyện các thể của phàm ngã tạo điều kiện để tinh thần biểu hiện qua hình tướng.
Phụng sự và phi tập trung vào bản thân
Phụng sự là một phương cách thực tiễn để vượt qua tự thương hại; Chân sư DK được dẫn lời rằng phụng sự chân chính có thể đem lại thành quả còn lớn hơn tham thiền. Khiếu hài hước cũng giúp khôi phục tầm nhìn rộng hơn, giảm sự chăm chú vào câu hỏi bản thân đang hạnh phúc hay đau khổ. Lời khuyên gạt cả cái tôi tốt lẫn cái tôi xấu sang một bên để chỉ Đức Christ được thấy và nghe hướng tới sự phi tập trung vào bản thân sâu sắc. Lòng từ bi phát triển khi nhu cầu của người khác trở thành trọng tâm thay cho việc liên tục đánh giá tình trạng của mình.
Mười một phẩm tính của trái tim
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập II, trang 660–661, nêu 11 phẩm tính: tình thương nhóm bao gồm các cá nhân, khiêm nhường, phụng sự, kiên nhẫn, sự sống biểu hiện qua hoạt động, khoan dung, đồng hóa với người khác, từ bi, đồng cảm, minh triết và hi sinh. Kiên nhẫn biểu hiện tính bất tử còn phôi thai và sự bền bỉ của linh hồn; khoan dung là biểu hiện đầu tiên của sự thấu hiểu Bồ đề; đồng hóa với người khác phát triển từ dung hợp phôi thai đến tổng hợp khi trung tâm đầu khai mở. Đồng cảm gắn với các cánh hoa tri thức, minh triết gắn với sự thức tỉnh các cánh hoa bác ái, còn hi sinh là trao máu tim hay sự sống cho người khác. Ý tưởng rằng sự tổng hợp 11 phẩm tính tạo thành phẩm tính thứ mười hai được nêu như một cách diễn giải.
Trái tim, Bồ đề và sự tương tác giữa bác ái với minh triết
Trung tâm tim không chủ yếu thuộc cảm xúc mà liên hệ với cõi Bồ đề; sự thấu hiểu Bồ đề chưa thấm xuống tâm thức phàm ngã giúp giải thích tình trạng đàn áp người khác vì tôn giáo, nguồn gốc hoặc khác biệt. Trung tâm 12 cánh liên hệ với đầu được nối với cõi Chân Thần, cùng những tương ứng số 12 và dấu hiệu Song Ngư, với dấu hiệu Xử Nữ được hàm ý. Mối liên hệ giữa bác ái và minh triết được hình dung như quá trình luân phiên thúc đẩy nhau: bác ái sinh minh triết, rồi minh triết làm sâu thêm bác ái. Sự xuất hiện trước của Đức Phật, Chúa Tể Minh Triết, so với Đức Christ được dùng để suy xét khả năng minh triết cũng có thể đi trước một biểu hiện bác ái sâu rộng hơn.
Chủ âm đệ tử và sự phát triển thể nguyên nhân
Những chữ viết tắt nhận diện đệ tử trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới gắn với các chủ âm cần phát triển; Foster Bailey mang ký hiệu J.W.K.-P., tương ứng với hoan hỉ, minh triết và hiểu biết về Thiên Cơ. Các chủ âm thường xuất hiện trực tiếp hoặc qua gợi ý trong những chỉ dẫn cá nhân, và có thể được nghiên cứu cùng lá số chiêm tinh cùng cấu trúc các cung. Thể nguyên nhân chứa những phẩm tính cần biểu hiện và bổ sung, nhưng giới hạn của một kiếp sống khiến việc phát triển phải tập trung vào những lĩnh vực nhất định. Theo thông tin Thầy MDR nhận được, các đệ tử từng được hỏi về việc cho phép công bố chỉ dẫn và những phần họ sẵn lòng chia sẻ.
Phụng sự ích kỷ và sự tự mãn
Những ảo cảm cung hai còn gồm phức cảm Đấng Cứu Thế trong tôn giáo thế giới, sợ hãi do quá nhạy cảm, hi sinh để được công nhận và sự tự mãn. Câu chuyện trong loạt phim Seinfeld về người muốn người khác nhìn thấy mình bỏ tiền boa minh họa hành động có vẻ vị tha nhưng thực chất tìm kiếm sự ghi nhận. Phụng sự trở thành ích kỷ khi người phụng sự thu được danh tiếng, địa vị hoặc sự ngưỡng mộ nhiều hơn lợi ích mà người nhận thực sự có được. Sự tự mãn còn xuất hiện qua niềm tin rằng mình đã hoàn tất công việc hay suy nghĩ vấn đề đến kết luận cuối cùng; việc nhận diện động cơ ấy đòi hỏi sự thành thật và can đảm.
Sự lệch chỉnh giữa cung hai và cung ba
Sự thiếu hòa hợp giữa linh hồn cung hai và phàm ngã cung ba của hành tinh được liên hệ với nhiều khó khăn hiện tại; Trái Đất vẫn chưa hoàn tất tiến trình trở thành hành tinh thiêng liêng. Ở cấp cá nhân, vấn đề tương ứng là phàm ngã chưa chỉnh hợp hoàn toàn với linh hồn, còn sự tích hợp tinh thần đầy đủ được liên hệ với mức sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ tư. Hình ảnh Kẻ Chận Ngõ diễn tả trạng thái đứng trước cửa vào đời sống linh hồn nhưng sợ hãi lùi lại, rồi tăng cường sự nhấn mạnh phàm ngã. Theo cách đọc biểu tượng riêng của Thầy MDR, đường cong không đều của cán Big Dipper, với Alioth thuộc cung ba nằm thấp so với tuyến nối từ Mizar–Alcor thuộc cung hai đến ngôi sao cung bốn, phản ánh việc sử dụng cung ba còn thấp kém.
Khôi phục mục tiêu và chỉnh hợp hằng ngày
Việc nhớ lại mục tiêu ban đầu giúp vượt qua tự thương hại, những phản ứng nhỏ nhặt và nhu cầu được công nhận. Anna nêu kinh nghiệm này như một cách trở về với động lực đã khiến mình bắt đầu hành động. Những quyết định sâu sắc, mantram và việc lặp lại Đại Khấn Nguyện hằng ngày, riêng lẻ hoặc trong công việc Tam Giác, có thể tái lập sự chỉnh hợp. Một đệ tử chân chính có thể tạm rời Đường Đạo, nhưng việc nhớ lại những mục tiêu lớn giúp nhanh chóng trở về.
Hai sư tử và sự chiến thắng phàm ngã
Dấu hiệu Sư Tử biểu trưng cho hai sư tử: vua của loài thú và bản chất sư tử cao cả của linh hồn; sư tử cao phải săn đuổi và chế ngự sư tử thấp. Kiêu hãnh, tự mãn và ham muốn thống trị có thể kéo dài cho đến khi con người nhận ra những gì mình đánh mất vì lối sống ấy. Hình ảnh bắt được vua loài thú rồi sư tử chuyển thành kỳ lân diễn tả sự vượt thắng phàm ngã để trở thành điểm đạo đồ chân chính.
Điểm đạo và tầm vóc của tiến hóa
Các lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm rất lớn so với trình độ chung của nhân loại, nhưng vẫn chỉ mở đầu một hành trình mênh mông. Các Chân sư đôi khi thấy buồn cười trước mức độ môn sinh đánh giá quá cao Các Ngài, bởi Con đường Tiến Hóa Cao Siêu còn có thể trải qua hàng triệu, hàng tỷ năm. Nhận xét rằng chúng ta mới đi được nửa đường, dù đã tham dự tiến trình vũ trụ trở thành từ vô thủy, làm nổi bật giới hạn của cách nhìn chỉ dựa trên một đời người.
Thiên thần hộ mệnh và Thái dương Thiên Thần
Theo giáo lý được dẫn, thiên thần hộ mệnh thuộc nhóm thiên thần trắng, khác với Thái dương Thiên Thần thường gắn với các sắc cam, vàng và vàng kim. Thiên thần hộ mệnh được mô tả là phần biểu hiện của Thái dương Thiên Thần, hay Thiên Thần của Hiện Diện, có thể hiện diện trong một kiếp sống và giữ gìn nghiệp quả của cá nhân. Những lần thoát hiểm khó giải thích được liên hệ với sự bảo hộ này khi thời điểm kết thúc kiếp sống chưa đến.
Các thiên thần trắng và cấu trúc một kiếp sống
Trang 913 của Luận về Lửa Vũ Trụ mô tả các thiên thần trắng của khí và nước cai quản khí quyển, làm việc với một số phương diện của hiện tượng điện và kiểm soát biển, sông, suối. Đến một giai đoạn tiến hóa nhất định, một số vị đảm nhận vai trò thiên thần hộ mệnh cho nhân loại đang lâm phàm trên cõi hồng trần; mỗi người đều có thiên thần bảo hộ riêng. Một cách diễn giải được đề xuất là thiên thần hộ mệnh đóng vai trò công cụ hoạt động của Thiên Thần của Hiện Diện, giúp đời sống không đi quá xa cấu trúc trải nghiệm và thành tựu dự định cho kiếp ấy. Vì vậy, sự bảo hộ có thể bao gồm cả việc tránh một tai nạn lẫn việc bước vào hoàn cảnh khó khăn cần thiết.
Bảo hộ cá nhân, nhóm và quốc gia
Tuija phân biệt các thiên thần hộ mệnh đang tiến lên trên đường tiến hóa với Thái dương Thiên Thần đã trải qua sự tiến hóa của mình và nay đi xuống để trợ giúp. Công việc bảo hộ còn mở rộng đến nhóm và quốc gia, với mục đích có phần khác biệt nhưng liên hệ chặt chẽ với Thái dương Thiên Thần. Có thể những thiên thần gìn giữ chủ đích của các cộng đồng và quốc gia lớn đã tiến rất xa trên đường phát triển ấy; sự hiểu biết về Các Ngài có thể tăng lên cùng tâm thức nhóm. Nhận ra bao lần mình đã được cứu giúp cũng tạo một đối trọng trực tiếp với lòng tự thương hại.
Geoffrey Hodson và công trình về giới thiên thần
Tác phẩm Vương quốc của các Thượng đế của Geoffrey Hodson kết hợp tranh màu nước và bình giải về giới thiên thần, gồm thiên thần hộ mệnh và thiên thần chữa lành. Geoffrey Logie ở New Zealand từng học với Hodson khi còn trẻ và tiếp nhận nhiều hiểu biết từ ông vào cuối đời. Theo ký ức của Thầy MDR về lá số của Hodson, Mặt Trời ở dấu hiệu Song Ngư, nhà 12, biểu thị tính nhạy cảm, còn dấu hiệu mọc Bạch Dương và ảnh hưởng mạnh của cung một giúp giải thích sự quả cảm trong nghiên cứu.
Huynh đệ đoàn Luxor và cách đọc nội môn về Kinh Thánh
Hodson làm việc với Huynh đệ đoàn Luxor, một nhóm Ai Cập thuộc cung bốn, và biên soạn bộ Minh triết ẩn tàng của Kinh Thánh để trình bày ý nghĩa nội môn của những nội dung quen thuộc. Những nhân vật được nhắc đến trong mối liên hệ này gồm Tutuit Bey, Apollonius Iseranius và Robert Ward; khả năng Tutuit Bey là Serapis Bey dưới một tên khác chỉ được nêu như giả thuyết. Công trình về bảy cung của Hodson được đánh giá là hữu ích, dù mức độ sâu sắc còn cách xa giáo lý của Chân sư DK.
Sự tiếp nhận giáo lý Alice Bailey và lòng can đảm trí tuệ
Theo nhận định riêng của Thầy MDR, một số nhà Thông Thiên Học ban đầu công khai bác bỏ Alice Bailey nhưng có thể vẫn âm thầm đọc và hưởng lợi từ các tác phẩm của Bà. Nhận định liên quan đến Hodson dựa một phần trên lời kể của Geoffrey Logie; các trường hợp Hodson và Leadbeater được nêu với mức độ dè dặt, không như sự kiện đã xác minh. Vấn đề đặt ra là lòng can đảm thừa nhận nguồn học hỏi và khả năng nhận biết tính liên tục của giáo lý, thay vì để lập trường công khai ngăn cản sự tiếp nhận.
Phân biện giai đoạn giáo lý tiếp theo
Giai đoạn thứ ba của giáo lý được kỳ vọng quanh năm 2025, nhưng người ghi chép và hình thức truyền đạt vẫn chưa rõ. Giả thuyết được nêu là giai đoạn này có thể mang sắc thái cung ba vì có nhiều công việc chiêm tinh, tiếp nối sắc thái cung hai của Alice Bailey và cung một của Blavatsky. Theo nhận định riêng của Thầy MDR, nhiều tuyên bố đang tự nhận là phần giáo lý mới chỉ phản ánh tiềm thức được rèn luyện của người viết và thiếu nội dung thực sự mới. Tác phẩm Điểm đạo, Nhân loại và Thái dương được dùng làm ví dụ về chiều sâu tri thức vượt khả năng sáng tác thông thường, qua đó đặt ra yêu cầu phân biện tinh thần đối với mọi tuyên bố kế thừa.
Tự thương hại và nhu cầu thống trị
Lòng tự thương hại có thể ẩn dưới thái độ độc đoán: việc sai khiến người khác trở thành sự bù đắp cho bất an bên trong. Theo Chân sư DK, người cung một cần các đức tính cung hai, còn người cung hai cần các đức tính cung một, dù hai năng lượng này khó phối hợp trong cùng một hệ thống. Ngay cả người cung một cũng có thể chịu Ảo cảm của sự yêu thích được yêu và Ảo cảm của sự nổi tiếng, rồi rơi vào tự thương hại khi không nhận được sự trân trọng mà mình nghĩ là xứng đáng.
Cấu trúc cung của Alice Bailey
Alice Bailey được nêu như trường hợp kết hợp mạnh cung một và cung hai: linh hồn cung hai, phàm ngã và thể trí cung một, thể cảm dục cung hai, cùng bộ não và thể xác cung bảy. Chân Thần cung hai chỉ được nêu như khả năng; ảnh hưởng cung sáu mạnh hơn trong thể cảm dục thời Bà còn giảng đạo cũng là một suy đoán. Những năng lượng khác nhau có thể lần lượt hoạt động vào các thời điểm khác nhau, nên việc tự quan sát cần nhận biết cả năng lượng đang chi phối lẫn những ảo cảm đi kèm.
Bảo vệ nhóm khi làm việc trên cõi cảm dục
Công việc làm tiêu tan ảo cảm bắt đầu bằng sự hợp nhất nhóm trong tưởng tượng và củng cố vị thế linh hồn. Theo Chân sư DK, nhóm làm việc với ảo cảm từng gặp nhiều khó khăn hơn các nhóm khác, vì cõi cảm dục là trường ảo tưởng lớn nhất, với từ “ảo tưởng” dùng theo nghĩa rộng. Công thức bảo vệ xác lập rằng linh hồn hoạt động trong ánh sáng, bóng tối không thể chạm đến, và người phụng sự đứng vững tại điểm ánh sáng ấy. Hình thập giá dài được liên hệ với Thập giá của Thiên tính; tên gọi thập giá Song Ngư xuất hiện ở nơi khác, nhưng sự đồng nhất trong trường hợp có yếu tố đôi mắt vẫn chưa chắc chắn.
Hợp nhất ba ánh sáng thành đèn pha
Ánh sáng vật chất của phương diện dĩ thái–hồng trần được nâng lên cõi trí và hòa với ánh sáng trí tuệ, tạo sự suy nghĩ sáng rõ, lý luận và lôgic có sinh lực nâng đỡ. Ánh sáng linh hồn, bao gồm thượng trí, được hình dung giáng xuống cõi trí để chống lại sợ hãi, sự che tối và phân mảnh. Ba ánh sáng hòa thành một, phát ra chùm đèn pha dùng để phát hiện và làm tiêu tan ảo cảm. Ánh sáng trực giác được liên hệ với ánh sáng ban ngày có khả năng làm sáng tỏ cõi cảm dục.
Đưa ánh sáng và sự thấu hiểu vào ảo cảm
Công thức phụng sự hình dung nhóm như sự rạng ngời và quyền năng, dang tay nối trời với đất, nối thế giới bên trong của ý nghĩa với thế giới vi tế của ảo cảm. Nhóm vươn vào ánh sáng để đưa ánh sáng xuống đáp ứng nhu cầu, đồng thời đem món quà thấu hiểu từ nơi tĩnh lặng vào công việc. Đèn pha quét cõi cảm dục để nhận diện lòng tự thương hại qua khổ sở, than phiền và thiếu hoan hỉ, rồi tăng cường sức mạnh để tập trung vào mục tiêu. Chân sư Morya gọi sự hoan hỉ là một minh triết đặc biệt, còn Chân sư DK xác định sự hoan hỉ thuộc về linh hồn.
Ba tác động của ánh sáng hợp nhất
Trước khi vận dụng các Quyền năng từ, bài thiền yêu cầu suy ngẫm lòng tự thương hại đã định hình đời sống nhân loại và làm giảm những khả năng tốt đẹp ra sao. Ba tác động lần lượt là ngăn ảo cảm tự thương hại xuất hiện, vô hiệu hóa phẩm tính của nó đối với nhân loại và hủy diệt sự sống phía sau nó. Sự hình dung tập trung vào ánh sáng xuyên thấu ảo cảm, khiến nó suy yếu và tan biến, tiếp theo là năm phút im lặng với chủ đích mãnh liệt. Nền tảng của công việc là nhận biết Thượng đế bất tử bên trong không cần lòng tự thương hại và tâm thức nhân loại có thể loại bỏ trạng thái ấy.
Từ thói quen khổ sở đến đời sống hoan hỉ
Theo Chân sư DK, nhân loại có một thói quen khổ sở lâu đời cần nhường chỗ cho sự hoan hỉ trong thời đại Bảo Bình. Tâm thức linh hồn và sự khám phá sinh mệnh bất tử bên trong là những nền tảng ban đầu của thời đại hoan hỉ, làm mất đi nhiều lý do khiến con người tự than thân. Những phẩm tính ấy cần biểu hiện qua sự tỏa chiếu, lời nói và tư tưởng hằng ngày. Ba lần xướng linh từ OM đưa công việc từ trí tuệ xuống cõi hồng trần, tiếp nối nỗ lực chuyển đổi bên trong đối với dục vọng sai lệch, cách diễn giải sai và hỗn loạn của ảo lực, đặc biệt trong cõi cảm dục và lĩnh vực trí-cảm.
Text GAW 125 – Văn bản GAW 125
Glamour: A World Problem pages 121
Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới trang 121
[1a] The glamour of the love of being loved.
[1a] Ảo cảm của sự yêu thích được yêu.
[1b] The glamour of popularity.
[1b] Ảo cảm của sự nổi tiếng.
[1c] The glamour of personal wisdom.
[1c] Ảo cảm của minh triết cá nhân.
[1d] The glamour of selfish responsibility.
[1d] Ảo cảm của trách nhiệm ích kỷ.
[1e] The glamour of too complete an understanding, which negates right action.
[1e] Ảo cảm của sự thấu hiểu quá toàn diện, khiến hành động đúng đắn bị phủ nhận.
[1f] The glamour of self-pity, a basic glamour of this ray.
[1f] Ảo cảm của sự tự thương hại, một ảo cảm căn bản của cung này.
The glamour of the Messiah complex, in the world of religion and world need.
Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong thế giới tôn giáo và trước nhu cầu của thế giới.
The glamour of fear, based on undue sensitivity.
Ảo cảm của sự sợ hãi, bắt nguồn từ sự nhạy cảm quá mức.
The glamour of self-sacrifice.
Ảo cảm của sự hi sinh bản thân.
The glamour of selfish unselfishness.
Ảo cảm của lòng vị tha ích kỷ.
The glamour of self-satisfaction.
Ảo cảm của sự tự mãn.
The glamour of selfish service.
Ảo cảm của sự phụng sự ích kỷ.
Glamour Webinar 125 – Webinar về Ảo cảm 125
Michael D. Robbins • Book pages 121
Michael D. Robbins • Trang sách 121
Good morning, everyone, here from Finland. Well, I guess we have people attending at hours that are convenient for them and at hours that are rather inconvenient and sort of in the middle of the night for some. So we appreciate the sacrifice when you have to sacrifice your rest for these things. I still remember in the old days when there were not computer contacts like this driving in the middle of the night to go to an exact full moon meeting, and it was the kind of thing where, you really wanted to be there, but when you're in the car at 2.30 or 3 in the morning, you do you do feel it. As DK says.
Xin chào buổi sáng tất cả mọi người, từ Phần Lan. Tôi đoán có người tham dự vào giờ thuận tiện, có người lại tham dự vào giờ khá bất tiện, thậm chí giữa đêm. Vì vậy, chúng tôi trân trọng sự hi sinh của các bạn khi phải hi sinh giờ nghỉ ngơi cho những buổi này. Tôi vẫn nhớ ngày trước, khi chưa có những kết nối qua máy tính như thế này, tôi phải lái xe giữa đêm để đến dự một buổi họp đúng thời điểm trăng tròn. Các bạn thực sự muốn có mặt ở đó, nhưng khi ngồi trong xe lúc hai giờ rưỡi hay ba giờ sáng, các bạn quả thực cảm nhận được sự hi sinh ấy. Như Chân sư DK nói.
I forego peace; I forfeit rest, and in the stress of pain, I lose myself and find my Self, and enter into peace.”
Tôi từ bỏ bình an; Tôi khước từ nghỉ ngơi, và trong nỗi đau giằng xé, Tôi đánh mất cái tôi và tìm thấy Chân Ngã của mình, rồi bước vào bình an.”
That's one of the very first things you learn in the Arcane School. We have to be grateful for what Alice Bailey started just about a hundred years ago, really the Tibetan was getting in contact with her starting in November of 1919. So that's a hundred years, and then I think the Arcane School somehow is cropping up in the very early twenties, 21, 22, something of that nature. Well, let's just pause here for a moment and reach out to each other, wherever we may be and realize that when it comes to consciousness, the normal perception of space is not going to make much difference.
Đó là một trong những điều đầu tiên các bạn học ở Trường Arcane. Chúng ta phải biết ơn những gì Alice Bailey đã khởi đầu cách đây khoảng một trăm năm. Thực ra, Chân sư Tây Tạng bắt đầu liên lạc với Bà vào tháng Mười Một năm 1919. Như vậy là một trăm năm, rồi tôi nghĩ Trường Arcane bắt đầu hình thành vào những năm đầu thập niên hai mươi, năm 21, 22, khoảng như vậy. Chúng ta hãy tạm dừng một lát và hướng đến nhau, dù đang ở bất cứ đâu, và nhận ra rằng khi nói đến tâm thức, nhận thức thông thường về không gian sẽ không tạo ra khác biệt đáng kể.
So we're gathered to work on this condition of obscuration, clouding, and veiling, all these things that prevent one from apprehending life as it is, or truth as it is reality in a deeper measure.
Chúng ta tập hợp để xử lý tình trạng che khuất, làm mờ và phủ màn này, tất cả những gì ngăn con người lĩnh hội sự sống đúng như nó là, hay chân lý đúng như nó là, lĩnh hội thực tại ở một mức độ sâu hơn.
There's all kinds of veils, but with practice and working together and following the Tibetans understanding of how this should be done, then we're going to penetrate these veils and be free of the ancient fetters, the chains that kept our consciousness confined to lower form and in a distorted manner as well. So let's, humanity has so far to go in this respect. As is the case with a fourth ray kingdom, one tends to learn the hard way. It, it would be possible to think ahead perhaps, and based on experience to avoid many of the hard knocks that humanity seems to go through. But I don't think we're there yet. Anyway, we're going to try to do our little bit to help this morning or whatever time it is for you.
Có đủ loại màn che, nhưng nhờ thực hành, cùng làm việc và làm theo sự thấu hiểu của Chân sư Tây Tạng về cách thực hiện việc này, chúng ta sẽ xuyên qua những màn che ấy và thoát khỏi những xiềng xích cổ xưa, những gông cùm đã giam hãm tâm thức chúng ta trong hình tướng thấp, đồng thời làm nó méo mó. Nhân loại còn một chặng đường rất dài phải đi về phương diện này. Là một giới thuộc cung bốn, nhân loại có xu hướng học qua gian khổ. Có lẽ chúng ta có thể suy nghĩ trước, dựa vào kinh nghiệm để tránh nhiều đòn đau mà nhân loại dường như vẫn phải trải qua. Nhưng tôi không nghĩ chúng ta đã đến được mức ấy. Dù sao, sáng nay, hay vào bất cứ giờ nào ở nơi các bạn, chúng ta sẽ cố gắng đóng góp phần nhỏ bé của mình.
So let's just sound the OM in affirmation of that intention.
Vậy chúng ta hãy xướng linh từ OM để khẳng định ý định ấy.
OM.
OM.
I just want to, welcome you here.
Tôi xin chào mừng các bạn đến đây.
I'll try to do that once and Alexandra and Anna and Annette and Barbara. I'm sure that's the wee hours, Barbara, if you still live in the Eastern time zone. Catherine and Karen and Kim, Leslie, Margo, Mariana, Marriott, Martha Galahew and Martha Mickelson, Rebecca, Risto Stacia, Tia, Tiu and Winnie and Zenaidi and Ann Veronica, and over here on the right hand side Jo and Tia are here backing us up. I'm over there too. So, I'll just watch for your hands and then Jo can let me know if I miss somebody when we're starting our conversation.
Tôi sẽ cố gắng chào từng người một: Alexandra, Anna, Annette và Barbara. Barbara, tôi chắc ở chỗ bạn đang là lúc rạng sáng, nếu bạn vẫn sống trong múi giờ miền Đông. Catherine, Karen, Kim, Leslie, Margo, Mariana, Marriott, Martha Galahew, Martha Mickelson, Rebecca, Risto Stacia, Tia, Tiu, Winnie, Zenaidi và Ann Veronica; còn ở phía bên phải này, Jo và Tia đang có mặt để hỗ trợ chúng ta. Tôi cũng ở bên đó. Tôi sẽ chú ý xem các bạn giơ tay, rồi Jo có thể báo cho tôi nếu tôi bỏ sót ai khi chúng ta bắt đầu trao đổi.
Where we are right now as I said before, I noticed that we really did only half of these glamours for Ray 2 and we stopped at half for Ray 3. So let's kind of clean that up a bit. We talked about for Ray 2 glamours.
Về phần chúng ta đang học, như tôi đã nói, tôi nhận thấy chúng ta thực sự mới chỉ xem được một nửa những ảo cảm của cung hai, và cũng dừng lại ở một nửa của cung ba. Vì vậy, chúng ta hãy hoàn tất phần này. Chúng ta đã nói về những ảo cảm của cung hai.
[1a] The glamour of the love of being loved.
[1a] Ảo cảm của sự yêu thích được yêu.
You sacrifice all kinds of principles when you have that kind of thing.
Khi mắc phải điều này, người ta hi sinh đủ loại nguyên tắc.
[1b] The glamour of popularity.
[1b] Ảo cảm của sự nổi tiếng.
It prevents penetration into reality. You're quite happy with the idea that that you're on everybody's tongue and everybody's happy with you and you're on top of the world, but it kind of dulls your penetration into reality.
Nó ngăn cản việc thâm nhập thực tại. Người ta rất hài lòng với ý nghĩ rằng ai cũng nhắc đến mình, ai cũng hài lòng với mình, và mình đang ở trên đỉnh cao hạnh phúc, nhưng điều đó phần nào làm cùn khả năng thâm nhập thực tại.
[1c] The glamour of personal wisdom.
[1c] Ảo cảm của minh triết cá nhân.
I thought it through, so it must be true.
Tôi đã suy nghĩ thấu đáo rồi, nên điều đó hẳn phải đúng.
[1d] The glamour of selfish responsibility.
[1d] Ảo cảm của trách nhiệm ích kỷ.
I think I read that. That was very interesting from Esoteric Healing. It's right around page 200 and it has to do with the fact that we're dealing here with our Planetary Logos with an imperfect God where we're still, although we may be sacred internally. DK assures us that the process of becoming a sacred planet still lies ahead of us and I mean, you can go to these excellent it's in Esoteric Healing pretty much, and it's right around page 300, right in there. Interesting. Maybe we'll come back here and we'll read number three for the way in which our particular Planetary Logos is affected adversely by the incompletely mastered third ray. So we're going to look at hopefully both third ray and second ray today.
Tôi nghĩ tôi đã đọc phần đó. Phần ấy rất thú vị, trong Trị Liệu Huyền Môn. Nó ở khoảng trang 200 và liên quan đến việc ở đây chúng ta đang bàn về Hành Tinh Thượng đế của mình, một Thượng đế chưa hoàn hảo, trong khi chúng ta vẫn còn—dù về bên trong có thể đã thiêng liêng. Chân sư DK khẳng định với chúng ta rằng tiến trình trở thành một hành tinh thiêng liêng vẫn còn ở phía trước. Ý tôi là, các bạn có thể tìm đến những đoạn rất hay này, trong Trị Liệu Huyền Môn, phần lớn là ở đó, khoảng trang 300, ngay quanh đó. Thật thú vị. Có lẽ chúng ta sẽ quay lại đây và đọc mục số ba về cách Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chịu ảnh hưởng bất lợi của cung ba chưa được làm chủ hoàn toàn. Vì vậy, hi vọng hôm nay chúng ta sẽ xem xét cả cung ba lẫn cung hai.
I may have gone through this, that in Esoteric Psychology II the subordination of all soul powers.
Có lẽ tôi đã xem qua phần này, trong Tâm Lý Học Nội Môn II, về việc đặt mọi quyền năng của linh hồn dưới sự chi phối.
So page 40 and 41, it shows you how you go from a rather a negative glamorized condition into something that's much better. So you're given one of the ways out of these particular negative states. The problem with glamour really is that it's wrong desire. It's distorted desire and it's all mixed together at our stage of evolution with kama with Manas. So you have the two things in kind of an unholy mixture and it's hard to keep them separate from each other. We can't think without emotion and we can't simply feel without thought, and we have to overcome that kama-manas and that takes some abstraction, some strong mental focusing. I don't yet say mental polarization because that's something that occurs in the middle point.
Trang 40 và 41 cho các bạn thấy cách chuyển từ một tình trạng khá tiêu cực, bị ảo cảm chi phối, sang một điều tốt đẹp hơn nhiều. Như vậy, các bạn được chỉ cho một trong những lối thoát khỏi những trạng thái tiêu cực cụ thể này. Vấn đề thực sự của ảo cảm là dục vọng sai lầm. Đó là dục vọng méo mó, và ở giai đoạn tiến hoá của chúng ta, tất cả đều trộn lẫn, dục vọng với trí tuệ. Vì vậy, hai thứ ấy kết hợp thành một hỗn hợp chẳng lành, và rất khó giữ chúng tách biệt nhau. Chúng ta không thể suy nghĩ mà không có cảm xúc, cũng không thể chỉ cảm nhận mà không có tư tưởng, và chúng ta phải vượt qua trạng thái trí-cảm ấy; điều đó đòi hỏi một mức độ trừu xuất, một sự tập trung trí tuệ mạnh mẽ. Tôi chưa nói đến sự phân cực trí tuệ, vì đó là điều xảy ra ở điểm giữa.
Maybe let's say between the second and third initiation and not everybody is there, but they can have that mental focus at least. If not the entire mental polarization. So there's a lot of good things that emerge for the second ray when we give up our selfish desire and our longing for the protectedness of material wellbeing, and it's so interesting that this type of person can sense the whole the wholeness of things, but still remains apart, separative. You wouldn't think that with the second ray, but there are different types of second ray approaches.
Có lẽ ở khoảng giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba; không phải ai cũng đã đến đó, nhưng ít nhất họ có thể có sự tập trung trí tuệ ấy, dù chưa có sự phân cực trí tuệ hoàn toàn. Vì vậy, nhiều điều tốt đẹp xuất hiện đối với cung hai khi chúng ta từ bỏ dục vọng ích kỷ và niềm khao khát được che chở trong sự sung túc vật chất. Điều rất thú vị là kiểu người này có thể cảm nhận cái toàn thể, tính toàn vẹn của mọi sự, nhưng vẫn đứng riêng, vẫn chia rẽ. Các bạn sẽ không nghĩ cung hai lại như thế, nhưng có những cách tiếp cận khác nhau của cung hai.
So keep an outlook on that. There's the and more, but there's the Buddha approach, the Christ approach, and the Master DK approach. Now you have to ask yourself on which of those three approaches do you focus yourself and you have to have good reasons for giving your judgment on that matter. Of course, when we read Master DK, we are into his meticulous entirety and his detailed unity. We're not into the absolute, the pure love of the Christ and the pure wisdom of the Buddha. But some, blend of the two, and then maybe there are even four more ways of approaching this question of life upon the second ray. It is the most, at this time, the most externalized of the rays that are particularly involved in bringing about the externalization and reappearance at this time.
Vì vậy, hãy chú ý điều đó. Có cách tiếp cận của Đức Phật, của Đức Christ và của Chân sư DK, cùng những cách khác nữa. Giờ đây, các bạn phải tự hỏi mình tập trung vào cách nào trong ba cách tiếp cận ấy, và phải có lý do xác đáng cho nhận định của mình về vấn đề này. Dĩ nhiên, khi đọc Chân sư DK, chúng ta bước vào tính toàn vẹn tỉ mỉ và sự hợp nhất chi tiết của Ngài. Chúng ta không đi vào tình thương tuyệt đối, thuần khiết của Đức Christ và minh triết thuần khiết của Đức Phật. Mà là một sự pha trộn nào đó giữa cả hai, và có lẽ còn bốn cách nữa để tiếp cận vấn đề sự sống trên cung hai này. Hiện nay, đây là cung ngoại hiện nhiều nhất trong các cung đặc biệt tham gia vào việc tạo nên sự hiển lộ và tái lâm vào lúc này.
So instead of building according to desire and most of it blind desire, you build in relation to the plan.
Vì vậy, thay vì xây dựng theo dục vọng, mà phần lớn là dục vọng mù quáng, các bạn xây dựng trong mối liên hệ với Thiên Cơ.
Instead of remaining apart, because you have contempt for the mental limitation of others. You wouldn't think that about the second ray, but there it is. He talks about contempt for the mental limitation of others. Instead of doing that, you have inclusiveness. Instead of material wellbeing, you long for wisdom and truth. You have a real sensitivity to the wholeness instead of just the things you prefer, and on the second ray, we've seen with glamour that there's some separativeness always involved. Somehow we choose our personal identity as if it were our real identity. We fall right in to the great heresy of separativeness. So we have to avoid that and achieve a real love and wisdom. So here's a couple more things.
Thay vì đứng riêng vì khinh thường những giới hạn trí tuệ của người khác. Các bạn sẽ không nghĩ cung hai lại như thế, nhưng đúng là vậy. Ngài nói đến sự khinh thường những giới hạn trí tuệ của người khác. Thay vì như vậy, các bạn có tính bao gồm. Thay vì sự sung túc vật chất, các bạn khao khát minh triết và chân lý. Các bạn thực sự nhạy cảm với tính toàn vẹn, thay vì chỉ với những gì mình ưa thích. Qua ảo cảm của cung hai, chúng ta đã thấy luôn có một mức độ chia rẽ nào đó. Bằng cách nào đó, chúng ta chọn bản sắc cá nhân như thể đó là bản sắc chân thực của mình. Chúng ta rơi thẳng vào Đại Tà thuyết chia rẽ. Vì vậy, chúng ta phải tránh điều đó và đạt được bác ái và minh triết thực sự. Sau đây là một vài điều nữa.
Maybe as a second ray type, you have felt this, I don't know.
Có lẽ, là một người cung hai, các bạn đã từng cảm thấy điều này, tôi không biết.
[1e] The glamour of too complete an understanding, which negates right action.
[1e] Ảo cảm của sự thấu hiểu quá toàn diện, khiến hành động đúng đắn bị phủ nhận.
There's sometimes that joke, they're lowering you into the grave and one more workshop, one more book, please, one more. If only I had read that, if only I had done this, so this is the search for a vast understanding, but how it should be applied. That's a question. Has anybody succumb to this? I think I have in the past days. I used to study 10, 12, 14 hours a day till I was totally dizzy, and the question is, did I actually apply it at the time? I've analyzed this a little bit and sometimes with the second ray, there is a fear of impact. So if you really take action, you're liable to get hit and you're super sensitive as the second ray type.
Đôi khi có câu nói đùa rằng, người ta đang hạ bạn xuống huyệt mà bạn vẫn xin thêm một hội thảo nữa, một cuốn sách nữa, xin thêm một lần nữa. Giá mà tôi đã đọc điều đó, giá mà tôi đã làm điều này. Đây là cuộc tìm kiếm sự thấu hiểu bao quát, nhưng phải áp dụng nó như thế nào? Đó là một câu hỏi. Có ai từng sa vào điều này không? Tôi nghĩ trước đây tôi đã từng. Tôi thường học mười, mười hai, mười bốn giờ mỗi ngày cho đến khi hoàn toàn choáng váng, và câu hỏi là: lúc ấy tôi có thực sự áp dụng không? Tôi đã phân tích điều này một chút, và đôi khi với cung hai, có một nỗi sợ va chạm. Vì vậy, nếu thực sự hành động, các bạn có thể phải hứng đòn, trong khi người cung hai lại vô cùng nhạy cảm.
So you don't want to get hit and therefore you don't take action. Anybody can relate to gathering, gathering, gathering all kinds of knowledge about things, but still just hoarding it, you might say, and not really applying it. The old saying that even a donkey can carry a library on his back, which means that you have a lot of unassimilated knowledge, can anybody relate to that? Or am I the only one that has wandered into these areas? I think Kim, you, yeah. So some of us, I think, we've got a lot of second ray types here following DK and okay.
Vì không muốn hứng đòn nên các bạn không hành động. Có ai thấy mình cứ thu thập, thu thập đủ loại tri thức về mọi thứ, nhưng có thể nói là vẫn chỉ tích trữ mà không thực sự áp dụng không? Có câu ngạn ngữ rằng ngay cả một con lừa cũng có thể cõng cả thư viện trên lưng, nghĩa là có rất nhiều tri thức chưa được tiêu hoá. Có ai thấy mình trong đó không? Hay chỉ có tôi từng lạc vào những vùng này? Tôi nghĩ Kim, bạn có, đúng vậy. Tôi nghĩ một số người trong chúng ta là như thế; ở đây có nhiều người cung hai theo học Chân sư DK.
Master Morya tells you that if you really want to wake people up, compare them to some kind of animal. So he doesn't talk about first ray types. Sometimes he says, you lions, look what you've done. You've, a messenger was on the way and you killed the messenger. You doves, second ray that you forced other people to feed you. You rats, he said, this is pretty funny. You rats, he says, you've chewed a great number of books, but failed to benefit from any of them. So he kind of gets your attention. We're being our pedigree is being challenged and we begin to pay attention.
Chân sư Morya nói rằng nếu thực sự muốn đánh thức người ta, hãy ví họ với một loài vật nào đó. Vì vậy, Ngài không nói về những người cung một. Đôi khi Ngài nói: Hỡi những con sư tử kia, hãy xem các ngươi đã làm gì. Một sứ giả đang trên đường đến mà các ngươi đã giết sứ giả ấy. Hỡi những con bồ câu kia, cung hai, các ngươi đã buộc người khác phải nuôi mình. Ngài nói: Hỡi những con chuột kia—điều này khá buồn cười—hỡi những con chuột kia, các ngươi đã gặm rất nhiều sách mà chẳng thu được lợi ích từ cuốn nào. Như vậy, Ngài khiến chúng ta chú ý. Dòng dõi của chúng ta bị chất vấn, và chúng ta bắt đầu chú ý.
So we have to be real careful that we don't fall into the glamour of having a bunch of things we don't use because that really sets up a a karmic condition. It may be much more difficult in the future to acquire the same until we've proved that we can can use it, you know? So anyway, this is, this seems to be something that that people can relate to, especially on the second ray. Of course, look, the second ray is the indigo ray. It's the main ray on our planet because, and DK says that somewhere, you would think that maybe the third ray personality is the main ray, but it's not. It's the, it's the emerging second ray soul that is the main ray now.
Vì vậy, chúng ta phải hết sức cẩn thận để không rơi vào ảo cảm sở hữu một đống thứ mà mình không sử dụng, bởi điều đó thực sự tạo nên một tình trạng nghiệp quả. Trong tương lai, có thể sẽ khó hơn nhiều để có lại những thứ ấy, cho đến khi chúng ta chứng minh được mình có thể sử dụng chúng. Dù sao, đây dường như là điều mọi người có thể thấy nơi mình, đặc biệt trên cung hai. Dĩ nhiên, cung hai là cung màu chàm. Đó là cung chủ yếu trên hành tinh chúng ta, và Chân sư DK có nói điều này ở đâu đó. Các bạn có thể nghĩ cung ba của phàm ngã mới là cung chủ yếu, nhưng không phải vậy. Chính cung hai của linh hồn đang xuất hiện mới là cung chủ yếu hiện nay.
That's why the reappearance of the Christ and the externalization of the Hierarchy is so so very important at this time, helping to bring that soul forward. So Master Morya says continuing his tendency of scolding the animals for doing this or that, he says, don't put the load of a camel on a donkey. Well, are we camels or donkeys? What can we, what can we carry? Obviously a camel is a much sturdier animal. Can cross the desert without sustenance if the water is there where it needs to be in the system. So, you know we have different capacities and he emphasizes what our capacities may really be. Okay, good.
Đó là lý do sự tái lâm của Đức Christ và sự hiển lộ của Thánh đoàn vô cùng quan trọng vào lúc này, giúp đưa linh hồn ấy ra biểu hiện. Tiếp tục lối quở trách các loài vật vì làm điều này hay điều kia, Chân sư Morya nói: Đừng đặt gánh của lạc đà lên lưng lừa. Vậy chúng ta là lạc đà hay lừa? Chúng ta có thể mang được gì? Rõ ràng lạc đà là loài vật khoẻ hơn nhiều. Nó có thể vượt sa mạc mà không cần tiếp tế, nếu nước đã được dự trữ ở đúng nơi cần thiết trong cơ thể. Vì vậy, chúng ta có những khả năng khác nhau, và Ngài nhấn mạnh khả năng thực sự của chúng ta có thể là gì. Tốt.
Well, I get the idea there that we can relate to this, and and, and, and this is it, we know so much we, I mean, really I've given you, he says, I've given you more than you can ever absorb. That's what Master DK says. He probably would say as well, I've given you more than you can ever use. We've learned a lot, but what have we applied skillfully? Now, do you know that Alice Bailey's letters that described what she had to cultivate and what her condition was? Even though she's not in the discipleship lessons were DRS and D was for detachment and R was for rest, which like, some of these Gemini's, they only get two hours of sleep a night. So, he said, you've got to do something about your lack of sleep. S was skill in action.
Tôi có cảm giác chúng ta thấy mình trong điều này. Vấn đề là ở đó: chúng ta biết quá nhiều. Ngài nói: Tôi đã cho các bạn nhiều hơn những gì các bạn có thể tiếp thu. Đó là lời Chân sư DK. Có lẽ Ngài cũng sẽ nói: Tôi đã cho các bạn nhiều hơn những gì các bạn có thể sử dụng. Chúng ta đã học được rất nhiều, nhưng đã khéo léo áp dụng được những gì? Các bạn có biết rằng những bức thư gửi Alice Bailey, mô tả những gì Bà phải trau dồi và tình trạng của Bà—dù Bà không có tên trong những bài huấn luyện đệ tử—mang các chữ DRS không? D là sự tách rời, còn R là nghỉ ngơi. Giống một số người thuộc Song Tử này, họ chỉ ngủ hai giờ mỗi đêm. Vì vậy, Ngài nói: Em phải làm gì đó để khắc phục tình trạng thiếu ngủ của mình. S là sự khéo léo trong hành động.
Obviously in her position, she really needed it. Now the the ones we didn't do last time.
Rõ ràng, ở vị trí của Bà, Bà thực sự cần điều đó. Giờ đến những điều lần trước chúng ta chưa xem.
[1f]] The glamour of self-pity, a basic glamour of this ray.
[1f] Ảo cảm của sự tự thương hại, một ảo cảm căn bản của cung này.
We're going to meditate on that for glamour today. This is a problem. All kinds of things seem to happen to people. There was a book and I think it was written by some rabbi or other, who had a lot of experience with sick people and tortured people and unhappy people. It was like the name of the book was something like When Bad Things Happen to Good People, the whole question, why should, why should bad things happen to good people? Now, of course, what was missing was the entire karmic argument. We've been around a long time and even if we didn't come from the Moon Chain, we've been around, I don't know, 18 million years.
Hôm nay chúng ta sẽ tham thiền về ảo cảm ấy. Đây là một vấn đề. Dường như đủ loại chuyện xảy đến với con người. Có một cuốn sách, tôi nghĩ do một giáo sĩ Do Thái nào đó viết, người có nhiều kinh nghiệm với những người bệnh, những người chịu giày vò và những người bất hạnh. Tên cuốn sách hình như là Khi Những Điều Tồi Tệ Xảy Đến Với Người Tốt, toàn bộ vấn đề là: tại sao những điều tồi tệ lại xảy đến với người tốt? Dĩ nhiên, điều còn thiếu là toàn bộ lập luận về nghiệp quả. Chúng ta đã hiện diện từ rất lâu, và ngay cả nếu không đến từ Dãy Mặt Trăng, chúng ta cũng đã hiện diện, tôi không biết nữa, mười tám triệu năm.
Even if we didn't come from Lemuria, which is unlikely for the student of these advanced matters, we've been around 12 million years. So that, that's a long time, and probably in those days as massive beings with physical bodies that were gigantic compared to what we've got right now, that's why Madame Blavatsky, she calls us all pygmies, that we are reduced in our stature because she's aware of the gigantic forms we have. You can do a lot of dangerous things and disruptive things when you've got that kind of vehicle. So I was thinking back about all the sins, you know and each one appropriate to its own particular period, difficult and unavoidable, and probably in a way paid off back in those days.
Ngay cả nếu không đến từ Lemuria—điều khó có thể xảy ra đối với đạo sinh nghiên cứu những vấn đề cao cấp này—chúng ta cũng đã hiện diện mười hai triệu năm. Đó là một thời gian dài, và có lẽ vào thời ấy, là những sinh linh to lớn với các thể xác khổng lồ so với thân thể hiện nay—đó là lý do Bà Blavatsky gọi tất cả chúng ta là người tí hon, vì tầm vóc chúng ta đã thu nhỏ, còn Bà biết những hình tướng khổng lồ mà chúng ta từng có—chúng ta có thể làm rất nhiều điều nguy hiểm và gây rối loạn khi có loại hiện thể ấy. Vì vậy, tôi đã nghĩ lại về tất cả những tội lỗi, mỗi tội ứng với thời kỳ riêng của nó, khó tránh khỏi, và có lẽ theo một cách nào đó cũng đã được trả xong ngay trong những thời ấy.
I don't think that a whole lot of us are walking around with early Lemurian karma, though some of the sexual perversion kind of stuff is coming from those days and of course, humanity doesn't want to look at that. But but some interesting things are happening because with all this question of sexual perversion, people have thought that it is biologically based, but now they've been doing some work with the genome and all that, they can't find any biological basis for it, and basically they're, they're beginning to understand that something else might be at work.
Tôi không nghĩ nhiều người trong chúng ta hiện vẫn mang nghiệp quả từ thời kỳ Lemuria sơ khai, dù một số dạng lệch lạc tình dục bắt nguồn từ những ngày ấy, và dĩ nhiên nhân loại không muốn nhìn vào điều đó. Nhưng có những điều thú vị đang xảy ra, bởi liên quan đến toàn bộ vấn đề lệch lạc tình dục này, người ta từng nghĩ nó có cơ sở sinh học; nhưng hiện nay, khi nghiên cứu bộ gen và những thứ tương tự, họ không tìm thấy cơ sở sinh học nào cho nó, và về căn bản, họ bắt đầu thấu hiểu rằng có thể còn một yếu tố khác đang tác động.
Well, what we know in our esotericism is that the psyche produces the form, and that if we do have certain conditions in our form, which incline us one way or another, it's the psyche that has made that, and that's a tough sell. I've tried to deal with materialistic minded people and they just can't get it that maybe the inner human being is the one who is responsible for creating the outer form, they, they see it in the reverse manner.
Điều chúng ta biết trong huyền bí học là đời sống tâm hồn tạo ra hình tướng, và nếu chúng ta quả thực có những tình trạng nhất định trong hình tướng khiến mình nghiêng về hướng này hay hướng khác, thì chính đời sống tâm hồn đã tạo nên điều đó. Đây là điều rất khó thuyết phục người khác chấp nhận. Tôi đã cố gắng bàn về vấn đề này với những người có tư duy duy vật, nhưng họ không thể hiểu được rằng có lẽ con người bên trong mới là người chịu trách nhiệm tạo ra hình tướng bên ngoài; họ nhìn điều đó theo chiều ngược lại.
So anyway, the glamour of self-pity as we pay off our karma, and as we suffer sensitively because of all the violations which have made the karmic condition of humanity, what it is today, there's a lot of suffering on the second ray and it's, and, and DK calls it this, he calls it the power to agonize one's way to the goal. Sometimes there's mistakes in the CD-ROM, but that's a definite statement of his that you, on the second ray, you agonize your way to the goal until you lose the ability to feel self-pity. So I suppose there are some here who have succumbed to self-pity, the basic glamour of this ray, feeling super sorry for yourself under many circumstances.
Dù sao, về ảo cảm của sự tự thương hại, khi chúng ta trả nghiệp quả và chịu đau khổ một cách nhạy cảm vì tất cả những vi phạm đã tạo nên tình trạng nghiệp quả hiện nay của nhân loại, có rất nhiều đau khổ trên cung hai. Chân sư DK gọi điều này là khả năng đi đến mục tiêu qua đau đớn giằng xé. Đôi khi bản trên đĩa CD-ROM có lỗi, nhưng đây là một phát biểu rõ ràng của Ngài: trên cung hai, các bạn đi đến mục tiêu qua đau đớn giằng xé cho đến khi mất đi khả năng tự thương hại. Vì vậy, tôi cho rằng ở đây có người từng sa vào sự tự thương hại, ảo cảm cơ bản của cung này, cảm thấy vô cùng thương xót bản thân trong nhiều hoàn cảnh.
I think I, and when you don't like the circumstances in which you are sometimes put, Oh, I'd do so much better if I was somewhere else or with someone else, we've all had that that's a, that's a, that discontent is an aspect of self-pity.
Tôi nghĩ tôi cũng vậy. Khi không thích những hoàn cảnh đôi khi mình bị đặt vào, chúng ta nghĩ: Ôi, nếu ở một nơi khác hay ở cùng một người khác, tôi sẽ làm tốt hơn biết bao. Tất cả chúng ta đều từng như thế; sự bất mãn ấy là một phương diện của sự tự thương hại.
Now, one of the things you learn in the Yoga Sutras is that contentment is the need of every yogi. Now that doesn't mean you stop striving and don't try to improve your condition, but at least, you have to recognize that wherever you are doing what you're doing is really the result of your many, many choices over the years. It's a karmic condition and maybe there's a lot to learn. Now, usually when there's a lot to learn, people don't recognize that. They just think they're in adverse conditions and they feel sorry for themselves, but it's precisely those places where it seems like, Oh, what a burden that the thing that you have not yet acquired is there to be learned.
Một trong những điều các bạn học trong Kinh Yoga là sự biết đủ là điều cần thiết đối với mọi hành giả yoga. Điều đó không có nghĩa là ngừng nỗ lực và không cố gắng cải thiện hoàn cảnh, nhưng ít nhất, các bạn phải nhận ra rằng dù đang ở đâu, đang làm gì, đó thực sự là kết quả của rất nhiều lựa chọn của mình qua năm tháng. Đó là một tình trạng nghiệp quả, và có lẽ có nhiều điều để học. Thông thường, khi có nhiều điều để học, người ta lại không nhận ra. Họ chỉ nghĩ mình đang ở trong những hoàn cảnh bất lợi và thương hại bản thân; nhưng chính những nơi khiến người ta cảm thấy: Ôi, thật là một gánh nặng, lại có điều mà họ chưa đạt được, đang chờ họ học hỏi.
I wonder what Milarepa felt back in early Tibetan days when his teacher Marpa kept on making life difficult for him. Build me a stupa and build it here. Oh, I'm sorry. You misunderstood. The stupa is okay, but it's in the wrong place. Better build me another one over here. Oh, I'm sorry. You must have misunderstood. The stupa doesn't belong here. It belongs over here. Better build me another one. Well, that broke Milarepa's personal ego and he probably learned a whole lot about surviving under adverse circumstances.
Tôi tự hỏi Milarepa đã cảm thấy thế nào trong thời kỳ Tây Tạng thuở trước, khi huấn sư Marpa của ông liên tục làm cuộc sống của ông trở nên khó khăn. Hãy xây cho ta một bảo tháp, xây ở đây. Ồ, ta xin lỗi. Ngươi đã hiểu lầm. Bảo tháp thì tốt, nhưng đặt sai chỗ. Tốt hơn ngươi hãy xây cho ta một cái khác ở đằng này. Ồ, ta xin lỗi. Hẳn ngươi đã hiểu lầm. Bảo tháp không phải ở đây. Nó phải ở đằng kia. Tốt hơn ngươi hãy xây cho ta một cái khác. Điều đó đã phá vỡ phàm ngã của Milarepa, và có lẽ ông đã học được rất nhiều về cách sống qua những hoàn cảnh bất lợi.
Anybody feel affected by this? Are you outgrowing it? Am I outgrowing it? Are we, how do we outgrow this self-pity thing? Anybody feel afflicted by it? I'm sure we have our moments. I think you outgrow it. Oh goodness, goodness sake. The thing about the second ray, it's kind of funny. He says it's subject to all the glamours, maybe to a lesser extent, but somehow it's so sensitive that it has to solve the whole problem of glamour all at once. It's not just one thing. There's just this connection with many, many glamours. Some of the other rays have much more specific types of responses. So, yes, we have some, yes, Stacy, you're going to town here, what do we do with it?
Có ai cảm thấy mình chịu ảnh hưởng của điều này không? Các bạn đang vượt qua nó chứ? Tôi đang vượt qua nó chứ? Chúng ta vượt qua sự tự thương hại này bằng cách nào? Có ai cảm thấy khổ sở vì nó không? Tôi chắc chúng ta đều có những lúc như vậy. Tôi nghĩ người ta sẽ vượt qua được. Ôi, trời ơi. Điều về cung hai khá thú vị. Ngài nói cung này chịu mọi ảo cảm, có lẽ ở mức độ nhẹ hơn, nhưng bằng cách nào đó, nó nhạy cảm đến mức phải giải quyết toàn bộ vấn đề ảo cảm cùng một lúc. Không chỉ là một điều. Có mối liên hệ với rất nhiều ảo cảm. Một số cung khác có những kiểu đáp ứng cụ thể hơn nhiều. Đúng vậy, chúng ta có một số ý kiến; Stacy, bạn đang hăng hái quá, chúng ta phải làm gì với điều này?
Basically I would say, look, there is an inner God and that inner God is immortal, and St. Paul says, no one is immortal unless you have a God within you. Know ye not that ye are gods? He means the monad, pure being. That pure being, the very essence of it, never was born and never can die. So I think we all have different ways of overcoming self-pity. But the realization that we are somehow invulnerable, not vulnerable, to death, disintegration, defeat in any, ongoing sense. The realization of the power of the immortal God within will give a lot of fortitude in the face of adversity.
Về căn bản, tôi muốn nói rằng có một Thượng đế bên trong, và Thượng đế bên trong ấy là bất tử. Thánh Paul nói, không ai bất tử nếu không có một Thượng đế bên trong mình. Các bạn không biết mình là những vị thần sao? Ông muốn nói đến chân thần, Bản Thể thuần khiết. Bản Thể thuần khiết ấy, chính tinh tuý của nó, chưa từng sinh ra và không bao giờ có thể chết. Vì vậy, tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có những cách khác nhau để vượt qua sự tự thương hại. Nhưng sự nhận biết rằng bằng cách nào đó, chúng ta không thể bị tổn hại vĩnh viễn bởi cái chết, sự tan rã hay thất bại. Sự nhận biết quyền năng của Thượng đế bất tử bên trong sẽ đem lại rất nhiều nghị lực khi đối diện nghịch cảnh.
So we have to find that inner immortal God, not just as a theory, not just as a theory, but find that being that really survives everything and comes out the same as ever. Now, I pointed this out, I think, and I'll just try to go back here to Esoteric Discipleship in the New Age. Let's see if I can get it here without too many, and it's page 284. After you go through all this stuff, really hard things, you've been through time and space, and you've been through a sense of unity which is destroyed, and all beneath it all is pure being. This is one of the oldest of all statements, even older than the Stanzas of Dzyan he's saying here.
Vì vậy, chúng ta phải tìm thấy Thượng đế bất tử bên trong ấy, vượt khỏi lý thuyết, phải tìm thấy Đấng thực sự sống qua mọi sự và vẫn nguyên vẹn như xưa. Tôi nghĩ tôi đã chỉ ra điều này, và tôi sẽ thử quay lại đây, đến phần Nội Môn, Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới. Để xem tôi có thể tìm được ở đây mà không mất quá nhiều công không; đó là trang 284. Sau khi trải qua tất cả những điều này, những điều thực sự khó khăn, các bạn đã đi qua thời gian và không gian, đã trải qua một ý thức hợp nhất rồi ý thức ấy bị phá huỷ; và bên dưới tất cả là Bản Thể thuần khiết. Ngài nói ở đây rằng đây là một trong những phát biểu cổ xưa nhất, thậm chí còn cổ xưa hơn cả những Bài Kệ Dzyan.
It remains the seed of all philosophies, page 284-285 in DINA II.
Nó vẫn là hạt giống của mọi nền triết học, trang 284–285 trong DINA II.
6. Being cries forth and says: ... (untranslatable).
6. Bản Thể cất tiếng và nói: ... (không thể dịch).
Obviously, if he says it's untranslatable, it really is because he's given us some of those other words that mean nothing to us, like UKRTAPKLSTI and SXPRULXS and words like that that we don't have the vowels for.
Rõ ràng, nếu Ngài nói không thể dịch thì quả thực là vậy, bởi Ngài đã cho chúng ta một số từ khác chẳng mang ý nghĩa gì đối với chúng ta, như UKRTAPKLSTI và SXPRULXS, những từ mà chúng ta không có nguyên âm để đọc.
Death crumbles all.
Cái chết làm tan rã tất cả.
Now, this is the important thing. Follow it.
Đây là điều quan trọng. Hãy theo dõi.
Existence disappears,
Sự tồn tại biến mất,
That, of course, is one of the big fears that people have. They'll be annihilated.
Dĩ nhiên, đó là một trong những nỗi sợ lớn của con người. Họ sẽ bị huỷ diệt.
yet all for aye remains—untouched, immutably the same. God IS.
nhưng tất cả vẫn còn mãi mãi—nguyên vẹn, bất biến như xưa. Thượng đế HIỆN HỮU.
So when you have that, you realize you are the inner immortal God, you are a pure being, you are the ineradicable one, your perspective changes. When you realize you've been alive forever and will be, and, the mystery of time enters there, because how is there anything that doesn't have a cause and simply exists, but that apparently is how it is with pure being, then you tend not maybe to feel so sorry for yourself or for your apparent self, you see. So I would say that one of the ways of overcoming this problem of self-pity is to realize what you really are. See, so let's just say right here, the realization of true identity relieves one from the ordinary self-pity. But then, the work has to be done. Who are we really?
Vì vậy, khi có được điều đó, khi nhận ra mình là Thượng đế bất tử bên trong, là Bản Thể thuần khiết, là Đấng không thể bị xoá bỏ, góc nhìn của các bạn thay đổi. Khi nhận ra mình đã sống từ vô thuỷ và sẽ tiếp tục sống—và ở đây xuất hiện bí nhiệm của thời gian, vì làm sao có một điều không có nguyên nhân mà đơn giản là tồn tại, nhưng dường như Bản Thể thuần khiết là như thế—thì có lẽ các bạn sẽ bớt thương hại bản thân, hay cái tôi bề ngoài của mình. Vì vậy, tôi muốn nói rằng một trong những cách vượt qua vấn đề tự thương hại này là nhận ra mình thực sự là gì. Chúng ta có thể nói ngay ở đây rằng sự nhận biết bản sắc chân thực giải thoát con người khỏi sự tự thương hại thông thường. Nhưng rồi vẫn phải thực hiện công việc. Chúng ta thực sự là ai?
Not just theoretically, but we have to get underneath the appearance. So I think we've all had this, you know what I mean? But maybe our different ways, we have different ways out of it. I've kind of shared with you my way out of this, or through it.
Chúng ta phải vượt khỏi lý thuyết và đi xuống bên dưới vẻ ngoài. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều từng có điều này, các bạn hiểu ý tôi chứ? Nhưng có lẽ chúng ta có những lối thoát khác nhau. Tôi đã chia sẻ phần nào với các bạn cách tôi thoát khỏi, hay đi xuyên qua điều này.
Is there anybody else that would like to share their particular way? Let's see now, here we have a couple of things. I just want to make sure the sense of outgrowing it, and that's good because that means that there's a realization of the inner life, which is how you outgrow it. Yeah, divine discontent. There's got to be divine discontent with the realization that the karmic situation is what it is because it's justified being what it is. Then you continue to fulfill that divine discontent until you become, re-become divine as you always have been. So, as a little being, which we are, we can become so fed up with our circumstances and just how, how long do I have to repeat this and things are not changing, and it's like, who was it?
Có ai khác muốn chia sẻ cách riêng của mình không? Để xem, ở đây chúng ta có một vài điều. Tôi chỉ muốn xác nhận ý vượt qua nó, và điều đó tốt, bởi nó hàm ý có sự nhận biết về sự sống bên trong, chính nhờ đó mà các bạn vượt qua được. Đúng vậy, sự bất mãn thiêng liêng. Phải có sự bất mãn thiêng liêng cùng với nhận biết rằng tình trạng nghiệp quả hiện nay là như vậy vì có lý do chính đáng để nó như vậy. Rồi các bạn tiếp tục đáp ứng sự bất mãn thiêng liêng ấy cho đến khi trở thành, trở lại thiêng liêng như mình vốn luôn là thế. Vì vậy, là những sinh linh nhỏ bé như chúng ta, chúng ta có thể quá chán ngán hoàn cảnh của mình: Tôi còn phải lặp lại điều này bao lâu nữa, mọi thứ chẳng thay đổi gì cả. Giống như, đó là ai nhỉ?
Was it Sisyphus was always rolling the rock up the hill and it always, just as he was about to achieve his goal, it came rolling back on him and they had to start again. Tantalus was it. Every time he had this incredible thirst and every time he bent down towards the water, the water would recede and he could never reach it. So, there's so many discontents. But when you realize your true nature, and none of us realizes it fully yet, none of us really, then you begin to realize, well, I'm kind of responsible for how things appear in this cosmos because who am I anyway? Then you begin to take more responsibility for what you discover in the perceptual field.
Có phải Sisyphus luôn lăn tảng đá lên đồi, và ngay khi ông sắp đạt mục tiêu, nó lại lăn xuống đè lên ông, rồi ông phải bắt đầu lại? Còn Tantalus phải không? Mỗi lần ông khát dữ dội và cúi xuống phía mặt nước, nước lại rút đi, khiến ông không bao giờ chạm tới được. Vì vậy, có rất nhiều điều bất mãn. Nhưng khi nhận ra bản chất chân thực của mình—và chưa ai trong chúng ta nhận ra đầy đủ, thực sự chưa ai—thì các bạn bắt đầu nhận ra rằng: Tôi phần nào chịu trách nhiệm về cách mọi thứ xuất hiện trong vũ trụ này, bởi rốt cuộc tôi là ai? Khi đó, các bạn bắt đầu nhận trách nhiệm nhiều hơn đối với những gì mình khám phá trong trường tri giác.
In a way you have to realize that they are your own perceptions, not as a human being. I'm not saying that that tree out there is existing because I as a little human being have perceived it. But I as a much greater being, once I'm unveiled, unveiled, unveiled, I have self-perceived that tree or that thing in me that is tree-ness and that's why it does exist. I am responsible and there is a way to go through it.
Theo một cách nào đó, các bạn phải nhận ra đó là những tri giác của chính mình, vượt khỏi tư cách một con người. Tôi không nói cái cây ngoài kia tồn tại vì tôi, một con người nhỏ bé, đã tri giác nó. Nhưng tôi, trong tư cách một Sinh Mệnh lớn lao hơn nhiều, một khi hết lớp màn này đến lớp màn khác được vén lên, đã tự tri giác cái cây ấy, hay cái phần trong tôi mang bản chất cây; và đó là lý do nó quả thực tồn tại. Tôi chịu trách nhiệm, và có một con đường để đi xuyên qua điều đó.
I like this is-ness business. I like that, Stacia. That's a good one. I find the word is-ness so very helpful when we want to know what it is we really are. Then we get into a little medical stuff, but Tuija will read that. Anyway, self-pity. It's usually because we really profoundly underestimate what we really are. We are so far, essentially, beyond the things that make us pity ourselves that we will find that kind of pity laughable once we are fully established within our true nature. I'm doing the usual thing here. We’re only going to go so far. Well, I just want you to have a chance to either write or speak, etc, etc. So, let's see if we can avoid that glamour by realizing the immortal God.
Tôi thích ý về tính hiện hữu này. Tôi thích điều đó, Stacia. Ý ấy hay đấy. Tôi thấy từ tính hiện hữu rất hữu ích khi chúng ta muốn biết mình thực sự là gì. Rồi chúng ta đi vào một chút vấn đề y học, nhưng Tuija sẽ đọc phần ấy. Dù sao, về sự tự thương hại, thường là vì chúng ta đánh giá quá thấp những gì mình thực sự là. Về tinh tuý, chúng ta vượt xa những điều khiến mình tự thương hại đến mức, một khi hoàn toàn an trụ trong bản chất chân thực, chúng ta sẽ thấy kiểu thương hại ấy thật nực cười. Tôi lại đang làm như thường lệ ở đây. Chúng ta sẽ chỉ đi đến một mức nhất định. Tôi chỉ muốn các bạn có cơ hội viết hoặc nói, vân vân. Vậy hãy xem liệu chúng ta có thể tránh ảo cảm ấy bằng cách nhận ra Thượng đế bất tử hay không.
Confidence in the inner God. Inner-God confidence. Here’s confidence about the kingdom of God:
Tin tưởng vào Thượng đế bên trong. Sự tin tưởng nơi Thượng đế bên trong. Đây là lời về sự tin tưởng đối với Thiên Giới:
These are days, therefore, wherein quietness and confidence must be your strength, and wherein the only safeguard lies in a close searching of all underlying motives.
Vì vậy, đây là những ngày mà sự yên tĩnh và tin tưởng phải là sức mạnh của các bạn, và sự bảo vệ duy nhất nằm ở việc xem xét kỹ lưỡng mọi động cơ tiềm ẩn.
That will help a lot with the reduction of glamour too.
Điều đó cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho việc giảm bớt ảo cảm.
Souls are finding themselves and learning dependence upon the inner Ruler.
Các linh hồn đang tìm thấy chính mình và học cách nương tựa vào Đấng Cai Quản bên trong.
The immortal God within. The immortal aspect of man. That’s Alice Bailey talking. Here.
Thượng đế bất tử bên trong. Phương diện bất tử của con người. Đó là lời Alice Bailey. Ở đây.
Suốt những giai đoạn về sau của chu kỳ lâm phàm, khi con người đang xoay xở với các cặp đối cực và nhờ phân biện mà dần nhận biết điều chân thực và điều không chân thực, trong thể trí y dần nảy nở sự nhận biết rằng chính y là một Hiện Hữu bất tử, một Thượng đế vĩnh cửu và một phần của Vô Hạn. Mối liên kết giữa con người trên cõi hồng trần và Đấng Cai Quản bên trong này ngày càng rõ ràng, cho đến khi sự mặc khải vĩ đại xuất hiện. Rồi đến một thời điểm trong cuộc hiện tồn của mình, con người hữu thức đứng đối diện với Chân Ngã đích thực và biết rằng trên thực tế chính mình là Chân Ngã ấy, chứ không chỉ trên lý thuyết; y nhận biết Thượng đế bên trong, không phải qua thính giác, cũng không phải qua việc chú tâm đến tiếng nói bên trong vốn hướng dẫn và kiểm soát, được gọi là “tiếng nói của lương tâm”. Lần này, sự nhận biết diễn ra qua thị giác và linh thị trực tiếp. Giờ đây, y không chỉ đáp ứng với những gì mình nghe mà còn với những gì mình thấy.
Right through the later periods of the cycle of incarnation wherein the man is juggling with the pairs of opposites, and through discrimination is becoming aware of reality and unreality, there is growing up in his mind a realisation that he himself is an immortal Existence, an eternal God, and a portion of Infinity. Ever the link between the man on the physical plane and this inner Ruler becomes clearer until the great revelation is made. Then comes a moment in his existence when the man stands consciously face to face with his real Self and knows himself to be that Self in reality and not just theoretically; he becomes aware of the God within, not through the sense of hearing, or through attention to the inner voice directing and controlling, and called the "voice of conscience." This time the recognition is through sight and direct vision. He now responds not only to that which is heard, but also to that which he sees.
This is a good one.
Đoạn này hay.
Right through the later periods of the cycle of incarnation wherein the man is juggling with the pairs of opposites, and through discrimination is becoming aware of reality and unreality,
Suốt những thời kỳ về sau của chu kỳ luân hồi, khi con người đang xoay xở với các cặp đối cực và qua sự phân biện dần nhận biết cái thực và cái không thực,
The opposites are soul and personality in this case.
Trong trường hợp này, các đối cực là linh hồn và phàm ngã.
there is growing up in his mind a realisation that he himself is an immortal Existence, an eternal God, and a portion of Infinity.
trong thể trí y dần nảy sinh sự nhận biết rằng chính y là một Hiện Hữu bất tử, một Thượng đế vĩnh cửu và một phần của Vô Hạn.
Every once in a while, he does use that word in its true sense.
Thỉnh thoảng Ngài quả thực dùng từ đó theo đúng nghĩa của nó.
he becomes aware of the God within, not through the sense of hearing, or through attention to the inner voice directing and controlling, and called the "voice of conscience." This time the recognition is through sight and direct vision. He now responds not only to that which is heard, but also to that which he sees.
y nhận biết Thượng đế bên trong, không qua thính giác hay qua việc chú tâm đến tiếng nói bên trong đang hướng dẫn và kiểm soát, được gọi là “tiếng nói của lương tâm”. Lần này, sự nhận biết đến qua thị giác và linh thị trực tiếp. Giờ đây, y không chỉ đáp ứng với điều mình nghe mà còn với điều mình thấy.
You know how it goes, right? The senses go this way, hearing first, touch second, seeing third, tasting in a higher sense, fourth. The sense of smell is the fifth sense, followed then by the common sense and the esoteric sense, until you get seven senses all together, and maybe on the different planes, they all make sense.
Các bạn biết trình tự ấy rồi, đúng không? Các giác quan đi theo thứ tự này: nghe thứ nhất, chạm thứ hai, thấy thứ ba, nếm theo nghĩa cao hơn là thứ tư. Khứu giác là giác quan thứ năm, tiếp theo là lương tri và giác quan huyền bí, thành bảy giác quan tất cả; và có lẽ trên những cõi khác nhau, tất cả đều có ý nghĩa.
Now, going back. So, confidence in the inner God, and recognizing the God within.
Giờ quay lại. Vậy, tin tưởng vào Thượng đế bên trong và nhận biết Thượng đế bên trong.
Only when Spirit, by the power of thought, controls the material vehicles, does the subjective life assume its rightful place, does the God within shine and blaze forth till the form is lost from sight, and “The path of the just shine ever more and more until the day be with us.”
Chỉ khi Tinh thần dùng quyền năng tư tưởng kiểm soát các hiện thể vật chất, sự sống chủ quan mới giữ đúng vị trí của mình, Thượng đế bên trong mới toả sáng và bừng chiếu cho đến khi hình tướng khuất khỏi tầm nhìn, và “Đường đi của người công chính ngày càng sáng hơn cho đến khi ngày sáng hiện diện cùng chúng ta.”
He should not cast his eyes backwards, but should lift them to the plane where dwells his immortal Spirit, and then by self-discipline, mind-control and a definite refining of his material bodies, whether subtle or physical, fit himself to be a vehicle for the divine birth, and participate in the first Initiation.
Y không nên ngoái nhìn về phía sau, mà nên ngước mắt lên cõi nơi Tinh thần bất tử của mình an trú; rồi bằng sự tự rèn luyện, kiểm soát thể trí và sự tinh luyện rõ rệt các thể vật chất của mình, dù thanh nhẹ hay hồng trần, chuẩn bị cho mình trở thành một hiện thể cho sự giáng sinh thiêng liêng và tham dự lần điểm đạo thứ nhất.
We don't know yet whether he means the first real initiation, which in a way is the third. We'd have to go back and read that to see where he is. Anyway, this is one way of overcoming self-pity. Any other ways that you've discovered that help you overcome self-pity? Then, of course, in the Raja Yoga books, he does deal quite a bit with the anatomy of man, and how it is to be used. It's so fifth ray. If you look at the ancient sage Patanjali, maybe from, he was a master, maybe from 10,000 years ago or more. He is a combination of the second ray and the fifth ray, and he gives the most lucid understanding of how that should be done, how we can achieve in our vehicles all that they can produce.
Chúng ta chưa biết liệu Ngài có muốn nói đến lần điểm đạo thực sự đầu tiên, theo một nghĩa nào đó là lần thứ ba, hay không. Chúng ta phải quay lại đọc để biết Ngài đang nói ở đâu. Dù sao, đây là một cách vượt qua sự tự thương hại. Các bạn có khám phá được cách nào khác giúp mình vượt qua sự tự thương hại không? Dĩ nhiên, trong những cuốn sách về Raja Yoga, Ngài bàn khá nhiều về cấu tạo con người và cách sử dụng nó. Điều ấy rất đậm tính cung năm. Nếu xem xét nhà hiền triết cổ đại Patanjali—Ngài là một Chân sư, có lẽ từ mười nghìn năm trước hoặc hơn—Ngài là sự kết hợp giữa cung hai và cung năm, và đem lại sự thấu hiểu sáng tỏ nhất về cách thực hiện điều đó, cách chúng ta có thể đạt được trong các hiện thể của mình mọi điều mà chúng có thể tạo ra.
Serving—let’s take a look here.
Phụng sự—chúng ta hãy xem ở đây.
From Rebecca way I overcome self-pity is to serve. Right, DK tells us, and let's remember it, that we can accomplish even more by true service than we can by meditation. That's a hard saying, isn't it? No. So, yeah, and of course, with a sense of humor, it shows you have perspective. So, if we can release from the heart, these heart qualities, I think you go to Discipleship, page 660. It's either in Volume 1 or Volume 2, I don't remember. But the 11—and indeed 12— qualities of the heart are found there. The release of that. See, look, all of us, we have to take our eyes off the personal self.
Rebecca viết: Cách tôi vượt qua sự tự thương hại là phụng sự. Đúng vậy, Chân sư DK nói với chúng ta—hãy nhớ điều này—rằng qua sự phụng sự chân chính, chúng ta có thể thành tựu còn nhiều hơn qua tham thiền. Một lời khó chấp nhận, phải không? Không đâu. Và dĩ nhiên, có óc hài hước cho thấy chúng ta có tầm nhìn bao quát. Vì vậy, nếu có thể giải phóng từ trái tim những phẩm tính của trái tim này, tôi nghĩ các bạn hãy tìm đến Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, trang 660. Ở Tập I hay Tập II, tôi không nhớ. Nhưng mười một—và thực ra là mười hai—phẩm tính của trái tim nằm ở đó. Sự giải phóng những phẩm tính ấy. Tất cả chúng ta đều phải thôi chăm chú vào cái tôi cá nhân.
That's the big deal. As long as we've got our eyes riveted on our personal self, how am I doing? Am I happy? Am I unhappy? Blah, blah, blah. Then somewhere in here is an ancient, well, not ancient, but an old church dictum, which DK offers.
Đó là điều cốt yếu. Chừng nào mắt chúng ta còn dán chặt vào cái tôi cá nhân: Tôi đang thế nào? Tôi có hạnh phúc không? Tôi có bất hạnh không? Vân vân. Ở đâu đó trong này có một lời răn cổ xưa—không hẳn cổ xưa, mà là một lời răn cũ của giáo hội—do Chân sư DK đưa ra.
Rule out the good self as well as the bad self and let only Christ be seen and heard
Hãy gạt bỏ cả cái tôi tốt lẫn cái tôi xấu, và chỉ để Đức Christ được thấy và được nghe
I think that's a tremendous statement.
Tôi nghĩ đó là một phát biểu hết sức lớn lao.
Rule out the good self as well as the bad self and let only Christ be seen and heard
Hãy gạt bỏ cả cái tôi tốt lẫn cái tôi xấu, và chỉ để Đức Christ được thấy và được nghe
Then we achieve the mind, the mind as it is in Christ, and you know that that's got to be a huge achievement. It's just filled with compassion. He becomes the human being for other human beings, and his own personal self has shrunk down to the point of disappearance, so that basically he becomes the other. Here from Alexandra, my main way of overcoming any self-pity is through exactly what you said. I always remember I have created whatever it is I'm facing. Well, yeah, I mean, some of what we face, we have created because of the form that we're in and the particular limited condition in which we find ourselves. That's the usual karma.
Khi ấy, chúng ta đạt đến trí tuệ như nơi Đức Christ, và các bạn biết đó hẳn phải là một thành tựu vô cùng lớn lao. Trí tuệ ấy tràn đầy lòng từ bi. Con người ấy sống vì những người khác, còn cái tôi cá nhân thu nhỏ đến mức biến mất, để về căn bản, người ấy trở thành người khác. Alexandra viết ở đây: Cách chính để tôi vượt qua bất kỳ sự tự thương hại nào chính là điều Thầy vừa nói. Tôi luôn nhớ rằng chính tôi đã tạo ra bất cứ điều gì mình đang đối diện. Đúng vậy, một phần những gì chúng ta đối diện là do chúng ta tạo ra vì hình tướng mình đang mang và tình trạng giới hạn cụ thể mà chúng ta thấy mình đang ở trong đó. Đó là nghiệp quả thông thường.
Some other of what we've created has to do with our participation in and as a greater being until we realize, just keep on taking off those veils and you and the Solar Logos are identical.
Một phần khác trong những gì chúng ta đã tạo ra liên quan đến sự tham dự của chúng ta trong và với tư cách một Sinh Mệnh lớn lao hơn, cho đến khi chúng ta nhận ra—cứ tiếp tục vén những màn che ấy lên—rằng các bạn và Thái dương Thượng đế là một.
The 11 qualities, Kim: I’ve got to remember page 300 for next time, the problems of a non-sacred planet and how it affects all the beings. Now page 660, and there it is. It's in volume two.
Mười một phẩm tính, Kim: Tôi phải nhớ trang 300 cho lần tới, những vấn đề của một hành tinh chưa thiêng liêng và cách nó ảnh hưởng đến mọi sinh linh. Giờ đến trang 660, đây rồi. Nó nằm trong tập hai.
a. Tình thương nhóm, bao gồm các cá nhân.
a. Group love, embracing individuals.
b. Khiêm nhường, biểu thị thái độ phàm ngã của các bạn.
b. Humility, signifying your personality attitude.
c. Phụng sự, cho thấy điều mà linh hồn các bạn chuyên tâm hướng đến.
c. Service, indicating your soul's preoccupation.
d. Kiên nhẫn, biểu thị tính bất tử ở dạng phôi thai và sự bền bỉ vốn là một đặc tính của linh hồn.
d. Patience, signifying the embryonic immortality and persistence which is a soul characteristic.
e. Sự sống, hay hoạt động được biểu lộ, là sự biểu hiện của tình thương vì tình thương mang tính nhị nguyên cốt yếu.
e. Life, or expressed activity which is the manifestation of love because it is essential dualism.
f. Khoan dung, là biểu hiện đầu tiên của sự thấu hiểu Bồ đề.
f. Tolerance, which is the first expression of buddhic understanding.
g. Đồng hoá với người khác, là sự dung hợp ở dạng phôi thai [Page 661], cuối cùng đạt đến tổng hợp khi trung tâm đầu phát triển.
g. Identification with others, which is embryonic [Page 661] fusion, carried eventually to synthesis when the head centre is developed.
h. Lòng từ bi, về bản chất là việc sử dụng đúng đắn các cặp đối cực.
h. Compassion, which is essentially the right use of the pairs of opposites.
i. Sự cảm thông, là kết quả của tri thức và sự khai mở các cánh hoa tri thức. Khi ấy, năng lượng như thế tiếp xúc với trung tâm tim.
i. Sympathy, which is the consequence of knowledge and of the unfoldment of the knowledge petals. Such energy then is in touch with the heart centre.
j. Minh triết, là thành quả của tình thương và cho thấy sự thức tỉnh của các cánh hoa bác ái trong Hoa Sen Chân Ngã.
j. Wisdom, which is the fruit of love and indicates the awakening of the love petals of the egoic lotus.
k. Hi sinh, là hiến dâng máu của trái tim hay sự sống vì người khác.
k. Sacrifice, which is the giving of the heart's blood or life for others.
a. Group love, embracing individuals.
a. Tình thương nhóm, bao trùm các cá nhân.
b. Humility, signifying your personality attitude.
b. Sự khiêm nhường, biểu thị thái độ phàm ngã của các bạn.
These are all qualities of the heart.
Tất cả đều là những phẩm tính của trái tim.
c. Service, indicating your soul's preoccupation.
c. Phụng sự, cho thấy điều linh hồn các bạn chuyên chú.
It is so powerful.
Điều ấy vô cùng mạnh mẽ.
d. Patience, signifying the embryonic immortality and persistence which is a soul characteristic.
d. Kiên nhẫn, biểu thị tính bất tử còn ở dạng phôi thai và sự bền bỉ vốn là một đặc tính của linh hồn.
e. Life, or expressed activity which is the manifestation of love because it is essential dualism.
e. Sự sống, hay hoạt động được biểu lộ, là biểu hiện của tình thương, bởi về cốt yếu nó mang tính nhị nguyên.
That's going to require a little more thought, but has to do with the pairs of opposites.
Điều đó đòi hỏi suy ngẫm thêm một chút, nhưng có liên quan đến các cặp đối cực.
f. Tolerance, which is the first expression of buddhic understanding.
f. Khoan dung, biểu hiện đầu tiên của sự thấu hiểu Bồ đề.
So when you have these kind of horrible persecutions going on where you hate the other guy or woman because he's Muslim or Jewish or African or, God knows what. Or just different from you. The Buddhic understanding has not yet really infiltrated the causal body and descended into the personal consciousness, and then, of course, the last one here.
Vì vậy, khi có những cuộc bức hại khủng khiếp, khi người ta căm ghét một người nam hay nữ khác vì họ là người Hồi giáo, Do Thái, châu Phi hay bất cứ ai, hoặc chỉ vì họ khác mình, thì sự thấu hiểu Bồ đề vẫn chưa thực sự thấm vào thể nguyên nhân và đi xuống tâm thức cá nhân. Và dĩ nhiên, mục cuối cùng ở đây.
g. Identification with others, which is embryonic fusion, carried eventually to synthesis when the head centre is developed.
g. Đồng hoá với người khác, là sự dung hợp còn ở dạng phôi thai, cuối cùng tiến đến tổng hợp khi trung tâm đầu phát triển.
There's only 11 here, but I think, well, wait, no, no, that G was not the last one.
Ở đây chỉ có mười một, nhưng tôi nghĩ—khoan đã, không, mục g ấy chưa phải mục cuối cùng.